Nhiệt Tâm và Sợ Hãi - Tàm Quý 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
NHIỆT TÂM & SỢ HÃI
TÀM QUÝ 1
–Thích Minh Thành –
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tàm và quý trong tu học PAGEREF _Toc79478394 \h 1
1.Tầm quan trọng của tàm và quý PAGEREF _Toc79478395 \h 1
2.Nhìn lại chính mình PAGEREF _Toc79478396 \h 4
II.Nhiệt tâm trong tu học PAGEREF _Toc79478397 \h 7
1.Bài kinh “Không Biết Sợ” PAGEREF _Toc79478398 \h 7
2.Thế nào là không khởi nhiệt tâm PAGEREF _Toc79478399 \h 10
3.Thế nào là sanh khởi nhiệt tâm PAGEREF _Toc79478400 \h 14
Tàm và quý trong tu học
Người tu chúng ta, nhất là tu theo tinh thần kinh tạng Nikāya, nếu tu đúng sẽ có sự nhiệt tình, nhiệt tâm, khi đó các pháp sẽ từ từ hiển lộ trong thân tâm. Còn không để tâm, chỉ nghe học qua loa, học cho có hình thức bề ngoài thì các pháp sẽ không hiển lộ, pháp không hiện hữu trong con người mình rồi chúng ta sẽ trở về với những thói quen, tật xấu.
"Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di,
Hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị".
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Dịch nghĩa:Chỗ đi năm trước, tấc bước không rời,
Lơ lửng một đời, lấy chi nương tựa.
Các thiện pháp sẽ không hiện hữu, không có mặt, không tăng trưởng phát triển, không lộ rõ trong thân tâm, dù có học bao nhiêu đi nữa nhưng trở ra ngoài mình vẫn là con người cũ như trước. Cho nên, trong sự tu đòi hỏi sự nhiệt tâm, nhiệt tình như trong kinh Tứ Niệm Xứ đã ghi:
"Này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Tầm quan trọng của tàm và quý
Trong chúng ta, pháp hiển lộ rõ nhất chính là tàm quý, nếu một người tu thật sự nhiệt tâm tinh cần thì pháp tàm quý sẽ lộ rõ trong thân tâm. Người nhiệt tâm siêng năng tu tập thì tự động pháp tàm quý sẽ có mặt trong tâm người đó, tức là sự xấu hổ, sợ hãi có mặt trong người đó. Nhiều lần Minh Thành nhắc nhở đại chúng nhưng nhìn lại trong cái nhắc nhở đó có sân, bản ngã là xấu hổ vô cùng rồi đóng cửa lại, nhưng không phải vì giận mọi người mà là nhìn thấy mình có bản ngã, sân giận trong lời nhắc nhở. Sau đó, Minh Thành ở trong thất suốt để tác ý quở trách tâm mình, làm sanh khởi cảm giác tàm quý.
Nếu một người tu theo dòng pháp này mà không có tàm quý sanh khởi và hiện hữu thì như chiếc xe không khởi động được máy. Đối với một người thật sự tu học thì pháp tàm quý phải hiện hữu trong người đó, tức là người này thường xuyên có tâm xấu hổ và sợ hãi, lo lắng. Lúc xưa, khi chưa đi vào pháp này thì rất ít khi mình có tâm này, hiếm khi thấy xấu hổ nhưng tu đúng Chánh Pháp thì những pháp gì Đức Phật nói trong kinh sẽ có trong thân. Chúng ta sẽ thấy, sẽ biết, sẽ xúc chạm, sẽ nhận thức và pháp đó sẽ có trong con người mình thường xuyên. Một khi pháp đó đã có thì nó không để cho mình buông lung phóng dật giống như trước kia, tự động có chân thắng trong lời nói, trong cử chỉ, trong suy nghĩ, trong cảm xúc của mình. Giống như sẽ có một người canh gác trong tâm chúng ta vậy, người đó chính là chánh niệm tỉnh giác, người đó sẽ thường xuyên la rầy, nhắc nhở, khiển trách, chỉ lỗi cho mình, người tu đúng phải có những điều này. Nếu mình chưa có những điều này phải nỗ lực, nếu đã có rồi cũng phải nỗ lực hơn nữa.
Khi mình thường xuyên an trú trong pháp tàm quý thì sẽ rất tuyệt diệu. Khi người ta làm những điều sai quấy thì tức giận là điều bình thường ở thế gian nhưng người tu không cho phép như vậy. Thế nên, tàm quý giúp cho mình diệt ác sanh thiện, làm tịnh chỉ các ác bất thiện pháp, làm cho mình nhiếp phục những buông lung phóng dật. Pháp tàm quý này dẫn đường cho thiện pháp, cho nên Minh Thành hay nói “từ nhục nhã mới sanh Thánh quả”. Một người không nhục nhã thì người này không tu được, người tu tinh tấn, nhiệt tâm, tinh cần sẽ thường xuyên ở trong tàm quý, thấy dục tham, sân hận, vô minh, khát ái sẽ xấu hổ, thấy buồn đau, lo lắng, "tại sao trong thân tâm mình còn nhiều rác bẩn như vậy?".
Chúng ta cần nhớ rằng pháp tàm quý rất quan trọng. Nhờ có sự xấu hổ và sợ hãi đối với các lỗi nhỏ nhặt thì mới tu tiến, mới tăng thượng được trong giới đức, trong thiền định, trong trí tuệ. Nếu chúng ta sống lơ lửng, sống qua ngày đoạn tháng, sống trong sự lãng quên, sống trong sự thất niệm, sống không soi rọi lại thân tâm thì thời gian trôi qua rất nhanh, dù chúng ta sẽ lên chức đại đức, thượng tọa, hòa thượng, chúng ta sẽ lên sư cô, ni trưởng… tuổi thọ, phẩm vị, chức sắc lên thêm nhưng trí tuệ, thiền định, đức hạnh lại không tăng trưởng thì làm sao chúng ta dạy dỗ được người sau? Người bung ra những tập khí, tánh tình, thói quen của phàm phu, phàm tục thì chỉ dạy được những cái phàm phu, phàm tục thôi chứ làm sao hướng dẫn được Thánh pháp, Thánh đạo? Cho nên, người chân tu phải ưu tư rất nhiều, sống trong trầm mặc, suy tư, lo lắng, người chân tu lo rất nhiều còn người không tu sẽ không biết lo, không biết sợ. Có ai nghĩ rằng người tu lúc nào cũng ở trong trạng thái tâm lo lắng, xấu hổ, sợ hãi không? Chính vì trú trong tâm này liên tục nên ác pháp không thể tồn tại và tăng trưởng trong tâm người này. Ngay khi trú trong tâm đó đã là thiện pháp và từ nơi đó sanh trưởng ra thêm các thiện pháp khác. Cho nên, những bài kinh về tàm quý rất quan trọng, phải được vận dụng, đọc tụng thường xuyên.
"Khi tàm quý không có, này các Tỳ-kheo, với người thiếu tàm quý, chế ngự các căn đi đến hủy diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Lúc nào mình thấy buông lung phóng dật là lúc đó mình không trú trong tàm quý, lúc nào mình có xấu hổ, sợ hãi thì lúc đó mình có sự chế ngự các căn, bởi vì đó là hệ nhân quả liên đới với nhau, là sợi dây xích. Cho nên, có cái này là có cái kia, không có cái này là không có cái kia.
"Khi chế ngự các căn không có, với người thiếu chế ngự các căn, giới đi đến hủy diệt. Khi giới không có, với người thiếu giới, chánh định đi đến hủy diệt. Khi chánh định không có, với người không có chánh định, tri kiến như thật đi đến hủy diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Có tàm quý là có sự chế ngự các căn, có chế ngự các căn là có giới, nếu không chế ngự các căn thì giới đi đến hủy diệt. Giữa chư Tăng và chư Ni mà không có sự chế ngự các căn thì giới đi đến hủy diệt, gặp nhau mà đùa giỡn là sụp đổ hết, khi tu đúng sự thật của Đức Phật thì thật sự rất xấu hổ. Sư Pháp Bảo trên núi là tiến sĩ, làm trong viện khoa học của Hàn Quốc, vậy mà sư bỏ hết tất cả chỉ có ba tấm y và một bình bát, hai ngày sư xuống khất thực một lần, không bao giờ chúng ta nghe sư nói chuyện lớn tiếng, sư đi xuống khất thực trong sự lặng lẽ rồi lại đi lên cũng trong sự lặng lẽ, đó là tấm gương trước mắt để chúng ta tu học. Nếu không có tàm quý là la lối, cười giỡn, nhất là dưới bếp cười nói vang dội, một người tu chân chánh thấy như vậy rất đau lòng cho nên Đức Phật đã nói "cười lớn là trẻ con trong pháp và luật". Đây là những bài học cho tất cả mọi người, phải lấy đó làm sự xấu hổ và nhục nhã, cúi đầu sám hối. Bất kì một ác bất thiện pháp nào sanh khởi là phải diệt tận nó, hạch tội nó, trong giờ ngồi thiền lôi nó ra làm cho cảm thọ đó khắc ghi bên trong để nhớ mãi không quên thì mới thay đổi được con người mình. Nam và nữ gặp nhau mà cười nói, giỡn hớt là giới đi đến hủy diệt, oai nghi đi đến hủy diệt.
