Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Gom Giọt Nước Thành Biển Cả.

2026-03-03 00:52:22
Gom Biển Cả Thành Giọt Nước

                                                   ĐĐ. Thích Minh Thành giảng

Đệ tử chúng con cúi đầu kính lễ bậc hoàn toàn an tịnh, đức Chánh Biến Tri. Chúng con nguyện đoạn tận tham dục. Chúng con nguyện đoạn tận sân hận. Chúng con nguyện xuyên thủng khối vô minh uẩn, thành tựu chánh trí giải thoát.

Đại chúng có muốn Minh Thành tóm thâu cả biển lớn thành một giọi nước không? Trong Tương Ưng Bộ Kinh có thể tóm thâu lại Thiên Uẩn là phần nói về năm uẩn. Trong cả Thiên Uẩn có thể tóm thâu lại còn năm uẩn. Trong năm uẩn tóm thâu lại còn thọ uẩn. Đó là thâu hết nước bốn biển trở thành một giọt cảm thọ, cảm giác. Đương nhiên mình tu học phải biết đầy đủ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhưng cảm thọ là sự gắn kết giữa sắc và tâm, tất cả mọi cái đều biểu lộ trên cảm thọ. Đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tham, sân, si, khổ đau cũng ở trong cảm giác. Phá vô minh, thành tựu chánh trí chứng ngộ Niết bàn cũng ở ngay nơi cảm giác.

Tại sao người ta không coi gián tiếp ở trên tivi hay trên mạng mà người ta phải mua vé rất đắt tiền để ngồi trên sân bóng đá. Thì cái thọ, cảm giác cũng như mình ở nhà mở lên những bài học mình nghe thì nó khác còn trực tiếp đích thân mình ngồi chỗ này, mình rúng động từng tế bào, từng làn da, từ huyết quản của mình, từ giọt nước mắt mình tràn xuống. Cái thọ đó nó bị trấn động, bị rung động, bị xúc động mạnh. Cái thọ này mạnh sẽ phá tung được thân kiến. Nếu thọ thật là mạnh mà cảm xúc pháp thâm sâu, đánh động đến từng lớp thâm sâu của thọ uẩn thì nó sẽ phá tung hết các tà kiến. Cho nên mình quán mà mình chấn động, đó là sự chấn động nhỏ còn khóc vậy, còn chấn động mạnh thì tham dự vô các tầng thánh quả cũng chỗ cái thọ đó. Cho nên hết sức là quan trọng cái cảm giác, cảm thọ này, mình sẽ chết với nó và đã chết không biết bao nhiêu lần với cái cảm thọ này. Một chút cảm giác thôi mà nó lái mình đi thật là xa, dù cho mình có thấy biết chánh pháp. Mình đã thấy những người rơi rụng rồi, những người đã học qua hết ngũ uẩn này rồi.

Hôm nay chúng ta nghe Đức Phật dạy một phần rất quan trọng trong Tương Ưng Bộ kinh, bài kinh "Vực Thẳm".  "Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với việc không có, không xảy ra, lại nói: Ở giữa biển lớn, có vực thẳm. Này các Tỷ-kheo, đồng nghĩa với các khổ thọ về thân là vực thẳm này". (Tương Ưng Bộ, Tập IV-Thiên Sáu Xứ, Chương II.Tương Ưng Thọ, Phần 1-Phẩm Có Kệ). Người ta nói giữa biển lớn có vực thẳm nhưng Phật nói không phải, những cảm giác thống khổ bực tức, sân hận mới là vực thẳm. Hằng ngày mình bị lọt xuống vực thẳm rất nhiều lần từ sáng đến trưa chiều đến tối mình rơi không biết bao nhiêu lần xuống vực thẳm, đó là vực thẳm của Đức Thế Tôn nói. Đất trời còn chấn động với sự thật này. Bậc đa văn thánh đệ tử khi cảm giác khổ thọ về thân "không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng" (Tương Ưng IV, 212). Tại sao bậc đa văn thánh đệ tử gặp một khổ thọ, một cảm giác khổ không than vãn? Bài kinh đầu tiên:

"Vị đệ tử Đức Phật

Định, tỉnh giác, chánh niệm,

Hiểu rõ ràng các thọ

và xuất ly các thọ.

Chỗ này, chúng đoạn diệt

Con đường đến đoạn diệt,

Tỳ-kheo đoạn các thọ.

