Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

MẬT MÃ THẾ GIỚI 4 - TRÍ TUỆ VỀ TƯỞNG

2026-03-03 00:54:37
Tinh Hoa Nikāya

MẬT MÃ THẾ GIỚI 4

TRÍ TUỆ VỀ TƯỞNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Đối diện với chính mình PAGEREF _Toc86304222 \h 1

II.Trí tuệ về tưởng PAGEREF _Toc86304223 \h 6

1.Tưởng là gì PAGEREF _Toc86304224 \h 7

2.Tưởng sanh khởi PAGEREF _Toc86304225 \h 8

3.Tưởng sai biệt PAGEREF _Toc86304226 \h 9

4.Tưởng dị thục PAGEREF _Toc86304227 \h 13

5.Tưởng đoạn diệt và con đường đưa đến tưởng đoạn diệt PAGEREF _Toc86304228 \h 17

Đối diện với chính mình

Thời gian này thật sự là thời gian đối diện với chính mình. Đây là khoảng thời gian quay lại trực diện, trực tiếp, trực chỉ vào bên trong. Bên trong ở đây tức là quay vào thọ, tưởng, hành để chúng ta đối diện, đối mặt với những cảm thọ dục, ái, tham; đối diện với những cảm thọ bức xúc, bực bội, khó chịu, sân khí; đối diện với những cảm thọ si mê, si ám, vô minh trong tâm. Cho nên, sự tu này thật sự rất khó khăn, ngay cả chúng ta – những người được học pháp, hiểu pháp, biết pháp phần nào nhưng tu học cũng không hề dễ dàng. Huống chi những người không nghe, không biết, không hiểu, nếu có tu được đi chăng nữa thì cũng chỉ là lấy đá đè cỏ, lẫn tránh, tránh né, để qua một bên.

Thế nên, người thấy biết đúng về thân tâm, thế giới, dám đối diện với tự thân tâm mình là cả một sự kiên trì. Người này luôn cố gắng để tâm, quán xét, dòm ngó, soi chiếu thân ở trên thân, ngoài thân, trong thân (quán thân); các góc độ, khía cạnh của cảm thọ (quán thọ); nhìn vào trong nội tâm (quán tâm) và nhận diện các pháp đang có mặt, sanh khởi, an trú, ám ảnh, vận hành, thao túng trong tâm mình (quán pháp) – đó chính là Tứ Niệm Xứ.

Vì vậy, sau khi đã học hiểu, biết nhận diện ngũ uẩn thì chỗ khó của người tu là phải đối diện, đối mặt với chính mình. Người nào đã học, đã biết rồi nhận diện sơ sơ thì không nói nhưng sau khi đã học, đã biết và chịu khó đối diện với thân tâm thì đó là cả một trận chiến. Chúng ta có thể kiếm chuyện này chuyện kia để làm, hoặc đọc cái này, xem cái kia, nghe cái nọ nhưng chúng ta không thể suốt ngày đối diện, đối mặt với nội tâm của mình.

Người chân tu, chân nhân, chân thành, trực tâm, trực hạnh, đệ tử của Thế Tôn là người dám đối diện vào bên trong. Khi đối diện vào bên trong như vậy thì thật sự rất cay đắng, đau khổ, ưu tư, xót xa, xấu hổ, nhục nhã, lo lắng, sợ hãi, bất an. Thế nhưng, tất cả những sự xấu hổ, nhục nhã, lo lắng, bất an khi đối diện thân tâm đều là thiện pháp, hiếm có được trong vòng luân hồi sanh tử này. Còn lo lắng, bất an về những điều bên ngoài như cơm ăn, áo mặc, sức khỏe, sắc đẹp, đời sống… là những lo lắng bình thường. Người thật sự tu là người luôn đối diện, đối mặt, trực tiếp nhìn vào những hình bóng ám ảnh trong tâm, những cảm giác nung nấu, thúc giục, sôi sục, dẫn dắt, dụ dỗ, rù quến, lôi kéo mình đi theo.

Bởi thế, điều quan trọng là độ chánh niệm tỉnh giác của chúng ta đang ở mức độ nào. Không phải đợi xuống núi, đi ra khỏi chùa thì mình mới bị dục, tham, ái lôi kéo, mà thọ, tưởng, hành lôi kéo mình đi ngay cả khi ở trong Thiền đường, Tăng đường, Ni đường, Pháp đường nếu độ tỉnh giác chánh niệm của chúng ta không đủ. Thông thường, hành uẩn có lúc mạnh, có lúc phớt qua nên chúng ta không nhận diện rõ hành uẩn, nhưng mình vẫn biết trong tâm đang xuất hiện những cảm thọ bức xúc, những hình bóng lờ mờ về dục ái, sân hận, si mê. Tuy nhiên, vì không đủ độ chánh niệm tỉnh giác, không đủ sức mạnh của trí tuệ nên những cảm thọ, hình bóng vẫn quật ngã mình.

Cho nên, sự tu là phải đối diện, đối mặt với tự thân tâm mình. Chúng ta rất may mắn vì gặp được Chánh Pháp tuyệt diệu nên biết được ngũ uẩn, bằng không, mình không biết ngũ uẩn là ngũ uẩn, cứ nhận ngũ uẩn là mình. Giờ đây, khi đã có một chút chánh kiến, nhận diện được ngũ uẩn, nhận diện được cảm thọ, nhận diện được các lậu hoặc thì chúng ta phải bắt đầu tách mình ra khỏi nó. Như vậy, sức mạnh của người tu là ở chỗ dám đối diện, đối mặt trực chỉ, trực tiếp vào thân tâm chính mình. Tức là dám đối mặt trước những cảm giác, nghĩ, tưởng; dám đối mặt với những dục, ái, tham, sân, si; dám đối mặt với vô minh, bản ngã, chấp thủ. Bằng không, nếu chỉ nghe pháp, tu học, hiểu biết xong rồi để qua một bên thì chúng ta sẽ vẫn tiếp tục sống trong một đời sống si mê, vô minh.

Tứ đức của Tăng bao gồm: trực hạnh, diệu hạnh, chân chánh hạnh, ứng lý hạnh – đây là bốn đặc tính của một người được xem là đệ tử của Thế Tôn, dự vào hàng Tăng bảo. Chúng ta cần phải chiêm nghiệm, tìm hiểu, quán chiếu, suy tư thêm về đức hạnh của một người tu. Một tâm thức hiền thiện, có trí tuệ, có được bốn đức tánh, bốn đặc tánh, bốn tánh chất, bốn điều kiện đó thì mới thật sự chân chánh, xứng đáng gọi là Thánh đệ tử. Trực hạnh nghĩa là hạnh ngay thẳng, tức là ngay thẳng với chính nội tâm mình. Nhiều người nhìn bề ngoài ngay thẳng nhưng bên trong tâm lại cong veo, lời nói cong veo, hành động cong veo. Ví dụ, khi thấy người đó trước mặt thì nói thế này, còn không có họ ở đó thì nói khác, như vậy gọi là không có trực hạnh. Ý nghĩ cũng vậy, ban đầu thì nghĩ theo pháp, ý nghĩ sau thì nghĩ theo phi pháp, chạy theo theo dục, ái, tham, sân, vô minh, bản ngã, như vậy là không có trực hạnh. Thế nên, nếu chúng ta để tâm chiêm nghiệm chữ “trực hạnh” thì sẽ thấy rất nó sâu sắc, chứa đựng cả một sự tu học to lớn trong một chữ này.

