SỨC SỐNG CỦA NGƯỜI TU 4
SỨC SỐNG CỦA NGƯỜI TU 4
KINH NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI
QUÁN THỌ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán chiếu các cảm thọ PAGEREF _Toc112057289 \h 1
1.Lạc thọ PAGEREF _Toc112057290 \h 3
2.Khổ thọ PAGEREF _Toc112057291 \h 4
3.Bất lạc bất khổ thọ PAGEREF _Toc112057292 \h 5
4.Cảm thọ thuộc vật chất và không thuộc vật chất PAGEREF _Toc112057293 \h 8
5.Ngoại thọ, nội thọ PAGEREF _Toc112057294 \h 10
6.Sự sanh diệt các cảm thọ PAGEREF _Toc112057295 \h 11
II.Tất cả thọ đều nằm trong đau khổ PAGEREF _Toc112057296 \h 13
III.Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ PAGEREF _Toc112057297 \h 18
IV.Chăm sóc cảm thọ PAGEREF _Toc112057298 \h 19
Quán chiếu các cảm thọ
Chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Kinh Niệm Xứ – bài kinh được xem là sức sống, lẽ sống, mạng sống của người tu. Chúng ta đã tìm hiểu những lời Đức Phật khai thị, mở bày, phơi bày sự thật về thân, như vậy, phần sắc uẩn chúng ta đã nhìn thấy. Chúng ta còn lại bốn uẩn, tức là phần tâm, gồm: cảm giác, suy nghĩ, hình bóng và sự rõ biết. Chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn hiển bày, phơi bày, trình bày sự thật của các cảm thọ, cảm giác.
Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ?
Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo:
Khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ";
Khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ";
Khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ".
Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất";
Hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất".
Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất";
Hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất".
Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất";
Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất".
Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ (cảm giác bên trong); hay sống quán thọ trên các ngoại thọ (cảm giác bên ngoài); hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại thọ (bên trong lẫn bên ngoài). Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. "Có thọ đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Khi học nhận diện ngũ uẩn, điều đầu tiên là chúng ta phải nhận diện ra được cảm giác, phải biết cảm giác là gì; thứ hai phải biết cảm giác đó thuộc cảm giác nào? Có một cảm giác vui sanh khởi, chúng ta phải biết “đang có một cảm giác vui”; có một cảm giác buồn, khổ sanh khởi, chúng ta phải biết “cảm giác khổ đang có mặt”; có một cảm giác không khổ không vui sanh khởi, chúng ta phải biết “có một cảm giác không khổ không vui đang có mặt”. Chỉ cần nhận biết được đang có cảm giác như vậy, lúc đó chúng ta đã có sự tách mình ra khỏi cảm giác. Chỗ này rất nhỏ nhiệm, tế nhị trong sự tu.
Trước kia, khi chưa có sự nhận biết cảm giác là thọ uẩn, là một phần của tâm, nên ta tự đồng hóa mình với cảm giác, khi khởi lên một cảm giác vui là mình bị trôi theo, cuốn theo, bị nhận chìm trong dòng sông của cảm giác đó. Bây giờ, có sự nhận diện cảm giác, ví dụ, ta thấy được cảm giác này là cảm giác vui, khi nhìn thấy được như vậy, tức là mình đã có sự tách tâm của mình ra ngoài cảm giác, để ta nhìn lại cảm giác. Còn lúc trước hoàn toàn chúng ta ở trong cảm giác, đồng hóa ta với nó là một. Nhớ kĩ chỗ này, tách tâm của mình ra ngoài cảm giác, đây gọi là tuệ tri.
Sau khi biết được cảm giác nào đó thuộc cảm giác gì thì chúng ta sẽ nhìn sâu vào bên trong cảm giác ấy. Đức Phật có dạy rất nhiều trong Tương Ưng Thọ, trong cảm giác vui có tham tùy miên – sự ưa thích, ham muốn, dính mắc đi theo miên man trong cảm giác vui. Như vậy, có cảm giác vui là có tham, ái, dục trong đó. Và chúng ta phải tuệ tri – tức là biết bằng trí tuệ, không phải khi vui thì chỉ biết đó là cảm giác vui là xong, mà phải sử dụng trí tuệ để thấy được sự tham ái, dính mắc trong cảm giác vui đó. Ví dụ: một người bưng một ly cà phê sữa lên uống, thấy rất là vui và thích. Nhưng bên cạnh có một người nói rằng trong ly đó có độc tố, hóa chất, dơ bẩn, nên người này lập tức bỏ ly cà phê sữa xuống, không uống nữa. Ví dụ này để chúng ta thấy biết bằng trí tuệ là như thế. Tức là sau khi biết một cảm giác là vui thích, vui sướng, sung sướng, khoan khoái, thích thú thì biết có sự tham ái, chấp thủ bên trong, nên không tiếp tục bưng ly cà phê đó lên uống mà sẽ để xuống. Nghĩa là không có sự cuốn theo, chạy theo, không bị lôi vào nhận chìm trong cảm giác vui sướng đó, đó gọi là tuệ tri.
Sau khi nhận biết được các cảm thọ, chúng ta phải dùng Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý: “Cảm thọ này là vô thường, cảm giác này là vô thường”. Đức Phật dạy rất kĩ trong Tương Ưng Thọ.
Lạc thọ
Thứ nhất, phải quán cảm giác vui là khổ, tại sao vậy? Đức Phật nói rằng kẻ vô văn phàm phu không nghe, không tu tập Chánh Pháp, khi họ cảm giác một cảm giác vui thì giống như người đang bị trói buộc. Vui thì có thích, thích thì có khoái, khoái thì có tham, tham thì có ưa, ưa thì có muốn – dục, tham, ái trong đó. Cảm giác này chỉ một lát sau sẽ tan, chúng ta muốn nó tiếp tục nữa nhưng không được thì mình sầu, bi, khổ, ưu, não vì chúng ta không biết quán tánh sanh diệt của các cảm thọ, cho nên, Đức Phật dạy quán ba loại cảm giác.
Thứ hai, khi có cảm giác khổ, khó chịu, phải nhận thức được đó là một cảm giác và là một cảm giác khó chịu, khổ thọ, không được để cảm giác khó chịu này chi phối, xâm chiếm tâm mình. Khi có một cảm giác khó chịu, bực bội sanh khởi lên thì sân tùy miên có mặt. Sự tức giận, bực bội, khó chịu, sân hận sẽ đi theo miên man ở trong cảm giác khổ thọ. Bằng trí tuệ nhận thức, mình phải thấy biết được. Giống như khi bưng ly cà phê sữa, biết trong đó có hóa chất, có độc thì phải buông xuống, cũng vậy, mình không được đi theo cảm giác sân hận, không tiếp tục cảm giác đó. Khi đó, chúng ta Như Lý Tác Ý bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng sự an tịnh, lắng dịu để hóa giải cảm giác sân và trở về trạng thái an bình, an tịnh, lắng dịu. Đó gọi là biết bằng trí huệ, chứ không phải chỉ rõ biết là đang có cảm giác khổ rồi thôi, như vậy thì khổ vẫn tiếp tục khổ. Vì vậy, phải tác động tâm ý, dùng pháp đối trị, tẩy sạch tâm mình khỏi các chướng ngại pháp. Sân là một chướng ngại pháp trong ngũ cái, nó một một pháp chướng ngại của tâm. Nếu chúng ta đi theo, bị sân xâm chiếm, áp đảo thì cơn sân sẽ thiêu đốt thân tâm, làm khổ mình, khổ người, hại mình, hại người, hành hạ mình, hành hạ người. Chúng ta phải biết nó là độc tố, là chất độc, không được sử dụng nó nữa. Phải tác ý, tìm đủ mọi cách để hóa giải, đi ra khỏi cảm giác đó, như vậy gọi là tuệ tri.
Khổ thọ
Đức Phật dạy, quán cảm giác khổ giống như mũi tên. Mũi tên này đâm vào tim mình, vô cùng đau đớn và rỉ máu. Nếu chúng ta chấp nhận, để cảm giác khổ ở bên trong tâm, tích tụ, chất chứa, nuôi dưỡng nó thì chẳng khác gì tự mình để cho những mũi tên bắn găm vào người, tàn phá thân tâm mình. Cho nên, quán khổ thọ là mũi tên, không được ưa thích nó. Chúng ta không ai thích bị tên bắn hay bị nó ghim vào người, vì vậy, đối với những cảm giác sân hận, bực bội phải lập tức nhổ ra, lập tức mặc áo giáp để ngăn chặn những mũi tên trong cuộc đời này, có rất nhiều mũi tên. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật nói:
Ta như voi giữa trận,
Hứng chịu cung tên rơi,
Chịu đựng mọi phỉ báng.
Ác giới rất nhiều người.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Voi)
Thế gian có rất nhiều người ác; tham, sân, si đầy rẫy, cho nên cần có một chiếc áo giáp sắt để phòng hộ, phòng bị, bảo vệ, bảo hộ, bảo hiểm. Giống như đội nón bảo hiểm để tránh tai nạn vậy, chúng ta cũng cần có một chiếc áo giáp trước những khổ thọ đến với mình. Nhìn cảm giác khổ như là mũi tên, phải nhổ nó ra, không chấp chứa, nuôi dưỡng cảm giác sân hận, bực bội, khó chịu. Khi giận một ai đó, thì trong tâm chúng ta có được thoải mái, nhẹ nhàng không? Ngồi thiền có được không? Nhìn mặt người đó có dễ chịu không? Chính vì chúng ta khó chịu, sân giận, cho nên khổ thọ như một mũi tên, vô cùng nhức nhối, rỉ máu, đau khổ. Vì vậy, Đức Phật dạy phải quán khổ thọ là mũi tên – những điều này phải nhớ thật kĩ để thực tập. Đức Phật cũng nói, kẻ vô văn phàm phu khi cảm giác một khổ thọ, cũng giống như người đang bị trói buộc. Tại vì, kẻ vô văn phàm phu không biết cảm thọ là cảm thọ, họ cho rằng đó là “tôi đang khó chịu, tôi đang bực bội, tôi đang giận, đừng đụng tới tôi”. Họ đồng hóa họ với cảm thọ đó, không tách ra được khỏi cảm thọ. Cho nên Đa văn Thánh đệ tử là người có phước báu, nhìn thấy được thân tâm, bắt đầu tách mình ra khỏi cảm thọ. Chúng ta tuy chưa tách hoàn toàn được, nhưng mình đã nhìn thấy, đó là lợi lạc, lợi ích của sự tu học quán cảm thọ.
Bất lạc bất khổ thọ
Thứ ba, đối với cảm giác không khổ không vui, bất khổ bất lạc, thường thường, Đức Phật dạy có si tùy miên an trú trong cảm thọ không khổ không vui. Vào buổi sáng, lúc ngồi thiền, thường có cảm thọ này, cảm thọ si xâm chiếm chúng ta rất nhiều lần trong mỗi ngày. Khi lọt vào trạng thái si, vô minh, buông lung phóng dật thì trạng thái chú tâm tỉnh giác, nhiệt tâm tinh cần rất ít, thậm chí, nếu không dự khóa tu, thay vào đó đi chơi thì có khi cả ngày đó sự chánh niệm tỉnh giác, nhiệt tâm tinh cần không còn được bao nhiêu. Chính vì vậy, đừng mới tu được một chút mà tưởng mình tu nhiều. Trạng thái không khổ không vui, đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ có rất nhiều cấp độ, đến mức hôn trầm thì đã quá nặng nên chúng ta không kể đến, có trường hợp dù vẫn mở con mắt sờ sờ, nhưng không thấy được thọ, tưởng, hành, chỉ thấy một cái thân chần vần đang ngồi, đó cũng là si.
Chúng ta đã học hai bài Chánh niệm tỉnh giác. Thứ nhất là chánh niệm tỉnh giác trong đi, đứng, ngồi, nằm phải rõ biết, chúng ta đã học trên phần Thân Hành Niệm. Thứ hai là chánh niệm tỉnh giác khi thọ, tưởng, hành khởi lên và chấm dứt, tất cả đều phải rõ biết. Có người hỏi “thế nào là nội tâm tỉnh giác” – tức là khi thọ khởi lên và chấm dứt mình phải rõ biết; khi tưởng khởi lên phải rõ biết đó là hình bóng gì, khi tưởng chấm dứt cũng phải rõ biết; khi hành, những suy nghĩ khởi lên phải rõ biết, khi nó chấm dứt phải rõ biết. Như vậy gọi là chánh niệm tỉnh giác. Còn trường hợp vẫn ngồi, mở con mắt chần vần nhưng không thấy được thọ, tưởng, hành thì đó cũng là trạng thái si.
