Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

THÁNH TRÍ NĂM UẨN 12- Sắc Là Than Đỏ

2026-03-03 00:54:34
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 12

SẮC LÀ THAN ĐỎ

THÍCH MINH THÀNH

Xin thưa đại chúng, buổi sáng khi Minh Thành thức dậy thì đây là giờ phút sung mãn nhất của thân thể và tâm thức. Cái thân sung mãn và cái tâm minh mẫn nhất, cho nên phải tập khi tỉnh ngủ là cái tâm phải tinh minh. Giờ phút mình mới thức dậy sau một đêm ngủ dậy thì đây phải là giờ phút tỉnh táo nhất, do người ta nói một ngày bắt đầu từ khi mình thức dậy. Một ngày bắt đầu từ thứ 2, một tháng bắt đầu từ mùng 1, một năm bắt đầu từ mùa xuân, cho nên buổi sáng quan trọng nhất là tinh thần của mình. Đây là giờ Đức Phật thuyết pháp cho chư Thiên, cho nên lúc còn am tranh thì Minh Thành hay nói pháp giờ này, chính vì vậy chỗ Minh Thành thường nói pháp thì chỗ đó trở thành cổng trời. Nó có nguyên nhân bắt nguồn từ trong kinh tạng Nikāya, cho nên khi Minh Thành thấy mọi người tụng kinh trang nghiêm, thanh tịnh, âm vận rõ ràng thì rất hoan hỷ hoặc khi thấy mọi người ngồi thiền ngay thẳng, hùng tráng thì Minh Thành rất hỷ lạc. Còn khi thấy ngồi mà gục lên xuống thì rất uổng, thành ra phải tập cho mình thói quen khi thức dậy là phải tinh minh, sáng tỏ. Nếu một ngày mình bắt đầu bằng kiểu lờ mờ, lê lết tấm thân thì làm ăn không khá, ngày đó là ngày lụn bại. Người tu cũng vậy, một ngày bắt đầu từ lúc mới vừa mở mắt, cho nên giờ này là giờ tuyệt đối quan trọng. Buổi sáng thân thể sung mãn, tinh thần minh mẫn, tâm hỷ lạc, mình thấy rằng mình có thêm ngày nữa để học pháp, hành pháp và chia sẻ pháp. Lúc nào khi thức dậy cũng phải tác ý vì có tác ý thì pháp mới sanh khởi, cho nên mưa bão mà Minh Thành thấy các chú vọng chuông là Minh Thành rất vui, chứ không phải mưa bão là ở nhà, không đi vọng chuông. Đó là cơ hội cho mình nhiếp phục cảm thọ, nhiếp phục ngoại cảnh và nhiếp phục thân tâm của mình. Mai đây mình bệnh hoặc bị tai nạn là không tu nữa hay sao? Cho nên mình phải tập sáng thức dậy trong hỷ lạc, trong hân hoan, tu tập trong sự hùng tráng của im lặng, khi ngồi thiền phải quán tưởng sự im lặng này là của bậc thánh, nên khi ngồi là tỏa ra sức mạnh, oai lực. Thành ra giờ này là giờ Đức Phật nói pháp cho chư Thiên, còn ban ngày là Đức Phật làm việc với nhân gian. Thường ở trên núi tu luyện cũng dễ thành tiên, cho nên phải quán chiếu cuộc sống hiện tại của mình là cuộc sống thần tiên, phải trân trọng từng giây từng phút từng ngày. Hiện tại bây giờ dưới phố thị đang say sưa, si ám, đang đau khổ bệnh hoạn trong cảnh ngục tù, cảnh điên khùng, cảnh thống khổ. Phải thường tác ý như vậy để mình trân trọng giây phút hiện tại, nắm bắt trọn vẹn khoảnh khắc mỗi khi mình lơ là. Phải làm cho mình tinh minh, tỉnh táo, sáng tỏ, rộng mở trong giây phút hiện tại. Đi tới đâu cũng như mặt trời, Đức Phật đã dạy mình phương pháp quán tưởng ánh sáng, Minh Thành đi thiền hành dưới thất thì tắt 1 bên đèn, sau đó tắt đèn bên còn lại. Khi mình bước vào bóng tối thì thọ; tưởng; hành của mình sẽ khác, tại sao bóng tối lại thay đổi thọ; tưởng; hành? Cứ đi bình thường và nhiếp phục cảm thọ sợ hãi. Mình quán chiếu thân thể của mình như mặt trăng, tỏa ra ánh sáng, tỏa ra sự thanh lương trong mát cho tự thân và cho tha nhân. Cho nên tối này Minh Thành đi thiền hành với mặt trăng, mình phải khéo léo tác ý và quán chiếu. Ngay chỗ hồ nước có con rắn dài, mỗi lần đi ngang là nhìn xem có rắn không, phải nhiếp phục và đánh tan thọ; tưởng; hành để đi chậm rãi bình thường. Thành ra cái tâm mình dễ bị định kiến, nếu lỡ bị rầy la là nhìn người đó nghĩ thế nào cũng bị rầy la nữa, đó chỉ là thọ; tưởng; hành của quá khứ chứ bây giờ không phải vậy. Tức là mình dễ trở thành định kiến và kiến chấp đối với các pháp. Mình sống với thọ; tưởng; hành của quá khứ trong khi các pháp luôn trôi chảy từng giây từng phút, không có khoảnh khắc nào giống khoảnh khắc nào. Tuy là mỗi ngày thời khóa giống nhau nhưng thật chất không giống vì thọ; tưởng; hành và căn; trần; thức, các lậu hoặc vận hành khác. Mình phải thấy điều đó, nó luôn luôn mới mẻ.

Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!

Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.

Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa" (Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, C. Năm Mươi Kinh Sau, III. Phẩm Vô Minh, IV. Phẩm Than Ðỏ).

Minh Thành nghe bài này là chấn động thân tâm. Mình muốn lạy ngay tức khắc vì Đức Phật nói quá chính xác, rõ ràng, cụ thể và thiết thực. Ngũ uẩn này là lửa than, đụng vào không phải chỉ bị phỏng mấy ngày mà là phỏng suốt đời. Luôn luôn lúc nào nó cũng tỏa nhiệt bốc khói, gọi là nhiệt não, là nóng bức, là đốt cháy. Phải quán sắc giống như lửa than. Vô lượng, vô số chúng sanh hữu tình quằn quại và chính mình cũng đau khổ quằn quại, thân tàn ma dại trong đó. Mình đã khổ lụy đắng cay ác độc, sự đam mê khao khát, sự đòi hỏi tìm kiếm, sự mơ tưởng trong cục lửa than đó và bị đốt cháy thiêu rụi. Cách đây không lâu ngoài Bảo Lộc, có một người hơn 30 tuổi bị chết cháy đến nỗi không nhận diện được. Thì cũng vậy, sắc là lửa than đốt cháy mình, trong sắc có dục ái tham cho nên Đức Phật nói cả thế giới này đều đang bốc cháy rực lửa, bốc cháy bởi lòng dục, bốc cháy bởi lòng ái, bốc cháy bởi lòng khao khát, bốc cháy bởi lòng tham muốn. Bốc cháy tràn lan khắp thế gian này, cho nên loài ngạ quỷ mỗi khi ăn là thức ăn bị bốc cháy không ăn được, là do lòng tham lam keo liệt đốt cháy thức ăn đó. Mình nhìn sâu vào thì không chỉ sắc, con mắt cũng bị bốc cháy. Nhìn thấy người đẹp, món đồ đẹp là bốc cháy. Cái biết, sự rõ biết các sắc cũng bốc cháy và căn; trần; thức cũng bốc cháy cùng nhau. Trong sự tiếp xúc bốc cháy, trong sự cảm giác khi tiếp xúc cũng bốc cháy, trong tham ái là bốc cháy, trong sân hận là bốc cháy, trong chấp thủ là bốc cháy. Thân thể chúng ta là cả một khối than lửa rực đang bốc cháy trong dục tham và ái. Lòng khao khát, lòng thèm muốn, tưởng mơ, truy đuổi và bao nhiêu những âm mưu, thủ đoạn, sự xảo quyệt để đạt được tham dục đó là đang bốc cháy. Cả địa cầu này đều bốc cháy, mỗi cơ thể con người đều đang bốc cháy. Thật sự là rung động! Thật sự đang bốc cháy, hỏa hoạn khắp hành tinh! Cho nên Đức Phật nói tất cả đều đang bốc cháy, chỉ có bậc A-la-hán mới có thể dập tắt hết tất cả các ngọn lửa, mới mát lạnh tịch tịnh.

