Trình Pháp - Bốn Đức Hạnh Người Tu - Tu Học Mệt Mỏi- Làm Sao Giải Oán Kết 1
Nikāya Trình Pháp
Bốn Đức Hạnh Người Tu
Tu Học Mệt Mỏi?
Làm Sao Giải Oán Kết 1?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn đức hạnh người tu PAGEREF _Toc213873504 \h 1
II. Sống theo Chánh Pháp PAGEREF _Toc213873505 \h 8
III. Giải oán kết PAGEREF _Toc213873506 \h 17
I. Bốn đức hạnh người tu
Một tấc thời gian: một tấc vàng,
Tấc vàng khó chuộc tấc thời gian.
Con đứng lớp mấy chục năm chưa bao giờ đi trễ giờ hết, mấy chục năm lên lớp chưa có một tiết học nào đi trễ hết và đi ra giảng pháp, hoằng pháp cũng mấy chục năm không có một buổi giảng pháp nào trễ hết. Cho nên cái tu học của mình là từ những cái hạnh nhỏ mới trở thành cái đức lớn, cái phàm phu xem thường lại là cái điều mà các bậc thượng triết lưu tâm, đó là cái câu ở trong triệu luận. Và ở trong kinh tạng Nikāya đó có một cái câu là "sợ hãi các lỗi nhỏ nhặt", hôm qua chúng ta có nghe cụm từ chấp nhận các học pháp thì hôm nay chúng ta học thêm cụm từ là sợ hãi các tội lỗi nhỏ nhặt.
Con thí dụ cho chúng ta thấy, đúng ra là mình học hai tiết là từ mấy giờ tới mấy giờ? Đúng hai tiết là phải vậy mà chúng ta mất như vậy là bỏ bao nhiêu? Một ngày chúng ta bỏ hơn nửa tiếng thì chúng ta cộng lại tuần là bao nhiêu, tháng là bao nhiêu, một học kỳ là bao nhiêu, một năm là bao nhiêu, ba năm là bao nhiêu. Rất là nhiều, đó là chưa kể khi mình lên lớp mà cái lúc đó tâm của mình không có chú tâm trong khi nghe pháp thì dầu cho mình có mặt nhưng mà cũng không tính, tại lúc đó mình bị năm triền cái xâm chiếm, áp đảo, có khi mình ngồi đó nhưng mà cái tâm mình lo. Cái tâm đó là ở trong trạng thái trạo cử, buông lung, như vậy dầu cho có mặt mà không có chú tâm, tập trung, lắng tai nghe pháp thì vẫn không tính cái thời gian đó, hoặc là mình hôn trầm, hoặc là cái tâm mình lo ra, nghĩ ngợi lung tung, không có tập trung thì dầu có mặt cũng không tính.
Như vậy trong một thời học mà chúng ta học một thời pháp như vậy một tiếng rưỡi thì cái thời gian mà chúng ta tập trung tâm ý, lắng tai nghe pháp được bao nhiêu? Nhất là cái giờ buổi trưa này nữa, trưa l không có nghỉ nữa, khuya thức công phu, đây nói mấy người tinh tấn thì cái hôn trầm xâm chiếm, rồi thân tâm trạo cử, trạo hối, rồi trễ giờ thì chúng ta thấy trừ ra không còn bao nhiêu hết. Chính vì vậy mà cái sự học chúng ta giống như cái rổ mà mình đổ nước vô nó tuộc hết trơn, thành ra học tu hoài mà không có tăng trưởng, không có thâm sâu cái trí tuệ vì chúng ta xem thường những cái nhỏ.
Chính vì vậy mà các thầy cô thấy tới giờ là con lên lớp, hôm trước hai ba người cũng lên lớp. Mình lên lớp không phải vì những người không đến mà mình vì những người có mặt, thành ra trong một cái pháp nhiều cái để học lắm, nhiều cái lắm, cái đi học trễ hoặc là cái vô trễ, hay là ra sớm, hay là học với cái tâm uể oải, học với cái tâm lo ra, học với cái tâm không có tập trung thì những cái đó không tính và đó chính là nguyên nhân để cho diệu pháp hỗn loạn, biến mất, không cung kính chánh pháp, không có cung kính thiền định, không có cung kính thánh trí tuệ, không có cung kính Tăng. Đó là nguyên nhân chánh pháp, diệu pháp biến mất, thành ra nhiều pháp lắm, nếu mà mình học là chỗ nào cũng có nhiều cái pháp. Khi mình trình pháp cũng vậy nữa, mình trình pháp không có nhiệt tình, kêu tới mình thì mình mới trình, mà kêu mình trình thì chỉ trình có một hai chuyện thôi rồi giấu lại, thì tất cả những cái đó chưa đủ chuẩn để học thánh pháp. Như vậy trình pháp không có đủ bốn cái đức của thánh hạnh.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Đây là bốn cái đức hạnh để tạo thành chất liệu, để cấu thành một người xuất gia, một người thánh đệ tử, để trở thành một thành viên dự vào hàng Tăng bảo. Nếu không có bốn đức hạnh này không phải là người tu, nếu chúng ta chưa học Nikāya là chúng ta chưa có nghe cái này đâu.
