Nhận Diện Thân Tâm 4
Tinh Hoa Nikāya
Nhận Diện Thân Tâm 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc nhở khi hành thiền PAGEREF _Toc179570353 \h 1
II. Ý hành PAGEREF _Toc179570354 \h 3
III. Thức uẩn PAGEREF _Toc179570355 \h 9
IV. Sắc uẩn PAGEREF _Toc179570356 \h 12
V. Tham – sân – si PAGEREF _Toc179570357 \h 24
I. Nhắc nhở khi hành thiền
Ý thức là rõ biết được thọ; tưởng; hành. Khi mình bệnh có những cảm giác khó chịu, có những hình bóng trong sinh hoạt của đại chúng hiện ra trong tâm, có những suy nghĩ bệnh hoạn thật khó khăn cho sự tu học, không thoải mái thì lúc đó mình biết rõ đang có cảm giác, suy nghĩ, hình bóng đó chính là ý thức. Ý thức là biết được đang có cảm thọ gì, như vậy cái bệnh khó chịu thuộc về khổ thọ, ý thức rõ biết đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì, như vậy ý thức là biết được thọ; tưởng; hành ở bên trong.
Mọi người cần để tâm thật kĩ vì đây là Thánh trí huệ của Đức Phật nên nó cực kì quan trọng, khi mình thấy được, nhận diện được, nhìn ra được rồi mọi người tu học sẽ thấy rất tuyệt vời, thân tâm mình sẽ rành rõ như chỉ như lòng bàn tay, tất cả các pháp trong ngoài sẽ hiện rõ minh bạch, không có gì trong thân tâm mà mình không biết được. Nhận diện ngũ uẩn trong lúc bệnh rất hay vì đó là lúc mình phản tỉnh.
Khi mình ngồi thiền mà nhắm mắt thì thứ nhất nếu không bị ngủ gục thì tâm mình cũng rơi vào trạng thái của tưởng, những hình bóng này nọ sẽ xuất hiện. Thứ hai là khi nhắm mắt thì tâm mình sẽ đi vào trạng thái si ám, các pháp không rõ. Thứ ba là rất dễ đi vào hôn trầm, ngồi một hồi là mình tỉnh không tỉnh mà mơ không mơ, mình sẽ ngủ gục. Cách Đức Phật dạy là phải thực hành ba pháp, tức là phải đặt niệm trước mặt, tầm nhìn rộng mở về phía trước hết mức ra hai bên, tuyệt đối không được nhắm mắt vì nhắm mắt sẽ rơi vào tưởng, vào hôn trầm và vào si ám.
Pháp thứ nhất Đức Phật dạy khi ngồi thiền là đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, rõ biết trước mặt. Thứ hai là cảm giác toàn thân, mình phải cảm nhận được tất cả cảm giác từ đỉnh đầu đến gót chân thuộc loại cảm thọ gì, mình an trú trong cảm giác toàn thân. Thứ ba là nội tâm tỉnh giác, tức là chúng ta phải nhận biết được từng thọ; tưởng; hành trong tâm. Đây là ba pháp ngồi thiền cần phải thực tập thường xuyên và liên tục theo như Đức Phật đã dạy trong kinh Nikāya, khi đó căn – trần – thức của mình rất tinh minh
Rõ biết trước mặt là cảnh trước mặt mình rõ biết, nó thuộc về trần, khi an trú cảm giác toàn thân thì căn thân mình rõ biết nó đang trong trạng thái gì, đi sâu vào bên trong nội tâm tỉnh giác là chúng ta biết được bên trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ gì đang có mặt. Chúng ta thấy biết rõ từng cái cho nên đó mới là thực hành ba pháp, đó là cách ngồi thiền được Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya cho nên chúng ta cần nhớ khi ngồi thiền đừng nhắm mắt mà cũng không phải mở to ra nhìn thẳng ra bên ngoài, tầm nhìn của mình tầm 1m trước mặt, nhãn thức rộng mở hết mức chứ không phải lim dim vì như vậy rất dễ ngủ gục.
Nhất là cả ngày làm việc, học hành mệt mỏi mà tối vào ngồi thiền như vậy thì chỉ có ngủ gục thôi, vì thế tuyệt đối không được nhắm mắt khi ngồi thiền và phải an trú cảm giác toàn thân, xem lại cảm giác từ đỉnh đầu đến gót chân hiện giờ ra sao, cảm nhận cảm giác bàn tay, từng ngón tay, cánh tay, ngực, mông, bụng, lưng, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, từng ngón chân đều phải được cảm thọ cảm giác của toàn bộ cơ thể. Cái này trong mười sáu hơi thở Đức Phật dạy gọi là cảm giác toàn thân, từ cảnh bên ngoài là mình sáng tỏ trước mặt của mình, cái gì mình cũng biết, kế đó là thân mình như thế nào mình cũng biết rõ, sâu vào tâm đang có suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng gì mình cũng biết rõ.
Cho nên cách ngồi thiền được Đức Phật dạy như vậy thì căn – trần – thức rất tinh minh, không dễ gì hôn trầm được vì lúc đó phải làm việc tối đa công sức. Người tu nắm được pháp thì thật sự làm việc rất năng động, không phải vào ngồi thở vô thở ra nhắm mắt là xong mà ngược lại làm việc rất nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, trong khi ngồi thiền là phải xung trận, tác chiến, phải dùng biết bao chiến thuật, phương pháp để đánh trận. Có khi nào mình ra trận mà để giặc đánh tan tác không có phương pháp tác chiến gì không?
Cho nên khi ngồi thiền là những khi lâm trận, xung trận, lúc đó là trực tiếp đối diện với những lậu hoặc, hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ bên trong, phải nhìn ra nó đang có gì trong đó và mình xử lý từng cái. Nếu là thiện pháp thì cho nó phát triển, nếu là bất thiện pháp thì phải tác ý diệt tận, loại bỏ, tẩy sạch nó liền, khi ngồi thiền theo tinh thần kinh Nikāya thì hoạt động rất nhiệt tâm, cả một nhiệt huyết trong khi thực tập, không chỉ trong lúc ngồi thiền mà cả trong lúc đối duyên xúc cảnh, khi ăn cơm, khi đối diện người khác hay khi một mình đều phải quay lại để nhận diện những hình bóng, cảm giác và những suy nghĩ trong tâm. Những cái này chúng ta đều đọc được hết, đều theo dõi được hết.
Hôm trước chúng ta đã đi vào định nghĩa ngũ uẩn số 3 của bài kinh Đáng Được Ăn trong Tương Ưng Bộ, tập III. Chúng ta đã nghe Đức Phật định nghĩa về thọ; tưởng; hành, định nghĩa 1 đơn giản nhưng đến định nghĩa 2 thì mở rộng ra, còn đến định nghĩa 3 thì sâu sắc. Hành ở đây là ý hành, sau đó phát ra khẩu hành rồi đến thân hành, khi mình nói rằng "bệnh rồi mới thấy thân thể này rất khó tu" là mình thấy được tính chất bệnh hoạn, vô thường của thân này.
Một câu nói đó làm hiện hành ra các pháp, thân này là sắc, sắc này là biến đổng, bệnh hoạn, bất an, cảm giác trong khi bệnh khó chịu thì đó là thọ, những hình bóng trong tâm mình là tưởng. Mình thấy được thân xác này đầy rẫy bệnh tật, bất an, vô thường, không như vậy hoài mà nó luôn biến đổi trong trạng thái bứt rứt, khổ thọ, câu nói đó làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh, câu nói đó biểu hiện ra ngũ uẩn để người ta biết mình đang như thế nào, biết được tính chất của đời sống thân tâm ngũ uẩn này là bất an, là bệnh tật. Câu nói này xuất phát từ trong suy nghĩ của mình, từ ý hành rồi phát ra khẩu hành.
II. Ý hành
Suy nghĩ ở trong tâm ý mình thì gọi là ý hành, lời nói phát ra ở miệng là khẩu hành, cái hành động trên thân thể mình thì gọi là thân hành.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là hành ?
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Từ trong suy nghĩ phát ra lời nói, nếu mình không nói ra thì không ai biết gì cả. Mình ngồi im lặng không nói gì cả thì không ai biết gì cả, còn nếu như nói "mấy nay tôi thấy mình tu tinh tấn lắm, tôi nhận diện được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, vui quá, mừng quá", có nói ra như vậy thì người ta mới biết mình tu như thế nào. Cái hành này làm cho hiện hành các pháp hữu vi tức là biểu hiện ra ngũ uẩn vận hành như thế nào, tình trạng ra sao, nó đang thế nào, đều nhờ từ những ý nghĩa, lời nói, hành động này thì người ta mới biết người này đang ở trong trạng thái nào, nếu người này im lặng không nói gì cả thì không biết người đó ra sao.
Biểu hiện ra ngôn ngữ, ý nghĩ, hành vi cho nên gọi là hiện hành. Chữ "tánh" ở đây là bản chất của năm uẩn, nó là vô thường, khổ não, trống không, vô ngã, trong kinh Cội rễ của sự vật Đức Phật đã nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Tác ý ở đây là sự tác động tâm ý, nghĩa là sự suy nghĩ và suy nghĩ chính là hành cho nên sự suy nghĩ rất quan trọng. Nếu mình không kiểm soát suy nghĩ của mình, không nhận diện suy nghĩ của mình, không phân loại suy nghĩ của mình thì mình sẽ nghĩ trong vô minh, trong si ám, suy nghĩ mà không biết ý nghĩ đó thuộc về loại nào. Trong Bát Chánh Đạo Đức Phật phân ra những loại suy nghĩ, cái nào là tư duy về dục, cái nào là suy nghĩ về ly dục, cái nào là tư duy về sân, bực bội, tức giận thì thuộc về sân tư duy và những cái nào suy nghĩ để rồi bỏ tức giận, sân hận đó thì thuộc về ly sân tư duy.
Dục tư duy, sân tư duy và hại tư duy thuộc về tà tư duy, suy nghĩ về những tham dục, tham muốn, suy nghĩ về giận người này bực người kia, suy nghĩ ngu si muốn lạm hại mình hại người, hại cả hai là những suy nghĩ sai quấy, tà tư duy. Còn những suy nghĩ lìa dục, suy nghĩ để không còn bực bội, không còn hại ai thì gọi là ly dục tư duy, ly sân tư duy và bất hại tư duy, những suy nghĩ này thuộc về chánh tư duy, suy nghĩ đúng và cũng gọi là Thánh tư duy, suy nghĩ của bậc Thánh, cho nên làm Thánh là không phải không có suy nghĩ mà họ nghĩ đúng.
Có khi chúng ta suy nghĩ những bậc thành tựu là không còn suy nghĩ gì cả là sai, trong đường tu rất cần dùng suy nghĩ để tu. Nếu chúng ta quyết định xuất gia thì có nghĩ nhiều không hay là cứ thế vào xin xuất gia thôi? Chúng ta phải đắng đo, do dự, phải nhìn biết bao khía cạnh, góc độ, những hoàn cảnh, nhìn cha mẹ, ông bà, cô cậu, mình phân tích, suy tư, nghiền ngẫm và sau nhiều lần quyết định xuất gia thì mình chắc chắn con đường mình đi cho nên tu là không phải không suy nghĩ mà là không suy nghĩ những cái sai quấy, suy nghĩ những cái đưa đến chân lý, đưa đến sự thật, đưa đến ly tham, nhàm chán, xuất ly, từ bỏ, cho nên suy nghĩ trong lúc tu rất quan trọng.
Như lý là đúng như chân lý, tác ý là tác động tâm ý đúng như chân lý. Đây là pháp cực kì quan trọng trong kinh tạng Nikāya, gần 80% pháp tu của Đức Phật dùng cái này. Tác động tâm lý đúng như chân lý thì bằng với chánh tư duy, chánh tư duy là sự suy xét chân chánh bằng với cả Thánh tư duy, là sự suy nghĩ của bậc Thánh cho nên muốn tu tiến là phải tác ý liên tục, tu như vậy rất tuyệt diệu.
Trong giai đoạn mình được nhập thất thì trong khoảng thời gian mình chỉ lấy một định tướng là quán bất tịnh, khi ngồi thiền, xả thiền hay đi kinh hành là mình tác ý "nhìn thân hôi thối bẩn thỉu này đi, đầy phân và nước tiểu, nước bọt và cứt ráy. Hãy nhìn cho kĩ đi hỡi tâm ngu si, mê muội này", cứ tác ý như vậy liên tục thì từ từ tâm khát ái sẽ bị đánh vỡ, giảm bớt những ái dục, dâm dục, sự chìm đắm trong dục hèn hạ của phàm phu sẽ giảm thiểu.
Tất cả đều nhờ sự tác động tâm ý, lúc đó thọ; tưởng; hành của mình sẽ vận hành, khi mọi người nghe Minh Thành nói thì trong tâm sẽ hiện ra hình ảnh đống phân, hình bóng nước tiểu, hình bóng một đống bầy nhầy của gan, ruột văng ra khi bị tai nạn giao thông, đó là thọ; tưởng; hành đang an trú trong sự thật. Sự thật này cũng là pháp, mà pháp này cũng là trí, là minh, là tuệ cho nên gọi là Thánh tư duy, chánh tư duy, là như lý tác ý vì mình tác động tâm ý như vậy là đúng với sự thật. Thân này có máu mủ, có phân, nước tiểu, có nhơ nhớp, bẩn thỉu và đây là sự thật, như vậy gọi là như lý tác ý.
Nếu mình nặng về dục thì mình quán chiếu, nhắc nhở, tác ý tâm mình liên tục, trong cả đi, đứng, ngồi, nằm, đi kinh hành. Mình hài tội lỗi của dục, trong kinh dùng từ là "quán nguy hại" của dục, nguy là nguy hiểm và hại là tác hại. Quán chính là như lý tác ý, tức là mình khởi lên suy nghĩ chứ đừng nghĩ thiền quán là cái gì xa xôi, phải tu thâm sâu lắm, quán chỉ là sự tác ý nhắc nhở tâm thôi.
Mình nói với tâm mình "nhìn bạn học của mày đi, có bốn đứa con, hai đời chồng", bạn nam thì "nó nằm một chỗ rồi, vợ thì tai biến, con thì bệnh đau", cũng vì cái dục, cái ái mà phải hệ lụy, trói cột, mà phải sầu, bi, ưu, não, "còn mình hạnh phúc quá vì mình đã thoát khỏi nó, mình may mắn quá khi được xuất gia, mình hân hạnh quá khi đi ra khỏi nhà lửa. Hiện tại mình đi một mình, ngồi một mình, đứng một mình trong tịnh thất, trong thiền tư, trong một đại chúng hiền thiện, trang nghiêm".
Cái như lý tác ý này càng mạnh chừng nào, càng sâu sắc chừng nào, càng đi vào nhiều góc độ, phương diện chừng nào thì trí tuệ mình càng mạnh chừng đó thì gọi là tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ là do như lý tác ý chứ không phải ngồi im lặng, không khởi gì cả, đó chỉ là một phương diện nhỏ của thiền chỉ, tức là tâm bị dao động quá thì làm cho tâm yên lặng, khi đã yên lặng thì bắt đầu triển khai thiền quán, dùng như lý tác ý, dùng chánh tư duy để phá tà tư duy.
