Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng Bà La Môn 1 - Từ Sân Hận Đến Thánh Quả

2026-03-03 00:54:36
Kinh Nikāya Giảng Giải

TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN 1

TỪ SÂN HẬN ĐẾN THÁNH QUẢ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sát phẫn nộ PAGEREF _Toc86067591 \h 1

II. Phỉ báng PAGEREF _Toc86067592 \h 6

I. Sát phẫn nộ

Chúng ta sẽ tìm hiểu về Tương Ưng Bà La Môn, chúng ta sẽ tìm hiểu đời sống thật của Đức Phật và giới tu hành thời đó. Chúng ta đã học đạo lý, lý thuyết nhiều, nay chúng ta học về thực pháp, khi Đức Thế Tôn thể hiện trong đời sống sinh hoạt khi xúc chạm với việc đời, tâm Ngài không động, không sầu, luôn thể hiện được đại trí tuệ và tình thương bao la, phù hợp với các vị cư sĩ.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh tập một, chương bảy Tương Ưng Bà La Môn, phẩm A-la-hán thứ nhất:

“1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn Dhananjàni, vợ một người Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja, có lòng tín thành đối với Phật, Pháp và Tăng.

3) Rồi nữ Bà-la-môn Dhananjàni, trong khi bưng cơm cho Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja, hứng khởi thốt lên ba lần lời cảm hứng: "Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác ấy!"”

Ý nói người nữ Bà-la-môn đang mang cơm thì nhớ về Đức Phật, cảm niệm ân đức của Đức Phật và thốt lên ba lần “Kính lễ bậc tôn kính nhất trên đời, bậc đã tẩy sạch tất cả tham, sân, si, bậc đã thấy biết cùng tận về sự thật, của thân tâm và thế giới. Nhưng nghe như vậy thì người chồng khó chịu:

“4) Được nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja nói với nữ Bà-la-môn Dhananjàni:

- Như vậy, trong mọi thời, mọi dịp, kẻ hạ tiện này nói lời tán thán vị Sa-môn trọc đầu ấy. Này kẻ Hạ tiện kia, ta sẽ luận phá bậc Đạo Sư của Ngươi."

“Kẻ hạ tiện”, “ngươi” chỉ người vợ, vì những người vợ trong thời kì đó bị phân chia giai cấp nên gọi là “ngươi”. Vợ chồng bây giờ thì lại kêu nhau là “bà” nhưng trong bài gọi là “ngươi”. Câu văn trên ý người chồng Bà-la-môn nói: dù ở đâu, chỗ nào, người vợ cũng tán thán người thầy tu đầu trọc đó. Ông ta sẽ đi đến tranh luận với Đức Phật để phá vỡ lời nói thầy của người vợ.

“5) Thưa Bà-la-môn, tôi không thấy trong thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, trong chúng Samôn hay Bà-la-môn, giữa chư Thiên hay loài Người, không một ai có thể luận phá Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Vậy này Bà-la-môn, Ông hãy đi. Sau khi đi, Ông sẽ biết.

6) Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

7) Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Sát vật gì, được lạc?

Sát vật gì, không sầu?

Có một pháp loại gì,

Ngài tán đồng sát hại,

Tôn giả Gotama?”

Ý bài kệ hỏi Đức Phật giết vật gì được vui, không còn buồn nữa? Có pháp nào mà Đức Phật đồng ý cho sự giết hại không? Vì ông Bà-la-môn đang sân hận, nổi giận trong tâm nên hỏi là giết cái gì.

“(Thế Tôn):

8) Sát phẫn nộ, được lạc

Sát phẫn nộ, không sầu,

Phẫn nộ với độc căn,

Với vị ngọt tối thượng,

Pháp ấy, bậc Hiền Thánh,

Tán đồng sự sát hại.

Sát pháp ấy, không sầu,

Này Bà-la-môn kia.”

Ý nói tức giận là gốc độc, rễ độc, căn nguyên của độc hại. Vì người Bà-la-môn này đang phẫn nộ, tức giận thì đến hỏi giết cái gì được vui thì Đức Phật nói là “Giết cơn giận của ông ấy, đó là gốc rễ độc hại ở trong tâm ông. Ông giết cái đó thì được vui!”

“9) Được nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!

10) Và Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja được xuất gia trước mặt Thế Tôn, được thọ đại giới.

11) Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: " Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa ".

12) Và Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.

(Bài kinh Dhananjàni – Phẩm A-la-hán thứ nhất – Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn – Tương Ưng Bộ Kinh)

Các Bài kinh trước chúng ta thường được nghe Thế Tôn giảng, những bài kinh này chúng ta sẽ nghe thấy Đức Thế Tôn hành, ngôn hạnh, pháp thể hiện ra, trong hành vi, hành động, trong cuộc sống, sự tiếp xúc.

Chúng ta thấy vị Bà-la-môn này tức giận với người vợ, lúc nào cũng kêu Phật, khen ngợi người tu sĩ trọc đầu. Ông ấy ganh tị, tức giận và muốn đi tới để luận phá thầy của người vợ. Người vợ đáp lại “Tôi chưa thấy ai, ngay cả cõi trời hay cõi ma, tất cả những giới tu hành mà có thể luận phá được Đức Thế Tôn. Ông cứ đi tới đi rồi biết”. Khi vị này đi tới gặp Đức Phật thì tức giận, sân hận và hỏi “Thưa Ngài, giết cái gì được vui? Giết cái gì là không buồn nữa. Ngài tán đồng sự giết hại là như thế nào?”

Đức Thế Tôn nhìn thấy trong tâm của vị này đang sân hận, phẫn nộ, ganh tị, đố kỵ, bực tức thì Đức Thế Tôn nói “Giết cảm giác sân hận trong lòng ông đấy! Giết cái đó ông mới được vui! Giết cảm thọ trong tâm ông thì ông sẽ hết buồn. Giết cảm thọ đố kỵ, ganh tị, hơn thua, tranh đấu, tranh giành. Giết cái đó thì ông được bình an. Sự giết hại này là pháp cao thượng của bậc Hiền Thánh, là pháp ngọt ngào, thanh lương, Như Lai tán thành sự giết hại cơn giận này.”

Khi đó thì vị Bà-la-môn mới quay lại, với tâm chân chánh, ngay thẳng, đơn thuần, lương thiện nên nói là quay lại nhìn ngay và thấy là đúng. Thấy nó đang xâm chiếm mình, đang làm cho mình bực bội, thiêu đốt, đang làm cho mình nhiệt não, nóng bức, giết cái này là mình được vui, được hết khổ. Nên vị ấy nói “Thật vi diệu thay. Tôn giả Gotama nói thật vi diệu, tối thượng. Xin Tôn Giả cho con được làm đệ tử.”

Chúng ta thấy trước đó vị Bà-la-môn này muốn đến luận phá, mục đích muốn đi đến là để phá đổ, phá vỡ Đức Phật nhưng cuối cùng lại bị bẻ gãy ngược lại. Dù Đức Thế Tôn không dùng sức mạnh để bẻ gãy, không dùng sự tranh luận để bẻ gãy đối phương mà Đức Thế Tôn dùng sự thấy biết và lòng thương để làm cho những người sân hận đó quy phục, quy kính, quy ngưỡng.

Khi mình gặp một người đang tức giận với mình thì lúc đó ra sao? Đó là làm sao khi xúc chạm việc đời mà tâm không động, không sầu, đó là niềm lành tối thượng. Chính vì vậy nên vị Bà-la-môn mới tâm phục, khẩu phục, quy kính, quy ngưỡng, lạy xuống và xin xuất gia. Khi đã xuất gia thì tinh cần, tinh tấn, ở một mình, vì đã có được pháp hành tuyệt diệu của Đức Thế Tôn thì đi vào thực hành thôi. Một thời gian không bao lâu là tẩy sạch tham, sân, si, thành tựu phạm hạnh cứu cánh tối thượng của một người tu và trở thành một vị A-la-hán.

Vậy nên đây là Tương Ưng Bà La Môn nhưng là phẩm A-la-hán, đây là ý nghĩa vị Bà-la-môn này tu thành tựu Thánh quả A-la-hán.

