Tâm Khéo Tích Tập Trí Tuệ
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tâm Khéo Tích Tập Trí Tuệ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ PAGEREF _Toc179572859 \h 1
II. Tỉnh giác chánh niệm PAGEREF _Toc179572860 \h 5
I. Cảm thọ
Thứ nhất chúng ta nắm được những yếu chỉ, những cốt lõi, những điểm trọng yếu nhất trong pháp hành cũng như chìa khóa có thể mở được pháp tạng, tức là kho tàng pháp bảo của Nikāya, cũng là cách thức, con đường để chúng ta bước vào nội tâm trực diện với chính mình, với tự thân tâm của mình. Những phương pháp hay những giáo nghĩa mà con trình bày với các thầy phải là người có thực tập mới có thể lãnh hội được một cách sâu sắc, nếu chúng ta chỉ nghe, ghi chép mà trở về không thực tập, không quán chiếu, không hành trì thì không thể hiểu được những lời con nói.
Hôm nay con giới thiệu với quý thầy một phần có thể nói là cực kì quan trọng trong giáo pháp của kinh tạng Nikāya, có thể gọi đây là trái tim của Đức Phật, là con mắt của mười hai phần giáo, là cốt lõi của đại tạng Nikāya. Con mong tất cả các thầy chú tâm vào trong phần chánh văn của kinh cũng như ghi chép lại, nghe thật kĩ, ai có máy thì ghi âm lại để nghe. Đây là Tương Ưng Thọ trong Tương Ưng Bộ kinh, nó rất ngắn nhưng lại quan trọng nhất trong tất cả pháp hành.
"-- Này các Tỳ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðây, này các Tỳ-kheo, là ba thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, I. Thiền Ðịnh)
Lúc trước chúng ta có tìm hiểu về sắc; thọ; tưởng; hành; thức, phần căn bản chúng ta đã nắm được nên bây giờ chúng ta sẽ đào sâu vào sự nhận diện các cảm thọ.
"Vị đệ tử đức Phật,
Ðịnh, tỉnh giác, chánh niệm,
Hiểu rõ ràng các thọ,
Và xuất ly các thọ.
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Tỳ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, I. Thiền Ðịnh)
Không phải đơn giản có thể hiểu được những câu chữ này, có khi phải học, phải tu suốt đời cũng chưa chắc hiểu được. Nhân sinh vũ trụ hay thân, tâm, cảnh, cả vũ trụ này, cả trái đất này, cả hành tinh này hay cả thái dương hệ hay tam thiên đại thiên thế giới không ra khỏi chữ sắc, nó chỉ là sắc uẩn thôi, không có gì khác. Một chữ này là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, cả thế giới này chỉ là tổ hợp của sắc pháp, nó đòi hỏi chúng ta có cái thấy, có cái nhìn, có sự quán chiếu, sự thể nhập từ nơi tri kiến của bậc Thánh và tri kiến của bậc Thánh là sự chứng ngộ của Đức Phật là cả thế giới này chỉ là sắc pháp, sắc uẩn, sắc chất.
Chúng ta cần thực tập tác ý thường xuyên và liên tục, nhìn bất cứ cái gì cũng thấy chỉ là sắc pháp, dù cho đó là cung điện hay mái nhà tranh cũng là sắc uẩn thôi, cũng là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành thôi. Như vậy cả trời đất này, cả vũ trụ vạn tượng này, cả tam thiên đại thiên thế giới không ra khỏi chữ sắc, điều đó cần thực thấy, thực chứng, thực biết, thực giác, cần sự thể nhập, sự quán chiếu, sự tu tập. Nếu không chỉ cần nhìn cái gì lòe loẹt là mình mê, mình thích, nhìn cái gì xấu xí, nghèo hèn là mình khinh thường, chê bai, đó là do không nhìn bằng Thánh tri kiến, là cái nhìn của bậc Thánh.
Cái thấy biết của bậc Thánh là cả địa cầu này chỉ là sắc uẩn thôi, không hơn không kém nhưng để nhận diện được sắc uẩn là phải tu tập suốt đời. Hằng ngày phải tác ý, phải quán chiếu, chiêm nghiệm, thiền tư để loại dần những suy nghĩ của phàm phu, tri kiến. Vô văn phàm phu thấy sắc thì cho rằng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, sắc đó là đẹp, là bền chắc, phải nhờ Thánh tri kiến phá vỡ cái chấp thường còn, vui sướng, bản ngã, đẹp đẽ.
Tâm mình là cảm giác, là những hình bóng bên trong, là những suy nghĩ, là nhận thức, nói gọn lại tâm là thọ; tưởng; hành; thức. Cái này rất quan trọng, nhiều khi ở trong chùa đến chết, lên đến đại lão Hòa Thượng cũng chưa biết tâm mình thực sự là gì nếu không học đúng chánh pháp của Đức Phật.
Hôm nay mình học nhận diện cảm giác, nhận diện những hình bóng trong tâm, nhận diện những suy nghĩ và nhận diện những nhận thức. Con rất mong quý thầy phải thực tập và phải làm bài tập nhưng phải nhiệt tình, giơ tay xung phong, nhận diện ngũ uẩn để thấy nó đang có mặt như thế nào, nó đang sanh khởi, vận hành ra sao, cơ cấu hoạt động, sanh khởi, xâm chiếm, áp đảo mình như thế nào.
Còn tất cả vô văn phàm phu đều cho rằng năm uẩn là tôi thì đó là năm thủ uẩn, bất kì cái sắc nào họ cũng cho rằng đó là tôi, bất cứ cảm giác nào cũng cho là tôi, "tôi đang sướng", "tôi đang giận" ,"tôi đang bực mình", bất cứ hình bóng nào trong tâm cũng cho rằng là tôi đang tưởng, có suy nghĩ nào cũng cho rằng tôi suy nghĩ, có bất kì nhận thức nào cũng cho rằng tôi hiểu, tôi biết. Nếu không được thực tập, không được hành trì nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì có tu mãi cũng ở địa vị của phàm phu, không đi vào chánh tri kiến, Thánh tri kiến, không đi vào được thượng nhân pháp, đây là pháp của bậc thượng nhân, pháp của bậc Thánh.
Mình nhìn được cảm giác và tách mình ra khỏi cảm giác, ví dụ mình đang có cảm giác phừng phực trong lồng ngực thì mình biết mình đang có khổ thọ. Khi mình nhìn được đây là cảm giác khó chịu, bức xúc, một cảm giác nóng bức, thiêu đốt thì đây chỉ là cảm thọ, cảm xúc thôi chứ đây không phải là tôi, không phải của tôi, lúc này mình đã tách mình ra khỏi cảm thọ và cảm thọ đó là đối tượng để mình nhìn, mình quán chiếu. Nếu lúc đó mình cho rằng mình tức giận, mình bực mình thì đó là mình nhập cuộc với cảm thọ, mình cho cảm thọ là mình.