Hòa Thượng Thanh chủ của chúng ta để lại cả một tạng Thanh Từ Toàn Tập, đó là sự quán chiếu của ngài, ngài như lý tác ý. Nếu không có suy nghĩ thì làm sao nói? Cái suy nghĩ đó căn cứ trên sự thật, trên pháp, trên trí tuệ, cái đó trở thành pháp ngữ, pháp bảo, thiền tạng, còn mình muốn nói là cứ nói rồi cãi nhau, cự cãi, bàn luận về từ bi nhưng nói một lúc ra sân si. Nói một lúc là không kiểm soát được cảm giác cho nên hôm nay chúng ta nhấn mạnh vào chỗ tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
Nắm được phương pháp tu này mình sẽ làm chủ tâm của mình, mình muốn cho mình hoan hỉ thì mình tác ý để vui liên tục, mình muốn khởi tâm từ là an trú vào tâm từ suốt cả tuần, suốt ba tháng, sáu tháng, lúc nào người này cũng dào dạt của từ bi, của tình thương. Muốn được như vậy thì phải thực tập rất nhiều, có như vậy mới thực tập được tứ vô lượng tâm, tất cả đều do sự tác ý, còn mình tu lúc đầu cũng thấy nhiệt tâm, ở lâu trong chùa thấy đơ ra, lên ngồi thiền thấy cũng bình thường, không có mùi vị gì cả, không có pháp hỷ, không có pháp lạc, không có thiền duyệt, trí tuệ không sanh, thiền định không thành tựu, không nếm được hương vị của ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú sơ thiền.
Do tu lâu mà không có pháp hỷ, pháp lạc, thiền duyệt nên đi tìm dục lạc, vui thích với những sắc tướng bên ngoài, vui thích với những danh lợi bên ngoài, không thấy được sự vi diệu trong Thánh pháp này. Đó là do rơi vào bất khổ bất lạc thọ, cảm thọ trơ ra đối với pháp, lúc đầu nghe pháp cũng thích thú nhưng nghe một thời gian thấy lạc lẽo, đó là bắt đầu rơi vào trạng thái trơ ra, không tiến bộ nữa, còn như lý tác ý làm cho mình hân hoan, phấn khởi, thích thú, nhiệt tâm, đó gọi là thiền quán.
Mọi người muốn tập tâm từ do thấy mình dễ nổi nóng, dễ giận. Thực tập tâm thương thì Minh Thành chỉ giới thiệu căn bản vì phải thực tập rất nhiều, thực tập tâm từ phải từ sáu tháng cho đến sáu năm. Mình thấy mình bực bội, khó chịu, nóng bức nên muốn tu tâm từ, mình tác ý "thiệt là tội nghiệp cho ta, mình đáng tội nghiệp quá, mình bỏ cha bỏ mẹ để vào đây sân hận, mình bỏ bà con quyến thuộc để vào đây bực bội các bạn đồng tu. Mình thật là thấp hèn, đê tiện, ba mẹ tựa cửa chờ mong mà mình không chịu tu lại đi so đo với các bạn đồng phạm hạnh. Ngươi là kẻ đáng thương nhất hành tinh này, tội nghiệp cho ta quá, tội nghiệp cho tâm sân si, ngu muội này quá. Thật là đau khổ khi có đời tu xuất gia như vậy".
Mình làm sanh khởi cảm thọ, mình thấy rõ cảm giác từ lồng ngực lan ra mặt, tai, cảm thọ lan ra cùng khắp đến gót chân là cảm thọ xót thương, ưu tư, đau khổ. "Mình đi tu mà không làm được một người tu thật sự, làm sao mình lại chất chứa những cảm giác sân hận với các bạn đồng phạm hạnh như vậy?Tại sao mình bực bội, sân si, đây là những thứ cần tẩy sạch, diệt tận hoàn toàn, không cho nó lưu trú trong thân tâm mình. Nó là rắn độc, thiêu đốt thân tâm, không đáng để mình chất chứa, ta quyết định từ bỏ tất cả cảm thọ nóng bức, nhiệt não. Ngươi tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, thành mây, thành khói, thành hư không đi". Tác ý như vậy thì cảm thọ bực bội sẽ run sợ, lắng dịu xuống và tan ra từ từ, mình thấy rõ điều này giống như bỏ viên sủi vào ly nước tan ra.
Lúc đầu là thương mình, sau đó là tác ý thương cho đối tượng mình sân hận. Trong tất cả pháp quán đều phải quán cho mình trước, mình được rồi mới quán cho người ta. Mình phải thấy thương mình trước rồi sau đó đến đối tượng mình sân hận, họ cũng là kẻ đáng thương, họ cũng là nạn nhân của những cảm thọ sân hận, họ cũng là kẻ bị hại của những cảm giác thiêu đốt, họ cũng như mình là những kẻ đáng thương nhất hành tinh. Chúng ta cùng là nạn nhân với nhau thì sân hận để làm gì? Hãy hiểu nhau, cảm thông nhau, tha thứ cho nhau, lục hòa cộng trụ đồng tu. Mình quán đối tượng kia cũng vô minh, bản ngã, cũng là nạn nhân của những cảm giác sân hận, tức giận, đốt cháy, hủy hoại thân tâm, họ thật là đáng thương, mình thật là đáng thương, chúng ta đều là những kẻ đáng thương.
Đáng thương thay cho chúng ta là những chúng sanh phàm phu ngu mê, si ám, suốt ngày chạy theo hơn thua, sân hận, hành hạ mình hành hạ người, làm khổ mình làm khổ người, làm đau mình làm đau người, tự thiêu mình rồi cũng thiêu cháy người khác. Phải làm cho tâm từ, tình thương của mình lan ra bao trùm đối tượng sân hận đó giống như lấy tấm vải trắng phủ lên người kia từ đỉnh đầu đến gót chân.
"Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Như vậy mình thấy được những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng rồi mình tác động tâm ý, quán chiếu để tâm từ lan rộng ra, bao trùm cả người kia. Sau đó khi đã trải được tâm từ với đối tượng mà mình giận thì cảm thọ bực bội trong người sẽ lắng dịu, dễ chịu, tiếp theo là mở rộng tâm từ đến tất cả bà con, cô bác, anh chị em của mình, họ cũng sân si, bản ngã, đau khổ giống như mình, giống như đối tượng sân hận của mình, tất cả đều là nạn nhân của tham, sân, si, tất cả bị cơn giận đó đốt cháy, thiêu rụi, tất cả đều đáng thương.
Trải rộng tâm từ ra khắp hữu tình chúng sanh và làm cho tâm thương lan tỏa cùng khắp về phương trước mặt, phía sau, bề dọc, bề ngang, lan tỏa ra khắp mười phương, an trú trong tâm thương vô lượng đó. Đó là thực tập từ vô lượng tâm, đó là như lý tác ý, đó là quán tâm từ, lúc đó mình sẽ thấy trong người mình sanh ra cảm xúc dào dạt, dễ chịu, nhuần thấm tất cả hữu tình vạn loại chúng sanh.
Minh Thành đang nói nhưng trong người đang có cảm thọ dạt dào, ngọt ngào, sung mãn từ đỉnh đầu đến gót chân, mình trú trong cảm thọ đó, khi tu tập một thời gian thuần thục trong tâm từ thì bất cứ lúc nào mình muốn là trú luôn trong tâm từ, chừng nào muốn xả thì xả. Muốn được vậy thì phải thực tập kiên trì, bền chí chứ không phải một ngày một bữa là được. Thực tập tâm từ cho đến mức nước mắt đầy mặt, mình xót xa, đau đớn vì tâm đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã của chính mình, sau đó mới thương chúng sanh, hữu tình vạn loại. Minh Thành nêu ra vài phương pháp để chúng ta thấy được giá trị quan trọng của như lý tác ý cũng như là hành uẩn để chúng ta vận dụng suy tư, sự tác ý chánh tư duy để tu tập.
III. Thức uẩn
"Định nghĩa SÁU THỨC
- Thấy rõ, biết rõ người, cảnh, vật - NHÃN thức
- Nghe rõ, biết rõ lời nói, âm thanh - NHĨ thức
-Rõ biết mùi hương thơm, thối - TỶ thức
-Rõ biết vị ngọt, chua, cay - THIỆT thức
- Rõ biết thân đụng chạm người, vật - THÂN thức
- Rõ biết thọ, tưởng, hành - Ý thức". (Nghi thức tu học Nikāya)
Trước nay khi chưa tiếp xúc với Nikāya thì mình học ý thức rất chung chung, còn khi đi vào Nikāya thì rất rõ ràng. Bây giờ chúng ta nhận diện sáu thức, chúng ta thấy cảnh sắc trước mặt, sự rõ biết cảnh sắc trước mặt là nhãn thức, sự rõ biết âm thanh Minh Thành đang nói là nhĩ thức. Mỗi một cái thức như vậy có phạm trù, lãnh vực riêng, nhãn thức chỉ rõ biết sắc pháp thôi chứ không biết được tiếng, các thức này bị giới hạn, trong Bát Nhã tâm kinh gọi là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới thì chữ "giới" đó là ranh giới, là giới vực cho nên cái thấy chỉ rõ biết sắc chứ không thể rõ biết tiếng được, mỗi một cái thức chỉ biết trong phạm trù nó thôi chứ không biết qua cái khác được, vì vậy nhãn thức chỉ biết được các sắc tướng.
Nhĩ thức chỉ rõ biết được âm thanh, ngoài âm thanh ra không biết gì cả, nếu ở ngoài tầm thì nó không nghe được. Trước cổng chùa có ai nói xấu mà mình không nghe được thì mình có sân không? Không sân lên vì tiếng nói ở ngoài phạm trù nhận thức của mình, âm thanh ở trong tầm nghe, nhận hiểu được thì mới biết. Lúc ngồi thiền tâm yên định cần nhận diện cho kĩ những cái này, những bài này toàn bộ đều là pháp hành, là sự chứng ngộ của Đức Phật chứ không phải bình thường, không phải học theo kiểu định nghĩa, học thuyết mà những gì mình đang học đều là Thánh trí tuệ của Đức Phật.
Đức Phật không phải chỉ chứng ngộ một pháp mà ngài chứng ngộ tất cả pháp, tất cả mọi phương diện, khía cạnh của ngũ uẩn cho nên mỗi một cái mình học là mình thấy, mình biết, mình thành tựu trí tuệ về cái đó. Mình học về hành uẩn và mình nhận biết được hành uẩn là những suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong tâm, mình biết được điều này là mình thành tựu trí tuệ về cái đó, còn trước đó mình không hề biết.
Khi mình thành tựu trí tuệ về hành uẩn, mình nhớ hoài, mình nhìn nó đúng như vậy thì mình phá được vô minh đối với hành uẩn trước kia, thành tựu được minh trí đối với hành uẩn ngay khi học, còn học mà lúc nhớ lúc quên thì cũng như không, còn học mà nhớ luôn thì gọi là thọ trì trí tuệ đó, thành tựu trí tuệ đó không bị mất đi, trí tuệ đó không phải bình thường mà là Thánh trí tuệ, trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác.
Sự biết rõ mùi thơm hay thối là tỷ thức, cái thức này chỉ biết mùi thôi, ngoài mùi ra không biết cái khác. Mới bước vào cửa bếp đã ngửi thấy mùi bún mắm hay là mùi chao chưng, hấp dẫn quá, các pháp vận hành trong đó, có sự tiếp xúc nên cảm thọ sanh khởi, tưởng sanh khởi, hành vận hành. Vừa vào toilet đã ngửi thấy tàn dư của người đi trước chưa dội nước, vừa tiếp xúc là sanh ra thọ, tưởng, hành. Đó là thọ do tỷ xúc sanh, tức là lỗ mũi mình tiếp xúc với mùi nên sanh ra cảm thọ, sự rõ biết mùi thơm hay thối là tỷ thức.
Mình rõ biết được vị ngọt, đắng, chua, cay là thiệt thức cho nên khi ăn phải nhận diện các thức. Đi đến thân thức là bắt đầu khó, lúc trước mình học trên ngôn từ, chữ nghĩa chứ không nhận diện được thực pháp của nó đang diễn ra trong thân tâm của mình. Thân thức là hiện tại da thịt mình đụng chạm quần áo, quần áo của mình chạm vào ghế ngồi, chỗ đụng chạm đó, chỗ da thịt tiếp xúc với quần áo, chỗ quần áo tiếp xúc ghế và mình rõ biết được chỗ đó thì gọi là thân thức, tức là cái rõ biết được sự đụng chạm trên thân thì gọi là thân thức. Chúng ta phải học cho thật kĩ chứ không được học phất phơ, qua loa thì sẽ không thành tựu được Thánh trí tuệ của Đức Phật. Hai tay mình chắp lại thì mình rõ biết chỗ tiếp xúc ngay hai tay, mình rõ biết sự đụng chạm đó thì đó là thân thức.
Tiếp theo là sự rõ biết thọ; tưởng; hành là ý thức. Chúng ta cần nhớ thọ; tưởng; hành là ở trong tâm, năm thức trước là biết ở ngoài, con mắt biết sắc, nhĩ thức thì biết được âm thanh, còn tỷ thức thì biết mùi, thiệt thức là biết vị, thân thức là biết ngay chỗ đụng chạm, những cái này biết ở ngoài gọi là ngũ trần, ngoại trần, còn ý thức không biết bên ngoài mà biết bên trong, nó biết thọ; tưởng; hành bên trong.
Ví dụ đã đến giờ đánh kẻng lên thọ trai, từ sáng giờ đã đói bụng mà hôm nay lại có trai Tăng mười món, toàn là những món mình thích, thức ăn bay mùi thơm ngào ngạt. Mắt nhìn thấy sắc là những món ăn chính là nhãn thức, mũi mình ngửi mùi thơm là tỷ thức, chưa gắp đồ ăn là trong bụng đói cồn cào, gắp để vào miệng thì tê lưỡi đó là thiệt thức, khi ăn có tiếng nhai, húp nước, gắp đồ ăn thì trong tâm vận hành những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ mà mình đã từng ăn món đó, hương tưởng, vị tưởng hiện khởi lên. Trong tâm mình thấy được có những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó cho nên buổi ăn là chỗ tu rất công phu.
Sau đây chúng ta bước qua bài kinh Thủ chuyển, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về những khía cạnh, phương diện thấy biết về ngũ uẩn, chúng ta sẽ đào sâu hơn về ngũ uẩn qua bài kinh Thủ chuyển,Tương Ưng Bộ, tập III. Mỗi một lần Đức Phật nói về năm uẩn trong một cơ duyên nào đó thì ngài sẽ đưa ra một khía cạnh, phương diện, góc độ về pháp đó, đến lần khác thì ngài lại đưa ra trí huệ, góc độ khác.