Qua bài kinh này chúng ta chiêm nghiệm được, khi tu lúc nào cũng hiền hiền, khờ khạo, lúc nào cũng phải mềm mại không? Hay có lúc trở thành sát thủ? Vậy nên có bài kinh Truy sát bản ngã là vì vậy, những cái đó không phải tự nhiên mà từ trong kinh, là sát hại cơn giận phải thẳng tay với nó. Nếu chúng ta không thẳng tay với tham, sân, si thì nó thẳng tay với mình. Mình nương tay với nó nhưng nó lại không nương tay với mình, vậy nên phải sát phạt, sát hại, truy sát những cảm giác sân hận, nóng bức, hơn thua này. Đức Phật gọi đó là độc căn:

“Sát phẫn nộ, được lạc

Sát phẫn nộ, không sầu,

Phẫn nộ với độc căn,”

Ý nói sự phẫn nộ, tức giận, căm phẫn, sôi sục, sừng sộ đó là gốc độc, rễ độc, thuốc độc, chất độc. Chất độc đó còn trong người mình thì nó còn phát tán, còn hủy hoại, còn hành hạ, còn dày vò mình, làm khổ mình, làm khổ người. Vậy nên phải giết hại, sát hại nó, thẳng tay với nó, nếu không thì nó sẽ thẳng tay với mình.

“Với vị ngọt tối thượng,

Pháp ấy, bậc Hiền Thánh,

Tán đồng sự sát hại.

Sát pháp ấy, không sầu,

Này Bà-la-môn kia.”

Nếu mình giết được nó thì mình đạt được pháp tối thượng, nếu mình không giết được nó thì mình bị trúng độc, kịch độc, cực độc, vô cùng độc. Giết được phẫn nộ đó thì mình không sầu nữa, không còn buồn lo nữa.

Vậy nên chúng ta phải làm sát thủ, thẳng tay hạ độc thủ, mạnh mẽ, tuệ lực, sức mạnh.

II. Phỉ báng

Tiếp đến là bài kinh Phỉ báng. Phỉ báng nghĩa là chê bai, báng bổ, mắng nhiếc.

“1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà- la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”

Vì một vị Bà-la-môn danh tiếng, có tê tuổi lớn mà đi xuất gia thì không phải là chuyện thường, nó rất ảnh hưởng, chấn động trong xã hội thời đó. Vì người ta đã tôn thời đạo của họ trong bai nhiêu ngàn năm. Khi đó Đức Phật chưa được biết đến nhiều, không giống như bây giờ là danh vang cùng khắp thế giới. Lúc đó Đức Thế Tôn chỉ vừa được thành đạo chưa bao lâu, không có nhiều người biết, vậy nên người ta không tôn kính, kính trọng như bây giờ.

Nên khi vị Bà-la-môn từ bỏ đạo của mình và đi cạo đầu đi theo học với Đức Phật thì làm chấn động những người khác. Nên một trong số họ là vị Bà-la-môn Akkosaka này phẫn nộ, tức giận, đi đến Thế Tôn.

Vì người ta không biết được Ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và dù có biết cũng không tin được, vì giờ Đức Phật là tượng, ngồi trên bàn thờ, khắp tiếng tăm như vậy còn lúc đó thì Ngài chưa được nhiều người biết đến. Ngài chỉ như một con người bình thường.

“3) Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.

4) Được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:

- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?

5) Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.

6) Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?

7) Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.

8) Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?

9) Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.

10) Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông.

Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!”

Đối với chúng ta khi bị mắng chửi thì lúc đó ra sao? Tâm có còn bình thản để đưa ra ví dụ không? Dùng những lời ác ngữ, mắng nhiếc, thì chúng ta biết bao nhiêu từ nặng nề như bây giờ, chúng ta có thể dùng thọ, tưởng, hành mà quán tưởng ra được những lời nặng nề nhất, thô tục nhất, ác nhất, mắng nhiếc xối xả. Nhưng Đức Thế Tôn vẫn bình thản hỏi, lâu lâu nhà ông có khách đến thăm không? Khách đến thăm thì ông có đãi người ta không? Nếu người ta không nhận, không ăn thì đồ ăn đó về ai? Thì để lại ông ấy.

“Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông.”

Ý nói nếu ông phỉ báng, mắng nhiếc nhưng chúng tôi không phỉ báng, mắng nhiếc lại, ông gây lộn nhưng chúng tôi là người không gây lộn. Như vậy thì chúng tôi không nhận sự việc ấy, sự việc ấy về lại nơi ông.