Có một lần Ngài Anan hỏi Đức Phật phải giao tiếp với người nữ như thế nào thì Đức Phật đã chỉ dạy cho Ngài như sau:
"-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm". (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Chính vì chúng ta hay xem thường nên phải có những buổi học về những chuyên đề không được xem thường, vì sự xem thường này làm hỏng hết sự nghiệp của người xuất gia. Cứ nghĩ gặp gỡ không có gì đâu, nói chuyện với nhau đâu có gì đâu, cười giỡn chút đâu có gì nghiêm trọng thì tất cả đời tu của mình cũng không có gì cả. Cho nên, trú được trong tàm quý thì mới bắt đầu tu được.
Nhìn lại chính mình
Sự chân tu rất khổ, không giống như trước nay mình nghĩ rằng tu thì sướng, đến khi vào dòng pháp này mới thấy tu là cả một gánh nặng của thiện pháp chứ không phải theo kiểu buông lung, thả trôi, sống trong thất niệm như trước kia. Nếu suy nghĩ về dục, sân, hại, về những ác bất thiện pháp thì cũng phải xấu hổ cả trong suy nghĩ. Dù điều này không ai biết ngoài tự mình nhưng phải xấu hổ: "tại sao lại có ý hành này?", "tại sao lại có suy tư này?", "suy tư này không phù hợp với người tu" . Và mình lo lắng, nhục nhã đối với suy nghĩ này, suy nghĩ này sẽ dẫn đến ác thú, đọa xứ, khổ cảnh, suy nghĩ này đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và sám hối với suy nghĩ đó thì mới gọi là nhiệt tâm trong tu học.
Nếu không nhận diện ngũ uẩn sát sao, thường xuyên, nghiêm túc thì đối với những ý nghĩ bất thiện mình đều cho qua hoặc nhập cuộc với nó. Như vậy thì sự nhận diện ngũ uẩn của mình chỉ là học cho biết chứ không phải học để tu. Học để tu là trong mỗi suy nghĩ nếu có dục, tham, sân là phải xấu hổ, nhục nhã; mỗi suy nghĩ, hình ảnh, cảm xúc có bản ngã, kiêu căng, hống hách là phải thấy hổ thẹn, đó là sự thực tập và vận dụng pháp tàm quý trong ba nghiệp thân – miệng – ý.
Thế nên, người chân tu, người siêng năng tu rất an tịnh, lắng dịu, thường xuyên nhìn vào trong với cảm thọ dạt dào, chỉ thấy khổ đau chứ có gì vui sướng đâu. Họ thấy xấu hổ và nhục nhã khi phải mang vác một cái ung nhọt chín lỗ này, khi phải chất chứa một tâm đầy rác bẩn và cấu nhiễm này. Người này thường xuyên suy tư và chiêm nghiệm cách nào để thoát ra, vượt ra, xuất ly, không chấp trước một vật gì trên đời. Tuy rằng người tu giữ gìn oai nghi giới hạnh từng chút một nhưng người tu không chấp trước một vật gì trên đời, chỗ này là chỗ tuyệt diệu của Thánh pháp. Tức là bây giờ thấy cái gì cũng vô thường, khổ, trống rỗng, không có gì hết, nhưng khi buông lung phóng dật thì biết là không đúng, pháp nào ra pháp đó.
Khi niệm thân, oai nghi thì họ tề chỉnh, trang nghiêm nhưng trong trí tuệ phá vỡ tất cả căn – trần – thức, đó là chỗ tuyệt diệu của người tu đúng pháp chứ không phải được cái này lại bỏ cái kia. Sư bưng bình bát khất thực rất an tịnh, lắng dịu rồi nhìn lại mình, thấy mình cũng học, cũng tu, cũng đắp y cạo đầu mà mình lại không được như vậy. Chúng ta so sánh, đối chiếu để thấy mình như thế nào. Tại sao người ta cũng tu mà trong từng bước chân lại an tịnh, chánh niệm, ung dung, còn mình cũng tu mà cử chỉ của mình lại khác đến thế. Trong khẩu khí của mình lúc nói chuyện có bản ngã nếu người ta chịu khó để ý sẽ biết, hoặc nếu có buông lung phóng dật người ta nghe sẽ biết, đó là người bình thường chứ đừng nói gì người nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì làm sao mình có thể qua mặt người ta. Chúng ta nghĩ có thể gạt người ta suốt đời được sao? Người ta cung kính, đảnh lễ, cúng dường mà thấy mình bản ngã, sân si, tham lam thì người ta còn tin tưởng nữa không? Hiện nay có rất nhiều Phật tử hoặc không phải Phật tử mất lòng tin với Tam bảo, với người xuất gia, giấy thì làm sao gói được lửa, cây kim trong bọc cũng có ngày lòi ra.
Chính vì vậy, chúng ta phải chân tu thật học, muốn tu thật sự thì điều đầu tiên phải có tàm quý, xấu hổ và sợ hãi phải có mặt. Xấu hổ với những cái dở bẩn trong người mình, xấu hổ với tập khí, tánh tình phàm phu tục tử của mình, xấu hổ với những thứ bụi đời của mình, khi vào chùa vẫn chưa được sạch, chưa được phủi. Từ "đầu đà" nghĩ là phủi giũ, các vị sư bên Trung Quốc cần cây phất trần có ý nghĩa phủi bụi, bụi đời, bụi trần trong tâm. Người chân tu lúc nào cũng nhìn lại hoài để phủi bụi, lúc nào cũng sáng quét, trưa quét, chiều quét thì tất nhiên căn nhà phải sạch. Cái tâm cũng quét hoài, lau hoài thì cái tâm phải sạch, còn đằng này không quét không lau, cứ hướng ngoại nhìn ra ngoài thì làm sao căn nhà nội tâm được sạch sẽ?
Vì thế, khi tự nhìn lại chỉ thấy xấu hổ, nhục nhã. Có biết bao bác sĩ ở tuyến đầu chống dịch ngất xỉu, có một vị giám đốc trung tâm y tế ngất xỉu vì thức trắng hơn mười đêm, về nhà ngất xỉu nên người nhà phải đưa đi cấp cứu, ngoài ra còn biết bao y bác sĩ và các điều dưỡng ngất đi vì mệt. Còn mình tu nhưng có dám hành thiền, nghe pháp đến mức như vậy không? Trong khi bác sĩ chỉ chợp mắt một chút thôi rồi làm suốt trắng đêm vì lượng bệnh nhân quá lớn. Thế nên, nhìn cái gì cũng phải đối chiếu lại bản thân mình, đừng nhìn những hình ảnh đó rồi chỉ biết là chống dịch mà phải nhìn cái đó rồi quay về xem lại sự tinh cần, tinh tấn của chính tự thân mình.
"Khi tri kiến như thật không có, với người thiếu tri kiến như thật, nhàm chán ly tham đi đến hủy diệt. Khi nhàm chán ly tham không có, với người thiếu nhàm chán ly tham, giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Sự xấu hổ và sợ hãi này có mặt trong con người sẽ rất hay, rất vi diệu, tự động sẽ có người thầy vô hình trong tâm nhắc nhở, quở trách mình cái nào nên làm, cái nào không nên làm. Một lời nói sân hận, buông lung phóng dật, bản ngã phải được nhìn thấy, trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói phải kiểm tra hoặc dở nhất là sau khi nói cũng phải biết, trong giờ ngồi thiền hoặc những khi yên tịnh mình nhìn trở lại để kiểm tra lời nói, hành động, cử chỉ. Đức Phật nói phía trước là gai, đằng sau là gai, bên phải là gai, bên trái là gai, phía trên là gai, như người đi trong rừng hoặc bụi tre gai nếu không cẩn thận đạp lên là dính gai.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: 'Mong sao tôi chớ có bị vướng gai'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, VII. Khổ Pháp)
Ngài đang ví dụ cho năm dục trưởng dưỡng bủa vây mình, bao nhiêu sắc đẹp, âm thanh, mùi vị, những ác bất thiện pháp là gai, những cái làm cho mình sanh khởi tham, sân, si là gai, nếu không cẩn thận, không sợ hãi sẽ đạp trúng gai. Người quân tử, người muốn thành Thánh hiền ở bên Nho giáo lúc nào cũng nơm nớp lo sợ giống như đi trên băng mỏng, bước trên kiếm bén. Băng tuyết mỏng manh đi không cẩn thận thì bất cứ lúc nào cũng có thể vỡ ra rớt xuống nước lạnh giá, bước trên kiếm bén không cẩn thận là máu đổ. Người chân tu, bậc chân nhân, bậc chánh kiến bên Phật giáo lúc nào cũng nơm nớp lo lắng, sợ hãi trước ác bất thiện pháp, có được tâm này chúng ta mới tu được, còn không biết sợ thì còn rất xa Niết-bàn.