Không khát ái, tịch tịnh"

(Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, I. Thiền Ðịnh)

Đệ tử Đức Phật định, tỉnh giác, chánh niệm, hiểu rõ ràng các thọ, có thọ gì khởi lên, thọ gì đang hiện diện đang có mặt, thấy và biết nó một cách rõ ràng. Không đồng hoá với nó, không cho đó là tâm của mình, nó chỉ là cảm giác nhưng mình lấy cảm giác này mình đổi được cảm giác kia. Cũng như mình bỏ một chút cảm giác nghỉ trưa mà mình được pháp trí huệ. Mình lấy một cảm giác rất là bình phạm, tầm thường mà mình đổi lấy cảm giác của trí huệ siêu phàm. 

Người không học hiểu chánh pháp thì khổ với cái thọ này như thế nào? Rơi vào say sưa, nghiện ngập, gia đình ly tán, sự nghiệp nát tan, vợ chồng chia lìa, con cái khổ sở…đó là cái thọ của rượu bia say sưa và cái thọ của sắc cũng đổ vỡ hết. Thọ của cái lưỡi cũng gây ra họa, ngày xưa vua thưởng cho quan này mà không thưởng cho quan kia thì xảy ra chém giết nhau. Hơn bao giờ hết trong thế giới ngày nay, mình thấy xã hội bây giờ rất khủng khiếp. Người ta chạy đi tìm cảm giác, bình thường chưa thoả mãn phải dùng thuốc kích thích thêm, thì đó là tìm cái thọ thêm và càng khao khát, càng muốn mãnh liệt thêm thì càng đau khổ thêm, càng thiếu thốn thêm và như thế là quay cuồng, điên cuồng, rối loạn, đảo điên hết ở trong cảm giác. Người ta quay lại những trò chơi cảm giác mạnh cho mình thấy có nhiều người bị rớt xuống chết, nhiều người vô đó xong trở ra là đưa vô bệnh viện. Có Hoà Thượng đi nước ngoài, vào chơi rồi đi ra là nhịp tim đập nhanh rồi làm mệt, phải đưa về liền. Tại vì Hoà Thượng không biết trò chơi có cảm giác mạnh đến vậy. Cảm giác này thật sự là nguy hiểm, hết sức nguy hiểm cho nên có những người lấy một phần cảm giác này thôi ra giảng, hướng dẫn người ta tu, tổ chức toàn thế giới, chỉ một phần của thọ uẩn này thôi là tổ chức toàn thế giới, mười ngày không nói chuyện chỉ ngồi quán cái thọ. Từ đây mình mới thấy được con đường mình đang thực hiện nó đầy đủ viên mãn, sâu sắc, cho nên tại sao khuya mình ngồi thiền không nổi, nó rõ lắm. Tại sao mình bị góp ý này kia là mình né, không muốn gặp nữa, vì đó là cảm giác. Tại sao lúc ngồi thiền mình không chiến đấu nổi, mình không đi ra khỏi vọng tưởng, những thọ, tưởng, hành đó, là do cảm giác, những sắc tưởng trong đó, những thanh tưởng ở trong đó, những hình bóng của người này người kia những cảm xúc ở bên trong làm mình đi ra không được. Thọ quần trong đó như bát quái trận, đào hoa đảo, vô trong mê hồn trận là ra không được. Nó cứ lòng vòng trong đó, tất cả là thọ, cảm thọ, mình phải nhìn ra được. Cho nên trong khi mình phát biểu hãy coi chừng cái thọ của mình, lúc mình trình pháp phải chánh niệm và tỉnh giác, mình phải biết mình đang nói cái gì vì lúc đó là trình pháp chứ không phải kể tiểu sử của mình, không phải mình nói lên điều tâm đắc, những điều mình thể nghiệm. Ngay lúc tu mình thấy cái gì, nói ngay chỗ đó, đó là trình pháp.