Vô số những bài kinh trong Nikāya có nhắc đến rằng, mỗi khi các thầy Tỳ-kheo làm gì phạm lỗi, Thế Tôn hỏi các vị Tỳ-kheo có phạm lỗi đó không thì các Ngài đều nhận lỗi mình đã phạm, đó là minh chứng cho chữ trực hạnh. Còn chúng ta khi phạm lỗi, mặc dù có người nhìn thấy và chỉ dạy ngay lúc đó mà mình vẫn không chịu nhận, rồi còn đổ lỗi cho người này người khác. Chính vì vậy mà mình tu không tiến bộ, vì những lời đó không phải là trực ngữ, không phải là chánh ngữ, mà khẩu hành đó xuất phát từ ý hành ngụy biện, quanh co, che giấu lỗi lầm ở bên trong. Đức Phật gọi đó là tâm vết thương của phàm phu, mỗi lần bị chạm đến là sừng sộ, nhảy đổng lên, chối cãi, phủ nhận lỗi lầm. Nội tâm như vậy là một nội tâm không chánh trực, lời nói không ngay thẳng, không chân thật nên dẫn đến hành động cong veo.

Khi tu trí ngũ uẩn này là chúng ta đang dùng kính hiển vi phóng đại lên để thấy được từng lỗi nhỏ và thấy được lậu hoặc ghê gớm như thế nào. Những tham ái về thân, những chấp thủ, bản ngã là vô cùng khủng khiếp, khi bị hỏi thì đổ cho người này người kia nhưng chính mình cũng không nhận diện được chúng. Cho nên mỗi khi bị hỏi là mình ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm mà chính mình cũng không biết điều đó, như vậy chính là vô minh và tham ái, tức là không thấy, không biết được các pháp lúc đó diễn ra như thế nào. Tâm người này bị si mê nên không thấy được hành tướng của ngũ uẩn, tức là không thấy được sự vận hành, tướng trạng, tình trạng, hành động của ngũ uẩn lúc đó như thế nào.

Cho nên, mức độ thấy biết về tình trạng vận hành, hoạt động, guồng máy của ngũ uẩn ở mức độ nào thì chánh kiến trong sự tu tập này sẽ ở mức độ đó. Ngũ uẩn hoạt động cực thiện xảo, cực khéo léo, cực tinh vi, thế nên đối với một chúng sanh là vô văn phàm phu không nghe, không thực tập Chánh Pháp thì không thể nào thấy nổi ngũ uẩn, hoặc thấy thì chỉ thấy những cái thô bên ngoài. Và một tâm vết thương, bị chạm tới là sừng sộ là một nội tâm phàm phu.

Trong bài kinh “Sau Khi An Cư”, Tăng Chi Bộ Kinh, có một thầy Tỳ-kheo vu khống Ngài Xá Lợi Phất. Đức Thế Tôn mời Xá Lợi Phất lên hỏi thì Ngài đưa ra chính phép quán của Ngài, vị Tỳ-kheo kia nghe xong sụp xuống lạy Ngài Xá Lợi Phất. Qua đó, chúng ta thấy rằng, một người bị xem là tệ ở thời Đức Phật nhiều khi còn là một người tốt hơn người được xem là tốt thời bây giờ. Họ chỉ cần nghe trình bày xong là quỳ sụp xuống, xin lỗi, sám hối ngay lập tức.

Còn chúng ta, nhiều khi được chỉ lỗi mà còn không chịu, kêu sám hối cũng không làm, như vậy là một nội tâm không ngay thẳng. Do nội tâm quanh co, ngụy biên, giấu lỗi lầm nên khi những lậu hoặc, dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, hơn thua, tật đố, ganh tỵ sanh khởi thì người này không nhìn thấy, hoặc có thấy cũng phớt lờ, cho qua. Bởi vì người này không kiểm tra tỉ mỉ, sâu sắc nên các lậu hoặc qua mặt vù vù, vèo vèo. Người như vậy nếu thật sự muốn đi đến chỗ thấy biết để nhiếp phục, đoạn tận các lậu hoặc thì vô cùng khó khăn.

Chính vì vậy, vấn đề quan trọng ở đây là đối diện với phiền não, nói rõ ràng hơn là đối diện, đối mặt với những cảm giác, nghĩ, tưởng trong tâm. Càng đối diện, nhìn thấy, nhận diện được thọ, tưởng, hành nhiều chừng nào thì mức độ vô minh càng giảm bớt chừng đó và mức độ chánh niệm tỉnh giác càng mạnh, minh càng tăng trưởng chừng đó. Chúng ta có khả năng chế ngự, nhiếp phục rác bẩn chừng nào thì tuệ lực càng tăng trưởng, lớn mạnh chừng đó. Nhiều khi chúng ta học pháp một thời gian rồi cứ tu đều đều, công phu mỗi ngày là thấy đủ, mà không có thêm bước tiến bộ nào, cứ giậm chân tại chỗ.

Vì vậy, khi nào thấy trong tâm êm êm đều đều phải moi móc rác bẩn trong tâm ra, giống như người quét nhà kỹ lưỡng thì phải moi móc trong kẹt, trong xó, trong kẹt, trong góc ra, chứ không được quét sơ sơ bên ngoài. Khi quét sơ sơ bên ngoài thì tự thấy sạch tạm tạm nhưng không phải vậy. Chúng ta phải đem tủ, đem ghế, đem bàn ra ngoài, móc trong kẹt xem có xác gián, xác chuột, xác rắn, phân mèo, phân chó không? Nếu quét sạch hết rồi mà sao vẫn còn hôi khủng khiếp thì nhà vẫn chưa được sạch, khi đó chúng ta không thấy rác nhưng vẫn thấy hôi thì phải đặt vấn đề ngay chỗ đó? Mỗi ngày bản ngã vẫn còn phát ra, dục ái, sân hận vẫn còn lẫy lừng mà mình lại thấy yên ổn thì chúng ta phải tìm cách đào sâu vào bên trong.