Chúng ta thấy những lời nói mắng nhiếc đó từ đâu sanh khởi ra? Đó là từ cảm thọ, từ cảm thọ sanh ra khẩu, lời nói, như vậy là đưa món quà ra mà người ta không nhận thì trở về lại nơi người đưa. Tức là ngay khi mình tức giận thì mình phải chịu rồi, những lời nói thô ác, mắng nhiếc thì mình phải thoát ra một cách nhiệt não, nóng bức, tức giận, sân hận, hận thù, thì mình đang chịu những thứ đó.

Các Phật tử nên ghi ba câu này: “Nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông.”

Chúng ta nhớ, không phỉ báng (chê bai), không mắng nhiếc, không gây lộn. Người tu phải nhớ ba cái không trên. Nếu ngày nào thực tập hay ứng dụng ở gia đình thì có an ổn không? Nếu chồng, con hay vợ tức giận với mình thì mình nói “Ông cho quà tôi thì tôi không nhận đâu. Thôi ông để xài đi!” Đó là tập không thọ nhận, không phải đưa gì cũng cầm, không phải trao cái nào cũng nhận hết, không phải gửi gì cũng nhận.

Nếu như lỡ người khác đưa ma túy, chất độc cho mình mà vẫn nhận thì không nên, phải tập không nhận, không chấp nhận, không cầm, giữ, không nhận, thọ. Như vậy thì gia đình bình an, trong chúng, huynh đệ hòa hợp. Nên từ chối “Bột trắng này tôi sợ lắm, đưa tôi không dám cầm.” Hay ai đưa qua cho mình lửa than thì nói “Thôi cái này tôi sợ lắm, cái này phỏng, tôi không nhận đâu.”

“11) Nhà vua và vương cung, vương thần nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama là vị A-la-hán". Tuy vậy Tôn giả Gotama nay đã phẫn nộ.

(Thế Tôn):

12) Với vị không phẫn nộ,

Phẫn nộ từ đâu đến?

Sống chế ngự, chánh mạng,

Giải thoát, nhờ chánh trí.

Vị ấy sống như vậy,

Đời sống được tịch tịnh.”

Ý nói nhà vua và những vị quan nghĩ rằng Thế Tôn còn phẫn nộ, nên Đức Phật mới nói bài kệ này để giải thích với người không phẫn nộ thì phẫn nộ từ đâu đến được? “Tâm của ta hoàn toàn không còn một chút nào hờn giận, sân hận nữa thì làm sao mà sân hận có thể khởi lên được?” Nếu còn thì mới sanh khởi được, đây là hoàn toàn chấm dứt rồi thì làm sao sanh khởi. Đó thể hiện qua hai câu nói “Với vị không phẫn nộ. Phẫn nộ từ đâu đến?”

“Sống chế ngự, chánh mạng. Giải thoát, nhờ chánh trí.” Là sống chế ngự các căn, đời sống nuôi mạng một cách chân chánh. Nên ta có một tâm hoàn toàn giải thoát là nhờ vào trí tuệ thấy, biết đúng nhờ vào thân tâm này. Một vị sống như vậy thì đời sống được tịch tịnh, bình an, lặng lẽ.

“Những ai bị phỉ báng,

Trở lại phỉ báng người,

Kẻ ấy làm ác mình,

Lại làm ác cho người.”

Ý nói người nào bị chê bai, bị chỉ trích, bị mắng nhiếc và người đó lại chê bai, chỉ trích lại người khác thì người đó đang tự làm hại mình và làm hại cho người. Bị người ta chê bai thì mình chê bai lại, bị người khác chỉ trích thì mình chỉ trích lại, bị người ta mắng nhiếc thì mình mắng nhiếc lại, thì người đó cũng là người hại mình, cũng là người hại người khác.

“Những ai bị phỉ báng,

Không phỉ báng chống lại,

Người ấy đủ thắng trận,

Thắng cho mình, cho người.

Vị ấy tìm lợi ích,

Cho cả mình và người.

Và kẻ đã phỉ báng,

Tự hiểu, lắng nguôi dần.

Bậc Y sư cả hai,

Chữa mình, chữa cho người,

Quần chúng nghĩ là ngu,

Vì không hiểu Chánh pháp.”

