Nghiệp 1 - TỔNG QUÁT VỀ NGHIỆP
TỔNG QUÁT VỀ NGHIỆP
THÍCH MINH THÀNH
Khi đã học về nghiệp rồi chúng ta sẽ thấy cái tâm được bình an, không hờn trách, oán hận bất cứ một ai, bất cứ hoàn cảnh nào hay bất cứ trường hợp nào.
Đức Phật dạy mình phải có trí hiểu biết về nghiệp. Nếu mình không có trí hiểu biết về nghiệp thì mình hiểu sai mọi thứ. Chúng ta sẽ học phần này trong kinh tạng Nikāya, khi phân loại theo chủ đề về nghiệp thì mình sẽ rất bất ngờ vì nó rất sâu sắc. So với cái hiểu trước nay của mình hoặc là nông cạn hoặc là lệch lạc, hoặc là các góc độ khía cạnh không được đầy đủ, chưa chính xác. Khi học rồi sẽ rất giúp ích trong đời sống tu tập và sinh hoạt của mình.
Trong Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch, Đức Phật đã nói Này các Tỳ-kheo, cần phải biết nghiệp, cần phải biết duyên khởi các nghiệp, cần phải biết các nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt (Tăng Chi Bộ, VI. Đại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch). Như vậy trí huệ thứ nhất là cần phải biết nghiệp. Thứ hai là cần phải biết duyên khởi của nghiệp, từ đâu có ra nghiệp. Thứ ba cần phải biết sự sai biệt khác nhau của nghiệp. Thứ tư cần phải biết các nghiệp dị thục, tức là sự biến đổi để đưa đến nghiệp quả chín muồi. Thứ năm cần phải biết nghiệp đoạn diệt, chấm dứt. Thứ sáu cần phải biết con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt, chấm dứt. Có tất cả 6 trí về nghiệp, chứ không phải đơn giản như mình nghĩ chỉ có thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Cho nên mình thấy rằng tại sao trước nay mình học tu không có kết quả nhiều, không có kết quả như ý nguyện là do mình học sơ sài, đơn giản, cạn cợt và trong thân tâm thì mình cũng không muốn sự phiền phức, học nhiều quá khó nhớ và chính sự nhìn nhận vấn đề theo kiểu phàm phu vô minh nên cái thấy của mình không được đầy đủ, tường tận, trọn vẹn. Thành ra mình không nhiếp phục được nghiệp và càng không thể chuyển nghiệp để chấm dứt nghiệp.
Đầu tiên thế nào là nghiệp? Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. Nó khác với trước nay mình hay nói, cái này suy nghĩ là nghiệp. Sau khi mình suy nghĩ thì mình mới bắt đầu có những hành động, có những chiều hướng, có những hoạt động đi theo từ nơi thân, lời và ý. Sau khi suy nghĩ thì mình mới quyết định. Cái suy tư, suy nghĩ đó là nghiệp hay còn gọi là hành nghiệp. Đây là chỗ sâu sắc, thường thì người ta chỉ nói gọn thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, tức là sau khi suy tư rồi mới đưa ra quyết định thì cái suy tư đó là nghiệp. Ví dụ mình học xong lớp 12 rồi mình mới suy tư tiếp theo mình sẽ chọn học ngành gì, du lịch, y học, nhà giáo hay là tu sĩ,… Thì từ cái suy tư đó mới chọn ra con đường để nói năng, hành động và suy nghĩ cho sau này. Sau khi đã suy tư rồi thì tạo nghiệp về thân, lời, ý. Tức là mình sẽ trở thành bác sĩ, trở thành nhà giáo hay là trở thành tu sĩ. Vì vậy suy khi suy tư tạo nghiệp về thân, lời và ý. Trước khi các thầy, các sư cô đi tu có suy nghĩ, suy tư không? Sau khi suy tư thì thực hiện ý muốn đó, tức là tạo nghiệp về thân, lời, ý. Thì đó là nghiệp tu sĩ. Vì thế ác nghiệp hay thiện nghiệp đều được quyết định trong suy tư. Hôm nay Minh Thành suy tư quyết định chia sẻ về vấn đề, sau khi suy tư thì Minh Thành hành động mới có ra buổi chia sẻ pháp thoại này. Còn mình suy tư đi chơi, sao khi suy tư thì tạo nghiệp về thân, lời, ý thì thân, khẩu, ý của mình trong cuộc đi chơi. Sau khi suy tư về dục thì tạo nghiệp về dục. Suy tư về sân, tức giận thì sau khi suy tư thì tạo nghiệp sân của thân, lời, ý. Vì sau khi mình quyết định thực hiện cái giận đó thì đâu phải tới đây là xong, mà sẽ nói, sẽ suy nghĩ, hành động theo cái sân động, tiếp diễn theo đó. Như vậy chiều hướng của suy tư, suy nghĩ, của tư duy, ý hành là hết sức quan trọng. Sau khu suy tư thì sư cô quyết định lên núi nhập thất, sau khi suy tư thì sư cô quyết định hạ sơn và dấn thân vào thời thế. Cho nên mình nói tu là không suy nghĩ là không đúng, vì sau khi suy tư thì mình mới quyết định đi đến chỗ chấm dứt ác nghiệp, chấm dứt nghiệp đen nghiệp trắng. Thì Niết-bàn cũng phải từ nơi chỗ suy tư, tức là suy tư để đi đến Niết-bàn còn không suy tư thì sao đi đến Niết-bàn? Cho nên đây là chỗ quan trọng, cái suy tư này đặt trên chánh tri kiến thì suy tư đó mới là chánh tư duy. Tất cả đều do chánh kiến dẫn đường, nếu không có chánh tri kiến thì suy tư đi theo tà, đi theo dục tầm, sân tầm, hại tầm. Suy tầm về những ham muốn, suy tầm về bực bội, suy tầm về ác.
Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi. Từ đâu có sự suy tư đó? Chính là do sự tiếp xúc. Cho nên khi ngồi đây nói về nghiệp thì mình suy tư về sự sợ hãi của ác nghiệp. Khi tiếp xúc với những âm thanh, những lời nói đó sẽ sanh ra những cảm giác, suy nghĩ như vậy. Cho nên khi mình tiếp xúc sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành chứ nếu như sáng nay không nói về vấn đề này thì có những cảm giác, những suy nghĩ, hình bóng hiện ra như mình đang có bây giờ không? Không có thì nghiệp không sanh khởi, như vậy cái mà gọi là duyên khởi của nghiệp là từ sự xúc chạm làm cho các nghiệp sanh khởi. Hằng ngày mình tụng kinh, nghe pháp, ngồi thiền, pháp đàm, mình lòng vòng trong pháp chính là mình xúc với những thiện nghiệp, thiện pháp sanh khởi để cái nghiệp đó thành tựu. Mình không xúc với những cái thiện thì mình cũng xúc với những cái trơ trơ, không sanh ra thiện pháp, không tăng thượng, hướng thượng trong thiện pháp, không tăng trưởng, phát triển quảng đại trong thiện pháp. Khi mình cầm điện thoại, lên mạng thì tiếp xúc với những hình ảnh này kia là sanh khởi ra dục tham ái. Có những cái này mới sanh khởi chứ còn tiếp xúc với những hình ảnh đau thương, cái chết thì sanh khởi lên sự sợ hãi, nhàm chán. Còn khi mình thấy hình ảnh đứa con đánh mẹ già thì mình sân lên. Những cảm giác đó sanh ra do có sự tiếp xúc, đó là duyên khởi của nghiệp. Cho nên chư vị Tỳ-kheo ngày xưa mà thành tựu lậu tận là không tiếp xúc với ngũ dục bên ngoài, chỉ nhìn thấy Đức Phật, nhìn thấy bìa rừng ven suối, núi đồi, gốc cây, hang động trống vắng để chánh tri kiến hướng đến chánh tư duy, hoặc là xúc với bộ xương, 32 thể trược, với 9 giai đoạn của một tử thi. Ngày qua ngày chỉ tiếp xúc như vậy thì thành tựu là chuyện đương nhiên, còn mình bây giờ không tránh xúc mà mình xúc với những cái không đáng tiếp xúc thì nghiệp sanh khởi. Mọi người có thấy sự khác biệt giữa ở nhà với ở Linh Quy không? Mọi người tu với bạn bè với các huynh đệ, chư Tăng-Ni ở Linh Quy có khác không? Chỉ mỗi việc tu thôi là thọ; tưởng; hành đã khác nhau chứ đừng nói chi đi chợ hay vào chỗ ăn chơi. Tất cả mọi người khi lên Linh Quy đều tiếp xúc với thiện pháp, có chăng trong thân tâm bị giao động nhưng do thiện pháp quá lớn ở đây trấn lại làm ác pháp trong thân tâm không sanh ra được. Tiếp xúc những cái tốt để sanh ra thiện pháp, việc lành, tiếp xúc để sanh ra trí huệ, sanh ra sự hiểu biết, sanh ra sự cảm thông, tuệ tri, liễu tri, thắng tri, thánh trí trong xúc. Vì vậy hãy biết lựa chọn cái xúc để mình tu. Mỗi buổi sáng khi Minh Thành ra nhìn mặt trời mọc trên những cành trúc thì Minh Thành thấy rất thanh tịnh, an lạc. Những người tiếp xúc với những ác pháp mà không tu tập thì mình phải thương những người đó, chỉ toàn tiếp xúc với tiền bạc, danh lợi, dục lạc thì suy nghĩ, cảm giác, nghĩ tưởng, hành động của họ đi theo những cái đó rồi tập thành thói quen tạo ra nghiệp lực. Ví dụ mình suy nghĩ hút thuốc thì đó chỉ mới suy nghĩ, sau khi suy nghĩ tạo thành hành động là cầm điếu thuốc hút, đó là nghiệp. Hút 1 lần chưa thỏa mãn, hút tiếp 2-3 lần thành ra nghiền thuốc. Từ trong suy nghĩ đưa ra tới lời nói, hành động tới thói quen đến nghiền thì đã trải qua cả một vòng huân tập. Mình đã huân tập cái đó trong dục tham ái, sân si, bản ngã trong vô lượng vô biên kiếp rồi. Mình muốn chiến đấu với các thói quen này, quật ngược lại thì phải có sức mạnh hùng dũng, kiên cường. Không được chán nản, bây giờ mình đã nhìn ra, đã thấy nó rồi thì mình phải cố gắng, không được nản lòng. Nó quật mình ngã thì lần sau mình tiếp tục cố gắng, cứ tiếp tục như vậy thì cũng có ngày mình chiến thắng, mà hễ thấy chánh pháp là mình sẽ chiến thắng. Vì vậy phải nhìn thấu đáo về vấn đề này.