Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 7 - Tham Ái Ở Chỗ Nào A

2026-03-03 00:54:34
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 7

Tham Ái Ở Chỗ Nào? (A)

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nơi sanh khởi của tham ái PAGEREF _Toc141968392 \h 1

II. Cẩn thận trong cuộc tu PAGEREF _Toc141968393 \h 5

I. Nơi sanh khởi của tham ái

Khi Minh Thành nghe kinh Đại Niệm Xứ, tới đoạn này Minh Thành rung động, chấn động, xúc động mạnh nổi da gà hết. Bài hôm nay trích trong kinh Đại Niệm Xứ, Trường Bộ Kinh, bài kinh số 22. Thông thường chúng ta quan niệm rằng ái dục, tham ái là chuyện nam nữ hay là tham muốn món đồ đối với vật chất hay là tình cảm, tình ái, tình dục... Nhưng đó là cái hiểu biết bình thường, thông thường của phàm phu.

Hôm nay chúng ta thấy được chỗ cư trú của tham ái là ngoài sức tưởng tượng, không thể ngờ được. Nếu không có bậc Chánh Biến Tri, bậc tôn quý nhất ở trên đời xuất hiện thì không ai có thể khám phá, trình bày một cách triệt để và toàn diện như thế này. Ái ở chỗ nào? Vì mình nhìn sự việc theo kiểu hướng ngoại. Mình nhìn người đó, thương người kia, hay là người đó thích món đồ đó, thích chiếc xe đó, thích căn nhà đó, ham tiền của hay thích cây kiểng, thích gỗ...

Mình toàn nhìn cái bên ngoài chứ không thấy được cội rễ của vấn đề. Mình không thấy được chỗ nguồn cội, căn nguyên, xuất phát điểm của nó. Đức Phật đã bằng trí tuệ tận cùng triệt để, thấy suốt được từ gốc cho đến thân, đến ngọn, cành lá. Thấy một cách toàn diện triệt để, cái đó mới gọi là Chánh Đẳng Giác. Còn mình chỉ nhìn một khía cạnh hay một vài khía cạnh của vấn đề thôi chứ mình không nhìn được toàn diện triệt để đầu đuôi, gốc ngọn căn nguyên hoàn toàn, thấy được như vậy mới gọi là Chánh Đẳng Giác.

“Này các Tỳ-kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.”

Con mắt này nó thân ái với mình lắm, mình yêu thương nó lắm. Cho nên cái tham ái nó sanh khởi ở chỗ con mắt. Ở chỗ con mắt mình tham ái nó sanh khởi. Ở trong con mắt mình tham ái sanh khởi và cư trú. Lâu lâu nhìn trong gương thì thấy là con mắt của mình dễ thương, đẹp, ít nhất là cũng được. Đây là ái, nó sanh khởi và an trú chỗ đó, mà mình đâu có phát hiện ra cái này.

Mình nghĩ ái ở bên ngoài mà không biết rằng ái con mắt, nó sanh khởi ngay chỗ con mắt. Và mình cho con mắt này là tôi, là của tôi, con mắt này là đẹp, là đáng yêu, đáng thích, con mắt này nó là như vậy hoài, cho nên khi thấy con mắt kia thì bị thu hút, 4 mắt nhìn nhau. Hai cái ái này bị lực hấp dẫn hút lại với nhau, bên đây cũng dục ái, bên kia cũng dục ái. Vì ái phát sanh từ trong nguồn cội rồi nó cư trú trong đó, từ đó nó biểu hiện ra sức hút của ái.

Cho nên khi nó bắt gặp tần sóng với nhau là bắt đầu tạo thành sự trói buộc, kiết sử sanh ra. Một khi đã có kiết thì nó sẽ có sử, tức là một khi bị trói buộc vô rồi thì nó sẽ sai khiến. Sai khiến là gì? Sai khiến là nó muốn đi tìm, nó muốn đi kiếm, nó muốn được nhìn, nó muốn được ngắm, muốn được xúc chạm. Minh Thành đọc kinh này trong thất đến 12h đêm nó rung động, nổi da gà hết.