Cho đến khi nào nhìn thấy sắc đẹp, tất cả đồ vật tốt lành tiện nghi mà cảm giác của mình hoàn toàn lắng dịu, không sanh khởi dục tham ái thì lúc đó mới bắt đầu có sự bình an. Còn khi căn tiếp xúc với trần, con mắt nhìn thấy người đáng ưa thích, tai nghe tiếng, với ngay cả tiếng nhạc thiền cũng phải kiểm soát tâm, xem tâm có bị dính mắc vào tiếng nhạc thiền đó không. Thật ra Minh Thành mở nhạc thiền vì những người sơ cơ mới vào đạo phải có màu sắc, âm thanh để hướng dẫn họ tu tập, còn mình đã đi vào đạo sâu sắc thì không cần những tiếng này. Mình cũng phải kiểm soát xem mình có đang bốc cháy bởi tiếng nhạc đó không, vì ngoài đời đã bốc cháy với những tiếng nhạc trữ tình rồi. Giờ mình đi tu mà không khéo sẽ bốc cháy với nhạc Phật giáo, hoặc thanh nhã hơn chút là nhạc thiền, trong đây vẫn có ái. Mình phải kiểm soát hết tất cả mọi thứ, nếu không nó sẽ tỏa nhiệt, nóng lên rồi thiêu đốt mọi thứ, cho nên đời sống độc cư của người xuất gia, đời sống núi rừng của người tu A-lan-nhã chính là rời xa than đỏ. Vì vậy bây giờ các thầy trẻ trong chùa tổ chức các khóa tu dành cho sinh viên, thanh thiếu niên, những người trẻ đẹp ở gần, tiếp xúc như vậy thì làm sao tu? Trong bản thân giải quyết không xong thì bên ngoài nội công ngoại kích thì làm sao nhiếp phục? Thành ra mọi người có thấy giới luật được Đức Phật đặt ra cho người tu là sống đời viễn ly như vậy mà ngay tại thời Đức Phật cũng có những vị Tỳ-kheo hoàn tục. Được sự giáo hóa của chính Đức Phật, ở trong giới luật độc cư thiền định như vậy mà còn bị dục quật ngã mà bây giờ mình tu mà còn xông pha ngày đêm thì làm sao thành tựu? Trong Tương Ưng Kassapa thì ngài là người không thích giao thiệp, ngài không tán thán trong việc giao du. Ngay cả điện thoại là phương tiện để liên lạc thì mình phải khéo biết viễn ly và phải biết sử dụng nó như thế nào để phục vụ cho việc tu học được tốt nhất.

Những món đồ có phải là lửa than không? Cây kiếm Nhật có phải là lửa than không? Chiếc xe mình ưa thích có phải là lửa than không? Ví tiền mình cất kĩ có phải là lửa than không? Hay món đồ quý mình cất kĩ có phải lửa than không? Bất cứ lúc nào những thứ này cũng có thể đốt cháy mình, chỗ đó mình giấu mà giờ ai lấy mất rồi thì lúc đó nó đốt cháy tâm can mình rồi đau khổ, nước mắt giàn giụa, thậm chí là ngất xỉu. Đó là lửa than đốt cháy chúng sanh, đốt cháy hữu tình trên căn trần thức xúc thọ và ái thủ. Mình phải biết được từng câu từng chữ trong kinh là sự kết tinh thánh tuệ, thánh trí, thánh quả, thánh đạo. Mỗi lần đọc là phải làm dâng trào cảm xúc sâu sắc chứ không phải đọc cho hết bài kinh, đọc tới đâu phải cảm nhận câu kinh tới đó, thậm chí là phải xúc động, rúng động tâm thức thì mới gọi là tụng kinh Nikāya. Phải tuyên dương diệu pháp, cái đó là chuyển pháp luân, tức là lúc đó bánh xe chánh pháp luân chuyển, vận hành trong thân tâm mình. Hay còn gọi là pháp chuyển ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều cảm động trong thánh trí khi mình đọc kinh Nikāya, chứ không phải đọc cho hết câu chữ mà khi đọc phải để tâm vào đó, để cảm thọ vào đó làm cho ngũ uẩn vận hành theo cái pháp đó, lúc đó gọi là chuyển pháp luân. Phải cẩn thận với đống than đỏ này, hai người tu chung, mình nói mà người kia không nghe thì lúc đó cảm thọ của mình có giống than đỏ không? Mình ở trong chùa tu nhiếp phục cảm thọ mà còn vậy thì ngoài đời sẽ sao? Chánh tri kiến của mình phải sâu sắc như vậy, phải nhìn thấy kinh Nikāya trong sinh hoạt đời sống thường ngày của mình chứ không phải thấy kinh Nikāya mỗi lúc tụng đọc. Hai người trong chùa mà mỗi lúc dẫn chúng là ông kia dẫn theo cách ổng không dẫn theo cách người ta thì lúc đó cái thọ có than đỏ không? Ngay lúc hành trì thì Này các Tỳ-kheo, thọ là than đỏ, thật sự rất sâu sắc. Hôm nào lên tụng kinh cũng đánh mõ bình thường, lỡ hôm nay có người đánh tăng tốc thì dưới này bao nhiêu người tụng kinh phừng lên hết thì thọ là than đỏ. Đây là đang trên chánh điện còn than đỏ như vậy thì ngoài đời sẽ ra sao? Có nhiều người nói "hôm nay tu ăn chay chứ nếu hôm nay không phải rằm thì chết với con" như vậy làm sao tu?