Cho nên, người mới tu, mới học thì thấy tham, sân khó, nhưng tu từ từ, được một thời gian thì ta thấy cái si mới khó. Vì những cái thô có thể dễ phát giác, phát hiện để đánh đuổi, nhưng dần dần đi đến cái si thì hết sức khó thấy, bởi vì khi đó bản thân rơi vào trạng thái si nhưng không biết thì làm sao thấy được. Nhiều khi đi, đứng, nói như vậy nhưng thật ra đang trong trạng thái của si tùy miên.
Cho nên, Đức Phật dạy “phải quán cảm giác si, bất khổ bất lạc, trơ trơ là vô thường”. Ví dụ dễ thấy, Tăng Ni trong chùa cứ sáng dậy ăn cơm, tụng kinh, ngồi thiền, cứ đều đều rồi nghĩ như vậy là tu được, nhưng không phải mà cần phải quán trạng thái đó là vô thường, quán sự bình an đó không tồn tại hoài. Một con rắn có thể làm cho ta chết; một cái vấp chân, trợt ngã có thể làm ta bán thân bất toại; một cái rầm có thể ta sẽ không còn mạng sống này nữa. Phải quán nhiều những tính chất đó để phá cảm giác không khổ không vui. Khi quán như vậy, mình mới nhiệt tâm tinh cần và có sự nỗ lực, tinh tấn, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc mới sanh khởi. Còn nếu cứ trơ trơ thì làm sao Dục Như Ý Túc sanh – tức là mong muốn mạnh mẽ, tiến đến sự tẩy sạch thân tâm, nỗ lực, để tâm, suy nghĩ mọi cách để thành tựu không sanh khởi được.
Như vậy, cứ trú trong trạng thái không khổ không vui, đều đều, trơ trơ thì không thể có Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần; không thế sanh sự tinh cần, tinh tấn. Chính vì vậy, Đức Phật dạy quán cảm thọ không khổ không vui là vô thường, bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra những chuyện bất trắc: máy bay rơi, xe đụng, trượt chân, lên tăng xông. Thậm chí những người bệnh nan y cần phải quán mạnh mẽ, mãnh liệt hơn nữa. Hoặc những người già, lên tới hàng 60, 70 tuổi thì phải quán liên tục, như để củi vào lò lửa, làm cho ngọn lửa nhiệt thành, tinh tấn lúc nào cũng cháy sáng, bừng sáng, tỏa sáng trong thân tâm. Như vậy chúng ta mới không ở trong trạng thái trơ trơ, đơ đơ, đờ đờ, gà mờ; không ở trong trạng thái buông lung phóng dật, buông thả, buông lơi, có như thế mới đi vào sự chú tâm, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực. Từ đó, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ mới phát triển. Cho nên cảm thọ trơ trơ hết sức nguy hiểm. Phải thấy si tùy miên trong cảm thọ không khổ không vui và quán nó là vô thường. Sự nguy hại, nguy hiểm, tác hại nằm trong cảm giác này.
Nhiều khi Minh Thành nói với mấy chú, mấy cô Phật tử ở chùa Bửu Liên, là mỗi lần lên xe, Minh Thành đều không biết có về được tới chùa không. Mấy cô đều hỏi sao Minh Thành nói kỳ vậy, nhưng thật ra điều này không có kỳ, đó là sự thật. Khi lên máy bay, Minh Thành cũng di chúc lại cho Tăng chúng. Mỗi một lần leo lên xe, lên máy bay, đi xuống thuyền là mỗi một lần chúng ta nhìn thấy được sự vô thường, nguy hiểm trong đó. Nếu thường quán, thường nhớ cảm thọ bất khổ bất lạc là vô thường, thường Niệm Tử thì sự tinh cần, tinh tấn sẽ được thắp sáng, được khởi động, được kích hoạt trong thân tâm. Nhờ vậy, chúng ta không dám lơ là, không dám buông lung, không dám phóng dật. Bây giờ đang trong dịch bệnh Covid 19, virut này nó có báo trước: “Tôi là con dịch Corona, tôi sắp sửa tới cô” không? Hay thần chết có báo trước với mình là mấy tháng nữa sẽ tới không? – không ai báo trước cả. Chúng ta đừng nghĩ, khi chết mình sẽ leo lên giường, nằm xuống và tắt thở chết, không có chuyện đó. Ngay cả khi chúng ta quán Chín Giai Đoạn Một Tử Thi cũng là quán theo trình tự bình thường, chứ làm sao ta biết được mình sẽ chết ở đâu, chết khi nào và chết như thế nào. Mình có được chết giống như chín giai đoạn một tử thi không? Có phải tới khi 80 tuổi, leo lên giường nằm, có người hộ niệm rồi mình tắt thở ra đi không? Không ai đảm bảo chắc chắn như vậy được. Cho nên, sự quán vô thường cần phải được thâm nhập, thẩm thấu, chứng nhập dù bất cứ lúc nào thì nó mới phá được cảm giác bất khổ bất lạc, trơ trơ.
Ví dụ, đang nghe pháp mà buồn ngủ, phải tác ý: “Chết! Dịch bệnh tới là chết, tai biến là chết, đi về bị xe đụng chết, mày không không lo tu mà cứ ngủ hoài đi!” Tác ý mạnh như vậy thì con ma ngủ văng ra, chạy mất dép ngay tại chỗ mình ngồi. Phải mạnh mẽ, hùng dũng, đánh thật mạnh vào cảm giác si thì nó mới tan. Còn nói nhỏ nhẹ: “Thôi đừng ngủ nữa nha” thì không nhằm nhò gì đối với nó. Vì vậy, phải mạnh, rút gươm trí huệ trảm sự si mê này, nhất đao lưỡng đoạn, giống như Bao Công trợn mắt, cầm lệnh bài quăng xuống, ra lệnh: “Cẩu đầu đao, trảm!” Quán chiếu sao cho lúc đó thấy Bao Công hiện ra ngay trước mặt mình, xem còn ngủ được nữa không! Có như vậy, chúng ta mới trị được ngủ gục, hôn trầm, trị cảm giác si. Phải dùng thật nhiều hình ảnh chứ không phải chỉ một. Có biết bao cái chết trên đời, cho nên mới gọi là bất trắc, vô thường. Hai chữ Vô Thường này phải thấm vào da, vào thịt, vào xương và vào tủy chứ không phải nói ngoài miệng. Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ giờ nào cũng phải nghĩ nhớ đến vô thường. Ngọn lửa nhỏ có thể sẽ làm cháy căn nhà, buổi tối không có ai, một con mèo nhảy qua ngã đèn, nếu không may có để xăng, để dầu gần đó, thì lửa bắt nhanh là không kịp nhảy ra. Một căn nhà bị chập điện làm cho 5 người trong gia đình chết hết. Bất cứ điều gì cũng phải nhìn ra tính chất vô thường trong đó thì mới phá được cảm giác đơ đơ, trơ trơ, không khổ không vui. Vì vậy, quán cảm thọ rất là sâu sắc, đa diện, nhiều phương diện, khía cạnh.
Cảm thọ thuộc vật chất và không thuộc vật chất
Khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất".
Khi có một cảm giác vui thuộc về vật chất, chúng ta phải biết rõ mình có cảm giác vui thuộc về về chất. Tức là cái vui đó là do ăn ngon, hay do được khen, vui do đi chơi – đó là những cảm giác vui thuộc về vật chất của đời, của thế gian, là cái vui của dục lạc. Khi đó, phải biết đó là cái vui thuộc về vật chất, thuộc về thế gian pháp, thuộc về dục lạc. Sau khi biết như vậy, phải có sự canh chừng, đề phòng thì mới không bị sập bẫy, đạp gai. Vì vậy, phải phân biệt được đâu là vui đạo, đâu là vui đời; đâu là vui thuộc vật chất, đâu là vui không thuộc vật chất; đâu là vui của pháp và đâu là vui của thế tục.
Ví dụ, nghe pháp mà được hỷ lạc, đó là cái vui không thuộc vật chất; ngồi thiền mà được khinh an, nhẹ nhàng khắp thân tâm, cảm thấy hạnh phúc, hoan hỷ, hỷ lạc thì đó là vui không thuộc vật chất. Còn ví dụ buổi sáng được ăn bún riêu, có thêm ly cà phê sữa kế bên nên cười thích thú, đó là cái vui thuộc về vật chất. Phải dùng trí tuệ để phân biệt từng cái vui, làm cho rạch ròi trong tâm mình. Giống như “từ” với “ái”, “pháp lạc” với “dục lạc” rất dễ lẫn lộn, nếu không có Chánh Tri Kiến, không có tuệ tri, thì mình không biết đâu là cái vui đạo, đâu là cái vui đời. Nhiều khi bày ra uống trà, ngồi nói chuyện tam quốc chí, đông tây kim cổ, thấy đã đã, thích thích, vui vui, nhưng đó là cái vui thế tục chứ không phải là trí huệ ly tham. Nếu ngồi bàn về pháp để ly tham đối với ngũ uẩn thì đó mới là vui không thuộc vật chất.
Đối với cảm giác không khổ không vui thuộc về vật chất mình cũng phải biết. Hay cảm giác không khổ không vui không thuộc vật chất mình cũng phải biết. Ví dụ, ngồi thiền mà không khổ không vui, thấy bình thường thì không khổ không vui đó không thuộc vật chất. Nhưng khi ăn một món bình thường, không thấy khoái, thích, cũng không thấy khó chịu thì đó là không khổ, không vui thuộc vật chất. Như vậy, chúng ta phải phân biệt được các cảm thọ.
Cho nên, Đức Thế Tôn được gọi là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc tri giả, kiến giả, bậc thấy biết cùng tột. Những cái không thể thấy, không thể biết, không thể hình dung, tưởng tượng ra được nhưng Đức Phật đều thấy. Tất cả mọi cái trong thân tâm, từng bộ phận cơ thể, từng cảm thọ, từng tưởng, từng hành, từng thức – những thứ đó Đức Phật đều phân tích, chỉ dẫn rành rẽ, tường tận về mọi phương diện, góc độ, khía cạnh, chỉ rõ ra từng thứ thuộc loại nào, như vậy mới gọi là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Không còn một cái gì trong thân tâm mà Đức Phật không biết, không còn một cái gì trong thân tâm mà Đức Phật không thấy, không còn một cái gì trong thân tâm mà Đức Phật không thấu đáo, tường tận, triệt để, tận cùng, viên mãn, trọn vẹn. Cho nên gọi Đức Thế Tôn là bậc tri giả, kiến giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Và bây giờ, chúng ta đang học chỗ thấy biết đó, vì vậy phải thấy hạnh phúc, cố gắng học, cố gắng thực tập để nhận diện cảm giác. Không phải chỉ biết cảm giác là thọ là xong, hoặc giỏi hơn là biết mình đang khổ thọ hay lạc thọ rồi thôi, mà chúng ta cần phải biết và quán.
Ngoại thọ, nội thọ
Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ…
Tức là những cảm giác bên ngoài đưa đến và những cảm giác bên trong mình đều phải thấy được.
Ngoại thọ, những cảm giác bên ngoài đưa đến tức là ví dụ như nhìn thấy cảnh đẹp thì mình muốn có một tấm hình lưu lại. Nghe một bài nhạc hay, thấy thích thì muốn có bài nhạc đó để về nghe, chẳng những thích ngay tại chỗ đó mà còn muốn kiếm tìm, để dành – ái và thủ đi theo nhau, ưa thích thì muốn nắm giữ. Hoặc là ăn một món ngon, mình thích, muốn sau này được ăn nữa. Rồi những sự xúc chạm êm ái, làm cho dính mắc, ràng buộc suốt cả cuộc đời: vợ chồng, tình cảm nam nữ. Đó là những cái bên ngoài, ngoại thọ, cảm giác do bên ngoài đưa đến.