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sai biệt? Này các Tỳ-kheo, có nghiệp đưa đến cảm thọ ở địa ngục, có nghiệp đưa đến cảm thọ loài bàng sanh, có nghiệp đưa đến cảm thọ cõi ngạ quỷ, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới loài Người, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới chư Thiên. Do hành động, thói quen, cách suy nghĩ, nói năng, hành động sẽ đưa đến những cảm thọ, cảm giác khác nhau. Khi bước vào nhà vệ sinh, Minh Thành thấy con tắc kè chạy trốn ra sau tấm gương mà Minh Thành cảm thấy xúc động vì Minh Thành thấy hành động chạy trốn đó là do lo sợ, nhưng cái cảm xúc nhất là nó cảm thấy xấu hổ với thân thể của loài thú vật, súc sanh, hễ nghe tiếng động là sợ chạy trốn. Khi nhìn thấy như vậy thì những pháp quán vận thành trong tâm mình, một người bị què quặc sẽ không dám xuất hiện chỗ đông người. Giả sử mình bị què thì mình có dám đi ngang đám đông đang ngồi theo cách tự nhiên, bình thường hay mình sẽ có cảm giác ngại ngùng, tự ti, mặc cảm? Vì mình không được như người ta, mình bị tật nguyền. Hay như trên mặt mình tự nhiên nổi lên cục mủ to, bị sưng đỏ thì mình trốn trong nhà hay vẫn đi ra chỗ đông người một cách thản nhiên? Nếu mình có một cái gì đó khiếm khuyết từ thể xác đến tinh thần thì mình cảm thấy xấu hổ, né tránh, lẩn trốn. Con tắc kè cũng giống như vậy, trong vô lượng vô kiên kiếp mình cũng từng ở trong thân súc sanh, là con giòi, con bọ chét trên thân con chó ghẻ, mình từng là con cá lòng tong, cá tra để mình hứng những cục phân trong vô lượng kiếp của vòng luân hồi. Không thể kể hết những kiếp mình đã đi qua trong những cái thân xúc sanh đó mà bây giờ mình vào được tấm thân người, đôi khi vẫn cảm thấy xấu hổ khi không bằng ai, người ta giàu có, đẹp đẽ, thông minh mà mình tồi tệ quá hoặc mình tự cao, đi đâu cũng vênh váo thì phải biết tu tập. Khi Mình Thành quán chiếu dòng cảm xúc như vậy thì thấy xấu hổ với tấm thân này, trốn chui trốn nhủi mà mình đã bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp trốn như vậy, biết bao nhiêu người sống trong cảnh rất khủng khiếp, không thể nói được, nhiều khi thấy họ lành lặn nhưng bên trong họ là một sự đau xót tột cùng, có những sự khiếm khuyết tinh thần hoặc có những chiều hướng tình cảm tan nát trong cõi lòng, những thứ chất chứa bên trong lòng là dằn vặt, giày xéo, thiêu đốt. Rất là đoạn trường! Và mình phải chịu đựng điều đó, tất cả là do cái nghiệp sai biệt. Mình không có trí huệ thì nhìn bằng cái vô minh, nhìn bằng cái nghiệp là sai hết. Ví dụ mình nói bà Năm có phước đức quá, ao ước được như bà nhưng bên trong lòng là bà lo 2 đứa con quậy nên bà không dám về nhà. Ai có thể thấy được điều này? Chỉ có bà Năm mới có thể thấy được nội tâm chính bà, bao nhiêu người khác cũng y như bà, bên trong nội tâm là đủ thứ nó hoạt động mà mình không nhìn ra được, chưa kể là dục ái tham, sân si, vô minh, bản ngã. Theo dòng pháp này rồi sẽ còn thấy ra nhiều nữa, cho nên mình thấy cái nghiệp sai biệt này nó khủng khiếp đến mức độ nào. Sáng nay Minh Thành ngồi thiền thì thấy ác nghiệp rất ghê gớm, Minh Thành ăn chay lúc 10 tuổi, 17 tuổi là xuất gia, đi chùa lúc 7 tuổi. Chứng tỏ Minh Thành không ăn mặn, sát sanh nhiều mà sáng nay có con chuột chạy ngay thì bất chợt ý hành sanh khởi chuột núi ngon hơn chuột đồng. Khi tự động sanh khởi lên ý hành như vậy thì mình tác ý ngay "Tại sao lại suy nghĩ như vậy? Đây là suy nghĩ ác nghiệp, bất thiện pháp". Có những điều mình không muốn suy nghĩ mà trong đầu cứ hiện ra, khi đã phát hiện ra nó là rác bẩn thì mình quét sạch liền. Nếu mình không tu, không nhìn ra ngũ uẩn thì khi nó hiện ra gì là mình đi theo thì nó sẽ cuốn mình theo đó. Như vậy cả một sự sai biệt của nghiệp là khủng khiếp. Những đứa trẻ trong trại mồ côi, những đứa trẻ bị bại não, bị bệnh down, bị chất độc màu da cam, bị thần kinh, hay những đứa trẻ chỉ còn da với xương ở Châu Phi, da dẻ đen đúa không có nước để tắm, không có cơm ăn, áo mặc, suy dinh dưỡng nặng. Nhìn những hình ảnh này phải cảm thấy run sợ với ác nghiệp. Một người phụ nữ bị bán làm vợ cho 5-7 người chồng rồi còn bị hành hạ, đánh đập thậm tệ. Tất cả những cái này là ác nghiệp của quá khứ, họ phải chịu những cảm xúc đó trong quá khứ và hiện tại họ phải gánh chịu. Vì thế phải thật cẩn thận với ác nghiệp, hoặc là hình ảnh một người còn trẻ mà bị xích vào sợi xích trong 18 năm, hễ đưa quần áo cho mặc là xé ra hết, để trần truồng như vậy, hoặc là người cha có 3 đứa con đều bị thần kinh, 3 người con này bị xích chân trong nhà, chỉ để mỗi song cửa vừa đủ đưa thau cơm vào, phải trộn thuốc ngủ vào cơm cho các con ăn, mỗi lần đem cơm đều bị 3 đứa con la hét, chửi rửa. Người cha nuôi 3 đứa con như vậy trong 30 năm. Minh Thành nói mà cảm thấy rùng rợn, hay có những người tù đêm khuya không ngủ được, thức từ 12h đêm tới 3h sáng vì khi nghe cửa kéo và tiếng dây xích leng keng là họ biết có người bị đem đi xử tử nhưng không hề được báo trước. Cho nên tất cả tử tù hầu như đêm khuya là không thể ngủ được vì không biết hôm nay đã đến lượt mình chưa hay phòng bên cạnh. Họ phải sống trong cảm giác lo lắng, hoảng loạn, sợ hãi kinh hồn rồi đến lúc chết trong sự đau đớn, hối hận như vậy thì họ đi đâu? Vì vậy con mắt mình phải mở rộng ra để nhìn cho rõ mọi ngõ ngách, góc khuất đang diễn ra trên đời sống này. Bản thân mình may mắn được một chút phước lành, có chút ít thiện pháp trong quá khứ mà mình không cố gắng tu hành, ngược lại còn phung phí phước đức, phung phí những phước báu mình đã gieo trồng, tích lũy thì đời sau mình sẽ đi đâu? Minh Thành mới chỉ nói đến loài người, còn ác nghiệp đưa đến địa ngục, ngạ quỷ là khủng khiếp. Minh Thành không biết con ễnh ương nhảy vào cửa kiếng lúc nào mà Minh Thành mở cửa ra là kiến ăn hết da thịt, tới xương vỡ nát ra. Khi ngồi thiền chỉ có con muỗi hay con kiến đậu trên người là mình đã thấy khó chịu rồi, bây giờ lỡ như có con giòi chui vào mũi, bò lúc nhúng ăn da thịt mình thì làm sao mình chịu nổi mà bây giờ cứ nói lời ác, suy nghĩ ác, hành động ác? Có những con chim bay xuống mổ con sâu thì con sâu quằn quại, đau đớn. Còn những loài ngạ quỷ, cô hồn vất vơ vất vưởng bao nhiêu năm vẫn không thể đào thai vì sự tiếc nuối, nhiều khi lấy cái cây đó làm nhà rồi ở trong đó ngàn năm. Có những cái cây hễ người nào chặt vào là bị bệnh, bị tai nạn. Họ bám trụ vào đó, họ chấp vào chỗ đó, cho đó là nhà của họ hay chính bản thân họ. Mình cũng vậy, mình bám chắc vào món đồ, căn nhà hay tài sản gì đó, nếu mạnh quá thì sẽ trở lại để giữ món đồ đó, không siêu thoát khỏi nơi đó được. Còn những cảnh đánh ghen mà tạt a-xít hay đổ xăng lên người rồi đốt. Thật sự là kinh hãi trong ác nghiệp!
