Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 5 - Ái Là Người Dệt Vải

2026-03-03 00:54:36
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 5

Ái Là Người Dệt Vải

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Xúc PAGEREF _Toc141967324 \h 1

II. Người bị hại PAGEREF _Toc141967325 \h 3

III. Quá khứ - tương lai PAGEREF _Toc141967326 \h 4

IV. Khổ - lạc PAGEREF _Toc141967327 \h 6

V. Danh – sắc PAGEREF _Toc141967328 \h 8

VI. Chặt đứt ái PAGEREF _Toc141967329 \h 11

I. Xúc

“Ai biết hai cực đoan,

Giữa bậc Trí không nhiễm,

Ta gọi bậc Ðại nhân,

Ðây, vượt người dệt vải.

Thưa Hiền giả, thế nào là một cực đoan? Thế nào là cực đoan thứ hai? Thế nào là chặng giữa? Thế nào là người dệt vải?”

(Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, VII. Con Đường Đi Đến Bờ Bên Kia).

“Ðược nói vậy, một Tỳ-kheo thưa với các Tỳ-kheo trưởng lão:

- Thưa chư Hiền, xúc là một cực đoan. Xúc tập khởi là cực đoan thứ hai. Xúc diệt là chặng giữa. Ái là người thợ dệt; vì rằng ái dệt, nên khiến cho vị ấy phải sanh ở hữu này. Cho đến như vậy, thưa chư Hiền, Tỳ-kheo thắng tri được điều có thể thắng tri, liễu tri được điều có thể liễu tri. Do thắng tri được điều có thể thắng tri, do liễu tri được điều có thể liễu tri, ngay trong hiện tại, vị ấy có thể chấm dứt khổ đau.”

Những câu kinh này rất sâu. Không phải đọc mà hiểu được liền. Không có tuệ quán, không có thiền quán, không có chánh tư duy là mình không hiểu nổi. Sự tiếp xúc, và từ đâu có sự tiếp xúc? Từ danh sắc: Sắc là sắc uẩn, danh là thọ; tưởng; tư; xúc và tác ý. Từ chỗ danh sắc này có xúc, rồi xúc tập khởi và xúc đoạn diệt. Nhưng trong tất cả cái đó thì ái là người thợ dệt. Mình học bao nhiêu bài kinh, bao nhiêu những pháp ngữ của Phật rồi cuối cùng chỗ thống soái cho tất cả phiền não đó có tham ái. Nhớ điều này, đó là người thợ để dệt ra tấm vải của luân hồi.

Người dệt ra tấm vải đó là ái, ái là người thợ dệt. Thấy được người thợ dệt đó và không cho nó tiếp tục dệt nữa. Hàng ngày mình không khéo đi tu rồi nhưng lại đổi nghề làm người thợ dệt. Ba giờ rưỡi chuông reng mà vẫn trùm mền, tức là xúc trong mền. Chỗ xúc trong đó nó có cái ái. Lúc Minh Thành bên Đài Loan có những chùa buổi tối đánh kiểng thức chúng không giống như mình đứng một chỗ đánh.

Vì chùa rất rộng, có nhiều phòng nên người trực phải cầm cái bảng đi hết chùa đánh, phải 15 phút mới xong. Tại vì sợ cái xúc này nó ái. Bên Nepal chuông để đánh thức buổi sáng chừng 5 - 10 phút mới xong chứ không phải như bên mình đánh 2-3 tiếng rồi nằm đó luôn. Chuông rất lớn, đánh vang khắp một vùng, mà đánh hoài cho tỉnh.

Còn ở mình, nhất là trên Đà Lạt, trời lạnh ngủ nhiều nữa. Đó cái xúc, cái ái nó dệt ở trong mền, dệt ở trên cái giường. Rồi sáng ra ăn sáng, nó dệt trong chỗ ăn, trong cái mặc cũng có cái dệt trong cái mặc. Lúc đó trong thiền viện có nhiều chuyện cũng vui lắm. Lúc Minh Thành còn ở trong thiền viện, mấy thầy ra đón Hòa Thượng Trúc Lâm đi Hoằng Pháp về. Hai hàng Tăng- Ni đứng hai bên, lúc đó có 1 thầy đứng xoa mặt hoài, hỏi ra mới biết là xoa cho mặt hồng hào mà không biết lúc đó mình đang dệt. lúc đó mình là người thợ dệt. Cái gì trong đó mình có nhìn được không?

Mình nhìn thì nó bình thường nhưng nếu nhìn sâu vô là cái tham ái nó sâu xa lắm. Nếu để ý thì từ sáng mà mình mở mắt ra cho tới tối mình lên giường mà không khéo chánh niệm tỉnh giác bằng trí huệ là nó dệt liên tục như vậy. Đừng có nói nó nhắm mắt mà nó không dệt, nó không có nghỉ làm đâu. Ngủ chiêm bao nó dệt tiếp tục và có khi nó để lại cái hậu quả khôn lường trong giấc mộng.