Nội thọ, là khi ngồi một mình, nhưng hình bóng của người mình giận, mình ghét hiện ra trong tâm, lúc đó có cảm thọ gì thì đó là nội thọ. Khi tụng Tứ Niệm Xứ, học pháp, không có tiếp xúc với bên ngoài, nhưng thân tâm mình có hiện lên những cảm giác, thì chúng ta phải biết đó là nội thọ. Hoặc khi ở một mình, chúng ta nhớ đến những người thương yêu, nhớ đến cha mẹ, anh em, chồng vợ, bạn bè. Hình bóng của người đó hiện ra, bên trong mình sẽ có cảm giác sanh khởi, hoặc là khổ, hoặc là lạc, tùy theo điều mình suy nghĩ và tưởng. Đó thuộc về nội thọ, những cảm giác bên trong. Biết được cảm thọ nào đó thuộc cảm thọ gì, trong cảm thọ đó có cái gì, nó thuộc cảm thọ bên trong hay bên ngoài, và phải dùng cái gì để trị nó thì đó chính là tuệ tri. Lúc trước, mình là vô văn phàm phu, cứ vào lạy Phật, cầu Phật độ cho mau giải thoát trong khi chúng ta không thấy, không biết nguyên nhân làm cho mình khổ. Vì vậy, sự tu đúng khác với sự tu không đúng là ở chỗ đó, khi nhìn lại, ta thấy cả một sự vận hành bên trong.
Sự sanh diệt các cảm thọ
Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ.
Cảm thọ này vô cùng ghê gớm, khủng khiếp. Chỉ một câu nói trên điện thoại là có thể làm ta bực lên, phừng lên, đùng đùng lên, cháy lên, tam bành lục tặc nổi lên. Và cũng trong cuộc điện thoại đó, khi buông xuống là nằm một chỗ, đi không nổi, ngồi không nổi, ngã bệnh. Ví dụ, ở ngoài đời, chuyện tình yêu nam nữ kết thúc, nói từ đây về sau sẽ chấm dứt, nghe xong buông điện thoại xuống nằm và bệnh luôn. Hoặc hẹn gặp nhau đi chơi là phấn khởi, phơi phới, giống như lên trời lên mây. Cảm thọ khủng khiếp, ghê gớm như vậy, tất cả đời sống của chúng sanh đều nằm trong đó chứ không phải là gì khác, nó bao trùm cả thế và xuất thế gian. Thật sự hết sức khủng khiếp, ghê gớm đối với cái xúc, cái thọ này. Cho nên phải cẩn thận, phải nhìn, phải quán thọ trên các cảm thọ.
Chữ “quán” tức là nhìn kĩ, nhìn sâu, nhìn rõ, nhìn đầy đủ tất cả mọi khía cạnh, phương diện, góc độ trong, ngoài, trên, dưới, trước, sau và dùng những cách thức, phương pháp để trị các cảm thọ. Phải sử dụng tất cả bùa phép, công lực, khả năng vốn có của mình để đem ra đánh với các cảm thọ, như vậy mới thật là chân tu, là hành giả của Tứ Niệm Xứ. Tuy thấy mình đang ngồi yên nhưng bên trong là nội chiến, một trận chiến oanh liệt đang diễn ra trên bồ đoàn, trên tọa cụ. Thấy đang ngồi yên nhưng bên trong đang tả xung hữu đột, Bát Quái Trận của giặc đưa ra thì dùng Bát Chánh Đạo tung chưởng, thấy Tà Kiến thì dùng Chánh Kiến để trị, thấy Tà Tư Duy sanh khởi thì dùng Chánh Tư Duy đánh phá. Như vậy mới gọi là dũng sĩ, chiến sĩ và quyết định dù cho có trở thành liệt sĩ cũng được, để từ đó mình đi theo đấng Vô Thượng Sĩ. Quyết tâm phải đi theo, phải có sự mạnh mẽ. Còn lên ngồi thiền mà đầu gục xuống, mắt nhắm sụp lại dù kêu mở ra, thì coi như xong, mới ra trận đã thấy thua, không có người lính nào ra trận mà lê thân, đi không nổi. Lên bồ đoàn cũng như ra trận, phải oai hùng, mạnh mẽ, sáp lá cà. Minh Thành thấy có những vị lên ngồi thiền, Như Lý Tác Ý đến nổi mặt mày bặm trợn lên, đó là những người có sự nỗ lực, để tâm hành trì.
Như vậy, phải quán sự sanh khởi và đoạn diệt của các cảm thọ. Khi sân lên, lát sau cũng dịu xuống; khoái, muốn, thích lên rồi một hồi cũng hết. Tuy nhiên, cảm thọ này rất ghê gớm, nhiều cảm giác để lại trong lòng 5 năm, 10 năm, 20 năm nhưng vẫn không xóa nhòa được, có những cảm giác theo suốt cả cuộc đời. Thế nên Đức Phật mới nói kẻ vô văn phàm phu cảm thọ một cảm giác khổ giống như người bị trói buộc; cảm thọ một cảm giác vui cũng giống như người bị trói buộc; cảm thọ một cảm giác không khổ không vui thì cũng giống như người bị trói buộc – cảm thọ nào cũng đều bị trói.
Chúng ta là những kẻ bị trói cột trong tất cả những cảm thọ, nếu không chánh quán cảm thọ, không hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm, không hướng đến chỗ không dính mắc với bất cứ vật gì trên đời thì chúng ta sẽ trở thành người bị trói buộc trong tất cả các cảm thọ. Do đó, phải nhìn tánh sanh khởi và diệt tận của các cảm thọ, xem nó khởi lên, vận hành, biến đổi như thế nào và sau đó lắng xuống, chấm dứt ra làm sao. Chúng ta phải để ý nhìn chuỗi vận hành của các cảm thọ. Cho nên, lúc phiền não, giận ai thì phải ngồi thiền để nhìn lại bên trong xem thọ, tưởng, hành vận hành thế nào. Nhìn để xem một bộ phim dài vô số tập, cứ làm tới làm lui, cứ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, cứ giận, thương, ghét, buồn, đúng, sai, hay, dở hoài mà không chán. Đó là những vở tuồng mà ngũ uẩn đã dựng lên. Cứ tham, dục, ái rồi sân si, bản ngã,…lòng vòng như vậy hết người này đến người kia, hết người kia tới người nọ, hết chỗ này tới chỗ kia. Người nào cũng lê lết, vác tấm thân đi khắp nơi, nhưng đến đâu cũng tham, sân, si, bản ngã, vào chùa cũng sân, cũng bản ngã rồi lại khổ.
"Có thọ đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.
Luôn luôn trong tâm là sự ước vọng, hy vọng, ước muốn, hướng tới đạt được chánh trí huệ. Thường thường tác ý, tác động tâm ý của mình như vậy. Trong bài kinh “Vực Thẳm”, Đức Phật nói với các Tỷ-kheo rằng kẻ vô văn phàm phu nói ở giữa biển lớn, có vực thẳm, nhưng Ngài không nói như vậy. Trong Pháp và Luật của Như Lai cảm giác khó chịu, đau khổ mới là vực thẳm của kẻ vô văn phàm phu. Cho nên, khi có cảm giác khó chịu phải xem chừng mình bị lọt xuống vực, rơi xuống hố, lọt xuống đèo. Khi một cảm giác khổ thọ, sân hận, bản ngã, hơn thua sanh khởi, xâm chiếm tâm mình thì lập tức niệm lên: “Vực thẳm, vực thẳm, vực thẳm! Đây là vực thẳm trong Pháp và Luật của Như Lai” để mình thoát ra khỏi vực thẳm đó.
Tất cả thọ đều nằm trong đau khổ
Có một câu khiến Minh Thành hết sức rúng động và chấn động thân tâm:
“Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả các cảm thọ đều nằm trong đau khổ.”
Câu này có thể làm rúng động địa cầu, chấn động thế giới. Đây là một Thánh trí thâm sâu, cùng cực, chỉ có bậc Thế Tôn, Như Lai mới tuyên bố được sự thật này – sự thật giải mã được tất cả thế giới.
Những cảm thọ chúng ta từng vui sướng, ưa thích, bây giờ nhớ lại ta có tiếc nuối, muốn lưu giữ, ái luyến nó không? Chắc chắc có! Ví dụ đơn giản: khi người thân thương nhất ra đi, chúng ta nhớ lại những hình ảnh, những cảm giác lúc xưa, nhìn chỗ người đó ăn cơm, hay nhìn căn phòng, chiếc giường mà người đó nằm ngủ, nhìn lại những kỷ niệm êm đẹp ngày xưa nhưng bây giờ tất cả trở thành dòng nước mắt, trở thành niềm xót xa, sự tiếc nuối. Đó chính là lạc thọ của quá khứ trở thành khổ thọ của hiện tại, cho nên cảm thọ là vô thường. Chính vì vậy, Đức Phật dạy quán quán lạc thọ là khổ, vì chính lạc thọ làm cho chúng ta dính mắc, chấp vào đó, rồi trở thành đau khổ. Tất cả cảm thọ, dù cho là lạc thọ, thì sau đó cũng là nước mắt, là sự ái luyến, tiếc nuối, hối hận, khát khao. Lạc thọ mà còn như vậy thì đừng nói chi là khổ thọ. Cảm giác vui sướng mà còn đem lại sự đau khổ thì cảm giác đau khổ làm sao có thể đem được lại sự vui sướng. Chúng ta nhìn kỹ lại sẽ thấy rằng: những điều làm cho mình đau khổ nhất cũng chính là những điều đã từng làm cho mình vui sướng nhất. Đây là một sự thật phũ phàng, sâu sắc mà Đức Phật đã phơi bày.
Tại sao càng yêu thì sau này lại càng hận?
Tại sao càng thương thì sau này lại càng ghét?
Tại sao bạn càng thân thì sau này lại trở thành thù?
Đó là sự vô thường, biến đổi của các cảm thọ; sự tan biến và hoại diệt của tất cả các cảm xúc, cảm giác. Tất cả mọi cảm giác đều ở trong sự biến động, biến chuyển, biến đổi, biến hoại. Không có bất cứ một cảm thọ nào có thể đứng vững được. Không có bất cứ một cảm giác nào có thể duy trì được hoài. Tại vì bản tánh của nó là như vậy, bản chất của nó là như vậy, không thể vượt khỏi bản chất ấy, bản tánh đó. Làm sao có thể mong rằng các cảm thọ có thể tồn tại mãi mãi, dài lâu.
Lúc Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên nhập Niết-bàn, đệ tử các Ngài ôm y bát, Ngài A Nan khóc sướt mướt, vào trình với Đức Thế Tôn. Đức Phật mới nói
-Làm sao có thể để cho các pháp hữu vi, vô thường này tồn tại hoài không biến đổi, điều đó không thể xảy ra. Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có đem Thánh Giới Uẩn ra đi hay không?
-Bạch Thế Tôn, không.
- Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có đem Thánh Định Uẩn ra đi hay không?
-Bạch Thế Tôn, không.
-Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có đem Thánh Tuệ Uẩn, Thánh Giải Thoát Uẩn, Giải Thoát Tri Kiến Uẩn đi theo hay không?
-Bạch Thế Tôn, không.
Đức Thế Tôn mới nói:
-Hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình thắp đuốc cho chính mình, với Chánh Pháp.
Phải nhìn ra được các cảm thọ, các pháp hữu vi, sự biến động vô thường đó để khi tất cả mọi điều xảy đến chúng ta đều có được tâm bình an.
Đức Thế Tôn nói:
-Thật là hy hữu, thật là hiếm có, thật là kỳ lạ, này A Nan Đa, hai vị tướng quân của Chánh Pháp, đại đệ tử của Như Lai diệt độ, nhưng Như Lai không buồn khổ.
Tức là tâm của Như Lai là bất động tâm giải thoát.
Lần đầu tiên lúc Minh Thành nhập thất trên rừng, khi nghe câu: “Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả các cảm thọ đều nằm trong đau khổ” thật sự Minh Thành giật mình. Minh Thành nghĩ như vậy thì tất cả mọi thứ đều là khổ, nói như thế thì có bi quan không? Nhưng khi tu tập từ từ cho đến sau này, Minh Thành mới thấy câu này làm rúng động cả thân tâm, nổi gai ốc toàn thân từ đầu đến chân, chấn động khắp tứ chi, ngũ tạng, lục phủ. Chính vì vậy, chúng ta mới tu để xuất ly các cảm thọ. Do sự nguy hiểm và tác hại của các cảm thọ, một khi mình đam mê, dính mắc, tham ái vào đó thì sẽ dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Dính mắc vào bất cứ cảm thọ nào thì mình cũng đều đau khổ. Cảm thọ lạc khi dính mắc vào cũng là đau khổ thì cảm thọ khổ làm sao đưa đến hạnh phúc. Còn cảm thọ không khổ không lạc cũng là vô thường, không có như vậy hoài hoài, mãi mãi. Thế nên, nếu mất việc, mất nhà, mất chức, mất tài sản hiểu được đó đều là vô thường, cho đến chỗ mất thân mạng cũng hiểu được nó vô thường và bình thản ra đi.