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp dị thục? Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng có ba loại nghiệp dị thục: Ở ngay đời hiện tại, hay ở đời sau, hay ở một đời sau nữa. Dị là biến dị, biến đổi. Thục là chín muồi. Nghiệp dị thục là nghiệp đó sẽ biến đổi và chín muồi. Cũng như vay nóng mấy chục triệu mà khi trả lên hàng trăm triệu, có khi lên hàng tỷ, đó là dị thục của nghiệp, tùy theo mức độ vay, vay với ai, vay với hạng nào thì sẽ có mức trả phù hợp. Khi chửi người xe ôm với chửi người xin ăn thì không sao nhưng chửi ngay ông tỉnh trưởng thì sẽ khác. Thì nếu xúc phạm bậc thánh thì nghiệp quả sẽ trả là khủng khiếp vì các ngài đó không còn tâm sân hận, ganh tỵ gì nữa. Khi Đề-bà-đạt-đa bệnh nặng khủng khiếp, quay đầu muốn xin lần cuối về gặp Đức Phật để sám hối thì Đức Phật đã nói Đề-bà-đạt-đa sẽ không gặp được Thế Tôn thì các vị Tỳ-kheo lấy làm ngạc nhiên vì Đề-bà-đạt-đa đã đi gần đến tịnh xá của Thế Tôn. Đúng như lời Phật nói, khi Đề-bà-đạt-đa đi gần đến thì đất bị sụt lún và Đề-bà-đạt-đa bị lọt xuống chết. Ngay lúc đó Đề-bà-đạt-đa đọa địa ngục ngay lập tức. Cho nên khi quán chiếu về ác nghiệp là cảm thấy sợ hãi, kinh khiếp. Cũng câu nói đó, hành động đó nhưng đối với người nào, đối với hoàn cảnh nào và đối với tâm nào thì cái nghiệp sẽ biến đổi và chín muồi chứ không phải tạo gì ra đó, không phải trồng dưa được dưa, trồng đậu được đâu. Đây chỉ là nhân quả thông thường của phàm phu, còn nhân quả trong trí huệ của Đức Phật là khác biệt hoàn toàn. Không phải gieo hạt gì thì cứ vậy mà nó lên cây, hạt giống phải biến đổi thành mầm, thành cây con rồi mới lớn lên ra quả. Cái nghiệp cũng vậy, nó sẽ biến đổi và đưa đến kết quả trổ ra, gọi là nghiệp và quả của nghiệp, nên mới gọi là nghiệp dị thục. Khi nãy là sự khác nhau của nghiệp, gọi là nghiệp sai biệt. Bây giờ là sự biến đổi và chín muồi của nghiệp, gọi là nghiệp dị thục.
Nghiệp dị thục có 3 trường hợp. Mình tát người ta rồi người ta tát lại, nhưng khi tát người ta mà người ta không tát lại, nhưng tới đời sau mới trả cái tát đó. Vì cảm thọ sân hận tích tụ, có thể ngay hoàn cảnh đó người ta không thể trả đũa được vì lý do nào đó nhưng cảm thọ sân hận tích tụ trong kho của cảm giác, không có mất đi. Khủng khiếp như vậy, đời sau sanh ra cái nghiệp đó biến đổi và chín muồi, khi gặp trường hợp đó thì bung ra thì nó không còn là cái tát nữa. Đó gọi là cái nghiệp biến đổi và chín muồi. Ở một đời sau nữa, tức là có những trường hợp 5-7 đời sau thì cái nghiệp đó mới chín muồi, một khi đã chín muồi thì rất khủng khiếp, kể cả ác nghiệp lẫn thiện nghiệp. Tức là cái ác cũng phát triển lên mà cái thiện cũng phát triển lên. Cho nên hãy chọn nghiệp thiện để dị thục ra cái tốt, cái tâm thiện, lời hiện, hành động thiện biến đổi chừng nào thì ra hoa trái ngọt chừng đó. Còn ác nghiệp khi đã biến đổi thì đáng sợ và kinh khiếp, nếu mình quán chiếu kĩ là rất khiếp sợ. Có một Phật tử tâm sự chỉ vì người này nói một câu mà người thân giận 14 năm, người Phật tử này có cảm giác đau đớn ray rứt, khó chịu và không giải tỏa được. Dù cho nói xin lỗi thì người kia cũng không chịu. Cái này mới dị thôi chứ chưa thục, tức là mới biến đổi thôi chứ chưa chín muồi. Minh Thành khuyên người Phật tử này phải sám hối, phải xin lỗi một cách chân thành, tha thiết và phải làm mọi cách để hóa giải mối hận này. Còn nếu để mối hận này thục, tức là để cho chín muồi thì cái giả phải trả là gấp trăm ngàn lần khi cái nghiệp đi tới chỗ dị thục. Có những chuyện nhỏ xíu mà đau lòng, có bà vợ tiêu xài tiền mà không thông báo với chồng, người chồng tức giận nói qua nói lại là lấy dao đâm chết, cái nghiệp dị thục một cách hết sức mau chóng. Như vậy là phạm vào giới trộm cắp, tuy là vợ chồng nhưng lấy tiền mà không nói. Cho nên mình thấy sự bảo vệ của Đức Phật trong giới rất là hay. Nhìn bên ngoài chỉ thấy người vợ tiêu xài không đáng mà sao người chồng phản ứng dữ dội mà mình không thấy cái nghiệp này dị thục, tức là những việc xảy ra trong quá trình chung sống ngày này qua ngày kia của vợ chồng được chồng chất lên, tới lúc này là giọt nước tràn ly chứ không phải chỉ là mỗi việc tiêu xài tiền mà đâm chết nhau, việc tiêu xài này chỉ là giọt nước cuối cùng làm tràn nước. Cho nên mình thấy những cặp vợ chồng ly thân, ly dị hay sanh ra những việc oán hận, thậm chí sát hại lẫn nhau là do cái nghiệp dị thục này. Không phải chỉ vì câu nói hay việc làm đó là người ta bỏ mình, mỗi ngày chồng chất một việc, chồng chất lên nhau rồi biến đổi sự việc và cuối cùng ra kết quả là trái đắng. Mình phải quán chiếu như vậy thì mới thấy hay.