IV. Sắc uẩn
Khi chúng ta học và nhất là đã có bộ phân loại kinh Nikāya của sư cô Chơn Tín Toàn, trong phần sắc thì cô sẽ đem hết tất cả những bài kinh nào Đức Phật nói về sắc uẩn vào chung một nhóm, đọc trong đó sẽ thấy tất cả những phương diện, khía cạnh, góc độ, trí tuệ của Đức Phật khai triển về sắc uẩn. Cho nên khi học phải để ý chứ không phải nghĩ rằng sao bài kinh này ngài nói vậy mà sao qua bài kinh khác ngài lại nói khác đi, mà qua những bài kinh đó chúng ta lại được thấy nhiều phương diện, góc độ khác nhau về năm uẩn.
Chúng ta nhớ học kinh Nikāya không được sai một chữ, những cái khác khi học có thể biến tấu, hiểu ý thì nói được nhưng cái này sai một chữ là đi một dặm vì đây là định lý chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác cho nên học kinh Nikāya phải thuộc lòng, nếu không thuộc thì phải lấy bài kinh ra đọc, không được tự ý suy diễn. Đây là điều tuyệt đối quan trọng khi học kinh tạng Nikāya, chỉ cần sai một chữ là không thành.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Sắc là do đất, nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo thành. Cái chuông, đồng hồ, con người, bàn ghế, xe cộ… đều do đất, nước, gió, lửa tạo thành. Đất, nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo thành thì cái đó gọi là sắc, như vậy cả trái đất này đều là sắc, Đức Phật chứng ngộ cả địa cầu này chỉ là sắc, thêm chữ uẩn nữa nghĩa là tổ hợp của sắc chất, tổ hợp của sắc tướng do tứ đại tạo thành.
"Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Sắc là do có thức ăn mà được duy trì. Tập là tập hợp, tụ tập, tích tập, nhóm họp để sanh khởi ra, trong kinh Nikāya dùng từ nào là từ đó rất kinh khủng chứ không phải là chữ bình thường của phàm phu, chữ này được bậc tối tôn tối thượng sử dụng, mỗi một chữ là cả một khung trời trí tuệ cho nên học kinh Nikāya phải nghiền ngẫm và quán chiếu từng chữ một. Đức Phật nói tất cả pháp tập khởi nghĩa là nó tụ tập, nó tập hợp, nhóm họp lại rồi mới sanh khởi lên. Muốn có một cây bông hướng dương mọc khỏe như vậy thì biết bao thứ tập hợp trong đó, nào là đất, nước, phân bón, cây giống, nhiệt độ, chăm sóc, khi phát triển được cây hoa hướng dương như vậy là nó đã tụ tập rồi mới sanh khởi ra như vậy.
Sở dĩ nó sanh khởi ra được là nhờ thức ăn, thức ăn của nó là đất, nước, không khí, phân bón, ánh nắng mặt trời. Như vậy sự sanh khởi của nó phải có điều kiện, có những cái phải nương dựa vào mới tồn tại được chứ tự động nó không sanh khởi được. Tấm thân này cũng vậy, nếu một tuần ăn không được, nửa tháng ăn không được, đồ ăn phải xay nhuyễn ra đổ vào đường ống đi thẳng vào ruột thì thật khổ sở cho nên thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Sự hiện hữu, sự sanh khởi của thân này là nhờ tụ tập, tập hợp lại, không phải chỉ là đồ ăn trên quả đường mà chúng ta đang ngồi đây cũng đang ăn không khí, nếu ngưng lại là có chuyện xảy ra, ngưng thở là chấm hết.
"Đem vào là nhờ gió,
Tống ra cũng gió đưa.
Sự hô hấp tuần hoàn,
Tất cả đều do gió.
Một phen gió nghiệp dừng,
Thân này như khúc gỗ".
(Gió Nghiệp - Thiền viện Chân Không, tháng 8/1982)
Đó là sự thẩm thấu, quán chiếu của ngài, còn mình nhiều khi quên mất điều này, cứ nghĩ hôm nay cũng vậy thì ngày mai cũng vậy, ngày kia cũng sẽ như vậy nhưng nào ngờ bị lây bệnh thành F0, lúc ra đi là hình hài một con người nhưng khi trở về là một hủ cốt, ăn không được, thở không xong, dù có gắn máy oxy vào cũng không thở được là chấm hết. Đó là minh chứng cho câu nói thức ăn tập khởi thì sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt, còn ăn uống, còn thở là còn sống, còn ngồi dậy được là còn sống, còn ăn không được nữa là nguy hiểm.
Hơi thở cứ mượn vào rồi trả ra, thức ăn cũng vậy, lúc đi vào thì thơm ngon, bổ béo, đến khi trả ra thì hôi thối, phải vào nơi không có ai để thải ra, lỡ đang ngồi chốn đông người mà phát ra âm thanh xấu hổ thì độn thổ cho nên tôn giả Xá-lợi-phất nói thân này là thân lủng lỗ, rỉ chảy ra những thứ bất tịnh, hôi tanh nhưng vì vô minh, tham ái nên không thấy điều này, mà có thấy cũng cho qua, thấy rồi cũng mê.
Vì thế chúng ta phải quán chiếu thức ăn tập khởi là sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt, nói đơn giản là còn ăn thì còn sống, hết ăn thì chết, còn uống được thì còn sống mà hết uống hết ăn thì chết, còn thở được thì còn sống hết thở thì chết. Đó là trí tuệ về thân xác này, về sắc pháp này, về sắc uẩn này.
Mỗi một uẩn trong năm uẩn thì Đức Phật chỉ cho mình bảy loại trí tuệ để quán chiếu. Về sắc thì thứ nhất là sắc, thứ hai là sắc sanh, thứ ba là sắc diệt, thứ tư là sắc diệt đạo, thứ năm là vị ngọt của sắc, thứ sáu là sự nguy hại của sắc, thứ bảy là sự xuất ly khỏi sắc. Mỗi một uẩn như vậy thì Đức Phật dùng Thánh trí huệ đánh vào bảy phương diện của tâm chấp thủ chúng sanh. Tất cả những định nghĩa về sắc đều là pháp quán chiếu và cần thuộc lòng, khi nói về sắc là nói đúng từng chữ. Từ đâu sắc sanh ra? Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, còn sắc diệt là do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, đó là ba trí về sắc. Phương pháp tu tập đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Bát Chánh Đạo.
"Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
"Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham đối với sắc, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là xuất ly của sắc". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Lạc hỷ là sự vui thích, vui sướng, vui mừng, là thích thú, hân hân, do duyên với sắc mà mình sanh khởi lên những cảm giác hoan hỉ, khoan khoái trong đó thì đó là vị ngọt. Vị ngọt này giết chết tất cả tam giới, chúng sanh không ra khỏi vị ngọt này, phòng học chúng ta rất trang nghiêm, sạch sẽ nhưng hôm nay thầy đổi ý cho ra bóng cây học không có bàn ghế gì cả thì lúc đó cảm thọ của mình là khó chịu, khổ thọ. Đó là mình bị vị ngọt trói cột, lỡ hôm nào học mà cúp điện nóng nực thì mình khó chịu vì mình bị vị ngọt của máy lạnh trói cột.
Chúng ta bị vị ngọt này ám ảnh, xâm chiếm, nhận chìm mà mình không biết, mình phải biết cái nào là vị ngọt cái nào là vị đắng của sắc rồi sau đó mình mới thoát ra khỏi nó. Bây giờ mình làm việc mệt mỏi từ sáng đến trưa ai cũng được cho ly cacao sữa mát lạnh, đến lượt mình chỉ còn nước suối trong khi mình lại làm nhiều nhất thì cảm thọ mình ra sao? Tại sao có cảm thọ không hài lòng đó? Vì bị vị ngọt của ly cacao sữa mát lạnh đó làm cho mình sân, mình thích, mình muốn mà mình không được nên sân lên.
Đang ngủ ngon mà hai giờ đêm bị gọi dậy đi làm công việc thì mình tức tối, đó là mình bị vị ngọt của giấc ngủ trói cột. Mình đem hết tâm tư, sức lực trồng hoa đến ba tháng mới ra bông, vậy mà đến chê bông xấu thì mình tức lên cho nên những phiền não bủa văng khắp mọi nơi, mình phải cẩn trọng, theo dõi kĩ lưỡng từng chút một, bám sát, hộ trì, canh chừng, kiểm soát trong thọ; tưởng; hành.
Đang tu hành ngồi thiền an lạc, thanh tịnh nhưng có Phật tử nữ đến cúng dường, đến khi về thì bị hình bóng người Phật tử đó ám ảnh, chập chờn trong tâm, đó là vị ngọt của sắc tưởng, của những cảm thọ khi tiếp xúc, khi nở nụ cười, lời nói dịu dàng, ngọt ngào, đến khi trở về thì bị hình bóng đó ám ảnh, cảm giác đó lưu giữ, hình ảnh người đó lưu trữ trong tâm. Mình đang ngồi thiền nhẹ nhàng nhưng đột nhiên bị gọi ra làm công việc thế là đang tu nhưng vẫn sân lên, khó chịu, bực bội, đó là vị ngọt của thiền, mình muốn ở trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu đó, bị kêu ra cảm thọ đó nên khó chịu nhưng mình không biết đây là vị ngọt, mình chỉ biết mình đang tu mà cũng không cho tu chứ không biết mình đang bị dính mắc trong vị ngọt.
Có Phật tử cúng cho chiếc xe đời mới lên ngồi chạy thử thấy thích thú, khoái chí nhưng do xe mới chưa quen nên gây tai nạn, thế là sự nguy hại xuất hiện. Phải thường xuyên quán sự nguy hiểm và tác hại thì mới thoát ra được, còn bây giờ chỉ thấy vị ngọt thì làm sao thoát ra khỏi nó, chỉ toàn thấy xe đẹp, xe mới, thích thú, khoan khoái, hoan hỉ thì làm sao thoát ra khỏi nó.
Mình thấy hai vợ chồng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ, mắc tiền thì mình cứ tưởng họ hạnh phúc, sung sướng, tuyệt vời lắm nhưng mình không biết họ chuẩn bị ly dị, không thì hai vợ chồng đánh nhau ầm ầm, đồ đạc trong nhà đập vỡ hết thế mà có khách lại hỏi hai vợ chồng dạo này thế nào thì bảo hai người vẫn ổn, vẫn hạnh phúc. Vì thế cần quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại của sắc thì mới đưa tâm xuất ly, thoát ra khỏi sắc. Ở đây cũng là sự như lý tác ý, nếu không như lý tác ý thì không thể quán được.
Vô thường là sự đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ chứ nói vô thường không là không có cảm thọ. Vô thường là bất thình lình, là tứ đột đã nói ở trên. Bất thình lình thành F0, bất thình lình lên tăng xông, bất thình lình đứt gân máu, bất thình lình bị tai nạn giao thông, bất thình lình bị chém chết, bên kia hát karaoke ồn ào hàng xóm qua nhắc vài câu thế là bị đâm, đưa vào bệnh viện không kịp chết trên đường đi. Đó là sắc này chịu sự biến hoại khốc liệt, bản chất của sắc là đau khổ, là thống khổ, là khổ lụy, là biến đổi, đột biến, không sớm thì muộn cũng đi đến chỗ hoại diệt, chết chóc, nhất định phải như vậy chứ không thể khác được.
Đó là mình quán sự nguy hại của sắc, cứ tác ý nhắc nhở liên tục để không còn tham muốn, tham lam nữa. "Cái đồ biến đổi tan hoại này có gì để mà hơn thua, giành giật", chỉ vì vài tấc đất mà anh em tương tàn cho nên bản chất của sắc là khổ, có cái gì là khổ cái đó, có ít khổ ít, có vừa khổ vừa, không có không khổ nhưng không có của bậc Thánh nhân mới được, còn miệng nói không có nhưng tâm ngược lại thì không phải, không có ở đây là của bậc chứng được Thánh trí tuệ về ngũ uẩn thì mới gọi là không có của bậc Thánh cho nên thường xuyên tác ý và quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại của sắc này.
Đức Phật định nghĩa vị ngọt của sắc này là ở làng đó, quốc độ đó, thành ấp đó có cô gái tuổi tròn đôi mươi, mặt hoa da phấn, cao ráo, đẹp đẽ, sang trọng, một trận cười nghiêng nước, hai trận cười đổ thành thì đó là vị ngọt. Thời gian trôi qua ba mươi năm, bốn mươi năm thì tóc bạc, da nhăn, lưng còng, đứng ngồi khó khăn, đó là sự nguy hiểm và tác hại của sắc.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị ngọt các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, như các thiếu nữ Sát-đế-lị, thiếu nữ Bà-la-môn hay thiếu nữ Gia chủ, tuổi khoảng độ mười lăm hay mười sáu tuổi, không quá lớn, không quá thấp, không quá ốm, không quá mập, không quá đen, không quá trắng, này các Tỳ-kheo, có phải trong thời ấy, họ đạt đến mỹ diệu tối thượng, sắc đẹp tối thượng?
-- Bạch Thế Tôn, phải.
-- Này các Tỳ-kheo, y cứ sắc đẹp mỹ diệu ấy khởi lên lạc thọ và hỷ thọ, như vậy là vị ngọt các sắc pháp.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, ở đây người ta có thể thấy bà chị ấy trong một thời khác, khoảng tám mươi tuổi, chín mươi tuổi hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, phải dựa gậy để chống đỡ, vừa đi vừa run rẩy, đau ốm, tuổi trẻ đã tận, râu rụng, tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, tay chân bị khô đét tái xám. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp". (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)
Khi cô gái đó tắt thở thì những dòng lệ của những người thân xung quanh rơi xuống, những tiếng khóc vang lên. Đưa thi hài đó vào trong thi lâm, thân nằm dài ra đó xanh đen lại, trương phình lên, nứt chảy ra, bốc lên mùi kinh hãi và khiếp đảm, những con giòi từ bên trong thi thể bò ra, bên ngoài là những con chó rừng, kên kên, diều hâu, quạ bay xuống rỉa thịt. Sau đó bộ xương chỉ còn dính lại chút máu, chút da, từ từ cũng khô quắc lại, cuối cùng chỉ còn dính lại chút gân, sau đó gân cũng không còn mà lộ ra bộ xương trắng màu vỏ ốc. Thời gian dần trôi, bộ xương đó cũng rời ra, đây là xương ống tay, nọ là xương sườn, xa xa là xương chân. Vài chục năm sau thì xương đó cũng rã nát thành cát bụi, gió thổi bay vào trong hư không. Đó là tính nguy hại của sắc pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, một ngày hay hai ngày hay ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu sắc đẹp xưa kia của cô gái đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột bộ xương, không còn thịt, không có máu, còn được gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, chỉ có toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm... chỉ còn các xương thối trở thành bột. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp". (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)
Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật thường xuyên thực tập phương pháp quán chín giai đoạn của một tử thi này mỗi ngày, mỗi giờ để nhiếp phục dục, đoạn tận dục thì mới vào được sơ thiền. Nghĩa là khi các ngài nhìn thấy sắc hay nghĩ về sắc thì tâm các ngài không còn ưa thích, ham muốn nữa, chỉ còn sự nhàm chán, chán ghét, ghê sợ, rùng rợn, không dục ái, không khoan khoái nữa thì các ngài mới tham dự được vào các tầng thiền để phá các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Còn mình tu mười năm cũng chưa chắc biết quán bất tịnh, có khi quán bất tịnh mà chỉ thấy tịnh không.
