Trình Pháp Sau 3 Tháng Nhập Thất-Tất Cả Pháp Lấy Dục Làm Căn Bản-Mạnh Mẽ Vượt Qua Chướng Ngại
Nikāya Trình Pháp
Sau 3 Tháng Nhập Thất
Tất Cả Pháp Lấy Dục Làm Căn Bản
Mạnh Mẽ Vượt Qua Chướng Ngại!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhiếp phục dục tham PAGEREF _Toc182844705 \h 1
II. Khéo léo dụng công tu tập PAGEREF _Toc182844706 \h 6
III. Quyết tâm cắt ái PAGEREF _Toc182844707 \h 8
I. Nhiếp phục dục tham
Thật lợi ích, phúc lạc khi ba tháng an cư kiết hạ được độc cư thiền định một mình trong căn nhà trống, được thực hành những gì Đức Phật đã truyền trao dặn dò, đây là cơ hội hiếm có hy hữu, khó được trong nhiều kiếp nhiều đời chứ không phải là việc quý báo thông thường của thế gian. Cần nhớ tác ý khi tâm mình nhàm chán, chán nản, cần phải tu tập hỷ vô lượng tâm nhiều hơn nữa, qua đây chúng ta thấy được mấy điều rất quan trọng, Đức Phật nói tất cả pháp lấy dục làm căn bản, lấy dục làm gốc, thật ra giới – định – tuệ vẫn là mục đích nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận các dục, ngài Xá-lợi-phất nói mục đích của đời tu là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham.
Đức Thế Tôn nói với bà Ma-ha-ba-xà-ba- đề ái tận tức là giải thoát, ái tận bao gồm dục ái, ngài nói sự đau khổ trong quá khứ đều bắt nguồn từ nơi dục, tất cả sự đau khổ trong hiện tại đều bắt nguồn từ dục và tất cả sự đau khổ trong tương lai sau này, vị lai cũng bắt nguồn từ nơi dục. Cho nên trong sự tu học của chúng ta khi thấy vào ở một mình sẽ thấy sâu sắc hơn, nhìn ra được nhiều góc độ khía cạnh, bộ mặt thật sự của dục, sự an trú của dục, sự phát khởi của dục, sự vận hành của dục, sự điều khiển, sai khiến của dục trong thân tâm chúng ta.
Cái ăn của mình cứ ăn mãi, thậm chí có người đi khắp thế giới để ăn mà cũng không thỏa mãn, đó là dục ăn. Đến dục chơi là đi du lịch, đi phượt, đi đây đi đó, đừng nói gì cư sĩ mà ngay cả người xuất gia cũng thích quải đãi đi chỗ này chỗ kia, những người xuất gia nhiều khi hiểu lầm, ngày xưa các bậc tôn đức đi cầu đạo, đi cầu pháp, đi tìm con đường diệt khổ vì các ngài chưa thấy rõ được đạo lộ nhưng người sau lại không hiểu, cứ tưởng rằng người tu là phải đi chỗ này chỗ kia, cái trá hình của dục là dẫn đi du lịch, đi chơi chứ ở yên một chỗ không được, mình không biết đó cũng là một sự sai khiến của dục, điều khiển của dục, sai sử của dục.
Cái ở cũng vậy, phải ở như thế nào mới được, nếu không là không chịu, phải trang trí cảnh cho đẹp để được nhiều người biết đến, nhiều người muốn đến và suốt cuộc đời của người tu lại đi tạo cảnh đẹp. Chúng ta bị cái dục trá hình sai khiến mà mình không biết vì cái dục này rất quỷ quyệt, nó là yêu tinh ma quái, ranh mãnh, nó rất tinh vi, xảo quyệt, khéo léo, có nhiều lý do ngụy biện rằng đó là làm cho tam bảo, làm cho chùa, hoặc Phật tử ngoài đời thì cho rằng làm vì chồng con, làm cho mọi người chứ đâu có làm cho mình, nói rất có đạo lý nhưng nếu không nhận diện ngũ uẩn, không có trí tuệ sắc bén thì mình sẽ nhìn không ra được cái ăn, cái mặc, cái ở, cái đi chơi, trang trí đều là dị dạng, dị hình của dục, rất nhiều cái thiên hình vạn trạng của dục, những suy nghĩ, tư tưởng, hình bóng trong tâm muốn cái này muốn cái kia. Dù cho đi tu, dù cho cư sĩ đã hiểu được Chánh Pháp thâm sâu vẫn bị nó sai khiến, sai bảo, dắt mũi dài dài mà không thấy được.
Đó là những cái thô của ăn, mặc, ngủ, nghỉ, đi chơi, còn cái tế là dục nói. Khi nói là quên mình, quên tâm, quên kiểm soát chánh niệm, mình nói trong sự thúc giục, nói trong ham muốn, nói trong bản ngã, hơn thua, nói cho hả dạ rồi gây đau khổ cho người nghe, thậm chí đó là cha mẹ, chồng con của mình, thầy của mình, huynh đệ của mình, học trò của mình, lời nói của mình làm cho người ta tan nát, đau nhức, nhức nhói, trong lời nói đó là dục hoạt động mà mình không biết nên cứ nói cho đã miệng rồi người thân thương của mình đau khổ, tức tưởi. Nhìn sâu vào sẽ thấy trái đất này, địa cầu này có thể quay được thì cái trục của nó là dục, tất cả nỗi khổ trên cuộc đời này dù là quá khứ, hiện tại hay vị lai tất cả đều bắt nguồn từ dục.
Thứ nhất là phải phát giác, phát hiện ra những cái dục, cái tham muốn, thứ hai là nhiếp phục, chế ngự nó dần dần cho đến khi nó yếu, nó bại liệt rồi cuối cùng là diệt tận thì thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Dục nam nữ là cái nặng nhất, làm cho chúng sanh đau khổ nhất thì Đức Phật ngăn chặn bằng cái giới, ở cư sĩ thì chặn tà dâm còn ở tu sĩ thì chặn luôn dâm dục, những cái thô quan trọng thì Đức Phật chặn trước rồi những cái giới chi tiết là chặn những cái vi tế cho đến thiền định, cái tuệ ở phía sau thì Đức Phật diệt tận nó luôn, làm cho nó lắng dịu và cuối cùng là diệt tận thành ra mình càng thấy rõ được tâm tham muốn thì mình tu càng tiến bộ, mình càng nhìn ra được sự vận hành, chỗ an trú, cư trú, sự xảo ngụy, tinh ranh, ma mãnh, lươn lẹo của dục thì trí tuệ của mình càng sắc bén, càng tinh tường, tinh vi.
Mình đi chậm không được là do có sự thúc giục bên trong. Tại sao mình không đi một cách thong dong, nhẹ nhàng, từ từ được? Vì dục bên trong thúc giục nhưng mình không thấy nên Thế Tôn nói mình bị mù lòa. Tại sao mình không nói một cách thong thả được? Tại sao mình không nói một cách trầm tĩnh, bình tĩnh được mà mình cứ nói vội vàng, hấp tấp, nói không rõ ràng cái gì cả làm cho người nghe hiểu lầm, hiểu sai, làm hư chuyện lớn, làm rạn nứt tình cảm, có khi cái ý mình không phải vậy nhưng do cái dục bên trong mạnh nên mình nói làm người ta hiểu theo ý khác, diễn đạt không chính xác trong thọ; tưởng; hành làm người nghe hiểu lầm, người ta ngộ nhận nên chúng ta phải nhìn ra được những khía cạnh, góc cạnh, những phạm trù của sự thúc giục này vì nó rất ghê gớm.