Cái lớp của chúng ta rất là đặc biệt, con chỉ khác hơn tất cả các lớp khác, khi mình nói, khi mình trình pháp, khi mình đọc kinh hoặc khi mình làm công chuyện, hay là chạy xe, tất cả mọi cái mà mình làm trong một cái cảm thọ thúc giục, gấp gáp, gấp rút, vội vã, vội vàng, hấp tấp, bộp chộp là mình đang làm ở trong một cái cảm thọ dục. Phải nhớ kỹ cái này, không ai chỉ đâu, ở trong cái cảm thọ dục rất dễ xảy ra lỗi lầm, sơ xuất và tai nạn, chỉ có mình nhận diện ngũ uẩn, mình tu tập trí tuệ về ngũ uẩn mình mới biết, nếu không là không có biết. Mình đi hấp tấp thì sao? Chạy xe hấp tấp, vội vàng thì sao? Nói chuyện hấp tấp thì có vấp không? Có lẹo lưỡi không? Có lỡ lời không? Mình suy nghĩ mà mình gấp gáp, mình không có suy nghĩ cặn kẽ thì cái suy nghĩ của mình có thấu đáo không? Nó có sâu sắc không? Nó có chính xác không? Nó có dựa vào pháp để suy nghĩ không hay là nó quyết định theo cảm tính? Quyết định theo cái ham muốn, quyết định theo bản ngã, nó quyết định theo cái cạn cợt, sân hận, bực bội?
Lúc đó mình nói ra mình quyết định là hư chuyện hết, chính vì vậy nhất định phải luôn luôn kiểm soát cái dục ở trong cảm giác, trong cảm thọ. Đó là cái thứ nhất, cái thứ hai khi mình trùng tuyên thánh điển, bất cứ một thành viên nào trong lớp Tăng Ni chúng ta và sau này lên giảng pháp phải đọc bằng một cảm thọ cung kích tột cùng, từng lời, từng câu, từng chữ mình xem giống như Đức Phật đang hiện tại nói cái lời đó. Mình hồi tưởng lại, mình dùng cái tưởng của mình xuyên không 2600 năm trước, hình ảnh Thế Tôn ngồi và thánh chúng nói ra cái lời kinh đó, mình đọc như vậy là trong cảm Thọ vừa an tịnh, vừa lắng dịu, vừa cung kính Phật, cung kính pháp và cung kính chư vị thánh Tăng truyền thừa pháp tạng.
Chúng ta thấy nhiều cái pháp không? Đọc như vậy gọi là trùng tuyên thánh điển, trùng tuyên thánh pháp, không phải đợi tới cái tháng cuối năm đi qua bồ đề đạo tràng rồi ngồi nghe người ta đọc kinh Pali lúc đó mới là trùng tuyên tam tạng, ngay tại chỗ này, bất cứ ở nơi nào mình nói về bài kinh thì lúc đó là trùng tuyên thánh điển.
Sư Thầy: Mô Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư bốn hạnh của một vị Tăng hay là một người xuất gia được Đức Phật dạy trong kinh Trung Bộ bài số bảy, bài kinh tấm vải. Thứ nhất là diệu hạnh là đệ tử của Đức Thế Tôn, thứ hai trực hạnh là đệ tử của Đức Thế Tôn, thứ ba chánh hạnh là đệ tử của Đức Thế Tôn, thứ tư là như lý hạnh hay là ứng lý hạnh là đệ tử của Đức Thế Tôn.