Cái hay của mình là thấy được ngũ uẩn vận hành, những người không tu theo dòng pháp này thì không biết, họ chỉ biết lúc đó họ đang giận thôi. Đây là chỗ khác biệt của Đa văn thánh đệ tử và vô văn phàm phu. Họ chỉ biết lúc đó tôi giận, tôi tức chứ họ không biết lúc đó có cảm thọ khổ, cảm thọ sân, khi mình biết được như vậy thì bắt đầu mình tách ra khỏi cảm thọ đó. Tức là cái trí nhìn thấy năm uẩn là thuộc về trí tuệ chứ không còn là ngũ uẩn nữa. Đây là chỗ thâm sâu, cái nhận biết được sắc là than đỏ, thọ; tưởng; hành; thức là than đỏ thì cái đó không phải là than đỏ. Cái biết đây là sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cái này không phải là ngũ uẩn. Đó là thánh trí, lúc trước mình cũng biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng mình nhập chung với nó thành một, còn bây giờ mình biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng cái biết bây giờ không phải là sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà cái biết đó là do mồi ngọn đèn của thánh trí Đức Phật. Cho nên các ông hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác (Tương ưng V, chương 3, phẩm Ambapàli, phần Bệnh).

Tức là mình đem cây đèn không có lửa của mình mồi qua ngọn đèn thánh trí ngũ uẩn của Đức Phật. Khi đã mồi được thì ánh sáng từ ngọn đèn của Đức Phật truyền qua đèn mình làm mình sáng lên. Nếu đèn của mình đầy đủ nhiên liệu thì mình giữ hoài không cho nó tắt. Thì sự nghe pháp và thiền định chính là để giữ lửa, châm nhiên liệu liên tục. Còn lúc nào nhìn mà không thấy ngũ uẩn, chỉ có một cái tôi thì đèn đã tắt mất, đó là tri kiến của phàm phu. Khi đã thấy ngũ uẩn hoạt động, thấy được đó là than lửa thì lúc đó tri kiến đó không còn là tri kiến của phàm phu, tuy là chưa nhập thánh trọn vẹn nhưng không còn là phàm phu. Vì phàm phu không thể thấy được ngũ uẩn, chỉ có thánh trí mới thấy ngũ uẩn. Cho nên tại sao mới nói nhận diện là như vậy, vì có nhận diện ra nó mới không bị nó đồng hóa. Thành ra việc tu hành thánh trí năm uẩn này hết sức sâu sắc, phải nghe đọc chiêm nghiệm và nhìn thấy nó. Mình thấy trong người có cảm giác bực bội, khó chịu từ huynh đệ, thầy trò, Phật tử thì phải biết đó là than đỏ, "cảm thọ này là lửa than". Phải quán chiếu nó là lửa than để mình mới có sự nỗ lực dập dắt nó, phải quán sự nguy hại để xuất ly khỏi nó. Điều đặc biệt khi học kinh Nikāya là có thể ứng dụng hết tất cả mọi thứ, quán nguy hại với trí tuệ xuất ly, đây cũng là pháp hành cho mọi người thực tập. Phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác lửa than này bằng trí tuệ thì tác ý để xuất ly, thoát ra khỏi nó. Cho nên giai đoạn chúng ta tu ở đây là giai đoạn để thành tựu chánh tri kiến, phải nghe pháp trong 3 năm liên tục là ít nhất. Thành ra đừng nghĩ nghe chút như vậy là đủ rồi, mà phải nghe hoài và quán chiếu đến khi nào thể nhập thánh tri kiến thì thôi, chánh tri kiến của mình phải vững chắc như sơn. Tại sao mình tiếp duyên xúc cảnh thì cảm thọ lại phừng lên? Vì bình thường mình không để tâm tu tập cảm thọ, không có sự quán chiếu nhiếp phục cảm thọ cho nên khi có gió là lửa bừng lên, tức là đã có lửa than sẵn rồi. Còn tu sâu sắc là lửa than đã bị tắt, muốn nhen nhóm lên cho cháy thì cũng khó khăn, còn đây đã cháy sẵn có gió thì bốc lên. Thành ra lửa than cũng có nhiều loại.