Tại sao sư cô có thể ở yên trong thất suốt 3 tháng nếu không nhiếp phục được dục, không chế ngự được dục? Không phải ở được là xong, ở được là thành tựu một khía cạnh, ngoài ra còn nhiều khía cạnh khác mà mình phải thành tựu. Tại sao chúng ta có thể ở núi được? Vì chúng ta nhiếp phục, chế ngự được cái dục đi đây đi đó, cái dục có đầy rẫy ở mắt; tai; mũi; lưỡi mà mình không thấy rồi mình nói rằng bản thân không có dục gì cả.
Mỗi lần tu học xong là con ngồi để nhìn tất cả sự thúc giục, lúc đó là lúc dục hoạt động. Từ từ mình đứng lên, từ từ mình đi, có chuyện gì thì từ từ mình nói, mình phải nhìn thấy được bộ mặt của nó, nhìn thấy sự sai khiến, sai bảo của nó. Trong khi uống cũng uống từ từ, trong khi ăn cũng phải ăn từ từ, trong khi nói cũng nói từ từ, trong khi làm phải làm từ từ có chánh niệm tỉnh giác, có vị trình pháp nói đang làm việc đứng lên đụng đầu choáng váng, chẳng những bị một lần mà còn bị đến hai lần, đó là sự thúc giục bên trong cho nên nhìn ra dục, nhiếp phục được phần nào, chế ngự được phần nào thì đỡ được phần đó, chính nó là thủ phạm, là Khổ-Tập Thánh Đế.
Chẳng hạn mình thể hiện cái tôi mình thì có sự mong muốn trong đó không? Phải muốn thì mới thể hiện cái tôi ra chứ, nếu mình thấy được cái muốn đó rồi mình chặn từ trong đó thì cái bản ngã không thể hiện ra. Lúc muốn thể hiện cái ta, cái tôi thì phải có cái muốn trước rồi mới thể hiện, mới nói ra, mới có hành động nhưng nếu mình kiểm soát được cái dục, mình nhiếp phục, chế ngự thì mình chặn ngay từ đầu, nó chưa kịp biểu hiện ra cái tôi đã bị chặn trước. Đây là cái hay của sự tu, cái khổ đau của luân hồi sanh tử cũng từ dục, cái giác ngộ giải thoát cũng là từ cái dục, chính là Dục Như Ý Túc, chúng ta chuyển cái dục thường tình thành cái dục tu, cái dục học, cái dục nghe pháp, cái dục thiền định, cái dục quán chiếu, cái dục viễn ly, cái dục từ bỏ. Chúng ta phải làm cho cái dục muốn tu phải được mạnh mẽ, rực cháy trong tâm vì Đức Phật đã nói phải nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác.
Chúng ta có thấy cái pháp hội ngày nào cũng có hai ba tiếng như vầy không? Đó là cái dục của chúng ta, phải mạnh mẽ, phải thường xuyên, liên tục, phải quyết liệt, nồng cháy. Trở lại vấn đề để nhìn ra được cái dục là cả một trí tuệ sắc bén, tinh vi, nhỏ nhiệm và cẩn trọng, sâu sắc, tế nhị, Đức Thế Tôn nói trí tuệ ngũ uẩn là trí tuệ tế nhị, cực kì tế nhị và sâu sắc, khi đi cũng phải nhiếp phục cái dục, khi nói cũng phải nhiếp phục cái dục, lúc nào nên nói và lúc nào không nên nói, nói cái gì, nói với ai, nói trong hoàn cảnh nào.
Con đã chia sẻ với đại chúng có khi mình trình pháp trong cái dục, ngay lúc trình pháp mà mình còn không thấy thì lúc bình thường mình nổi sân, nổi tham, nổi bản ngã lên thì làm sao thấy được, làm sao mình đủ sức chế ngự nó được nên phải tập nhìn ra nó thật kĩ, lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ, nghe rồi nhiếp phục dục tham, nhiếp phục sân hận, nhiếp phục ngu si, si mê, vô minh. Đức Phật đã nói tất cả đau khổ trong quá khứ đều bắt nguồn từ nơi dục, tất cả đau khổ từ trong hiện tại đều từ nơi dục, tất cả đau khổ trong vị lai, trong tương lai sau này đều từ nơi dục, tất cả pháp lấy dục làm căn bản.
Nhưng nếu mình không nhìn ra nó sẽ rất nguy hiểm, có một Phật tử theo dõi chương trình tu học của mình, có lời bình luận rất tốt, vừa rồi buổi lễ Vu Lan có quý thầy dưới Bửu Liên lên dẫn chương trình niệm câu "Nam mô đại đức Mục-kiền-liên Bồ-tát Ma-ha-tá" mà vị Phật tử này bình luận ở dưới là không đồng ý, tuy nhiên sau đó biết sám hối nhưng tại sao mình lại chấp thủ vào cái thức của mình quá vậy? Tại sao mình lại vì danh hiệu này kia mà mình sân lên, chuyện đó có gì đâu, mình không lo quay trở lại nhiếp phục, chế ngự cảm thọ của mình, mình lo quay trở ra trong khi người ta niệm câu đó lại thấy an lạc, còn mình nghe câu người ta niệm lại sân thì mình tu có đúng không?
Con trải tâm từ rất thương cho Phật tử đó, khi mình chưa thành tựu được chánh kiến, khi mình chưa có trí tuệ thấy ra sự vận hành của ngũ uẩn này thì chúng ta phải cực kì cẩn trọng trong nhận định, phê phán. Mình lo tu, lo học, lo nhiếp phục tham, sân, si của mình đã không còn thời gian rồi, mình cứ để ý người ta như Đức Phật nói trong kinh Pháp Cú:
"Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian giấu bài".
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 252)
Đó là lý do phải khéo léo trong tu tập vì nếu không cho dù có ở trong chánh pháp nhưng mình vẫn đau khổ cho nên những gì con nói đều bằng tình thương, bằng từ tâm đối với vị đó, muốn giúp cho vị đó tu học tốt hơn. Cho nên để nhìn ra được nội tâm này là cả một công trình vĩ đại, hai chữ "lậu tận" mang một ý nghĩa rất siêu việt, tối thượng, nghĩa là hết sạch các mê lầm lậu hoặc, hết tham, sân, si, hết dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Mình đừng tin vào cái thấy, cái nghe, cái suy nghĩ, cảm xúc của mình, nó không phải là chuẩn mực, không chính xác, chỉ khi nào thành tựu chánh kiến thì lúc đó mình mới biết nhưng muốn thành tựu chánh kiến, muốn thấy đúng về thân tâm thì phải theo dõi, để ý, điều chỉnh liên tục. Bây giờ thay vì dục theo ăn, ngủ, đi chơi, cái nói, cái ta đây thể hiện thì mình đổi qua học giới, học pháp, hành pháp, làm thiện, quán chiếu, thiền tuệ, thiền quán, đem hết tất cả cái muốn kia đổi qua thành cái muốn này cho mạnh mẽ, để thân tâm mình bừng cháy sự nhiệt tâm viễn ly, ly tham, từ bỏ, chấm dứt.
II. Khéo léo dụng công tu tập
Trong sự tu của chúng ta rất cần thiền tâm hỷ, chúng ta phải biết rằng toàn bộ giáo pháp của Phật có sự liên hệ nhất quán với nhau, không có một con đường nào, một đạo lộ nào, một giáo pháp nào mà đại viên mãn sơ thiện, trung thiện, hậu thiện như giáo pháp mà chúng ta đang học. Chúng ta đang học đại khổ uẩn, một cái đống khổ lớn sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì có liên hệ đến dục không? Phật nói cái gì khổ thì hãy nhiếp phục lòng dục, như vậy những thứ khổ này lại đi muốn nó để làm gì?