Tức là ai bị phỉ báng, chỉ trích mà không phỉ báng lại, như vậy gọi là người thắng trận, thắng cho mình, cho người. Người thắng trận là người chế ngự được cơn giận ở trong cảm thọ, trên lời nói, tại hành vi. Người biết làm cho cảm thọ, cảm xúc của mình an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, nhiếp phục, biết chế ngự những cảm xúc sân hận, bực bội, người biết làm cho an tịnh những cảm thọ sôi sục, sừng sộ, nhiệt não, nóng bức đó, người đó là người thắng trận, chiến thắng, chiến sĩ, thắng trận. Chẳng những thắng cho mình mà còn thắng cho người, giúp người ta, cứu giúp người ta.

Giống như vị Bà-la-môn đó dùng ác ngữ mắng nhiếc Thế Tôn, nhưng Thế Tôn bình thản, như vậy thì chẳng những thắng cho mình mà còn thắng cho người, giúp cho người. Đó là độ chúng sanh. Không phải đem gì cho ai là độ, khi ông ấy giận, chửi mình mà mình vẫn điềm nhiên, an tịnh, lắng dịu, giúp cho người đó nhận ra được cơn giận của họ là tai hại, là ngọn lửa, là hỏa hoạn, thiêu đốt tự thân tâm của họ, đó là độc căn, căn bản của độc hại, là gốc rễ của tam độc, là nguồn cội của khổ đau. Đó chính là độ chúng sanh, thắng cho mình và thắng cho người.

“Vị ấy tìm lợi ích,

Cho cả mình và người.

Và kẻ đã phỉ báng,

Tự hiểu, lắng nguôi dần.”

Ý nói khi đó người sân hận, phỉ báng, mắng nhiếc đó họ sẽ tự hiểu và lắng nguôi dần cơn giận, cảm thọ, cảm xúc sân đó, để họ tự hiểu.

“Những ai bị phỉ báng,

Không phỉ báng chống lại,

Người ấy đủ thắng trận,

Thắng cho mình, cho người.”

Các Phật tử nên thuộc lòng các câu trên, nhất là trong thời gian này, hoàn cảnh này rất dễ bức xúc, dễ bực, dễ quạo, thắng mình thắng cho người, lợi mình, lợi cho người, độ mình độ cho người là nhiếp phục được cảm thọ sân hận đó, cảm xúc tức giận đó, làm cho lắng dịu được cảm xúc sừng sộ, sôi sục đó.

“Vị ấy tìm lợi ích,

Cho cả mình và người.”

Đây thực sự là lợi ích, là tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, tự giác giác tha, làm lợi cho mình, lợi cho người, tỉnh cho mình tỉnh cho người.

“Và kẻ đã phỉ báng,

Tự hiểu, lắng nguôi dần.”

Người chê bai, phỉ báng, mạ lị thì tự họ sẽ hiểu và những cảm xúc tức giận, sân hận của họ sẽ lắng xuống, nguôi dần.

Minh Thành từng gặp các vị ở Srilanka, Myanmar chia sẻ học để sau này dịch lại tạng kinh, khi đó Minh Thành nghe thì cũng thấy nhẹ nhàng nhưng có suy nghĩ “Tại sao con đường ngắn nhất, nhanh nhất, thẳng nhất mà mình không chịu, phải đi một con đường vòng xa vời như vậy? Và biết có làm được hay không?”

Trên là lời của các Hòa thượng dịch đã sáng tỏ, sáng rực chỉ chúng ta áp dụng và thực hành một cách nhanh nhất, ngắn nhất, thẳng tắt nhất cho mình. Nên tại sao mình không đi con đường thẳng, tắt, nhanh, ngắn nhất mà lại chọn con đường vòng khó khổ?

“Bậc Y sư cả hai,

Chữa mình, chữa cho người,”

Ý nói Thế Tôn như bậc y sư, chữa bệnh cho mình và cả cho người. Vậy chúng ta muốn làm thầy thuốc hay bệnh nhân. Nếu người ta sân thì mình sân lại, người ta giận thì mình giận lại, người ta phỉ báng thì mình phỉ báng lại, bị chỉ trích thì chỉ trích lại, bị gây gổ thì gây gổ lại, bị đánh thì đánh lại, đó gọi là bệnh nhân.