Mình không đi đúng đạo lộ của Đức Phật cho nên những gì Đức Phật và những bậc Thánh chúng thành tựu mình không thành được. Mình chỉ thích cái gì cao siêu, cao thâm, nói chuyện toàn trên trời trong khi thân tâm đầy rẫy tham, sân, si, dục ái, bản ngã, đó là tâm không chân thật, tâm không hiền thiện, tâm không chân chánh nên không thành tựu được chánh pháp. Những bậc thuộc vào hàng bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật phải thành tựu bốn tâm: diệu hạnh, ứng lý hạnh, trực hạnh, chân chánh hạnh.
"Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Các thầy Tỳ-kheo thời xưa phạm lỗi là khai ra và nhận lỗi ngay, còn mình hỏi là chối ngay, bảo không có gì cả, tâm mình không chánh trực, không ngay thẳng, không hiền thiện, không thật thà. Tâm tà thì làm sao thành tựu chánh pháp được? Nhận diện ngũ uẩn là nhìn thân tâm một cách chính xác, trực chỉ, trực diện, trực tiếp, có sao là nhìn thấy đúng như vậy, đó là bước đầu để thành tựu đức hạnh của bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, đó là tâm chánh trực, tâm ngay thẳng.
Nếu có tham thì nói là có tham, nếu có sân thì nhận là có sân, cảm thấy xấu hổ và xin sám hối với thầy, với sư huynh, sư đệ "con thấy cảm thọ sân hận là cái thứ thấp hèn, thấp kém, hèn hạ, xấu hổ. Con muốn đào thải cảm thọ sân hận, bực bội này ra khỏi thân tâm con, con không muốn chất chứa nó nữa, con xấu hổ khi có những ngôn hạnh như vậy đối với huynh đệ đồng tu", sau đó ra lạy sám hối giữa đại chúng và khóc ròng xúc động thì người đó tu mới tiến, ngược lại được chỉ lỗi thì quanh co ngụy biện hoặc đổ lỗi người khác, đó là tâm không ngay thẳng, không tàm quý tức là không thấy xấu hổ và sợ hãi thì không thành tựu được Thánh pháp vi diệu tối thượng này.
Sau khi mình quán chiếu thật nhiều về sự nguy hiểm và tác hại của nó thì mình mới nhàm chán. Tại sao mình không ở ngoài đời mà mình đi tu? Vì mình thấy ngoài đời nhiều phiền não, nhiều khổ đau, nhiều lo lắng, bất an, hệ lụy, mình thấy được tác hại của nó nên mình xuất gia. Đến khi nào mình chán chê, ê chề cái sắc, không còn muốn sắc thì xuất ly khỏi sắc, ngày nào mình chưa gớm ghê, chưa nhàm chán, chưa muốn từ bỏ thì ngày đó còn khổ.
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2)).
Đi sâu vào dòng kinh này rồi chúng ta mới thấy được trí tuệ Đức Phật vi diệu, tối thượng ngoài sức tưởng tượng. Cho đến khi nào nhìn vào đống phân, nhìn vào đống giòi, đống bầy nhầy gan ruột thấy ớn lạnh, không còn ham muốn nữa mà chỉ muốn thoát ra khỏi nó thì lúc đó xuất ly khỏi sắc. Một khi đã xuất ly khỏi sắc thì không còn trở lại những xác thân giống như vầy nữa, sở dĩ mình có những xác thân như vầy là mình còn yêu thích, còn khoan khoái, mình nắm giữ và cho rằng thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Các bậc Thánh Tăng ngày xưa quán bất tịnh đến khi chứng ngộ rất nhiều, những vị bệnh gần chết thì chứng ngộ ngay lúc đó vì nếu thiện xảo trong pháp tu thì lúc bệnh dễ chứng ngộ hơn lúc không bệnh. Tại sao lại vậy? Vì lúc bệnh là lúc bày hiện ra tính nguy hại của sắc, đau chỗ này, nhức chỗ kia, thốn chỗ nọ, khó chịu toàn thân, có như vậy mới thấy thân này đáng nhàm chán, thân này là ổ vi trùng, là nơi chứa nhóm bệnh hoạn, là tổ hợp của những virut, vi trùng, vi khuẩn.
Mình cứ suy nghĩ và tác ý như vậy liên tục rồi đến một ngày thể nhập Thánh trí huệ, nhàm chán hoàn toàn đối với tất cả hình sắc, sắc tướng trên thế giới này, không còn ái luyến, ham thích, mong muốn đối với bất cứ cái gì trên cuộc đời này nữa thì lúc đó là Bất Lai Thánh quả, lên Tịnh Cư Thiên không còn ở thế giới loài người nữa, thậm chí là chứng đạt A-la-hán, ái tận.
Đạo lộ rất rõ ràng để mình thực tập. Bây giờ nhìn đồ đẹp mình có ham không, nhìn người đẹp mình có khởi dục ái không? Nhìn vào nội tâm là biết ngay, mình bị như vậy vì Thánh trí tuệ chưa thành tựu, Thánh tri kiến chưa thể nhập, thượng nhân pháp chưa thẩm thấu cho nên nhìn đẹp là thích, xấu là không ưa, nói ngọt là phơi phới, nói nặng là sân si, phẫn nộ, đó là tâm chưa được tu tập, tâm chưa được an trú, tâm chưa được nhiếp phục, chế ngự, tâm chưa nhu nhuyến dễ sử dụng, đây là tâm rừng rú, tâm hoang vu.
Phải học kĩ những trí huệ này rồi đọc kinh mới hiểu được, nếu không đọc vào chỉ hiểu chữ nghĩa thôi, chưa thấy được ngũ uẩn, chưa thấy được tham, sân, si thì đọc vào kinh chỉ hiểu chữ nghĩa, kiến thức thôi. Phải tập nhận diện ngũ uẩn trong lúc tham, sân, si nổi lên, lúc đó thọ ra sao, sắc ra sao, tưởng ra sao, hành, thức như thế nào, cái này rất quan trọng và mình thấy được những cái này thì đọc vào tạng kinh Nikāya mới hiểu được, nếu không nó vĩnh viễn là bí mật, là mật mã, là khẩu quyết.
Ngày xưa con đọc kinh này mười năm mà không hiểu, khi không có người tu hành thành tựu chỉ cho mình thì mình không hiểu được, mình phải có một sự thực tập chân thành, tha thiết, khát ngưỡng, thật sự muốn tu học để giác ngộ, thật sự muốn diệt hết tham, sân, si, bản ngã, thật sự muốn thành tựu mục đích cao thượng, tối thượng của người xuất gia thì mình sẽ đạt được với tâm chân thành tu học. Còn tu mà cứ phân biệt tông phái, ta đây, cho rằng mình giỏi, mình hơn, cống cao ngã mạn là không bao giờ mình thành tựu được Thánh tri kiến.
Muốn học pháp là phải đánh đổ bản ngã một cách không thương xót, những ý niệm hơn thua, đúng sai, hay dở phải đập vỡ thì mình mới học được Thánh pháp vi diệu của Đức Phật. Con xuất gia đến nay là ba mươi năm không bao giờ có ý niệm học cái này hay hơn người ta, mình cao hơn người ta mà ba mươi năm qua con chỉ tìm cầu đâu là lời dạy chân xác của Đức Phật để đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã cho nên con không bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của các tông phái dù con học tất cả các tông.
Con đi vào dạy trong giới luật viện của Luật Tông, dạy bên chùa Hoằng Pháp của Tịnh Độ Tông, dạy bên trường Phật học là của Giáo Tông và có chia sẻ ở trên thiền viện Trúc Lâm là của Thiền Tông nhưng khi học đạo là con không để tâm mình bị chấp vào bất cứ phương diện nào cho rằng đây là đúng nhất. Con chỉ có tâm tha thiết làm sao tìm ra được thật sự phương pháp diệt tận tham, sân, si và cuối cùng con cũng tìm ra, đó là nhờ ân đức của Hòa Thượng tôn trưởng Thượng Thanh Hạ Từ khai sáng suốt mười lăm năm, từ chỗ đó mới đào sâu vào lời Phật dạy thì mình phát hiện ra không ngờ tâm mình đầy rẫy cấu nhiễm, bản ngã như vậy, sau đó mới thấy hạnh phúc trong giáo pháp trong đời tư cho nên tinh thần tu học là phải dùng tâm khách quan, tâm cởi mở để đón nhận, tiếp nhận lời dạy của Đức Phật thì chúng ta sẽ học được trí tuệ thần diệu tối thượng của Như Lai, đừng học được một chút hay biết được một chút rồi lên mặt, ta đây, ra vẻ ta là số một, cái đó là thất bại.
Hòa Thượng viện chủ ở đây có tâm rất rộng lớn, ngài lập lên cái trường cho chúng ta học là cả một tấm lòng từ bi. Ngày xưa ngài đã từng học ở tất cả các trường Phật học, ngài đi qua hết tất cả tông phái nên cái nhìn của ngài rất rộng lớn, sâu sắc và bao quát. Vì thế mình cần bám sát vào lời dạy của Đức Phật rồi thực tập thì mình sẽ thấy kì tích, phép màu, những điều lạ lùng xuất hiện và nhất là môi trường ở đây là tuyệt vời, không phải dễ để được vào đây tu học. Hòa Thượng đã tạo ra ngôi trường này cho nên các thầy có phước báo vô cùng lớn, bây giờ chỉ còn pháp học, pháp hành, pháp thành thôi, con mong các thầy chịu khó học thuộc lòng những định nghĩa căn bản của ngũ uẩn rồi thực tập nhận diện khi ngồi thiền, khi sinh hoạt, khi nóng giận, khi tham muốn khởi lên.
V. Tham – sân – si
Những lúc bình thường không thực tập thì khi nó khởi lên là mình nhìn không ra. Lúc bình tĩnh như vầy mà nhìn không ra thì lúc bản ngã sanh khởi lên làm sao nhìn ra? Cho nên tu tập là trong lúc thường nhật, bình thường. Tại sao không đợi đến khi có chiến tranh mới luyện binh mà phải luyện trong thời bình trước đó vài năm cho đến vài chục năm? Đó là đợi đến khi có chiến tranh thì làm sao luyện được, cũng vậy, đợi đến khi giận lên thì làm sao trải tâm từ được nữa, bình thường phải nhận diện ngũ uẩn, phải tập trải tâm từ, phải tập kiểm tra những cảm thọ, suy nghĩ, tư tưởng trong tâm mình để khi giận lên, dục khởi lên, tham khởi lên, bản ngã khởi lên, hơn thua sanh khởi thì mình mới nhìn ra được bộ mặt của nó, mình mới có khả năng đánh ngã nó.
Tham, sân, si nằm ở đâu? Nằm trong cảm thọ, nói đầy đủ là trong cảm thọ lạc có tham trú ẩn trong đó, trong thọ khổ có sân trú ẩn trong đó và cảm thọ không vui không khổ có si trú ẩn trong đó. Đó là mình nói tổng hành dinh của nó nhưng thật ra trong suy nghĩ cũng có tham, sân, si, trong hình bóng cũng có tham, sân, si nhưng tổng hành dinh của tham, sân, si là nằm trong cảm thọ, còn khi đã tham, sân, si thì đầy đủ cả ngũ uẩn.
Ở đây chỉ mới nói tâm thôi, còn bây giờ là nó biểu hiển trên thân, sân phát ra ở ngay lồng ngực, sau đó lên mặt, đỏ tai, đỏ mắt. Lồng ngực là nơi tập trung tất cả cảm thọ, khi mình si thì nó thể hiện ở nơi con mắt vì mắt mở không lên, lờ đờ, trì trệ, nhìn người nào mà người đó tinh minh, sáng tỏ thì người đó thông minh. Khi mình ngồi thiền tinh anh, chánh niệm, sáng suốt thì con mắt tỏ tường, minh bạch, còn khi ngồi vào bị hôn trầm, lờ đờ thì con mắt cứ nhướng lên sụp xuống, như vậy si biểu hiện nhiều nhất trên đôi mắt, còn dục tham biểu hiện ở bộ phận sinh dục.
Đó là ba chỗ của tham, sân, si, trong cảm thọ là phần tâm, còn phần thân vẫn có chỗ biểu hiện của tham, sân, si cho nên khi có những cảm thọ của tham, sân, si thì mình phải hướng tâm vào ngay đó để tác ý đánh đuổi, nếu nóng ở lồng ngực sân giận lên thì tác ý "thôi đi, đừng thiêu đốt mãi nữa. Thích giận lắm hả? Thích đốt cháy nhau lắm phải không? Mày làm ơn làm phước an tịnh lắng dịu để tu đi, đừng quậy nữa". Mình tác ý một lúc là sẽ thấy cảm thọ lắng dịu xuống, tan ra, mình trị tham, sân, si ngay trong tâm của mình, mình tác ý tâm từ một chút là lồng ngực mát mẻ, nhẹ nhàng, dễ chịu ngay cho nên các thầy Tỳ-kheo hay tán thán pháp của Thế Tôn là khéo thuyết, thiết thực, hiện tại.
"Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu)
Đến để thấy tham, sân, si vận hành trong tâm mình, thấy nguyên nhân sanh khởi ra đau khổ và có phương pháp nhiếp phục, diệt tận đau khổ ngay trong tự thân của mình. Dục khởi lên cũng hướng tâm vào ngay đó tác ý "chính vì mày mà tao không tu được, suốt ngày cứ khao khát, thèm thuồng, cứ đòi hỏi, chạy đi tìm kiếm trong vô lượng vô biên kiếp mà vẫn chưa vừa lòng hay sao? Mày cứ ham thích, đòi hỏi những thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, hèn hạ", mình cứ tác ý liên tục "mày thích giòi lắm phải không, thích phân và nước tiểu lắm phải không? Hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi".
Mình tác ý như vậy là tự động cảm thọ đó lắng xuống, dịu xuống, nhẹ nhàng lại, có hiệu quả tức thì nhưng phải chịu khó rà soát thường xuyên và liên tục, lúc nào cũng phải an trú cảm giác toàn thân để khi nó khởi lên là mình giác hiện ngay. Trước khi ngủ phải tác ý diệt dục, khi ngủ dậy phải tác ý diệt dục, trong khi ngồi thiền mà nặng về dục thì cũng tác ý diệt trừ nó liên tục, quở trách, la mắng để nó thấm vào cảm thọ, tâm ngông nghênh, hoang vu bị chế ngự. Phải có tuệ lực, hùng lực, phải có những phương pháp thật mạnh để đánh tan nó, không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai, chặt nó như chặt cây Tala, diệt tận hoàn toàn. Đối với cái si cũng vậy, phải cảm thọ mở hai con mắt ra thật mạnh, tác ý la mắng cơn hôn trầm đó thì mình sẽ thấy con mắt mở sáng ra, minh trí, minh tuệ, tinh anh.
./.