"-- Cái gì vô thường, này Kotthika, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận, VII. Kotthika (1))
Cho nên nó có sự liên hệ nhất quán, có mắc xích với nhau. Đó là cái thứ khổ đau, vô thường, bại hoại, tan nát, trống rỗng, trống không, là bọt bèo thì đi muốn nó để làm gì, đi tham để khổ thêm. Cái pháp nào trong kinh cũng có tính chất nhất quán, có mối liên hệ chặt chẽ, nhân quả hệ của nó, cái khổ cũng có sự liên hệ đến cái vui. Vui vì mình không chạy theo những thứ khổ đó, vui vì mình không lao đầu theo những thứ khổ đó, vui vì mình không còn mệt mỏi truy tầm những thứ ảo ảnh, phù du bọt bèo đó, vui vì mình chạy ra khỏi căn nhà lửa đó, vui vì mình thoát ra khỏi vũng lầy đó, vui vì mình đang hướng qua bờ bên kia dù chưa bước được lên bờ, như vậy sự tu hỷ của mình có liên hệ nhất quán với nhau. Tất cả các pháp trong Nikāya đều có sự nhất quán với nhau, có sự tương trợ, bổ túc cho nhau, không thiếu một pháp cũng không dư thừa một pháp, đó là sự tuyệt diệu tối thượng của ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Trong sự tu tập này đương nhiên là khó vì nếu không khó thì ai cũng thành Thánh nhân, không khó thì tại sao trong vô lượng vô biên kiếp chỉ có một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thôi, trong vô lượng chúng sanh hữu tình chỉ có một người nhìn thấy được Thánh đạo, chứng ngộ được Thánh đạo rồi sau đó mới truyền dạy lại. Bây giờ đạp lên sỏi đá nhưng cầm được kim cương thì cái nào quý? Vì ít nên mới quý nếu kim cương đầy đường thì đâu còn quý cho nên cái mà mình nhìn thấy được trong trí tuệ này phải biết đó là kim cương, phải thường xuyên tác ý hy hữu hiếm có, tối thượng, thần diệu, thiêng liêng nhưng cái này là sự thật chứ không phải tưởng tượng ra, mỗi khi mình buồn nản phải tu tập tâm hỷ liên tục và viết bài tâm hỷ chứ không chỉ viết ra lỗi lầm của mình.
Nhiều khi mình không có cái nhìn toàn diện, không đầy đủ mọi khía cạnh, chỉ nhìn thấy khổ đau không sẽ nhanh chóng chán nản, thối lui, mình phải nhìn ra được khía cạnh tích cực, khía cạnh vô thượng pháp luân, chí cao, chí cực, thần diệu, tác ý liên tục như vậy bảy ngày hoặc một tháng để ở trong hỷ lạc, có như vậy sự tu của mình mới có sinh lực, sinh khí, mới có hứng thú, mới có mùi vị thơm tho, ngọt ngào, bổ dưỡng, tươi mát. Đức Thế Tôn nói Niết-bàn lạc, xuất ly lạc, viễn ly lạc, tối thượng lạc là niềm vui vượt tất cả niềm vui của thế gian, cao thượng hơn tất cả niềm vui của vật chất, chính là hỷ lạc trong pháp hoặc ở trong thiền. Vì thế tứ vô lượng tâm là chúng ta tu tập hài hòa, thích hợp, tùy theo tâm trạng, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo thời điểm mà mình khéo léo vận dụng nó.
Lỡ như thấy có quá nhiều chuyện nặng nề thì tu tâm xả, buông xuống, đây là sự khéo léo trong tu tập. Hết chuyện này đến chuyện kia, hết chuyện kia đến chuyện nọ, nội công ngoại kích, căn – trần – thức – xúc – thọ – ái đánh mình tơi tả, mình thấy mệt quá thì tu xả vô lượng tâm. Bây giờ mình đang ngồi đây không giận ai, không ghét ai, không có sự thúc giục, không có tất bận, không nghi ngờ do dự đối với pháp, hiện tại lạc trú là một sự thiện xảo, khéo léo, linh hoạt, uyển chuyển như một nghệ nhân thiện xảo trong nghề nghiệp của mình.
Mình dụng tâm của mình một cách điệu nghệ, thiện nghệ, đó chính là hành giả Nikāya, là bậc hiền trí, là bậc Thánh đệ tử, tùy trường hợp mà chúng ta tu từ, bi, hỷ, xả, tứ vô lượng tâm. Có những lúc mình phải hành hạ tâm thức cho nó xấu hổ, nhục nhã, mình mắng nhiếc nó, có những lúc phải vỗ về nó, có những lúc mình tâng bốc nó lên chứ không phải lúc nào cũng ù lì, cứng đơ như khúc cây, kêu trải tâm hỷ mà mặt cứ trơ ra thì đó là không khéo léo dụng tâm. Có khi lên Cổng Trời yêu cầu tâm mở rộng, trải rộng cùng khắp không gian thì lại ngồi nhắm mắt cúi đầu xuống, đó là mình chưa khéo léo sử dụng tâm mình.
Phải khéo léo giống như dạy con, có lúc phải rầy la, có lúc phải vỗ về, có lúc cho ăn bánh ăn kẹo, có lúc phải cầm roi nhưng tất cả đều là muốn con tốt lên, thành người, mình dạy tâm mình cũng giống như vậy, lúc thì chửi mắng, quở trách, lúc thì ngọt ngào, vỗ về "nay ta thấy ngươi đã hiền rồi, dễ nghe rồi, cố gắng tu tập thêm nữa", phải như vậy chứ chửi mắng không thì chán nản không muốn tu nữa. Tu như vậy mới có nhiều màu sắc, mới thấy thú vị, tuyệt vời, chúng ta có cả một kho pháp bảo, pháp khí chứ không phải tu học chỉ có một pháp làm mãi rồi chán. Ngày nào cũng ăn cơm với rau luộc thì có ăn nổi không? Cái tu cũng phải khéo léo vận dụng sự uyển chuyển cho nên phải cố gắng trong phần giới, phải tụng giới, phải niệm giới, phải nhắc nhở về giới, phải chia sẻ với nhau về giới, phải pháp đàm về giới, nhận diện và quán chiếu lại giới của mình.
III. Quyết tâm cắt ái
Khi mình trừ diệt cái dục, cái sân si là không được nương tình, phải thẳng tay trừng trị nó, phải ra những đòn hiểm độc, truy sát nó, đó là mình dùng đại hùng đại lực. Có khi chán nản thì dùng hỷ vô lượng tâm, vui sướng, hạnh phúc, đến chư thiên cũng không hạnh phúc bằng mình vì chư thiên không được nghe Thánh pháp này, mình đang ở Cổng Trời lại được học pháp Phật nên mình ở chung với trời Phật, phải tác ý như vậy.
Phải biết nhiều cách tác ý cho nên sự tu này tác ý rất quan trọng, nếu không biết phải hỏi, có vấn đề gì trục trặc thì phải hỏi, không chỉ ghi tội mình trong nhật kí tu học không mà còn phải ghi ra tâm đắc tu học vì đó là hỷ vô lượng tâm. Những gì mình đã thấy, đã hiểu, đã biết, đã trải qua, đã có lợi ích gì đều phải ghi ra vì nếu chỉ ghi lỗi không thì mở ra đọc cũng thấy chán nản.