Tại vì trước giờ mình hiểu ái nó quá hời hợt, quá cạn cợt, mình hiểu nó ở bên ngoài nên mình lo trừ ở bên ngoài, trong khi cái gốc ở bên trong. Sâu thẳm bên trong con mắt còn hơn cả chiến thuật tâm linh. Trí huệ của Chánh Đẳng Giác là xuyên thấu, xuyên thủng, xuyên suốt, đánh vô tất cả các trận tuyến, đánh sập hết tất cả toàn bộ cấu trúc của tham ái. Khủng khiếp như vậy!

Ở đời này cái tai, cái mũi, lưỡi thân ý là sắc thân ái là sắc khả ái, sự tham ái này khi sanh khởi ở đó và nó an trú ở chỗ đó. Nó ngắm ở trong gương mình nhìn thấy lỗ tai của mình. Dù cho lỗ tai to hay nhỏ cũng là lỗ tai của mình, "coi cũng được, dễ thương", vậy là tham ái trú ngay chỗ lỗ tai. Dù cho lỗ mũi bị bệnh, hoặc độn mũi giả nhưng cái ái đó vẫn sanh khởi, phát triển, an trú, cư trú, bám trú ở trong cái lỗ mũi đó.

Chứ không phải cái lỗ mũi đó bệnh rồi ghét cái lỗ mũi, vẫn thương nó như thường "Đây là lỗ mũi tôi, của tôi", chứ mình không thấy được đó chỉ là tứ đại. Mình không thấy con mắt, cái mũi, cái lưỡi, cái thân đó là tứ đại. Mình chỉ thấy theo cái thường, cái vô minh đó là cái tôi, là cái của tôi. Đức Phật nói sáu căn trước rồi mới đến sáu trần, sau mới đến sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ. Mình thấy nó vận hành kinh khiếp lắm, như vậy là 60 pháp.

Tổng cộng có 60 pháp mà ái nó cư trú. Cái lưỡi là nơi ái nó cư trú, nó sanh khởi, cũng là cái công cụ để nó thể hiện cái ái. Còn cái thân quá rõ rồi, mình có yêu cái thân này không? Mình nói mình thích ăn phở, bún riêu, thích ăn bánh canh hay là thích chiếc xe này kia nhưng thật chất khi được tiếp xúc với những thứ đó là mình thích những cái cảm giác của những cái đó đem lại. Đương nhiên sáu căn, sáu trần ở ngoài là mình thích rồi, nhưng mà cái sâu mà mình không thấy được là cái thọ nằm trong đó.

Cho nên ở đời nhãn xúc sở sanh thọ... ở đời nhĩ xúc sở sanh thọ... ở đời tỷ xúc sở sanh thọ... ở đời thiệt xúc sở thanh thọ... ở đời thân xúc sở sanh thọ... ở đời ý xúc sở sanh thọ là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Tức là cái cảm giác khi mà thân của mình tiếp xúc, nó được sanh ra, mình ưa thích ở cái cảm giác đó. Khi mình ăn món thiệt là ngon, lúc đó nó đem lại cái cảm giác của lưỡi cho mình, thọ do thiệt xúc sanh.

Tức là cảm giác từ nay lưỡi mình nó đem lại. Rồi khi mình nhìn thấy một sắc đẹp, lúc đó là thọ do nhãn xúc sanh tức là cảm giác do con mắt tiếp xúc nó mang lại. Ngay lúc đó mình nhìn sự vật, sự việc mà mình sanh ra cảm giác thích thì không có đơn thuần. Nó chạy qua một cái hệ thống rất phức tạp, rất phức hợp, đa dạng. Do có con mắt, do có sắc, có sự rõ biết, ba pháp này nó hội tụ lại, giao thoa với nhau phát sanh ra một cảm giác, xúc sanh ra thọ. Sanh ra cảm giác mình yêu thích, muốn nắm giữ cái cảm giác đó. Đó là xúc sanh ra thọ, thọ sanh ra ái, ái sanh ra thủ.