Vị đệ tử đức Phật,
Ðịnh, tỉnh giác, chánh niệm,
Hiểu rõ ràng các thọ,
Và xuất ly các thọ.
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Tỷ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh.
***
Lạc thọ hay khổ thọ,
Cùng bất khổ bất lạc,
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.
Biết được: "Ðây là khổ",
Hư ngụy và biến hoại,
Thấy xúc, xúc biến diệt,
Ở đây, sống ly tham.
***
Nếu cảm giác lạc thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi tham tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
Nếu cảm giác khổ thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi sân tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
Với bất khổ bất lạc,
Bậc Ðại trí thuyết giảng,
Nếu hoan hỷ thọ ấy,
Không thoát được khổ đau.
Vị Tỷ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh giác, không cuồng trí,
Ðối với tất cả thọ,
Bậc Hiền trí liễu tri.
Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Thân hoại, bậc Pháp trú
Ðại trí vượt ước lường.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f) Phần IV. Năm Mươi Kinh Thứ Tư, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần I. Phẩm Có Kệ)
Vị ấy thấu suốt tất cả mọi cảm thọ, hiện tại không còn lậu hoặc nữa, khi thân hoại mạng chung, vị ấy trở thành bậc Pháp trú – an trú trong Thánh Pháp. “Ðại trí vượt ước lường” – đó là bậc đại trí huệ, vượt qua tất cả mọi sự suy tư, lường xét của chúng sanh.
Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ
Người tu phải luôn luôn để ý các cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của mình và tập làm chủ cảm thọ, đừng để nó làm chủ. Phải tập nhìn ngó, dò xét, kiểm soát cảm thọ. Chúng ta thấy rằng, các tưởng – hình bóng mập mờ, hiện lên rồi cũng mất đi; hành – lời nói lầm thầm, suy nghĩ một hồi cũng sẽ quên, nhưng cảm thọ, cảm giác thì rất khó quên. Đức Phật nói: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm giác”, cho nên, muốn thấy tâm mình hiện tại như thế nào, cần phải nhìn vào cảm thọ, vì các pháp trong đó sẽ hiện ra. Tham, sân, si, dục, ái, bản ngã sẽ thấy được liền ngay trong cảm thọ khi cảm thọ biến động.
Các tưởng của mình thì người khác không nhìn thấy được; hoặc ta đang suy nghĩ về điều gì thì người khác cũng không đọc được, nhưng cảm xúc của chúng ta thì người khác nhìn thấy được. Đây là chỗ hết sức sâu sắc, thọ uẩn gắn liền thân và tâm, nên có chỗ biểu hiện ở trên thân, tuy thọ uẩn thuộc về phần tâm nhưng nó lại biểu hiện trên thân. Khi chúng ta đang có cảm thọ dễ chịu thì người khác nhìn vào sẽ biết đang lạc thọ; hoặc khi mình có cảm thọ sân, khó chịu thì người ta cũng biết; hoặc ta đang ở trong trạng thái si si, đơ đơ thì người ngoài nhìn vào cũng sẽ biết. Cho nên tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, Thánh hay Phàm là do nơi cảm thọ này.
Trong sự tu, chúng ta thấy đạo tràng thường hay khóc, xúc động, tức là các cảm thọ của thiện pháp được khơi nguồn và bắt đầu khai mở. Vì thế, đừng sợ khóc, cứ để sự xúc động vì thiện pháp tuôn trào, đó là những giọt nước mắt của hạnh phúc, của trí huệ, của từ tâm, những giọt nước mắt của sự thấu hiểu, chạm tới sự thật, chạm tới chân lý, chạm tới Thánh trí tuệ. Cho nên tu học sao cho phải điêu luyện, nhuần nhuyễn về cảm thọ. Có những suy nghĩ trôi qua mình đã quên, có những hình bóng không còn nữa, nhưng có những cảm giác đi theo ta suốt đời. Vì vậy, Đức Phật nói cảm thọ là chỗ tích tụ của tất cả pháp, là kho tàng của tâm thức.
Cảm thọ gắn liền thân và tâm, có hiểu hiện trên thân. Đó là tại sao phải tu cảm giác toàn thân, phải hiểu rằng khi mới bắt đầu vào tu cần thực tập cảm giác toàn thân là để nhìn thấy các cảm thọ, biết các cảm thọ và nhiếp phục các cảm thọ. Ví dụ: khi sân, ta thấy lồng ngực nóng lên, gương mặt đổi màu, lỗ tai đỏ lên; khi si, đầu nặng, mắt sụp; tham dục là ở tại chỗ phát dục phát khởi lên. Như vậy, tham, sân, si đều có chỗ biểu hiện trên thân. Cho nên khi tác ý, chúng ta hướng vào ngay chỗ biểu hiện để tác ý. Tác ý về dục là ta hướng tâm thẳng ngay chỗ về dục để tác ý đánh đuổi thì nó sẽ lắng dịu. Tác ý về sân thì mình hướng ngay vào chỗ lồng ngực đang nóng rực để tác ý, làm cho nó an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, rồi mình sẽ thấy nó tan dần dần ra, giống như viên “thuốc sủi, bỏ vào nước sôi thì nó tan ra. Khi dùng từ tâm để trị liệu, chuyển hóa thì mình sẽ thấy được kết quả ngay lập tức, đó mới gọi là “hiệu quả tức thời”. Khi đó, tự nhiên lồng ngực mình mở ra, nhẹ ra, an tịnh, trở nên nhẹ nhàng, bình thường, như vậy là hóa giải được sân. Về si, ta đánh vào chỗ si làm sao cho cái đầu và hai con mắt bừng tỉnh, minh mẫn, sáng suốt trở lại, khối cảm giác đè nặng, si ám tan biến mất. Đó chính là phá được tham, sân, si.
Chăm sóc cảm thọ
Như vậy, chúng ta cần phải hết sức để tâm vào sự tu tập các cảm thọ. “Thương thọ nhiều nha thọ” – cảm thọ này phải được thương, được chăm sóc. Chính cảm thọ này tàn phá, làm cho mình khổ. Giống như mình bỏ củi, đốt lửa bên dưới thì nồi nước phía trên sôi ùn ục, nắp văng bật ra, nước và bọt trào ra. Cũng vậy, những cảm thọ tích tụ trong nhiều kiếp, nằm sâu thẳm ở dưới một lớp rất sâu và nung lên, giống các nhà địa chất khoan sâu vào lòng đất, và những nghĩ tưởng, những hình bóng hiện lên là tự sự thúc giục bên dưới của các cảm thọ. Từ cảm thọ thô, dần dần mình đi tới cảm thọ vừa và dần dần chúng ta sẽ thấy đến những cảm thọ tế ở phía dưới. Sau đó, dùng từ tâm, dùng trí huệ để mình huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, rèn luyện thọ, tưởng, hành, thức này. Nhiều khi chúng ta nói mình làm việc nào đó là tốt, là thiện nhưng tu ngũ uẩn rồi thì mình mới thấy sâu trong đó có những cái chưa thiện. Không phải mình nói thiện là điều đó hoàn toàn thiện. Cho nên, phải “Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ – Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm”. Phải chăm sóc cảm thọ, cảm giác, cảm xúc này, chính nó tàn phá, tàn hại mình, cảm thọ này hết sức tàn bạo. Nếu không có chánh kiến dẫn dắt, khi ngồi lại, toàn nói những chuyện làm đau khổ mình, đau khổ người, khơi lên những cảm xúc gươm giáo, súng ống, đạn dược, cung tên, lưỡi đao. Do không chăm sóc các cảm thọ nên trong tâm mình đầy rẫy những thương tích. Đức Phật có nói trong Tăng Chi Bộ tập I, bài kinh “Vết thương làm mủ”:
Thứ nhất, tâm của kẻ vô văn phàm phu giống như vết thương. Chúng ta đều đang bị tâm bệnh rất nặng, tâm của mình như một vết thương, ai chạm tới là nó giật lên, sừng sộ, sân hận, bực bội, cáu gắt, khó chịu.
Thứ hai, tâm của người thấy pháp là ánh chớp, người này thấy tất cả các cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Người có chánh kiến, thấy đúng sự thật về thân tâm, Đức Phật nói tâm này như ánh chớp, lóe lên ánh sáng.
Thứ ba, tâm của bậc diệt tận các lậu hoặc, A-la-hán là tâm như kim cương.
Như vậy, tâm như vết thương cần được chăm sóc rất nhiều. Chúng ta đã chăm sóc vết thương trong những ngày qua ở khóa tu, điều trị cho nó được đỡ đau, đỡ bệnh. Tâm như vết thương cần có y tá, người điều dưỡng, dược sĩ và bác sĩ trị bệnh. Cho nên, chúng ta tu tập là đang chăm sóc cảm thọ của mình. Chúng ta phải lo quán chiếu, nghe pháp, thực hành cho thẩm thấu để nhìn thấy vết thương rồi điều trị. Đừng cứ ngồi trách móc, khơi lên, gợi ra, bới lên những tham, sân, si để khổ rồi than khổ, nhưng mình cứ tự làm khổ, cứ kiếm chuyện, gây chuyện, sanh sự để mà khổ. Vì vậy, phải luôn luôn chăm sóc cảm thọ, nhắc cảm thọ: “An tịnh nha, lắng dịu nha, dễ chịu nha, dễ thương nha, ngọt ngào nha. Đừng làm khổ mình, khổ người; đừng hành hạ mình, hành hạ người; đừng hành xác mình, hành xác người; đừng hành tội mình, hành tội người nữa. Tu hành thì được. Đừng hành hạ, hành tội, hành xác mà hãy lo hành trì đi.” Hãy nói với cảm thọ sân si, bản ngã như vậy. Cho nên, chúng ta phải nhớ, sự tác ý là tuyệt đối quan trọng, “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Nếu mình không tác ý thì cảm thọ vẫn cứ là một đống trơ trơ, biết thì biết nhưng nó vẫn như vậy. Phải tác ý và nuôi lớn tâm từ thật nhiều. Từ tâm an tịnh lắng dịu sẽ đi đến tâm hiền; từ tâm hiền sẽ đi đến tâm từ; tâm từ vững chắc sẽ trở thành căn cứ địa, thành quách vững trú, kiên trú và vững chắc trong tâm. Lúc đó cảm thọ của mình mới trở thành một cảm thọ vi diệu, tuyệt vời, lúc nào chúng ta cũng ở trong trạng thái nhẹ nhàng, từ tâm, từ ái, an lạc.
Cho nên, phải để ý, nhận diện, chăm sóc và điều trị các cảm thọ rồi chúng ta sẽ thấy cảm thọ của mình ngọt ngào, sâu lắng, dễ chịu, dễ thương, đối với mọi chuyện trên đời đều dễ dàng chấp nhận. Mọi chuyện sao cũng được, muốn hơn muốn thua gì cũng được, có ai ở đây đâu mà tranh hơn tranh thua, có ai ở đây đâu mà nhân ngã, có ai ở đây đâu mà bỉ thử, ta đây. Có ai đâu ngoài bộ xương này; có ai đâu ngoài những đống tham, sân, si, bản ngã ngày đêm rầm rầm, âm ỉ vận hành; có ai đâu ngoài những đống đau khổ, sầu, bi, ưu, não tích tụ và chất chứa; có ai đâu ngoài những ngọn lửa của vô minh, tham ái ngày đêm được bỏ củi, bỏ nguyên liệu vào để đốt cháy lên. Người tu chúng ta sẽ là người lấy tất cả những nguyên liệu ra, không bỏ củi vào nữa, mà phải dập tắt ngọn lửa của vô minh, tham ái từ từ cho đến lúc hoàn toàn được mát lạnh, thanh lương và tịch tịnh. Đó là mục đích cứu cánh tối thượng của người tu./.