Tưởng là than đỏ, những hình bóng trong tâm cũng nung đốt mình. Khi đang ngồi thiền mà hiện lên những hình bóng mà mình không diệt tận, lại đi lưu giữ thì những hình bóng đó cũng là than đỏ. Như ngồi nhớ lại gia đình, mình thấy vậy nhưng có buông bỏ lập tức không hay mình bị nó dẫn đi nữa, nhớ vợ rồi lại nhớ con thì có khi nó dẫn mình đi xa, lúc sau mình mới phát hiện ra rồi mới quay trở lại. Trong những hình bóng đó có luyến ái, có tham dục, thậm chí có sân trong đó. Trong những hình bóng đó có si, si không phải là hôm trầm, ngủ gục mà khi si hiện lên mình không thấy đó là tưởng mà mình lại đi theo nó, trong trạng thái không thấy không biết ngũ uẩn một cách tinh minh như vậy gọi là si. Cái độ chiếu sáng của trí ngũ uẩn có nhiều cấp độ. Lúc cái trí đầy đủ, tỏa rạng thì mình thấy là biết ngay thì không chấp nhận nó. Còn khi cái trí yếu, lờ mờ thì khi thấy mình cũng biết nhưng lại đi theo. Cái tệ nhất là khi nó khởi lên là mình đi theo luôn, nhập chung làm một với nó. Mình tạm chia trạng thái tâm ra 3 cấp độ: Khi mình tỉnh táo, mạnh mẽ, sáng suốt nhận diện ngũ uẩn cái nào ra cái đó thì trí huệ đó sung mãn, tinh minh. Khi bị yếu đi thì cũng thấy ngũ uẩn nhưng bị hòa trộn, lẫn lộn chút ít. Cuối cùng là không còn thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà chỉ thấy một cái tôi thôi là trộn chung với nó luôn. Do độ chánh niệm tỉnh giác của mình ở mức độ nào thì mình nhận diện ngũ uẩn theo chừng đó. Khi đã không nhận diện được ngũ uẩn thì lúc đó là buông thả, trở lại những tập khí phàm tục, gọi là mất trí huệ, lúc đó ngọn đèn bị tắt đi mất. Tới khi vào nghe pháp, tác ý liên tục thì tỉnh lại chút, mồi lửa lên. Cứ mờ rồi tỏa vậy hoài, không giữ lửa liên tục được nên mình khó thể nhập thánh tri kiến, nó đòi hỏi mình phải có sự kiên trì, tinh tấn liên tục, bền lâu. Chứ còn tinh tấn được vài ngày đến khi qua tuần sau hết nhuệ khí lại muốn xuống núi, lúc đó phải mở kinh lên nghe, dùng Như lý tác ý hoài. Cho nên thời nghe pháp hằng ngày chính là nhiên liệu được châm liên tục, đó là ngọn lửa trí huệ còn than đỏ này là vô minh, tham sân si, bản ngã.

Những suy nghĩ cũng nung đốt mình, "tại sao nói tôi như vậy?", "tại sao nhìn tôi với ánh mắt như vậy?", cứ nghĩ như vậy rồi trong người khó chịu, tức tối. Chuẩn bị lên gường ngủ mà các hành cũng làm việc liên tục, bao nhiêu những suy nghĩ rì rào. Cái biết cũng làm cho mình thống khổ thì biết làm gì? Hãy bỏ cái biết đó đi, mình nghe cái gì mà sanh ra sân hận thì bỏ cái biết đó, dùng thức diệt thức chuyển qua cái biết khác, quán chiếu dịch bệnh, bị bệnh thần kinh xiềng xích hàng chục năm chứ không đi theo cái biết làm mình sầu bi ưu não. Mình đang biết cái đó mà nó gây bực quá thì chuyển qua cái khác, không trú vào chỗ này nữa, bung cái tâm từ ra bao la, vì cái biết này làm cho mình sân chứ nếu mình không biết cái này thì đâu có sân. Bây giờ diệt cái biết này để sanh cái biết trong pháp, không thọ cái chỗ gây đau khổ đó nữa mà hãy xuất ly ra. Đây là cái thiện xảo trong sự huấn luyện, tu tập năm uẩn. Khi Minh Thành trong thất đi kinh hành mà có chỗ mở nhạc dội ầm ầm vào thất thì Minh Thành mở Như lý tác ý "mày bản ngã cái gì? Ai ở đây? Trong đây là trống rỗng không có ai. Cái lỗ tai trống không, cái âm thanh đó là trống không, sự tiếp xúc cũng trống không. Cái thọ này là lửa than, mày ưa thích lửa than để đốt lắm hả?". Mình tác ý hoặc mở Như lý tác ý để diệt cái thức làm mình phiền não rồi chuyển qua cái thức trong pháp, đây là dùng thức diệt thức, không cho biết theo cái cũ nữa, chặn cái biết đó và diệt nó để sanh ra cái biết trong pháp. Khi đang tiếp xúc với người nào mà họ làm mình khó chịu bực bội là mình cáo lui, vào phòng mở pháp lên và tác ý thì lúc đó không cho nó biết theo cái câu họ vừa nói làm mình khó chịu và cứ nhớ câu đó hoài không đi ra được. Hay lỗ tai tiếp xúc âm thanh rồi sanh ra cảm thọ sân và đi ra không được thì mình phải thoát ra khỏi nó. Cho nên thấy được ngũ uẩn là than đỏ thì bậc Đa văn thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Thấy nó là than hừng, than đỏ thì mới đưa đến nhàm chán còn không thấy thì không thể nhàm chán. Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh làm phép quán cho mình. Thấy vậy thì mới nhàm chán, từ nhàm chán mới không ham muốn, từ đó mới giải thoát được. Đây là cả một công trình chứng ngộ của Đức Phật.