Những lúc như vậy, chúng ta cần lắng tâm lại để xem trong ngày những hình bóng nào thường xuất hiện nhiều trong tâm, những suy nghĩ nào thường lặp tới lặp lui… Những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác đó có liên hệ đến dục, đến ái, đến tham, đến sân, đến giận không. Những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác đó có liên hệ đến bản ngã, vô minh không? Tức là có ở trong sự không thấy, không biết rõ ràng và chấp nhận về một cái tôi và cái của tôi không? Chúng ta phải rà soát, moi móc, giải phẫu những điều đó không chỉ trong giờ ngồi thiền mà cả những giờ tự tu, khi đó chúng ta phải ngồi thiền, đi kinh hành một mình. Lúc đó chúng ta xem kỹ từng cảm thọ, nghĩ, tưởng để biết tại sao những cảm giác, suy nghĩ cứ sanh khởi, tại sao những hình bóng cứ lờ mờ, xuất hiện lãng vãng trong đầu mình. Từ đó, chúng ta tìm phương pháp thích hợp để giải quyết, xóa nhòa, giải phá những hình bóng đó để nó không được tồn tại trong tâm nữa.

Sự tu tập của chúng ta càng ngày càng phải được đào sâu, lớn mạnh trong pháp và luật, chứ không được chấp nhận những thứ đều đều, thường thường. Tự chúng ta phải tạo ra những khó khăn cho chính mình, làm như vậy không phải tự mình làm khó mình mà là tự mình thương mình. Vì rác bẩn, lậu hoặc ở trong kẹt trong hốc, mình nhìn sơ qua không thấy được nên phải moi móc để tìm ra được nó. Nếu tự mình không đủ sức tìm ra thì phải nhờ thêm người hỗ trợ, chẳng hạn nhờ huynh, nhờ đệ, hỏi thầy, hỏi cô, mong thầy cô, sư huynh chỉ dẫn cho mình.

Cho nên, phải tự thân chúng ta đi cầu pháp, đi thỉnh pháp và luôn luôn khát khao, khát ngưỡng học pháp. Bây giờ chúng ta học rất sung sướng vậy mà nhiều khi thầy giảng pháp còn không muốn nghe chứ đừng chi đến việc khát ngưỡng, lạy lục, van xin, cầu thỉnh học pháp. Vì không có tâm cung kính, tha thiết, tôn thờ, khát ngưỡng đối với pháp thì chúng ta không thấy được pháp, không thành tựu pháp, không chứng ngộ pháp. Như vậy, chúng ta cần phải để ý thật kỹ trong sự tu, không được đều đều mà phải tự thân, tự cường, tự lực. Không ai thương mình bằng chính mình, đừng đợi người khác kêu gọi, nhắc nhở, mà tự bản thân phải biết để tâm tu học.

Trí tuệ về tưởng

Trước nay, khi học ngũ uẩn thì chúng ta tìm hiểu về quán thân, quán thọ rất nhiều nhưng ít nói về tưởng uẩn. Trong khi đó, tưởng uẩn – tức là những hình bóng ám ảnh trong tâm rất quan trọng, không thua kém sắc và thọ. Chúng ta không thể xem thường tưởng uẩn, vì tổ hợp của hình bóng rất nguy hiểm, cho nên cần phải cẩn thận. Chính vì vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu một phần bài kinh “Một Pháp Môn Quyết Trạch”, Tăng Chi Bộ III, trong đó Đức Phật chỉ cho chúng ta năm trí về tưởng.

Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng, cần phải biết các tưởng duyên khởi, cần phải biết các tưởng sai biệt, cần phải biết các tưởng dị thục, cần phải biết các tưởng đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt, đã được nói như vậy. Do duyên gì đã được nói như vậy?

Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng sanh khởi?

Này các Tỷ-kheo, xúc là các tưởng sanh khởi.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng sai biệt?

Này các Tỷ-kheo, các tưởng trong các sắc là khác, các tưởng trong các tiếng là khác, các tưởng trong các hương là khác, các tưởng trong các vị là khác, các tưởng trong các xúc là khác, các tưởng trong các pháp là khác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng sai biệt.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng dị thục? (Tức là các tưởng biến đổi và đưa đến kết quả).

Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen, khi nào người ta biết sự vật như thế nào, như thế nào, người ta nói sự vật ấy như sau, như sau: "Như vậy tôi tưởng". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng dị thục.

Đức Phật tuyên bố những hình bóng ám ảnh trong tâm chính là kết quả của thói quen.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là tưởng đoạn diệt. Đây là Thánh đạo tám ngành đưa đến các tưởng đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi nào này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các tưởng như vậy, rõ biết các tưởng sanh khởi như vậy, rõ biết các tưởng sai biệt như vậy, rõ biết các tưởng dị thục như vậy, rõ biết các tưởng đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các tưởng đoạn diệt. (Tăng Chi Bộ Kinh III, Chương Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Tưởng là gì

Đầu tiên, chúng ta tìm hiểu trí tuệ thứ nhất về tưởng, đó là “tưởng là gì?”. Thông thường khi nhận diện tưởng uẩn thì chúng ta thường nói rằng hình bóng trong tâm là tưởng, tuy nhiên, đó chỉ là nói chung chung, nhận diện ở mức sơ cấp. Đức Thế Tôn bằng Thánh trí tuệ tuyệt vời đã phân loại các tưởng rất rõ ràng. Qua đó, chúng ta thấy trí tuệ của Đức Phật rất vi diệu, tinh tế và sắc bén vô cùng. Tức là đối với tất cả những hình bóng trong tâm, Đức Phật phân loại từng hình bóng thuộc phương diện nào. Ngài phân loại tưởng uẩn gồm sáu phạm trù, sáu lãnh vực tương ứng với sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tư…

Ví dụ, khi đi Đà Lạt, chúng ta nhìn thấy người ta trồng hoa hồng rất đẹp, lúc đó mắt, hoa hồng, sự rõ biết hội họp, giao thoa với nhau là xúc, sau đó chúng ta thấy thích, tức là có cảm giác dễ chịu, lạc thọ, ưa thích đối với hoa hồng và lúc trở về chùa, hình bóng của hoa hồng sẽ hiện lên trong tâm. Nếu chúng ta phớt qua một lần thì có thể hình ảnh hoa hồng đó chỉ thoáng qua nhưng đối với người trồng hoa hồng, bán hoa hồng, yêu hoa hồng, thích hoa hồng, mỗi ngày đều chăm sóc hoa hồng thì hình bóng đó sẽ trở thành thói quen, cho nên, ở trong tâm người này thường thường có hình bóng hoa hồng. Tức là người này có sự tiếp xúc thường xuyên đối với hoa hồng, sự tiếp xúc đó trở thành thói quen nên khi thiếu hoa hồng thì người này sẽ thấy nhớ, hoặc thấy hoa hồng ở nơi khác thì cũng nhớ đến hoa hồng trong vườn nhà mình. Vì vậy, Đức Phật dạy các tưởng là kết quả của thói quen.