Chỉ cần nhìn cảm thọ là cảm thọ là đã thành tựu một trí tuệ rồi, đó là trí tuệ về cảm thọ, cảm giác, nếu lúc bình thường chúng ta không thực tập cảm giác toàn thân vì đây là cái quan trọng trong tất cả những cái quan trọng, không phải chỉ đọc cho thuộc lòng xong rồi trở ra cũng như bình thường, thậm chí đọc cũng không hiểu, chỉ đọc để cầu xin mà không thấy được thân tâm của mình cho nên khi nổi giận là nhập cuộc với cơn giận, cho rằng "tôi giận", khi có chút cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì dính mắc vào nó "tôi đang sung sướng", "tôi thích thú". Như vậy thì khác gì với phàm phu không biết tu?
Trong kinh Đức Phật phân biệt rất rõ địa vị của vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử biết tu là như thế nào. Cứ có cảm giác sung sướng, khoan khoái là nhập cuộc chung với nó chứ không thấy nó là cảm thọ nữa, hễ có chút bực bội là sân, có chút thích thú là tham, là dục, là ái. Mình thấy người ta chưng hoa lộng lẫy, đẹp đẽ, trang hoàng, giống như cả một vườn hoa thì tâm mọi người ra sao?
Dục hoạt động, tham hoạt động, ái hoạt động, ghê gớm đến như vậy đó. Nếu mình là người chưng hoa, làm sáng đêm thì phải chụp lại đăng lên mạng xã hội, ai vào nhìn chê là sân lên, đến khen thì khoái, thích, tham ái, thêm bản ngã vào "tôi chưng đó", làm gì là dính mắc vào đó. Được khen thì phơi phới, khoan khoái, bản ngã tăng lên, bị chê thì bực bội, sân hận, khó chịu, chạm tự ái, chạm vào bản ngã, như vậy khác gì với người không biết tu? Vậy thì mình tu là tu ở đâu? Mình khác với người có tóc ở chỗ nào? Trí tuệ mình thành tựu ở đâu?
Chính là ở chỗ nhìn ra các cảm thọ đó, không để cho nó đồng hóa mình, nhìn vào vẫn biết mình chưng đẹp nhưng biết nó là thứ sắc uẩn vô thường, rồi nó cũng tàn tạ, làm nhưng biết nó là vô thường, là tan hoại, nó sẽ đi đến chỗ biến diệt, như vậy gọi là phước huệ song tu, vẫn làm nhưng trí về vô thường, về khổ, về vô ngã, về sự tàn hoại, diệt tận của các pháp sắc uẩn vẫn rực sáng, chói sáng, bừng sáng trong tâm mình thì đó mới là cái làm của người tu, làm nhưng không chấp thủ trong đó. Muốn được như vậy phải thực tập rất nhiều, nếu không được khen là phình mũi lên, chê là mặt buồn, thế là dính mắc hết.
Bất khổ bất lạc thọ là một cảm giác không vui cũng không khổ, không mừng cũng không buồn, cứ thường thường đều đều. Đây mới là cảm thọ nguy hiểm vì cái mừng, cái buồn thì ít nhưng cảm thọ đều đều này có mặt rất nhiều, một ngày chúng ta ở trong cảm thọ này rất nhiều mà cảm thọ này là si, là vô minh. Tại sao lại là si, là vô minh? Mình không an trú cảm giác toàn thân, không nhận diện các cảm thọ để xem bây giờ từ đỉnh đầu đến gót chân đang có cảm thọ gì, thuộc dạng cảm thọ nào, do không an trú cảm giác toàn thân nên không nhận diện được các cảm thọ cho nên bức xúc lên là sân, mà hễ dễ chịu, thích thú là tham, dục, ái, đơ đơ ra thì ở trong si mê, vô minh nhưng lại không biết đang có cảm thọ đều đều đó mà nhập cuộc chung với nó. Trong ngũ uẩn thì cảm thọ là hang ổ, là sào huyệt, tất cả những pháp gì đều tụ hội lại ở cảm thọ.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Tất cả pháp đều quy tụ nơi cảm thọ, cảm thọ là kho chứa của tất cả các pháp cho nên có ba loại cảm thọ, cảm giác, cảm xúc, vui, khổ, không vui không khổ nhưng tại sao tựa bài kinh lại để là Thiền định? Vị đệ tử Đức Phật phải có sự định tĩnh, tỉnh giác, chánh niệm, đừng nghĩ rằng chỉ có lúc ngồi thiền mới định mà cái định này nói đơn giản là sự an tịnh, sự tập trung tâm ý, chữ định nói gần gũi là an tịnh, tập trung tâm ý.
II. Tỉnh giác chánh niệm
Tỉnh giác chánh niệm được Đức Phật định nghĩa như sau:
"Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo chú tâm cảnh giác?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ban ngày đi kinh hành, hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh một, vị ấy đi kinh hành hay trong lúc ngồi tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh giữa, vị ấy nằm dáng nằm con sư tử bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến thức dậy lại. Ban đêm, canh cuối, vị ấy thức dậy đi kinh hành hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chú tâm cảnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (VII). Không Thể Rơi Xuống)
" Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm.
Và như thế nào, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt ... rõ biết khi các tưởng ... rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (XI). Tôn Giả Nanda)
Đây là chú tâm cảnh giác và chánh niệm tỉnh giác do chính Thế Tôn định nghĩa, không qua một lời giảng dạy của những người luận sư sau này. Nãy giờ chúng ta đang tụng kinh và tụng những lời kim khẩu của Đức Thế Tôn, những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, bây giờ chúng ta được đọc là cực kì hiếm hoi cho nên chúng ta cần cố gắng học thuộc lòng vì nó tuyệt đối quan trọng trong sự tu học của chúng ta. Đây là những cái căn bản của pháp hành và là bổn phận, trách nhiệm, công việc thường xuyên, thường nhật của người xuất gia.
Ở đây con chia sẻ cho quý thầy cách học mới, trước nay chúng ta học không cẩn trọng, không chính xác, không bám sát vào lời dạy của Đức Thế Tôn cho nên dù học nhiều kiến thức, ở trong chùa lâu nhưng lại không nếm được hương vị của pháp vì pháp học đã có vấn đề, chưa nói đến pháp hành. Pháp học không chính xác thì pháp hành không thể đúng được, chúng ta mới đọc định nghĩa của Đức Phật và cho mở sách để xem nhưng đứng lên nói lại không đúng cho nên học Phật không phải đơn giản.
Chúng ta đã lên trung cấp Phật học thì con chỉ cho các thầy những bí kíp mà các thầy phải lưu tâm thật kĩ, học kinh Nikāya sẽ khác với những cách học trước nay chúng ta đã học là chúng ta phải bám sát từng chữ trong kinh, không được sai một chữ. Trước nay chúng ta học phóng quen rồi, học suy diễn, tưởng tượng cho nên học một thời gian là pháp mạt, từ chuyên môn trong kinh Nikāya gọi là chánh pháp bị nhiễu loạn, không còn đúng lời Phật dạy nữa, mạnh ai người nấy suy diễn theo kiểu của họ, không y cứ vào kinh điển tuyệt đối.