Nhận Diện Thân Tâm 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc nhở khi hành thiền PAGEREF _Toc179570353 \h 1
II. Ý hành PAGEREF _Toc179570354 \h 3
III. Thức uẩn PAGEREF _Toc179570355 \h 9
IV. Sắc uẩn PAGEREF _Toc179570356 \h 12
V. Tham – sân – si PAGEREF _Toc179570357 \h 24
I. Nhắc nhở khi hành thiền
Ý thức là rõ biết được thọ; tưởng; hành. Khi mình bệnh có những cảm giác khó chịu, có những hình bóng trong sinh hoạt của đại chúng hiện ra trong tâm, có những suy nghĩ bệnh hoạn thật khó khăn cho sự tu học, không thoải mái thì lúc đó mình biết rõ đang có cảm giác, suy nghĩ, hình bóng đó chính là ý thức. Ý thức là biết được đang có cảm thọ gì, như vậy cái bệnh khó chịu thuộc về khổ thọ, ý thức rõ biết đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì, như vậy ý thức là biết được thọ; tưởng; hành ở bên trong.
Mọi người cần để tâm thật kĩ vì đây là Thánh trí huệ của Đức Phật nên nó cực kì quan trọng, khi mình thấy được, nhận diện được, nhìn ra được rồi mọi người tu học sẽ thấy rất tuyệt vời, thân tâm mình sẽ rành rõ như chỉ như lòng bàn tay, tất cả các pháp trong ngoài sẽ hiện rõ minh bạch, không có gì trong thân tâm mà mình không biết được. Nhận diện ngũ uẩn trong lúc bệnh rất hay vì đó là lúc mình phản tỉnh.
Khi mình ngồi thiền mà nhắm mắt thì thứ nhất nếu không bị ngủ gục thì tâm mình cũng rơi vào trạng thái của tưởng, những hình bóng này nọ sẽ xuất hiện. Thứ hai là khi nhắm mắt thì tâm mình sẽ đi vào trạng thái si ám, các pháp không rõ. Thứ ba là rất dễ đi vào hôn trầm, ngồi một hồi là mình tỉnh không tỉnh mà mơ không mơ, mình sẽ ngủ gục. Cách Đức Phật dạy là phải thực hành ba pháp, tức là phải đặt niệm trước mặt, tầm nhìn rộng mở về phía trước hết mức ra hai bên, tuyệt đối không được nhắm mắt vì nhắm mắt sẽ rơi vào tưởng, vào hôn trầm và vào si ám.
Pháp thứ nhất Đức Phật dạy khi ngồi thiền là đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, rõ biết trước mặt. Thứ hai là cảm giác toàn thân, mình phải cảm nhận được tất cả cảm giác từ đỉnh đầu đến gót chân thuộc loại cảm thọ gì, mình an trú trong cảm giác toàn thân. Thứ ba là nội tâm tỉnh giác, tức là chúng ta phải nhận biết được từng thọ; tưởng; hành trong tâm. Đây là ba pháp ngồi thiền cần phải thực tập thường xuyên và liên tục theo như Đức Phật đã dạy trong kinh Nikāya, khi đó căn – trần – thức của mình rất tinh minh
Rõ biết trước mặt là cảnh trước mặt mình rõ biết, nó thuộc về trần, khi an trú cảm giác toàn thân thì căn thân mình rõ biết nó đang trong trạng thái gì, đi sâu vào bên trong nội tâm tỉnh giác là chúng ta biết được bên trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ gì đang có mặt. Chúng ta thấy biết rõ từng cái cho nên đó mới là thực hành ba pháp, đó là cách ngồi thiền được Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya cho nên chúng ta cần nhớ khi ngồi thiền đừng nhắm mắt mà cũng không phải mở to ra nhìn thẳng ra bên ngoài, tầm nhìn của mình tầm 1m trước mặt, nhãn thức rộng mở hết mức chứ không phải lim dim vì như vậy rất dễ ngủ gục.
Nhất là cả ngày làm việc, học hành mệt mỏi mà tối vào ngồi thiền như vậy thì chỉ có ngủ gục thôi, vì thế tuyệt đối không được nhắm mắt khi ngồi thiền và phải an trú cảm giác toàn thân, xem lại cảm giác từ đỉnh đầu đến gót chân hiện giờ ra sao, cảm nhận cảm giác bàn tay, từng ngón tay, cánh tay, ngực, mông, bụng, lưng, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, từng ngón chân đều phải được cảm thọ cảm giác của toàn bộ cơ thể. Cái này trong mười sáu hơi thở Đức Phật dạy gọi là cảm giác toàn thân, từ cảnh bên ngoài là mình sáng tỏ trước mặt của mình, cái gì mình cũng biết, kế đó là thân mình như thế nào mình cũng biết rõ, sâu vào tâm đang có suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng gì mình cũng biết rõ.
Cho nên cách ngồi thiền được Đức Phật dạy như vậy thì căn – trần – thức rất tinh minh, không dễ gì hôn trầm được vì lúc đó phải làm việc tối đa công sức. Người tu nắm được pháp thì thật sự làm việc rất năng động, không phải vào ngồi thở vô thở ra nhắm mắt là xong mà ngược lại làm việc rất nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, trong khi ngồi thiền là phải xung trận, tác chiến, phải dùng biết bao chiến thuật, phương pháp để đánh trận. Có khi nào mình ra trận mà để giặc đánh tan tác không có phương pháp tác chiến gì không?
Cho nên khi ngồi thiền là những khi lâm trận, xung trận, lúc đó là trực tiếp đối diện với những lậu hoặc, hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ bên trong, phải nhìn ra nó đang có gì trong đó và mình xử lý từng cái. Nếu là thiện pháp thì cho nó phát triển, nếu là bất thiện pháp thì phải tác ý diệt tận, loại bỏ, tẩy sạch nó liền, khi ngồi thiền theo tinh thần kinh Nikāya thì hoạt động rất nhiệt tâm, cả một nhiệt huyết trong khi thực tập, không chỉ trong lúc ngồi thiền mà cả trong lúc đối duyên xúc cảnh, khi ăn cơm, khi đối diện người khác hay khi một mình đều phải quay lại để nhận diện những hình bóng, cảm giác và những suy nghĩ trong tâm. Những cái này chúng ta đều đọc được hết, đều theo dõi được hết.
Hôm trước chúng ta đã đi vào định nghĩa ngũ uẩn số 3 của bài kinh Đáng Được Ăn trong Tương Ưng Bộ, tập III. Chúng ta đã nghe Đức Phật định nghĩa về thọ; tưởng; hành, định nghĩa 1 đơn giản nhưng đến định nghĩa 2 thì mở rộng ra, còn đến định nghĩa 3 thì sâu sắc. Hành ở đây là ý hành, sau đó phát ra khẩu hành rồi đến thân hành, khi mình nói rằng "bệnh rồi mới thấy thân thể này rất khó tu" là mình thấy được tính chất bệnh hoạn, vô thường của thân này.
Một câu nói đó làm hiện hành ra các pháp, thân này là sắc, sắc này là biến đổng, bệnh hoạn, bất an, cảm giác trong khi bệnh khó chịu thì đó là thọ, những hình bóng trong tâm mình là tưởng. Mình thấy được thân xác này đầy rẫy bệnh tật, bất an, vô thường, không như vậy hoài mà nó luôn biến đổi trong trạng thái bứt rứt, khổ thọ, câu nói đó làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh, câu nói đó biểu hiện ra ngũ uẩn để người ta biết mình đang như thế nào, biết được tính chất của đời sống thân tâm ngũ uẩn này là bất an, là bệnh tật. Câu nói này xuất phát từ trong suy nghĩ của mình, từ ý hành rồi phát ra khẩu hành.
II. Ý hành
Suy nghĩ ở trong tâm ý mình thì gọi là ý hành, lời nói phát ra ở miệng là khẩu hành, cái hành động trên thân thể mình thì gọi là thân hành.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là hành ?
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là các hành". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Từ trong suy nghĩ phát ra lời nói, nếu mình không nói ra thì không ai biết gì cả. Mình ngồi im lặng không nói gì cả thì không ai biết gì cả, còn nếu như nói "mấy nay tôi thấy mình tu tinh tấn lắm, tôi nhận diện được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, vui quá, mừng quá", có nói ra như vậy thì người ta mới biết mình tu như thế nào. Cái hành này làm cho hiện hành các pháp hữu vi tức là biểu hiện ra ngũ uẩn vận hành như thế nào, tình trạng ra sao, nó đang thế nào, đều nhờ từ những ý nghĩa, lời nói, hành động này thì người ta mới biết người này đang ở trong trạng thái nào, nếu người này im lặng không nói gì cả thì không biết người đó ra sao.
Biểu hiện ra ngôn ngữ, ý nghĩ, hành vi cho nên gọi là hiện hành. Chữ "tánh" ở đây là bản chất của năm uẩn, nó là vô thường, khổ não, trống không, vô ngã, trong kinh Cội rễ của sự vật Đức Phật đã nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)
Tác ý ở đây là sự tác động tâm ý, nghĩa là sự suy nghĩ và suy nghĩ chính là hành cho nên sự suy nghĩ rất quan trọng. Nếu mình không kiểm soát suy nghĩ của mình, không nhận diện suy nghĩ của mình, không phân loại suy nghĩ của mình thì mình sẽ nghĩ trong vô minh, trong si ám, suy nghĩ mà không biết ý nghĩ đó thuộc về loại nào. Trong Bát Chánh Đạo Đức Phật phân ra những loại suy nghĩ, cái nào là tư duy về dục, cái nào là suy nghĩ về ly dục, cái nào là tư duy về sân, bực bội, tức giận thì thuộc về sân tư duy và những cái nào suy nghĩ để rồi bỏ tức giận, sân hận đó thì thuộc về ly sân tư duy.
Dục tư duy, sân tư duy và hại tư duy thuộc về tà tư duy, suy nghĩ về những tham dục, tham muốn, suy nghĩ về giận người này bực người kia, suy nghĩ ngu si muốn lạm hại mình hại người, hại cả hai là những suy nghĩ sai quấy, tà tư duy. Còn những suy nghĩ lìa dục, suy nghĩ để không còn bực bội, không còn hại ai thì gọi là ly dục tư duy, ly sân tư duy và bất hại tư duy, những suy nghĩ này thuộc về chánh tư duy, suy nghĩ đúng và cũng gọi là Thánh tư duy, suy nghĩ của bậc Thánh, cho nên làm Thánh là không phải không có suy nghĩ mà họ nghĩ đúng.
Có khi chúng ta suy nghĩ những bậc thành tựu là không còn suy nghĩ gì cả là sai, trong đường tu rất cần dùng suy nghĩ để tu. Nếu chúng ta quyết định xuất gia thì có nghĩ nhiều không hay là cứ thế vào xin xuất gia thôi? Chúng ta phải đắng đo, do dự, phải nhìn biết bao khía cạnh, góc độ, những hoàn cảnh, nhìn cha mẹ, ông bà, cô cậu, mình phân tích, suy tư, nghiền ngẫm và sau nhiều lần quyết định xuất gia thì mình chắc chắn con đường mình đi cho nên tu là không phải không suy nghĩ mà là không suy nghĩ những cái sai quấy, suy nghĩ những cái đưa đến chân lý, đưa đến sự thật, đưa đến ly tham, nhàm chán, xuất ly, từ bỏ, cho nên suy nghĩ trong lúc tu rất quan trọng.
Như lý là đúng như chân lý, tác ý là tác động tâm ý đúng như chân lý. Đây là pháp cực kì quan trọng trong kinh tạng Nikāya, gần 80% pháp tu của Đức Phật dùng cái này. Tác động tâm lý đúng như chân lý thì bằng với chánh tư duy, chánh tư duy là sự suy xét chân chánh bằng với cả Thánh tư duy, là sự suy nghĩ của bậc Thánh cho nên muốn tu tiến là phải tác ý liên tục, tu như vậy rất tuyệt diệu.
Trong giai đoạn mình được nhập thất thì trong khoảng thời gian mình chỉ lấy một định tướng là quán bất tịnh, khi ngồi thiền, xả thiền hay đi kinh hành là mình tác ý "nhìn thân hôi thối bẩn thỉu này đi, đầy phân và nước tiểu, nước bọt và cứt ráy. Hãy nhìn cho kĩ đi hỡi tâm ngu si, mê muội này", cứ tác ý như vậy liên tục thì từ từ tâm khát ái sẽ bị đánh vỡ, giảm bớt những ái dục, dâm dục, sự chìm đắm trong dục hèn hạ của phàm phu sẽ giảm thiểu.
Tất cả đều nhờ sự tác động tâm ý, lúc đó thọ; tưởng; hành của mình sẽ vận hành, khi mọi người nghe Minh Thành nói thì trong tâm sẽ hiện ra hình ảnh đống phân, hình bóng nước tiểu, hình bóng một đống bầy nhầy của gan, ruột văng ra khi bị tai nạn giao thông, đó là thọ; tưởng; hành đang an trú trong sự thật. Sự thật này cũng là pháp, mà pháp này cũng là trí, là minh, là tuệ cho nên gọi là Thánh tư duy, chánh tư duy, là như lý tác ý vì mình tác động tâm ý như vậy là đúng với sự thật. Thân này có máu mủ, có phân, nước tiểu, có nhơ nhớp, bẩn thỉu và đây là sự thật, như vậy gọi là như lý tác ý.
Nếu mình nặng về dục thì mình quán chiếu, nhắc nhở, tác ý tâm mình liên tục, trong cả đi, đứng, ngồi, nằm, đi kinh hành. Mình hài tội lỗi của dục, trong kinh dùng từ là "quán nguy hại" của dục, nguy là nguy hiểm và hại là tác hại. Quán chính là như lý tác ý, tức là mình khởi lên suy nghĩ chứ đừng nghĩ thiền quán là cái gì xa xôi, phải tu thâm sâu lắm, quán chỉ là sự tác ý nhắc nhở tâm thôi.
Mình nói với tâm mình "nhìn bạn học của mày đi, có bốn đứa con, hai đời chồng", bạn nam thì "nó nằm một chỗ rồi, vợ thì tai biến, con thì bệnh đau", cũng vì cái dục, cái ái mà phải hệ lụy, trói cột, mà phải sầu, bi, ưu, não, "còn mình hạnh phúc quá vì mình đã thoát khỏi nó, mình may mắn quá khi được xuất gia, mình hân hạnh quá khi đi ra khỏi nhà lửa. Hiện tại mình đi một mình, ngồi một mình, đứng một mình trong tịnh thất, trong thiền tư, trong một đại chúng hiền thiện, trang nghiêm".
Cái như lý tác ý này càng mạnh chừng nào, càng sâu sắc chừng nào, càng đi vào nhiều góc độ, phương diện chừng nào thì trí tuệ mình càng mạnh chừng đó thì gọi là tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ là do như lý tác ý chứ không phải ngồi im lặng, không khởi gì cả, đó chỉ là một phương diện nhỏ của thiền chỉ, tức là tâm bị dao động quá thì làm cho tâm yên lặng, khi đã yên lặng thì bắt đầu triển khai thiền quán, dùng như lý tác ý, dùng chánh tư duy để phá tà tư duy.