Tưởng sanh khởi

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng sanh khởi?

Này các Tỷ-kheo, xúc là các tưởng sanh khởi.

Khi nhìn lại trong tâm (ý căn), chúng ta thấy những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về hoa hồng (pháp trần) và có sự rõ biết những thọ, tưởng, hành, sự rõ biết đó là ý thức (thức). Ba pháp căn, trần, thức này hội tụ, giao thoa là xúc. Do có xúc nên sanh khởi những cảm giác, nghĩ, tưởng tiếp theo về hoa hồng, như vậy là thọ, tưởng, hành 2 sanh khởi… Cứ như vậy thọ, tưởng, hành 3 cũng sanh khởi, thậm chí một chuỗi dài trong suốt hơn một tiếng đồng hồ chỉ nhớ nghĩ đến hoa hồng.

Như vậy, thế nào là tưởng sanh khởi? Vì tiếp xúc với hoa hồng nên tưởng sanh khởi: thấy hoa hồng; ngửi hoa hồng; đụng chạm với hoa hồng; nếm vị của mứt hoa hồng, uống ly trà hoa hồng… Do mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, tay đụng chạm, tiếp xúc hoa hồng nên sanh khởi tưởng, như vậy, tất cả đều do sự tiếp xúc của sáu căn. Do sự tiếp xúc đó nên sanh khởi ra sáu hình bóng, tức là: tưởng về hoa hồng (sắc tưởng); tưởng những lời nói về hoa hồng (thanh tưởng); tưởng về mùi hương của hoa hồng (hương tưởng); tưởng về vị hoa hồng (vị tưởng); tưởng khi tiếp xúc với hoa (xúc tưởng); những cảm giác, nghĩ, tưởng ở trong tâm về hoa hồng (pháp tưởng).

Trong tâm chúng ta vận hành những hình bóng đó rất nhanh và mình không phân biệt được hình bóng đó là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng hay pháp tưởng, như vậy là vô minh đối với tưởng. Nhiều người học một chút thì nghĩ đã hiểu về ngũ uẩn, nghĩ rằng tưởng là những hình bóng là xong, tuy nhiên như thế chỉ là sơ cấp trong sự nhận diện ngũ uẩn. Trong khi trí tuệ về ngũ uẩn là hết sức khủng khiếp, khi Đức Phật ngồi thiền, tâm Ngài tĩnh lặng và phân loại từng lĩnh vực đối với từng hình bóng sanh khởi trong tâm.

Tưởng sai biệt

Này các Tỷ-kheo, các tưởng trong các sắc là khác, các tưởng trong các tiếng là khác, các tưởng trong các hương là khác, các tưởng trong các vị là khác, các tưởng trong các xúc là khác, các tưởng trong các pháp là khác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng sai biệt.

Chúng ta không được học một cách đơn giản rằng sáu tưởng chỉ gồm: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng là xong, như vậy không đúng vì có cả một khung trời trí tuệ trong đó.

Đối với hoa hồng, ngoài hình dáng của hoa thì còn có mùi thơm của hoa hồng, Đức Thế Tôn phân nó thuộc về hương tưởng. Thành ra dù chỉ nhìn một bông hoa nhưng trong đó không phải chỉ có một loại tưởng mà gồm nhiều loại, đó gọi là tưởng sai biệt. Tức là hình bóng của hoa là khác và hình bóng mùi hương của hoa là khác, hương tưởng này là dư hương sau khi đã ngửi gợi lại trong tâm của mình. Giống như dư âm, ví dụ sau khi nghe tiếng nói của ai đó, lúc trở về nhà thì tiếng nói đó không còn bên tai nữa nhưng trong tâm mình vẫn còn dư âm, tức là những âm thanh đó vẫn còn sót lại, còn vang vọng, đó chính là thanh tưởng.

Như vậy, khi ngắm hoa hồng, nói chuyện về hoa hồng, lúc trở về nhà, chẳng những hình bóng của hoa, tức là sắc tưởng về hoa hiện lên mà những dư âm, những lời nói, nhận định về hoa vẫn vang lên, đó chính là thanh tưởng. Mùi hương của hoa khi mình về tới nhà đã không còn nữa nhưng dư hương, hương thơm của hoa vẫn gợi trở lại trong tâm, đó chính là hương tưởng. Người ta cũng lấy hoa hồng để làm trà, làm mứt, làm nước hoa, sau khi ăn mứt, uống trà vị hoa hồng thì về nhà chúng ta nhớ lại hương vị đã thưởng thức thì đó là vị tưởng. Khi xúc chạm với hoa hồng, cầm trên tay bông hoa hồng, sờ từng cánh hoa thì thấy rất mịn màng, êm ái, trơn láng, đó là sự tiếp xúc với hoa hồng. Sau khi trở về nhà, hình bóng hoa hồng sanh khởi và nó gợi lại lúc chúng ta đụng chạm hoa hồng mềm thế nào, êm ái ra sao, dễ chịu cỡ nào thì đó là xúc tưởng. Cuối cùng, những hình bóng hoa hồng ở trong tâm, cảm giác dễ chịu đối với hoa, những suy nghĩ về hoa và chúng ta có sự rõ biết những cảm giác, nghĩ, tưởng trên thì đó chính là pháp tưởng của hoa hồng. Đó chính là sự sai biệt của các tưởng.

Kế tiếp, chúng ta ví dụ về con người, hoa thì vô tình vô tri, không làm gì được, nhưng con người thì hữu tình, có tình thức. Cho nên, sự tiếp xúc, gặp gỡ giữa người với người rất là đáng sợ, hiện giờ có rất nhiều cách để xúc, dù ở trong rừng trong núi nhưng chỉ cầm trong tay quẹt điện thoại là được. Người tu chúng ta cần phải cắt bớt sự tiếp xúc, nhất là những vị tập sự xuất gia thì không dùng điện thoại, trừ những vị có trách nhiệm và công việc cần thiết thì xài điện thoại cùi bắp để nghe gọi. Cần hạn chế dùng điện thoại có thể thấy hình ảnh, vì chỉ cần cái điện thoại này là sáu xúc có đầy đủ hết trong đó. Vì vậy, xúc rất khủng khiếp, rất đáng sợ.

Ví dụ, khi lên Quán Chiếu Đường đánh chuông thì bỗng gặp được một “bóng hồng”, bóng hồng này tự mỗi người mỗi hiểu khác nhau chứ không phải bóng hồng chỉ là nói đến mấy cô. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, bài kinh “Nữ Sắc”, Đức Phật có dạy, Ngài không thấy có sắc nào xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà và Ngài không thấy có sắc nào xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc người đàn ông. Nói chung, không chỉ nói riêng nam hay nữ, vì bây giờ rất phức tạp, mà đối với tất cả những đối tượng làm chúng ta có thể sanh khởi tham ái, dục vọng thì đều phải cẩn thận, dè chừng, coi chừng tâm của mình.