Nhiệt tâm trong tu học
Trong bài kinh “Không Biết Sợ”, Ngài Maha Ca-diếp sẽ giải thích cho chúng ta biết thế nào là nhiệt tâm, thế nào là không nhiệt tâm, thế nào là biết sợ, thế nào là không biết sợ trong sự tu học.
Bài kinh “Không Biết Sợ”
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp), và Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trú ở Barànasi (Ba-la-nại), chỗ Isipatana (chư Tiên đọa xứ), tại Migadàya (Lộc Uyển).
Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kassapa những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?
I
-- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm.
II
Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
III
Và này Hiền giả, thế nào là có nhiệt tâm?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi lên nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm.
IV
Và này Hiền giả, như thế nào là có biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là có biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Bài kinh này có nhiều đoạn lặp tới lặp lui vì tâm các Ngài rất tôn kính pháp và các Ngài nói cái gì rõ ràng cái đó, nhưng mình nghe sẽ có cảm giác "sao cứ nói tới nói lui hoài", đó là do trong người mình có sự thúc giục. Vì thế, khi nhận diện ngũ uẩn sâu sắc sẽ thấy nhiều điều rất hay, thấy rằng mình chỉ muốn cái gì ngắn gọn thôi.
Thế nào là không khởi nhiệt tâm
Trong bài kinh này nói về Ngài Xá-lợi-phất và Ngài Maha Ca-diếp là hai vị đại Thánh Tăng thượng thủ của Tăng đoàn thời Đức Phật tại thế, sau buổi chiều thiền tịnh hai Ngài đến với nhau pháp đàm tại vườn Lộc Uyển. Ngài Xá-lợi-phất hỏi Ngài Maha Ca-diếp "không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách", như vậy như thế nào là không có nhiệt tâm, không biết sợ? Các Ngài là những bậc A-la-hán thượng thủ của Tăng đoàn mà câu nói rất đơn giản, chỉ với một câu này thôi cũng cho chúng ta thấy cái tâm của các bậc Thánh giả. Thứ nhất khi các Ngài học rất để tâm từng pháp nhỏ, thứ hai là làm lợi lạc cho hữu tình chúng sanh trong tương lai. Nhờ câu hỏi đó mà bây giờ chúng ta mới được biết, được học sau 2600 năm, nếu không có câu hỏi này thì đâu có gì cho chúng ta học. Những bậc Thánh nhân sau khi thiền định sẽ đi pháp đàm, các Ngài chỉ làm hai việc, chính là im lặng của bậc Thánh và nói năng theo Chánh Pháp. Sau đó Ngài trả lời:
"'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Những câu này rất sâu sắc, mình đọc thì thấy đơn giản nhưng công phu thực tập rất vi tế, rất sâu sắc. Một suy nghĩ tham muốn, nóng giận hoặc ưa thích thì mình có nhận diện ngũ uẩn để thấy nó sanh khởi nhưng lại không nhiệt tâm đoạn tận nó, để tác ý, quán chiếu, nó khởi thì cho khởi và biết khởi vậy thôi thì gọi là "vị ấy không khởi nhiệt tâm". Nếu không nhận diện ngũ uẩn, không thực tập pháp này thì đọc vào chánh văn cũng không hiểu, hoặc nếu có hiểu cũng chỉ hiểu bên ngoài, tức là bên trong khởi lên cảm giác bản ngã, mình biết là có nhưng cho nó qua thôi thì gọi là "vị ấy không khởi nhiệt tâm". Chúng ta có bị cái này thường xuyên không? Khởi lên dục, sân, khởi lên bản ngã, ta đây rồi mình biết nó khởi nhưng mặc kệ, cho nó qua đi, đó là không khởi nhiệt tâm để diệt tận nó.
"'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Khi nãy là sanh khởi lên rồi mình mặc kệ để cho sanh khởi, còn bây giờ nó tồn tại, không bị diệt, mình thấy nó có mặt bên trong vẫn không khởi nhiệt tâm. Ví dụ đang có cảm giác giận nhưng mình vẫn không nhiệt tâm để diệt cảm giác giận đó, cứ để cảm giác tức giận trong tâm thì gọi là không khởi nhiệt tâm. Không khởi nhiệt tâm là khi ác bất thiện pháp sanh lên mình cũng cho qua, và bây giờ ác bất thiện pháp đang có mặt mình cũng mặc kệ.
"'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Thiện pháp không sanh khởi mình cũng mặc kệ, tức là trơ trơ, ví dụ lên ngồi thiền rồi đơ ra trong cảm giác bất khổ bất lạc nhưng mình vẫn mặc kệ nó, có hôm ngồi thiền cũng tinh minh sáng tỏ, nhận diện, quán chiếu đủ kiểu nhưng cũng có hôm vào ngồi thiền trơ ra, cứ ngồi cho có đến khi nào hết giờ thì xả thiền, không nhiệt tâm nên thiện pháp không sanh.
"'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Tức là thiện pháp bị diệt rồi cũng để cho diệt luôn. Ví dụ mình biết cơn buồn ngủ đang xâm chiếm nhưng mình để cho ngủ luôn, đó là không khởi nhiệt tâm. Trong từng buổi ngồi thiền và trong từng buổi nghe pháp không tập trung tâm ý để thọ lãnh cái pháp thì cái đó cũng không nhiệt tâm chứ không phải đem cái thân ngồi đó là xong, không phải đặt cái thân lên Bồ-đoàn hoặc để cái thân lên cái ghế ở giảng đường là xong, đang đi kinh hành cũng chưa phải là nhiệt tâm, trong kinh đã ghi rất rõ nếu vị Tỳ-kheo đang đi, đứng, ngồi nằm mà ác bất thiện pháp sanh khởi lên mà vị ấy không tinh cần, tinh tấn, nỗ lực tẩy sạch, trừ diệt thì gọi là hạ liệt, thấp kém trong pháp và luật, sự tu của chúng ta sâu sắc đến như vậy.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? 'Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải tu tập". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Nhìn bề ngoài thấy ngồi thiền, nghe pháp hay đi kinh hành mà bảo là tinh tấn thì chưa hẳn vì bên trong tâm đang như thế nào, thọ; tưởng; hành trong đó đang ra sao, có đang diệt ác sanh thiện không, như vậy mới gọi là nhiệt tâm. Bên thiền tông Trung Quốc, có các vị đang ngồi thiền mà thầy tổ đi ngang đánh thật mạnh vì ngồi ngủ, ngồi mà buông lung phóng dật. Hoặc có thầy kia đang đi bên ngoài nhưng thầy tổ lại nói thầy đó tinh tấn, tuy nhiên, đó là chỉ thấy tướng bên ngoài chứ mình không biết tâm người đó đang vận dụng như thế nào. Có người hỏi sư phụ của quốc sư Ngọc Lâm có bao nhiêu đệ tử thì Ngài nói có một đệ tử rưỡi, Ngọc Lâm lúc đó chưa là quốc sư khi nghe sư phụ nói vậy là sáng đêm không ngủ vì không biết Ngài được tính một hay Ngài được tính phân nửa, mà các sư huynh của Ngài chỉ ăn ngủ, trong khi Ngài siêng năng tu học lại có tướng mạo trang nghiêm.
Vì thế bậc chân tu hoặc bậc pháp nhãn là người nhìn sâu trong thọ; tưởng; hành chứ không phải nhìn bên ngoài dáng vẻ. Bên ngoài chỉ là cái vỏ của phạm hạnh nhưng nếu cái vỏ này còn chưa được thì không thể làm gì, không có oai nghi, chánh hạnh gì cả. Như vậy, điều quan trọng là phải có nhiệt tâm diệt ác sanh thiện bên trong, ác là tham, sân, si và thiện là không tham, không sân, không si, thiện là từ, bi, hỷ, xả. Chúng ta bị la rầy là do không nhiệt tâm trong thiện pháp, đưa thiện pháp mà mình không muốn lấy. Không phải ngày nào cũng bắt mọi người ra cuốc đất, nhổ cỏ, đó là cơ hội để rèn luyện, là những bài tập, bài thi để kiểm tra hạnh kham nhẫn, chịu khó mà còn không vượt qua được, yếu kém như vậy thì làm sao tu được. Lỡ trong đại chúng có người nhiễm dịch bệnh thì tâm người đó sẽ như thế nào, nếu từ bây giờ không chuẩn bị, bất thình lình cái chết đến với mình thì mình sẽ ra sao, làm sao có thể trả giá với thần chết?