Những người mình yêu thương, từ những Phật tử hộ pháp thân tín đến thầy mình, con chó của mình, những người thân thương của mình, thân ái, thân tình, thân thiện và đó cũng là bước ngăn trở mình tiến đạo, đó là oan trái lôi kéo mình trở lại đường xưa lối cũ. Thật sự bản thân con gặp vô vàn những thứ khó khăn khi đi vào dòng pháp này nhưng mình hãy kiên định, hãy vững lòng tin, hãy nắm chặt vào pháp. Chính những cái đó giúp mình thấy Khổ Thánh trí, càng thấy được bản chất của khổ, nó đầy rẫy, nó đang bao vây chúng ta, đối với người yếu đuối thì khi chướng ngại đến làm cho họ nản chí, dừng chân nhưng đối với người mạnh thì chướng ngại càng làm cho họ phấn đấu, đạp đổ để tiến lên, đây là chỗ khác biệt giữa người yếu đuối và người mạnh mẽ.
"Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Gia đình có chuyện thì dù mình có về cũng an ủi, nói vài chuyện, nước mắt chảy xuống rồi cũng không giải quyết được gì, chỉ có an trú trong pháp, đem hết tất cả tấm lòng, tâm lực, trí lực, hạnh lực, nguyện lực, thần lực đặt để vào trong pháp này thì mới giải quyết được chính mình và cho những người thân thương với mình nhất. Thế gian có cái nhìn khác "tại sao thầy bệnh không về thăm" hay "Phật tử thân mất tại sao không về cúng" nhưng đó chỉ là phàm phu tri kiến, tình nghĩa theo thế gian, những cái đó ai cũng làm được, chỉ có cái mình đang làm ở đây tất cả chúng sanh không làm được.
Mình đừng quan trọng tiếng nói của người khác, cái đúng sai của phàm phu, mình chỉ đem hết tâm sức, tất cả tấm lòng đặt để vào trong Thánh trí huệ này, vào Thánh pháp này, vào Thánh đạo lộ này sẽ giải quyết được tất cả mọi vấn đề. Tất cả thành viên trong đạo tràng Nikāya phải nhớ kĩ vấn đề này, khi mình cùng chung mọi người đi một con đường đi xuống, trong nhóm đó có một người tách ra vượt lên trên thì người đó sẽ bị nhiều ánh nhìn, lời nói, cử chỉ, sự phê phán của người khác nhưng chúng ta tự biết mình.
Con đã có ví dụ một tỷ người mù nói mình mù nhưng con mắt mình đã sáng thì một tỷ câu nói đó cũng không ảnh hưởng mình, mắt sáng là sáng, người trí tự mình giác hiểu, tự mình thấy biết thân tâm mình, tự mình thấu hiểu thân tâm mình, đến để mà thấy, không trải qua thời gian, có hiệu quả tức thì cho nên hành giả Nikāya phải mạnh mẽ tiến lên, xông lên đạp đổ tất cả chướng ngại chông gai, những thử thách. Những dòng nước mắt đó, những thảm cảnh, những tai nạn, bệnh tật, chết chóc đó mình đã chứng kiến vô số vô lượng vô biên lần trong dòng luân hồi này, có dài dòng mấy cũng vậy thôi, người đi trước kẻ đi sau chứ có gì khác đâu.
Người đi trước, kẻ đi sau
Chẳng qua kẻ trước, người sau thôi mà!
Trước sau gì cũng chết à…
Trước sau gì cũng chỉ là khói mây…
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Ngay cả xuất gia rồi còn không buông bỏ được những tình ái đó thì người cư sĩ ra sao? Cho nên những tình thân, tình thương là những sợi dây ngăn cản bước tiến của chúng ta, mình hãy thành tựu đi rồi mình báo đáp một lần cho tất cả, lưỡng toàn kỳ mỹ, trọn vẹn đôi đường, tốt đời đẹp đạo, nếu không sẽ là lưỡng đồ câu thất, cả hai đều mất, mình cũng không xong mà mình cũng không giúp được ai. Những tiếng nói của thế gian, những lời thị phi chớ có quan tâm nhiều, xem nó như dòng nước chảy hoa trôi, chỉ là gió thổi xào xạc bên khóm trúc lá tre, hãy biết mình, hãy lo cho mình, hãy thương mình, hãy thành tựu giáo pháp này, hãy thành tựu Thánh trí huệ này, hãy thành tựu Thánh đạo lộ này vì thành tựu cho chính mình là thành tựu cho tất cả.
Trái đất này có vỡ ra cũng không quan trọng mà quan trọng là mình có thành tựu được Thánh tri kiến không, thậm chí cái sanh, già, bệnh, chết của mình cũng không quan trọng mà quan trọng mình có thành tựu chánh kiến hay không, có thấy được khổ chưa, mình có đang đi trên đạo lộ diệt khổ chưa, đó mới là đại sự, mới là tối thượng, vô thượng chí cao, thù thắng cho nên hãy đem cả sinh mạng, đem cả thời gian, đem cả trí lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực, đem hết tim máu, xương tủy, đầu não tập trung vào tác ý, quán chiếu thành tựu Khổ Thánh Trí, thành tựu thấy tri kiến, thành tựu cái thấy biết thật sự về bản chất đau khổ, vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, trống không, trống rỗng, vô ngã của ngũ uẩn này, của thân tâm này, của thế giới này, cái đó mới là tối thượng chí cao, cái đó mới là đại sự, là bổn phận sự, là cứu cánh sự của người tu chúng ta, chúng ta không có ở đây vì chúng ta muốn thoát ra khỏi nó.
Thoát mau, thoát lẹ, thoát xa chốn này,
Thoát ra khỏi cái vô thường,
Thoát ra khỏi cái con đường khổ đau.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Chúng ta sẽ thoát ra nơi đầy nguy hiểm, đầy tai nạn, đầy bệnh tật khốn khổ này, đầy bất an, lo lắng và sợ hãi này. Chúng ta quyết tâm sẽ đi ra, phải thường xuyên tác ý, thường xuyên chiêm nghiệm, thường xuyên suy ngẫm, thường xuyên quán chiếu về cái đống khổ to lớn này, tiềm ẩn đầy tai ương hiểm họa, đầy những khốn đốn hoạn nạn. Chắc chắn chúng ta phải rời xa nó, chắc chắn chúng ta phải rời bỏ nó, chắc chắn chúng ta phải quyết tâm thoát ra khỏi cái thân đầy tai họa này, thoát ra khỏi đời sống đầy bất an này, thoát ra khỏi thế giới tràn ngập tham, sân, si, vô minh, bản ngã này. Mới sanh ra nước mắt đã ràng rụa khóc la, đến khi chết đi mình cũng khóc, người cũng khóc, bắt đầu bằng nước mắt và kết thúc cũng bằng nước mắt, còn đoạn giữa là không biết bao lần chúng ta khóc.
Thoát dòng sanh tử đầy tràn hiểm nguy,
Thoát đời trôi dạt mông lung,
Thoát dòng nước mắt tận cùng thương đau.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Chúng ta tiếp tục muốn khóc nữa hay sao? Khóc vì tham lam, sân hận, khóc vì bản ngã, giành giật, si mê, cả một chuỗi dài của nước mắt, của đau khổ, không phải chúng ta mới khóc đây mà chúng ta đã khóc vô lượng, vô biên, vô số kiếp, vô tỉ kiếp rồi. Bây giờ hãy khóc vì chánh pháp, hãy khóc vì sự thật, hãy khóc vì thấy được cái ngu si, vô minh, mê muội, bản ngã của mình, hãy khóc vì ác nghiệp của mình. Cái khóc đó là nên khóc, đáng khóc, cần khóc, còn bao nhiêu dòng lệ trước kia của mình toàn là dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, từ khi bước vào đạo tràng những giọt lệ này mới có giá trị, mới có ý nghĩa, mới có lợi ích, mới đem lại lợi ích, an lạc lâu dài cho chúng ta.