Những gì Đức Phật nói là không thêm một chữ và cũng không bớt một chữ được vì đó là chuẩn tắc của bậc Đại Giác, Đức Phật không bao giờ nói thừa một chữ hay nói thiếu một chữ. Còn chúng ta đọc kinh rồi là diễn giải theo ý mình nên không đi theo đạo lộ Thánh đạo của Đức Phật được, học thuộc kinh sẽ đem lại lợi lạc, lợi ích dài lâu trong hiện tại và tương lai về sau.
Nếu có người hỏi mình chánh niệm tỉnh giác thì mình trả lời thế nào? Mình trả lời theo cái mình nghe ai nói hoặc mình nhớ trong sách nào chứ mình không nhớ 100% theo lời Đức Phật định nghĩa, nếu như vậy thì cái pháp học đó không viên mãn, không chính xác với lời Đức Phật và thực hành theo cái đó thì không đúng được, không có Thánh đạo thì không có Thánh quả. Những gì Đức Phật nói ra là Thánh đạo và mình làm y theo đó thành công thì gọi là Thánh quả, Thánh quả chính là thành quả của sự tu học chứ không có gì xa xôi cho nên có đạo mới có quả, mình có đi trên con đường đúng thì mình mới đến được đích mà mình muốn đến.
Bây giờ con đường mình đi không đúng thì làm sao mình đến đích chính xác được? Cho nên pháp học rất quan trọng, nếu pháp học không đúng thì pháp hành cũng không đúng, pháp hành không đúng thì không có kết quả, đó là lý do tại sao bây giờ chúng ta tu học không thấy Thánh Tăng, không thấy những vị đắc những Thánh quả.
Trong bài kinh Không Thể Rơi Xuống Đức Phật giải thích chú tâm cảnh giác, chúng ta phải nhớ tinh thần chúng ta đang học ở đây là dùng kinh để giải thích kinh chứ không dùng luận để giải thích kinh. Đây là điểm rất sâu sắc, luận thì mỗi người sẽ nói mỗi kiểu, nếu vị đó chưa phải là bậc Thánh thì vị đó sẽ luận theo phàm phu tri kiến và mình đi theo cái luận đó thì làm sao đi đến tri kiến của bậc Thánh nhưng hiện tại đa số chúng ta lại thích luận.
Bây giờ học là quay trở về lấy kinh để giải thích kinh, như vậy mới trở về được lời dạy nguyên chất của Đức Phật, đây là điểm quan trọng tiếp theo, đây là kinh nghiệm xương máu của bản thân con sau 30 năm tầm cầu. Hãy lấy kinh để giải thích kinh chứ đừng y cứ theo tông phái vì mình sẽ bị tư tưởng của tông phái đó giới hạn, phải lấy lời dạy của Đức Phật để giải thích lời dạy của Đức Phật, muốn như vậy thì phải trầm mình trong tạng kinh Nikāya, phải nhuần nhuyễn trong đó, đọc cho nhừ hết kinh trong đó, nghe cho thấm thía trong đó và nắm được từng phần trong đó. Hiện tại chúng ta vô cùng có phước duyên khi có bộ phân loại Nikāya và Minh Thành cũng đưa lên mạng, các huynh đệ lên đó tải về, đây là công đức vĩ đại của sư cô Chơn Tín Toàn, cô làm khi cô còn là vị cư sĩ, cô dành gần 10 năm để phân loại tạng kinh Nikāya. Học rất tiện lợi, có gần 500 chủ đề trong đó.
Chỉ mới thực tập diễn giảng đã bỏ hết kinh sách, đi tay không lên cho oai, đó là bản ngã, cái tôi. Chính cái tôi đó làm mình xa rời chánh pháp, nếu mình chắc chắn thuộc 100% thì bỏ bản kinh ra, còn không thì cầm theo đọc. Mình có giỏi hơn những vị tam tạng pháp sư không? Người ta học thuộc hết cả đại tạng kinh cho nên có rất nhiều vấn đề cần nhìn lại trong việc học đạo ngày nay, khi đã lên đến Cao đẳng thì phải nhìn ra những chỗ sâu sắc, nhìn ra những chỗ thâm sâu chứ không nghe một chiều, cứ lên nghe giảng rồi ghi chép thì giống như sơ cấp, chúng ta phải có tầm nhìn xuyên thế kỉ, phải có tầm nhìn sâu sắc về giáo pháp trong sự tu học, không phải xưa bày nay làm, ai sao mình vậy mà phải nhìn ra được những cái nhìn thâm sâu. Tại sao Phật pháp dần dần chỉ còn hình thức bề ngoài?
Cái lõi nó là gì? Mình phải suy tư, thao thức, trăn trở, tầm cầu, tìm kiếm mới được. Những câu chữ trong kinh là định lý chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không tự sửa được, những định lý bình thường của thế gian đã không sửa được thì huống hồ gì định lý tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không thể muốn nói sao là nói.
Điều quan trọng là "tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". Thế nào là các pháp chướng ngại? Chính là năm triền cái, bất cứ khi nào mình đi đứng hay ngồi nằm mà trong tâm khởi lên dục, tham thì phải lập tức tác ý tẩy sạch, không để cho nó sanh khởi, không để cho nó an trú, cư trú, càng không chất chứa, nuôi dưỡng, phát triển trong tâm.
Ví dụ mình đã có xe đi học nhưng hôm nay thấy sư huynh có xe đời mới rất đẹp, trong tâm mình sanh khởi lên ý nghĩ mình cũng muốn có xe giống vậy, khi mình sanh khởi lên suy nghĩ đó, một sự tham muốn đó thì hình bóng chiếc xe ám ảnh trong tâm mình, cảm giác thích, khoái chiếc xe cư trú trong tâm, suy nghĩ muốn chiếc xe đó cứ tồn tại dai dẳng liên tục, mình nhận thức được điều đó nên mình phải tác ý từ bỏ, diệt tận và tẩy sạch suy nghĩ đó, không cho nó tồn tại, cái đó gọi là tẩy sạch tham dục triền cái.
Ví dụ tiếp theo, giữa huynh đệ với nhau có hành động, cử chỉ, lời nói làm mình sân lên, khi mình có nhận diện cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn thấy trong cảm thọ có sự nóng bỏng, nhiệt não trong lồng ngực, có hình bóng của người làm mình khó chịu sanh khởi trong tâm, có suy nghĩ xung quanh lời nói không ưa của người đó, mình nhận thức được điều đó, mình không chấp nhận, không dung túng, chất chứa, không cho nó tăng trưởng, phát triển cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng này mà chỉ muốn diệt tận, chấm dứt hoàn toàn thì đó là tẩy sạch sân triền cái. Phải nhìn thấy được những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng là chướng ngại pháp làm cho tâm mình mờ tối, si ám, mù lòa, Đức Phật nói năm triền cái làm yếu ớt trí huệ, làm cho mình vô minh, ngu muội.