Tất cả những điều này phải chuẩn bị trước cho nên người tu phải nhớ đặt bản thân vào trạng thái nguy hiểm, tai họa, đây chính là bí kiếp. Phải luôn đặt bản thân vào những trường hợp đột ngột, đột biến, đột tử để sau này có xảy ra mình cũng bình an, không hoảng sợ, tâm mới giữ bất động và nếu có động cũng động ít, vẫn giữ sức làm chủ trong cái sanh tử này. Chúng ta khuyến khích nói rất nhiều về vấn đề quán nguy hại, nếu không quán nguy hại thì không tu tiến được, phải quán vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly khỏi ngũ uẩn này.
Khi mình không biết sợ thì điều thiện bị diệt và ác sanh ra trong tâm, ví dụ, trong tâm có ý niệm "muốn tu cái gì nhàn nhã thôi, tu khó quá chắc mình bỏ cuộc", sanh khởi mà mình cũng bình thường, không biết sợ. Lúc đó, cần phải tác ý "ý niệm này đưa đến thối đọa, sụp đổ công lao mình gây dựng từ trước đến nay", phải biết lo sợ và tìm đủ mọi cách diệt tận, bứng tận gốc rễ suy nghĩ đó, không cho nó tồn tại và tái sanh trong tâm mình nữa. Vì đó là ý nghĩ đưa đến ác pháp, nếu không sợ thì hôm nay nghĩ vậy, hôm sau cũng nghĩ giống vậy, vài ngày sau cũng nghĩ như vậy thì cuối cùng nó làm mình thối đọa.
Đối với dục, tham, sân cũng giống vậy. Anh em đánh nhau, chém giết giành nhau vài tấc đất không phải chỉ nghĩ một lần là xảy ra vụ án, mà những suy nghĩ, cảm thọ đó sanh khởi lặp tới lặp lui nhiều lần, cho đến một lúc nào đó trở thành giọt nước tràn ly nên xảy ra vụ án. Cái ác sanh ra trong tâm mà mình không lo diệt, cái thiện bị giảm mà mình không lo làm cho cái thiện tăng trưởng, sanh khởi lên, tức là không có Tứ Chánh Cần, không có tinh cần, tinh tấn.
Thế nào là sanh khởi nhiệt tâm
Thật ra trong toàn bộ kinh Nikāya chỉ có hai chữ: “thiện” và “bất thiện”. Khi nhận diện năm uẩn, soi rọi lại nội tâm sẽ thấy cái nào thiện, cái nào bất thiện, sau đó phải nhiệt tâm, nhiệt tình, lo lắng, sợ hãi đối với bất thiện để diệt tận, tẩy sạch làm cho nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lai. Tiếp theo là nhiệt tâm, nhiệt tình, cố gắng, nỗ lực, tinh cần, tinh tấn đối với thiện pháp, làm cho nó tăng trưởng, phát triển quảng đại để đi đến chỗ cực thiện, thuần thiện, chí thiện, viên mãn cái thiện. Viên mãn thiện là vô tham, vô sân, vô si, nghĩa là hết dục, tham, sân si, vô minh, bản ngã đối với ngũ uẩn này. Tất cả mọi thứ đều không đi ra khỏi thiện và bất thiện, bất thiện là tham, sân, si và thiện là không tham, không sân, không si. Trong khi đó, tham, sân, si đồng nghĩa với vô minh và tham ái, mà vô minh và tham ái đồng nghĩa với bản ngã, bản ngã đồng nghĩa với thân kiến. Như vậy, mọi thứ đều có sự liên hệ với nhau cho nên phải thấy được thiện và bất thiện, mà đối với bất thiện thì phải biết lo lắng, sợ hãi.
Chúng ta đừng trở thành người không biết lo, không biết sợ, đừng trở thành người trơ trơ giống như gà mờ, cái gì cũng không biết. Bất ngờ mấy hôm trước có một thầy đến đây mà hỏi mọi người đều nói không biết là không ai, đang trong mùa dịch thì phải biết người đó là ai, đến đây là gì, đến có xin phép ai chưa. Nhưng Minh Thành hỏi mọi người đó là ai thì không ai biết, đó là trạng thái vô minh, si ám. Với một người có hình tướng như vậy mà mình còn không biết thì ý niệm vô hình sanh khởi trong tâm làm sao mình có thể nhận biết được? Mình phải hỏi người đó là ai, ở đâu đến đây, đến với mục đích gì, có xin phép ai chưa, không được nghĩ trách nhiệm này của thầy trụ trì, của thầy quản chúng chứ không phải của mình nên không cần biết. Trong tâm cũng giống như vậy, cái gì đang xuất hiện, cái gì đang sanh khởi, cái gì đang hiện hữu có mặt, phải xem nó là thiện hay bất thiện và phải xử lý nó như thế nào, tình trạng hiện tại ra sao, đây là một kĩ sư tâm hồn
"Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Ngược lại vị có nhiệt tâm là khi ác bất thiện pháp khởi lên thì vị này có nhiệt tâm để diệt trừ nó, diệt tận, đánh tan nó.
"'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi lên nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Nếu thiện pháp không khởi lên thì phải có nhiệt tâm làm cho thiện pháp khởi lên. Ví dụ đến giờ học kinh, nghe pháp, ngồi thiền mà làm biếng muốn nghỉ, nếu thật sự mệt mỏi, bệnh yếu thì có thể nhưng vẫn khỏe mà muốn bung lung thì phải nhiếp phục cảm thọ, suy nghĩ, ý tưởng đó, bắt phải đi học kinh, ngồi thiền, nghe pháp, làm việc. Đó là khởi nhiệt tâm diệt ác sanh thiện.
"'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Đến khi cái ác sanh khởi lên thì lo lắng, bất an "tại sao mình tu lại có những ý niệm này?", "tại sao mình tu lại có những cảm giác bản ngã này", cảm thấy sợ hãi, lo lắng và tìm cách trừ diệt nó. Các thiện pháp khởi lên nhưng hiện tại bị đoạn giảm, ví dụ như lúc trước học kinh rất siêng năng nhưng giờ lại làm biếng không học nữa, vậy là thiện pháp bị mất đi và người này cố gắng không cho thiện pháp bị mất đi.
"Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Chỉ riêng phần có nhiệt tâm và biết lo sợ có thể giác ngộ, có thể đạt đến Niết-bàn, "có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". Vì thế khi mình theo dòng pháp này và thực hành được thì mình thấy những người sân si trong khi mình ít sân nhưng lại sợ, trong người mình sanh ra cảm giác sợ hãi đối với cơn giận dù là của mình hay của người. Sợ hãi nhân quả, sợ hãi đích đến của cơn giận này và trong mình có nhiệt tâm, tinh cần để dập tắt cái giận đó, không ưa thích, không chất chứa, nuôi dưỡng nó, không cho nó ở trong tâm, dù cho nó chỉ xin ở lại một chút cũng không cho, phải đuổi ngay lập tức cảm giác sân hận này thì mới gọi là nhiệt tâm. Khi có cảm giác của bản ngã cũng phải đuổi ngay, bắt nó phải dập đầu xuống quỳ lạy, bắt nó phải xấu hổ. Như vậy mới là đang tu, biết tu và đó là người tu. Còn ngược lại, khi ác sanh cũng kệ, thiện bị diệt cũng kệ, không lo lắng sợ hãi thì người này không tu được.
Như vậy, người tu phải xem lại các ác, bất thiện pháp bên trong, xem lại thiện pháp khi nó sanh và diệt. Phải tinh cần, tinh tấn diệt ác sanh thiện, tu tập thiện pháp trước rồi sau đó đi đến không chấp thủ, vì nhiều khi chúng ta chỉ lo học không chấp thủ mà bỏ quên cái thiện thì sẽ rất nguy hiểm. Cho nên, cần tu tập thiện pháp, tinh cần, tinh tấn để làm cho thiện pháp được viên mãn mới lìa tham, sân, si, phá vỡ được vô minh, tham ái và chấp thủ. Đây là bài kinh đầu tiên trong chủ đề tàm quý.
./.