Hòa Thượng Thanh chủ của chúng ta để lại cả một tạng Thanh Từ Toàn Tập, đó là sự quán chiếu của ngài, ngài như lý tác ý. Nếu không có suy nghĩ thì làm sao nói? Cái suy nghĩ đó căn cứ trên sự thật, trên pháp, trên trí tuệ, cái đó trở thành pháp ngữ, pháp bảo, thiền tạng, còn mình muốn nói là cứ nói rồi cãi nhau, cự cãi, bàn luận về từ bi nhưng nói một lúc ra sân si. Nói một lúc là không kiểm soát được cảm giác cho nên hôm nay chúng ta nhấn mạnh vào chỗ tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
Nắm được phương pháp tu này mình sẽ làm chủ tâm của mình, mình muốn cho mình hoan hỉ thì mình tác ý để vui liên tục, mình muốn khởi tâm từ là an trú vào tâm từ suốt cả tuần, suốt ba tháng, sáu tháng, lúc nào người này cũng dào dạt của từ bi, của tình thương. Muốn được như vậy thì phải thực tập rất nhiều, có như vậy mới thực tập được tứ vô lượng tâm, tất cả đều do sự tác ý, còn mình tu lúc đầu cũng thấy nhiệt tâm, ở lâu trong chùa thấy đơ ra, lên ngồi thiền thấy cũng bình thường, không có mùi vị gì cả, không có pháp hỷ, không có pháp lạc, không có thiền duyệt, trí tuệ không sanh, thiền định không thành tựu, không nếm được hương vị của ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú sơ thiền.
Do tu lâu mà không có pháp hỷ, pháp lạc, thiền duyệt nên đi tìm dục lạc, vui thích với những sắc tướng bên ngoài, vui thích với những danh lợi bên ngoài, không thấy được sự vi diệu trong Thánh pháp này. Đó là do rơi vào bất khổ bất lạc thọ, cảm thọ trơ ra đối với pháp, lúc đầu nghe pháp cũng thích thú nhưng nghe một thời gian thấy lạc lẽo, đó là bắt đầu rơi vào trạng thái trơ ra, không tiến bộ nữa, còn như lý tác ý làm cho mình hân hoan, phấn khởi, thích thú, nhiệt tâm, đó gọi là thiền quán.
Mọi người muốn tập tâm từ do thấy mình dễ nổi nóng, dễ giận. Thực tập tâm thương thì Minh Thành chỉ giới thiệu căn bản vì phải thực tập rất nhiều, thực tập tâm từ phải từ sáu tháng cho đến sáu năm. Mình thấy mình bực bội, khó chịu, nóng bức nên muốn tu tâm từ, mình tác ý "thiệt là tội nghiệp cho ta, mình đáng tội nghiệp quá, mình bỏ cha bỏ mẹ để vào đây sân hận, mình bỏ bà con quyến thuộc để vào đây bực bội các bạn đồng tu. Mình thật là thấp hèn, đê tiện, ba mẹ tựa cửa chờ mong mà mình không chịu tu lại đi so đo với các bạn đồng phạm hạnh. Ngươi là kẻ đáng thương nhất hành tinh này, tội nghiệp cho ta quá, tội nghiệp cho tâm sân si, ngu muội này quá. Thật là đau khổ khi có đời tu xuất gia như vậy".
Mình làm sanh khởi cảm thọ, mình thấy rõ cảm giác từ lồng ngực lan ra mặt, tai, cảm thọ lan ra cùng khắp đến gót chân là cảm thọ xót thương, ưu tư, đau khổ. "Mình đi tu mà không làm được một người tu thật sự, làm sao mình lại chất chứa những cảm giác sân hận với các bạn đồng phạm hạnh như vậy?Tại sao mình bực bội, sân si, đây là những thứ cần tẩy sạch, diệt tận hoàn toàn, không cho nó lưu trú trong thân tâm mình. Nó là rắn độc, thiêu đốt thân tâm, không đáng để mình chất chứa, ta quyết định từ bỏ tất cả cảm thọ nóng bức, nhiệt não. Ngươi tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, thành mây, thành khói, thành hư không đi". Tác ý như vậy thì cảm thọ bực bội sẽ run sợ, lắng dịu xuống và tan ra từ từ, mình thấy rõ điều này giống như bỏ viên sủi vào ly nước tan ra.
Lúc đầu là thương mình, sau đó là tác ý thương cho đối tượng mình sân hận. Trong tất cả pháp quán đều phải quán cho mình trước, mình được rồi mới quán cho người ta. Mình phải thấy thương mình trước rồi sau đó đến đối tượng mình sân hận, họ cũng là kẻ đáng thương, họ cũng là nạn nhân của những cảm thọ sân hận, họ cũng là kẻ bị hại của những cảm giác thiêu đốt, họ cũng như mình là những kẻ đáng thương nhất hành tinh. Chúng ta cùng là nạn nhân với nhau thì sân hận để làm gì? Hãy hiểu nhau, cảm thông nhau, tha thứ cho nhau, lục hòa cộng trụ đồng tu. Mình quán đối tượng kia cũng vô minh, bản ngã, cũng là nạn nhân của những cảm giác sân hận, tức giận, đốt cháy, hủy hoại thân tâm, họ thật là đáng thương, mình thật là đáng thương, chúng ta đều là những kẻ đáng thương.
Đáng thương thay cho chúng ta là những chúng sanh phàm phu ngu mê, si ám, suốt ngày chạy theo hơn thua, sân hận, hành hạ mình hành hạ người, làm khổ mình làm khổ người, làm đau mình làm đau người, tự thiêu mình rồi cũng thiêu cháy người khác. Phải làm cho tâm từ, tình thương của mình lan ra bao trùm đối tượng sân hận đó giống như lấy tấm vải trắng phủ lên người kia từ đỉnh đầu đến gót chân.
"Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Như vậy mình thấy được những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng rồi mình tác động tâm ý, quán chiếu để tâm từ lan rộng ra, bao trùm cả người kia. Sau đó khi đã trải được tâm từ với đối tượng mà mình giận thì cảm thọ bực bội trong người sẽ lắng dịu, dễ chịu, tiếp theo là mở rộng tâm từ đến tất cả bà con, cô bác, anh chị em của mình, họ cũng sân si, bản ngã, đau khổ giống như mình, giống như đối tượng sân hận của mình, tất cả đều là nạn nhân của tham, sân, si, tất cả bị cơn giận đó đốt cháy, thiêu rụi, tất cả đều đáng thương.
Trải rộng tâm từ ra khắp hữu tình chúng sanh và làm cho tâm thương lan tỏa cùng khắp về phương trước mặt, phía sau, bề dọc, bề ngang, lan tỏa ra khắp mười phương, an trú trong tâm thương vô lượng đó. Đó là thực tập từ vô lượng tâm, đó là như lý tác ý, đó là quán tâm từ, lúc đó mình sẽ thấy trong người mình sanh ra cảm xúc dào dạt, dễ chịu, nhuần thấm tất cả hữu tình vạn loại chúng sanh.
Minh Thành đang nói nhưng trong người đang có cảm thọ dạt dào, ngọt ngào, sung mãn từ đỉnh đầu đến gót chân, mình trú trong cảm thọ đó, khi tu tập một thời gian thuần thục trong tâm từ thì bất cứ lúc nào mình muốn là trú luôn trong tâm từ, chừng nào muốn xả thì xả. Muốn được vậy thì phải thực tập kiên trì, bền chí chứ không phải một ngày một bữa là được. Thực tập tâm từ cho đến mức nước mắt đầy mặt, mình xót xa, đau đớn vì tâm đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã của chính mình, sau đó mới thương chúng sanh, hữu tình vạn loại. Minh Thành nêu ra vài phương pháp để chúng ta thấy được giá trị quan trọng của như lý tác ý cũng như là hành uẩn để chúng ta vận dụng suy tư, sự tác ý chánh tư duy để tu tập.
III. Thức uẩn
"Định nghĩa SÁU THỨC
- Thấy rõ, biết rõ người, cảnh, vật - NHÃN thức
- Nghe rõ, biết rõ lời nói, âm thanh - NHĨ thức
-Rõ biết mùi hương thơm, thối - TỶ thức
-Rõ biết vị ngọt, chua, cay - THIỆT thức
- Rõ biết thân đụng chạm người, vật - THÂN thức
- Rõ biết thọ, tưởng, hành - Ý thức". (Nghi thức tu học Nikāya)
Trước nay khi chưa tiếp xúc với Nikāya thì mình học ý thức rất chung chung, còn khi đi vào Nikāya thì rất rõ ràng. Bây giờ chúng ta nhận diện sáu thức, chúng ta thấy cảnh sắc trước mặt, sự rõ biết cảnh sắc trước mặt là nhãn thức, sự rõ biết âm thanh Minh Thành đang nói là nhĩ thức. Mỗi một cái thức như vậy có phạm trù, lãnh vực riêng, nhãn thức chỉ rõ biết sắc pháp thôi chứ không biết được tiếng, các thức này bị giới hạn, trong Bát Nhã tâm kinh gọi là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới thì chữ "giới" đó là ranh giới, là giới vực cho nên cái thấy chỉ rõ biết sắc chứ không thể rõ biết tiếng được, mỗi một cái thức chỉ biết trong phạm trù nó thôi chứ không biết qua cái khác được, vì vậy nhãn thức chỉ biết được các sắc tướng.
Nhĩ thức chỉ rõ biết được âm thanh, ngoài âm thanh ra không biết gì cả, nếu ở ngoài tầm thì nó không nghe được. Trước cổng chùa có ai nói xấu mà mình không nghe được thì mình có sân không? Không sân lên vì tiếng nói ở ngoài phạm trù nhận thức của mình, âm thanh ở trong tầm nghe, nhận hiểu được thì mới biết. Lúc ngồi thiền tâm yên định cần nhận diện cho kĩ những cái này, những bài này toàn bộ đều là pháp hành, là sự chứng ngộ của Đức Phật chứ không phải bình thường, không phải học theo kiểu định nghĩa, học thuyết mà những gì mình đang học đều là Thánh trí tuệ của Đức Phật.
Đức Phật không phải chỉ chứng ngộ một pháp mà ngài chứng ngộ tất cả pháp, tất cả mọi phương diện, khía cạnh của ngũ uẩn cho nên mỗi một cái mình học là mình thấy, mình biết, mình thành tựu trí tuệ về cái đó. Mình học về hành uẩn và mình nhận biết được hành uẩn là những suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong tâm, mình biết được điều này là mình thành tựu trí tuệ về cái đó, còn trước đó mình không hề biết.
Khi mình thành tựu trí tuệ về hành uẩn, mình nhớ hoài, mình nhìn nó đúng như vậy thì mình phá được vô minh đối với hành uẩn trước kia, thành tựu được minh trí đối với hành uẩn ngay khi học, còn học mà lúc nhớ lúc quên thì cũng như không, còn học mà nhớ luôn thì gọi là thọ trì trí tuệ đó, thành tựu trí tuệ đó không bị mất đi, trí tuệ đó không phải bình thường mà là Thánh trí tuệ, trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác.
Sự biết rõ mùi thơm hay thối là tỷ thức, cái thức này chỉ biết mùi thôi, ngoài mùi ra không biết cái khác. Mới bước vào cửa bếp đã ngửi thấy mùi bún mắm hay là mùi chao chưng, hấp dẫn quá, các pháp vận hành trong đó, có sự tiếp xúc nên cảm thọ sanh khởi, tưởng sanh khởi, hành vận hành. Vừa vào toilet đã ngửi thấy tàn dư của người đi trước chưa dội nước, vừa tiếp xúc là sanh ra thọ, tưởng, hành. Đó là thọ do tỷ xúc sanh, tức là lỗ mũi mình tiếp xúc với mùi nên sanh ra cảm thọ, sự rõ biết mùi thơm hay thối là tỷ thức.
Mình rõ biết được vị ngọt, đắng, chua, cay là thiệt thức cho nên khi ăn phải nhận diện các thức. Đi đến thân thức là bắt đầu khó, lúc trước mình học trên ngôn từ, chữ nghĩa chứ không nhận diện được thực pháp của nó đang diễn ra trong thân tâm của mình. Thân thức là hiện tại da thịt mình đụng chạm quần áo, quần áo của mình chạm vào ghế ngồi, chỗ đụng chạm đó, chỗ da thịt tiếp xúc với quần áo, chỗ quần áo tiếp xúc ghế và mình rõ biết được chỗ đó thì gọi là thân thức, tức là cái rõ biết được sự đụng chạm trên thân thì gọi là thân thức. Chúng ta phải học cho thật kĩ chứ không được học phất phơ, qua loa thì sẽ không thành tựu được Thánh trí tuệ của Đức Phật. Hai tay mình chắp lại thì mình rõ biết chỗ tiếp xúc ngay hai tay, mình rõ biết sự đụng chạm đó thì đó là thân thức.
Tiếp theo là sự rõ biết thọ; tưởng; hành là ý thức. Chúng ta cần nhớ thọ; tưởng; hành là ở trong tâm, năm thức trước là biết ở ngoài, con mắt biết sắc, nhĩ thức thì biết được âm thanh, còn tỷ thức thì biết mùi, thiệt thức là biết vị, thân thức là biết ngay chỗ đụng chạm, những cái này biết ở ngoài gọi là ngũ trần, ngoại trần, còn ý thức không biết bên ngoài mà biết bên trong, nó biết thọ; tưởng; hành bên trong.
Ví dụ đã đến giờ đánh kẻng lên thọ trai, từ sáng giờ đã đói bụng mà hôm nay lại có trai Tăng mười món, toàn là những món mình thích, thức ăn bay mùi thơm ngào ngạt. Mắt nhìn thấy sắc là những món ăn chính là nhãn thức, mũi mình ngửi mùi thơm là tỷ thức, chưa gắp đồ ăn là trong bụng đói cồn cào, gắp để vào miệng thì tê lưỡi đó là thiệt thức, khi ăn có tiếng nhai, húp nước, gắp đồ ăn thì trong tâm vận hành những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ mà mình đã từng ăn món đó, hương tưởng, vị tưởng hiện khởi lên. Trong tâm mình thấy được có những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó cho nên buổi ăn là chỗ tu rất công phu.
Sau đây chúng ta bước qua bài kinh Thủ chuyển, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về những khía cạnh, phương diện thấy biết về ngũ uẩn, chúng ta sẽ đào sâu hơn về ngũ uẩn qua bài kinh Thủ chuyển,Tương Ưng Bộ, tập III. Mỗi một lần Đức Phật nói về năm uẩn trong một cơ duyên nào đó thì ngài sẽ đưa ra một khía cạnh, phương diện, góc độ về pháp đó, đến lần khác thì ngài lại đưa ra trí huệ, góc độ khác.
IV. Sắc uẩn
Khi chúng ta học và nhất là đã có bộ phân loại kinh Nikāya của sư cô Chơn Tín Toàn, trong phần sắc thì cô sẽ đem hết tất cả những bài kinh nào Đức Phật nói về sắc uẩn vào chung một nhóm, đọc trong đó sẽ thấy tất cả những phương diện, khía cạnh, góc độ, trí tuệ của Đức Phật khai triển về sắc uẩn. Cho nên khi học phải để ý chứ không phải nghĩ rằng sao bài kinh này ngài nói vậy mà sao qua bài kinh khác ngài lại nói khác đi, mà qua những bài kinh đó chúng ta lại được thấy nhiều phương diện, góc độ khác nhau về năm uẩn.