Hình ảnh thứ hai là dòng sông, 2 bên bờ sông mọc lên bờ cỏ lau. Có một người không biết bơi lọt xuống dòng sông bị nước chảy mạnh đã cuốn trôi đi mất. Trong lúc bị cuốn thì người này cố gắng chụp được những cọng cỏ lau mọc 2 bên bờ sông, nhưng khi chụp được vào rồi thì do cọng cỏ mỏng nên bị đứt mất, vì vậy người này bị dòng nước cuốn đi, chết trong thống khổ, tai nạn. Cũng vậy, kẻ vô văn phàm phu cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là của tôi cho nên người này bị tai ách khổ nạn. Một người không biết bơi mà bị lọt xuống sông, bị dòng nước cuốn trôi, người này gửi thân mạng mình cho cọng cỏ nhỏ bé, mỏng manh thì làm sao an ổn khỏi các khổ ách? Phải như bám vào cái gì chắc chắn như thành cầu hay khối bê tông, rễ cây cổ thụ thì còn có thể leo lên được, còn cái nằm nắm vào cỏ dễ bị đứt. Ngũ uẩn này là thứ dễ bị đứt, dễ bị bứt, làm thứ mong manh, là thứ không đáng tin cậy, không phải là thứ vững chắc để có thể nương tựa, nó chỉ giống như cọng cỏ. Dòng sông cuốn trôi mình đi chính là dòng luân hồi sanh tử. Người này muốn thoát ra mà lại đi bám vào ngũ uẩn thì làm sao thoát ra được? Cho nên trong kinh nói:

 Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Khi sắc ấy của người ấy bị bựt đứt, do nhân duyên ấy, người ấy bị rơi vào tai ách khổ nạn. Thọ; tưởng; hành; thức cũng vậy (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, V. Phẩm Hoa, I. Dòng Sông).

Mình phải quán chiếu dòng sông đó là dòng sống chết, dòng dục tham ái, sân si, vô minh và bản ngã, đó là dòng nước lũ. Đức Phật nói trong kinh là từ núi cao chảy xuống, từ xa chảy đến, dòng nước chảy xiết. Hằng ngàn, hằng trăm ngàn người chết do dịch bệnh thì họ đi đâu sau khi chết? Họ đang ở dâu? Ông bà mình chết rồi đang ở đâu? Đang làm gì? Những người đã mất cha mẹ thì bây giờ cha mẹ đang làm gì, đang ở đâu, họ ra sao? Tất cả chúng sanh, hữu tình đều bị cuốn trôi, phá sập bởi dòng nước lũ, đang bị chìm nổi thăng trầm trên một dòng xoáy mà lại lấy tay chụp lấy cọng cỏ. Tức là chụp vô sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chụp vô thân xác, những thứ vật chất nhà cửa, ruộng vườn, danh vọng, tiếng tăm, tiền bạc. Vị cố vấn tối cao, phó thủ tướng Iran nhiễm nCov, dịch bệnh đâu có tránh ai, sự vô thường không bỏ qua một ai, cái già, bệnh, chết không từ bất cứ ai. Nếu không gặp được bậc thánh, không gặp được bậc Chân nhân, bậc chánh tri kiến, không được nghe pháp, không tu tập thánh pháp thì sẽ còn chìm nổi trong luân hồi.

Cho nên bốn thánh trí này rất quan trọng: Quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Tức là cho rằng tấm thân này là mình, là của mình. Một ngàn người, tỷ vô văn phàm phu như một, đều cho rằng thân này là tôi, đó là họ nắm vào cọng cỏ và cọng cỏ này sẽ bị đứt mất, dòng sông sẽ cuốn trôi họ đi. Họ nắm vào nhà cửa, xe cộ, nhà cửa, cuối cùng bị đứt và họ cuốn theo lòng dục tham ái, ngã mạn, vô minh tăm tối trong ngũ uẩn và tiếp tục đời sống khác trong vô tận. Những cảm giác, nghĩ tưởng cũng như vậy. Hãy quán chiếu rằng tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức là những bụi cỏ rũ xuống bên bờ sông, không có gì chắc chắn kiên cố ở đây, không có gì đáng để nương tựa vào. Mình cứ huân tập, nghe, chiêm nghiệm và suy nghĩ cho quen, tới chừng gặp chuyện thì mình bình tĩnh xử lý. Nếu quán chiếu 5 năm chưa được thì quán chiếu 10 năm, 2-30 chục năm thì sẽ có lúc thể nhập thánh tri kiến, đừng sợ khó khăn. Bản thân Minh Thành cũng thực tập nghe và quán chiếu dần dần tới giờ cũng được 50%, Minh Thành nhìn mọi sự vật đều như nhau. Mình phải kiên trì với mục tiêu đã chọn, người bắn cung là phải bắn ngay hồng tâm, đừng bắn lệch thì chắc chắn sẽ thành công.

Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:

"Vị thuyết pháp, vị thuyết pháp", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là vị thuyết pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị thực hành pháp tùy pháp? Cho đến như thế nào, được gọi là vị đã đạt đến Niết-bàn ngay trong hiện tại?

 Nếu Tỳ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, IV. Vị Thuyết Pháp).

Có một chú nói hoàng hôn phủ trên mộ, thì đó là pháp sư. Bất cứ lúc nào mà thọ; tưởng; hành; thức của mình tương ưng với chỗ ly tham, nhàm chán đối sắc thì những gì mình nói ra mới là thuyết pháp. Sau khi nghe chú nói như vậy thì Minh Thành nhìn ra thấy mặt trời sắp lặn, hoàng hôn phủ trên mộ thì ngọn núi đó là mộ của mình. Tuy ngoài miệng nói mấy chú còn trẻ, nghe cái này mấy chú chưa chắc thấm nhưng bên trong Minh Thành đang quán chiếu ngọn núi xa xa đó là mộ của mình, mặt trời chiều lặn xuống là hoàng hôn phủ trên mộ. Điều này mỗi buổi sáng phải tụng liên tục.

Bây giờ được mấy người trở thành pháp sư như lời Đức Phật nói trong kinh thuyết pháp về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thuyết pháp. Được bao nhiêu thầy giảng pháp mà nói về mục đích này? Nói được điều này sẽ được Thế Tôn trao bằng pháp sư chánh tông. Mình tu học theo dòng pháp này rồi thì nhìn ra ngoài sẽ thấy khác rất nhiều với khi chưa học. Ngày xưa được nghe đi nước ngoài là thích thú còn bây giờ mà được đi là nguội lạnh, đi đâu cũng toàn tham sân si, vô minh và bản ngã. Nhiều khi những chỗ đó còn phát triển dục tham ái, bản ngã nhiều hơn nữa.

Nếu Tỳ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nói điều đó là pháp sư, thực hành nhàm chán, ly tham với ngũ uẩn thì gọi là hành giả. Những gì Đức Phật nói đều là Chánh Đẳng Chánh Giác, khi nói là tới tận cùng của vấn đề đó, như vậy mới gọi là bậc Thế Gian Giải, Chánh Biến Tri. Biến Tri là cái biết thấu đáo, phổ quát cùng khắp, cho nên thực hành con đường nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ngũ uẩn, như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Bây giờ được mấy người thực hành theo cái này? Không còn ai nói cái pháp này nữa, không còn ai hướng dẫn để thực hành cái pháp này nữa, không còn ai chứng đạt cái pháp này nữa thì đó là mạt pháp. Ngày nào, nơi nào, thời gian nào còn nói pháp này thì chánh pháp còn, còn người nghe chánh pháp này thì chánh pháp còn, còn người thực hành tu tập chánh pháp này thì chánh pháp còn, còn người thể nhập, chứng đắc thành tựu chánh pháp này thì chánh pháp còn. Ngày nào cái pháp này không còn nghe nữa, không còn được ai nói, không còn ai phổ biến thực hành nữa, không còn ai chứng nghiệm nữa thì ngày đó chánh pháp hoại diệt. Đây là chuẩn mực, là thước đo, định lý của pháp. Tất cả người học giảng sư phải học điều này mà trong trường Cao cấp giảng sư lại không dạy, nếu không học cái này thì ra giảng cái gì? Nếu không nắm được những quy tắt, định luật, tông chỉ đường lối này thì ra giảng cái gì? Không khéo sẽ quay ngược trở lại đảo lộn thánh pháp, gọi là loạn pháp. Bây giờ tâm sự toàn nghe muốn làm cái này, muốn xây cái kia thì có phải ly tham, đoạn diệt, nhàm chán sắc không? Nhưng bây giờ lại lấy cái đó làm sự nghiệp, làm sự tu tiến mới đau lòng. Kinh này để trong kho, để trên bàn thờ, trong tủ, có đem ra đọc cũng không hiểu, dù cho hiểu cũng hiểu không tới cho nên Mình Thành phải giảng. Pháp Ấn Sơn này là phim trường của kinh tạng Nikāya thế kỉ 21, không phải chỉ có mình ngồi đây mới được nghe mà những lời giảng giải này sẽ được lưu truyền ra toàn quốc cho nhiều người cùng tu học. Minh Thành sẵn sàng gục ngã trên pháp tòa để giảng kinh tạng Nikāya vì bây giờ không còn ai giảng nữa, cực kì hiếm người giảng, Minh Thành học 8 năm trong trường Phật học và thêm vài năm trong Thiền viện cũng không được nghe kinh này.