Và nếu người ta chỉ trích, phỉ báng và mình không chỉ trích, phỉ báng, người ta gây gổ mà mình không gây gổ lại, người ta đánh mình không đánh lại… như vậy thì mình là thầy thuốc, bác sĩ. Chúng ta thấy hình ảnh của bác sĩ đẹp vô cùng không? Trong đoạn phim tài liệu Ranh giới y đức, sự cao đẹp của một người thầy thuốc, sự hy sinh của những vị ở tuyến đầu chống dịch rất cao đẹp, tuyệt vời, công ơn, công đức. Chúng ta sẵn sàng quỳ xuống lạy họ vì những công đức đó, họ làm những việc mà biết bao người hoảng sợ, khiếp sợ, chỉ nghe nói thôi mà người ta đã run sợ nhưng họ dám làm. Đó gọi là y đức, sự cao đẹp của thầy thuốc, bác sĩ, của ngành y, họ trị bệnh thân còn đối với người xuất gia là phải trị bệnh tâm.

Chúng ta, đệ tử Phật, từ xuất gia đến cư sĩ, phải là những người thầy thuốc, bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng trị bệnh tâm cho mình và cả cho người. Thế Tôn cũng là thầy thuốc nên được chúng sanh xưng tán là Vô thượng y vương, là vua của tất cả các thầy thuốc vì Ngài trị được tâm bệnh cho chúng sanh mà không ai trị được.

Thân bệnh thì trị được và gọi là dược sư, y sĩ, y sư nhưng người ta không gọi là vô thượng y vương, vì tâm bệnh không ai trị được, dù có trị đi nữa cũng chỉ là tạm thời, đè nén hay lắng dịu, trốn tránh. Nhưng cách trị triệt để thì Thế Tôn trị được, là vô thượng y vương (bậc y sư vô thượng).

Chúng ta phải là người thầy thuốc tâm linh, trước hết là phải trị cho mình và kế đến là giúp đỡ những người bệnh đến tìm mình, họ đến kiếm chuyện, gây sự, mắng nhiếc, mạ lị, tranh cãi… đó đều là những người bệnh. Người bệnh đến và mình là thầy thuốc thì phải trị giúp họ, nhưng nếu mình cũng bệnh giống họ thì làm sao trị? Vậy nên ít nhất mình cũng phải trị được cho mình khỏe, tương đối thì mình mới giúp, trị cho người ta được.

Chúng ta cần ý thức được, từ cư sĩ đến xuất gia, là đệ tử Phật phải là dược sĩ, bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng cho mình và cho người. Đừng quên chúng ta là thầy thuốc tâm linh, phải hiểu được giá trị thật sự, vị trí của mình mà cứ lo chạy theo bên ngoài, mặc cái áo, đội cái nón, gắn bảng lên mà bên trong thân mình lại bị bệnh nan y, giai đoạn cuối? Vậy nên mình phải trị bệnh tâm mình, bệnh này mình đang nói là bệnh tham, sân, si, dục ái, bệnh vô minh, chấp thủ, bản ngã.

“Bậc Y sư cả hai,

Chữa mình, chữa cho người,

Quần chúng nghĩ là ngu,

Vì không hiểu Chánh pháp.”

Quần chúng ý chỉ số đông, đông người nghĩ là “Tại sao người này ngu vậy? Người ta chửi nhưng sao ông ấy vẫn im, không chửi lại, người mắng sao không mắng lại, gây lộn sao không gây lộn lại? Cứ nhịn hoài vậy?” Nên đó là “Quần chúng nghĩ là ngu. Vì không hiểu Chánh Pháp”

Vậy nên sự biết của mình không đúng, mình cứ nghĩ là mình thông minh, lanh lợi, bén nhạy nhưng đó là cái biết vô minh, cứ nói, phán như mình là quan tòa, chuyện này đúng chuyện này sai, người này thị người kia phi… Sự biết đó là biết vô minh, nên đó là “vì không hiểu Chánh Pháp”, dù là số đông người đều nghĩ “Mắng sao không mắng lại? Chửi sao không chửi lại? Đánh sao không đánh lại?” Nhưng Ngài là bậc Đại Thánh, Tối thượng Thánh, Thánh trung chi Thánh, Thánh trung chi vương, bậc vô thượng của chư thiên và loài người, bậc cả thế gian tôn kính nhất trên đời nhưng khi đó người đời cho là ngu.

Vậy nên sự biết của chúng sanh không đáng là gì, sự biết đó giống như kiến, như hạt cát, con muỗi. Sự biết trong vô minh, tham ái rất nhỏ, dại khờ, si ám, ngu muội, si mê, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ nhen… Sự biết vô minh của chúng sanh không đáng nửa đồng xu.