Chúng ta nhớ học kinh Nikāya không được sai một chữ, những cái khác khi học có thể biến tấu, hiểu ý thì nói được nhưng cái này sai một chữ là đi một dặm vì đây là định lý chứng ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác cho nên học kinh Nikāya phải thuộc lòng, nếu không thuộc thì phải lấy bài kinh ra đọc, không được tự ý suy diễn. Đây là điều tuyệt đối quan trọng khi học kinh tạng Nikāya, chỉ cần sai một chữ là không thành.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Sắc là do đất, nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo thành. Cái chuông, đồng hồ, con người, bàn ghế, xe cộ… đều do đất, nước, gió, lửa tạo thành. Đất, nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo thành thì cái đó gọi là sắc, như vậy cả trái đất này đều là sắc, Đức Phật chứng ngộ cả địa cầu này chỉ là sắc, thêm chữ uẩn nữa nghĩa là tổ hợp của sắc chất, tổ hợp của sắc tướng do tứ đại tạo thành.
"Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Sắc là do có thức ăn mà được duy trì. Tập là tập hợp, tụ tập, tích tập, nhóm họp để sanh khởi ra, trong kinh Nikāya dùng từ nào là từ đó rất kinh khủng chứ không phải là chữ bình thường của phàm phu, chữ này được bậc tối tôn tối thượng sử dụng, mỗi một chữ là cả một khung trời trí tuệ cho nên học kinh Nikāya phải nghiền ngẫm và quán chiếu từng chữ một. Đức Phật nói tất cả pháp tập khởi nghĩa là nó tụ tập, nó tập hợp, nhóm họp lại rồi mới sanh khởi lên. Muốn có một cây bông hướng dương mọc khỏe như vậy thì biết bao thứ tập hợp trong đó, nào là đất, nước, phân bón, cây giống, nhiệt độ, chăm sóc, khi phát triển được cây hoa hướng dương như vậy là nó đã tụ tập rồi mới sanh khởi ra như vậy.
Sở dĩ nó sanh khởi ra được là nhờ thức ăn, thức ăn của nó là đất, nước, không khí, phân bón, ánh nắng mặt trời. Như vậy sự sanh khởi của nó phải có điều kiện, có những cái phải nương dựa vào mới tồn tại được chứ tự động nó không sanh khởi được. Tấm thân này cũng vậy, nếu một tuần ăn không được, nửa tháng ăn không được, đồ ăn phải xay nhuyễn ra đổ vào đường ống đi thẳng vào ruột thì thật khổ sở cho nên thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt. Sự hiện hữu, sự sanh khởi của thân này là nhờ tụ tập, tập hợp lại, không phải chỉ là đồ ăn trên quả đường mà chúng ta đang ngồi đây cũng đang ăn không khí, nếu ngưng lại là có chuyện xảy ra, ngưng thở là chấm hết.
"Đem vào là nhờ gió,
Tống ra cũng gió đưa.
Sự hô hấp tuần hoàn,
Tất cả đều do gió.
Một phen gió nghiệp dừng,
Thân này như khúc gỗ".
(Gió Nghiệp - Thiền viện Chân Không, tháng 8/1982)
Đó là sự thẩm thấu, quán chiếu của ngài, còn mình nhiều khi quên mất điều này, cứ nghĩ hôm nay cũng vậy thì ngày mai cũng vậy, ngày kia cũng sẽ như vậy nhưng nào ngờ bị lây bệnh thành F0, lúc ra đi là hình hài một con người nhưng khi trở về là một hủ cốt, ăn không được, thở không xong, dù có gắn máy oxy vào cũng không thở được là chấm hết. Đó là minh chứng cho câu nói thức ăn tập khởi thì sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt, còn ăn uống, còn thở là còn sống, còn ngồi dậy được là còn sống, còn ăn không được nữa là nguy hiểm.
Hơi thở cứ mượn vào rồi trả ra, thức ăn cũng vậy, lúc đi vào thì thơm ngon, bổ béo, đến khi trả ra thì hôi thối, phải vào nơi không có ai để thải ra, lỡ đang ngồi chốn đông người mà phát ra âm thanh xấu hổ thì độn thổ cho nên tôn giả Xá-lợi-phất nói thân này là thân lủng lỗ, rỉ chảy ra những thứ bất tịnh, hôi tanh nhưng vì vô minh, tham ái nên không thấy điều này, mà có thấy cũng cho qua, thấy rồi cũng mê.
Vì thế chúng ta phải quán chiếu thức ăn tập khởi là sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt, nói đơn giản là còn ăn thì còn sống, hết ăn thì chết, còn uống được thì còn sống mà hết uống hết ăn thì chết, còn thở được thì còn sống hết thở thì chết. Đó là trí tuệ về thân xác này, về sắc pháp này, về sắc uẩn này.
Mỗi một uẩn trong năm uẩn thì Đức Phật chỉ cho mình bảy loại trí tuệ để quán chiếu. Về sắc thì thứ nhất là sắc, thứ hai là sắc sanh, thứ ba là sắc diệt, thứ tư là sắc diệt đạo, thứ năm là vị ngọt của sắc, thứ sáu là sự nguy hại của sắc, thứ bảy là sự xuất ly khỏi sắc. Mỗi một uẩn như vậy thì Đức Phật dùng Thánh trí huệ đánh vào bảy phương diện của tâm chấp thủ chúng sanh. Tất cả những định nghĩa về sắc đều là pháp quán chiếu và cần thuộc lòng, khi nói về sắc là nói đúng từng chữ. Từ đâu sắc sanh ra? Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, còn sắc diệt là do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, đó là ba trí về sắc. Phương pháp tu tập đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Bát Chánh Đạo.
"Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
"Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham đối với sắc, sự đoạn tận dục và tham; cái ấy là xuất ly của sắc". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Lạc hỷ là sự vui thích, vui sướng, vui mừng, là thích thú, hân hân, do duyên với sắc mà mình sanh khởi lên những cảm giác hoan hỉ, khoan khoái trong đó thì đó là vị ngọt. Vị ngọt này giết chết tất cả tam giới, chúng sanh không ra khỏi vị ngọt này, phòng học chúng ta rất trang nghiêm, sạch sẽ nhưng hôm nay thầy đổi ý cho ra bóng cây học không có bàn ghế gì cả thì lúc đó cảm thọ của mình là khó chịu, khổ thọ. Đó là mình bị vị ngọt trói cột, lỡ hôm nào học mà cúp điện nóng nực thì mình khó chịu vì mình bị vị ngọt của máy lạnh trói cột.
Chúng ta bị vị ngọt này ám ảnh, xâm chiếm, nhận chìm mà mình không biết, mình phải biết cái nào là vị ngọt cái nào là vị đắng của sắc rồi sau đó mình mới thoát ra khỏi nó. Bây giờ mình làm việc mệt mỏi từ sáng đến trưa ai cũng được cho ly cacao sữa mát lạnh, đến lượt mình chỉ còn nước suối trong khi mình lại làm nhiều nhất thì cảm thọ mình ra sao? Tại sao có cảm thọ không hài lòng đó? Vì bị vị ngọt của ly cacao sữa mát lạnh đó làm cho mình sân, mình thích, mình muốn mà mình không được nên sân lên.
Đang ngủ ngon mà hai giờ đêm bị gọi dậy đi làm công việc thì mình tức tối, đó là mình bị vị ngọt của giấc ngủ trói cột. Mình đem hết tâm tư, sức lực trồng hoa đến ba tháng mới ra bông, vậy mà đến chê bông xấu thì mình tức lên cho nên những phiền não bủa văng khắp mọi nơi, mình phải cẩn trọng, theo dõi kĩ lưỡng từng chút một, bám sát, hộ trì, canh chừng, kiểm soát trong thọ; tưởng; hành.
Đang tu hành ngồi thiền an lạc, thanh tịnh nhưng có Phật tử nữ đến cúng dường, đến khi về thì bị hình bóng người Phật tử đó ám ảnh, chập chờn trong tâm, đó là vị ngọt của sắc tưởng, của những cảm thọ khi tiếp xúc, khi nở nụ cười, lời nói dịu dàng, ngọt ngào, đến khi trở về thì bị hình bóng đó ám ảnh, cảm giác đó lưu giữ, hình ảnh người đó lưu trữ trong tâm. Mình đang ngồi thiền nhẹ nhàng nhưng đột nhiên bị gọi ra làm công việc thế là đang tu nhưng vẫn sân lên, khó chịu, bực bội, đó là vị ngọt của thiền, mình muốn ở trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu đó, bị kêu ra cảm thọ đó nên khó chịu nhưng mình không biết đây là vị ngọt, mình chỉ biết mình đang tu mà cũng không cho tu chứ không biết mình đang bị dính mắc trong vị ngọt.
Có Phật tử cúng cho chiếc xe đời mới lên ngồi chạy thử thấy thích thú, khoái chí nhưng do xe mới chưa quen nên gây tai nạn, thế là sự nguy hại xuất hiện. Phải thường xuyên quán sự nguy hiểm và tác hại thì mới thoát ra được, còn bây giờ chỉ thấy vị ngọt thì làm sao thoát ra khỏi nó, chỉ toàn thấy xe đẹp, xe mới, thích thú, khoan khoái, hoan hỉ thì làm sao thoát ra khỏi nó.
Mình thấy hai vợ chồng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ, mắc tiền thì mình cứ tưởng họ hạnh phúc, sung sướng, tuyệt vời lắm nhưng mình không biết họ chuẩn bị ly dị, không thì hai vợ chồng đánh nhau ầm ầm, đồ đạc trong nhà đập vỡ hết thế mà có khách lại hỏi hai vợ chồng dạo này thế nào thì bảo hai người vẫn ổn, vẫn hạnh phúc. Vì thế cần quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại của sắc thì mới đưa tâm xuất ly, thoát ra khỏi sắc. Ở đây cũng là sự như lý tác ý, nếu không như lý tác ý thì không thể quán được.
Vô thường là sự đột ngột, đột biến, đột tử, đột quỵ chứ nói vô thường không là không có cảm thọ. Vô thường là bất thình lình, là tứ đột đã nói ở trên. Bất thình lình thành F0, bất thình lình lên tăng xông, bất thình lình đứt gân máu, bất thình lình bị tai nạn giao thông, bất thình lình bị chém chết, bên kia hát karaoke ồn ào hàng xóm qua nhắc vài câu thế là bị đâm, đưa vào bệnh viện không kịp chết trên đường đi. Đó là sắc này chịu sự biến hoại khốc liệt, bản chất của sắc là đau khổ, là thống khổ, là khổ lụy, là biến đổi, đột biến, không sớm thì muộn cũng đi đến chỗ hoại diệt, chết chóc, nhất định phải như vậy chứ không thể khác được.
Đó là mình quán sự nguy hại của sắc, cứ tác ý nhắc nhở liên tục để không còn tham muốn, tham lam nữa. "Cái đồ biến đổi tan hoại này có gì để mà hơn thua, giành giật", chỉ vì vài tấc đất mà anh em tương tàn cho nên bản chất của sắc là khổ, có cái gì là khổ cái đó, có ít khổ ít, có vừa khổ vừa, không có không khổ nhưng không có của bậc Thánh nhân mới được, còn miệng nói không có nhưng tâm ngược lại thì không phải, không có ở đây là của bậc chứng được Thánh trí tuệ về ngũ uẩn thì mới gọi là không có của bậc Thánh cho nên thường xuyên tác ý và quán chiếu về sự nguy hiểm và tác hại của sắc này.
Đức Phật định nghĩa vị ngọt của sắc này là ở làng đó, quốc độ đó, thành ấp đó có cô gái tuổi tròn đôi mươi, mặt hoa da phấn, cao ráo, đẹp đẽ, sang trọng, một trận cười nghiêng nước, hai trận cười đổ thành thì đó là vị ngọt. Thời gian trôi qua ba mươi năm, bốn mươi năm thì tóc bạc, da nhăn, lưng còng, đứng ngồi khó khăn, đó là sự nguy hiểm và tác hại của sắc.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị ngọt các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, như các thiếu nữ Sát-đế-lị, thiếu nữ Bà-la-môn hay thiếu nữ Gia chủ, tuổi khoảng độ mười lăm hay mười sáu tuổi, không quá lớn, không quá thấp, không quá ốm, không quá mập, không quá đen, không quá trắng, này các Tỳ-kheo, có phải trong thời ấy, họ đạt đến mỹ diệu tối thượng, sắc đẹp tối thượng?
-- Bạch Thế Tôn, phải.
-- Này các Tỳ-kheo, y cứ sắc đẹp mỹ diệu ấy khởi lên lạc thọ và hỷ thọ, như vậy là vị ngọt các sắc pháp.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các sắc pháp? Này các Tỳ-kheo, ở đây người ta có thể thấy bà chị ấy trong một thời khác, khoảng tám mươi tuổi, chín mươi tuổi hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, phải dựa gậy để chống đỡ, vừa đi vừa run rẩy, đau ốm, tuổi trẻ đã tận, râu rụng, tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, tay chân bị khô đét tái xám. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp". (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)
Khi cô gái đó tắt thở thì những dòng lệ của những người thân xung quanh rơi xuống, những tiếng khóc vang lên. Đưa thi hài đó vào trong thi lâm, thân nằm dài ra đó xanh đen lại, trương phình lên, nứt chảy ra, bốc lên mùi kinh hãi và khiếp đảm, những con giòi từ bên trong thi thể bò ra, bên ngoài là những con chó rừng, kên kên, diều hâu, quạ bay xuống rỉa thịt. Sau đó bộ xương chỉ còn dính lại chút máu, chút da, từ từ cũng khô quắc lại, cuối cùng chỉ còn dính lại chút gân, sau đó gân cũng không còn mà lộ ra bộ xương trắng màu vỏ ốc. Thời gian dần trôi, bộ xương đó cũng rời ra, đây là xương ống tay, nọ là xương sườn, xa xa là xương chân. Vài chục năm sau thì xương đó cũng rã nát thành cát bụi, gió thổi bay vào trong hư không. Đó là tính nguy hại của sắc pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, một ngày hay hai ngày hay ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu sắc đẹp xưa kia của cô gái đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột bộ xương, không còn thịt, không có máu, còn được gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm đã hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp. Lại nữa, này các Tỳ-kheo, người ta thấy cô gái ấy, thi thể bị quăng vào nghĩa địa, chỉ có toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm... chỉ còn các xương thối trở thành bột. Này các Tỳ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của cô gái nay đã biến mất, và sự nguy hiểm hiện ra?
-- Bạch Thế Tôn, sự thật là vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các sắc pháp". (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)
Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật thường xuyên thực tập phương pháp quán chín giai đoạn của một tử thi này mỗi ngày, mỗi giờ để nhiếp phục dục, đoạn tận dục thì mới vào được sơ thiền. Nghĩa là khi các ngài nhìn thấy sắc hay nghĩ về sắc thì tâm các ngài không còn ưa thích, ham muốn nữa, chỉ còn sự nhàm chán, chán ghét, ghê sợ, rùng rợn, không dục ái, không khoan khoái nữa thì các ngài mới tham dự được vào các tầng thiền để phá các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Còn mình tu mười năm cũng chưa chắc biết quán bất tịnh, có khi quán bất tịnh mà chỉ thấy tịnh không.