Có những nghiệp dị thục đáng vui. Thầy Pháp An không muốn ở lâu trên núi vì buồn, nhớ gia đình. Lúc đầu thói quen ngoài đời cũng còn nhiều nên mọi người đều né tránh nhưng khi đã vào pháp, được huân tập từ từ nên giờ tính tình biến đổi, không còn muốn về quê. Bây giờ cái nghiệp đã dị thục, tức là cái nghiệp được biến đổi và chín muồi theo chiều thiện pháp cho nên nó tốt. Thành ra dị thục không phải tất cả là xấu, quan trọng là biến đổi theo thiện hay ác, trắng hay đen, tốt hay xấu mà thôi. Thành ra mình phải khéo chọn lựa cái nghiệp.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, là nghiệp đoạn diệt. Những điều này sâu sắc vô cùng. Trong tích xưa có tương truyền, một cô thiên kim tiểu thư thương ông thầy Ngọc Lâm Quốc Sư, cô thương đến nỗi bệnh tương tư và cô xin cha mình rước ông thầy ra đời để cưới, nếu không cưới là chết. Người cha mới đến đảnh lễ sư phụ trụ trì làm sao để cứu cô con gái thì người sư phụ vào nói với ngài Ngọc Lâm và sư phụ dặn dò ngài Ngọc Lâm ra đi phải làm rạng danh Phật pháp. Chuyến đi này với ngài Ngọc Lâm cực kì quan trọng, một là mất tất cả, vì đâu phải dễ mà có con gái vừa đẹp vừa là con nhà quyền quý theo đuổi. Còn hai là rực sáng vì giáo hóa được cô gái trẻ. Ngài Ngọc Lâm ra điều kiện khi ngài nói gì thì cô tiểu thư phải nghe theo, tới đêm động phòng thì ngài Ngọc Lâm yêu cầu tiểu thư cầm bó nhang đi theo sau mình thiền hành, cô dâu vừa bệnh vừa mệt mà phải cầm bó nhang đi thiền hành rất nhanh. Sau khi đi thì ngài Ngọc Lâm yêu cầu tiểu thư nhìn vào gương rồi so sánh mặt mình với gương mặt của ngài, trong khi mồ hôi chảy đầm đìa trên gương mặt tiểu thư làm son phấn lem luốt, đầu tóc rối bù mà ngài Ngọc Lâm đi trong tâm thiền, trong sự nhiếp niệm chánh định, niệm định tuệ thì gương mặt ngài vẫn má hồng, tướng hảo trang nghiêm, rồi ngài nói tiếp "Tiểu thư thấy có xứng không? Tại sao một đời xuất gia thanh cao đạo hạnh của tôi mà cô lại phá hủy? Cô vì sự ích kỉ riêng tư của bản thân mình mà lại đi phá hủy đời tu lợi lạc cho bao nhiêu chúng sanh". Ngài phân tích, chỉ dạy bằng lời lẽ vừa nghiêm nghị, mạnh mẽ vừa nhẹ nhàng và đánh sâu vào trong cảm giác, làm thức tỉnh tiểu thư. Cuối cùng tiểu thư xuất gia làm đệ tử của ngài, được đặt tên là Giác Chúng, với ý nguyện muốn giác ngộ chúng sanh. Điều đặc biệt là sau khi tiểu thư xuất gia thì ngài Ngọc Lâm không bao giờ tiếp xúc với tiểu thư cho đến khi ngài viên tịch. Những câu chuyện Phật giáo này cực kì thâm sâu, khi mọi người đọc thì phải để ý, nghiền ngẫm mới có thể hiểu hết được ý nghĩa, còn không là không thể hiểu được. Có nghĩa là ngài Ngọc Lâm đã chặn mọi sự tiếp xúc vì xúc đoạn diệt là nghiệp đoạn diệt, tức là chặn mọi sự tiếp xúc để có thể sanh ra tiếp nghiệp chướng giữa ngài và tiểu thư. Còn mình lên núi tu nhiếp phục được dục, đến khi về nhà lại mở điện thoại nhắn tin, gọi điện liên tục thì mình diệt dục hay dục diệt lại mình? Chỉ trừ bậc Nhị quả đến bậc Tam quả Bất lai, lậu tận A-la-hán mới có thể trừ khử được dục, sân, muội lược tham sân thì khi tiếp xúc mới không sanh dục sân. Còn không thì kể cả bậc Dự lưu vẫn còn tập khí như thường, cho nên nếu tiếp xúc mà mong rằng hết nghiệp thì không được, chỉ khi nào không còn xúc mới không còn nghiệp. Cho nên Minh Thành mới nhìn ra được các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật chứng quả liên tục là do họ đều chặn hết mọi sự xúc chạm, nghe giảng và được sự hướng dẫn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đánh vào ngũ uẩn, đánh vào dục tham ái và độc cư một mình, giới thanh tịnh, tri kiến chánh trực, ngoài ra còn có thêm thiền định thì mới đốt được hết các lậu hoặc. Còn mình không thành tựu là do mình không những không chặn mà còn nuôi dưỡng, chất chứa, tăng trưởng, phát triển nên ngày càng đi sai thánh đạo, mà thánh đạo còn không bước lên được thì làm sao có thánh quả? Còn nếu tu đúng theo chánh pháp thì chắc chắn có Đệ nhất Sa-môn, Đệ nhị, Đệ Tam và Đệ tứ Sa-môn. Nhưng giờ có nỗi khổ là vào thất, vào rừng độc cư mà đem theo điện thoại thì vừa có lợi cũng có hại, cho nên người nào muốn tỉnh tu độc cư là phải cắt điện thoại. Chỉ với một chiếc điện thoại nhỏ thôi là tóm thâu cả thế giới trong đó, muốn xem gì có đó mà hễ xem nhiều thì dục sanh, là thọ; tưởng; hành sanh thì làm sao tu được? Nếu Minh Thành được tiếp xúc với chánh pháp sớm hơn thì đã vào các tầng thánh quả rồi chứ không phải như bây giờ còn phải giải quyết những rác bẩn tồn đọng trong thân tâm. Cứ tiếp xúc nhiều vào rồi ngồi thiền tịnh cư bảo dục đừng khởi, đừng tham ái thì làm sao được? Vì đã tiếp xúc là đã thọ, mà thọ là ái, có ái là có thủ. Đã tiếp xúc là có cảm giác, khi đã có cảm giác thì có sự yêu thích, đã yêu thích là có nắm giữ, buộc chặt mà bây giờ kêu từ bỏ thì làm sao làm được? Lại còn không quán chiếu các đề tài bất tịnh thì làm sao từ bỏ được để tỉnh tu? Vì thế phàm phu không có lối ra, không có thánh đạo thì ngàn tỷ kiếp cũng không thoát ra được. Bây giờ những điều này không có người giảng giải, nếu có thì cũng chỉ nói trên chữ nghĩa kiến thức chứ không làm sáng được thánh đạo, không có đường lối rõ ràng thì làm sao thánh pháp được rực sáng? Mình phải chọn thiện pháp để tu, cái hướng của mình là đi đến chỗ không đen không trắng, nhưng trước tiên phải diệt cái đen làm cái trắng trước. Hai vợ chồng khi đã li dị rồi thì chấm dứt, lên núi tập sự là không còn gọi điện hỏi thăm gì nữa, vì cứ gọi hỏi thăm thì thọ; tưởng; hành sẽ liên tục sanh khởi làm chướng ngại không thể tu được. Bình thường ở nhà gặp mặt thì cãi nhau, còn đi xa không nghe tiếng thì cảm thấy thiếu. Sắc tưởng quá khứ sanh khởi, cảm giác quá khứ nổi dậy, suy nghĩ sanh khởi cho nên cái đặc biệt trong chủ đề này là mỗi chủ đề đều đưa đến lậu tận, vì trong đây là lời của Đức Phật mà Đức Phật là vị đã viên mãn, nên cái gì Đức Phật nói đều tận cùng. Cho nên 500 chủ đều này đều là 500 đề mục thiền quán đưa đến lậu tận, tối thiểu cũng đưa đến Nhập lưu. Khi mình đã thọ, tưởng, hành, nói chánh pháp thì mình đã trú trong thiện pháp, thánh trí, còn giờ này trong thất có khi ngủ lén không chừng, nhiều khi làm biếng ngủ nướng. Cho nên mình phải nhiếp phục và phải thấy cái xúc hết sức quan trọng.
Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt. Ðó là chánh tri kiến... chánh định. Khi nào, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các nghiệp như vậy, rõ biết các nghiệp sanh khởi như vậy, rõ biết các nghiệp sai biệt như vậy, rõ biết các nghiệp dị thục như vậy, rõ biết các nghiệp đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các nghiệp đoạn diệt.
Thành tựu 6 loại trí huệ về nghiệp này thì mới thể nhập Phạm hạnh cứu cánh của người tu. Bát Chánh Đạo là con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt, tất cả đều phải đi qua con đường Tám Đúng này.