Mười hai nhân duyên đó là hàng ngày mình tiếp xúc. Khi thấy, khi nghe đó là mười hai nhân duyên đó vận hành và ái ở trong đó dày đặc. Lúc đó, nếu mình không có chánh niệm tỉnh giác thì sẽ không thấy, không biết, mình tưởng đâu ái những thứ vật chất bên ngoài nhưng không ngờ là ái lại ở sâu trong cảm giác khi mình tiếp xúc.

Nếu không luôn luôn nhìn lại cảm giác, cảm thọ đó là mình không thể biết được, nó siêu nhanh, nó cực vi tế, cực tốc, mau chóng, vì thế phải có chánh niệm tỉnh giác và thiền định mới thấy được cái tâm thức này vận hành, mới thấy được cái cảm giác nó sanh khởi lên, nó an trú rồi nó chấm dứt, mới thấy được các tưởng nó sanh khởi lên nó an trú rồi nó chấm dứt, mới thấy được các hành, các suy nghĩ nó sanh khởi lên nó an trú rồi nó chấm dứt. Cái trí huệ đó là trí huệ bậc thánh truyền trao cho mình gọi là thánh trí.

Tức là mình không còn đồng hóa mình với sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa mà mình biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức là Ngũ Uẩn, không phải mình.

Ở đời các sắc... ở đời các tiếng... ở đời các hương... ở đời các vị... ở đời các cảm xúc... ở đời các pháp là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy.

Món đồ mình yêu quý mà bị ai đó làm bể thì lúc đó mình bực bội sân si, mình khổ đau vì ái nó sanh khởi từ chỗ đó, rồi nó an trú ở chỗ đó. Nó an trú cùng khắp hết mọi chỗ. Cho nên cái áo mình ưng ý nhất cũng có cái ái trong đó.

Cho nên mình muốn biết mình tu có khá, tu có sâu sắc vững chắc hay không chỉ cần nhìn mình có dám xả bỏ món đồ mình yêu thích nhất hay không, lúc đó mình biết là sự tu tập của mình nó ở mức độ nào. Còn những món đồ mình yêu thích mà không dám xả bỏ thì sự tu của mình vẫn còn cách xa. Nên Bồ tát tu bố thí Ba la mật là bố thí tròng con mắt, bố thí cánh tay, lúc đó đang phá cái ái. Trong lúc hoàn thành bố thí Ba la mật phá trừ tham ái để tới bờ kia là bố thí tròng con mắt, bố thí cánh tay, thậm chí bố thí nội tạng.

Giờ mới có mấy món đồ ở ngoài thôi mà đụng vô cái là có chuyện rồi thì tu cái gì? Nên mình mới thấy được là nó bàng bạc cái ái, chứ mình có nghĩ rằng mình học được chút đỉnh rồi "Giờ tôi coi như ngon rồi, gần tới tổ rồi", nhưng đụng vô cái biết tổ sân. Thành ra mình hiểu được cái này mình mới thấy được sự ghê gớm và rùng rợn của tham ái, không phải mình hiểu một cách đơn giản.

Nếu mình không hiểu hết mọi ngóc ngách khía cạnh, tất cả phương diện, tất cả những cái máy động, sự cư trú tồn tại, phát triển xâm chiếm ở trong các pháp của ái thì mình không thể diệt tận được nó. Tu chỉ chơi chơi, như lấy cây quốc khều khều cái rễ cổ thụ ngàn năm vậy đó. Tới chừng nào mới đến chỗ chấm dứt hết tất cả ái. Mình thương cái mắt, mũi, miệng của mình, ai lại chửi mình thì sân liền vì ái tùy miên chưa nhổ bỏ được. Tùy miên là nó đi theo mình miên man.

II. Cẩn thận trong cuộc tu

Tham ái này nó đi theo mình miên man, không có lúc nào vắng mặt nó hết. Nên hôm nay mình học để thấy được cái chỗ cư trú của nó. Căn tức là cái thân căn: mắt; tai; mũi; lưỡi; thân. Trần là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Chính vì mình cứ khăng khăng ở trong cái căn, và cái trần, bám chặt vô cái đó, mình đồng hóa nó là mình, là của mình, một khi nó vô thường biến hoại, tan nát, hủy hoại thì lúc đó sầu bi khổ ưu não sanh khởi. Làm sao chấm dứt được sầu bi khổ ưu não trong khi trong ngoài thân tâm mình gắn chặt với những cái đồ đó rồi?