Mình không đi đúng đạo lộ của Đức Phật cho nên những gì Đức Phật và những bậc Thánh chúng thành tựu mình không thành được. Mình chỉ thích cái gì cao siêu, cao thâm, nói chuyện toàn trên trời trong khi thân tâm đầy rẫy tham, sân, si, dục ái, bản ngã, đó là tâm không chân thật, tâm không hiền thiện, tâm không chân chánh nên không thành tựu được chánh pháp. Những bậc thuộc vào hàng bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật phải thành tựu bốn tâm: diệu hạnh, ứng lý hạnh, trực hạnh, chân chánh hạnh.
"Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Các thầy Tỳ-kheo thời xưa phạm lỗi là khai ra và nhận lỗi ngay, còn mình hỏi là chối ngay, bảo không có gì cả, tâm mình không chánh trực, không ngay thẳng, không hiền thiện, không thật thà. Tâm tà thì làm sao thành tựu chánh pháp được? Nhận diện ngũ uẩn là nhìn thân tâm một cách chính xác, trực chỉ, trực diện, trực tiếp, có sao là nhìn thấy đúng như vậy, đó là bước đầu để thành tựu đức hạnh của bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, đó là tâm chánh trực, tâm ngay thẳng.
Nếu có tham thì nói là có tham, nếu có sân thì nhận là có sân, cảm thấy xấu hổ và xin sám hối với thầy, với sư huynh, sư đệ "con thấy cảm thọ sân hận là cái thứ thấp hèn, thấp kém, hèn hạ, xấu hổ. Con muốn đào thải cảm thọ sân hận, bực bội này ra khỏi thân tâm con, con không muốn chất chứa nó nữa, con xấu hổ khi có những ngôn hạnh như vậy đối với huynh đệ đồng tu", sau đó ra lạy sám hối giữa đại chúng và khóc ròng xúc động thì người đó tu mới tiến, ngược lại được chỉ lỗi thì quanh co ngụy biện hoặc đổ lỗi người khác, đó là tâm không ngay thẳng, không tàm quý tức là không thấy xấu hổ và sợ hãi thì không thành tựu được Thánh pháp vi diệu tối thượng này.
Sau khi mình quán chiếu thật nhiều về sự nguy hiểm và tác hại của nó thì mình mới nhàm chán. Tại sao mình không ở ngoài đời mà mình đi tu? Vì mình thấy ngoài đời nhiều phiền não, nhiều khổ đau, nhiều lo lắng, bất an, hệ lụy, mình thấy được tác hại của nó nên mình xuất gia. Đến khi nào mình chán chê, ê chề cái sắc, không còn muốn sắc thì xuất ly khỏi sắc, ngày nào mình chưa gớm ghê, chưa nhàm chán, chưa muốn từ bỏ thì ngày đó còn khổ.
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ. Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2)).
Đi sâu vào dòng kinh này rồi chúng ta mới thấy được trí tuệ Đức Phật vi diệu, tối thượng ngoài sức tưởng tượng. Cho đến khi nào nhìn vào đống phân, nhìn vào đống giòi, đống bầy nhầy gan ruột thấy ớn lạnh, không còn ham muốn nữa mà chỉ muốn thoát ra khỏi nó thì lúc đó xuất ly khỏi sắc. Một khi đã xuất ly khỏi sắc thì không còn trở lại những xác thân giống như vầy nữa, sở dĩ mình có những xác thân như vầy là mình còn yêu thích, còn khoan khoái, mình nắm giữ và cho rằng thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Các bậc Thánh Tăng ngày xưa quán bất tịnh đến khi chứng ngộ rất nhiều, những vị bệnh gần chết thì chứng ngộ ngay lúc đó vì nếu thiện xảo trong pháp tu thì lúc bệnh dễ chứng ngộ hơn lúc không bệnh. Tại sao lại vậy? Vì lúc bệnh là lúc bày hiện ra tính nguy hại của sắc, đau chỗ này, nhức chỗ kia, thốn chỗ nọ, khó chịu toàn thân, có như vậy mới thấy thân này đáng nhàm chán, thân này là ổ vi trùng, là nơi chứa nhóm bệnh hoạn, là tổ hợp của những virut, vi trùng, vi khuẩn.
Mình cứ suy nghĩ và tác ý như vậy liên tục rồi đến một ngày thể nhập Thánh trí huệ, nhàm chán hoàn toàn đối với tất cả hình sắc, sắc tướng trên thế giới này, không còn ái luyến, ham thích, mong muốn đối với bất cứ cái gì trên cuộc đời này nữa thì lúc đó là Bất Lai Thánh quả, lên Tịnh Cư Thiên không còn ở thế giới loài người nữa, thậm chí là chứng đạt A-la-hán, ái tận.
Đạo lộ rất rõ ràng để mình thực tập. Bây giờ nhìn đồ đẹp mình có ham không, nhìn người đẹp mình có khởi dục ái không? Nhìn vào nội tâm là biết ngay, mình bị như vậy vì Thánh trí tuệ chưa thành tựu, Thánh tri kiến chưa thể nhập, thượng nhân pháp chưa thẩm thấu cho nên nhìn đẹp là thích, xấu là không ưa, nói ngọt là phơi phới, nói nặng là sân si, phẫn nộ, đó là tâm chưa được tu tập, tâm chưa được an trú, tâm chưa được nhiếp phục, chế ngự, tâm chưa nhu nhuyến dễ sử dụng, đây là tâm rừng rú, tâm hoang vu.
Phải học kĩ những trí huệ này rồi đọc kinh mới hiểu được, nếu không đọc vào chỉ hiểu chữ nghĩa thôi, chưa thấy được ngũ uẩn, chưa thấy được tham, sân, si thì đọc vào kinh chỉ hiểu chữ nghĩa, kiến thức thôi. Phải tập nhận diện ngũ uẩn trong lúc tham, sân, si nổi lên, lúc đó thọ ra sao, sắc ra sao, tưởng ra sao, hành, thức như thế nào, cái này rất quan trọng và mình thấy được những cái này thì đọc vào tạng kinh Nikāya mới hiểu được, nếu không nó vĩnh viễn là bí mật, là mật mã, là khẩu quyết.
Ngày xưa con đọc kinh này mười năm mà không hiểu, khi không có người tu hành thành tựu chỉ cho mình thì mình không hiểu được, mình phải có một sự thực tập chân thành, tha thiết, khát ngưỡng, thật sự muốn tu học để giác ngộ, thật sự muốn diệt hết tham, sân, si, bản ngã, thật sự muốn thành tựu mục đích cao thượng, tối thượng của người xuất gia thì mình sẽ đạt được với tâm chân thành tu học. Còn tu mà cứ phân biệt tông phái, ta đây, cho rằng mình giỏi, mình hơn, cống cao ngã mạn là không bao giờ mình thành tựu được Thánh tri kiến.
Muốn học pháp là phải đánh đổ bản ngã một cách không thương xót, những ý niệm hơn thua, đúng sai, hay dở phải đập vỡ thì mình mới học được Thánh pháp vi diệu của Đức Phật. Con xuất gia đến nay là ba mươi năm không bao giờ có ý niệm học cái này hay hơn người ta, mình cao hơn người ta mà ba mươi năm qua con chỉ tìm cầu đâu là lời dạy chân xác của Đức Phật để đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã cho nên con không bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của các tông phái dù con học tất cả các tông.
Con đi vào dạy trong giới luật viện của Luật Tông, dạy bên chùa Hoằng Pháp của Tịnh Độ Tông, dạy bên trường Phật học là của Giáo Tông và có chia sẻ ở trên thiền viện Trúc Lâm là của Thiền Tông nhưng khi học đạo là con không để tâm mình bị chấp vào bất cứ phương diện nào cho rằng đây là đúng nhất. Con chỉ có tâm tha thiết làm sao tìm ra được thật sự phương pháp diệt tận tham, sân, si và cuối cùng con cũng tìm ra, đó là nhờ ân đức của Hòa Thượng tôn trưởng Thượng Thanh Hạ Từ khai sáng suốt mười lăm năm, từ chỗ đó mới đào sâu vào lời Phật dạy thì mình phát hiện ra không ngờ tâm mình đầy rẫy cấu nhiễm, bản ngã như vậy, sau đó mới thấy hạnh phúc trong giáo pháp trong đời tư cho nên tinh thần tu học là phải dùng tâm khách quan, tâm cởi mở để đón nhận, tiếp nhận lời dạy của Đức Phật thì chúng ta sẽ học được trí tuệ thần diệu tối thượng của Như Lai, đừng học được một chút hay biết được một chút rồi lên mặt, ta đây, ra vẻ ta là số một, cái đó là thất bại.
Hòa Thượng viện chủ ở đây có tâm rất rộng lớn, ngài lập lên cái trường cho chúng ta học là cả một tấm lòng từ bi. Ngày xưa ngài đã từng học ở tất cả các trường Phật học, ngài đi qua hết tất cả tông phái nên cái nhìn của ngài rất rộng lớn, sâu sắc và bao quát. Vì thế mình cần bám sát vào lời dạy của Đức Phật rồi thực tập thì mình sẽ thấy kì tích, phép màu, những điều lạ lùng xuất hiện và nhất là môi trường ở đây là tuyệt vời, không phải dễ để được vào đây tu học. Hòa Thượng đã tạo ra ngôi trường này cho nên các thầy có phước báo vô cùng lớn, bây giờ chỉ còn pháp học, pháp hành, pháp thành thôi, con mong các thầy chịu khó học thuộc lòng những định nghĩa căn bản của ngũ uẩn rồi thực tập nhận diện khi ngồi thiền, khi sinh hoạt, khi nóng giận, khi tham muốn khởi lên.
V. Tham – sân – si
Những lúc bình thường không thực tập thì khi nó khởi lên là mình nhìn không ra. Lúc bình tĩnh như vầy mà nhìn không ra thì lúc bản ngã sanh khởi lên làm sao nhìn ra? Cho nên tu tập là trong lúc thường nhật, bình thường. Tại sao không đợi đến khi có chiến tranh mới luyện binh mà phải luyện trong thời bình trước đó vài năm cho đến vài chục năm? Đó là đợi đến khi có chiến tranh thì làm sao luyện được, cũng vậy, đợi đến khi giận lên thì làm sao trải tâm từ được nữa, bình thường phải nhận diện ngũ uẩn, phải tập trải tâm từ, phải tập kiểm tra những cảm thọ, suy nghĩ, tư tưởng trong tâm mình để khi giận lên, dục khởi lên, tham khởi lên, bản ngã khởi lên, hơn thua sanh khởi thì mình mới nhìn ra được bộ mặt của nó, mình mới có khả năng đánh ngã nó.
Tham, sân, si nằm ở đâu? Nằm trong cảm thọ, nói đầy đủ là trong cảm thọ lạc có tham trú ẩn trong đó, trong thọ khổ có sân trú ẩn trong đó và cảm thọ không vui không khổ có si trú ẩn trong đó. Đó là mình nói tổng hành dinh của nó nhưng thật ra trong suy nghĩ cũng có tham, sân, si, trong hình bóng cũng có tham, sân, si nhưng tổng hành dinh của tham, sân, si là nằm trong cảm thọ, còn khi đã tham, sân, si thì đầy đủ cả ngũ uẩn.
Ở đây chỉ mới nói tâm thôi, còn bây giờ là nó biểu hiển trên thân, sân phát ra ở ngay lồng ngực, sau đó lên mặt, đỏ tai, đỏ mắt. Lồng ngực là nơi tập trung tất cả cảm thọ, khi mình si thì nó thể hiện ở nơi con mắt vì mắt mở không lên, lờ đờ, trì trệ, nhìn người nào mà người đó tinh minh, sáng tỏ thì người đó thông minh. Khi mình ngồi thiền tinh anh, chánh niệm, sáng suốt thì con mắt tỏ tường, minh bạch, còn khi ngồi vào bị hôn trầm, lờ đờ thì con mắt cứ nhướng lên sụp xuống, như vậy si biểu hiện nhiều nhất trên đôi mắt, còn dục tham biểu hiện ở bộ phận sinh dục.
Đó là ba chỗ của tham, sân, si, trong cảm thọ là phần tâm, còn phần thân vẫn có chỗ biểu hiện của tham, sân, si cho nên khi có những cảm thọ của tham, sân, si thì mình phải hướng tâm vào ngay đó để tác ý đánh đuổi, nếu nóng ở lồng ngực sân giận lên thì tác ý "thôi đi, đừng thiêu đốt mãi nữa. Thích giận lắm hả? Thích đốt cháy nhau lắm phải không? Mày làm ơn làm phước an tịnh lắng dịu để tu đi, đừng quậy nữa". Mình tác ý một lúc là sẽ thấy cảm thọ lắng dịu xuống, tan ra, mình trị tham, sân, si ngay trong tâm của mình, mình tác ý tâm từ một chút là lồng ngực mát mẻ, nhẹ nhàng, dễ chịu ngay cho nên các thầy Tỳ-kheo hay tán thán pháp của Thế Tôn là khéo thuyết, thiết thực, hiện tại.
"Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu)
Đến để thấy tham, sân, si vận hành trong tâm mình, thấy nguyên nhân sanh khởi ra đau khổ và có phương pháp nhiếp phục, diệt tận đau khổ ngay trong tự thân của mình. Dục khởi lên cũng hướng tâm vào ngay đó tác ý "chính vì mày mà tao không tu được, suốt ngày cứ khao khát, thèm thuồng, cứ đòi hỏi, chạy đi tìm kiếm trong vô lượng vô biên kiếp mà vẫn chưa vừa lòng hay sao? Mày cứ ham thích, đòi hỏi những thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, hèn hạ", mình cứ tác ý liên tục "mày thích giòi lắm phải không, thích phân và nước tiểu lắm phải không? Hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi".
Mình tác ý như vậy là tự động cảm thọ đó lắng xuống, dịu xuống, nhẹ nhàng lại, có hiệu quả tức thì nhưng phải chịu khó rà soát thường xuyên và liên tục, lúc nào cũng phải an trú cảm giác toàn thân để khi nó khởi lên là mình giác hiện ngay. Trước khi ngủ phải tác ý diệt dục, khi ngủ dậy phải tác ý diệt dục, trong khi ngồi thiền mà nặng về dục thì cũng tác ý diệt trừ nó liên tục, quở trách, la mắng để nó thấm vào cảm thọ, tâm ngông nghênh, hoang vu bị chế ngự. Phải có tuệ lực, hùng lực, phải có những phương pháp thật mạnh để đánh tan nó, không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai, chặt nó như chặt cây Tala, diệt tận hoàn toàn. Đối với cái si cũng vậy, phải cảm thọ mở hai con mắt ra thật mạnh, tác ý la mắng cơn hôn trầm đó thì mình sẽ thấy con mắt mở sáng ra, minh trí, minh tuệ, tinh anh.
./.