./.
THÍCH MINH THÀNH
Khi đã học về nghiệp rồi chúng ta sẽ thấy cái tâm được bình an, không hờn trách, oán hận bất cứ một ai, bất cứ hoàn cảnh nào hay bất cứ trường hợp nào.
Đức Phật dạy mình phải có trí hiểu biết về nghiệp. Nếu mình không có trí hiểu biết về nghiệp thì mình hiểu sai mọi thứ. Chúng ta sẽ học phần này trong kinh tạng Nikāya, khi phân loại theo chủ đề về nghiệp thì mình sẽ rất bất ngờ vì nó rất sâu sắc. So với cái hiểu trước nay của mình hoặc là nông cạn hoặc là lệch lạc, hoặc là các góc độ khía cạnh không được đầy đủ, chưa chính xác. Khi học rồi sẽ rất giúp ích trong đời sống tu tập và sinh hoạt của mình.
Trong Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch, Đức Phật đã nói Này các Tỳ-kheo, cần phải biết nghiệp, cần phải biết duyên khởi các nghiệp, cần phải biết các nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt (Tăng Chi Bộ, VI. Đại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch). Như vậy trí huệ thứ nhất là cần phải biết nghiệp. Thứ hai là cần phải biết duyên khởi của nghiệp, từ đâu có ra nghiệp. Thứ ba cần phải biết sự sai biệt khác nhau của nghiệp. Thứ tư cần phải biết các nghiệp dị thục, tức là sự biến đổi để đưa đến nghiệp quả chín muồi. Thứ năm cần phải biết nghiệp đoạn diệt, chấm dứt. Thứ sáu cần phải biết con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt, chấm dứt. Có tất cả 6 trí về nghiệp, chứ không phải đơn giản như mình nghĩ chỉ có thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Cho nên mình thấy rằng tại sao trước nay mình học tu không có kết quả nhiều, không có kết quả như ý nguyện là do mình học sơ sài, đơn giản, cạn cợt và trong thân tâm thì mình cũng không muốn sự phiền phức, học nhiều quá khó nhớ và chính sự nhìn nhận vấn đề theo kiểu phàm phu vô minh nên cái thấy của mình không được đầy đủ, tường tận, trọn vẹn. Thành ra mình không nhiếp phục được nghiệp và càng không thể chuyển nghiệp để chấm dứt nghiệp.
Đầu tiên thế nào là nghiệp? Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. Nó khác với trước nay mình hay nói, cái này suy nghĩ là nghiệp. Sau khi mình suy nghĩ thì mình mới bắt đầu có những hành động, có những chiều hướng, có những hoạt động đi theo từ nơi thân, lời và ý. Sau khi suy nghĩ thì mình mới quyết định. Cái suy tư, suy nghĩ đó là nghiệp hay còn gọi là hành nghiệp. Đây là chỗ sâu sắc, thường thì người ta chỉ nói gọn thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, tức là sau khi suy tư rồi mới đưa ra quyết định thì cái suy tư đó là nghiệp. Ví dụ mình học xong lớp 12 rồi mình mới suy tư tiếp theo mình sẽ chọn học ngành gì, du lịch, y học, nhà giáo hay là tu sĩ,… Thì từ cái suy tư đó mới chọn ra con đường để nói năng, hành động và suy nghĩ cho sau này. Sau khi đã suy tư rồi thì tạo nghiệp về thân, lời, ý. Tức là mình sẽ trở thành bác sĩ, trở thành nhà giáo hay là trở thành tu sĩ. Vì vậy suy khi suy tư tạo nghiệp về thân, lời và ý. Trước khi các thầy, các sư cô đi tu có suy nghĩ, suy tư không? Sau khi suy tư thì thực hiện ý muốn đó, tức là tạo nghiệp về thân, lời, ý. Thì đó là nghiệp tu sĩ. Vì thế ác nghiệp hay thiện nghiệp đều được quyết định trong suy tư. Hôm nay Minh Thành suy tư quyết định chia sẻ về vấn đề, sau khi suy tư thì Minh Thành hành động mới có ra buổi chia sẻ pháp thoại này. Còn mình suy tư đi chơi, sao khi suy tư thì tạo nghiệp về thân, lời, ý thì thân, khẩu, ý của mình trong cuộc đi chơi. Sau khi suy tư về dục thì tạo nghiệp về dục. Suy tư về sân, tức giận thì sau khi suy tư thì tạo nghiệp sân của thân, lời, ý. Vì sau khi mình quyết định thực hiện cái giận đó thì đâu phải tới đây là xong, mà sẽ nói, sẽ suy nghĩ, hành động theo cái sân động, tiếp diễn theo đó. Như vậy chiều hướng của suy tư, suy nghĩ, của tư duy, ý hành là hết sức quan trọng. Sau khu suy tư thì sư cô quyết định lên núi nhập thất, sau khi suy tư thì sư cô quyết định hạ sơn và dấn thân vào thời thế. Cho nên mình nói tu là không suy nghĩ là không đúng, vì sau khi suy tư thì mình mới quyết định đi đến chỗ chấm dứt ác nghiệp, chấm dứt nghiệp đen nghiệp trắng. Thì Niết-bàn cũng phải từ nơi chỗ suy tư, tức là suy tư để đi đến Niết-bàn còn không suy tư thì sao đi đến Niết-bàn? Cho nên đây là chỗ quan trọng, cái suy tư này đặt trên chánh tri kiến thì suy tư đó mới là chánh tư duy. Tất cả đều do chánh kiến dẫn đường, nếu không có chánh tri kiến thì suy tư đi theo tà, đi theo dục tầm, sân tầm, hại tầm. Suy tầm về những ham muốn, suy tầm về bực bội, suy tầm về ác.
Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi. Từ đâu có sự suy tư đó? Chính là do sự tiếp xúc. Cho nên khi ngồi đây nói về nghiệp thì mình suy tư về sự sợ hãi của ác nghiệp. Khi tiếp xúc với những âm thanh, những lời nói đó sẽ sanh ra những cảm giác, suy nghĩ như vậy. Cho nên khi mình tiếp xúc sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành chứ nếu như sáng nay không nói về vấn đề này thì có những cảm giác, những suy nghĩ, hình bóng hiện ra như mình đang có bây giờ không? Không có thì nghiệp không sanh khởi, như vậy cái mà gọi là duyên khởi của nghiệp là từ sự xúc chạm làm cho các nghiệp sanh khởi. Hằng ngày mình tụng kinh, nghe pháp, ngồi thiền, pháp đàm, mình lòng vòng trong pháp chính là mình xúc với những thiện nghiệp, thiện pháp sanh khởi để cái nghiệp đó thành tựu. Mình không xúc với những cái thiện thì mình cũng xúc với những cái trơ trơ, không sanh ra thiện pháp, không tăng thượng, hướng thượng trong thiện pháp, không tăng trưởng, phát triển quảng đại trong thiện pháp. Khi mình cầm điện thoại, lên mạng thì tiếp xúc với những hình ảnh này kia là sanh khởi ra dục tham ái. Có những cái này mới sanh khởi chứ còn tiếp xúc với những hình ảnh đau thương, cái chết thì sanh khởi lên sự sợ hãi, nhàm chán. Còn khi mình thấy hình ảnh đứa con đánh mẹ già thì mình sân lên. Những cảm giác đó sanh ra do có sự tiếp xúc, đó là duyên khởi của nghiệp. Cho nên chư vị Tỳ-kheo ngày xưa mà thành tựu lậu tận là không tiếp xúc với ngũ dục bên ngoài, chỉ nhìn thấy Đức Phật, nhìn thấy bìa rừng ven suối, núi đồi, gốc cây, hang động trống vắng để chánh tri kiến hướng đến chánh tư duy, hoặc là xúc với bộ xương, 32 thể trược, với 9 giai đoạn của một tử thi. Ngày qua ngày chỉ tiếp xúc như vậy thì thành tựu là chuyện đương nhiên, còn mình bây giờ không tránh xúc mà mình xúc với những cái không đáng tiếp xúc thì nghiệp sanh khởi. Mọi người có thấy sự khác biệt giữa ở nhà với ở Linh Quy không? Mọi người tu với bạn bè với các huynh đệ, chư Tăng-Ni ở Linh Quy có khác không? Chỉ mỗi việc tu thôi là thọ; tưởng; hành đã khác nhau chứ đừng nói chi đi chợ hay vào chỗ ăn chơi. Tất cả mọi người khi lên Linh Quy đều tiếp xúc với thiện pháp, có chăng trong thân tâm bị giao động nhưng do thiện pháp quá lớn ở đây trấn lại làm ác pháp trong thân tâm không sanh ra được. Tiếp xúc những cái tốt để sanh ra thiện pháp, việc lành, tiếp xúc để sanh ra trí huệ, sanh ra sự hiểu biết, sanh ra sự cảm thông, tuệ tri, liễu tri, thắng tri, thánh trí trong xúc. Vì vậy hãy biết lựa chọn cái xúc để mình tu. Mỗi buổi sáng khi Minh Thành ra nhìn mặt trời mọc trên những cành trúc thì Minh Thành thấy rất thanh tịnh, an lạc. Những người tiếp xúc với những ác pháp mà không tu tập thì mình phải thương những người đó, chỉ toàn tiếp xúc với tiền bạc, danh lợi, dục lạc thì suy nghĩ, cảm giác, nghĩ tưởng, hành động của họ đi theo những cái đó rồi tập thành thói quen tạo ra nghiệp lực. Ví dụ mình suy nghĩ hút thuốc thì đó chỉ mới suy nghĩ, sau khi suy nghĩ tạo thành hành động là cầm điếu thuốc hút, đó là nghiệp. Hút 1 lần chưa thỏa mãn, hút tiếp 2-3 lần thành ra nghiền thuốc. Từ trong suy nghĩ đưa ra tới lời nói, hành động tới thói quen đến nghiền thì đã trải qua cả một vòng huân tập. Mình đã huân tập cái đó trong dục tham ái, sân si, bản ngã trong vô lượng vô biên kiếp rồi. Mình muốn chiến đấu với các thói quen này, quật ngược lại thì phải có sức mạnh hùng dũng, kiên cường. Không được chán nản, bây giờ mình đã nhìn ra, đã thấy nó rồi thì mình phải cố gắng, không được nản lòng. Nó quật mình ngã thì lần sau mình tiếp tục cố gắng, cứ tiếp tục như vậy thì cũng có ngày mình chiến thắng, mà hễ thấy chánh pháp là mình sẽ chiến thắng. Vì vậy phải nhìn thấu đáo về vấn đề này.