Con đã chia sẻ hơn mười buổi về năm triền cái, tất cả những lời dạy của Đức Phật về năm triền cái trong kinh tạng Nikāya trong chuyên đề năm triền cái đã được giảng dạy. Nguyên nhân sanh khởi năm triền cái, phương pháp diệt tận năm triền cái, cách thức, đạo lộ rất rõ ràng. Dục tham, sân hận, trạo cử, hôn trầm, hoài nghi cũng như nhau, khi mình thấy mình tất bận, rộn ràng, dao động thì mình liền quay lại tác ý an tịnh, lắng dịu, đình chỉ, dừng lại, yên lặng, làm cho thân tâm bình ổn trở lại, mình nhiếp phục, tẩy sạch sự lăng xăng của thân tâm, đó là tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Niệm tịnh chỉ và tác ý "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", cứ niệm câu đó như niệm Phật, mình kêu cảm thọ của mình trong lồng ngực "an tịnh xuống, lắng dịu xuống, dễ chịu xuống, đừng quậy nữa lo tu đi", tác ý như vậy để làm tịnh chỉ các hành, làm cho dừng lắng lại thì đó là tẩy sạch tâm tư khỏi trạo cử triền cái.
Triền là trói buộc, cái là che đậy, năm thứ này trói cột tâm, che đậy tâm. Tại sao lại trói cột? Nếu mình giận ai là cái giận đó cứ ám ảnh trong các hình bóng, cảm thọ giận đó, tâm mình cứ ở trong đó không thoát ra được cho nên bị trói, bị cảm thọ nóng bức, nhiệt não, bị ám ảnh hình bóng, suy nghĩ về đối tượng mình giận cứ quẩn quanh, xiết chặt mình lại. Mình bị những cảm thọ nóng bức, tức giận, sân hận, những suy nghĩ, hình ảnh đó bao trùm tâm, che đậy tâm làm mình không nghĩ cái khác được, những hình bóng đó cứ áp đảo, chập chờn trong tâm, cái đó gọi là triền cái.
Tâm mình bị trói cột, bị che đậy, bị sai khiến phải nói cái gì cho hả dạ, phải làm cái gì cho vừa lòng, phần rất quan trọng của người xuất gia là nếu không nhiếp phục, không đoạn tận, không trừ diệt năm triền cái là không tu được, không thể vào sơ thiền được cho nên tại sao khi ngồi lại là tâm không yên định, nhớ người này, thương người kia, ghét người nọ, không thì bị ngứa, nhức mỏi, trở chân liên tục, đó toàn là trạo cử, hoặc là ngủ gục, làm nô lệ cho vô minh, đó là triền cái đang bị trói cột, người đó đang bị quấn chặt trong cảm thọ của ngu si, vô minh mà người đó không biết nên ngủ luôn, làm kẻ chiến bại, kẻ thấp hèn, kẻ thua cuộc, kẻ bại trận, hoàn toàn bị năm triền cái đánh sập, quật ngã. Mình bị nó chà đạp mà không biết tàm quý, không lo lắng, sợ hãi, không có những phương pháp tác chiến để giành lại quyền tự chủ, vậy mình là kẻ thấp hèn trong giáo pháp.
Sự tu học ngày nay của chúng ta cách rất xa so với thời Đức Phật, một ngày có hai thời khóa tụng thì cho là tu xong, vậy là chết cuộc đời. Hai thời khóa tụng đó là từ đời nhà Thanh soạn ra, Ngọc Lâm quốc sư là sau này, trong khi cái gốc của vị đại đạo sư lại không chịu học mà cứ học ở đâu đâu. Thương xót lắm thay! Cho nên đã học là phải học cho đến tận cùng nguồn cội, ở Châu Âu và các nước phương tây khi đã nghiên cứu Phật giáo là họ nghiên cứu đến tận cùng nguồn gốc, họ nghiên cứu kinh tạng Nikāya vì nó có lịch sử, được truyền thừa cho nên chúng ta cần cố gắng để tâm thật nhiều vào tạng kinh Nikāya, là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật.
Tiếp theo là hoài nghi triền cái nhưng hoài nghi cái gì? Các thầy phải nắm vững để sau này pháp mới nắm trong lòng bàn tay. Hoài nghi về ngũ uẩn, sau khi chết mình đi về đâu, trước kia mình ra sao, sau này mình sẽ thế nào, bây giờ mình là ai, đó chính là hoài nghi. Trước đây mình là ngũ uẩn, bây giờ mình cũng là ngũ uẩn và sau này mình cũng là ngũ uẩn nếu mình còn trong phàm phu. Mình hoài nghi về ngũ uẩn, mình chưa xác lập được chánh kiến cho nên nói là "thấy ngũ uẩn là thấy Phật", trong kinh điển ghi lại:
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Pháp chính là ngũ uẩn cho nên cái thấy về ngũ uẩn này là cực kì quan trọng, ai thấy được là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất chứ không phải bình thường. Ai thấy được một cách thật sự thì cái chấp ngã sẽ bị tan rã vì mình đã chấp nhận chỉ là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không có cái tôi trong đó nữa. Khi thấy được thật sự một cách thấu đáo, xác quyết tuyệt đối không còn do dự, không còn nghi ngờ thì người này Nhập Lưu, vào dòng trí huệ của bậc Thánh.
Nếu còn hoài nghi là do chưa chấp nhận ngũ uẩn, chưa chấp nhận mình là thọ; tưởng; hành; thức, vẫn còn có "tôi" trong này, suy nghĩ nào cũng là tôi nghĩ, tư tưởng nào cũng cho là tôi, cảm giác, hình bóng nào cũng cho là tôi cho nên là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, thế là có ra năm thủ uẩn. Người nào không còn nghi ngờ bất kì một uẩn nào và chấp nhận đống này là năm uẩn, xác quyết hoàn toàn không có cái tôi nào trong đó, nó là pháp duyên sanh, vô thường, khổ đau thì người đó phải từ Hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu.
Hướng Dự Lưu là đã bắt đầu vào hàng bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, còn Nhập Lưu là xác quyết 100% không còn nghi ngờ gì nữa, Hướng Dự Lưu là còn do dự chút đỉnh nhưng đã thấy gần rõ ràng, chỉ còn vương vấn chút ít, còn khi nào Nhập Lưu là thấy xác quyết 100%, từ đó tiến lên chứ không bao giờ quay trở lại nữa. Trở lại vấn đề hoài nghi chính là hoài nghi về ngũ uẩn, một khi mình cắt đứt hết hoài nghi là vào dòng trí tuệ của chánh kiến. Đó là giải thích tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp.
./.