KINH NIỆM XỨ GIẢNG GIẢI
QUÁN THỌ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán chiếu các cảm thọ PAGEREF _Toc112057289 \h 1
1.Lạc thọ PAGEREF _Toc112057290 \h 3
2.Khổ thọ PAGEREF _Toc112057291 \h 4
3.Bất lạc bất khổ thọ PAGEREF _Toc112057292 \h 5
4.Cảm thọ thuộc vật chất và không thuộc vật chất PAGEREF _Toc112057293 \h 8
5.Ngoại thọ, nội thọ PAGEREF _Toc112057294 \h 10
6.Sự sanh diệt các cảm thọ PAGEREF _Toc112057295 \h 11
II.Tất cả thọ đều nằm trong đau khổ PAGEREF _Toc112057296 \h 13
III.Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ PAGEREF _Toc112057297 \h 18
IV.Chăm sóc cảm thọ PAGEREF _Toc112057298 \h 19
Quán chiếu các cảm thọ
Chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Kinh Niệm Xứ – bài kinh được xem là sức sống, lẽ sống, mạng sống của người tu. Chúng ta đã tìm hiểu những lời Đức Phật khai thị, mở bày, phơi bày sự thật về thân, như vậy, phần sắc uẩn chúng ta đã nhìn thấy. Chúng ta còn lại bốn uẩn, tức là phần tâm, gồm: cảm giác, suy nghĩ, hình bóng và sự rõ biết. Chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn hiển bày, phơi bày, trình bày sự thật của các cảm thọ, cảm giác.
Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ?
Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo:
Khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ";
Khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ";
Khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ".
Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất";
Hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất".
Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất";
Hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất".
Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất";
Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất".
Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ (cảm giác bên trong); hay sống quán thọ trên các ngoại thọ (cảm giác bên ngoài); hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại thọ (bên trong lẫn bên ngoài). Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. "Có thọ đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Khi học nhận diện ngũ uẩn, điều đầu tiên là chúng ta phải nhận diện ra được cảm giác, phải biết cảm giác là gì; thứ hai phải biết cảm giác đó thuộc cảm giác nào? Có một cảm giác vui sanh khởi, chúng ta phải biết “đang có một cảm giác vui”; có một cảm giác buồn, khổ sanh khởi, chúng ta phải biết “cảm giác khổ đang có mặt”; có một cảm giác không khổ không vui sanh khởi, chúng ta phải biết “có một cảm giác không khổ không vui đang có mặt”. Chỉ cần nhận biết được đang có cảm giác như vậy, lúc đó chúng ta đã có sự tách mình ra khỏi cảm giác. Chỗ này rất nhỏ nhiệm, tế nhị trong sự tu.
Trước kia, khi chưa có sự nhận biết cảm giác là thọ uẩn, là một phần của tâm, nên ta tự đồng hóa mình với cảm giác, khi khởi lên một cảm giác vui là mình bị trôi theo, cuốn theo, bị nhận chìm trong dòng sông của cảm giác đó. Bây giờ, có sự nhận diện cảm giác, ví dụ, ta thấy được cảm giác này là cảm giác vui, khi nhìn thấy được như vậy, tức là mình đã có sự tách tâm của mình ra ngoài cảm giác, để ta nhìn lại cảm giác. Còn lúc trước hoàn toàn chúng ta ở trong cảm giác, đồng hóa ta với nó là một. Nhớ kĩ chỗ này, tách tâm của mình ra ngoài cảm giác, đây gọi là tuệ tri.
Sau khi biết được cảm giác nào đó thuộc cảm giác gì thì chúng ta sẽ nhìn sâu vào bên trong cảm giác ấy. Đức Phật có dạy rất nhiều trong Tương Ưng Thọ, trong cảm giác vui có tham tùy miên – sự ưa thích, ham muốn, dính mắc đi theo miên man trong cảm giác vui. Như vậy, có cảm giác vui là có tham, ái, dục trong đó. Và chúng ta phải tuệ tri – tức là biết bằng trí tuệ, không phải khi vui thì chỉ biết đó là cảm giác vui là xong, mà phải sử dụng trí tuệ để thấy được sự tham ái, dính mắc trong cảm giác vui đó. Ví dụ: một người bưng một ly cà phê sữa lên uống, thấy rất là vui và thích. Nhưng bên cạnh có một người nói rằng trong ly đó có độc tố, hóa chất, dơ bẩn, nên người này lập tức bỏ ly cà phê sữa xuống, không uống nữa. Ví dụ này để chúng ta thấy biết bằng trí tuệ là như thế. Tức là sau khi biết một cảm giác là vui thích, vui sướng, sung sướng, khoan khoái, thích thú thì biết có sự tham ái, chấp thủ bên trong, nên không tiếp tục bưng ly cà phê đó lên uống mà sẽ để xuống. Nghĩa là không có sự cuốn theo, chạy theo, không bị lôi vào nhận chìm trong cảm giác vui sướng đó, đó gọi là tuệ tri.
Sau khi nhận biết được các cảm thọ, chúng ta phải dùng Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý: “Cảm thọ này là vô thường, cảm giác này là vô thường”. Đức Phật dạy rất kĩ trong Tương Ưng Thọ.
Lạc thọ
Thứ nhất, phải quán cảm giác vui là khổ, tại sao vậy? Đức Phật nói rằng kẻ vô văn phàm phu không nghe, không tu tập Chánh Pháp, khi họ cảm giác một cảm giác vui thì giống như người đang bị trói buộc. Vui thì có thích, thích thì có khoái, khoái thì có tham, tham thì có ưa, ưa thì có muốn – dục, tham, ái trong đó. Cảm giác này chỉ một lát sau sẽ tan, chúng ta muốn nó tiếp tục nữa nhưng không được thì mình sầu, bi, khổ, ưu, não vì chúng ta không biết quán tánh sanh diệt của các cảm thọ, cho nên, Đức Phật dạy quán ba loại cảm giác.
Thứ hai, khi có cảm giác khổ, khó chịu, phải nhận thức được đó là một cảm giác và là một cảm giác khó chịu, khổ thọ, không được để cảm giác khó chịu này chi phối, xâm chiếm tâm mình. Khi có một cảm giác khó chịu, bực bội sanh khởi lên thì sân tùy miên có mặt. Sự tức giận, bực bội, khó chịu, sân hận sẽ đi theo miên man ở trong cảm giác khổ thọ. Bằng trí tuệ nhận thức, mình phải thấy biết được. Giống như khi bưng ly cà phê sữa, biết trong đó có hóa chất, có độc thì phải buông xuống, cũng vậy, mình không được đi theo cảm giác sân hận, không tiếp tục cảm giác đó. Khi đó, chúng ta Như Lý Tác Ý bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng sự an tịnh, lắng dịu để hóa giải cảm giác sân và trở về trạng thái an bình, an tịnh, lắng dịu. Đó gọi là biết bằng trí huệ, chứ không phải chỉ rõ biết là đang có cảm giác khổ rồi thôi, như vậy thì khổ vẫn tiếp tục khổ. Vì vậy, phải tác động tâm ý, dùng pháp đối trị, tẩy sạch tâm mình khỏi các chướng ngại pháp. Sân là một chướng ngại pháp trong ngũ cái, nó một một pháp chướng ngại của tâm. Nếu chúng ta đi theo, bị sân xâm chiếm, áp đảo thì cơn sân sẽ thiêu đốt thân tâm, làm khổ mình, khổ người, hại mình, hại người, hành hạ mình, hành hạ người. Chúng ta phải biết nó là độc tố, là chất độc, không được sử dụng nó nữa. Phải tác ý, tìm đủ mọi cách để hóa giải, đi ra khỏi cảm giác đó, như vậy gọi là tuệ tri.
Khổ thọ
Đức Phật dạy, quán cảm giác khổ giống như mũi tên. Mũi tên này đâm vào tim mình, vô cùng đau đớn và rỉ máu. Nếu chúng ta chấp nhận, để cảm giác khổ ở bên trong tâm, tích tụ, chất chứa, nuôi dưỡng nó thì chẳng khác gì tự mình để cho những mũi tên bắn găm vào người, tàn phá thân tâm mình. Cho nên, quán khổ thọ là mũi tên, không được ưa thích nó. Chúng ta không ai thích bị tên bắn hay bị nó ghim vào người, vì vậy, đối với những cảm giác sân hận, bực bội phải lập tức nhổ ra, lập tức mặc áo giáp để ngăn chặn những mũi tên trong cuộc đời này, có rất nhiều mũi tên. Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật nói:
Ta như voi giữa trận,
Hứng chịu cung tên rơi,
Chịu đựng mọi phỉ báng.
Ác giới rất nhiều người.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Voi)
Thế gian có rất nhiều người ác; tham, sân, si đầy rẫy, cho nên cần có một chiếc áo giáp sắt để phòng hộ, phòng bị, bảo vệ, bảo hộ, bảo hiểm. Giống như đội nón bảo hiểm để tránh tai nạn vậy, chúng ta cũng cần có một chiếc áo giáp trước những khổ thọ đến với mình. Nhìn cảm giác khổ như là mũi tên, phải nhổ nó ra, không chấp chứa, nuôi dưỡng cảm giác sân hận, bực bội, khó chịu. Khi giận một ai đó, thì trong tâm chúng ta có được thoải mái, nhẹ nhàng không? Ngồi thiền có được không? Nhìn mặt người đó có dễ chịu không? Chính vì chúng ta khó chịu, sân giận, cho nên khổ thọ như một mũi tên, vô cùng nhức nhối, rỉ máu, đau khổ. Vì vậy, Đức Phật dạy phải quán khổ thọ là mũi tên – những điều này phải nhớ thật kĩ để thực tập. Đức Phật cũng nói, kẻ vô văn phàm phu khi cảm giác một khổ thọ, cũng giống như người đang bị trói buộc. Tại vì, kẻ vô văn phàm phu không biết cảm thọ là cảm thọ, họ cho rằng đó là “tôi đang khó chịu, tôi đang bực bội, tôi đang giận, đừng đụng tới tôi”. Họ đồng hóa họ với cảm thọ đó, không tách ra được khỏi cảm thọ. Cho nên Đa văn Thánh đệ tử là người có phước báu, nhìn thấy được thân tâm, bắt đầu tách mình ra khỏi cảm thọ. Chúng ta tuy chưa tách hoàn toàn được, nhưng mình đã nhìn thấy, đó là lợi lạc, lợi ích của sự tu học quán cảm thọ.
Bất lạc bất khổ thọ
Thứ ba, đối với cảm giác không khổ không vui, bất khổ bất lạc, thường thường, Đức Phật dạy có si tùy miên an trú trong cảm thọ không khổ không vui. Vào buổi sáng, lúc ngồi thiền, thường có cảm thọ này, cảm thọ si xâm chiếm chúng ta rất nhiều lần trong mỗi ngày. Khi lọt vào trạng thái si, vô minh, buông lung phóng dật thì trạng thái chú tâm tỉnh giác, nhiệt tâm tinh cần rất ít, thậm chí, nếu không dự khóa tu, thay vào đó đi chơi thì có khi cả ngày đó sự chánh niệm tỉnh giác, nhiệt tâm tinh cần không còn được bao nhiêu. Chính vì vậy, đừng mới tu được một chút mà tưởng mình tu nhiều. Trạng thái không khổ không vui, đơ đơ, trơ trơ, ngơ ngơ có rất nhiều cấp độ, đến mức hôn trầm thì đã quá nặng nên chúng ta không kể đến, có trường hợp dù vẫn mở con mắt sờ sờ, nhưng không thấy được thọ, tưởng, hành, chỉ thấy một cái thân chần vần đang ngồi, đó cũng là si.
Chúng ta đã học hai bài Chánh niệm tỉnh giác. Thứ nhất là chánh niệm tỉnh giác trong đi, đứng, ngồi, nằm phải rõ biết, chúng ta đã học trên phần Thân Hành Niệm. Thứ hai là chánh niệm tỉnh giác khi thọ, tưởng, hành khởi lên và chấm dứt, tất cả đều phải rõ biết. Có người hỏi “thế nào là nội tâm tỉnh giác” – tức là khi thọ khởi lên và chấm dứt mình phải rõ biết; khi tưởng khởi lên phải rõ biết đó là hình bóng gì, khi tưởng chấm dứt cũng phải rõ biết; khi hành, những suy nghĩ khởi lên phải rõ biết, khi nó chấm dứt phải rõ biết. Như vậy gọi là chánh niệm tỉnh giác. Còn trường hợp vẫn ngồi, mở con mắt chần vần nhưng không thấy được thọ, tưởng, hành thì đó cũng là trạng thái si.