Tùy trường hợp mà có thể thấy mặt trước, hoặc là nghe giọng một người trước. Có khi đi lướt qua, mắt nhìn thấy trước, cũng có khi nghe tiếng từ xa rồi mới nhìn. Chúng ta lấy ví dụ khi gặp bóng hồng trên Quán Chiếu Đường thì mắt nhìn thấy người đó trước cho dễ hiểu. Tức là do duyên có mắt, người đẹp và sự rõ biết – ba pháp này giao thoa, hội tụ với nhau là xúc và sanh ra cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, thích thích, dâng lên nhẹ nhẹ, ý hành nói rằng người này dễ thương. Sau đó hai người tiếp xúc, nói chuyện, trao đổi cách liên lạc với nhau, tối hôm đó về ngồi thiền hình bóng của bóng hồng đó hiện lên. Đừng nói riêng quý thầy quý cô, mà Phật tử cũng giống y như vậy, đó chính là sự vận hành của thân tâm, sự vận hành của các pháp mà chúng ta không biết gì hết nên gọi là vô minh. Khi đó, hình bóng người vừa gặp rất trí thức, đeo mắt kính hiện ra và giọng nói dễ thương, thanh trong, áp ấm cũng vang lên trong tâm mình, như vậy thì vừa hình bóng, vừa âm thanh, dư âm lúc nói chuyện sanh khởi.

Khi chúng ta tiếp xúc với một người thì sáu căn đồng thời vận hành rất nhanh, không thể nhìn thấy kịp hết tất cả. Lúc nhận diện thì chúng ta nhận diện từng cái, quán chiếu từ từ nhưng khi diễn ra thì chúng vận hành cùng lúc, đồng loạt tấn công. Tức là mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên với các pháp lúc đó, rồi đến những nhận thức, tiếp xúc, cảm giác yêu thích, sân hận nhất tề tấn công ồ ạt như bát quái trận, sáp lá cà khiến mình không biết gì nữa.

Cho nên, lúc về thì hình bóng của bóng hồng vừa gặp hiện lên, đó là sắc tưởng. Âm thanh, giọng nói khi nói chuyện cũng vang lên, giọng người nữ thì lảnh lót như yến hót oanh ngâm, giọng người nam thì trầm hùng, ấm áp, đó chính là thanh tưởng. Hương thơm, dư hương khi tiếp xúc với người đó cứ phảng phất, đọng lại trong tâm, vì chúng ta đã thọ nhận hương thơm đó nên lâu lâu dư hương đó lại gợi lên, đó là hương tưởng. Còn vị tưởng thì tùy theo trường hợp, lần đầu tiếp xúc thường thì không có, nhưng nhiều trường hợp nặng thì khi về cũng có cả vị tưởng và thậm chí còn có sự tiếp xúc với nhau. Sự xúc chạm như cầm tay nhau, vỗ vai nhau, ngồi trên xe đụng chạm nhau, hoặc có khi còn thân mật hơn như vậy, cho nên khi trở về thì hình bóng về những sự xúc chạm sanh khởi, đó chính là xúc tưởng. Cuối cùng là pháp tưởng, tức là những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ – những thọ, tưởng, hành ở trong tâm.

Như vậy, Đức Thế Tôn dạy chúng ta phân biệt thế nào là hình bóng của người đó, thế nào là lời nói của người đó, thế nào là mùi hương của người đó và những mùi vị, hình bóng của sự tiếp xúc cũng phải rõ biết từng thứ. Như vậy, có sáu lĩnh vực của tưởng, sáu khía cạnh của hình bóng, nghĩa là cũng ở trong hình bóng nhưng có sáu góc độ, sáu phương diện, sáu phạm trù, sáu giới vức. Nhiều khi trong tâm sanh khởi những thọ, tưởng, hành nhưng chúng ta còn không thấy được đâu là tưởng uẩn, huống hồ chi nói đến việc phân biệt rạch ròi về sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng… rồi cứ cho tưởng đó là tôi, là của tôi.

Qua đó chúng ta mới thấy được Thánh trí tuệ của ngũ uẩn – trí tuệ tối tôn, tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Trong tâm Ngài khi khởi lên một hình bóng, âm thanh, mùi, vị, sự tiếp xúc và các pháp vận hành nghĩ tưởng thì Ngài thấy từng loại thuộc loại nào. Giống như thợ sửa xe, họ biết từng con ốc gắn ở vị trí nào, dây sên gắn vào làm sao, thắng xe sửa như thế nào, cổ xe lắp ráp làm sao… họ biết tất cả mọi bộ phận tên gì và công năng, tác dụng của các bộ phận đó thế nào. Và Đức Phật khi nhìn vào tưởng uẩn Ngài cũng biết từng khía cạnh của tưởng; Ngài biết cái nào là sắc, cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, cái nào là thức; Ngài biết tại sao chúng sanh khởi, vì sao chúng chấm dứt và phương pháp, con đường nào đưa đến sự chấm dứt. Đức Phật đã chứng ngộ và để lại cho chúng ta ngũ uẩn sanh – diệt trí, tức là trí sanh khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn, nếu không học Nikāya thì không thể nào mình biết được trí tuệ này. Trí tuệ này chỉ cho chúng ta thấy rằng do tiếp xúc nên có hình bóng trong tâm và có sáu loại hình bóng: hình bóng về sắc, hình bóng về tiếng, hình bóng về mùi, hình bóng về vị, hình bóng về tiếp xúc, hình bóng về những cảm giác, nghĩ, tưởng, sáu loại này chính là sự khác nhau, sự sai biệt của tưởng. Chính vì vậy, chúng ta cần phải học, cần phải nhận diện, cần phải quán chiếu rất nhiều và cần phải giải phá hết những hình bóng đó.

Tưởng dị thục

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng dị thục?

“Dị” nghĩa là biến dị, biến đổi; “thục” là chín muồi, đưa ra kết quả. Giống như khi trồng cây, ban đầu chỉ là một cái hạt nhỏ nhưng dần dần nó biến đổi, lớn lên và ra hoa, kết quả, có trái. Cũng vậy, biến dị là sự thay đổi để đưa ra kết quả, từ “dị thục” được Đức Phật sử dụng trong kinh rất nhiều. Bất cứ điều gì, từ nhân cho đến quả thì đều có phần ở giữa là duyên, chính cái duyên này làm cho nhân biến đổi và đưa ra kết quả. Như vậy, duyên làm cho nhân thay đổi, chín muồi và đưa ra kết quả. Vậy, tưởng dị thục là thế nào?

Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen, khi nào người ta biết sự vật như thế nào, như thế nào, người ta nói sự vật ấy như sau, như sau: "Như vậy tôi tưởng". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng dị thục.

Đức Phật nói rằng, khi người ta biết về một sự vật như thế nào đó thì họ sẽ nói “tôi tưởng như vậy”, “tôi cho rằng như vậy”. Câu mấu chốt, cần phải học thuộc lòng ở đây là “các tưởng là kết quả của thói quen”. Minh Thành lấy ví dụ liên hệ đến các pháp thô như yêu hận, tình thù, tương tư để chúng ta dễ dàng thấy được tất cả các pháp đều được ngũ uẩn trong Nikāya trình bày. Nghĩa là tạng kinh Nikāya giải mã hết tất cả bí mật của thế giới, đời sống, con người, giải mã hết những khổ đau trong cuộc đời này này.

Đầu tiên, trong tâm chúng ta sanh khởi hình bóng một người nào đó là do có sự tiếp xúc. Khi tiếp xúc nhiều lần thì sẽ thành thói quen, từ đó những hình bóng, âm thanh, mùi, vị, sự xúc chạm và những cảm giác, nghĩ, tưởng về người đó cứ lặp tới lặp lui. Và khi các tưởng cứ lặp tới lặp lui nhiều lần thì hình bóng đó sẽ tồn tại, có mặt, hiện hữu, an trú, có mặt ám ảnh trong tâm mình. Như vậy, do thói quen lặp tới lặp lui mà có ra kết quả là cái tưởng đó ám ảnh trong tâm.

Chúng ta cứ gặp gỡ một người ở bên ngoài và bên trong tâm cũng chất chứa nhiều cảm thọ, suy tư về người đó. Những hình bóng, âm thanh, mùi, vị, sự tiếp xúc với người đó cứ gợi tới gợi lui như vậy, nếu mình thích, ái họ thì sẽ tạo thành sự nhớ mong, yêu thương; hoặc bực tức, sân giận người đó thì sẽ tạo thành hận. Mỗi khi hình ảnh về ái hiện ra thì mình thấy dễ chịu nhưng nếu hình ảnh về người làm mình tức giận sanh khởi thì sẽ thấy khó chịu, hai cái tưởng đó cũng là hình bóng nhưng một hình bóng là tham ái và một hình bóng là sân giận. Một loại hình bóng nữa là hình bóng về người mình không ghét, cũng không thương, hình bóng đó là si vì mình không biết đó là tưởng, mà cho đó là tâm, là tôi và nắm lấy hình bóng đó.

Giống như định lý đã học, tức là khi mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm nên sanh khởi thức. Ba pháp căn, trần, thức này giao thoa là xúc. Do có xúc nên sanh khởi những cảm thọ, hình bóng, suy tưởng. Từ đó sanh khởi ái, có sự nắm giữ và hình bóng đó hiện hữu trong tâm. Ái ở đây không chỉ là thương yêu mà sân giận cũng là ái. Khi chạm tới tự ngã, chạm tới sự dễ chịu, làm mất đi sự dễ chịu thì sẽ giận lên. Ví dụ, đang nằm ngủ ngon mà có người đến la lớn làm tỉnh giấc thì mình sẽ sân lên, vì đã đụng chạm đến sự tham ái. Cho nên, tham và sân là hai mặt của cảm thọ. Yêu hận tình thù là do thói quen lặp tới lặp lui của sự tiếp xúc. Trong hình bóng chúng ta đã nói phải nhớ rằng có cả cảm thọ và suy nghĩ trong đó, khi phân tích thì chúng ta tách ra từng cái nhưng thật sự là thọ, tưởng, hành dính chùm nhau, tức là trong hình bóng có cả cảm xúc và suy nghĩ trong đó.

Kết quả của thói quen rất đáng sợ, nó chứa đựng những hình ảnh ám ảnh trong tâm. Do sự ám ảnh, nghĩ nhớ, lặp tới lặp lui, yêu hoặc ghét, thương hoặc hận, ái hoặc sân nên từ những hình bóng đó mới phát ra những ngôn ngữ tương thích, thể hiện ra những hành động phù hợp với sự chất chứa bên trong. Điều đó đưa đến kết quả là sự biến đổi chín muồi và hoa trái của nghiệp. Cho nên, tham ái, sân hận hay si mê là do những hình bóng cứ lặp tới lặp lui và để giải phá được những hình bóng này là cả một vấn đề. Hình bóng đó cần phải được thấy biết, thấu hiểu và có những phương pháp thích hợp để giải phá, đánh phá chúng.

Cái biết của chúng ta thông thường là cái biết trên tưởng tri. Khi suy nghĩ về một vấn đề nào đó thì sẽ có hình bóng sanh khởi trong tâm. Sau đó mình nghĩ như vậy là đúng nhưng thực tế xảy ra không giống vậy nên mình thường nói là “tôi tưởng như vậy”, cái biết đó gọi là tưởng tri. Trong tâm chúng ta vẽ ra, đạo diễn ra những hình bóng, ảo tưởng, hư tưởng nhưng chúng ta không thấy, không biết, không có trí tuệ về nó nên cho đó là sự thật, cuối cùng sự thật không phải vậy nên hiểu nhầm nhau dẫn đến rất nhiều việc đáng tiếc. Thậm chí có người phải ở tù oan mấy chục năm, giết lầm người, vu oan giá họa cho người khác cũng vì vọng tưởng, hư tưởng, ảo tưởng, tưởng tri, vì cái biết trên tưởng tượng này.

Có rất nhiều trẻ nhỏ phạm tội hình sự cũng do tiếp xúc trên màn ảnh. Trong đó có nhiều hình ảnh tiêu cực, phim đen, những điều đó tạo thành thói quen nên cứ xem hoài và cuối cùng phát ra hành động xấu ác. Nhiều vụ án hãm hiếp, hiếp dâm xảy ra là do lứa tuổi vị thành niên gây án, tất cả cũng từ sự tiếp xúc này, đó là kết quả của thói quen tạo thành từ những sự tiếp xúc của mắt với sắc, tai với âm thanh… Tức là những hình bóng, âm thanh, cảm giác đó cứ lặp tới lặp lui nên tạo thành một thói quen, cuối cùng sẽ phát ra ngôn ngữ, phát ra hành động và nhận lấy quả dị thục của nghiệp, đó chính là tưởng dị thục. Xem phim hành động hoài rồi ra giết người, xem phim ăn trộm ăn cắp rồi trở thành đạo tặc.