Tâm Khéo Tích Tập Trí Tuệ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cảm thọ PAGEREF _Toc179572859 \h 1
II. Tỉnh giác chánh niệm PAGEREF _Toc179572860 \h 5
I. Cảm thọ
Thứ nhất chúng ta nắm được những yếu chỉ, những cốt lõi, những điểm trọng yếu nhất trong pháp hành cũng như chìa khóa có thể mở được pháp tạng, tức là kho tàng pháp bảo của Nikāya, cũng là cách thức, con đường để chúng ta bước vào nội tâm trực diện với chính mình, với tự thân tâm của mình. Những phương pháp hay những giáo nghĩa mà con trình bày với các thầy phải là người có thực tập mới có thể lãnh hội được một cách sâu sắc, nếu chúng ta chỉ nghe, ghi chép mà trở về không thực tập, không quán chiếu, không hành trì thì không thể hiểu được những lời con nói.
Hôm nay con giới thiệu với quý thầy một phần có thể nói là cực kì quan trọng trong giáo pháp của kinh tạng Nikāya, có thể gọi đây là trái tim của Đức Phật, là con mắt của mười hai phần giáo, là cốt lõi của đại tạng Nikāya. Con mong tất cả các thầy chú tâm vào trong phần chánh văn của kinh cũng như ghi chép lại, nghe thật kĩ, ai có máy thì ghi âm lại để nghe. Đây là Tương Ưng Thọ trong Tương Ưng Bộ kinh, nó rất ngắn nhưng lại quan trọng nhất trong tất cả pháp hành.
"-- Này các Tỳ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðây, này các Tỳ-kheo, là ba thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, I. Thiền Ðịnh)
Lúc trước chúng ta có tìm hiểu về sắc; thọ; tưởng; hành; thức, phần căn bản chúng ta đã nắm được nên bây giờ chúng ta sẽ đào sâu vào sự nhận diện các cảm thọ.
"Vị đệ tử đức Phật,
Ðịnh, tỉnh giác, chánh niệm,
Hiểu rõ ràng các thọ,
Và xuất ly các thọ.
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con đường đến đoạn diệt,
Tỳ-kheo đoạn các thọ,
Không khát ái, tịch tịnh".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, I. Thiền Ðịnh)
Không phải đơn giản có thể hiểu được những câu chữ này, có khi phải học, phải tu suốt đời cũng chưa chắc hiểu được. Nhân sinh vũ trụ hay thân, tâm, cảnh, cả vũ trụ này, cả trái đất này, cả hành tinh này hay cả thái dương hệ hay tam thiên đại thiên thế giới không ra khỏi chữ sắc, nó chỉ là sắc uẩn thôi, không có gì khác. Một chữ này là sự chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, cả thế giới này chỉ là tổ hợp của sắc pháp, nó đòi hỏi chúng ta có cái thấy, có cái nhìn, có sự quán chiếu, sự thể nhập từ nơi tri kiến của bậc Thánh và tri kiến của bậc Thánh là sự chứng ngộ của Đức Phật là cả thế giới này chỉ là sắc pháp, sắc uẩn, sắc chất.
Chúng ta cần thực tập tác ý thường xuyên và liên tục, nhìn bất cứ cái gì cũng thấy chỉ là sắc pháp, dù cho đó là cung điện hay mái nhà tranh cũng là sắc uẩn thôi, cũng là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành thôi. Như vậy cả trời đất này, cả vũ trụ vạn tượng này, cả tam thiên đại thiên thế giới không ra khỏi chữ sắc, điều đó cần thực thấy, thực chứng, thực biết, thực giác, cần sự thể nhập, sự quán chiếu, sự tu tập. Nếu không chỉ cần nhìn cái gì lòe loẹt là mình mê, mình thích, nhìn cái gì xấu xí, nghèo hèn là mình khinh thường, chê bai, đó là do không nhìn bằng Thánh tri kiến, là cái nhìn của bậc Thánh.
Cái thấy biết của bậc Thánh là cả địa cầu này chỉ là sắc uẩn thôi, không hơn không kém nhưng để nhận diện được sắc uẩn là phải tu tập suốt đời. Hằng ngày phải tác ý, phải quán chiếu, chiêm nghiệm, thiền tư để loại dần những suy nghĩ của phàm phu, tri kiến. Vô văn phàm phu thấy sắc thì cho rằng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, sắc đó là đẹp, là bền chắc, phải nhờ Thánh tri kiến phá vỡ cái chấp thường còn, vui sướng, bản ngã, đẹp đẽ.
Tâm mình là cảm giác, là những hình bóng bên trong, là những suy nghĩ, là nhận thức, nói gọn lại tâm là thọ; tưởng; hành; thức. Cái này rất quan trọng, nhiều khi ở trong chùa đến chết, lên đến đại lão Hòa Thượng cũng chưa biết tâm mình thực sự là gì nếu không học đúng chánh pháp của Đức Phật.
Hôm nay mình học nhận diện cảm giác, nhận diện những hình bóng trong tâm, nhận diện những suy nghĩ và nhận diện những nhận thức. Con rất mong quý thầy phải thực tập và phải làm bài tập nhưng phải nhiệt tình, giơ tay xung phong, nhận diện ngũ uẩn để thấy nó đang có mặt như thế nào, nó đang sanh khởi, vận hành ra sao, cơ cấu hoạt động, sanh khởi, xâm chiếm, áp đảo mình như thế nào.
Còn tất cả vô văn phàm phu đều cho rằng năm uẩn là tôi thì đó là năm thủ uẩn, bất kì cái sắc nào họ cũng cho rằng đó là tôi, bất cứ cảm giác nào cũng cho là tôi, "tôi đang sướng", "tôi đang giận" ,"tôi đang bực mình", bất cứ hình bóng nào trong tâm cũng cho rằng là tôi đang tưởng, có suy nghĩ nào cũng cho rằng tôi suy nghĩ, có bất kì nhận thức nào cũng cho rằng tôi hiểu, tôi biết. Nếu không được thực tập, không được hành trì nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì có tu mãi cũng ở địa vị của phàm phu, không đi vào chánh tri kiến, Thánh tri kiến, không đi vào được thượng nhân pháp, đây là pháp của bậc thượng nhân, pháp của bậc Thánh.
Mình nhìn được cảm giác và tách mình ra khỏi cảm giác, ví dụ mình đang có cảm giác phừng phực trong lồng ngực thì mình biết mình đang có khổ thọ. Khi mình nhìn được đây là cảm giác khó chịu, bức xúc, một cảm giác nóng bức, thiêu đốt thì đây chỉ là cảm thọ, cảm xúc thôi chứ đây không phải là tôi, không phải của tôi, lúc này mình đã tách mình ra khỏi cảm thọ và cảm thọ đó là đối tượng để mình nhìn, mình quán chiếu. Nếu lúc đó mình cho rằng mình tức giận, mình bực mình thì đó là mình nhập cuộc với cảm thọ, mình cho cảm thọ là mình.