Bây giờ nói mình mà tu cái gì, ông kia mà tu cái gì thì lúc đó mình dễ chịu hay khó chịu? Tại sao khó chịu? Vì có ái. Vì cái ái đó nó lấy cái thân giả danh làm nó, làm cái sở hữu của nó, chạm vào như vậy thì nó nói chạm vào thân này của nó cho nên nó không chịu, nó bực lên. Cái sân đó cái gốc là từ nơi ái dục, cái ái dục bao trùm lên tham sân si chứ không phải ái dục là riêng lẻ. Chính vì thế mới nói ái diệt là Niết-bàn.

Chữ ái này nó bao trùm lên tham sân si do mình không có thành tựu trí huệ, không thấy được sắc uẩn là tứ đại nên mình không thấy được các cảm giác, các tưởng, các suy nghĩ, nhận thức là không phải mình, không phải của mình cho nên mình bám chặt vô đó mình tưởng đâu nó là tự ngã, mình bám chặt vô đó là si. Si rồi mình tham, mình muốn giữ gìn, hoài bảo vệ nó hoài, cứ muốn nó vậy hoài, không muốn nó đổi thay. Mà khi nó đổi thay, nó bị vô thường, nó bị biến hoại, bị tan nát, bị tan vỡ thì lúc đó mình sân. Mà gốc là tham ái chấp thủ, từ cái ái nên mới có thủ.

Nên dì mẫu của Thế Tôn là Ma ha ba xà ba đề đi đến bạch Thế Tôn, con già, lớn tuổi rồi, con không còn sống được bao nhiêu nữa, xin Thế Tôn dạy cho con cái pháp vắn tắt. Sau khi Thế Tôn dạy con sẽ thọ trì, con sẽ độc cư thiền định, sống một mình. Đức Thế Tôn nói bà thấy ái ở đâu là đoạn ở đó. Một câu đó thôi là dì mẫu tu chứng A-la-hán, trở thành thánh tổ của Ni chúng. Phải được sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn, được đa văn nghe pháp mới biết được quán chiếu mới biết chứ nói sơ sơ như mình thì có biết ái là cái gì đâu. Mình không biết chỗ nào nó cư trú, nó sanh khởi.

Phải học kỹ bài kinh này mình mới thấy được hết. Nhìn kỹ lại trong đời sống của mình bị vướng mắc nhiều cái lắm. Từ món ăn đến mùi vị, sự xúc chạm mình đều bị dính mắc. Mình đi học đã đời đến trưa chiều không ngủ, tối mình leo lên giường nằm lên lúc đó mình thấy đã, khoái, đây là ái. Nó thích thích, nó khoái khoái, có cảm giác lạc thọ trong đó. Mới nằm xuống nửa tiếng mà ai kêu đi làm cái gì là bực lên, đi nhưng mặt hầm hầm khó chịu, tham ái không được thì sân. Mà cái gốc là do si nên không thấy Năm Uẩn lúc đấy vận hành, không thấy thọ.

Nó không thấy là do đang ở trong cái lạc thọ đó rồi bị mất cái lạc thọ đó đi, bi mất cái cảm giác khoan khoái, thích thú, vừa lòng vừa ý cho nên mình bực. Mình muốn giữ cái cảm giác lạc thọ đó chứ không muốn mất đi. Nhưng khi kêu có tiền nước ngoài gởi cúng 1000 USD thì hai con mắt sáng sủa không có mệt. Thấy ghê chưa? Một cái ái khác nữa, nó hoạt động kinh khiếp, tinh vi lắm. Mà mình không biết, mình thấy ổn "Cái này bình thường thôi, tự nhiên thầy moi móc ra làm chi bây giờ dữ vậy".