Chúng ta đi theo sự biết đó để làm gì, muốn biết những thủ đoạn, vô minh, hơn thua đó thì chỉ để xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh sớm hơn thôi. Những người phàm phu thì họ luôn ăn thua, chung đủ, tám lạng nửa cân, giận cá chém thớt… Đủ các trò nhưng chỉ là sự biết nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ nhen, đừng để tâm vào đó và hướng về Thánh trí huệ, sự biết của bậc Thánh, đó là sự biết tối thượng, vô thượng chánh trí. Sự biết đó mới là bậc Đa văn Thánh đệ tử mong cầu, nhưng chúng ta đi tìm những cái biết của phàm phu để được gì.

Vậy nên mình nghĩ thật là thương, bỏ mọi thứ, bỏ cha mẹ để vào chùa tu rồi lại đăng kí đi học xã hội học ở đời, đó là bỏ kho báu, là vì không nhận thức được giá trị vĩ đại của Thánh pháp tối thượng. Vì sự biết của Thánh trí huệ siêu tuyệt thế gian mà chúng ta không ý thức, không thấy được lại đi bỏ sự biết tối thượng, tối cao cùng tột này. Lại đi tìm những cái biết tham, sân si, vô minh, phiền não, hơn thua, nhỏ hẹp của thế gian đó thì thật là đáng thương xót.

Vậy nên cần cố gắng cần cầu để thấy biết của Chánh Pháp vì họ không hiểu Chánh Pháp, sự biết của Chánh Pháp mới là sự biết tối thượng. Tất cả mười ngàn thế giới này đều khát ngưỡng sự thấy biết đó, gọi là tri kiến của bậc Thánh, là văn vô thượng, kiến vô thượng, lợi đắc vô thượng. Sự nghe, thấy cao tột không còn gì hơn, sự tu học không còn gì hơn, lợi ích mà mình đạt được trong pháp này là vô thượng không còn gì hơn được, gọi là lợi đắc vô thượng.

“1. - Có sáu vô thượng này, này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu?

2. Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, học vô thượng, hành vô thượng, tùy niệm vô thượng. Này các Tỷ-kheo, có sáu vô thượng này.”

(Bài kinh Vô Thượng – Phẩm Đáng được cung kính - Chương Sáu Pháp - Tăng Chi Bộ Kinh tập ba)

Vậy nên phải khát ngưỡng, cố gắng nỗ lực để rõ biết được Thánh trí tuệ này, ngoài điều này ra thì không có gì khác nữa, đừng mong tìm gì khác. Vì tất cả cái khác đều không ngoài sanh tử, hữu vi, hữu lậu, tham, sân si, đều là khổ đau, bóng đêm, chỉ cái này là ánh sáng của mặt trời. Nếu mình không thấy được cái này thì mình khổ dài dài, khổ mãi mãi, mình trôi lăn mãi mãi, chìm đắm mãi mãi. Phải ý thức sâu sắc được điều đó để mình tu học, nếu không rất uổng phí.

“13) Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

- Thật là vi diệu thay, Tôn giả Gotama! ...... Con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ- kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia tu học với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.

14) Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.

15) Được thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Akkosaka Bhàrahvàja sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí, tự mình giác ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: " Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa ".

16) Và Tôn giả Akkosaka Bhàradvàkja trở thành một vị A-la-hán nữa.”

(Bài kinh Phỉ báng – Phẩm A-la-hán thứ nhất – Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn – Tương Ưng Bộ Kinh)

“Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí, tự mình giác ngộ, chứng đạt và an trú” là ngay trong đời sống hiện tại, vị ấy đoạn tận được tham, sân, si, sạch hết vô minh và khát ái.

Chúng ta thấy thật tuyệt vời khi chính người Bà-la-môn đó đến để mắng nhiếc Thế Tôn, đó là “phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật”. Vì khi nãy vị ấy đến để mắng chửi Đức Phật, giờ thì nghe nói xong đã sụp xuống lạy, xin được quy y, xuất gia, tu học và chứng được quả A-la-hán. Vậy nên gọi là Tương Ưng Bà-la-môn nhưng là Phẩm A-lan-hán, là từ các Bà-la-môn trở thành A-la-hán.

Bài kinh tiếp theo:

“1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nghe như sau:

" Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình ".