Cho nên nhiều khi thức dậy rồi nước mắt chảy ướt gối vậy trong chiêm bao đó có ái trong đó không? Có dệt trong đó không? Ghê gớm như vậy đó. Vậy thì làm sao để mình thấy ra được người dệt vải nay? Từ ở nhà mình dắt chiếc xe chạy tới trường thì xem chỗ đó nó có dệt hay không? Đường mình đi mình thấy người này người nọ người kia, nhìn thấy mấy chiếc xe đời mới. Hằng ngày mình tiếp xúc cái ăn, cái mặc của mình, tiếp xúc người này, người kia bao nhiêu thứ, hay là đi mọi nơi có món ngon vật lạ, những đồ quý thì mình coi có thợ dệt đó có đang dệt trong tâm mình không? Rất là sâu sắc. Đừng nghĩ chuyện tu là đơn giản.

Trong cái ngủ, trong cái ăn, trong cái mặc của mình, trong cái đi của mình, thậm chí chỗ ngồi của mình nó cũng dệt ngay chỗ đó luôn, có ai vô ngồi chỗ tụng kinh trên chính điện mà không khéo cũng đóng gông chỗ đó luôn. Ái và thủ chỗ nào nó cũng có mặt mà mình đâu có thấy, mình cứ đều đều, mình nghĩ "Mình tu vậy cũng ngon rồi, tu vậy cũng được rồi". Thực chất nó dệt suốt ngày suốt đêm mà mình không biết.

Ví dụ giờ mình được sư phụ khen hiền lành, ngoan, siêng năng. Lúc mình được khen thì coi nó có đang dệt trong nội tâm mình không? Khi mình được, khi mình mất mà thấy có mình ở trong đó thì lúc đó nó đã dệt rồi. Nó dệt ra một cuộn vải 60kg. Nên từ đỉnh đầu đến gót chân không chỗ nào là không có tham ái. Mình phải khéo dùng chánh trí để quán chiếu mới thấy được, mới nhận diện được tham ái ở trong nội tâm của mình, khi mình nói chuyện mình phải chánh niệm tỉnh giác kiểm tra trong cảm giác mình như thế nào. Ở trong đó có ái không, có bản ngã ở trong đó không.

Luôn luôn phải tinh anh, phải sáng tỏ, ba pháp phải được thực hiện thường trực liên tục, không được quên ba pháp. Phải luôn luôn thấy cho rõ chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, và nội tâm tỉnh giác. Phải luôn luôn nhìn nhận diện ở trong cái cảm giác của mình. Cảm giác nó trú ẩn trong đó, ái trong đó.

II. Người bị hại

“Và người khác không biết,

Chúng ta đây bị hại.

Chỗ ấy, ai hiểu được

Tranh luận được lắng êm.”

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song Yếu)

Tại sao có những cuộc tranh luận? Tại người đó không biết là người đó đang bị tham nó hại, đang bị ái dục nó hại. Bị hại bằng cách nào? Đang dệt ra tấm vải của sanh tử. Đang dệt lên tấm vải sanh ở hữu này. Chữ hữu là sự hiện hữu, tiếp tục cho đời sau. Tiếp tục đi vào bào thai. Tiếp tục tái tạo ra những cái thân tứ đại và Ngũ Uẩn. Tiếp tục sản xuất ra sản phẩm của tham sân si và bản ngã. Cho nên mình phải thắng tri những điều có thể thắng tri liễu tri được những điều có thể liễu tri. Nhớ chữ thắng tri, liễu tri là một cái thấy biết t triệt để bằng trí tuệ, ngay ở trong hiện tại này vị ấy có thể chấm dứt được khổ đau. Khi thấy được người dệt vải, nó tiếp tục dệt trong luân hồi sanh tử thì mình không cho nó dệt nữa thì lúc đó mới chấm dứt được khổ đau.

III. Quá khứ - tương lai

“Ðược nói vậy, một Tỳ-kheo khác thưa với các Tỳ-kheo trưởng lão:

Quá khứ, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Tương lai là cực đoan thứ hai. Hiện tại là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt, nên khiến cho vị ấy phải sanh ở hữu này. Cho đến như vậy, thưa chư Hiền, Tỷ-kheo thắng tri được điều có thể thắng tri... vị ấy có thể chấm dứt khổ đau.”