Ở Trung Quốc có câu chuyện nổi tiếng về cách giáo dục của Mạnh Mẫu – mẹ của Mạnh Tử. Khi đó, hai mẹ con ở gần chỗ nào là Mạnh Tử tập tành đi chơi giống những đứa trẻ ở chỗ đó. Ở gần nghĩa địa thì Mạnh Tử cũng bắt chước đào, chôn, lăn, khóc giống như trong đám ma. Chuyển đến gần chợ thì Mạnh Tử chơi trò buôn bán, mặc cả, thậm chí cãi vã với nhau giống hệt ở chợ. Cuối cùng, Mạnh Mẫu quyết định chuyển đến gần trường học để Mạnh Tử thích đi học, bà dạy dỗ Mạnh Tử rất kỹ lưỡng. Một lần mê chơi nên Mạnh Tử bỏ học về nhà, lúc đó Mạnh Mẫu đang dệt vải, thấy Mạnh Tử bỏ học đi về thì bà liền cắt ngang tấm vải đang dệt trên khung. Bà nói nếu Mạnh Tử đang đi học mà bỏ học thì cũng như bà đang dệt tấm vải này mà cắt đứt đi như vậy. Sau khi nghe mẹ nói, Mạnh Tử biết lỗi, từ đó về sau ông cố gắng học hành và cuối cùng Mạnh Tử trở thành một bậc hiền triết, một triết gia lỗi lạc của Trung Hoa, được người đời tôn kính chỉ sau Khổng Tử.

Qua đó, chúng ta thấy rằng sự tiếp xúc rất quan trọng, tiếp xúc những cái xấu thì sẽ bị nhiễm theo, còn tiếp xúc với những điều tốt đẹp thì sẽ được thâm nhập, thấm dần vào người. Người ta thường ví dụ, khi đi vào chợ cá, chợ mắm lần đầu thì không thấy mình hôi, nhưng khi đi vào đó nhiều lần, hoặc đối với những người bán trong đó thì quần áo sẽ có mùi hôi, thậm chí mùi cá, mùi mắm ăn vào da thịt nhưng người ta cũng không biết. Mặt khác, ở những chỗ bán hương liệu, nước hoa, dầu thơm, trầm hương, khi đi vào đó lần đầu thì người ta không thể thấm đượm được hương thơm, nhưng khi vào đó nhiều lần, hoặc những người bán hương liệu trong đó thì quần áo sẽ rất thơm, thậm chí da họ cũng thơm mà không biết. Đó là kết quả của việc được xông ướp, huân tập, tiếp xúc lâu ngày, đó là kết quả của thói quen.

Cho nên, khi tiếp xúc với ác, bất thiện pháp, tiếp xúc với những hình ảnh dục ái nhiều thì sẽ dẫn chúng ta đi vào con đường bất thiện. Nếu tiếp xúc với phim hành động, hở ra là đâm, chém, giết người thì cuối cùng ra ngoài đời cũng đâm, chém, giết người, lập ra băng nhóm xã hội đen, hoặc tiếp xúc với những người du côn, du đảng thì sau này sẽ trở thành nghịch tử.

Ngược lại, hằng ngày chúng ta tiếp xúc với pháp, tiếp xúc với trí tuệ, tiếp xúc với sự thật, tiếp xúc với sự thấu hiểu chân lý về vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, tiếp xúc với bản chất của các pháp, tiếp xúc với sự chứng ngộ tối thượng của Đức Phật… thì cũng sẽ thành thói quen sống trong pháp. Khi đó, tưởng của chúng ta sẽ là tưởng về bất tịnh, tưởng về vô thường, đổ nát, khổ đau, tưởng về những sự nhàm chán, hướng đến ly tham, giải thoát, tất cả đều nhờ thói quen tiếp xúc với pháp tới lui thường trực. Vì vậy, khi tiếp xúc với người trí thức thì dần dần ta có thêm tri thức, có thêm hiểu biết. Mỗi ngày tiếp xúc với Thánh Pháp, Thánh trí tuệ thì dần dần chúng ta cũng sẽ thâm nhập pháp.

Vì vậy, Đức Phật dạy rất nhiều pháp quán tưởng, nếu chúng ta thường xuyên quán chiếu thì sẽ trở thành thói quen. Chẳng hạn như quán bọt nước, quán bộ xương, quán chín giai đoạn của một tử thi đến mức thành thói quen, để cho tưởng về các phép quán đó an trú trong nội tâm của mình. Hoặc quán tâm từ như dòng nước mát, quán tâm hiền như mặt đất nâng đỡ mình và mọi người đến mức trở thành thói quen và an trú tâm mình trong đó. Khi các pháp ấy lặp tới lặp lui, những nghĩ, tưởng, suy tư, quán chiếu, tiếp xúc trong pháp liên tục như vậy thì cuối cùng các tưởng sẽ được an trú trong tâm.

Nếu như chúng ta không quán chiếu những Thiện pháp, Thánh pháp, Thánh trí thì những phàm phu pháp, những dục, tham, sân, bản ngã, tưởng sẽ an trú trong tâm mình. Bởi lẽ, thói quen của chúng ta đối với những cấu nhiễm đó đã từ vô lượng vô biên kiếp, còn Thánh pháp, Thánh trí, sự thật này chúng ta tiếp xúc chưa được bao nhiêu. Cho nên, Thánh pháp trong tâm chúng ta còn chưa đủ sức để giải phá những hình ảnh cấu uế trong tâm.

Tưởng đoạn diệt và con đường đưa đến tưởng đoạn diệt

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng đoạn diệt?

Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, là tưởng đoạn diệt. Đây là Thánh đạo tám ngành đưa đến các tưởng đoạn diệt.

Tức là chúng ta cắt những duyên xúc bên ngoài, còn bên trong là tu tập sự thấy đúng về các pháp tưởng này. Cụ thể là thấy những hình bóng trong tâm chỉ là ảo tưởng, vọng tưởng, hư tưởng, là pháp vô thường, pháp duyên sanh. Nếu bị ràng buộc vào những hình bóng đó thì chúng ta sẽ đau khổ, sầu bi, lo lắng, bất an, sợ hãi, già bệnh chết triền miên ở trong sanh tử, khổ đau.

Cho nên, chúng ta phải quán chiếu, thấy biết, suy tư, thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng về các tưởng. Từ đó chúng ta mới có thể giải phá các tưởng ác, bất thiện pháp; các tưởng về dục, tham, ái; các tưởng về sân hận, tức giận, hơn thua; các tưởng về vô minh, si ám, bản ngã. Khi thấy những tưởng bất thiện thì phải giải phá, xử lý, trảm thủ, nhất đao lưỡng đoạn đối với nó. Chúng ta phải đánh đuổi hết tất cả những tưởng ác, bất thiện pháp, cấu nhiễm, cấu uế, lậu hoặc ra khỏi tâm mình, không được để cho chúng an trú trong tâm, mỗi khi nó xuất hiện thì phải đuổi nó giống như đuổi tà. “Đánh là phải thắng”, “giết là phải chết”, “đoạn là phải tận” – hãy dùng những pháp lệnh mạnh như vậy để đánh tan tất cả những hình bóng ảo ảnh ra khỏi tâm.