Các nước Phật giáo nguyên thuỷ mỗi một vị được hỏi một câu thì thiền sư chỉ trả lời có năm phút. Mình lên nói cái thọ đã quá rồi quên luôn, phải cẩn thận nhìn cái thọ, mà cái này mình nhìn được, kiểm soát được, làm chủ được là hạnh phúc lắm, an lạc kì diệu lắm. Khi mình quay lại nhìn lại, kiểm soát thì nó khó chịu, bức xúc lắm. Giống như một người đang đi thoải mái thì tự nhiên có người nhìn mình, khi đó mình không còn thoải mái, sửa tướng đi lại liền, ngượng ngượng. Cảm giác cũng vậy, những cái tham dục, sân hận, si mê, chấp ngã bị mình nhìn là lúc đó nó khó chịu, nó bị mình kiểm soát, nó khó chịu. Lúc đầu khó chịu rồi từ từ nó phải bị khuất phục trước trí tuệ viên mãn của thánh trí cho nên mình phải nhìn hoài, quản lý nó. Cho nên thu thúc sáu căn ba nghiệp rất khó, không phải dễ mà mình nắm được cái thọ là mình thu thúc được. Cho nên Minh Thành cũng thường nhắc đại chúng xuất gia hay tập sự xuất gia, và ngay bản thân mình cũng phải nhắc mình nữa. Ví dụ quý vị lên dọn quả đường mà không nghe tiếng động của đũa, muỗng, chén thì quý vị có thần thông chưa, có phép màu chưa? Đó chính là phép màu! Mình sinh hoạt, đi lại…mà nhẹ nhàng an tịnh, không có ồn ào, không dao động thì đó là khinh an trong thất giác tri. Đó là mình có một phần giác ngộ rồi mình mới làm được, cho nên khi ăn cơm xong là Minh Thành phải nhắc liền. 

"Nếu cảm giác lạc thọ,

Không tuệ tri cảm thọ,

Đây gọi tham tuỳ miên

Không thấy rõ xuất ly".

(Chương II.Tương Ưng Thọ, Phần 1-Phẩm Có Kệ, III. Đoạn Tận)

Nếu có một cảm giác khoan khoái, thích thú, vui sướng mà mình không có tuệ tri là mình không biết nó bằng trí huệ đây gọi là tham tuỳ miên. Cái tham sẽ đi theo miên man ở trong cảm thọ vui sướng đó không có thấy rõ xuất ly, mình không thể mình nào thấy rõ nó, thì làm sao mình biết được phương pháp một con đường đi ra khỏi nó vĩnh viễn. Cho nên khi trưa ăn cơm là mình tuệ tri cảm thọ để thấy rõ được tham tuỳ miên, để mình có thể xuất ly. Nếu mình không tu tập, không quán chiếu, không nhìn sâu thì vĩnh viễn mình không thể vượt qua được việc ham ăn. Chữ “ham ăn” ở đây sâu lắm, không giống chữ ham ăn của người đời dùng. Người đời cùng từ “ham ăn” là chỉ người đó háo ăn, ăn thô, ăn phàm, ăn không thanh nhã, nhưng chữ ham ở đây còn là cái tâm ưa thích, ham muốn, thích thú trong cái ăn. Dù cho ở ngoài thanh nhã nhẹ nhàng bao nhiêu đi nữa nhưng cái ham muốn, thích thú, cái ái về ăn chắc chắn có. Mình xuất ly ra cái thọ, mình muốn chấp dứt luân hồi sanh tử thì mình phải đoạn tứ thực. Quý vị có biết bốn thức ăn không? Đó là: Đoạn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực. Cho nên ái với tứ thực là còn cấp dưỡng thức ăn cho ngũ uẩn luân hồi thân. Bởi vì mình cứ yêu thích cái ăn thì sao mình thoát ra cái ăn được, vậy đời sau mình đầu thai trở lại để ăn nữa. Không biết ăn kiểu nào mà phải ăn nữa mới được. Đó là ái với đoạn thực, là bốc, là nắm, là cầm, là nhai. Không phải mình đoạn dứt là không ăn mà ở đây là mình bắt đầu, như các vị tu hành giữ giới bắt đầu lơi mỏng, mòn từ từ cái ái cho đến diệt tận thì thành tựu Niết bàn. Tuy mình chưa diệt tận nhưng ít nhất mình thực tập được cái này mình đỡ nhiều, bớt phiền não nhiều. Mình chưa nói là A-la-hán, mà mình kiếm Dự lưu trước hoặc mình kiếm hướng Dự lưu trước. Chắc chắn là được, ít là có được. Đó là mấy vị cư sĩ còn xuất gia là phải tới cùng. Cho nên hay lắm, không phải giờ tu mình mới để ý mà bất cứ lúc nào ăn uống, nhai, nếm…Không phải phần ăn không mà còn phần mặc, phần ở, phần ngủ nữa, coi có ái trong đó không. Rồi phần nói cũng có dục, cũng có ái, cũng có tham trong đó. Cho nên không nói thì bị giục cho nói, chứ chịu gì nổi. Mình phải chiến đấu với cái dục. Nó khoái khoái, thích thích, muốn muốn đó là dục, là ái, là tham. Mà nói bao nhiêu đó chưa đủ, kết thúc xin hết mà vẫn muốn nói nữa thì đó là tham nói, tại mình không thấy hết cho nên mình phải kiểm soát hai mắt thần.