Sư Phụ: Có khi gọi là chánh hạnh, có khi gọi là chơn chánh hạnh, có khi gọi là ứng lý hạnh cũng có khi gọi là như pháp hành. Đây gọi là bốn thánh hạnh và chúng ta nhớ bốn thánh hạnh này không phải của riêng chư Tăng nha, nhớ kỹ nha, Hồi nãy thầy nói của người xuất gia, đây là gồm chung cho tất cả xuất gia và tại gia ở trong hàng thánh đệ tử của Đức Phật, thành ra chữ chúng Tăng rất nhiều người hiểu lầm. Đây là cái đặc tính, cái đặc chất, cái bản chất, cái tính chất, cái chất liệu, cái yếu tố để tạo thành một người đệ tử chân chánh của Đức Phật là thánh đệ tử.
Ở trong kinh tạng Nikāya không có giải thích như khi mình tu tập sẽ thấy biết được, nãy giờ chúng ta đang nói cái tính chất này là có khi để cái này đầu tiên, trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là đệ tử của Thế Tôn, cái này quan trọng. Trực hạnh là cái gì? Một cái nội tâm, một cái lời nói, những cái hành động ngay thẳng, chánh trực, chực là chánh trực, là ngay thẳng. Diệu hạnh là những cái đức hạnh vi diệu thành ra chữ trực với chữ chánh này gần với nhau, tức là những cái đức hạnh ngay thẳng, chơn chánh, thành thật, chánh trực. Chữ trực với chữ chánh cộng lại thành chánh trực hoặc là chơn chánh, cái này rất quan trọng, không có cái này là không tu được, đó là một cái tâm chân thật, chân thành, chân chánh.
Chính vì vậy ở trong kinh Nikāya chúng ta gặp thêm một cái từ nữa là "chân nhân", đây là từ tương đương với những cái ý nghĩa này. Có nhiều từ trong Nikāya và chúng ta sẽ gặp được những cái từ tương đương nữa là "như thật", "như chân" nghĩa là đúng như sự thật. Tất cả những cái từ đó là nói lên cái ý gì? Cái quan trọng là một cái tâm thành thật, chân thật, chân chánh, chánh trực, ngay thẳng, thành thật, những cái này quan trọng, cực kỳ quan trọng. Nếu mình tu mà cái tâm mình không có thành thật, tâm dối trá, xảo trá, bất chánh, bất minh, xảo ngụy, gian trá thì không tu được, trừ khi nào sửa cái này thì mới tu được tại vì đây là chánh pháp. Bây giờ chúng Tăng thì phải tương ưng với chánh pháp chứ người mà không tương ưng với pháp thì làm sao nhân pháp hợp nhất được? Chúng ta nhớ kỹ chỗ này.
"Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Đáng được tán thán, này các Tỳ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Đạo Sư. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)
Đó là cái bản con ghi ở chánh điện ở trên Quán Chiếu Đường, Cổng Trời đó, không phải cái thấp kém mà có thể đạt được cái cao thượng, phải là cái cao thượng mới đạt được đến chỗ cao thượng, cái nhân pháp này phải tương ưng, chúng ta có Tương Ưng Bộ kinh. Như vậy một cái tâm dối trá, không có chân thật làm sao tu được chánh pháp? Cho nên khi trình pháp rất là quan trọng, khi mình trình pháp thì bậc thầy thiện xảo, bậc thầy có trí tuệ, bậc thầy minh kiến nhìn ra được hết ngũ uẩn của mình, không cần phải có thần thông, con ngày xưa khi học với sư phụ của con là bậc đạo sư nói chuyện qua điện thoại thôi nhưng ngài đọc ra hết cái ngũ uẩn của mình. Tâm đang có cái gì trong đó, ngài nói một cái mình đứng hình hết trơn, rúng động hết trơn, ngài chỉ nghe cái âm thanh trong điện thoại thôi thì ngài biết sự tu của mình đang tiến, thối hay là dậm tại chỗ. Cái âm thanh thôi, chúng ta thấy khiếp không?
Quay trở lại cái vấn đề, cái tâm chân thật, chân thành, chân chánh, nhìn ở bên trong con người của mình một cách ngay thẳng, có dục, tham, ái thì nói là có, tình trạng của nó nghiêm trọng như thế nào thì mình trình bày. Còn cái này mình giấu, mình không nói, nói con không có gì hết, con an ổn, con tu bình thường, nói láo, nói dóc, che đậy, mình dối trá với bậc đạo sư của mình rồi xong, cái bậc đó là bậc giáo thọ, bậc A-xà-lê, bậc sư phụ bậc đạo sư của mình, còn hơn cả cha mẹ nữa. Bây giờ chúng ta tu dám nói hết không? Có cái gì dám nói với sư phụ không? Có dám lại nói với con không? Hiếm lắm, con đứng lớp mấy chục năm mà rất hiếm, đếm trên đầu ngón tay có một số Tăng Ni sinh dám lại trình bày riêng hoặc là điện thoại, một số vị là điện thoại tới khóc "bây giờ con bị phạm giới, con đau khổ, con trằn trọc, con hối hận nên thầy giúp cho con".