Như vậy cái gì làm cho mình đau khổ lúc xưa, bây giờ và mai sau? Chính là ái. Ái nó dệt quá khứ, hiện tại, vị lai này. Nên mình ngồi lại là mình nhớ chuyện xưa. Động lực trong cái nhớ này là tham ái. Khi ngồi lại thì hình bóng những cái gì mình yêu thích từ xưa tới giờ nó hiện ra, những lời nói trong quá khứ là thanh tưởng sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng hiện về giống như quay bộ phim. Cái ái nó đang dệt vải, nó nghĩ trong tương lai mình sẽ như vậy, hiện tại mình đã là vậy, tương lai mình sẽ là vậy. Vậy là mình yêu thích cái tôi và cái của tôi. Mình mong muốn mình sẽ trở như vậy thì chính cái đó là cái đang dệt. Cho nên:

Này các Tỳ-kheo đừng có suy nghĩ gì về quá khứ. Đừng có suy nghĩ gì về tương lai. Đừng có suy nghĩ gì từ hiện tại.

Lúc đó chánh niệm tỉnh giác của mình thấy rõ Năm Uẩn. Thấy rõ tứ đại trong đó nó đang vận hành, không có quá khứ, hiện tại, vị lai mà thấy rõ Năm Uẩn nó đang vận hành. Mình mới thoát ra được sự tham ái và chấp thủ bám chặt vào trong cái ảo tưởng về cái tôi. Chỗ này, mình ngồi thiền định một mình phải nhìn cho được, nhận diện được các pháp. Tự nhiên ngồi một mình nó hiện hình ảnh mình đi Vũng Tàu với bạn vui quá, nó hiện những lời nói, những cảnh đó lên, lúc đó là quá khứ. Rồi nghĩ ba ngày nữa mình đi Đà Lạt, lên Linh Quy Pháp Ấn, lúc lên đó mình sẽ làm gì thì tất cả những cái đó đâu có thật. Tất cả cái đó là ái trong đó, yêu thích trong đó. Trong hiện tại mình nhìn lại mình đang ngồi nhớ hình bóng của mình "Tôi đang ngồi đây", nhìn vào gương "mình cũng dễ thương". Vậy là quá khứ, hiện tại, vị lai nó dệt hết. Ái là người thợ dệt.

Phải quán từ bỏ, quán ly tham, quán xả ly, quán viễn ly, xa lìa nó, xuất ly khỏi nó. Quán vô thường, quán bất tịnh, quán từ bỏ, quán không có cái gì đáng tham luyến ở trong cái tứ đại Năm Uẩn này. Tu được cái này là đi trên con đường thánh trí, không phải chuyện bình thường. Cho nên khi mình ngồi muốn quán thì trong tâm khởi lên sự chống cự, "quán làm chi cái này khó quá". Thì lúc đó mình không quán nữa mà tác ý vào ngay chỗ không cho mình tu, "Cái gì đây, đây là cái gì. Cái này là phóng dật, cái này là cái buông lung, chính là cái tham ái này". "Nó là ma vương, nó muốn thống trị mình, nó muốn bao trùm mình, nó không muốn mình đi ra khỏi nó".

Mình phải quán chiếu để phá tung cái tư tưởng chống cự lại, không cho mình tu. Phá cái đó trước rồi mới trở về quán tiếp. Nên lúc mình phát tâm vào tu chánh pháp thì tự nhiên trong tâm mình nó sẽ khởi lên "sao cái này tu khó quá". Những ý này giết mình, nó chính là tham ái, nó không muốn mình đi ra khỏi nó mà muốn mình ở lại chơi với nó, "Bây giờ mình dập tắt hết trơn thì tham ái đâu còn gì nữa". Phải thấy nó, điểm mặt nó, nếu không mình nghe lời nó là mình chết liền, mình bị dệt tiếp tục đó.

IV. Khổ - lạc

“Ðược nói vậy, một Tỳ-kheo khác thưa với các Tỳ-kheo trưởng lão:

Lạc, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Khổ là cực đoan thứ hai. Không khổ không lạc là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt, nên khiến cho vị ấy phải sanh ở hữu này... có thể chấm dứt khổ đau.”

Chỗ này mình mới thấy một cái âm thầm sâu lắng ở bên trong, là không phải là mình chỉ yêu thích cái vui mà cái khổ mình cũng khoái nữa. Rồi cái không khổ không vui mình cũng khoái như thường. Quý huynh đệ quán chiếu có nhìn thấy vấn đề này không? Thí dụ mình giận, mình có khoái cái giận đó không? Phải dùng tuệ quán sâu sắc. Ở trong cái giận nó có vị ngọt nên người ta khoái giận. Trong cái giận nó đã lư. Cho nên kêu bỏ đi thì "Không thể bỏ được sư phụ, con không có bỏ được".