Mình tu cái này là có con mắt thần tuệ nhãn, pháp nhãn. Con mắt thần của mình xuyên các cảm thọ, xuyên các cái tưởng, xuyên các cái hành, xuyên các cái thức, đó là con mắt trí huệ, tuệ nhãn cho nên pháp nhãn sanh, đó là bậc Dự lưu. Bậc thấy được thân tâm của chính mình một cách rõ ràng tường tận đầy đủ trọn vẹn. Cho nên bài kinh trong Thiên Chương Uẩn, Thiên Uẩn, Đức Phật tuyên bố thế nào là Dự lưu? Là bậc đa văn thánh đệ tử biết rõ được sự tập khởi, sự chấp dứt của năm thủ uẩn, đó là bậc Dự lưu thành tựu trí huệ. Phải để ý từ chút một. Cho nên Vipassana là gì? Là ghi nhận quán xét, quán chiếu sâu sắc, nhỏ nhiệm, mọi khía cạnh, từng li từng tí ngõ ngách. Nhìn xuống vậy chứ thấy hết vì đó là mắt thần. Khi mình ngồi thiền, mắt nhìn như không có gì nhưng lại thấy hết thế giới năm uẩn này. Một con mắt nhìn đây đó, cái nào cũng nhìn nhưng lại không thấy gì. Đặc biệt vậy đó. Không nhìn mới thấy, nhìn mà không thấy, lạ chưa? Nhìn hướng ngoại thì không thấy. Không hướng ngoại nữa mà quay lại nhìn ngũ uẩn thì thấy được chính mình. Thấy được chính mình là cái thấy tối thượng trong tất cả cái thấy. 

"Nếu cảm giác khổ thọ,

Không tuệ tri cảm thọ,

Đây gọi sân tùy miên,

Không thấy rõ xuất ly".

(Chương II.Tương Ưng Thọ, Phần 1-Phẩm Có Kệ, III.Đoạn Tận)

Đối với cảm giác khó chịu, bực bội mà mình không tuệ tri thấy biết trí huệ một cách đúng đắn như vậy là cái sân không bao giờ nó thoát ra được, nó đi theo mình miên man gọi là sân tuỳ miên. Mỗi khi gặp điều gì đó khó chịu là nó nóng lên, lan ra, không bao giờ mình thoát ra được, không thể nào xuất ly được hết nếu mình không nhìn rõ. Minh Thành hay dùng từ là phải biết mặt mũi và tánh tình của nó. Ví dụ mình biết một người nào đó mà hỏi tên gì, nói quên rồi. Hỏi nhà ở đâu cũng không biết. Đen hay trắng mập ốm, hiền hay không hiền …cũng không biết. Vậy có gọi là biết không? Ở đâu không biết, đen hay trắng cũng không biết, hiền hay dữ không biết như vậy có gọi là quen không? Cho nên mình học văn huệ là mình học chữ nghĩa trước, học cái chữ biết cái nghĩa đó là mình biết được tên tuổi. Tên mà mình còn chưa biết mà chứng đắc cái gì? Cái lạc thọ, khổ thọ, bất khổ, bất lạc thọ. Cái cảm giác khó chịu, dễ chịu, không dễ chịu không khó chịu mình còn không biết tên của nó thì làm sao mà mình trị nó được, làm sao mình xử lí, làm sao mình quản chế, làm sao mình chế ngự nhiếp phục, đoạn tận nó được cho nên mình phải biết tên tuổi nó. Sau đó mình phải biết mặt mũi nó, sau khi nó xuất hiện nó ra làm sao. Cái cảm giác của bản ngã nó ra làm sao, nó đi ưỡng ngực lên, hất mặt lên, nói huênh hoang, những cái khí dâng lên. Cái gương mặt, ánh nhìn cũng thể hiện bản ngã, giọng nói cũng thể hiện bản ngã, hành động cử chỉ cũng thể hiện. Mình phải thấy, phải biết mặt mũi của từng đứa cảm giác. Mình phải biết tham nó như thế nào? Cảm giác của dục nó như thế nào? Cảm giác của ái như thế nào? Cảm giác của sân như thế nào? Cảm giác của hận như thế nào? Cảm giác của bản ngã như thế nào? Cảm giác dương dương tự đắc như thế nào? Tất cả mọi cảm giác đó mình phải thấy và khi hỏi thì mình phải diễn tả trình bày được, đó là mình biết mặt mũi nó. Chứ không phải nói nhận diện năm uẩn đơn giản chỉ có ba cảm giác, đó là tiểu học, mới lớp một lớp hai. Mình đi sâu vô phải biết từng loại cảm giác nó biểu hiện và vận hành như thế nào. Mình mới gặp mặt người đó một lần, ba năm sau gặp lại mình có nhớ không? Ngày nào mình cũng gặp mình có nhớ không? Thì tu cũng vậy, ngày nào mình cũng nhận diện, giờ nào mình cũng nhận diện "mi là thủ phạm, mi là tai nạn, là hiểm họa, ta không chấp nhận mi, ta đập tan mi, không có chỗ cho mi đi chỗ khác, không chứa đồ ăn hại, tối này bắt ta ăn rồi hại ta". Đây là những từ để như lý tác ý, khéo như lý tác ý, mình chửi đồ ăn hại, đồ báo đời, đồ phá gia chi tử. Cảm giác đó khởi lên mình chửi nó "đồ ăn hại, đồ báo đời, đồ phá nhà", đánh đuổi nó ra, không chấp nhận nó, từ bỏ nó, diệt tận nó. Quý vị thấy tu như vậy là tu giỏi, tu như vậy là tu sâu, tu như vậy gọi là chuyên tu.