./.
Sau 3 Tháng Nhập Thất
Tất Cả Pháp Lấy Dục Làm Căn Bản
Mạnh Mẽ Vượt Qua Chướng Ngại!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhiếp phục dục tham PAGEREF _Toc182844705 \h 1
II. Khéo léo dụng công tu tập PAGEREF _Toc182844706 \h 6
III. Quyết tâm cắt ái PAGEREF _Toc182844707 \h 8
I. Nhiếp phục dục tham
Thật lợi ích, phúc lạc khi ba tháng an cư kiết hạ được độc cư thiền định một mình trong căn nhà trống, được thực hành những gì Đức Phật đã truyền trao dặn dò, đây là cơ hội hiếm có hy hữu, khó được trong nhiều kiếp nhiều đời chứ không phải là việc quý báo thông thường của thế gian. Cần nhớ tác ý khi tâm mình nhàm chán, chán nản, cần phải tu tập hỷ vô lượng tâm nhiều hơn nữa, qua đây chúng ta thấy được mấy điều rất quan trọng, Đức Phật nói tất cả pháp lấy dục làm căn bản, lấy dục làm gốc, thật ra giới – định – tuệ vẫn là mục đích nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận các dục, ngài Xá-lợi-phất nói mục đích của đời tu là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham.
Đức Thế Tôn nói với bà Ma-ha-ba-xà-ba- đề ái tận tức là giải thoát, ái tận bao gồm dục ái, ngài nói sự đau khổ trong quá khứ đều bắt nguồn từ nơi dục, tất cả sự đau khổ trong hiện tại đều bắt nguồn từ dục và tất cả sự đau khổ trong tương lai sau này, vị lai cũng bắt nguồn từ nơi dục. Cho nên trong sự tu học của chúng ta khi thấy vào ở một mình sẽ thấy sâu sắc hơn, nhìn ra được nhiều góc độ khía cạnh, bộ mặt thật sự của dục, sự an trú của dục, sự phát khởi của dục, sự vận hành của dục, sự điều khiển, sai khiến của dục trong thân tâm chúng ta.
Cái ăn của mình cứ ăn mãi, thậm chí có người đi khắp thế giới để ăn mà cũng không thỏa mãn, đó là dục ăn. Đến dục chơi là đi du lịch, đi phượt, đi đây đi đó, đừng nói gì cư sĩ mà ngay cả người xuất gia cũng thích quải đãi đi chỗ này chỗ kia, những người xuất gia nhiều khi hiểu lầm, ngày xưa các bậc tôn đức đi cầu đạo, đi cầu pháp, đi tìm con đường diệt khổ vì các ngài chưa thấy rõ được đạo lộ nhưng người sau lại không hiểu, cứ tưởng rằng người tu là phải đi chỗ này chỗ kia, cái trá hình của dục là dẫn đi du lịch, đi chơi chứ ở yên một chỗ không được, mình không biết đó cũng là một sự sai khiến của dục, điều khiển của dục, sai sử của dục.
Cái ở cũng vậy, phải ở như thế nào mới được, nếu không là không chịu, phải trang trí cảnh cho đẹp để được nhiều người biết đến, nhiều người muốn đến và suốt cuộc đời của người tu lại đi tạo cảnh đẹp. Chúng ta bị cái dục trá hình sai khiến mà mình không biết vì cái dục này rất quỷ quyệt, nó là yêu tinh ma quái, ranh mãnh, nó rất tinh vi, xảo quyệt, khéo léo, có nhiều lý do ngụy biện rằng đó là làm cho tam bảo, làm cho chùa, hoặc Phật tử ngoài đời thì cho rằng làm vì chồng con, làm cho mọi người chứ đâu có làm cho mình, nói rất có đạo lý nhưng nếu không nhận diện ngũ uẩn, không có trí tuệ sắc bén thì mình sẽ nhìn không ra được cái ăn, cái mặc, cái ở, cái đi chơi, trang trí đều là dị dạng, dị hình của dục, rất nhiều cái thiên hình vạn trạng của dục, những suy nghĩ, tư tưởng, hình bóng trong tâm muốn cái này muốn cái kia. Dù cho đi tu, dù cho cư sĩ đã hiểu được Chánh Pháp thâm sâu vẫn bị nó sai khiến, sai bảo, dắt mũi dài dài mà không thấy được.
Đó là những cái thô của ăn, mặc, ngủ, nghỉ, đi chơi, còn cái tế là dục nói. Khi nói là quên mình, quên tâm, quên kiểm soát chánh niệm, mình nói trong sự thúc giục, nói trong ham muốn, nói trong bản ngã, hơn thua, nói cho hả dạ rồi gây đau khổ cho người nghe, thậm chí đó là cha mẹ, chồng con của mình, thầy của mình, huynh đệ của mình, học trò của mình, lời nói của mình làm cho người ta tan nát, đau nhức, nhức nhói, trong lời nói đó là dục hoạt động mà mình không biết nên cứ nói cho đã miệng rồi người thân thương của mình đau khổ, tức tưởi. Nhìn sâu vào sẽ thấy trái đất này, địa cầu này có thể quay được thì cái trục của nó là dục, tất cả nỗi khổ trên cuộc đời này dù là quá khứ, hiện tại hay vị lai tất cả đều bắt nguồn từ dục.
Thứ nhất là phải phát giác, phát hiện ra những cái dục, cái tham muốn, thứ hai là nhiếp phục, chế ngự nó dần dần cho đến khi nó yếu, nó bại liệt rồi cuối cùng là diệt tận thì thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Dục nam nữ là cái nặng nhất, làm cho chúng sanh đau khổ nhất thì Đức Phật ngăn chặn bằng cái giới, ở cư sĩ thì chặn tà dâm còn ở tu sĩ thì chặn luôn dâm dục, những cái thô quan trọng thì Đức Phật chặn trước rồi những cái giới chi tiết là chặn những cái vi tế cho đến thiền định, cái tuệ ở phía sau thì Đức Phật diệt tận nó luôn, làm cho nó lắng dịu và cuối cùng là diệt tận thành ra mình càng thấy rõ được tâm tham muốn thì mình tu càng tiến bộ, mình càng nhìn ra được sự vận hành, chỗ an trú, cư trú, sự xảo ngụy, tinh ranh, ma mãnh, lươn lẹo của dục thì trí tuệ của mình càng sắc bén, càng tinh tường, tinh vi.
Mình đi chậm không được là do có sự thúc giục bên trong. Tại sao mình không đi một cách thong dong, nhẹ nhàng, từ từ được? Vì dục bên trong thúc giục nhưng mình không thấy nên Thế Tôn nói mình bị mù lòa. Tại sao mình không nói một cách thong thả được? Tại sao mình không nói một cách trầm tĩnh, bình tĩnh được mà mình cứ nói vội vàng, hấp tấp, nói không rõ ràng cái gì cả làm cho người nghe hiểu lầm, hiểu sai, làm hư chuyện lớn, làm rạn nứt tình cảm, có khi cái ý mình không phải vậy nhưng do cái dục bên trong mạnh nên mình nói làm người ta hiểu theo ý khác, diễn đạt không chính xác trong thọ; tưởng; hành làm người nghe hiểu lầm, người ta ngộ nhận nên chúng ta phải nhìn ra được những khía cạnh, góc cạnh, những phạm trù của sự thúc giục này vì nó rất ghê gớm.