NHIỆT TÂM & SỢ HÃI
TÀM QUÝ 1
–Thích Minh Thành –
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tàm và quý trong tu học PAGEREF _Toc79478394 \h 1
1.Tầm quan trọng của tàm và quý PAGEREF _Toc79478395 \h 1
2.Nhìn lại chính mình PAGEREF _Toc79478396 \h 4
II.Nhiệt tâm trong tu học PAGEREF _Toc79478397 \h 7
1.Bài kinh “Không Biết Sợ” PAGEREF _Toc79478398 \h 7
2.Thế nào là không khởi nhiệt tâm PAGEREF _Toc79478399 \h 10
3.Thế nào là sanh khởi nhiệt tâm PAGEREF _Toc79478400 \h 14
Tàm và quý trong tu học
Người tu chúng ta, nhất là tu theo tinh thần kinh tạng Nikāya, nếu tu đúng sẽ có sự nhiệt tình, nhiệt tâm, khi đó các pháp sẽ từ từ hiển lộ trong thân tâm. Còn không để tâm, chỉ nghe học qua loa, học cho có hình thức bề ngoài thì các pháp sẽ không hiển lộ, pháp không hiện hữu trong con người mình rồi chúng ta sẽ trở về với những thói quen, tật xấu.
"Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di,
Hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị".
(Quy Sơn Cảnh Sách)
Dịch nghĩa:Chỗ đi năm trước, tấc bước không rời,
Lơ lửng một đời, lấy chi nương tựa.
Các thiện pháp sẽ không hiện hữu, không có mặt, không tăng trưởng phát triển, không lộ rõ trong thân tâm, dù có học bao nhiêu đi nữa nhưng trở ra ngoài mình vẫn là con người cũ như trước. Cho nên, trong sự tu đòi hỏi sự nhiệt tâm, nhiệt tình như trong kinh Tứ Niệm Xứ đã ghi:
"Này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Tầm quan trọng của tàm và quý
Trong chúng ta, pháp hiển lộ rõ nhất chính là tàm quý, nếu một người tu thật sự nhiệt tâm tinh cần thì pháp tàm quý sẽ lộ rõ trong thân tâm. Người nhiệt tâm siêng năng tu tập thì tự động pháp tàm quý sẽ có mặt trong tâm người đó, tức là sự xấu hổ, sợ hãi có mặt trong người đó. Nhiều lần Minh Thành nhắc nhở đại chúng nhưng nhìn lại trong cái nhắc nhở đó có sân, bản ngã là xấu hổ vô cùng rồi đóng cửa lại, nhưng không phải vì giận mọi người mà là nhìn thấy mình có bản ngã, sân giận trong lời nhắc nhở. Sau đó, Minh Thành ở trong thất suốt để tác ý quở trách tâm mình, làm sanh khởi cảm giác tàm quý.
Nếu một người tu theo dòng pháp này mà không có tàm quý sanh khởi và hiện hữu thì như chiếc xe không khởi động được máy. Đối với một người thật sự tu học thì pháp tàm quý phải hiện hữu trong người đó, tức là người này thường xuyên có tâm xấu hổ và sợ hãi, lo lắng. Lúc xưa, khi chưa đi vào pháp này thì rất ít khi mình có tâm này, hiếm khi thấy xấu hổ nhưng tu đúng Chánh Pháp thì những pháp gì Đức Phật nói trong kinh sẽ có trong thân. Chúng ta sẽ thấy, sẽ biết, sẽ xúc chạm, sẽ nhận thức và pháp đó sẽ có trong con người mình thường xuyên. Một khi pháp đó đã có thì nó không để cho mình buông lung phóng dật giống như trước kia, tự động có chân thắng trong lời nói, trong cử chỉ, trong suy nghĩ, trong cảm xúc của mình. Giống như sẽ có một người canh gác trong tâm chúng ta vậy, người đó chính là chánh niệm tỉnh giác, người đó sẽ thường xuyên la rầy, nhắc nhở, khiển trách, chỉ lỗi cho mình, người tu đúng phải có những điều này. Nếu mình chưa có những điều này phải nỗ lực, nếu đã có rồi cũng phải nỗ lực hơn nữa.
Khi mình thường xuyên an trú trong pháp tàm quý thì sẽ rất tuyệt diệu. Khi người ta làm những điều sai quấy thì tức giận là điều bình thường ở thế gian nhưng người tu không cho phép như vậy. Thế nên, tàm quý giúp cho mình diệt ác sanh thiện, làm tịnh chỉ các ác bất thiện pháp, làm cho mình nhiếp phục những buông lung phóng dật. Pháp tàm quý này dẫn đường cho thiện pháp, cho nên Minh Thành hay nói “từ nhục nhã mới sanh Thánh quả”. Một người không nhục nhã thì người này không tu được, người tu tinh tấn, nhiệt tâm, tinh cần sẽ thường xuyên ở trong tàm quý, thấy dục tham, sân hận, vô minh, khát ái sẽ xấu hổ, thấy buồn đau, lo lắng, "tại sao trong thân tâm mình còn nhiều rác bẩn như vậy?".
Chúng ta cần nhớ rằng pháp tàm quý rất quan trọng. Nhờ có sự xấu hổ và sợ hãi đối với các lỗi nhỏ nhặt thì mới tu tiến, mới tăng thượng được trong giới đức, trong thiền định, trong trí tuệ. Nếu chúng ta sống lơ lửng, sống qua ngày đoạn tháng, sống trong sự lãng quên, sống trong sự thất niệm, sống không soi rọi lại thân tâm thì thời gian trôi qua rất nhanh, dù chúng ta sẽ lên chức đại đức, thượng tọa, hòa thượng, chúng ta sẽ lên sư cô, ni trưởng… tuổi thọ, phẩm vị, chức sắc lên thêm nhưng trí tuệ, thiền định, đức hạnh lại không tăng trưởng thì làm sao chúng ta dạy dỗ được người sau? Người bung ra những tập khí, tánh tình, thói quen của phàm phu, phàm tục thì chỉ dạy được những cái phàm phu, phàm tục thôi chứ làm sao hướng dẫn được Thánh pháp, Thánh đạo? Cho nên, người chân tu phải ưu tư rất nhiều, sống trong trầm mặc, suy tư, lo lắng, người chân tu lo rất nhiều còn người không tu sẽ không biết lo, không biết sợ. Có ai nghĩ rằng người tu lúc nào cũng ở trong trạng thái tâm lo lắng, xấu hổ, sợ hãi không? Chính vì trú trong tâm này liên tục nên ác pháp không thể tồn tại và tăng trưởng trong tâm người này. Ngay khi trú trong tâm đó đã là thiện pháp và từ nơi đó sanh trưởng ra thêm các thiện pháp khác. Cho nên, những bài kinh về tàm quý rất quan trọng, phải được vận dụng, đọc tụng thường xuyên.
"Khi tàm quý không có, này các Tỳ-kheo, với người thiếu tàm quý, chế ngự các căn đi đến hủy diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Lúc nào mình thấy buông lung phóng dật là lúc đó mình không trú trong tàm quý, lúc nào mình có xấu hổ, sợ hãi thì lúc đó mình có sự chế ngự các căn, bởi vì đó là hệ nhân quả liên đới với nhau, là sợi dây xích. Cho nên, có cái này là có cái kia, không có cái này là không có cái kia.
"Khi chế ngự các căn không có, với người thiếu chế ngự các căn, giới đi đến hủy diệt. Khi giới không có, với người thiếu giới, chánh định đi đến hủy diệt. Khi chánh định không có, với người không có chánh định, tri kiến như thật đi đến hủy diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Có tàm quý là có sự chế ngự các căn, có chế ngự các căn là có giới, nếu không chế ngự các căn thì giới đi đến hủy diệt. Giữa chư Tăng và chư Ni mà không có sự chế ngự các căn thì giới đi đến hủy diệt, gặp nhau mà đùa giỡn là sụp đổ hết, khi tu đúng sự thật của Đức Phật thì thật sự rất xấu hổ. Sư Pháp Bảo trên núi là tiến sĩ, làm trong viện khoa học của Hàn Quốc, vậy mà sư bỏ hết tất cả chỉ có ba tấm y và một bình bát, hai ngày sư xuống khất thực một lần, không bao giờ chúng ta nghe sư nói chuyện lớn tiếng, sư đi xuống khất thực trong sự lặng lẽ rồi lại đi lên cũng trong sự lặng lẽ, đó là tấm gương trước mắt để chúng ta tu học. Nếu không có tàm quý là la lối, cười giỡn, nhất là dưới bếp cười nói vang dội, một người tu chân chánh thấy như vậy rất đau lòng cho nên Đức Phật đã nói "cười lớn là trẻ con trong pháp và luật". Đây là những bài học cho tất cả mọi người, phải lấy đó làm sự xấu hổ và nhục nhã, cúi đầu sám hối. Bất kì một ác bất thiện pháp nào sanh khởi là phải diệt tận nó, hạch tội nó, trong giờ ngồi thiền lôi nó ra làm cho cảm thọ đó khắc ghi bên trong để nhớ mãi không quên thì mới thay đổi được con người mình. Nam và nữ gặp nhau mà cười nói, giỡn hớt là giới đi đến hủy diệt, oai nghi đi đến hủy diệt.