"Với bất khổ bất lạc,

Bậc Đại trí thuyết giảng,

Nếu hoan hỷ thọ ấy,

Không thoát được khổ đau".

(Chương II.Tương Ưng Thọ, Phần 1-Phẩm Có Kệ, III.Đoạn Tận)

Đức Thế Tôn nói rằng nếu hoan hỷ với thọ ấy thì không thoát được khổ đau. Có nhiều người thích sôi nổi, đi tới đâu là náo động tới đó, im im đều đều họ không chịu. Có những dạng người rề rề, họ đi vô mình cũng không thấy, họ đi ra khi nào mình cũng không hay, cái dạng này là nguy hiểm, lù khù vác cái lu chạy. Cái thọ bất khổ bất lạc này nó đều đều, không khổ không vui là ghê với cái thọ này lắm, vì hai cái thọ kia nổi cộm lên giống như sóng lớn mình dễ nhìn thấy, còn cái này nó gợn gợn mình không thấy. Vì vậy mình cứ nói mình đâu thấy tham, sân, si gì đâu. Cho nên bậc đại trí thuyết giảng nếu hoan hỷ với thọ ấy không thoát được khổ đau. Tại sao vậy? Những người bị vô những thọ này thì không tiến bộ phát triển được và cũng khó làm nên sự nghiệp lớn. Người này hài lòng với những gì đang có, chấp nhận một cách rất dễ dàng, họ không phấn đấu nỗ lực "như vậy là được rồi, cho tôi xin hai chữ bình an, đừng bày ra gì nữa hết". Ai tu sao mình tu vậy đừng có tu khác, không chịu tìm hiểu, không chịu đào sâu, không chịu tầm cầu. Cái cảm thọ này là chết, mình phải cẩn thận cảm thọ này hơn cả sân và tham. Tại vì cảm giác đều đều nên mình không thấy năm uẩn, mình ái trong đó, mình ưa thích, chấp nhận trong đó, mình hoan hỷ trong đó mà mình hoan hỷ nhẹ chưa có thô thôi. Nó không có cười lớn, cũng không mỉm cười mà nó dễ chịu. Phải đi ra khỏi cái êm ái, phải nhìn thấy bản chất của nó. Trong phần Tương Ưng Thọ, Đức Phật dạy: Quán cảm thọ vui là khổ, quán cảm thọ khổ là mũi tên, quán cảm thọ không vui không khổ là vô thường. Cảm thọ vui mà mình dính mắc trong đó, sau đó không có nó là mình khổ, phải chưa? Mà cảm thọ khổ giống như mũi tên, nó khó chịu lắm, nó bắn trúng mình. Cảm thọ không vui không khổ thì phải biết đây là vô thường, là biến đổi, nó không có đều đều mãi được. Giờ mình cứ để tháng sau mình tu, hay năm sau, hay sắp xếp ba bốn năm nữa nhưng có thật sự là vậy không? Cái cảm giác sanh diệt như thế nào, rồi lúc đó nó như thế nào.