Cho nên, người mới tu, mới học thì thấy tham, sân khó, nhưng tu từ từ, được một thời gian thì ta thấy cái si mới khó. Vì những cái thô có thể dễ phát giác, phát hiện để đánh đuổi, nhưng dần dần đi đến cái si thì hết sức khó thấy, bởi vì khi đó bản thân rơi vào trạng thái si nhưng không biết thì làm sao thấy được. Nhiều khi đi, đứng, nói như vậy nhưng thật ra đang trong trạng thái của si tùy miên.
Cho nên, Đức Phật dạy “phải quán cảm giác si, bất khổ bất lạc, trơ trơ là vô thường”. Ví dụ dễ thấy, Tăng Ni trong chùa cứ sáng dậy ăn cơm, tụng kinh, ngồi thiền, cứ đều đều rồi nghĩ như vậy là tu được, nhưng không phải mà cần phải quán trạng thái đó là vô thường, quán sự bình an đó không tồn tại hoài. Một con rắn có thể làm cho ta chết; một cái vấp chân, trợt ngã có thể làm ta bán thân bất toại; một cái rầm có thể ta sẽ không còn mạng sống này nữa. Phải quán nhiều những tính chất đó để phá cảm giác không khổ không vui. Khi quán như vậy, mình mới nhiệt tâm tinh cần và có sự nỗ lực, tinh tấn, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc mới sanh khởi. Còn nếu cứ trơ trơ thì làm sao Dục Như Ý Túc sanh – tức là mong muốn mạnh mẽ, tiến đến sự tẩy sạch thân tâm, nỗ lực, để tâm, suy nghĩ mọi cách để thành tựu không sanh khởi được.
Như vậy, cứ trú trong trạng thái không khổ không vui, đều đều, trơ trơ thì không thể có Tứ Như Ý Túc, Tứ Chánh Cần; không thế sanh sự tinh cần, tinh tấn. Chính vì vậy, Đức Phật dạy quán cảm thọ không khổ không vui là vô thường, bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra những chuyện bất trắc: máy bay rơi, xe đụng, trượt chân, lên tăng xông. Thậm chí những người bệnh nan y cần phải quán mạnh mẽ, mãnh liệt hơn nữa. Hoặc những người già, lên tới hàng 60, 70 tuổi thì phải quán liên tục, như để củi vào lò lửa, làm cho ngọn lửa nhiệt thành, tinh tấn lúc nào cũng cháy sáng, bừng sáng, tỏa sáng trong thân tâm. Như vậy chúng ta mới không ở trong trạng thái trơ trơ, đơ đơ, đờ đờ, gà mờ; không ở trong trạng thái buông lung phóng dật, buông thả, buông lơi, có như thế mới đi vào sự chú tâm, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực. Từ đó, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ mới phát triển. Cho nên cảm thọ trơ trơ hết sức nguy hiểm. Phải thấy si tùy miên trong cảm thọ không khổ không vui và quán nó là vô thường. Sự nguy hại, nguy hiểm, tác hại nằm trong cảm giác này.
Nhiều khi Minh Thành nói với mấy chú, mấy cô Phật tử ở chùa Bửu Liên, là mỗi lần lên xe, Minh Thành đều không biết có về được tới chùa không. Mấy cô đều hỏi sao Minh Thành nói kỳ vậy, nhưng thật ra điều này không có kỳ, đó là sự thật. Khi lên máy bay, Minh Thành cũng di chúc lại cho Tăng chúng. Mỗi một lần leo lên xe, lên máy bay, đi xuống thuyền là mỗi một lần chúng ta nhìn thấy được sự vô thường, nguy hiểm trong đó. Nếu thường quán, thường nhớ cảm thọ bất khổ bất lạc là vô thường, thường Niệm Tử thì sự tinh cần, tinh tấn sẽ được thắp sáng, được khởi động, được kích hoạt trong thân tâm. Nhờ vậy, chúng ta không dám lơ là, không dám buông lung, không dám phóng dật. Bây giờ đang trong dịch bệnh Covid 19, virut này nó có báo trước: “Tôi là con dịch Corona, tôi sắp sửa tới cô” không? Hay thần chết có báo trước với mình là mấy tháng nữa sẽ tới không? – không ai báo trước cả. Chúng ta đừng nghĩ, khi chết mình sẽ leo lên giường, nằm xuống và tắt thở chết, không có chuyện đó. Ngay cả khi chúng ta quán Chín Giai Đoạn Một Tử Thi cũng là quán theo trình tự bình thường, chứ làm sao ta biết được mình sẽ chết ở đâu, chết khi nào và chết như thế nào. Mình có được chết giống như chín giai đoạn một tử thi không? Có phải tới khi 80 tuổi, leo lên giường nằm, có người hộ niệm rồi mình tắt thở ra đi không? Không ai đảm bảo chắc chắn như vậy được. Cho nên, sự quán vô thường cần phải được thâm nhập, thẩm thấu, chứng nhập dù bất cứ lúc nào thì nó mới phá được cảm giác bất khổ bất lạc, trơ trơ.
Ví dụ, đang nghe pháp mà buồn ngủ, phải tác ý: “Chết! Dịch bệnh tới là chết, tai biến là chết, đi về bị xe đụng chết, mày không không lo tu mà cứ ngủ hoài đi!” Tác ý mạnh như vậy thì con ma ngủ văng ra, chạy mất dép ngay tại chỗ mình ngồi. Phải mạnh mẽ, hùng dũng, đánh thật mạnh vào cảm giác si thì nó mới tan. Còn nói nhỏ nhẹ: “Thôi đừng ngủ nữa nha” thì không nhằm nhò gì đối với nó. Vì vậy, phải mạnh, rút gươm trí huệ trảm sự si mê này, nhất đao lưỡng đoạn, giống như Bao Công trợn mắt, cầm lệnh bài quăng xuống, ra lệnh: “Cẩu đầu đao, trảm!” Quán chiếu sao cho lúc đó thấy Bao Công hiện ra ngay trước mặt mình, xem còn ngủ được nữa không! Có như vậy, chúng ta mới trị được ngủ gục, hôn trầm, trị cảm giác si. Phải dùng thật nhiều hình ảnh chứ không phải chỉ một. Có biết bao cái chết trên đời, cho nên mới gọi là bất trắc, vô thường. Hai chữ Vô Thường này phải thấm vào da, vào thịt, vào xương và vào tủy chứ không phải nói ngoài miệng. Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ giờ nào cũng phải nghĩ nhớ đến vô thường. Ngọn lửa nhỏ có thể sẽ làm cháy căn nhà, buổi tối không có ai, một con mèo nhảy qua ngã đèn, nếu không may có để xăng, để dầu gần đó, thì lửa bắt nhanh là không kịp nhảy ra. Một căn nhà bị chập điện làm cho 5 người trong gia đình chết hết. Bất cứ điều gì cũng phải nhìn ra tính chất vô thường trong đó thì mới phá được cảm giác đơ đơ, trơ trơ, không khổ không vui. Vì vậy, quán cảm thọ rất là sâu sắc, đa diện, nhiều phương diện, khía cạnh.
Cảm thọ thuộc vật chất và không thuộc vật chất
Khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất".
Khi có một cảm giác vui thuộc về vật chất, chúng ta phải biết rõ mình có cảm giác vui thuộc về về chất. Tức là cái vui đó là do ăn ngon, hay do được khen, vui do đi chơi – đó là những cảm giác vui thuộc về vật chất của đời, của thế gian, là cái vui của dục lạc. Khi đó, phải biết đó là cái vui thuộc về vật chất, thuộc về thế gian pháp, thuộc về dục lạc. Sau khi biết như vậy, phải có sự canh chừng, đề phòng thì mới không bị sập bẫy, đạp gai. Vì vậy, phải phân biệt được đâu là vui đạo, đâu là vui đời; đâu là vui thuộc vật chất, đâu là vui không thuộc vật chất; đâu là vui của pháp và đâu là vui của thế tục.
Ví dụ, nghe pháp mà được hỷ lạc, đó là cái vui không thuộc vật chất; ngồi thiền mà được khinh an, nhẹ nhàng khắp thân tâm, cảm thấy hạnh phúc, hoan hỷ, hỷ lạc thì đó là vui không thuộc vật chất. Còn ví dụ buổi sáng được ăn bún riêu, có thêm ly cà phê sữa kế bên nên cười thích thú, đó là cái vui thuộc về vật chất. Phải dùng trí tuệ để phân biệt từng cái vui, làm cho rạch ròi trong tâm mình. Giống như “từ” với “ái”, “pháp lạc” với “dục lạc” rất dễ lẫn lộn, nếu không có Chánh Tri Kiến, không có tuệ tri, thì mình không biết đâu là cái vui đạo, đâu là cái vui đời. Nhiều khi bày ra uống trà, ngồi nói chuyện tam quốc chí, đông tây kim cổ, thấy đã đã, thích thích, vui vui, nhưng đó là cái vui thế tục chứ không phải là trí huệ ly tham. Nếu ngồi bàn về pháp để ly tham đối với ngũ uẩn thì đó mới là vui không thuộc vật chất.
Đối với cảm giác không khổ không vui thuộc về vật chất mình cũng phải biết. Hay cảm giác không khổ không vui không thuộc vật chất mình cũng phải biết. Ví dụ, ngồi thiền mà không khổ không vui, thấy bình thường thì không khổ không vui đó không thuộc vật chất. Nhưng khi ăn một món bình thường, không thấy khoái, thích, cũng không thấy khó chịu thì đó là không khổ, không vui thuộc vật chất. Như vậy, chúng ta phải phân biệt được các cảm thọ.
Cho nên, Đức Thế Tôn được gọi là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc tri giả, kiến giả, bậc thấy biết cùng tột. Những cái không thể thấy, không thể biết, không thể hình dung, tưởng tượng ra được nhưng Đức Phật đều thấy. Tất cả mọi cái trong thân tâm, từng bộ phận cơ thể, từng cảm thọ, từng tưởng, từng hành, từng thức – những thứ đó Đức Phật đều phân tích, chỉ dẫn rành rẽ, tường tận về mọi phương diện, góc độ, khía cạnh, chỉ rõ ra từng thứ thuộc loại nào, như vậy mới gọi là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Không còn một cái gì trong thân tâm mà Đức Phật không biết, không còn một cái gì trong thân tâm mà Đức Phật không thấy, không còn một cái gì trong thân tâm mà Đức Phật không thấu đáo, tường tận, triệt để, tận cùng, viên mãn, trọn vẹn. Cho nên gọi Đức Thế Tôn là bậc tri giả, kiến giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Và bây giờ, chúng ta đang học chỗ thấy biết đó, vì vậy phải thấy hạnh phúc, cố gắng học, cố gắng thực tập để nhận diện cảm giác. Không phải chỉ biết cảm giác là thọ là xong, hoặc giỏi hơn là biết mình đang khổ thọ hay lạc thọ rồi thôi, mà chúng ta cần phải biết và quán.
Ngoại thọ, nội thọ
Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ…
Tức là những cảm giác bên ngoài đưa đến và những cảm giác bên trong mình đều phải thấy được.
Ngoại thọ, những cảm giác bên ngoài đưa đến tức là ví dụ như nhìn thấy cảnh đẹp thì mình muốn có một tấm hình lưu lại. Nghe một bài nhạc hay, thấy thích thì muốn có bài nhạc đó để về nghe, chẳng những thích ngay tại chỗ đó mà còn muốn kiếm tìm, để dành – ái và thủ đi theo nhau, ưa thích thì muốn nắm giữ. Hoặc là ăn một món ngon, mình thích, muốn sau này được ăn nữa. Rồi những sự xúc chạm êm ái, làm cho dính mắc, ràng buộc suốt cả cuộc đời: vợ chồng, tình cảm nam nữ. Đó là những cái bên ngoài, ngoại thọ, cảm giác do bên ngoài đưa đến.