Tại sao sư cô có thể ở yên trong thất suốt 3 tháng nếu không nhiếp phục được dục, không chế ngự được dục? Không phải ở được là xong, ở được là thành tựu một khía cạnh, ngoài ra còn nhiều khía cạnh khác mà mình phải thành tựu. Tại sao chúng ta có thể ở núi được? Vì chúng ta nhiếp phục, chế ngự được cái dục đi đây đi đó, cái dục có đầy rẫy ở mắt; tai; mũi; lưỡi mà mình không thấy rồi mình nói rằng bản thân không có dục gì cả.
Mỗi lần tu học xong là con ngồi để nhìn tất cả sự thúc giục, lúc đó là lúc dục hoạt động. Từ từ mình đứng lên, từ từ mình đi, có chuyện gì thì từ từ mình nói, mình phải nhìn thấy được bộ mặt của nó, nhìn thấy sự sai khiến, sai bảo của nó. Trong khi uống cũng uống từ từ, trong khi ăn cũng phải ăn từ từ, trong khi nói cũng nói từ từ, trong khi làm phải làm từ từ có chánh niệm tỉnh giác, có vị trình pháp nói đang làm việc đứng lên đụng đầu choáng váng, chẳng những bị một lần mà còn bị đến hai lần, đó là sự thúc giục bên trong cho nên nhìn ra dục, nhiếp phục được phần nào, chế ngự được phần nào thì đỡ được phần đó, chính nó là thủ phạm, là Khổ-Tập Thánh Đế.
Chẳng hạn mình thể hiện cái tôi mình thì có sự mong muốn trong đó không? Phải muốn thì mới thể hiện cái tôi ra chứ, nếu mình thấy được cái muốn đó rồi mình chặn từ trong đó thì cái bản ngã không thể hiện ra. Lúc muốn thể hiện cái ta, cái tôi thì phải có cái muốn trước rồi mới thể hiện, mới nói ra, mới có hành động nhưng nếu mình kiểm soát được cái dục, mình nhiếp phục, chế ngự thì mình chặn ngay từ đầu, nó chưa kịp biểu hiện ra cái tôi đã bị chặn trước. Đây là cái hay của sự tu, cái khổ đau của luân hồi sanh tử cũng từ dục, cái giác ngộ giải thoát cũng là từ cái dục, chính là Dục Như Ý Túc, chúng ta chuyển cái dục thường tình thành cái dục tu, cái dục học, cái dục nghe pháp, cái dục thiền định, cái dục quán chiếu, cái dục viễn ly, cái dục từ bỏ. Chúng ta phải làm cho cái dục muốn tu phải được mạnh mẽ, rực cháy trong tâm vì Đức Phật đã nói phải nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác.
Chúng ta có thấy cái pháp hội ngày nào cũng có hai ba tiếng như vầy không? Đó là cái dục của chúng ta, phải mạnh mẽ, phải thường xuyên, liên tục, phải quyết liệt, nồng cháy. Trở lại vấn đề để nhìn ra được cái dục là cả một trí tuệ sắc bén, tinh vi, nhỏ nhiệm và cẩn trọng, sâu sắc, tế nhị, Đức Thế Tôn nói trí tuệ ngũ uẩn là trí tuệ tế nhị, cực kì tế nhị và sâu sắc, khi đi cũng phải nhiếp phục cái dục, khi nói cũng phải nhiếp phục cái dục, lúc nào nên nói và lúc nào không nên nói, nói cái gì, nói với ai, nói trong hoàn cảnh nào.
Con đã chia sẻ với đại chúng có khi mình trình pháp trong cái dục, ngay lúc trình pháp mà mình còn không thấy thì lúc bình thường mình nổi sân, nổi tham, nổi bản ngã lên thì làm sao thấy được, làm sao mình đủ sức chế ngự nó được nên phải tập nhìn ra nó thật kĩ, lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ, nghe rồi nhiếp phục dục tham, nhiếp phục sân hận, nhiếp phục ngu si, si mê, vô minh. Đức Phật đã nói tất cả đau khổ trong quá khứ đều bắt nguồn từ nơi dục, tất cả đau khổ từ trong hiện tại đều từ nơi dục, tất cả đau khổ trong vị lai, trong tương lai sau này đều từ nơi dục, tất cả pháp lấy dục làm căn bản.
Nhưng nếu mình không nhìn ra nó sẽ rất nguy hiểm, có một Phật tử theo dõi chương trình tu học của mình, có lời bình luận rất tốt, vừa rồi buổi lễ Vu Lan có quý thầy dưới Bửu Liên lên dẫn chương trình niệm câu "Nam mô đại đức Mục-kiền-liên Bồ-tát Ma-ha-tá" mà vị Phật tử này bình luận ở dưới là không đồng ý, tuy nhiên sau đó biết sám hối nhưng tại sao mình lại chấp thủ vào cái thức của mình quá vậy? Tại sao mình lại vì danh hiệu này kia mà mình sân lên, chuyện đó có gì đâu, mình không lo quay trở lại nhiếp phục, chế ngự cảm thọ của mình, mình lo quay trở ra trong khi người ta niệm câu đó lại thấy an lạc, còn mình nghe câu người ta niệm lại sân thì mình tu có đúng không?
Con trải tâm từ rất thương cho Phật tử đó, khi mình chưa thành tựu được chánh kiến, khi mình chưa có trí tuệ thấy ra sự vận hành của ngũ uẩn này thì chúng ta phải cực kì cẩn trọng trong nhận định, phê phán. Mình lo tu, lo học, lo nhiếp phục tham, sân, si của mình đã không còn thời gian rồi, mình cứ để ý người ta như Đức Phật nói trong kinh Pháp Cú:
"Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo,
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian giấu bài".
(Kinh Pháp Cú 18 – Phẩm Cấu Uế, kệ 252)
Đó là lý do phải khéo léo trong tu tập vì nếu không cho dù có ở trong chánh pháp nhưng mình vẫn đau khổ cho nên những gì con nói đều bằng tình thương, bằng từ tâm đối với vị đó, muốn giúp cho vị đó tu học tốt hơn. Cho nên để nhìn ra được nội tâm này là cả một công trình vĩ đại, hai chữ "lậu tận" mang một ý nghĩa rất siêu việt, tối thượng, nghĩa là hết sạch các mê lầm lậu hoặc, hết tham, sân, si, hết dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Mình đừng tin vào cái thấy, cái nghe, cái suy nghĩ, cảm xúc của mình, nó không phải là chuẩn mực, không chính xác, chỉ khi nào thành tựu chánh kiến thì lúc đó mình mới biết nhưng muốn thành tựu chánh kiến, muốn thấy đúng về thân tâm thì phải theo dõi, để ý, điều chỉnh liên tục. Bây giờ thay vì dục theo ăn, ngủ, đi chơi, cái nói, cái ta đây thể hiện thì mình đổi qua học giới, học pháp, hành pháp, làm thiện, quán chiếu, thiền tuệ, thiền quán, đem hết tất cả cái muốn kia đổi qua thành cái muốn này cho mạnh mẽ, để thân tâm mình bừng cháy sự nhiệt tâm viễn ly, ly tham, từ bỏ, chấm dứt.
II. Khéo léo dụng công tu tập
Trong sự tu của chúng ta rất cần thiền tâm hỷ, chúng ta phải biết rằng toàn bộ giáo pháp của Phật có sự liên hệ nhất quán với nhau, không có một con đường nào, một đạo lộ nào, một giáo pháp nào mà đại viên mãn sơ thiện, trung thiện, hậu thiện như giáo pháp mà chúng ta đang học. Chúng ta đang học đại khổ uẩn, một cái đống khổ lớn sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì có liên hệ đến dục không? Phật nói cái gì khổ thì hãy nhiếp phục lòng dục, như vậy những thứ khổ này lại đi muốn nó để làm gì?