Có một lần Ngài Anan hỏi Đức Phật phải giao tiếp với người nữ như thế nào thì Đức Phật đã chỉ dạy cho Ngài như sau:
"-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.
-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm". (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Chính vì chúng ta hay xem thường nên phải có những buổi học về những chuyên đề không được xem thường, vì sự xem thường này làm hỏng hết sự nghiệp của người xuất gia. Cứ nghĩ gặp gỡ không có gì đâu, nói chuyện với nhau đâu có gì đâu, cười giỡn chút đâu có gì nghiêm trọng thì tất cả đời tu của mình cũng không có gì cả. Cho nên, trú được trong tàm quý thì mới bắt đầu tu được.
Nhìn lại chính mình
Sự chân tu rất khổ, không giống như trước nay mình nghĩ rằng tu thì sướng, đến khi vào dòng pháp này mới thấy tu là cả một gánh nặng của thiện pháp chứ không phải theo kiểu buông lung, thả trôi, sống trong thất niệm như trước kia. Nếu suy nghĩ về dục, sân, hại, về những ác bất thiện pháp thì cũng phải xấu hổ cả trong suy nghĩ. Dù điều này không ai biết ngoài tự mình nhưng phải xấu hổ: "tại sao lại có ý hành này?", "tại sao lại có suy tư này?", "suy tư này không phù hợp với người tu" . Và mình lo lắng, nhục nhã đối với suy nghĩ này, suy nghĩ này sẽ dẫn đến ác thú, đọa xứ, khổ cảnh, suy nghĩ này đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và sám hối với suy nghĩ đó thì mới gọi là nhiệt tâm trong tu học.
Nếu không nhận diện ngũ uẩn sát sao, thường xuyên, nghiêm túc thì đối với những ý nghĩ bất thiện mình đều cho qua hoặc nhập cuộc với nó. Như vậy thì sự nhận diện ngũ uẩn của mình chỉ là học cho biết chứ không phải học để tu. Học để tu là trong mỗi suy nghĩ nếu có dục, tham, sân là phải xấu hổ, nhục nhã; mỗi suy nghĩ, hình ảnh, cảm xúc có bản ngã, kiêu căng, hống hách là phải thấy hổ thẹn, đó là sự thực tập và vận dụng pháp tàm quý trong ba nghiệp thân – miệng – ý.
Thế nên, người chân tu, người siêng năng tu rất an tịnh, lắng dịu, thường xuyên nhìn vào trong với cảm thọ dạt dào, chỉ thấy khổ đau chứ có gì vui sướng đâu. Họ thấy xấu hổ và nhục nhã khi phải mang vác một cái ung nhọt chín lỗ này, khi phải chất chứa một tâm đầy rác bẩn và cấu nhiễm này. Người này thường xuyên suy tư và chiêm nghiệm cách nào để thoát ra, vượt ra, xuất ly, không chấp trước một vật gì trên đời. Tuy rằng người tu giữ gìn oai nghi giới hạnh từng chút một nhưng người tu không chấp trước một vật gì trên đời, chỗ này là chỗ tuyệt diệu của Thánh pháp. Tức là bây giờ thấy cái gì cũng vô thường, khổ, trống rỗng, không có gì hết, nhưng khi buông lung phóng dật thì biết là không đúng, pháp nào ra pháp đó.
Khi niệm thân, oai nghi thì họ tề chỉnh, trang nghiêm nhưng trong trí tuệ phá vỡ tất cả căn – trần – thức, đó là chỗ tuyệt diệu của người tu đúng pháp chứ không phải được cái này lại bỏ cái kia. Sư bưng bình bát khất thực rất an tịnh, lắng dịu rồi nhìn lại mình, thấy mình cũng học, cũng tu, cũng đắp y cạo đầu mà mình lại không được như vậy. Chúng ta so sánh, đối chiếu để thấy mình như thế nào. Tại sao người ta cũng tu mà trong từng bước chân lại an tịnh, chánh niệm, ung dung, còn mình cũng tu mà cử chỉ của mình lại khác đến thế. Trong khẩu khí của mình lúc nói chuyện có bản ngã nếu người ta chịu khó để ý sẽ biết, hoặc nếu có buông lung phóng dật người ta nghe sẽ biết, đó là người bình thường chứ đừng nói gì người nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì làm sao mình có thể qua mặt người ta. Chúng ta nghĩ có thể gạt người ta suốt đời được sao? Người ta cung kính, đảnh lễ, cúng dường mà thấy mình bản ngã, sân si, tham lam thì người ta còn tin tưởng nữa không? Hiện nay có rất nhiều Phật tử hoặc không phải Phật tử mất lòng tin với Tam bảo, với người xuất gia, giấy thì làm sao gói được lửa, cây kim trong bọc cũng có ngày lòi ra.
Chính vì vậy, chúng ta phải chân tu thật học, muốn tu thật sự thì điều đầu tiên phải có tàm quý, xấu hổ và sợ hãi phải có mặt. Xấu hổ với những cái dở bẩn trong người mình, xấu hổ với tập khí, tánh tình phàm phu tục tử của mình, xấu hổ với những thứ bụi đời của mình, khi vào chùa vẫn chưa được sạch, chưa được phủi. Từ "đầu đà" nghĩ là phủi giũ, các vị sư bên Trung Quốc cần cây phất trần có ý nghĩa phủi bụi, bụi đời, bụi trần trong tâm. Người chân tu lúc nào cũng nhìn lại hoài để phủi bụi, lúc nào cũng sáng quét, trưa quét, chiều quét thì tất nhiên căn nhà phải sạch. Cái tâm cũng quét hoài, lau hoài thì cái tâm phải sạch, còn đằng này không quét không lau, cứ hướng ngoại nhìn ra ngoài thì làm sao căn nhà nội tâm được sạch sẽ?
Vì thế, khi tự nhìn lại chỉ thấy xấu hổ, nhục nhã. Có biết bao bác sĩ ở tuyến đầu chống dịch ngất xỉu, có một vị giám đốc trung tâm y tế ngất xỉu vì thức trắng hơn mười đêm, về nhà ngất xỉu nên người nhà phải đưa đi cấp cứu, ngoài ra còn biết bao y bác sĩ và các điều dưỡng ngất đi vì mệt. Còn mình tu nhưng có dám hành thiền, nghe pháp đến mức như vậy không? Trong khi bác sĩ chỉ chợp mắt một chút thôi rồi làm suốt trắng đêm vì lượng bệnh nhân quá lớn. Thế nên, nhìn cái gì cũng phải đối chiếu lại bản thân mình, đừng nhìn những hình ảnh đó rồi chỉ biết là chống dịch mà phải nhìn cái đó rồi quay về xem lại sự tinh cần, tinh tấn của chính tự thân mình.
"Khi tri kiến như thật không có, với người thiếu tri kiến như thật, nhàm chán ly tham đi đến hủy diệt. Khi nhàm chán ly tham không có, với người thiếu nhàm chán ly tham, giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Sự xấu hổ và sợ hãi này có mặt trong con người sẽ rất hay, rất vi diệu, tự động sẽ có người thầy vô hình trong tâm nhắc nhở, quở trách mình cái nào nên làm, cái nào không nên làm. Một lời nói sân hận, buông lung phóng dật, bản ngã phải được nhìn thấy, trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói phải kiểm tra hoặc dở nhất là sau khi nói cũng phải biết, trong giờ ngồi thiền hoặc những khi yên tịnh mình nhìn trở lại để kiểm tra lời nói, hành động, cử chỉ. Đức Phật nói phía trước là gai, đằng sau là gai, bên phải là gai, bên trái là gai, phía trên là gai, như người đi trong rừng hoặc bụi tre gai nếu không cẩn thận đạp lên là dính gai.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: 'Mong sao tôi chớ có bị vướng gai'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, VII. Khổ Pháp)
Ngài đang ví dụ cho năm dục trưởng dưỡng bủa vây mình, bao nhiêu sắc đẹp, âm thanh, mùi vị, những ác bất thiện pháp là gai, những cái làm cho mình sanh khởi tham, sân, si là gai, nếu không cẩn thận, không sợ hãi sẽ đạp trúng gai. Người quân tử, người muốn thành Thánh hiền ở bên Nho giáo lúc nào cũng nơm nớp lo sợ giống như đi trên băng mỏng, bước trên kiếm bén. Băng tuyết mỏng manh đi không cẩn thận thì bất cứ lúc nào cũng có thể vỡ ra rớt xuống nước lạnh giá, bước trên kiếm bén không cẩn thận là máu đổ. Người chân tu, bậc chân nhân, bậc chánh kiến bên Phật giáo lúc nào cũng nơm nớp lo lắng, sợ hãi trước ác bất thiện pháp, có được tâm này chúng ta mới tu được, còn không biết sợ thì còn rất xa Niết-bàn.