Đó chính là con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt, tức là Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo rất khủng khiếp, đại diện cho uy lực thần thánh tám mặt của Thánh trí tuệ đánh vào tám mặt của vô minh; tám mặt của sự thật đánh tan tám lãnh vực của giả dối; tám mặt của ánh sáng chiếu phá bát giác hắc ám; tám mặt của sự thấy biết đập tan, xóa sạch sự không thấy, không biết… Tám mặt tuyệt diệu, tối tôn, tối thượng giải phá sự ám ảnh trong tâm.

Nhiều lúc không có ai xung quanh, chúng ta chỉ ở một mình nhưng vẫn khổ đau vì những hình ảnh. Lúc đầu có nói những hình ảnh tham, dục, ái khiến mình dễ chịu nhưng phân tích sâu hơn thì cuối cùng hình ảnh đó cũng làm mình bức xúc, nhiệt não. Nếu chỉ nói phớt phớt bên ngoài thì những hình ảnh khi nghĩ về người thương, người yêu, những người có luyến ái với nhau thì thấy dễ chịu, nhưng nhìn sâu sắc hơn thì sau cảm giác dễ chịu là sự khó chịu, lưu luyến, ràng buộc, trói trăn, mong muốn được tiếp xúc, được thỏa mãn những cảm giác. Bên trong khi đó là sự bức xúc, đòi hỏi, thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho dục, tham, ái chứ không hề có hạnh phúc, an lạc, vui sướng gì cả.

Vì vậy, Đức Phật dạy quán lạc thọ là khổ, quán khổ thọ là mũi tên và quán bất khổ bất lạc thọ là vô thường. Cho nên, đối với hình ảnh dễ chịu thì phải quán đó là khổ đau bởi vì nó ám ảnh trong tâm. Đối với hình ảnh khó chịu thì phải quán đó là mũi tên ngấm độc, tẩm độc và giải phá nó bằng tâm từ. Đối với hình ảnh thường thường, không khó chịu không dễ chịu thì phải biết đó là vô thường, hư ảo, vọng tưởng, hư tưởng, ảo tưởng, chẳng là gì hết, chúng là pháp duyên sanh, pháp khổ đau, pháp biến đổi, hoại diệt, chỉ ảo ảnh sương khói. Chúng ta phải phá tan, phá vỡ, phá nát, giải phá và thoát ra khỏi tất cả những hình bóng.

Đó là Thánh trí tuệ quán chiếu về sự ám ảnh trong tâm thức của chúng ta. Chúng ta phải trực diện, đối mặt, giáp mặt trực chỉ đối với tâm mình. Khi đó chúng ta sẽ thấy cả một sự chua cay, cay đắng và cần phải một sự tinh cần, tinh tấn trong sự tu tập này. Những hình ảnh rất ác độc, chúng ám ảnh trong tâm không ngừng nghỉ. Cái tô, cái chén, cái ly bên ngoài thì còn có thể đập vỡ được, còn hình bóng trong tâm thì không thể nào đập cho nó vỡ được. Thế nên, nếu không có Thánh Pháp, không cắt đi duyên xúc, không dùng Bát Chánh Đạo, không có chánh tư duy, chánh trí để tác ý đánh đuổi hình bóng ra khỏi tâm thì đập hoài nó cũng không bể, đuổi hoài nó cũng chẳng đi. Vì vậy, con đường đưa đến tưởng đoạn diệt là Bát Chánh Đạo, là Tám Đúng, chúng ta phải quán chiếu, tác ý để giải phá, đánh đuổi, phá tan, phá sạch tất cả những hình bóng trong tâm.

Khi nào này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các tưởng như vậy, rõ biết các tưởng sanh khởi như vậy (sanh khởi là do duyên tiếp xúc), rõ biết các tưởng sai biệt như vậy (tưởng sai biệt gồm sáu lãnh vực: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng), rõ biết các tưởng dị thục như vậy, rõ biết các tưởng đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thể nhập này như là các tưởng đoạn diệt.

Điều quan trong cần phải nhớ là hình bóng sâu sắc nhất, nặng nề nhất, ám ảnh nhất trong tất cả những hình bóng là hình bóng về tự thân, tức là thân kiến, hình bóng của chính mình. Với sự tu tập liên tục, quán chiếu sâu sắc để giải phá, phá vỡ hình bóng tự thân, kiến chấp về thân, thân kiến thì đến một lúc trong tâm không còn hình bóng nào có mặt, tất cả các tưởng an tịnh, lắng dịu, không còn điều gì quấy rối. Tức là khi đó có một nội tâm hoàn toàn tịch tịnh, lặng lẽ, trong sạch, không còn bị bất cứ hình bóng nào quấy rối, tác loạn, xâm phạm, chế ngự, ám ảnh. Nội tâm hoàn toàn sạch sẽ hết tất cả mọi hình bóng, tâm được tịch tịnh, lặng lẽ, thanh tịnh, trong sáng, trong sạch, trong veo, trong trẻo, như vậy, sự thể nhập của Phạm hạnh này như là các tưởng đoạn diệt. Tâm khi đó được lặng lẽ, trong veo, trong suốt, trong ngần, tâm lặng yên bất động. Nội tâm như vậy là một nội tâm tuyệt vời!

Như vậy, chúng ta đã nghe Thế Tôn trình bày trí tuệ thứ nhất là các tưởng là gì; trí tuệ thứ hai là các tưởng sanh; trí tuệ thứ ba là các tưởng khác nhau như thế nào; trí tuệ thứ tư là các tưởng thay đổi và đi đến kết quả; trí tuệ thứ năm là các tưởng chấm dứt; trí tuệ thứ sáu là con đường dẫn đến các tưởng đoạn diệt, chấm dứt. Đó là sáu trí tuệ về hình bóng trong tâm, sự thấy, sự biết về tổ hợp của tưởng.

Cuối cùng, Minh Thành xin kết thức bằng câu: phàm tất cả các hình bóng đều nằm trong đau khổ, biến hoại, sầu bi, bất an, lo lắng, sợ hãi và khổ đau. Chúng ta không nên lưu giữ bất cứ một hình bóng nào, Vì hình bóng là vô thường, biến đổi, biến hoại, nếu lưu giữ những hình bóng thì chúng ta sẽ đau khổ, sầu bi và ưu não. Cho nên, hãy chấm dứt tất cả những hình bóng, tức là đoạn diệt các tưởng bằng Tám Chánh! Như vậy gọi là các tưởng đoạn diệt và con đường chấm dứt tất cả các hình bóng trong tâm. Khi đó, chúng ta sẽ có được nội tâm như mặt gương trong sáng, tròn đầy, không lưu giữ bất cứ một hình bóng nào.

./.