Câu khủng kiếp nhất mà Minh Thành cảm thấy sốc thật sự là "Này các Tỳ-kheo, Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ" (Chương II.Tương Ưng Thọ, Phần 2-Phẩm Sống Một Mình). Câu này thâm sâu lắm mà tu được câu này là chứng thánh quả. Với ba cảm giác vui, cảm giác khổ, hay cảm giác không vui không khổ thì kẻ vô văn phàm phu đều giống như người bị trói buộc. Trói buộc thì làm sao mà vui, mà mình cứ thích cái thọ đó. Đừng nói khổ thọ mà người ta chán, khổ thọ người ta cũng thích mà có nhiều người thích buồn, quý Phật tử có biết cái này không? Có nhiều người thích buồn rồi nhậu một mình, hay là buồn rồi viết nhật ký, hay là ngồi một mình gặm nhấm hương vị của cái buồn. Thành ra cái buồn đâu phải là chán, cho nên càng buồn càng khổ chừng nào thơ càng hay chừng đó. Cái này thâm sâu lắm, cái này mình đào sâu là khiếp lắm. Chứ không phải người ta chán cảm thọ đâu, dù cho khổ nhưng người ta vẫn khoái thì đó là kẻ vô văn phàm phu. Có một cảm giác khổ thọ nhưng mà đang cảm giác đó giống như người đang bị trói buộc, đừng nói chi là lạc thọ, lạc thọ là chết rồi, cho nên mình phải thật cẩn thận khi mình có những lạc thọ. Khi Phật tử quỳ xuống lạy là Minh Thành chắp tay vô nhìn sâu vào trong cảm thọ nếu có cảm giác thích thú cho là mình hay, mình là sư phụ thì Minh Thành dùng như lý tác ý quán chiếu, phá liền, phá cảm thọ cho rằng mình hay, mình là thầy. Trong lúc Phật tử đang lạy Minh Thành quán chiếu, nhìn vào cái thọ thật sâu, coi nó có thọ cái lạy đó không, coi có thích thú không, có thấy mình là thầy không, mình là ngon không, mình là bề trên không. Nếu có cái đó là nhục nhã xấu hổ, không được cho mình có một cảm thọ khoang khoái thích thú trong cái lễ, lạy của người ta. Hay là đi tới những chỗ mình được ăn hay được đi tham quan, hoặc có những nhân duyên mà mình không tránh được thì khi đó mình phải hết sức cẩn thận nhìn lại cảm giác của mình, đó là mồi nhử là ác ma. Những cái mà khoang khoái thích thú gọi là khả lạc, khả hỷ liên hệ đến dục tất cả những cái đó mình phải cẩn thận. Mình khoang thoái thích thú những cái vị đó thì uổng công người nấu, uổng công người cúng dường, mình ăn như vậy người đó không có phước bao nhiêu hết. Mình ăn trong trạng thái tâm vô lượng tâm định là cách thọ thực của ngài Ma-ha-ca-diếp. Khi ăn ngài luôn luôn trú vào tâm vô lượng tâm định cho nên các vị chư thiên rất ưa thích cúng dường cho ngài Ma-ha-ca-diếp. Trong lúc ăn ngài luôn trú vô lượng tâm định, đó là nguồn sanh phước bất tận cho những người cúng dường. Quý vị thấy tu dễ hay khó? Trong bài kinh "Mũi Tên", Đức Phật dạy có hai mũi tên. Bậc đa văn thánh đệ tử cho trúng một mũi. Ví dụ có một cảm thọ khổ về thân thì bậc đa văn thánh đệ tử cũng có cảm thọ khổ về thân. Mình đi ngoài nắng 40°C thì ai cũng khó chịu giống nhau, cái thân khó chịu, cái thân nó bị chiếu, bị nóng thì dù cho phàm phu hay thánh nhân nóng cũng y như nhau, người có tu hay người không tu thì cái nóng cũng y hệt nhau. Khác là chỗ cảm giác của tâm, còn kia là cảm giác của thân. Có hai loại cảm thọ của thân và cảm thọ của tâm. Lúc đó bậc đa văn thánh đệ tử, bậc