Nếu Tỳ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại. Mình thấy có 3 cấp độ trong pháp: Thứ nhất là nói pháp, nói về sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ngũ uẩn, như vậy gọi là pháp sư. Thứ hai là thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt với ngũ uẩn gọi là vị thực hành pháp. Cuối cùng là thực hành tới mức thật sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với ngũ uẩn, được giải thoát và không chấp thủ ngũ uẩn thì được gọi là Tỳ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại. Đây là tóm thâu cốt tủy của thánh pháp. Bất cứ lúc nào mình suy nghĩ, mình tác ý, cảm thọ mà ly tham ngũ uẩn thì đó là pháp. Bất cứ thọ; tưởng; hành; thức nào không nhàm chán, không ly tham, không muốn chấm dứt thì cái đó là phi pháp. Mình phải nhìn sâu vào là nhàm chán, ly tham, đoạn diệt với tham sân si, vô minh, bản ngã và chấp thủ đối với ngũ uẩn. Cho nên mới nói giải thoát là không chấp thủ đối với ngũ uẩn, tức là không chấp thủ đối với dục tham ái, sân si, vô minh và bản ngã ở trong ngũ uẩn. Như vậy mới sáng tỏa vấn đề, đây là tổng cương lĩnh của kinh tạng Nikāya. Mình tính phương án làm việc như vậy nhưng huynh đệ làm vỡ kế hoạch hết thì mình khó chịu, đó gọi là chấp thủ, là kiếp chấp, chấp trong ý hành của mình. Bà Năm tính sáng nay nấu mì, làm tàu hủ muối xả ớt nhưng ông bếp lại đi chợ nấu món khác thì lúc đó bà Năm sân si, phiền não do bà Năm đã chấp vào cái suy nghĩ của mình. Đó là bị than đỏ đốt cháy, vậy thì mình dùng thức diệt thức. Tức là mình đã nói hết rồi nhưng không ai nghe mà nếu mình chấp vào ý kiến của mình thì sầu bi khổ ưu não, mình bực tức, mà giữ cái bực này thì khỏe hay mệt, mình tác ý làm cho nó tan biến. Mình không biết vào chuyện này nữa mà quay qua biết vào cái pháp, biết về cái trải tâm từ cho mình trước để lửa than trong lòng nguội lạnh, thì đây cũng là lấy thức diệt thức, thoát khỏi cảm thọ sân đó chuyển qua thọ từ bi hỷ xả, chánh niệm tỉnh giác và trú xả, quán xuất ly với trí tuệ. Ngay lúc đang sân mình đừng nói, nói cũng được nhưng khi nào cảm thọ sân trong người tan ra hết thì lúc đó hãy nói, nếu còn sân mà cứ tiếp tục nói thì hại mình, hại người, hại cả hai. Cho nên hóa giải cảm giác xong rồi muốn nói gì thì nói. Đó là sự thực hành nhàm chán, ly tham, từ bỏ đối với tham sân si, vô minh, bản ngã, chấp thủ đối với ngũ uẩn. Đó gọi là vị hành pháp, tùy pháp. Phải thực hành cái pháp thì mới gọi là vị hành pháp, phải đi theo cái pháp thì mới gọi là vị tùy pháp. Bây giờ cứ nói không, mà nói đã khó rồi mà tìm được một vị pháp sư chỉ nói pháp này thôi thì không phải chuyện dễ, tìm được một vị vừa nói vừa làm thì càng khó hơn nữa, mà tìm được người chẳng những nói và làm mà còn làm thành tựu thì tìm mù mắt cũng chưa ra và phải cung kính người đó. Minh Thành đã đi tìm khắp hành tinh mới tìm được một người nói thánh pháp chứ không phải chuyện dễ, mình đi con đường này chắc chắn sẽ giảm thiểu tham sân si, sầu bi ưu não, chắc chắn mình sẽ đi đến chỗ giải thoát từng phần lần lần, chắc chắn mình sẽ đi xuôi về hướng Niết-bàn, nhập về Niết-bàn, không thể khác được. Nói, làm và thành tựu chỉ trong chỗ nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với tham sân si, vô minh, bản ngã, chấp thủ ở trong ngũ uẩn. Một câu này là tóm thâu toàn bộ kinh Nikāya, mà muốn làm được điều này cần có rất nhiều pháp hỗ trợ tu tập như tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, tu tập bao nhiêu phép quán, tu tập bao nhiêu sự công phu hành trì để hỗ trợ mình thành tựu.

./.