Chỉ cần nhìn cảm thọ là cảm thọ là đã thành tựu một trí tuệ rồi, đó là trí tuệ về cảm thọ, cảm giác, nếu lúc bình thường chúng ta không thực tập cảm giác toàn thân vì đây là cái quan trọng trong tất cả những cái quan trọng, không phải chỉ đọc cho thuộc lòng xong rồi trở ra cũng như bình thường, thậm chí đọc cũng không hiểu, chỉ đọc để cầu xin mà không thấy được thân tâm của mình cho nên khi nổi giận là nhập cuộc với cơn giận, cho rằng "tôi giận", khi có chút cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì dính mắc vào nó "tôi đang sung sướng", "tôi thích thú". Như vậy thì khác gì với phàm phu không biết tu?
Trong kinh Đức Phật phân biệt rất rõ địa vị của vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử biết tu là như thế nào. Cứ có cảm giác sung sướng, khoan khoái là nhập cuộc chung với nó chứ không thấy nó là cảm thọ nữa, hễ có chút bực bội là sân, có chút thích thú là tham, là dục, là ái. Mình thấy người ta chưng hoa lộng lẫy, đẹp đẽ, trang hoàng, giống như cả một vườn hoa thì tâm mọi người ra sao?
Dục hoạt động, tham hoạt động, ái hoạt động, ghê gớm đến như vậy đó. Nếu mình là người chưng hoa, làm sáng đêm thì phải chụp lại đăng lên mạng xã hội, ai vào nhìn chê là sân lên, đến khen thì khoái, thích, tham ái, thêm bản ngã vào "tôi chưng đó", làm gì là dính mắc vào đó. Được khen thì phơi phới, khoan khoái, bản ngã tăng lên, bị chê thì bực bội, sân hận, khó chịu, chạm tự ái, chạm vào bản ngã, như vậy khác gì với người không biết tu? Vậy thì mình tu là tu ở đâu? Mình khác với người có tóc ở chỗ nào? Trí tuệ mình thành tựu ở đâu?
Chính là ở chỗ nhìn ra các cảm thọ đó, không để cho nó đồng hóa mình, nhìn vào vẫn biết mình chưng đẹp nhưng biết nó là thứ sắc uẩn vô thường, rồi nó cũng tàn tạ, làm nhưng biết nó là vô thường, là tan hoại, nó sẽ đi đến chỗ biến diệt, như vậy gọi là phước huệ song tu, vẫn làm nhưng trí về vô thường, về khổ, về vô ngã, về sự tàn hoại, diệt tận của các pháp sắc uẩn vẫn rực sáng, chói sáng, bừng sáng trong tâm mình thì đó mới là cái làm của người tu, làm nhưng không chấp thủ trong đó. Muốn được như vậy phải thực tập rất nhiều, nếu không được khen là phình mũi lên, chê là mặt buồn, thế là dính mắc hết.
Bất khổ bất lạc thọ là một cảm giác không vui cũng không khổ, không mừng cũng không buồn, cứ thường thường đều đều. Đây mới là cảm thọ nguy hiểm vì cái mừng, cái buồn thì ít nhưng cảm thọ đều đều này có mặt rất nhiều, một ngày chúng ta ở trong cảm thọ này rất nhiều mà cảm thọ này là si, là vô minh. Tại sao lại là si, là vô minh? Mình không an trú cảm giác toàn thân, không nhận diện các cảm thọ để xem bây giờ từ đỉnh đầu đến gót chân đang có cảm thọ gì, thuộc dạng cảm thọ nào, do không an trú cảm giác toàn thân nên không nhận diện được các cảm thọ cho nên bức xúc lên là sân, mà hễ dễ chịu, thích thú là tham, dục, ái, đơ đơ ra thì ở trong si mê, vô minh nhưng lại không biết đang có cảm thọ đều đều đó mà nhập cuộc chung với nó. Trong ngũ uẩn thì cảm thọ là hang ổ, là sào huyệt, tất cả những pháp gì đều tụ hội lại ở cảm thọ.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Tất cả pháp đều quy tụ nơi cảm thọ, cảm thọ là kho chứa của tất cả các pháp cho nên có ba loại cảm thọ, cảm giác, cảm xúc, vui, khổ, không vui không khổ nhưng tại sao tựa bài kinh lại để là Thiền định? Vị đệ tử Đức Phật phải có sự định tĩnh, tỉnh giác, chánh niệm, đừng nghĩ rằng chỉ có lúc ngồi thiền mới định mà cái định này nói đơn giản là sự an tịnh, sự tập trung tâm ý, chữ định nói gần gũi là an tịnh, tập trung tâm ý.
II. Tỉnh giác chánh niệm
Tỉnh giác chánh niệm được Đức Phật định nghĩa như sau:
"Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo chú tâm cảnh giác?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ban ngày đi kinh hành, hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh một, vị ấy đi kinh hành hay trong lúc ngồi tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh giữa, vị ấy nằm dáng nằm con sư tử bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến thức dậy lại. Ban đêm, canh cuối, vị ấy thức dậy đi kinh hành hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chú tâm cảnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (VII). Không Thể Rơi Xuống)
" Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm.
Và như thế nào, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông". (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt ... rõ biết khi các tưởng ... rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (XI). Tôn Giả Nanda)
Đây là chú tâm cảnh giác và chánh niệm tỉnh giác do chính Thế Tôn định nghĩa, không qua một lời giảng dạy của những người luận sư sau này. Nãy giờ chúng ta đang tụng kinh và tụng những lời kim khẩu của Đức Thế Tôn, những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, bây giờ chúng ta được đọc là cực kì hiếm hoi cho nên chúng ta cần cố gắng học thuộc lòng vì nó tuyệt đối quan trọng trong sự tu học của chúng ta. Đây là những cái căn bản của pháp hành và là bổn phận, trách nhiệm, công việc thường xuyên, thường nhật của người xuất gia.
Ở đây con chia sẻ cho quý thầy cách học mới, trước nay chúng ta học không cẩn trọng, không chính xác, không bám sát vào lời dạy của Đức Thế Tôn cho nên dù học nhiều kiến thức, ở trong chùa lâu nhưng lại không nếm được hương vị của pháp vì pháp học đã có vấn đề, chưa nói đến pháp hành. Pháp học không chính xác thì pháp hành không thể đúng được, chúng ta mới đọc định nghĩa của Đức Phật và cho mở sách để xem nhưng đứng lên nói lại không đúng cho nên học Phật không phải đơn giản.
Chúng ta đã lên trung cấp Phật học thì con chỉ cho các thầy những bí kíp mà các thầy phải lưu tâm thật kĩ, học kinh Nikāya sẽ khác với những cách học trước nay chúng ta đã học là chúng ta phải bám sát từng chữ trong kinh, không được sai một chữ. Trước nay chúng ta học phóng quen rồi, học suy diễn, tưởng tượng cho nên học một thời gian là pháp mạt, từ chuyên môn trong kinh Nikāya gọi là chánh pháp bị nhiễu loạn, không còn đúng lời Phật dạy nữa, mạnh ai người nấy suy diễn theo kiểu của họ, không y cứ vào kinh điển tuyệt đối.