Nội thọ, là khi ngồi một mình, nhưng hình bóng của người mình giận, mình ghét hiện ra trong tâm, lúc đó có cảm thọ gì thì đó là nội thọ. Khi tụng Tứ Niệm Xứ, học pháp, không có tiếp xúc với bên ngoài, nhưng thân tâm mình có hiện lên những cảm giác, thì chúng ta phải biết đó là nội thọ. Hoặc khi ở một mình, chúng ta nhớ đến những người thương yêu, nhớ đến cha mẹ, anh em, chồng vợ, bạn bè. Hình bóng của người đó hiện ra, bên trong mình sẽ có cảm giác sanh khởi, hoặc là khổ, hoặc là lạc, tùy theo điều mình suy nghĩ và tưởng. Đó thuộc về nội thọ, những cảm giác bên trong. Biết được cảm thọ nào đó thuộc cảm thọ gì, trong cảm thọ đó có cái gì, nó thuộc cảm thọ bên trong hay bên ngoài, và phải dùng cái gì để trị nó thì đó chính là tuệ tri. Lúc trước, mình là vô văn phàm phu, cứ vào lạy Phật, cầu Phật độ cho mau giải thoát trong khi chúng ta không thấy, không biết nguyên nhân làm cho mình khổ. Vì vậy, sự tu đúng khác với sự tu không đúng là ở chỗ đó, khi nhìn lại, ta thấy cả một sự vận hành bên trong.
Sự sanh diệt các cảm thọ
Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ.
Cảm thọ này vô cùng ghê gớm, khủng khiếp. Chỉ một câu nói trên điện thoại là có thể làm ta bực lên, phừng lên, đùng đùng lên, cháy lên, tam bành lục tặc nổi lên. Và cũng trong cuộc điện thoại đó, khi buông xuống là nằm một chỗ, đi không nổi, ngồi không nổi, ngã bệnh. Ví dụ, ở ngoài đời, chuyện tình yêu nam nữ kết thúc, nói từ đây về sau sẽ chấm dứt, nghe xong buông điện thoại xuống nằm và bệnh luôn. Hoặc hẹn gặp nhau đi chơi là phấn khởi, phơi phới, giống như lên trời lên mây. Cảm thọ khủng khiếp, ghê gớm như vậy, tất cả đời sống của chúng sanh đều nằm trong đó chứ không phải là gì khác, nó bao trùm cả thế và xuất thế gian. Thật sự hết sức khủng khiếp, ghê gớm đối với cái xúc, cái thọ này. Cho nên phải cẩn thận, phải nhìn, phải quán thọ trên các cảm thọ.
Chữ “quán” tức là nhìn kĩ, nhìn sâu, nhìn rõ, nhìn đầy đủ tất cả mọi khía cạnh, phương diện, góc độ trong, ngoài, trên, dưới, trước, sau và dùng những cách thức, phương pháp để trị các cảm thọ. Phải sử dụng tất cả bùa phép, công lực, khả năng vốn có của mình để đem ra đánh với các cảm thọ, như vậy mới thật là chân tu, là hành giả của Tứ Niệm Xứ. Tuy thấy mình đang ngồi yên nhưng bên trong là nội chiến, một trận chiến oanh liệt đang diễn ra trên bồ đoàn, trên tọa cụ. Thấy đang ngồi yên nhưng bên trong đang tả xung hữu đột, Bát Quái Trận của giặc đưa ra thì dùng Bát Chánh Đạo tung chưởng, thấy Tà Kiến thì dùng Chánh Kiến để trị, thấy Tà Tư Duy sanh khởi thì dùng Chánh Tư Duy đánh phá. Như vậy mới gọi là dũng sĩ, chiến sĩ và quyết định dù cho có trở thành liệt sĩ cũng được, để từ đó mình đi theo đấng Vô Thượng Sĩ. Quyết tâm phải đi theo, phải có sự mạnh mẽ. Còn lên ngồi thiền mà đầu gục xuống, mắt nhắm sụp lại dù kêu mở ra, thì coi như xong, mới ra trận đã thấy thua, không có người lính nào ra trận mà lê thân, đi không nổi. Lên bồ đoàn cũng như ra trận, phải oai hùng, mạnh mẽ, sáp lá cà. Minh Thành thấy có những vị lên ngồi thiền, Như Lý Tác Ý đến nổi mặt mày bặm trợn lên, đó là những người có sự nỗ lực, để tâm hành trì.
Như vậy, phải quán sự sanh khởi và đoạn diệt của các cảm thọ. Khi sân lên, lát sau cũng dịu xuống; khoái, muốn, thích lên rồi một hồi cũng hết. Tuy nhiên, cảm thọ này rất ghê gớm, nhiều cảm giác để lại trong lòng 5 năm, 10 năm, 20 năm nhưng vẫn không xóa nhòa được, có những cảm giác theo suốt cả cuộc đời. Thế nên Đức Phật mới nói kẻ vô văn phàm phu cảm thọ một cảm giác khổ giống như người bị trói buộc; cảm thọ một cảm giác vui cũng giống như người bị trói buộc; cảm thọ một cảm giác không khổ không vui thì cũng giống như người bị trói buộc – cảm thọ nào cũng đều bị trói.
Chúng ta là những kẻ bị trói cột trong tất cả những cảm thọ, nếu không chánh quán cảm thọ, không hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm, không hướng đến chỗ không dính mắc với bất cứ vật gì trên đời thì chúng ta sẽ trở thành người bị trói buộc trong tất cả các cảm thọ. Do đó, phải nhìn tánh sanh khởi và diệt tận của các cảm thọ, xem nó khởi lên, vận hành, biến đổi như thế nào và sau đó lắng xuống, chấm dứt ra làm sao. Chúng ta phải để ý nhìn chuỗi vận hành của các cảm thọ. Cho nên, lúc phiền não, giận ai thì phải ngồi thiền để nhìn lại bên trong xem thọ, tưởng, hành vận hành thế nào. Nhìn để xem một bộ phim dài vô số tập, cứ làm tới làm lui, cứ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, cứ giận, thương, ghét, buồn, đúng, sai, hay, dở hoài mà không chán. Đó là những vở tuồng mà ngũ uẩn đã dựng lên. Cứ tham, dục, ái rồi sân si, bản ngã,…lòng vòng như vậy hết người này đến người kia, hết người kia tới người nọ, hết chỗ này tới chỗ kia. Người nào cũng lê lết, vác tấm thân đi khắp nơi, nhưng đến đâu cũng tham, sân, si, bản ngã, vào chùa cũng sân, cũng bản ngã rồi lại khổ.
"Có thọ đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.
Luôn luôn trong tâm là sự ước vọng, hy vọng, ước muốn, hướng tới đạt được chánh trí huệ. Thường thường tác ý, tác động tâm ý của mình như vậy. Trong bài kinh “Vực Thẳm”, Đức Phật nói với các Tỷ-kheo rằng kẻ vô văn phàm phu nói ở giữa biển lớn, có vực thẳm, nhưng Ngài không nói như vậy. Trong Pháp và Luật của Như Lai cảm giác khó chịu, đau khổ mới là vực thẳm của kẻ vô văn phàm phu. Cho nên, khi có cảm giác khó chịu phải xem chừng mình bị lọt xuống vực, rơi xuống hố, lọt xuống đèo. Khi một cảm giác khổ thọ, sân hận, bản ngã, hơn thua sanh khởi, xâm chiếm tâm mình thì lập tức niệm lên: “Vực thẳm, vực thẳm, vực thẳm! Đây là vực thẳm trong Pháp và Luật của Như Lai” để mình thoát ra khỏi vực thẳm đó.
Tất cả thọ đều nằm trong đau khổ
Có một câu khiến Minh Thành hết sức rúng động và chấn động thân tâm:
“Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả các cảm thọ đều nằm trong đau khổ.”
Câu này có thể làm rúng động địa cầu, chấn động thế giới. Đây là một Thánh trí thâm sâu, cùng cực, chỉ có bậc Thế Tôn, Như Lai mới tuyên bố được sự thật này – sự thật giải mã được tất cả thế giới.
Những cảm thọ chúng ta từng vui sướng, ưa thích, bây giờ nhớ lại ta có tiếc nuối, muốn lưu giữ, ái luyến nó không? Chắc chắc có! Ví dụ đơn giản: khi người thân thương nhất ra đi, chúng ta nhớ lại những hình ảnh, những cảm giác lúc xưa, nhìn chỗ người đó ăn cơm, hay nhìn căn phòng, chiếc giường mà người đó nằm ngủ, nhìn lại những kỷ niệm êm đẹp ngày xưa nhưng bây giờ tất cả trở thành dòng nước mắt, trở thành niềm xót xa, sự tiếc nuối. Đó chính là lạc thọ của quá khứ trở thành khổ thọ của hiện tại, cho nên cảm thọ là vô thường. Chính vì vậy, Đức Phật dạy quán quán lạc thọ là khổ, vì chính lạc thọ làm cho chúng ta dính mắc, chấp vào đó, rồi trở thành đau khổ. Tất cả cảm thọ, dù cho là lạc thọ, thì sau đó cũng là nước mắt, là sự ái luyến, tiếc nuối, hối hận, khát khao. Lạc thọ mà còn như vậy thì đừng nói chi là khổ thọ. Cảm giác vui sướng mà còn đem lại sự đau khổ thì cảm giác đau khổ làm sao có thể đem được lại sự vui sướng. Chúng ta nhìn kỹ lại sẽ thấy rằng: những điều làm cho mình đau khổ nhất cũng chính là những điều đã từng làm cho mình vui sướng nhất. Đây là một sự thật phũ phàng, sâu sắc mà Đức Phật đã phơi bày.
Tại sao càng yêu thì sau này lại càng hận?
Tại sao càng thương thì sau này lại càng ghét?
Tại sao bạn càng thân thì sau này lại trở thành thù?
Đó là sự vô thường, biến đổi của các cảm thọ; sự tan biến và hoại diệt của tất cả các cảm xúc, cảm giác. Tất cả mọi cảm giác đều ở trong sự biến động, biến chuyển, biến đổi, biến hoại. Không có bất cứ một cảm thọ nào có thể đứng vững được. Không có bất cứ một cảm giác nào có thể duy trì được hoài. Tại vì bản tánh của nó là như vậy, bản chất của nó là như vậy, không thể vượt khỏi bản chất ấy, bản tánh đó. Làm sao có thể mong rằng các cảm thọ có thể tồn tại mãi mãi, dài lâu.
Lúc Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên nhập Niết-bàn, đệ tử các Ngài ôm y bát, Ngài A Nan khóc sướt mướt, vào trình với Đức Thế Tôn. Đức Phật mới nói
-Làm sao có thể để cho các pháp hữu vi, vô thường này tồn tại hoài không biến đổi, điều đó không thể xảy ra. Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có đem Thánh Giới Uẩn ra đi hay không?
-Bạch Thế Tôn, không.
- Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có đem Thánh Định Uẩn ra đi hay không?
-Bạch Thế Tôn, không.
-Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên có đem Thánh Tuệ Uẩn, Thánh Giải Thoát Uẩn, Giải Thoát Tri Kiến Uẩn đi theo hay không?
-Bạch Thế Tôn, không.
Đức Thế Tôn mới nói:
-Hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình thắp đuốc cho chính mình, với Chánh Pháp.
Phải nhìn ra được các cảm thọ, các pháp hữu vi, sự biến động vô thường đó để khi tất cả mọi điều xảy đến chúng ta đều có được tâm bình an.
Đức Thế Tôn nói:
-Thật là hy hữu, thật là hiếm có, thật là kỳ lạ, này A Nan Đa, hai vị tướng quân của Chánh Pháp, đại đệ tử của Như Lai diệt độ, nhưng Như Lai không buồn khổ.
Tức là tâm của Như Lai là bất động tâm giải thoát.
Lần đầu tiên lúc Minh Thành nhập thất trên rừng, khi nghe câu: “Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả các cảm thọ đều nằm trong đau khổ” thật sự Minh Thành giật mình. Minh Thành nghĩ như vậy thì tất cả mọi thứ đều là khổ, nói như thế thì có bi quan không? Nhưng khi tu tập từ từ cho đến sau này, Minh Thành mới thấy câu này làm rúng động cả thân tâm, nổi gai ốc toàn thân từ đầu đến chân, chấn động khắp tứ chi, ngũ tạng, lục phủ. Chính vì vậy, chúng ta mới tu để xuất ly các cảm thọ. Do sự nguy hiểm và tác hại của các cảm thọ, một khi mình đam mê, dính mắc, tham ái vào đó thì sẽ dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Dính mắc vào bất cứ cảm thọ nào thì mình cũng đều đau khổ. Cảm thọ lạc khi dính mắc vào cũng là đau khổ thì cảm thọ khổ làm sao đưa đến hạnh phúc. Còn cảm thọ không khổ không lạc cũng là vô thường, không có như vậy hoài hoài, mãi mãi. Thế nên, nếu mất việc, mất nhà, mất chức, mất tài sản hiểu được đó đều là vô thường, cho đến chỗ mất thân mạng cũng hiểu được nó vô thường và bình thản ra đi.