"-- Cái gì vô thường, này Kotthika, ở đấy Ông cần phải đoạn trừ lòng dục" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận, VII. Kotthika (1))
Cho nên nó có sự liên hệ nhất quán, có mắc xích với nhau. Đó là cái thứ khổ đau, vô thường, bại hoại, tan nát, trống rỗng, trống không, là bọt bèo thì đi muốn nó để làm gì, đi tham để khổ thêm. Cái pháp nào trong kinh cũng có tính chất nhất quán, có mối liên hệ chặt chẽ, nhân quả hệ của nó, cái khổ cũng có sự liên hệ đến cái vui. Vui vì mình không chạy theo những thứ khổ đó, vui vì mình không lao đầu theo những thứ khổ đó, vui vì mình không còn mệt mỏi truy tầm những thứ ảo ảnh, phù du bọt bèo đó, vui vì mình chạy ra khỏi căn nhà lửa đó, vui vì mình thoát ra khỏi vũng lầy đó, vui vì mình đang hướng qua bờ bên kia dù chưa bước được lên bờ, như vậy sự tu hỷ của mình có liên hệ nhất quán với nhau. Tất cả các pháp trong Nikāya đều có sự nhất quán với nhau, có sự tương trợ, bổ túc cho nhau, không thiếu một pháp cũng không dư thừa một pháp, đó là sự tuyệt diệu tối thượng của ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Trong sự tu tập này đương nhiên là khó vì nếu không khó thì ai cũng thành Thánh nhân, không khó thì tại sao trong vô lượng vô biên kiếp chỉ có một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thôi, trong vô lượng chúng sanh hữu tình chỉ có một người nhìn thấy được Thánh đạo, chứng ngộ được Thánh đạo rồi sau đó mới truyền dạy lại. Bây giờ đạp lên sỏi đá nhưng cầm được kim cương thì cái nào quý? Vì ít nên mới quý nếu kim cương đầy đường thì đâu còn quý cho nên cái mà mình nhìn thấy được trong trí tuệ này phải biết đó là kim cương, phải thường xuyên tác ý hy hữu hiếm có, tối thượng, thần diệu, thiêng liêng nhưng cái này là sự thật chứ không phải tưởng tượng ra, mỗi khi mình buồn nản phải tu tập tâm hỷ liên tục và viết bài tâm hỷ chứ không chỉ viết ra lỗi lầm của mình.
Nhiều khi mình không có cái nhìn toàn diện, không đầy đủ mọi khía cạnh, chỉ nhìn thấy khổ đau không sẽ nhanh chóng chán nản, thối lui, mình phải nhìn ra được khía cạnh tích cực, khía cạnh vô thượng pháp luân, chí cao, chí cực, thần diệu, tác ý liên tục như vậy bảy ngày hoặc một tháng để ở trong hỷ lạc, có như vậy sự tu của mình mới có sinh lực, sinh khí, mới có hứng thú, mới có mùi vị thơm tho, ngọt ngào, bổ dưỡng, tươi mát. Đức Thế Tôn nói Niết-bàn lạc, xuất ly lạc, viễn ly lạc, tối thượng lạc là niềm vui vượt tất cả niềm vui của thế gian, cao thượng hơn tất cả niềm vui của vật chất, chính là hỷ lạc trong pháp hoặc ở trong thiền. Vì thế tứ vô lượng tâm là chúng ta tu tập hài hòa, thích hợp, tùy theo tâm trạng, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo thời điểm mà mình khéo léo vận dụng nó.
Lỡ như thấy có quá nhiều chuyện nặng nề thì tu tâm xả, buông xuống, đây là sự khéo léo trong tu tập. Hết chuyện này đến chuyện kia, hết chuyện kia đến chuyện nọ, nội công ngoại kích, căn – trần – thức – xúc – thọ – ái đánh mình tơi tả, mình thấy mệt quá thì tu xả vô lượng tâm. Bây giờ mình đang ngồi đây không giận ai, không ghét ai, không có sự thúc giục, không có tất bận, không nghi ngờ do dự đối với pháp, hiện tại lạc trú là một sự thiện xảo, khéo léo, linh hoạt, uyển chuyển như một nghệ nhân thiện xảo trong nghề nghiệp của mình.
Mình dụng tâm của mình một cách điệu nghệ, thiện nghệ, đó chính là hành giả Nikāya, là bậc hiền trí, là bậc Thánh đệ tử, tùy trường hợp mà chúng ta tu từ, bi, hỷ, xả, tứ vô lượng tâm. Có những lúc mình phải hành hạ tâm thức cho nó xấu hổ, nhục nhã, mình mắng nhiếc nó, có những lúc phải vỗ về nó, có những lúc mình tâng bốc nó lên chứ không phải lúc nào cũng ù lì, cứng đơ như khúc cây, kêu trải tâm hỷ mà mặt cứ trơ ra thì đó là không khéo léo dụng tâm. Có khi lên Cổng Trời yêu cầu tâm mở rộng, trải rộng cùng khắp không gian thì lại ngồi nhắm mắt cúi đầu xuống, đó là mình chưa khéo léo sử dụng tâm mình.
Phải khéo léo giống như dạy con, có lúc phải rầy la, có lúc phải vỗ về, có lúc cho ăn bánh ăn kẹo, có lúc phải cầm roi nhưng tất cả đều là muốn con tốt lên, thành người, mình dạy tâm mình cũng giống như vậy, lúc thì chửi mắng, quở trách, lúc thì ngọt ngào, vỗ về "nay ta thấy ngươi đã hiền rồi, dễ nghe rồi, cố gắng tu tập thêm nữa", phải như vậy chứ chửi mắng không thì chán nản không muốn tu nữa. Tu như vậy mới có nhiều màu sắc, mới thấy thú vị, tuyệt vời, chúng ta có cả một kho pháp bảo, pháp khí chứ không phải tu học chỉ có một pháp làm mãi rồi chán. Ngày nào cũng ăn cơm với rau luộc thì có ăn nổi không? Cái tu cũng phải khéo léo vận dụng sự uyển chuyển cho nên phải cố gắng trong phần giới, phải tụng giới, phải niệm giới, phải nhắc nhở về giới, phải chia sẻ với nhau về giới, phải pháp đàm về giới, nhận diện và quán chiếu lại giới của mình.
III. Quyết tâm cắt ái
Khi mình trừ diệt cái dục, cái sân si là không được nương tình, phải thẳng tay trừng trị nó, phải ra những đòn hiểm độc, truy sát nó, đó là mình dùng đại hùng đại lực. Có khi chán nản thì dùng hỷ vô lượng tâm, vui sướng, hạnh phúc, đến chư thiên cũng không hạnh phúc bằng mình vì chư thiên không được nghe Thánh pháp này, mình đang ở Cổng Trời lại được học pháp Phật nên mình ở chung với trời Phật, phải tác ý như vậy.
Phải biết nhiều cách tác ý cho nên sự tu này tác ý rất quan trọng, nếu không biết phải hỏi, có vấn đề gì trục trặc thì phải hỏi, không chỉ ghi tội mình trong nhật kí tu học không mà còn phải ghi ra tâm đắc tu học vì đó là hỷ vô lượng tâm. Những gì mình đã thấy, đã hiểu, đã biết, đã trải qua, đã có lợi ích gì đều phải ghi ra vì nếu chỉ ghi lỗi không thì mở ra đọc cũng thấy chán nản.