3) Phẫn nộ, không hoan hỷ, vị ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.

4) Được nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng.

5) Rồi Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nói với Thế Tôn:

-- Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục. Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục!

(Thế Tôn):

6) Kẻ ngu nghĩ mình thắng,

Khi nói lời ác ngữ,

Ai biết chịu kham nhẫn,

Kẻ ấy thật thắng trận.”

Ý nói, kẻ ngu nghĩ là mình đang thắng, khi nói những lời ác độc, thô ác, nhưng ai, người nào chịu được sự nhẫn nhịn thì người đó mới thật sự là người thắng. Như câu nói “Ông chỉ là kẻ ngu, ông nghĩ là ông thắng nhưng mà ông đã sai lầm. Đó là ngu chứ không phải thắng! Người thắng là người nhẫn nhịn, chịu đựng được những lời nói phỉ báng, mắng nhiếc đó thì đó mới là người thắng.”

“Những ai bị phỉ báng,

Trở lại phỉ báng người,

Kẻ ấy làm ác mình,

Lại làm ác cho người.

Những ai bị phỉ báng,

Không phỉ báng đối lại,

Người ấy đã thắng trận,

Thắng cho mình cho người.

Vị ấy tìm lợi ích,

Cho cả mình và người,

Và kẻ đã phỉ báng,

Tự hiểu, lắng nguội dần.

Bậc y sư cả hai,

Chữa mình, chữa cho người,

Quần chúng nghĩ là ngu,

Vì không hiểu Chánh pháp.

7) Được nghe nói vậy, Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama...,"... không còn trở lại đời sống này nữa."

8) Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.”

(Bài kinh Asurindaka– Phẩm A-la-hán thứ nhất – Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn – Tương Ưng Bộ Kinh)

Qua đó, chúng ta thấy được oai đức, trí đức của Như Lai, là sự vận dụng pháp của bậc Chánh đẳng giác, không phải là Ngài chỉ thuyết giảng hay, mà đời sống của Ngài, những việc đến và Ngài vận dụng, thể hiện pháp đó. Pháp là thân của Ngài nên gọi là pháp thân, pháp là đời sống, lời nói của Ngài, là hành động, cử chỉ của Ngài gọi là pháp hành, là toàn thân của Ngài, là hơi thở, sự chứng ngộ của Ngài.

Quý Phật tử nên cố gắng học thuộc bài này,

“Kẻ ngu nghĩ mình thắng,

Khi nói lời ác ngữ,

Ai biết chịu kham nhẫn,

Kẻ ấy thật thắng trận.”

Khi mình nói lời mắng nhiếc, chửi rủa người khác thì mình chỉ là kẻ ngu, không phải là kẻ thắng, mình nhẫn nhịn, nhún nhường, bao dung, độ lượng thì mình mới thật sự là kẻ thắng trận.

Bài kinh tiếp theo:

“1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja được nghe: "Bà- la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Samôn Gotama, từ bỏ gia đình, sống không gia đình ".

3) Phẫn nộ, không hoan hỷ, vị ấy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, giữ yên lặng, đứng một bên.

4) Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja, liền nói lên bài kệ cho Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja:

Ai hại người hiền thiện,

Thanh tịnh, không cấu nhiễm,

Ác hạnh được chín mùi,

Phản lại hại người ngu,

Chẳng khác gì ngược gió,

Lại tung vãi bụi trần.”

Ý nói ai hại người hiền thiện, trong sạch, không dơ bẩn, thanh tịnh không cấu nhiễm. Khi hành vi ác được chín mùi thì nó quay ngược lại hại bản thân người ngu đó, chẳng khác gì ngược gió mà tung phải bụi trần, bụi sẽ bay ngược lại vào mặt của mình.

“5) Được nghe nói vậy, Bà-la-môn Bilangika Bhàradvaja bạch Thế Tôn:

- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và Tỷ-kheo Tăng. Mong cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama...,..., Đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: " Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".

6) Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.”

(Bài kinh Bilangika– Phẩm A-la-hán thứ nhất – Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn – Tương Ưng Bộ Kinh)

Chúng ta nghe kể chuyện thì chúng ta có hoan hỷ không? Đây là những câu chuyện người thật, việc thật thời Đức Phật đối với những giới tu hành thời đó. Qua đó chúng ta thấy được cái tâm, hạnh, trí, đức của Như Lai./.