Không phải thầy, Đức Thế Tôn của mình chỉ, mà không có ngài chỉ làm sao mình biết nổi cái này? Tu một tỷ kiếp cũng không biết được cái này. Cho nên hàng ngày mình bị sắc; thanh; hương, vị, xúc, pháp cuốn trong đó. Đừng có nói mở mắt ra mới dính, còn nằm trên giường đã dính mắc trong đó rồi. Lúc nào cũng tôi hết, lúc nào trong nội tâm mình âm thầm cũng tôi. Rồi có một bóng mờ về mình ở trong đó, cái ảo ảnh của cái tôi đó, rồi lại đi lại yêu thích cái ảo ảnh đó. Mình nghĩ chiều nay mình về ăn cơm, hay ngày mai mình về quê thì nó có hiện ra bóng của mình không?

Mình có yêu thích cái bóng đó không? Đó là pháp ái. Cái bóng đó là tưởng, có cảm giác ở trong đó là thọ. Suy nghĩ lời nói là thầm thầm trong đó là hành, như vậy là sáu cái thọ, sáu cái tưởng, sáu cái tư. Sáu thức là rõ biết các sắc, rõ biết các tiếng, rõ biết các mùi, rõ biết các vị, rõ biết các cảm xúc và rõ biết được thọ; tưởng; hành. Nó là ý thức. Rõ biết cảm giác, hình bóng, lời nói đi theo đó là ý thức. Ý thức chỉ rõ ba cái thọ; tưởng; hành. Năm thức trước nó biết cái ở ngoài.

Như vậy rõ biết cái con mắt thì có ái trong đó không? Rõ biết lỗ tai có ái trong đó không? Thí dụ như mình nghe giọng nói trong điện thoại mình cũng dễ bị chết nữa, cái giọng nói trong trẻo, trầm, ấm là bắt đầu thọ; tưởng; hành; thức nó vận hành. Nó tưởng ra hình của người đó rồi có cảm giác. Trong Tùy Duyên Tái Thế có cô tiểu thư thời xưa, đến chùa thấy chữ viết liễn đẹp quá thì mới ước ao, mong sao gặp được người viết chữ đó. Chữ đẹp như vậy thì người đẹp biết bao nhiêu nữa, đây là tưởng uẩn.

Cô tìm đủ mọi cách thì có một thầy chỉ cách, thầy viết chữ này không ra ngoài, đóng cửa suốt ngày không tiếp xúc với ai hết. Cô muốn gặp thì cúng dường trai Tăng hết đại chúng thì lúc đó thầy ra dự thì mới gặp được thầy. Như vậy cô này làm lễ cúng dường trai Tăng nhưng thầy không ra. Thầy quản chúng, trị sự mới năn nỉ, thí chủ đại chúng đó mong muốn gặp thầy. Người ta cúng dường, mong muốn gặp được thầy mà giờ thầy lại không ra thì làm sao kết duyên lành với người ta?

Thôi ráng đi ra dự chút xíu thôi. Đến khi ông thầy này bước ra thì cô này hoảng sợ, té xỉu tại chỗ do thầy này xấu xí vô cùng, bệnh tật, tật nguyền. Cho nên mình bị chết trong cái tưởng này. Mỗi một ngày mình chết không biết bao nhiêu lần với cái tưởng uẩn đó, mình tưởng trật lất. Mình tưởng huynh đệ, tưởng sư phụ, tưởng quản chúng, tưởng tùm lum rồi tới chừng sự thật nó không phải như vậy, và mình chấp nhận cái tưởng đó, cho cái tưởng đó là thật. Tại vì kẻ vô văn phàm phu cho rằng tưởng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cái tưởng này nó bị biến đổi, bị vô thường, bị đổi khác thì người này bị sầu bi khổ ưu não.