thực hành quán thọ thân khó chịu mà tâm không khổ cho nên không bị bắn mũi tên thứ hai. Con người vô văn phàm phu trúng hai mũi tên. Nói liên tục "tại sao ông trời nóng bực bội quá khó chịu quá" , rồi cái tâm nó khổ rồi cái thân nó khổ, nói thêm là cái khẩu nó khổ, nói một hồi là đau cổ họng khổ thêm nữa. Nói một hồi là nó kéo theo nhiều nữa, nói hai mũi là hai mũi chính thôi nói một hồi là nó lây ra chục mũi tên. Cho nên người tu khi quán Tứ Niệm Xứ, quán Thân Hành Niệm thì mình bệnh chỉ thân bệnh, cái tâm thực hành cái pháp để nó nhìn thấy được sắc uẩn là ổ chứa nhóm tật bệnh thì lúc đó thánh trí sáng tỏ, tuệ tri, thắng tri, liễu tri sắc uẩn này. Còn vô văn phàm phu lúc đó than vãn, rên, điện thoại than trách oán hờn con cháu, làm vậy càng khổ hơn nữa. Cho nên các bậc tu hành thành tựu đâu phải ngài không có khổ thân, có khổ thân mà tâm họ không khổ. Còn mình thân tâm đều khổ hết, mình vẽ thêm, tưởng uẩn vẽ ra thêm. Lúc đầu có chút xíu mà nó tưởng, thêm chữ tượng nữa thì từ con kiến ra thành con giòi. Nó tưởng, nó vẽ ra bao nhiêu cái nữa. Ví dụ trước khi đi tu mình sắp xếp "ở nhà có công chuyện gì quan trọng thì gọi cho tôi", đang ngồi thiền thì điện thoại rung lên, mình nghĩ "chết rồi chắc đây là chuyện quan trọng, không biết làm sao đây", rồi mình vẽ ra một dọc dài. Nếu ngay chỗ đó mình không biết, mình không ra khỏi cái tưởng, cái hành, cái thọ đó thì mình ngồi đó nó quần từ đầu tới cuối. Hết giờ thiền là chạy ra lấy điện thoại liền, mà đó còn đỡ, có khi ngay đó là chạy ra luôn chứ không chờ đến lúc xả thiền. Những cái tưởng này mới làm mình khổ, những cái sắc tướng bên ngoài không làm khổ mình bao nhiêu mà cái sắc tưởng mới làm khổ mình nhiều. Cái âm thanh bên ngoài không làm khổ mình bao nhiêu mà cái thanh tưởng trong lòng mới làm mình khổ dài dài. Cái hương với cái vị nó không làm mình đam mê bao nhiêu, nó ngon chút xíu đó thôi, mà cái hương tưởng và vị tưởng nó làm cho mình đam mê dài dài. Mình đi ra không được, nó cứ ở trong đó, những hình bóng hiện ra, những âm thanh lời nói thì thầm, sự xúc chạm, những xúc tưởng hiện ra trong đó rồi mình dắt xe ra chạy, nó kéo mình đi.

Cho nên cái tu của mình là dũng sĩ, chiến sĩ, là cái mình chiến đấu với nội tâm. Dù tại bãi xa trường thắng hàng ngàn quân địch không bằng tự thắng được mình, thắng được mình là chiến công oanh liệt nhất. Mà thắng mình là thắng cảm giác, lời nói trong nội tâm của mình. Mình phải nhiếp phục được, chuyển hoá được, phải xuất ly đi ra khỏi được là giải thoát. Cho nên Minh Thành nói mấy vị lúc bước vô lên ngồi thiền là phải mỉm cười vui, chứ vô ngồi thiền mà nhìn mặt buồn muốn lấy cây thiền bản đánh cho một cái. Phấn khởi, hân hoan lên, mắt mở sáng lên, đầu thẳng, vai thẳng, thân thả lỏng, vai đều giống như tư thế ngồi của Phật, quang minh tướng hảo, trí huệ sáng suốt "ta lên toà giác ngộ ta ngồi, năm thằng ăn trộm này đừng giỡn mặt với ta, đừng có giỡn chơi với ta", không để cho nó qua mặt mình, không để cho nó lấn chiếm mình, không để cho nó quậy phá mình, mình phải làm chủ nó.

Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.