Những gì Đức Phật nói là không thêm một chữ và cũng không bớt một chữ được vì đó là chuẩn tắc của bậc Đại Giác, Đức Phật không bao giờ nói thừa một chữ hay nói thiếu một chữ. Còn chúng ta đọc kinh rồi là diễn giải theo ý mình nên không đi theo đạo lộ Thánh đạo của Đức Phật được, học thuộc kinh sẽ đem lại lợi lạc, lợi ích dài lâu trong hiện tại và tương lai về sau.
Nếu có người hỏi mình chánh niệm tỉnh giác thì mình trả lời thế nào? Mình trả lời theo cái mình nghe ai nói hoặc mình nhớ trong sách nào chứ mình không nhớ 100% theo lời Đức Phật định nghĩa, nếu như vậy thì cái pháp học đó không viên mãn, không chính xác với lời Đức Phật và thực hành theo cái đó thì không đúng được, không có Thánh đạo thì không có Thánh quả. Những gì Đức Phật nói ra là Thánh đạo và mình làm y theo đó thành công thì gọi là Thánh quả, Thánh quả chính là thành quả của sự tu học chứ không có gì xa xôi cho nên có đạo mới có quả, mình có đi trên con đường đúng thì mình mới đến được đích mà mình muốn đến.
Bây giờ con đường mình đi không đúng thì làm sao mình đến đích chính xác được? Cho nên pháp học rất quan trọng, nếu pháp học không đúng thì pháp hành cũng không đúng, pháp hành không đúng thì không có kết quả, đó là lý do tại sao bây giờ chúng ta tu học không thấy Thánh Tăng, không thấy những vị đắc những Thánh quả.
Trong bài kinh Không Thể Rơi Xuống Đức Phật giải thích chú tâm cảnh giác, chúng ta phải nhớ tinh thần chúng ta đang học ở đây là dùng kinh để giải thích kinh chứ không dùng luận để giải thích kinh. Đây là điểm rất sâu sắc, luận thì mỗi người sẽ nói mỗi kiểu, nếu vị đó chưa phải là bậc Thánh thì vị đó sẽ luận theo phàm phu tri kiến và mình đi theo cái luận đó thì làm sao đi đến tri kiến của bậc Thánh nhưng hiện tại đa số chúng ta lại thích luận.
Bây giờ học là quay trở về lấy kinh để giải thích kinh, như vậy mới trở về được lời dạy nguyên chất của Đức Phật, đây là điểm quan trọng tiếp theo, đây là kinh nghiệm xương máu của bản thân con sau 30 năm tầm cầu. Hãy lấy kinh để giải thích kinh chứ đừng y cứ theo tông phái vì mình sẽ bị tư tưởng của tông phái đó giới hạn, phải lấy lời dạy của Đức Phật để giải thích lời dạy của Đức Phật, muốn như vậy thì phải trầm mình trong tạng kinh Nikāya, phải nhuần nhuyễn trong đó, đọc cho nhừ hết kinh trong đó, nghe cho thấm thía trong đó và nắm được từng phần trong đó. Hiện tại chúng ta vô cùng có phước duyên khi có bộ phân loại Nikāya và Minh Thành cũng đưa lên mạng, các huynh đệ lên đó tải về, đây là công đức vĩ đại của sư cô Chơn Tín Toàn, cô làm khi cô còn là vị cư sĩ, cô dành gần 10 năm để phân loại tạng kinh Nikāya. Học rất tiện lợi, có gần 500 chủ đề trong đó.
Chỉ mới thực tập diễn giảng đã bỏ hết kinh sách, đi tay không lên cho oai, đó là bản ngã, cái tôi. Chính cái tôi đó làm mình xa rời chánh pháp, nếu mình chắc chắn thuộc 100% thì bỏ bản kinh ra, còn không thì cầm theo đọc. Mình có giỏi hơn những vị tam tạng pháp sư không? Người ta học thuộc hết cả đại tạng kinh cho nên có rất nhiều vấn đề cần nhìn lại trong việc học đạo ngày nay, khi đã lên đến Cao đẳng thì phải nhìn ra những chỗ sâu sắc, nhìn ra những chỗ thâm sâu chứ không nghe một chiều, cứ lên nghe giảng rồi ghi chép thì giống như sơ cấp, chúng ta phải có tầm nhìn xuyên thế kỉ, phải có tầm nhìn sâu sắc về giáo pháp trong sự tu học, không phải xưa bày nay làm, ai sao mình vậy mà phải nhìn ra được những cái nhìn thâm sâu. Tại sao Phật pháp dần dần chỉ còn hình thức bề ngoài?
Cái lõi nó là gì? Mình phải suy tư, thao thức, trăn trở, tầm cầu, tìm kiếm mới được. Những câu chữ trong kinh là định lý chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không tự sửa được, những định lý bình thường của thế gian đã không sửa được thì huống hồ gì định lý tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không thể muốn nói sao là nói.
Điều quan trọng là "tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". Thế nào là các pháp chướng ngại? Chính là năm triền cái, bất cứ khi nào mình đi đứng hay ngồi nằm mà trong tâm khởi lên dục, tham thì phải lập tức tác ý tẩy sạch, không để cho nó sanh khởi, không để cho nó an trú, cư trú, càng không chất chứa, nuôi dưỡng, phát triển trong tâm.
Ví dụ mình đã có xe đi học nhưng hôm nay thấy sư huynh có xe đời mới rất đẹp, trong tâm mình sanh khởi lên ý nghĩ mình cũng muốn có xe giống vậy, khi mình sanh khởi lên suy nghĩ đó, một sự tham muốn đó thì hình bóng chiếc xe ám ảnh trong tâm mình, cảm giác thích, khoái chiếc xe cư trú trong tâm, suy nghĩ muốn chiếc xe đó cứ tồn tại dai dẳng liên tục, mình nhận thức được điều đó nên mình phải tác ý từ bỏ, diệt tận và tẩy sạch suy nghĩ đó, không cho nó tồn tại, cái đó gọi là tẩy sạch tham dục triền cái.
Ví dụ tiếp theo, giữa huynh đệ với nhau có hành động, cử chỉ, lời nói làm mình sân lên, khi mình có nhận diện cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn thấy trong cảm thọ có sự nóng bỏng, nhiệt não trong lồng ngực, có hình bóng của người làm mình khó chịu sanh khởi trong tâm, có suy nghĩ xung quanh lời nói không ưa của người đó, mình nhận thức được điều đó, mình không chấp nhận, không dung túng, chất chứa, không cho nó tăng trưởng, phát triển cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng này mà chỉ muốn diệt tận, chấm dứt hoàn toàn thì đó là tẩy sạch sân triền cái. Phải nhìn thấy được những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng là chướng ngại pháp làm cho tâm mình mờ tối, si ám, mù lòa, Đức Phật nói năm triền cái làm yếu ớt trí huệ, làm cho mình vô minh, ngu muội.