Trong cái sân có vị ngọt nên mới có người giận 30 năm, chứ cái sân nó hoàn toàn khổ thì người ta đâu có thích thú ở trong đó. Giống như những người cùi mà họ hơ lửa lại thấy đã, nếu không là ngứa chịu không nổi mà mình cào, gãi mãi thì nó tróc ra. Thành ra người vô minh, chấp thủ, si mê họ thấy thích thú trong cái tham sân si đó. Cái gì thích thú ở trong đó? Chính là ái. Cái tham dục là khổ hay vui? Nếu khổ thì sao mình không bỏ? Ái cho nên bỏ uổng.

Bây giờ đi tu rồi, biết là đi tu mà mình ghiền cà phê sữa là đâu có đúng. Tu thì sao lại còn ghiền? "Thầy ơi, thông cảm cho con. Tu bây giờ đâu còn gì nữa, giờ còn chút xíu cái này cho con hưởng một chút chứ tội nghiệp con". Tu là không được ghiền cái gì hết. Chỗ này là chỗ mình chết, mình không có đoạn tận được, mình không có sự quyết tâm, mình không có sự nỗ lực, không dùng hết tất cả sức của mình để có thể diệt tận tới chỗ lậu tận.

Tu như kiểu mình thì làm sao thành A-la-hán? Thành tựu các quả vị bất lai ly dục? Không lẽ các vị A-la-hán ngày xưa đi khất thực ngày nào cũng nói "nhớ quậy tôi một ly cà phê sữa"? Nên mình tu là không được ghiền bất cứ cái gì hết, không lệ thuộc bất cứ cái gì hết, ở bất cứ chỗ nào cũng sống được hết, món ăn nào mình cũng ăn được hết, chỗ nào mình cũng ở được. Đó là tứ thánh chủng, bốn truyền thống của bậc thánh, chỗ đó mới là chỗ giải thoát. Ở trên cái tướng giải thoát mình còn chưa được thì làm sao đi tới tâm giải thoát, tuệ giải thoát? Nhìn sâu vô mình mới thấy.

Không phải chuyện mình tu mà lơ tơ mơ, sơ sơ, giỡn chơi với tham ái, không có chuyện đó. Đừng nói gì xa xôi hết, một hồi đứng dậy, mất tiêu cái lỗ mũi, mất tiêu cái lỗ tai là mình hoảng loạn liền. Tại vì cái ái nó là thâm căn cố đế, gắn chặt vô mắt; tai; mũi; lưỡi; thân, nó nghĩ đây là tôi, đây là của tôi. Mình chết ở trong chỗ không khổ, không vui. Cứ đều đều như vậy là mình chết với nó. Mình không có tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh giới. Mình không có sự phát huy tuệ quán thâm sâu.

Mình cứ sống đều đều, ngày qua tháng lại giống như lục bình trôi sông. Bong bong là lên ăn, keng keng là đi tụng kinh rồi lên ngủ. Giỏi lắm ra được quét chùa, nấu cơm, đám ma ai chết lại tụng. Tu 30 năm lên chức Ni trưởng rồi cuối cùng lên một chỗ cao là bàn thờ. Không có liên hệ tới thánh đạo, thánh quả gì hết, chỉ làm được chút ít thiện pháp thôi thì làm sao gọi là đa văn thánh đệ tử được?

V. Danh – sắc

Ðược nói vậy, một Tỳ-kheo khác thưa với các Tỳ-kheo trưởng lão:

- Danh, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Sắc là cực đoan thứ hai. Thức là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt... có thể chấm dứt khổ đau.

Nó gắn kết vật chất với cái tinh thần này cộng với cái tâm thức này giống như cái keo vậy.

 Ðược nói vậy, một Tỳ-kheo khác thưa với các Tỳ-kheo trưởng lão:

- Sáu nội xứ, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Sáu ngoại xứ là cực đoan thứ hai. Thức là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt... có thể chấm dứt khổ đau.

Sáu nội sứ là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Sáu ngoại sứ là sắc; thinh; hương; vị; xúc; pháp. Hôm nay ta sẽ nhận diện sáu thức. Để nhận diện được và để phát hiện ra nó là cả một công trình tu tập. Nhãn thức là sự rõ biết các sắc pháp, sự rõ biết các âm thanh là nhĩ thức. Rõ biết các mùi, các vị, sự xúc chạm, đụng chạm của thân mình với đồ vật là thân thức. Hai phần mình cần nhận diện cái thứ nhất là thân thức, cái thứ hai là ý thức. Hai cái này rất khó. Mình sẽ lẫn lộn 5 cái thức trước là mỗi một cái như vậy nó có một lĩnh vực, phạm vi, cõi giới của nó nên mới gọi là nhãn thức giới. Nhãn thức giới là giới vực của sự rõ biết các sắc. Có cái phạm vi là nó chỉ rõ biết các sắc thôi còn tiếng nó không biết. Nhãn thức là biết tất cả các sắc nhưng âm thanh nó không biết.