Nhiệt tâm trong tu học
Trong bài kinh “Không Biết Sợ”, Ngài Maha Ca-diếp sẽ giải thích cho chúng ta biết thế nào là nhiệt tâm, thế nào là không nhiệt tâm, thế nào là biết sợ, thế nào là không biết sợ trong sự tu học.
Bài kinh “Không Biết Sợ”
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp), và Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trú ở Barànasi (Ba-la-nại), chỗ Isipatana (chư Tiên đọa xứ), tại Migadàya (Lộc Uyển).
Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahà Kassapa những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?
I
-- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm.
II
Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
III
Và này Hiền giả, thế nào là có nhiệt tâm?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi lên nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm.
IV
Và này Hiền giả, như thế nào là có biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là có biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Bài kinh này có nhiều đoạn lặp tới lặp lui vì tâm các Ngài rất tôn kính pháp và các Ngài nói cái gì rõ ràng cái đó, nhưng mình nghe sẽ có cảm giác "sao cứ nói tới nói lui hoài", đó là do trong người mình có sự thúc giục. Vì thế, khi nhận diện ngũ uẩn sâu sắc sẽ thấy nhiều điều rất hay, thấy rằng mình chỉ muốn cái gì ngắn gọn thôi.
Thế nào là không khởi nhiệt tâm
Trong bài kinh này nói về Ngài Xá-lợi-phất và Ngài Maha Ca-diếp là hai vị đại Thánh Tăng thượng thủ của Tăng đoàn thời Đức Phật tại thế, sau buổi chiều thiền tịnh hai Ngài đến với nhau pháp đàm tại vườn Lộc Uyển. Ngài Xá-lợi-phất hỏi Ngài Maha Ca-diếp "không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách", như vậy như thế nào là không có nhiệt tâm, không biết sợ? Các Ngài là những bậc A-la-hán thượng thủ của Tăng đoàn mà câu nói rất đơn giản, chỉ với một câu này thôi cũng cho chúng ta thấy cái tâm của các bậc Thánh giả. Thứ nhất khi các Ngài học rất để tâm từng pháp nhỏ, thứ hai là làm lợi lạc cho hữu tình chúng sanh trong tương lai. Nhờ câu hỏi đó mà bây giờ chúng ta mới được biết, được học sau 2600 năm, nếu không có câu hỏi này thì đâu có gì cho chúng ta học. Những bậc Thánh nhân sau khi thiền định sẽ đi pháp đàm, các Ngài chỉ làm hai việc, chính là im lặng của bậc Thánh và nói năng theo Chánh Pháp. Sau đó Ngài trả lời:
"'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Những câu này rất sâu sắc, mình đọc thì thấy đơn giản nhưng công phu thực tập rất vi tế, rất sâu sắc. Một suy nghĩ tham muốn, nóng giận hoặc ưa thích thì mình có nhận diện ngũ uẩn để thấy nó sanh khởi nhưng lại không nhiệt tâm đoạn tận nó, để tác ý, quán chiếu, nó khởi thì cho khởi và biết khởi vậy thôi thì gọi là "vị ấy không khởi nhiệt tâm". Nếu không nhận diện ngũ uẩn, không thực tập pháp này thì đọc vào chánh văn cũng không hiểu, hoặc nếu có hiểu cũng chỉ hiểu bên ngoài, tức là bên trong khởi lên cảm giác bản ngã, mình biết là có nhưng cho nó qua thôi thì gọi là "vị ấy không khởi nhiệt tâm". Chúng ta có bị cái này thường xuyên không? Khởi lên dục, sân, khởi lên bản ngã, ta đây rồi mình biết nó khởi nhưng mặc kệ, cho nó qua đi, đó là không khởi nhiệt tâm để diệt tận nó.
"'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Khi nãy là sanh khởi lên rồi mình mặc kệ để cho sanh khởi, còn bây giờ nó tồn tại, không bị diệt, mình thấy nó có mặt bên trong vẫn không khởi nhiệt tâm. Ví dụ đang có cảm giác giận nhưng mình vẫn không nhiệt tâm để diệt cảm giác giận đó, cứ để cảm giác tức giận trong tâm thì gọi là không khởi nhiệt tâm. Không khởi nhiệt tâm là khi ác bất thiện pháp sanh lên mình cũng cho qua, và bây giờ ác bất thiện pháp đang có mặt mình cũng mặc kệ.
"'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Thiện pháp không sanh khởi mình cũng mặc kệ, tức là trơ trơ, ví dụ lên ngồi thiền rồi đơ ra trong cảm giác bất khổ bất lạc nhưng mình vẫn mặc kệ nó, có hôm ngồi thiền cũng tinh minh sáng tỏ, nhận diện, quán chiếu đủ kiểu nhưng cũng có hôm vào ngồi thiền trơ ra, cứ ngồi cho có đến khi nào hết giờ thì xả thiền, không nhiệt tâm nên thiện pháp không sanh.
"'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Tức là thiện pháp bị diệt rồi cũng để cho diệt luôn. Ví dụ mình biết cơn buồn ngủ đang xâm chiếm nhưng mình để cho ngủ luôn, đó là không khởi nhiệt tâm. Trong từng buổi ngồi thiền và trong từng buổi nghe pháp không tập trung tâm ý để thọ lãnh cái pháp thì cái đó cũng không nhiệt tâm chứ không phải đem cái thân ngồi đó là xong, không phải đặt cái thân lên Bồ-đoàn hoặc để cái thân lên cái ghế ở giảng đường là xong, đang đi kinh hành cũng chưa phải là nhiệt tâm, trong kinh đã ghi rất rõ nếu vị Tỳ-kheo đang đi, đứng, ngồi nằm mà ác bất thiện pháp sanh khởi lên mà vị ấy không tinh cần, tinh tấn, nỗ lực tẩy sạch, trừ diệt thì gọi là hạ liệt, thấp kém trong pháp và luật, sự tu của chúng ta sâu sắc đến như vậy.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? 'Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải tu tập". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Nhìn bề ngoài thấy ngồi thiền, nghe pháp hay đi kinh hành mà bảo là tinh tấn thì chưa hẳn vì bên trong tâm đang như thế nào, thọ; tưởng; hành trong đó đang ra sao, có đang diệt ác sanh thiện không, như vậy mới gọi là nhiệt tâm. Bên thiền tông Trung Quốc, có các vị đang ngồi thiền mà thầy tổ đi ngang đánh thật mạnh vì ngồi ngủ, ngồi mà buông lung phóng dật. Hoặc có thầy kia đang đi bên ngoài nhưng thầy tổ lại nói thầy đó tinh tấn, tuy nhiên, đó là chỉ thấy tướng bên ngoài chứ mình không biết tâm người đó đang vận dụng như thế nào. Có người hỏi sư phụ của quốc sư Ngọc Lâm có bao nhiêu đệ tử thì Ngài nói có một đệ tử rưỡi, Ngọc Lâm lúc đó chưa là quốc sư khi nghe sư phụ nói vậy là sáng đêm không ngủ vì không biết Ngài được tính một hay Ngài được tính phân nửa, mà các sư huynh của Ngài chỉ ăn ngủ, trong khi Ngài siêng năng tu học lại có tướng mạo trang nghiêm.
Vì thế bậc chân tu hoặc bậc pháp nhãn là người nhìn sâu trong thọ; tưởng; hành chứ không phải nhìn bên ngoài dáng vẻ. Bên ngoài chỉ là cái vỏ của phạm hạnh nhưng nếu cái vỏ này còn chưa được thì không thể làm gì, không có oai nghi, chánh hạnh gì cả. Như vậy, điều quan trọng là phải có nhiệt tâm diệt ác sanh thiện bên trong, ác là tham, sân, si và thiện là không tham, không sân, không si, thiện là từ, bi, hỷ, xả. Chúng ta bị la rầy là do không nhiệt tâm trong thiện pháp, đưa thiện pháp mà mình không muốn lấy. Không phải ngày nào cũng bắt mọi người ra cuốc đất, nhổ cỏ, đó là cơ hội để rèn luyện, là những bài tập, bài thi để kiểm tra hạnh kham nhẫn, chịu khó mà còn không vượt qua được, yếu kém như vậy thì làm sao tu được. Lỡ trong đại chúng có người nhiễm dịch bệnh thì tâm người đó sẽ như thế nào, nếu từ bây giờ không chuẩn bị, bất thình lình cái chết đến với mình thì mình sẽ ra sao, làm sao có thể trả giá với thần chết?