Này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sai biệt? Này các Tỳ-kheo, có nghiệp đưa đến cảm thọ ở địa ngục, có nghiệp đưa đến cảm thọ loài bàng sanh, có nghiệp đưa đến cảm thọ cõi ngạ quỷ, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới loài Người, có nghiệp đưa đến cảm thọ thế giới chư Thiên. Do hành động, thói quen, cách suy nghĩ, nói năng, hành động sẽ đưa đến những cảm thọ, cảm giác khác nhau. Khi bước vào nhà vệ sinh, Minh Thành thấy con tắc kè chạy trốn ra sau tấm gương mà Minh Thành cảm thấy xúc động vì Minh Thành thấy hành động chạy trốn đó là do lo sợ, nhưng cái cảm xúc nhất là nó cảm thấy xấu hổ với thân thể của loài thú vật, súc sanh, hễ nghe tiếng động là sợ chạy trốn. Khi nhìn thấy như vậy thì những pháp quán vận thành trong tâm mình, một người bị què quặc sẽ không dám xuất hiện chỗ đông người. Giả sử mình bị què thì mình có dám đi ngang đám đông đang ngồi theo cách tự nhiên, bình thường hay mình sẽ có cảm giác ngại ngùng, tự ti, mặc cảm? Vì mình không được như người ta, mình bị tật nguyền. Hay như trên mặt mình tự nhiên nổi lên cục mủ to, bị sưng đỏ thì mình trốn trong nhà hay vẫn đi ra chỗ đông người một cách thản nhiên? Nếu mình có một cái gì đó khiếm khuyết từ thể xác đến tinh thần thì mình cảm thấy xấu hổ, né tránh, lẩn trốn. Con tắc kè cũng giống như vậy, trong vô lượng vô kiên kiếp mình cũng từng ở trong thân súc sanh, là con giòi, con bọ chét trên thân con chó ghẻ, mình từng là con cá lòng tong, cá tra để mình hứng những cục phân trong vô lượng kiếp của vòng luân hồi. Không thể kể hết những kiếp mình đã đi qua trong những cái thân xúc sanh đó mà bây giờ mình vào được tấm thân người, đôi khi vẫn cảm thấy xấu hổ khi không bằng ai, người ta giàu có, đẹp đẽ, thông minh mà mình tồi tệ quá hoặc mình tự cao, đi đâu cũng vênh váo thì phải biết tu tập. Khi Mình Thành quán chiếu dòng cảm xúc như vậy thì thấy xấu hổ với tấm thân này, trốn chui trốn nhủi mà mình đã bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp trốn như vậy, biết bao nhiêu người sống trong cảnh rất khủng khiếp, không thể nói được, nhiều khi thấy họ lành lặn nhưng bên trong họ là một sự đau xót tột cùng, có những sự khiếm khuyết tinh thần hoặc có những chiều hướng tình cảm tan nát trong cõi lòng, những thứ chất chứa bên trong lòng là dằn vặt, giày xéo, thiêu đốt. Rất là đoạn trường! Và mình phải chịu đựng điều đó, tất cả là do cái nghiệp sai biệt. Mình không có trí huệ thì nhìn bằng cái vô minh, nhìn bằng cái nghiệp là sai hết. Ví dụ mình nói bà Năm có phước đức quá, ao ước được như bà nhưng bên trong lòng là bà lo 2 đứa con quậy nên bà không dám về nhà. Ai có thể thấy được điều này? Chỉ có bà Năm mới có thể thấy được nội tâm chính bà, bao nhiêu người khác cũng y như bà, bên trong nội tâm là đủ thứ nó hoạt động mà mình không nhìn ra được, chưa kể là dục ái tham, sân si, vô minh, bản ngã. Theo dòng pháp này rồi sẽ còn thấy ra nhiều nữa, cho nên mình thấy cái nghiệp sai biệt này nó khủng khiếp đến mức độ nào. Sáng nay Minh Thành ngồi thiền thì thấy ác nghiệp rất ghê gớm, Minh Thành ăn chay lúc 10 tuổi, 17 tuổi là xuất gia, đi chùa lúc 7 tuổi. Chứng tỏ Minh Thành không ăn mặn, sát sanh nhiều mà sáng nay có con chuột chạy ngay thì bất chợt ý hành sanh khởi chuột núi ngon hơn chuột đồng. Khi tự động sanh khởi lên ý hành như vậy thì mình tác ý ngay "Tại sao lại suy nghĩ như vậy? Đây là suy nghĩ ác nghiệp, bất thiện pháp". Có những điều mình không muốn suy nghĩ mà trong đầu cứ hiện ra, khi đã phát hiện ra nó là rác bẩn thì mình quét sạch liền. Nếu mình không tu, không nhìn ra ngũ uẩn thì khi nó hiện ra gì là mình đi theo thì nó sẽ cuốn mình theo đó. Như vậy cả một sự sai biệt của nghiệp là khủng khiếp. Những đứa trẻ trong trại mồ côi, những đứa trẻ bị bại não, bị bệnh down, bị chất độc màu da cam, bị thần kinh, hay những đứa trẻ chỉ còn da với xương ở Châu Phi, da dẻ đen đúa không có nước để tắm, không có cơm ăn, áo mặc, suy dinh dưỡng nặng. Nhìn những hình ảnh này phải cảm thấy run sợ với ác nghiệp. Một người phụ nữ bị bán làm vợ cho 5-7 người chồng rồi còn bị hành hạ, đánh đập thậm tệ. Tất cả những cái này là ác nghiệp của quá khứ, họ phải chịu những cảm xúc đó trong quá khứ và hiện tại họ phải gánh chịu. Vì thế phải thật cẩn thận với ác nghiệp, hoặc là hình ảnh một người còn trẻ mà bị xích vào sợi xích trong 18 năm, hễ đưa quần áo cho mặc là xé ra hết, để trần truồng như vậy, hoặc là người cha có 3 đứa con đều bị thần kinh, 3 người con này bị xích chân trong nhà, chỉ để mỗi song cửa vừa đủ đưa thau cơm vào, phải trộn thuốc ngủ vào cơm cho các con ăn, mỗi lần đem cơm đều bị 3 đứa con la hét, chửi rửa. Người cha nuôi 3 đứa con như vậy trong 30 năm. Minh Thành nói mà cảm thấy rùng rợn, hay có những người tù đêm khuya không ngủ được, thức từ 12h đêm tới 3h sáng vì khi nghe cửa kéo và tiếng dây xích leng keng là họ biết có người bị đem đi xử tử nhưng không hề được báo trước. Cho nên tất cả tử tù hầu như đêm khuya là không thể ngủ được vì không biết hôm nay đã đến lượt mình chưa hay phòng bên cạnh. Họ phải sống trong cảm giác lo lắng, hoảng loạn, sợ hãi kinh hồn rồi đến lúc chết trong sự đau đớn, hối hận như vậy thì họ đi đâu? Vì vậy con mắt mình phải mở rộng ra để nhìn cho rõ mọi ngõ ngách, góc khuất đang diễn ra trên đời sống này. Bản thân mình may mắn được một chút phước lành, có chút ít thiện pháp trong quá khứ mà mình không cố gắng tu hành, ngược lại còn phung phí phước đức, phung phí những phước báu mình đã gieo trồng, tích lũy thì đời sau mình sẽ đi đâu? Minh Thành mới chỉ nói đến loài người, còn ác nghiệp đưa đến địa ngục, ngạ quỷ là khủng khiếp. Minh Thành không biết con ễnh ương nhảy vào cửa kiếng lúc nào mà Minh Thành mở cửa ra là kiến ăn hết da thịt, tới xương vỡ nát ra. Khi ngồi thiền chỉ có con muỗi hay con kiến đậu trên người là mình đã thấy khó chịu rồi, bây giờ lỡ như có con giòi chui vào mũi, bò lúc nhúng ăn da thịt mình thì làm sao mình chịu nổi mà bây giờ cứ nói lời ác, suy nghĩ ác, hành động ác? Có những con chim bay xuống mổ con sâu thì con sâu quằn quại, đau đớn. Còn những loài ngạ quỷ, cô hồn vất vơ vất vưởng bao nhiêu năm vẫn không thể đào thai vì sự tiếc nuối, nhiều khi lấy cái cây đó làm nhà rồi ở trong đó ngàn năm. Có những cái cây hễ người nào chặt vào là bị bệnh, bị tai nạn. Họ bám trụ vào đó, họ chấp vào chỗ đó, cho đó là nhà của họ hay chính bản thân họ. Mình cũng vậy, mình bám chắc vào món đồ, căn nhà hay tài sản gì đó, nếu mạnh quá thì sẽ trở lại để giữ món đồ đó, không siêu thoát khỏi nơi đó được. Còn những cảnh đánh ghen mà tạt a-xít hay đổ xăng lên người rồi đốt. Thật sự là kinh hãi trong ác nghiệp!