Con đã chia sẻ hơn mười buổi về năm triền cái, tất cả những lời dạy của Đức Phật về năm triền cái trong kinh tạng Nikāya trong chuyên đề năm triền cái đã được giảng dạy. Nguyên nhân sanh khởi năm triền cái, phương pháp diệt tận năm triền cái, cách thức, đạo lộ rất rõ ràng. Dục tham, sân hận, trạo cử, hôn trầm, hoài nghi cũng như nhau, khi mình thấy mình tất bận, rộn ràng, dao động thì mình liền quay lại tác ý an tịnh, lắng dịu, đình chỉ, dừng lại, yên lặng, làm cho thân tâm bình ổn trở lại, mình nhiếp phục, tẩy sạch sự lăng xăng của thân tâm, đó là tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Niệm tịnh chỉ và tác ý "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", cứ niệm câu đó như niệm Phật, mình kêu cảm thọ của mình trong lồng ngực "an tịnh xuống, lắng dịu xuống, dễ chịu xuống, đừng quậy nữa lo tu đi", tác ý như vậy để làm tịnh chỉ các hành, làm cho dừng lắng lại thì đó là tẩy sạch tâm tư khỏi trạo cử triền cái.
Triền là trói buộc, cái là che đậy, năm thứ này trói cột tâm, che đậy tâm. Tại sao lại trói cột? Nếu mình giận ai là cái giận đó cứ ám ảnh trong các hình bóng, cảm thọ giận đó, tâm mình cứ ở trong đó không thoát ra được cho nên bị trói, bị cảm thọ nóng bức, nhiệt não, bị ám ảnh hình bóng, suy nghĩ về đối tượng mình giận cứ quẩn quanh, xiết chặt mình lại. Mình bị những cảm thọ nóng bức, tức giận, sân hận, những suy nghĩ, hình ảnh đó bao trùm tâm, che đậy tâm làm mình không nghĩ cái khác được, những hình bóng đó cứ áp đảo, chập chờn trong tâm, cái đó gọi là triền cái.
Tâm mình bị trói cột, bị che đậy, bị sai khiến phải nói cái gì cho hả dạ, phải làm cái gì cho vừa lòng, phần rất quan trọng của người xuất gia là nếu không nhiếp phục, không đoạn tận, không trừ diệt năm triền cái là không tu được, không thể vào sơ thiền được cho nên tại sao khi ngồi lại là tâm không yên định, nhớ người này, thương người kia, ghét người nọ, không thì bị ngứa, nhức mỏi, trở chân liên tục, đó toàn là trạo cử, hoặc là ngủ gục, làm nô lệ cho vô minh, đó là triền cái đang bị trói cột, người đó đang bị quấn chặt trong cảm thọ của ngu si, vô minh mà người đó không biết nên ngủ luôn, làm kẻ chiến bại, kẻ thấp hèn, kẻ thua cuộc, kẻ bại trận, hoàn toàn bị năm triền cái đánh sập, quật ngã. Mình bị nó chà đạp mà không biết tàm quý, không lo lắng, sợ hãi, không có những phương pháp tác chiến để giành lại quyền tự chủ, vậy mình là kẻ thấp hèn trong giáo pháp.
Sự tu học ngày nay của chúng ta cách rất xa so với thời Đức Phật, một ngày có hai thời khóa tụng thì cho là tu xong, vậy là chết cuộc đời. Hai thời khóa tụng đó là từ đời nhà Thanh soạn ra, Ngọc Lâm quốc sư là sau này, trong khi cái gốc của vị đại đạo sư lại không chịu học mà cứ học ở đâu đâu. Thương xót lắm thay! Cho nên đã học là phải học cho đến tận cùng nguồn cội, ở Châu Âu và các nước phương tây khi đã nghiên cứu Phật giáo là họ nghiên cứu đến tận cùng nguồn gốc, họ nghiên cứu kinh tạng Nikāya vì nó có lịch sử, được truyền thừa cho nên chúng ta cần cố gắng để tâm thật nhiều vào tạng kinh Nikāya, là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật.
Tiếp theo là hoài nghi triền cái nhưng hoài nghi cái gì? Các thầy phải nắm vững để sau này pháp mới nắm trong lòng bàn tay. Hoài nghi về ngũ uẩn, sau khi chết mình đi về đâu, trước kia mình ra sao, sau này mình sẽ thế nào, bây giờ mình là ai, đó chính là hoài nghi. Trước đây mình là ngũ uẩn, bây giờ mình cũng là ngũ uẩn và sau này mình cũng là ngũ uẩn nếu mình còn trong phàm phu. Mình hoài nghi về ngũ uẩn, mình chưa xác lập được chánh kiến cho nên nói là "thấy ngũ uẩn là thấy Phật", trong kinh điển ghi lại:
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Pháp chính là ngũ uẩn cho nên cái thấy về ngũ uẩn này là cực kì quan trọng, ai thấy được là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất chứ không phải bình thường. Ai thấy được một cách thật sự thì cái chấp ngã sẽ bị tan rã vì mình đã chấp nhận chỉ là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không có cái tôi trong đó nữa. Khi thấy được thật sự một cách thấu đáo, xác quyết tuyệt đối không còn do dự, không còn nghi ngờ thì người này Nhập Lưu, vào dòng trí huệ của bậc Thánh.
Nếu còn hoài nghi là do chưa chấp nhận ngũ uẩn, chưa chấp nhận mình là thọ; tưởng; hành; thức, vẫn còn có "tôi" trong này, suy nghĩ nào cũng là tôi nghĩ, tư tưởng nào cũng cho là tôi, cảm giác, hình bóng nào cũng cho là tôi cho nên là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn, thế là có ra năm thủ uẩn. Người nào không còn nghi ngờ bất kì một uẩn nào và chấp nhận đống này là năm uẩn, xác quyết hoàn toàn không có cái tôi nào trong đó, nó là pháp duyên sanh, vô thường, khổ đau thì người đó phải từ Hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu.
Hướng Dự Lưu là đã bắt đầu vào hàng bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, còn Nhập Lưu là xác quyết 100% không còn nghi ngờ gì nữa, Hướng Dự Lưu là còn do dự chút đỉnh nhưng đã thấy gần rõ ràng, chỉ còn vương vấn chút ít, còn khi nào Nhập Lưu là thấy xác quyết 100%, từ đó tiến lên chứ không bao giờ quay trở lại nữa. Trở lại vấn đề hoài nghi chính là hoài nghi về ngũ uẩn, một khi mình cắt đứt hết hoài nghi là vào dòng trí tuệ của chánh kiến. Đó là giải thích tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp.
./.