Người này bứt tóc, đấm ngực, khóc than kể lể, khổ đay, chết hoặc gần như là chết. Cho nên chuyện tình cảm ngoài đời xảy ra thường xuyên. Chia tay rồi nên cô này đi với cậu khác, hay cậu này đi với cô khác là người còn lại có thể nhảy cầu chết. Sự thật nhan nhản mình thấy hoài. Thọ; tưởng; hành; thức nó vận hành mà người đó không biết, lại đi cho rằng "Cái đó là cái tâm của tôi, bây giờ tôi không chịu nổi nữa". Người đó không biết rằng đó chỉ là cảm giác, một mớ tưởng và những suy nghĩ, nhận thức thôi. Mình không tách ra được mà lại nhập một với nó, bấu vô, bám vô, chấp vô. Người ta gọi là chấp thủ.

Cho nên chữ Ngũ Thủ Uẩn nó hay vô cùng. Chữ này phải chiêm nghiệm. Chữ Thủ đó nó nắm chặt vô, nó bám chặt vô, nó lấy nguyên cái Năm Uẩn làm nó luôn. Đó là sự vô minh vĩ đại, đó là sự sai lầm to lớn nhất của chúng sanh, và từ cái vô minh đó mới có theo tham ái và chấp thủ. Mình đi vô cánh cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo là chánh tri kiến, phải thấy Năm Uẩn là Năm Uẩn, không phải là tôi, không phải của tôi cho nên Minh Thành đã chia sẻ với các huynh đệ phương pháp nhận diện Năm Uẩn không bao giờ được quên.

Phải thực tập mỗi ngày chứ không phải học xong đóng tập là về. Hàng ngày phải thấy được thọ; tưởng; hành; thức sanh khởi như thế nào. Trong đó có tham, dục, ái hay không? Có bản ngã, có vô minh, có chấp thủ hay không? Từ đó quán chiếu, tẩy sạch, trừ bỏ, chấm dứt, trừ diệt, diệt tận nó. Đó là con đường của thánh đạo, sẽ đi đến thánh quả. Nó là mục đích, nó là cứu cánh đời sống phạm hạnh. Mình không đi con đường này thì mình không có con đường nào khác. Đây là độc đạo. Con đường duy nhất để đưa chúng sanh thành tựu chánh trí, diệt trừ khổ ưu, chứng ngộ Niết bàn. Đó là con đường Tứ Niệm Xứ, không có con đường nào khác. Thế Tôn đã từng nói trong Trung Bộ Kinh, bài kinh số 75, Kinh Màgandiya:

Không bệnh, lợi tối thắng,

Niết-bàn, lạc tối thắng,

Bát Chánh là độc đạo,

An ổn và bất tử.

Mình không đi qua cánh cửa chánh tri kiến thì tất cả sự tu của mình là tu ở trong cái hủ lậu, không chấm dứt sầu bi khổ ưu não. Nhãn xúc; nhĩ xúc; tỷ xúc; thân xúc; và ý xúc là sáu sự tiếp xúc này phải cẩn thận trong khi mình tiếp xúc. Trong khi mắt thấy hình sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân tiếp xúc. Trong khi ý của mình là rõ biết các pháp, mình phải chánh niệm tỉnh giác. Phải quán chiếu, thấy rõ nó là cái gì?

Nó đang có mặt trong nội tâm của mình. Khi có tham, nội tâm của mình phải biết bằng trí huệ nó có tham để tẩy sạch, trừ diệt nó. Khi có sân trong nội thì tâm mình phải biết bằng trí huệ để diệt trừ nó. Dùng Như lý tác ý diệt trừ tẩy sạch nó. Khi có si phải biết trong nội tâm của mình đang có si. Phải diệt tận nó chứ không thể không biết, không thể không thấy.

Chứ nội tâm chính mình mà mình không thấy, không biết thì rõ ràng mình ở trong bóng tối. Không biết nó vận hành sao, tứ đại cũng không biết, cứ nhận vô là mình rồi xong. Chỉ riêng phần sắc uẩn mà mình phá không nổi thì bốn uẩn còn lại nó đánh một cái là mình sập hết, mình chết hết. Nên sự tu học của mình chỉ diễn ra trên phần sắc uẩn bên ngoài thôi. Làm sao mình thành tựu được? Tối ngày cứ tu trên hình thức, hình tướng không. Mà hình tướng ở bên ngoài nữa chứ chưa thấy được sắc uẩn của thân mình thì làm sao mình đi tới thánh đạo, thánh quả, thánh trí? Phải nắm thật là vững vấn đề.