Cho nên nó có giới vực của nó, nó có ranh giới của nó, nó có phạm trù, phạm vi, cõi giới của nó, nó chỉ biết cái đó thôi, ngoài cái đó ra nó không biết. Nhĩ thức là sự rõ biết của âm thanh. Tức là nó chỉ biết âm thanh trong phạm vi của nó thôi. Ví dụ mình ngồi đây thì âm thanh gần gần mình còn nghe được chứ âm thanh ngoài xa kia thì không nghe thấy.

Nhưng cái giới vực, phạm vi của nó là nó rõ biết âm thanh thôi, ngoài âm thanh ra nó không biết vì cái lỗ tai không thể thấy được. Tỷ thức rõ biết các mùi, giới vực của nó là mùi, ngoài cái mùi ra là nó không biết. Thiệt thức là rõ biết cái vị chua; cay; mặn; ngọt; đắng. Nó biết ở trong phạm vi rõ biết các vị thôi, ngoài các vị ra nó không biết.

Thân thức là rõ biết sự đụng chạm của thân mình với đồ vật. Mình đang ngồi đó mà mình biết nó nóng, đau mỏi, tê chân tay thì chỗ tiếp xúc của thân với cái bàn chỗ đó gọi là thân thức. Cái sự rõ biết ở trong sự tiếp xúc đụng chạm của thân mình với đồ vật thì cái đó là thân thức. Nếu không phân biệt, nhận diện được sáu thức này là mình tưởng chỉ có một cái tâm nhận biết trọn vẹn nhưng đó là chấp ngã. Mỗi cái có giới vực, phạm vi riêng của nó, không có lẫn lộn.

Cho nên khi mình nhận diện được thì khi ngồi cái thân mình tiếp xúc với cái bàn thì mình biết cái bàn bằng gỗ cứng, hay cái ghế này mềm. Thân mình tiếp xúc với chỗ nào là biết ngay chỗ đó. Mình phải biết năm thức trước, mỗi một cái nó có cái phạm vi, không có lẫn lộn. Cho nên đó giờ mình học, đọc ro ro chứ thực ra mình không có nhận diện được. Chính vì không nhận diện được, không biết rõ công năng, tác dụng, phạm vi, các phạm trù của nó nên mình tưởng mình có một cái tâm biết hết, "thấy nghe hay biết là tâm của tôi".

Đó là mình bị chấp thường và mình không biết sự vô minh, không hiểu biết về các pháp. Thấy nghe hay biết là cái pháp duyên sanh. Chưa kể nữa là tại sao biết. Còn có nhiều cái duyên nữa, thí dụ con mắt rồi các sắc, rồi ánh sáng, nó tiếp xúc nhiều cái duyên ở trong đó lắm chứ không phải tự động mà nó rõ biết. Phải nắm thật vững sáu thức, nếu không là mình không biết gì về tâm thức của mình.

Hỏi thì nói như vẹt như cái thật pháp ngay trong thân tâm của mình là không biết. Vì thế cái học hay nhất là vừa học lý thuyết vừa thực hành, học xong ngay chỗ đó là mình nhận diện liền, tối ngồi thiền cũng phải nhận diện cái nào là nhị thức, tỷ thức, thân thức, ý thức. Phải thấy rõ mồn một như chỉ trong lòng bàn tay vậy. Thân mình với đồ vật thì cái thân thức chỉ biết cái đó thôi, ngoài cái đó nó không biết. Phải nhớ kỹ mỗi một cái có một bộ phận riêng, có lãnh vực riêng, phạm vi, phạm trù riêng.

Ý xúc này rất sâu xa, có khi mình ngồi thiền 30 – 40 năm mình cũng không biết nếu mình không học kinh tạng Nikāya, nếu không có bậc thiện tri thức chỉ dạy. Cái ý thức của mình chỉ biết được thọ; tưởng; hành thôi. Ý thức chỉ biết được cảm giác, hình thức, hình bóng ở trong nội tâm và cái thầm suy nghĩ, còn mấy cái khác nó không biết. Bây giờ để ý sau gáy mình, dưới chân, có cảm giác gì dưới lòng bàn chân? Nó có nóng, rướm mồ hôi không? Khi mình để ý chỗ đó thì mình có cảm giác và có cái tưởng về lòng bàn chân và nó có lời nói về bàn chân mình "sao nó hơi nóng nãy không để ý. Giờ để ý có hơi đổ mồ hôi".