Tất cả những điều này phải chuẩn bị trước cho nên người tu phải nhớ đặt bản thân vào trạng thái nguy hiểm, tai họa, đây chính là bí kiếp. Phải luôn đặt bản thân vào những trường hợp đột ngột, đột biến, đột tử để sau này có xảy ra mình cũng bình an, không hoảng sợ, tâm mới giữ bất động và nếu có động cũng động ít, vẫn giữ sức làm chủ trong cái sanh tử này. Chúng ta khuyến khích nói rất nhiều về vấn đề quán nguy hại, nếu không quán nguy hại thì không tu tiến được, phải quán vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly khỏi ngũ uẩn này.
Khi mình không biết sợ thì điều thiện bị diệt và ác sanh ra trong tâm, ví dụ, trong tâm có ý niệm "muốn tu cái gì nhàn nhã thôi, tu khó quá chắc mình bỏ cuộc", sanh khởi mà mình cũng bình thường, không biết sợ. Lúc đó, cần phải tác ý "ý niệm này đưa đến thối đọa, sụp đổ công lao mình gây dựng từ trước đến nay", phải biết lo sợ và tìm đủ mọi cách diệt tận, bứng tận gốc rễ suy nghĩ đó, không cho nó tồn tại và tái sanh trong tâm mình nữa. Vì đó là ý nghĩ đưa đến ác pháp, nếu không sợ thì hôm nay nghĩ vậy, hôm sau cũng nghĩ giống vậy, vài ngày sau cũng nghĩ như vậy thì cuối cùng nó làm mình thối đọa.
Đối với dục, tham, sân cũng giống vậy. Anh em đánh nhau, chém giết giành nhau vài tấc đất không phải chỉ nghĩ một lần là xảy ra vụ án, mà những suy nghĩ, cảm thọ đó sanh khởi lặp tới lặp lui nhiều lần, cho đến một lúc nào đó trở thành giọt nước tràn ly nên xảy ra vụ án. Cái ác sanh ra trong tâm mà mình không lo diệt, cái thiện bị giảm mà mình không lo làm cho cái thiện tăng trưởng, sanh khởi lên, tức là không có Tứ Chánh Cần, không có tinh cần, tinh tấn.
Thế nào là sanh khởi nhiệt tâm
Thật ra trong toàn bộ kinh Nikāya chỉ có hai chữ: “thiện” và “bất thiện”. Khi nhận diện năm uẩn, soi rọi lại nội tâm sẽ thấy cái nào thiện, cái nào bất thiện, sau đó phải nhiệt tâm, nhiệt tình, lo lắng, sợ hãi đối với bất thiện để diệt tận, tẩy sạch làm cho nó không còn sanh khởi trở lại trong tương lai. Tiếp theo là nhiệt tâm, nhiệt tình, cố gắng, nỗ lực, tinh cần, tinh tấn đối với thiện pháp, làm cho nó tăng trưởng, phát triển quảng đại để đi đến chỗ cực thiện, thuần thiện, chí thiện, viên mãn cái thiện. Viên mãn thiện là vô tham, vô sân, vô si, nghĩa là hết dục, tham, sân si, vô minh, bản ngã đối với ngũ uẩn này. Tất cả mọi thứ đều không đi ra khỏi thiện và bất thiện, bất thiện là tham, sân, si và thiện là không tham, không sân, không si. Trong khi đó, tham, sân, si đồng nghĩa với vô minh và tham ái, mà vô minh và tham ái đồng nghĩa với bản ngã, bản ngã đồng nghĩa với thân kiến. Như vậy, mọi thứ đều có sự liên hệ với nhau cho nên phải thấy được thiện và bất thiện, mà đối với bất thiện thì phải biết lo lắng, sợ hãi.
Chúng ta đừng trở thành người không biết lo, không biết sợ, đừng trở thành người trơ trơ giống như gà mờ, cái gì cũng không biết. Bất ngờ mấy hôm trước có một thầy đến đây mà hỏi mọi người đều nói không biết là không ai, đang trong mùa dịch thì phải biết người đó là ai, đến đây là gì, đến có xin phép ai chưa. Nhưng Minh Thành hỏi mọi người đó là ai thì không ai biết, đó là trạng thái vô minh, si ám. Với một người có hình tướng như vậy mà mình còn không biết thì ý niệm vô hình sanh khởi trong tâm làm sao mình có thể nhận biết được? Mình phải hỏi người đó là ai, ở đâu đến đây, đến với mục đích gì, có xin phép ai chưa, không được nghĩ trách nhiệm này của thầy trụ trì, của thầy quản chúng chứ không phải của mình nên không cần biết. Trong tâm cũng giống như vậy, cái gì đang xuất hiện, cái gì đang sanh khởi, cái gì đang hiện hữu có mặt, phải xem nó là thiện hay bất thiện và phải xử lý nó như thế nào, tình trạng hiện tại ra sao, đây là một kĩ sư tâm hồn
"Ở đây, này Hiền giả, vị Tỳ-kheo suy nghĩ: 'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi", vị ấy khởi nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Ngược lại vị có nhiệt tâm là khi ác bất thiện pháp khởi lên thì vị này có nhiệt tâm để diệt trừ nó, diệt tận, đánh tan nó.
"'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi nhiệt tâm. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy khởi lên nhiệt tâm". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Nếu thiện pháp không khởi lên thì phải có nhiệt tâm làm cho thiện pháp khởi lên. Ví dụ đến giờ học kinh, nghe pháp, ngồi thiền mà làm biếng muốn nghỉ, nếu thật sự mệt mỏi, bệnh yếu thì có thể nhưng vẫn khỏe mà muốn bung lung thì phải nhiếp phục cảm thọ, suy nghĩ, ý tưởng đó, bắt phải đi học kinh, ngồi thiền, nghe pháp, làm việc. Đó là khởi nhiệt tâm diệt ác sanh thiện.
"'Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ. 'Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy có biết sợ". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Đến khi cái ác sanh khởi lên thì lo lắng, bất an "tại sao mình tu lại có những ý niệm này?", "tại sao mình tu lại có những cảm giác bản ngã này", cảm thấy sợ hãi, lo lắng và tìm cách trừ diệt nó. Các thiện pháp khởi lên nhưng hiện tại bị đoạn giảm, ví dụ như lúc trước học kinh rất siêng năng nhưng giờ lại làm biếng không học nữa, vậy là thiện pháp bị mất đi và người này cố gắng không cho thiện pháp bị mất đi.
"Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), II. Không Biết Sợ)
Chỉ riêng phần có nhiệt tâm và biết lo sợ có thể giác ngộ, có thể đạt đến Niết-bàn, "có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". Vì thế khi mình theo dòng pháp này và thực hành được thì mình thấy những người sân si trong khi mình ít sân nhưng lại sợ, trong người mình sanh ra cảm giác sợ hãi đối với cơn giận dù là của mình hay của người. Sợ hãi nhân quả, sợ hãi đích đến của cơn giận này và trong mình có nhiệt tâm, tinh cần để dập tắt cái giận đó, không ưa thích, không chất chứa, nuôi dưỡng nó, không cho nó ở trong tâm, dù cho nó chỉ xin ở lại một chút cũng không cho, phải đuổi ngay lập tức cảm giác sân hận này thì mới gọi là nhiệt tâm. Khi có cảm giác của bản ngã cũng phải đuổi ngay, bắt nó phải dập đầu xuống quỳ lạy, bắt nó phải xấu hổ. Như vậy mới là đang tu, biết tu và đó là người tu. Còn ngược lại, khi ác sanh cũng kệ, thiện bị diệt cũng kệ, không lo lắng sợ hãi thì người này không tu được.
Như vậy, người tu phải xem lại các ác, bất thiện pháp bên trong, xem lại thiện pháp khi nó sanh và diệt. Phải tinh cần, tinh tấn diệt ác sanh thiện, tu tập thiện pháp trước rồi sau đó đi đến không chấp thủ, vì nhiều khi chúng ta chỉ lo học không chấp thủ mà bỏ quên cái thiện thì sẽ rất nguy hiểm. Cho nên, cần tu tập thiện pháp, tinh cần, tinh tấn để làm cho thiện pháp được viên mãn mới lìa tham, sân, si, phá vỡ được vô minh, tham ái và chấp thủ. Đây là bài kinh đầu tiên trong chủ đề tàm quý.
./.