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp dị thục? Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng có ba loại nghiệp dị thục: Ở ngay đời hiện tại, hay ở đời sau, hay ở một đời sau nữa. Dị là biến dị, biến đổi. Thục là chín muồi. Nghiệp dị thục là nghiệp đó sẽ biến đổi và chín muồi. Cũng như vay nóng mấy chục triệu mà khi trả lên hàng trăm triệu, có khi lên hàng tỷ, đó là dị thục của nghiệp, tùy theo mức độ vay, vay với ai, vay với hạng nào thì sẽ có mức trả phù hợp. Khi chửi người xe ôm với chửi người xin ăn thì không sao nhưng chửi ngay ông tỉnh trưởng thì sẽ khác. Thì nếu xúc phạm bậc thánh thì nghiệp quả sẽ trả là khủng khiếp vì các ngài đó không còn tâm sân hận, ganh tỵ gì nữa. Khi Đề-bà-đạt-đa bệnh nặng khủng khiếp, quay đầu muốn xin lần cuối về gặp Đức Phật để sám hối thì Đức Phật đã nói Đề-bà-đạt-đa sẽ không gặp được Thế Tôn thì các vị Tỳ-kheo lấy làm ngạc nhiên vì Đề-bà-đạt-đa đã đi gần đến tịnh xá của Thế Tôn. Đúng như lời Phật nói, khi Đề-bà-đạt-đa đi gần đến thì đất bị sụt lún và Đề-bà-đạt-đa bị lọt xuống chết. Ngay lúc đó Đề-bà-đạt-đa đọa địa ngục ngay lập tức. Cho nên khi quán chiếu về ác nghiệp là cảm thấy sợ hãi, kinh khiếp. Cũng câu nói đó, hành động đó nhưng đối với người nào, đối với hoàn cảnh nào và đối với tâm nào thì cái nghiệp sẽ biến đổi và chín muồi chứ không phải tạo gì ra đó, không phải trồng dưa được dưa, trồng đậu được đâu. Đây chỉ là nhân quả thông thường của phàm phu, còn nhân quả trong trí huệ của Đức Phật là khác biệt hoàn toàn. Không phải gieo hạt gì thì cứ vậy mà nó lên cây, hạt giống phải biến đổi thành mầm, thành cây con rồi mới lớn lên ra quả. Cái nghiệp cũng vậy, nó sẽ biến đổi và đưa đến kết quả trổ ra, gọi là nghiệp và quả của nghiệp, nên mới gọi là nghiệp dị thục. Khi nãy là sự khác nhau của nghiệp, gọi là nghiệp sai biệt. Bây giờ là sự biến đổi và chín muồi của nghiệp, gọi là nghiệp dị thục.
Nghiệp dị thục có 3 trường hợp. Mình tát người ta rồi người ta tát lại, nhưng khi tát người ta mà người ta không tát lại, nhưng tới đời sau mới trả cái tát đó. Vì cảm thọ sân hận tích tụ, có thể ngay hoàn cảnh đó người ta không thể trả đũa được vì lý do nào đó nhưng cảm thọ sân hận tích tụ trong kho của cảm giác, không có mất đi. Khủng khiếp như vậy, đời sau sanh ra cái nghiệp đó biến đổi và chín muồi, khi gặp trường hợp đó thì bung ra thì nó không còn là cái tát nữa. Đó gọi là cái nghiệp biến đổi và chín muồi. Ở một đời sau nữa, tức là có những trường hợp 5-7 đời sau thì cái nghiệp đó mới chín muồi, một khi đã chín muồi thì rất khủng khiếp, kể cả ác nghiệp lẫn thiện nghiệp. Tức là cái ác cũng phát triển lên mà cái thiện cũng phát triển lên. Cho nên hãy chọn nghiệp thiện để dị thục ra cái tốt, cái tâm thiện, lời hiện, hành động thiện biến đổi chừng nào thì ra hoa trái ngọt chừng đó. Còn ác nghiệp khi đã biến đổi thì đáng sợ và kinh khiếp, nếu mình quán chiếu kĩ là rất khiếp sợ. Có một Phật tử tâm sự chỉ vì người này nói một câu mà người thân giận 14 năm, người Phật tử này có cảm giác đau đớn ray rứt, khó chịu và không giải tỏa được. Dù cho nói xin lỗi thì người kia cũng không chịu. Cái này mới dị thôi chứ chưa thục, tức là mới biến đổi thôi chứ chưa chín muồi. Minh Thành khuyên người Phật tử này phải sám hối, phải xin lỗi một cách chân thành, tha thiết và phải làm mọi cách để hóa giải mối hận này. Còn nếu để mối hận này thục, tức là để cho chín muồi thì cái giả phải trả là gấp trăm ngàn lần khi cái nghiệp đi tới chỗ dị thục. Có những chuyện nhỏ xíu mà đau lòng, có bà vợ tiêu xài tiền mà không thông báo với chồng, người chồng tức giận nói qua nói lại là lấy dao đâm chết, cái nghiệp dị thục một cách hết sức mau chóng. Như vậy là phạm vào giới trộm cắp, tuy là vợ chồng nhưng lấy tiền mà không nói. Cho nên mình thấy sự bảo vệ của Đức Phật trong giới rất là hay. Nhìn bên ngoài chỉ thấy người vợ tiêu xài không đáng mà sao người chồng phản ứng dữ dội mà mình không thấy cái nghiệp này dị thục, tức là những việc xảy ra trong quá trình chung sống ngày này qua ngày kia của vợ chồng được chồng chất lên, tới lúc này là giọt nước tràn ly chứ không phải chỉ là mỗi việc tiêu xài tiền mà đâm chết nhau, việc tiêu xài này chỉ là giọt nước cuối cùng làm tràn nước. Cho nên mình thấy những cặp vợ chồng ly thân, ly dị hay sanh ra những việc oán hận, thậm chí sát hại lẫn nhau là do cái nghiệp dị thục này. Không phải chỉ vì câu nói hay việc làm đó là người ta bỏ mình, mỗi ngày chồng chất một việc, chồng chất lên nhau rồi biến đổi sự việc và cuối cùng ra kết quả là trái đắng. Mình phải quán chiếu như vậy thì mới thấy hay.