Mình để ý vô là ý thức của mình nó sẽ biết cái cảm giác của lòng bàn chân, nó thấy hình bóng của lòng bàn chân, sau đó bắt đầu nói. Lúc đó cái ý thức nó biết được cảm giác, hình bóng, những lời nói, suy nghĩ ở trong đó. Mình nhớ lại "giờ ba mình lúc này khỏe không ta? Mẹ mình lúc này ở dưới quê làm sao ta". Khi mình để ý như vậy thì trong nội tâm mình có hình bóng ba mẹ hiện lên, hình bóng đó là tưởng. Tiếp theo trong đầu suy nghĩ thêm, nhớ lại thì trong đó có cảm giác không? Như vậy ý thức là thọ; tưởng; hành. Ý thức nó chỉ biết thọ; tưởng; hành thôi ngoài ra thì nó không biết cái khác.

Đó là giới vực của nó, gọi là ý thức giới. Nó chỉ biết được ba cái đó thọ; tưởng; hành, cảm giác và những lời nói thầm ở trong tâm. Cho nên khi mình nhận diện được sáu thức thì mình mới thấy cái mình gọi là tâm chỉ là pháp duyên sanh, là pháp duyên khởi, là từng cái rời rạc chứ không phải là một cái tâm một cái nhất thể vậy mà mình lầm, tưởng đâu cái tâm thức mình là một cái trọn vẹn, cái biết tròn đầy vậy là mình lọt vô cái thức vô biên xứ. Ví dụ mình nhớ sáng nay mình ăn tô phở, tự nhiên hình bóng của tô phở nó hiện lên, đó là tưởng.

Nó nói "sáng nay tô phở ăn ngon", đó là hành. Trong lúc ngon đó có sự thích thú, đó là thọ. Rồi cái biết được 3 cái đó là thức. Cái đó là ý thức. Mọi người thấy nó sâu sắc không? Ngồi thiền mới nhận diện được. Thức là chặng giữa nó nối kết trong ngoài, căn với trần, ba pháp này nó hội tụ thì trong đó nó gắn kết với ái. Vì có ái cho nên đưa tới chỗ tái sanh. Một sự gắn kết đan dệt rất sâu sắc.

VI. Chặt đứt ái

Thân, thưa chư Hiền, là một cực đoan. Thân kiến tập khởi là cực đoan thứ hai. Thân kiến diệt là chặng giữa. Ái là người dệt vải. Do ái dệt... có thể chấm dứt khổ đau.

Bạch Thế Tôn, ai là người đã khéo nói?

Tất cả các Thầy, này các Tỳ-kheo, đều khéo nói theo phương pháp của mình. Nhưng, đây là vấn đề Ta nói về con đường đi đến bờ bên kia trong các câu hỏi của Metteyya.

Du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:

Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi tụ tập, tụ hội tại Luận nghị đường, và câu chuyện sau đây được khởi lên: "Vị Pùrana Kassapa này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng". Khi nói về một đệ tử từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nếu đệ tử là vị thượng nhân, tối thượng nhân, đã đạt địa vị tối thắng, khi vị này từ trần, mệnh chung, họ nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương X. Tương Ưng Không Thuyết, IX. Luận Nghị Đường)

Còn Sa-môn Gotama này là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Khi nói về một đệ tử đã từ trần, đã mệnh chung, Sa-môn Gotama nói sanh xứ của vị ấy như sau: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nếu đệ tử là bậc thượng nhân, tối thắng nhân đã đạt địa vị tối thượng, khi vị này từ trần, mệnh chung, Sa-môn Gotama không có trả lời: "Vị này sanh tại chỗ này. Vị này sanh tại chỗ này". Nhưng Ngài nói về vị ấy như sau: "Vị ấy đã chặt đứt ái, đã phá hủy các kiết phược, nhờ chơn chánh thấy rõ kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau".

Thưa Tôn giả Gotama, con có khởi lên phân vân và nghi ngờ như sau: "Như thế nào, cần phải thấu hiểu pháp của Sa-môn Gotama?"

Này Vaccha, thôi vừa rồi sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi sự nghi ngờ của Ông. Chính do trên điểm Ông phân vân mà nghi ngờ được khởi lên. Ta tuyên bố sự sanh khởi, này Vaccha, đối với những ai có chấp thủ, không phải đối với ai không có chấp thủ.

Ví như, này Vaccha, một ngọn lửa cháy đỏ khi nào có nhiên liệu, không phải không có nhiên liệu. Cũng vậy, này Vaccha, Ta tuyên bố về sanh khởi đối với người có chấp thủ (sanh y), không phải với người không có chấp thủ

Thưa Tôn giả Gotama, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho ngọn lửa này?

Này Vaccha, trong khi có gió thổi ngọn lửa đi thật xa, thời Ta nói chính gió là nhiên liệu. Trong khi ấy, này Vaccha, chính gió là nhiên liệu.

Thưa Tôn giả Gotama, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này để sanh vào một thân khác, thời Tôn giả Gotama tuyên bố cái gì làm nhiên liệu cho thân này?

Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác, này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái là nhiên liệu. (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương X. Tương Ưng Không Thuyết, IX. Luận Nghị Đường)

Đức Thế Tôn tuyên bố vị ấy đã chặt đứt ái, phá hủy các sự trói cột, nhờ chân chánh thấy rõ được cái kiêu ngạo nên đoạn tận khổ đau. Có 1 vị Tỳ-kheo không hiểu nên nghi ngờ hỏi thì Đức Phật lấy một ví dụ ngọn lửa cháy phải cần nhiên liệu như than củi hay là dầu để duy trì sự cháy. Hợp pháp như thế nào là sự sanh khởi của một loài hữu tình là: Ta tuyên bố về sanh khởi đối với người có chấp thủ sanh y không phải với người không có chấp thủ. Chấp thủ là sự bấu chặt, bám chặt, nắm chặt, bíu chặt. Sanh y là chỗ y cứ của tái sanh, là chỗ dựa vào đó để có cái sự tái sanh.

Mà sanh y là ái. Ái là nhiên liệu giống như củi, than, dầu vậy. Có nó thì ngọn lửa mới cháy được, không có nó thì sao có ngọn lửa. Ngọn lửa này ví dụ cho cái thân. Sở dĩ cái thân nó có đó là từ chỗ ái. Ái là từ sự yêu thích, bám chặt vô thân Năm Uẩn này. Sâu thẳm nội tâm của mình có thật sự là muốn giải thoát, muốn chấm dứt không? Hay là thực sự sâu thẳm bên trong mình còn muốn đời sau mình sanh ra tốt đẹp hơn bây giờ? Cái đó là cái ý muốn tiếp tục tái sanh chứ không phải là ý muốn chấm dứt luân hồi sanh tử.

Đối với các bậc hướng Dự lưu hay nhập dòng thánh, thành tựu chánh tri kiến là hướng tới chỗ chấm dứt để cho khô kiệt cái dầu này đi, lấy củi ra không cho ngọn lửa nó cháy nữa, lấy than ra, không cho vô nữa để cho ngọn lửa này nó dập tắt thì các bậc đó bắt đầu đi vào dòng thánh. Còn mình vẫn yêu thích, ưa thích, còn muốn bỏ than vô thêm, muốn châm dầu vô thêm để nó cháy sáng thêm nữa, cháy lớn lên nữa, cháy rực sáng lên nữa rồi nó đốt mình tiếp. Sự khác biệt giữa phàm phu và bậc thánh ở chỗ đó. Một chỗ là muốn tiếp tục nữa, một chỗ là từ bỏ.

Bây giờ mình xác định là thật sự trong nội tâm mình có muốn tu hay không, từ bỏ chưa, có muốn chấm dứt hay chưa? Nếu trong nội tâm mình thực sự quyết chắc muốn từ bỏ chấm dứt, không tiếp tục đầu tư cho Năm Uẩn, đầu tư cho dục ái nữa, không đầu tư cho sanh tử luân hồi nữa thì lúc đó là bắt đầu tiến tới dòng thánh, bắt đầu thể nhập dòng trí huệ chân chánh của Đức Phật. Chỗ này là chỗ rất là thâm sâu trong nội tâm của mình.

Hướng của mình là hướng gì? Cho nên bây giờ vô xuất gia rồi sư phụ dạy "Con phải ráng học lấy bằng cấp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ sau này có ra làm việc được với người ta nghe không?", "Xây chùa nghe. Phải thành công, thành tựu". Đó là mình không gặp bậc minh sư, đó là vị thầy chưa có thành tựu bậc thầy chánh tri kiến. Vị thầy thực sự là bậc đạo sư, là chân nhân, là bậc thánh thì phải dạy cho đệ tử chấm dứt cái tâm tham ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, phá vỡ người dệt vải, làm cho cạn kiệt hết tất cả các tham ái của nhiên liệu tái sanh thì đó mới là bậc đạo sư, mà bậc đạo sư đó không phải dễ tìm gặp, ngàn năm, tỷ năm mới xuất hiện một lần. Cho nên có một lần Ngài Ananda đã nói với Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, quá phân nửa đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du."

Này Ananda, không phải vậy. Này Ananda, không phải vậy. Thật sự, này Ananda, toàn phần đời sống Phạm hạnh này thuộc về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du. (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, VIII. Không Phóng Dật)

Tức là mình thành tựu chánh tri kiến, giải thoát giác ngộ và thành tựu A-la-hán hay không là do cái vị thiện hữu tri thức đó quyết định hết. Mình không gặp minh sư thì ai hướng dẫn mình theo con đường này? Thành ta đừng vội. "Con ráng tu học, mai mốt ra độ chúng sanh", cái đó là dục, danh lợi và bản ngã. Mình chưa biết rõ được tham, ái, dục, sân của mình, các pháp trong ngoài, Ngũ Uẩn nó vận hành ra sao vẫn chưa biết gì hết thì mình độ ai? Mình ở trong một cái đêm đen mù mịt thì làm sao mình dẫn đường người ta đi? Chỗ này rất quan trọng.