Mình phải luôn luôn nhìn cái cảm giác trong mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi khắc. Vừa mở mắt dậy thôi là phải nhìn cái cảm giác liền. Nhìn coi có cảm giác gì trong đó hay không. Trong khi được khen, trong khi bị chê, trong khi ăn, trong khi uống, trong khi tắm giặt, trong khi tiếp xúc thì phải luôn luôn nhìn vào cảm giác gì. Có cái gì trong cảm giác nó đang xuất hiện, nó đang an trú và nó đang chấm dứt. Phải thấy phải biết, phải chánh niệm tỉnh giác.

Đừng có quên. Nếu mà mình thường trực như vậy thì quý huynh đệ đâu có thời giờ đâu mà đi nhìn ngó, nói chuyện người ta. Lo nhìn mình còn không kịp. Đức Phật nói về cái thọ; tưởng; hành; thức nó khủng khiếp lắm! Nó đi nhanh hơn tốc độ của ánh sáng nữa. Cho nên mình càng định chừng nào thì càng thấy rõ được năm Uẩn chừng đó. Còn suốt ngày tâm mình cứ hướng ngoại, cứ chạy ra ngoài thì làm sao mình thấy được? Toàn thấy cái ngọn không, thấy chuyện đã rồi. Thật ra mình khổ với cái sắc có khi nó ít hơn là mình khổ với cái sắc tưởng. Những cái hình bóng sau khi mình tiếp xúc với cái sắc đó rồi, nó mới quậy mình.

Thực ra cái sắc đó mình không gặp bao nhiêu hết, nhưng vì những hình bóng thô tế của cái sắc đó mà mình bị đam mê, mình bị dính mắc, mình bị khổ đau, lo lắng sợ hãi, buồn phiền. Đó gọi là sắc tưởng. Mình đang ngồi thiền mà nhớ lại người đã chửi mình hay người đã phụ bạc, người vong ơn bội nghĩa, có trăng quên đèn, vì người đó mà mình cạo đầu đi tu. Khi nhớ lại thì hình bóng người đó hiện ra, đó là tưởng uẩn. Nhớ lại thì có cảm giác khó chịu, đó là thọ uẩn. Mình nói những câu nói là hành uẩn. Mình biết được mấy cái đó là thức uẩn.

Những lời nói lúc trước của người đó nó vang trở lại, đó là thanh tưởng. Mình nhớ lại những lúc người đó cho mình ăn bánh mì, đó là vị tưởng. Trong đó có mùi là hương tưởng. Bao nhiêu pháp vận hành trong đó: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc để mình tiếp xúc với người đó, hoặc là trong lúc khổ đau, trong lúc thích thú hay là gì đó là xúc tưởng. Sáu cái tưởng đó sanh ra cảm thọ mới nữa, sanh ra tưởng mới, hành mới, suy nghĩ mới thì nó làm thêm cho mình Ngũ Uẩn thứ hai, rồi lại sanh ra Ngũ Uẩn thứ ba. Cứ vậy nó sanh sanh diệt diệt như vậy gọi là chúng sanh. Sắc tư; sắc ái; sắc tầm gọi là Tư Ái Tầm Tứ.

Tư là mình suy tư, suy nghĩ về sắc, suy nghĩ về âm thanh, mùi vị rồi mình yêu thích hay là mình suy tầm, hướng tâm vào những cái đó. Tứ là tâm mình bám vô mấy cái đó. Miệng thì nói "Ba cái vật chất này vô thường, có gì đâu. Không có gì thiệt hết. Nó vô thường. Nó tan hoại nó biến hoại". Nhưng cái tâm là bảo không "Vô thường còn lâu lắm. Giờ trước mắt cho về trước đi rồi từ từ tính". Nói như vậy là tứ. Chính là âm thanh, những cảm giác, những cái pháp này, nó bám chặt vô trong đó, không chịu buông ra. Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.