Có những nghiệp dị thục đáng vui. Thầy Pháp An không muốn ở lâu trên núi vì buồn, nhớ gia đình. Lúc đầu thói quen ngoài đời cũng còn nhiều nên mọi người đều né tránh nhưng khi đã vào pháp, được huân tập từ từ nên giờ tính tình biến đổi, không còn muốn về quê. Bây giờ cái nghiệp đã dị thục, tức là cái nghiệp được biến đổi và chín muồi theo chiều thiện pháp cho nên nó tốt. Thành ra dị thục không phải tất cả là xấu, quan trọng là biến đổi theo thiện hay ác, trắng hay đen, tốt hay xấu mà thôi. Thành ra mình phải khéo chọn lựa cái nghiệp.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, là nghiệp đoạn diệt. Những điều này sâu sắc vô cùng. Trong tích xưa có tương truyền, một cô thiên kim tiểu thư thương ông thầy Ngọc Lâm Quốc Sư, cô thương đến nỗi bệnh tương tư và cô xin cha mình rước ông thầy ra đời để cưới, nếu không cưới là chết. Người cha mới đến đảnh lễ sư phụ trụ trì làm sao để cứu cô con gái thì người sư phụ vào nói với ngài Ngọc Lâm và sư phụ dặn dò ngài Ngọc Lâm ra đi phải làm rạng danh Phật pháp. Chuyến đi này với ngài Ngọc Lâm cực kì quan trọng, một là mất tất cả, vì đâu phải dễ mà có con gái vừa đẹp vừa là con nhà quyền quý theo đuổi. Còn hai là rực sáng vì giáo hóa được cô gái trẻ. Ngài Ngọc Lâm ra điều kiện khi ngài nói gì thì cô tiểu thư phải nghe theo, tới đêm động phòng thì ngài Ngọc Lâm yêu cầu tiểu thư cầm bó nhang đi theo sau mình thiền hành, cô dâu vừa bệnh vừa mệt mà phải cầm bó nhang đi thiền hành rất nhanh. Sau khi đi thì ngài Ngọc Lâm yêu cầu tiểu thư nhìn vào gương rồi so sánh mặt mình với gương mặt của ngài, trong khi mồ hôi chảy đầm đìa trên gương mặt tiểu thư làm son phấn lem luốt, đầu tóc rối bù mà ngài Ngọc Lâm đi trong tâm thiền, trong sự nhiếp niệm chánh định, niệm định tuệ thì gương mặt ngài vẫn má hồng, tướng hảo trang nghiêm, rồi ngài nói tiếp "Tiểu thư thấy có xứng không? Tại sao một đời xuất gia thanh cao đạo hạnh của tôi mà cô lại phá hủy? Cô vì sự ích kỉ riêng tư của bản thân mình mà lại đi phá hủy đời tu lợi lạc cho bao nhiêu chúng sanh". Ngài phân tích, chỉ dạy bằng lời lẽ vừa nghiêm nghị, mạnh mẽ vừa nhẹ nhàng và đánh sâu vào trong cảm giác, làm thức tỉnh tiểu thư. Cuối cùng tiểu thư xuất gia làm đệ tử của ngài, được đặt tên là Giác Chúng, với ý nguyện muốn giác ngộ chúng sanh. Điều đặc biệt là sau khi tiểu thư xuất gia thì ngài Ngọc Lâm không bao giờ tiếp xúc với tiểu thư cho đến khi ngài viên tịch. Những câu chuyện Phật giáo này cực kì thâm sâu, khi mọi người đọc thì phải để ý, nghiền ngẫm mới có thể hiểu hết được ý nghĩa, còn không là không thể hiểu được. Có nghĩa là ngài Ngọc Lâm đã chặn mọi sự tiếp xúc vì xúc đoạn diệt là nghiệp đoạn diệt, tức là chặn mọi sự tiếp xúc để có thể sanh ra tiếp nghiệp chướng giữa ngài và tiểu thư. Còn mình lên núi tu nhiếp phục được dục, đến khi về nhà lại mở điện thoại nhắn tin, gọi điện liên tục thì mình diệt dục hay dục diệt lại mình? Chỉ trừ bậc Nhị quả đến bậc Tam quả Bất lai, lậu tận A-la-hán mới có thể trừ khử được dục, sân, muội lược tham sân thì khi tiếp xúc mới không sanh dục sân. Còn không thì kể cả bậc Dự lưu vẫn còn tập khí như thường, cho nên nếu tiếp xúc mà mong rằng hết nghiệp thì không được, chỉ khi nào không còn xúc mới không còn nghiệp. Cho nên Minh Thành mới nhìn ra được các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật chứng quả liên tục là do họ đều chặn hết mọi sự xúc chạm, nghe giảng và được sự hướng dẫn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đánh vào ngũ uẩn, đánh vào dục tham ái và độc cư một mình, giới thanh tịnh, tri kiến chánh trực, ngoài ra còn có thêm thiền định thì mới đốt được hết các lậu hoặc. Còn mình không thành tựu là do mình không những không chặn mà còn nuôi dưỡng, chất chứa, tăng trưởng, phát triển nên ngày càng đi sai thánh đạo, mà thánh đạo còn không bước lên được thì làm sao có thánh quả? Còn nếu tu đúng theo chánh pháp thì chắc chắn có Đệ nhất Sa-môn, Đệ nhị, Đệ Tam và Đệ tứ Sa-môn. Nhưng giờ có nỗi khổ là vào thất, vào rừng độc cư mà đem theo điện thoại thì vừa có lợi cũng có hại, cho nên người nào muốn tỉnh tu độc cư là phải cắt điện thoại. Chỉ với một chiếc điện thoại nhỏ thôi là tóm thâu cả thế giới trong đó, muốn xem gì có đó mà hễ xem nhiều thì dục sanh, là thọ; tưởng; hành sanh thì làm sao tu được? Nếu Minh Thành được tiếp xúc với chánh pháp sớm hơn thì đã vào các tầng thánh quả rồi chứ không phải như bây giờ còn phải giải quyết những rác bẩn tồn đọng trong thân tâm. Cứ tiếp xúc nhiều vào rồi ngồi thiền tịnh cư bảo dục đừng khởi, đừng tham ái thì làm sao được? Vì đã tiếp xúc là đã thọ, mà thọ là ái, có ái là có thủ. Đã tiếp xúc là có cảm giác, khi đã có cảm giác thì có sự yêu thích, đã yêu thích là có nắm giữ, buộc chặt mà bây giờ kêu từ bỏ thì làm sao làm được? Lại còn không quán chiếu các đề tài bất tịnh thì làm sao từ bỏ được để tỉnh tu? Vì thế phàm phu không có lối ra, không có thánh đạo thì ngàn tỷ kiếp cũng không thoát ra được. Bây giờ những điều này không có người giảng giải, nếu có thì cũng chỉ nói trên chữ nghĩa kiến thức chứ không làm sáng được thánh đạo, không có đường lối rõ ràng thì làm sao thánh pháp được rực sáng? Mình phải chọn thiện pháp để tu, cái hướng của mình là đi đến chỗ không đen không trắng, nhưng trước tiên phải diệt cái đen làm cái trắng trước. Hai vợ chồng khi đã li dị rồi thì chấm dứt, lên núi tập sự là không còn gọi điện hỏi thăm gì nữa, vì cứ gọi hỏi thăm thì thọ; tưởng; hành sẽ liên tục sanh khởi làm chướng ngại không thể tu được. Bình thường ở nhà gặp mặt thì cãi nhau, còn đi xa không nghe tiếng thì cảm thấy thiếu. Sắc tưởng quá khứ sanh khởi, cảm giác quá khứ nổi dậy, suy nghĩ sanh khởi cho nên cái đặc biệt trong chủ đề này là mỗi chủ đề đều đưa đến lậu tận, vì trong đây là lời của Đức Phật mà Đức Phật là vị đã viên mãn, nên cái gì Đức Phật nói đều tận cùng. Cho nên 500 chủ đều này đều là 500 đề mục thiền quán đưa đến lậu tận, tối thiểu cũng đưa đến Nhập lưu. Khi mình đã thọ, tưởng, hành, nói chánh pháp thì mình đã trú trong thiện pháp, thánh trí, còn giờ này trong thất có khi ngủ lén không chừng, nhiều khi làm biếng ngủ nướng. Cho nên mình phải nhiếp phục và phải thấy cái xúc hết sức quan trọng.
Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt. Ðó là chánh tri kiến... chánh định. Khi nào, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các nghiệp như vậy, rõ biết các nghiệp sanh khởi như vậy, rõ biết các nghiệp sai biệt như vậy, rõ biết các nghiệp dị thục như vậy, rõ biết các nghiệp đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các nghiệp đoạn diệt.
Thành tựu 6 loại trí huệ về nghiệp này thì mới thể nhập Phạm hạnh cứu cánh của người tu. Bát Chánh Đạo là con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt, tất cả đều phải đi qua con đường Tám Đúng này.
./.