Vị đệ tử đức Phật,
Ðịnh, tỉnh giác, chánh niệm,
Hiểu rõ ràng các thọ,
Và xuất ly các thọ.
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Tỷ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh.
***
Lạc thọ hay khổ thọ,
Cùng bất khổ bất lạc,
Nội thọ và ngoại thọ,
Phàm có cảm thọ gì.
Biết được: "Ðây là khổ",
Hư ngụy và biến hoại,
Thấy xúc, xúc biến diệt,
Ở đây, sống ly tham.
***
Nếu cảm giác lạc thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi tham tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
Nếu cảm giác khổ thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi sân tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
Với bất khổ bất lạc,
Bậc Ðại trí thuyết giảng,
Nếu hoan hỷ thọ ấy,
Không thoát được khổ đau.
Vị Tỷ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh giác, không cuồng trí,
Ðối với tất cả thọ,
Bậc Hiền trí liễu tri.
Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Thân hoại, bậc Pháp trú
Ðại trí vượt ước lường.
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f) Phần IV. Năm Mươi Kinh Thứ Tư, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần I. Phẩm Có Kệ)
Vị ấy thấu suốt tất cả mọi cảm thọ, hiện tại không còn lậu hoặc nữa, khi thân hoại mạng chung, vị ấy trở thành bậc Pháp trú – an trú trong Thánh Pháp. “Ðại trí vượt ước lường” – đó là bậc đại trí huệ, vượt qua tất cả mọi sự suy tư, lường xét của chúng sanh.
Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ
Người tu phải luôn luôn để ý các cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của mình và tập làm chủ cảm thọ, đừng để nó làm chủ. Phải tập nhìn ngó, dò xét, kiểm soát cảm thọ. Chúng ta thấy rằng, các tưởng – hình bóng mập mờ, hiện lên rồi cũng mất đi; hành – lời nói lầm thầm, suy nghĩ một hồi cũng sẽ quên, nhưng cảm thọ, cảm giác thì rất khó quên. Đức Phật nói: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm giác”, cho nên, muốn thấy tâm mình hiện tại như thế nào, cần phải nhìn vào cảm thọ, vì các pháp trong đó sẽ hiện ra. Tham, sân, si, dục, ái, bản ngã sẽ thấy được liền ngay trong cảm thọ khi cảm thọ biến động.
Các tưởng của mình thì người khác không nhìn thấy được; hoặc ta đang suy nghĩ về điều gì thì người khác cũng không đọc được, nhưng cảm xúc của chúng ta thì người khác nhìn thấy được. Đây là chỗ hết sức sâu sắc, thọ uẩn gắn liền thân và tâm, nên có chỗ biểu hiện ở trên thân, tuy thọ uẩn thuộc về phần tâm nhưng nó lại biểu hiện trên thân. Khi chúng ta đang có cảm thọ dễ chịu thì người khác nhìn vào sẽ biết đang lạc thọ; hoặc khi mình có cảm thọ sân, khó chịu thì người ta cũng biết; hoặc ta đang ở trong trạng thái si si, đơ đơ thì người ngoài nhìn vào cũng sẽ biết. Cho nên tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, Thánh hay Phàm là do nơi cảm thọ này.
Trong sự tu, chúng ta thấy đạo tràng thường hay khóc, xúc động, tức là các cảm thọ của thiện pháp được khơi nguồn và bắt đầu khai mở. Vì thế, đừng sợ khóc, cứ để sự xúc động vì thiện pháp tuôn trào, đó là những giọt nước mắt của hạnh phúc, của trí huệ, của từ tâm, những giọt nước mắt của sự thấu hiểu, chạm tới sự thật, chạm tới chân lý, chạm tới Thánh trí tuệ. Cho nên tu học sao cho phải điêu luyện, nhuần nhuyễn về cảm thọ. Có những suy nghĩ trôi qua mình đã quên, có những hình bóng không còn nữa, nhưng có những cảm giác đi theo ta suốt đời. Vì vậy, Đức Phật nói cảm thọ là chỗ tích tụ của tất cả pháp, là kho tàng của tâm thức.
Cảm thọ gắn liền thân và tâm, có hiểu hiện trên thân. Đó là tại sao phải tu cảm giác toàn thân, phải hiểu rằng khi mới bắt đầu vào tu cần thực tập cảm giác toàn thân là để nhìn thấy các cảm thọ, biết các cảm thọ và nhiếp phục các cảm thọ. Ví dụ: khi sân, ta thấy lồng ngực nóng lên, gương mặt đổi màu, lỗ tai đỏ lên; khi si, đầu nặng, mắt sụp; tham dục là ở tại chỗ phát dục phát khởi lên. Như vậy, tham, sân, si đều có chỗ biểu hiện trên thân. Cho nên khi tác ý, chúng ta hướng vào ngay chỗ biểu hiện để tác ý. Tác ý về dục là ta hướng tâm thẳng ngay chỗ về dục để tác ý đánh đuổi thì nó sẽ lắng dịu. Tác ý về sân thì mình hướng ngay vào chỗ lồng ngực đang nóng rực để tác ý, làm cho nó an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, rồi mình sẽ thấy nó tan dần dần ra, giống như viên “thuốc sủi, bỏ vào nước sôi thì nó tan ra. Khi dùng từ tâm để trị liệu, chuyển hóa thì mình sẽ thấy được kết quả ngay lập tức, đó mới gọi là “hiệu quả tức thời”. Khi đó, tự nhiên lồng ngực mình mở ra, nhẹ ra, an tịnh, trở nên nhẹ nhàng, bình thường, như vậy là hóa giải được sân. Về si, ta đánh vào chỗ si làm sao cho cái đầu và hai con mắt bừng tỉnh, minh mẫn, sáng suốt trở lại, khối cảm giác đè nặng, si ám tan biến mất. Đó chính là phá được tham, sân, si.
Chăm sóc cảm thọ
Như vậy, chúng ta cần phải hết sức để tâm vào sự tu tập các cảm thọ. “Thương thọ nhiều nha thọ” – cảm thọ này phải được thương, được chăm sóc. Chính cảm thọ này tàn phá, làm cho mình khổ. Giống như mình bỏ củi, đốt lửa bên dưới thì nồi nước phía trên sôi ùn ục, nắp văng bật ra, nước và bọt trào ra. Cũng vậy, những cảm thọ tích tụ trong nhiều kiếp, nằm sâu thẳm ở dưới một lớp rất sâu và nung lên, giống các nhà địa chất khoan sâu vào lòng đất, và những nghĩ tưởng, những hình bóng hiện lên là tự sự thúc giục bên dưới của các cảm thọ. Từ cảm thọ thô, dần dần mình đi tới cảm thọ vừa và dần dần chúng ta sẽ thấy đến những cảm thọ tế ở phía dưới. Sau đó, dùng từ tâm, dùng trí huệ để mình huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, rèn luyện thọ, tưởng, hành, thức này. Nhiều khi chúng ta nói mình làm việc nào đó là tốt, là thiện nhưng tu ngũ uẩn rồi thì mình mới thấy sâu trong đó có những cái chưa thiện. Không phải mình nói thiện là điều đó hoàn toàn thiện. Cho nên, phải “Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ – Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm”. Phải chăm sóc cảm thọ, cảm giác, cảm xúc này, chính nó tàn phá, tàn hại mình, cảm thọ này hết sức tàn bạo. Nếu không có chánh kiến dẫn dắt, khi ngồi lại, toàn nói những chuyện làm đau khổ mình, đau khổ người, khơi lên những cảm xúc gươm giáo, súng ống, đạn dược, cung tên, lưỡi đao. Do không chăm sóc các cảm thọ nên trong tâm mình đầy rẫy những thương tích. Đức Phật có nói trong Tăng Chi Bộ tập I, bài kinh “Vết thương làm mủ”:
Thứ nhất, tâm của kẻ vô văn phàm phu giống như vết thương. Chúng ta đều đang bị tâm bệnh rất nặng, tâm của mình như một vết thương, ai chạm tới là nó giật lên, sừng sộ, sân hận, bực bội, cáu gắt, khó chịu.
Thứ hai, tâm của người thấy pháp là ánh chớp, người này thấy tất cả các cảm thọ đều nằm trong đau khổ. Người có chánh kiến, thấy đúng sự thật về thân tâm, Đức Phật nói tâm này như ánh chớp, lóe lên ánh sáng.
Thứ ba, tâm của bậc diệt tận các lậu hoặc, A-la-hán là tâm như kim cương.
Như vậy, tâm như vết thương cần được chăm sóc rất nhiều. Chúng ta đã chăm sóc vết thương trong những ngày qua ở khóa tu, điều trị cho nó được đỡ đau, đỡ bệnh. Tâm như vết thương cần có y tá, người điều dưỡng, dược sĩ và bác sĩ trị bệnh. Cho nên, chúng ta tu tập là đang chăm sóc cảm thọ của mình. Chúng ta phải lo quán chiếu, nghe pháp, thực hành cho thẩm thấu để nhìn thấy vết thương rồi điều trị. Đừng cứ ngồi trách móc, khơi lên, gợi ra, bới lên những tham, sân, si để khổ rồi than khổ, nhưng mình cứ tự làm khổ, cứ kiếm chuyện, gây chuyện, sanh sự để mà khổ. Vì vậy, phải luôn luôn chăm sóc cảm thọ, nhắc cảm thọ: “An tịnh nha, lắng dịu nha, dễ chịu nha, dễ thương nha, ngọt ngào nha. Đừng làm khổ mình, khổ người; đừng hành hạ mình, hành hạ người; đừng hành xác mình, hành xác người; đừng hành tội mình, hành tội người nữa. Tu hành thì được. Đừng hành hạ, hành tội, hành xác mà hãy lo hành trì đi.” Hãy nói với cảm thọ sân si, bản ngã như vậy. Cho nên, chúng ta phải nhớ, sự tác ý là tuyệt đối quan trọng, “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Nếu mình không tác ý thì cảm thọ vẫn cứ là một đống trơ trơ, biết thì biết nhưng nó vẫn như vậy. Phải tác ý và nuôi lớn tâm từ thật nhiều. Từ tâm an tịnh lắng dịu sẽ đi đến tâm hiền; từ tâm hiền sẽ đi đến tâm từ; tâm từ vững chắc sẽ trở thành căn cứ địa, thành quách vững trú, kiên trú và vững chắc trong tâm. Lúc đó cảm thọ của mình mới trở thành một cảm thọ vi diệu, tuyệt vời, lúc nào chúng ta cũng ở trong trạng thái nhẹ nhàng, từ tâm, từ ái, an lạc.
Cho nên, phải để ý, nhận diện, chăm sóc và điều trị các cảm thọ rồi chúng ta sẽ thấy cảm thọ của mình ngọt ngào, sâu lắng, dễ chịu, dễ thương, đối với mọi chuyện trên đời đều dễ dàng chấp nhận. Mọi chuyện sao cũng được, muốn hơn muốn thua gì cũng được, có ai ở đây đâu mà tranh hơn tranh thua, có ai ở đây đâu mà nhân ngã, có ai ở đây đâu mà bỉ thử, ta đây. Có ai đâu ngoài bộ xương này; có ai đâu ngoài những đống tham, sân, si, bản ngã ngày đêm rầm rầm, âm ỉ vận hành; có ai đâu ngoài những đống đau khổ, sầu, bi, ưu, não tích tụ và chất chứa; có ai đâu ngoài những ngọn lửa của vô minh, tham ái ngày đêm được bỏ củi, bỏ nguyên liệu vào để đốt cháy lên. Người tu chúng ta sẽ là người lấy tất cả những nguyên liệu ra, không bỏ củi vào nữa, mà phải dập tắt ngọn lửa của vô minh, tham ái từ từ cho đến lúc hoàn toàn được mát lạnh, thanh lương và tịch tịnh. Đó là mục đích cứu cánh tối thượng của người tu./.