Những người mình yêu thương, từ những Phật tử hộ pháp thân tín đến thầy mình, con chó của mình, những người thân thương của mình, thân ái, thân tình, thân thiện và đó cũng là bước ngăn trở mình tiến đạo, đó là oan trái lôi kéo mình trở lại đường xưa lối cũ. Thật sự bản thân con gặp vô vàn những thứ khó khăn khi đi vào dòng pháp này nhưng mình hãy kiên định, hãy vững lòng tin, hãy nắm chặt vào pháp. Chính những cái đó giúp mình thấy Khổ Thánh trí, càng thấy được bản chất của khổ, nó đầy rẫy, nó đang bao vây chúng ta, đối với người yếu đuối thì khi chướng ngại đến làm cho họ nản chí, dừng chân nhưng đối với người mạnh thì chướng ngại càng làm cho họ phấn đấu, đạp đổ để tiến lên, đây là chỗ khác biệt giữa người yếu đuối và người mạnh mẽ.
"Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Gia đình có chuyện thì dù mình có về cũng an ủi, nói vài chuyện, nước mắt chảy xuống rồi cũng không giải quyết được gì, chỉ có an trú trong pháp, đem hết tất cả tấm lòng, tâm lực, trí lực, hạnh lực, nguyện lực, thần lực đặt để vào trong pháp này thì mới giải quyết được chính mình và cho những người thân thương với mình nhất. Thế gian có cái nhìn khác "tại sao thầy bệnh không về thăm" hay "Phật tử thân mất tại sao không về cúng" nhưng đó chỉ là phàm phu tri kiến, tình nghĩa theo thế gian, những cái đó ai cũng làm được, chỉ có cái mình đang làm ở đây tất cả chúng sanh không làm được.
Mình đừng quan trọng tiếng nói của người khác, cái đúng sai của phàm phu, mình chỉ đem hết tâm sức, tất cả tấm lòng đặt để vào trong Thánh trí huệ này, vào Thánh pháp này, vào Thánh đạo lộ này sẽ giải quyết được tất cả mọi vấn đề. Tất cả thành viên trong đạo tràng Nikāya phải nhớ kĩ vấn đề này, khi mình cùng chung mọi người đi một con đường đi xuống, trong nhóm đó có một người tách ra vượt lên trên thì người đó sẽ bị nhiều ánh nhìn, lời nói, cử chỉ, sự phê phán của người khác nhưng chúng ta tự biết mình.
Con đã có ví dụ một tỷ người mù nói mình mù nhưng con mắt mình đã sáng thì một tỷ câu nói đó cũng không ảnh hưởng mình, mắt sáng là sáng, người trí tự mình giác hiểu, tự mình thấy biết thân tâm mình, tự mình thấu hiểu thân tâm mình, đến để mà thấy, không trải qua thời gian, có hiệu quả tức thì cho nên hành giả Nikāya phải mạnh mẽ tiến lên, xông lên đạp đổ tất cả chướng ngại chông gai, những thử thách. Những dòng nước mắt đó, những thảm cảnh, những tai nạn, bệnh tật, chết chóc đó mình đã chứng kiến vô số vô lượng vô biên lần trong dòng luân hồi này, có dài dòng mấy cũng vậy thôi, người đi trước kẻ đi sau chứ có gì khác đâu.
Người đi trước, kẻ đi sau
Chẳng qua kẻ trước, người sau thôi mà!
Trước sau gì cũng chết à…
Trước sau gì cũng chỉ là khói mây…
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Ngay cả xuất gia rồi còn không buông bỏ được những tình ái đó thì người cư sĩ ra sao? Cho nên những tình thân, tình thương là những sợi dây ngăn cản bước tiến của chúng ta, mình hãy thành tựu đi rồi mình báo đáp một lần cho tất cả, lưỡng toàn kỳ mỹ, trọn vẹn đôi đường, tốt đời đẹp đạo, nếu không sẽ là lưỡng đồ câu thất, cả hai đều mất, mình cũng không xong mà mình cũng không giúp được ai. Những tiếng nói của thế gian, những lời thị phi chớ có quan tâm nhiều, xem nó như dòng nước chảy hoa trôi, chỉ là gió thổi xào xạc bên khóm trúc lá tre, hãy biết mình, hãy lo cho mình, hãy thương mình, hãy thành tựu giáo pháp này, hãy thành tựu Thánh trí huệ này, hãy thành tựu Thánh đạo lộ này vì thành tựu cho chính mình là thành tựu cho tất cả.
Trái đất này có vỡ ra cũng không quan trọng mà quan trọng là mình có thành tựu được Thánh tri kiến không, thậm chí cái sanh, già, bệnh, chết của mình cũng không quan trọng mà quan trọng mình có thành tựu chánh kiến hay không, có thấy được khổ chưa, mình có đang đi trên đạo lộ diệt khổ chưa, đó mới là đại sự, mới là tối thượng, vô thượng chí cao, thù thắng cho nên hãy đem cả sinh mạng, đem cả thời gian, đem cả trí lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực, đem hết tim máu, xương tủy, đầu não tập trung vào tác ý, quán chiếu thành tựu Khổ Thánh Trí, thành tựu thấy tri kiến, thành tựu cái thấy biết thật sự về bản chất đau khổ, vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, trống không, trống rỗng, vô ngã của ngũ uẩn này, của thân tâm này, của thế giới này, cái đó mới là tối thượng chí cao, cái đó mới là đại sự, là bổn phận sự, là cứu cánh sự của người tu chúng ta, chúng ta không có ở đây vì chúng ta muốn thoát ra khỏi nó.
Thoát mau, thoát lẹ, thoát xa chốn này,
Thoát ra khỏi cái vô thường,
Thoát ra khỏi cái con đường khổ đau.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Chúng ta sẽ thoát ra nơi đầy nguy hiểm, đầy tai nạn, đầy bệnh tật khốn khổ này, đầy bất an, lo lắng và sợ hãi này. Chúng ta quyết tâm sẽ đi ra, phải thường xuyên tác ý, thường xuyên chiêm nghiệm, thường xuyên suy ngẫm, thường xuyên quán chiếu về cái đống khổ to lớn này, tiềm ẩn đầy tai ương hiểm họa, đầy những khốn đốn hoạn nạn. Chắc chắn chúng ta phải rời xa nó, chắc chắn chúng ta phải rời bỏ nó, chắc chắn chúng ta phải quyết tâm thoát ra khỏi cái thân đầy tai họa này, thoát ra khỏi đời sống đầy bất an này, thoát ra khỏi thế giới tràn ngập tham, sân, si, vô minh, bản ngã này. Mới sanh ra nước mắt đã ràng rụa khóc la, đến khi chết đi mình cũng khóc, người cũng khóc, bắt đầu bằng nước mắt và kết thúc cũng bằng nước mắt, còn đoạn giữa là không biết bao lần chúng ta khóc.
Thoát dòng sanh tử đầy tràn hiểm nguy,
Thoát đời trôi dạt mông lung,
Thoát dòng nước mắt tận cùng thương đau.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Chúng ta tiếp tục muốn khóc nữa hay sao? Khóc vì tham lam, sân hận, khóc vì bản ngã, giành giật, si mê, cả một chuỗi dài của nước mắt, của đau khổ, không phải chúng ta mới khóc đây mà chúng ta đã khóc vô lượng, vô biên, vô số kiếp, vô tỉ kiếp rồi. Bây giờ hãy khóc vì chánh pháp, hãy khóc vì sự thật, hãy khóc vì thấy được cái ngu si, vô minh, mê muội, bản ngã của mình, hãy khóc vì ác nghiệp của mình. Cái khóc đó là nên khóc, đáng khóc, cần khóc, còn bao nhiêu dòng lệ trước kia của mình toàn là dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, từ khi bước vào đạo tràng những giọt lệ này mới có giá trị, mới có ý nghĩa, mới có lợi ích, mới đem lại lợi ích, an lạc lâu dài cho chúng ta.
./.