Không có thành tựu trí tuệ tự thân, mình không thấy rõ sắc uẩn, không thấy rõ thọ uẩn, cảm giác nó vận hành như thế nào, không thấy được tham sân si, bản ngã nó trú ẩn ở trong đó, nó sanh khởi như thế nào, nó an trú, chấm dứt như thế nào, nó điều khiển, xâm chiếm, hoành hành nội tâm mình như thế nào thì mình dạy ai mà lại muốn làm thầy thiên hạ? Rất là nguy hiểm. Vì vậy dẹp hết tất cả ý nghĩ đó để quay trở lại để nhận diện cảm giác của mình, nhận diện Năm Uẩn để thấy rõ tham sân si rồi nhiếp phục nó. Càng nhiếp phục nó chừng nào thì tự động mình đi tới bất cứ chỗ nào, mình tiếp xúc với ai, mình nói cái gì đều là lợi lạc cho những người đó hết. Lợi lạc chân thật, rộng lớn và lâu dài. Đây là chánh pháp tối thượng.

Phải để ý cho thật là kỹ. Mình đi sai con đường đó là coi như mình đổ sông đổ biển hết tất cả thời gian, tâm huyết, công phu học hành của mình. Tất cả dự án dự định để làm cái này cái kia để sang một bên, lo tu học cho kỹ tạng kinh Nikāya, lo thấu hiểu chính mình, khi mình hiểu được mình rồi là mình hiểu được hết. Tại vì mình là Năm Uẩn, những người khác cũng là Năm Uẩn. Mình thấy rõ Năm Uẩn thì Năm Uẩn nó y như nhau hết. Lúc đó những lời nói của mình là lời từ trong tim nói ra. Lời nói đó là từ sự chứng ngộ, chứng đắc, chứng đạt. Sự có mặt của mình ở bất cứ chỗ nào là đem tới ánh sáng, là đại quang, là đại minh, là đại trí huệ.

Đó là chánh pháp vô thượng mà Đức Phật truyền trao cho mình trong tạng kinh Nikāya, chứ không phải học lơ tơ mơ, học được mấy câu mấy chữ rồi lẹ lẹ đi dạy người ta, vừa đi học vừa đi dạy nữa chứ. Thậm chí mấy cô còn xưng với Phật tử là thầy, sư phụ. Phải thấy được sự vận hành của bản ngã, của cái tôi rồi dập tắt, diệt tận cái bản ngã đó thì lúc đó mình sẽ thấy mình thực sự đạt tới cảnh giới bất tử, đó mới là chánh pháp tối thượng của Đức Thế Tôn. Mở con mắt trí huệ lên để nhìn cho sâu sắc, chứ không học kiểu lớt phớt. Không học thì thôi, học là học tới cùng, tu là tu tới bến, đến bến bờ bên kia. Như vậy mới là thầy của trời và người, mới là bậc đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Liệt vào hàng hiền thánh Tăng, bốn đôi tám bậc trong tứ chúng của Đức Phật. Như vậy mới làm cho Phật pháp sư minh.

Chứ không phải ngồi đây tối ngày cứ tính mai mốt tôi làm cái này, mai mốt tôi làm cái kia, mai mốt tôi làm cái nọ, đó là vọng tưởng điên đảo. Không cần tính gì hết, thành tựu trí huệ rồi từ trong trí huệ đó siêu tính. Trí huệ của Năm Uẩn là trí huệ trùm trời trùm đất, thấu suốt hết toàn thể bản chất của vũ trụ vạn vật. Một ngày ít nhất phải nghe kinh 4 tiếng, không thì 2 tiếng. Phải nghe những bài kinh Minh Thành chia sẻ rồi vô tạng kinh mới hiểu được, nếu không nghe mấy bài kinh của Minh Thành là không hiểu được. Phải nghe mấy bài dạy trước để mình nắm được chìa khóa, những bài của Minh Thành là chìa khóa để mở tạng kinh Nikāya, còn tự động vô là mình không thể hiểu nổi. Các huynh đệ biết để tìm ra được chìa khóa đó là gian truân lắm, từ chết cho đến bị thương.

Nhắm mắt lại quán trải tình thương rộng lớn ra, mở rộng tình thương ra phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới, Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc cùng khắp mười phương biến mãn. Trải rộng hết tới những người thân thương, không thân, những người mình ghét. Trải tình thương đến hết loài vật, trùm trời trùm đất hết từ vô lượng tâm. Nguyện cho tất cả chúng sanh đều được an lành, tịnh lạc trong chánh pháp vô thượng này.

./.