Những cái đó rất là tốt, rất tốt, rất là tốt, đó là người chân thật, chân thành, chân chánh, muốn tu hành. Con bị lỗi cái này, con bị phạm cái kia, con bị sai cái nọ, hãy giúp đỡ cho con, còn phần lớn, đa số là che đậy, che giấu thì như vậy không có một cái trực hạnh, không có chánh hạnh cho nên khi trình pháp phải trình hết. Như ngày hôm qua chúng ta trình pháp có một số vị rất tốt, dám nói ra được là rất tốt, còn nhiều khi mình không trình mà thấy người ta nói sự thật mình cười chúm chím là không tốt cho nên tính chất chân thật rất quan trọng dù ngoài đời hay là trong đạo, nhất là ở trong đạo thì cái tâm chân thành, chân thật, chân chánh, thành thật, ngay thẳng, chánh trực như vậy thì cái này học được chánh pháp. Nếu như cái tâm mình chưa có thành thật thì phải làm cho nó thành thật thì mới học được chánh pháp. Mọi người thấy rõ chỗ này chưa?
Mình thành thật nhìn nhận cái dục, tham, ái của mình để mình sám hối với sư phụ, sám hối với thầy, mình trình bày ra với những bậc trưởng lão, tôn đức, trưởng thượng chỉ dạy cho mình cái cách nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận, diệt tận. Bây giờ mình nhìn thấy cái bản ngã trong mình ngông nghênh, nó cao ngạo, nó ngạo mạn, nó ngã mạn, nó kiêu mạn mà mình không biết làm sao để nhiếp phục nó thì mình đi đảnh lễ các bậc tôn đức, các bậc thầy mà mình tin tưởng có trí tuệ, là bậc cha của chúng Tăng, là bậc thầy của chúng ta, là bậc trưởng lão ở trong chúng Tăng, là bậc giàu kinh nghiệm, nhiều trí tuệ, là bậc thông đạt pháp học, pháp hành. Mình đi lại các ngài, đắp y lạy, thỉnh, hỏi pháp "bây giờ làm sao chỉ con cách nhiếp phục, chế ngự cái bản ngã, cái tôi của con. Con thấy bên trong con là một sự ngạo mạn, kiêu mạn, ngã mạn". Đó là trực hạnh, bây giờ mấy người được vậy? Không có những cái này là không thể tu được.
Mình có giận huynh đệ, các bậc đồng phạm hạnh chỉ cho mình "sao mà sư cô sân quá vậy?" thì mình phải cúi đầu nhận lỗi "dạ con biết cái lỗi của con, con biết cái tâm con còn giận nhiều, nó còn sân nhiều. Con thấy con thật là xấu hổ, thật là đáng trách, con xuất gia nhiều năm, con tu học nhiều năm mà tới nay con vẫn còn sân hận rất nhiều, con thấy thật là xấu hổ, thật là đáng sợ, tàm quý. Con xin sám hối với sư cô". Như vậy mới là người tu, như vậy mới là một người xuất gia, mới là thánh đệ tử, mới là một vị khất sĩ, một vị tu sĩ, mới là một thành viên ở trong Tăng bảo, Tăng chúng. Còn đằng này mới nói "sao cô giận quá vậy?" là mình phùng mang trợn mắt, mình làm dữ lên, như vậy là phàm phu hạ liệt, sân si, xấu hổ, nhục nhã, thấp kém, không có xứng đáng là đệ tử của Phật. Đó là trực hạnh, đó là chánh hạnh, đó là chơn chánh hạnh, đó là chân nhân, đó là như chân, như thật.
Mình nói, mình hành xử không có chánh niệm, không tỉnh giác thì người ta nói "thầy sao mà vô minh quá vậy?", "Sao chư huynh vô minh quá vậy?" thì mình trả lời "dạ, dạ, con xin lỗi thầy, xin lỗi đại đức, xin lỗi Sư huynh, lúc đó thật sự là con vô minh, con không thấy được, con không hiểu được, con không cảm thọ được, con không có biết cho nên con có những lời nói, hành động không có sáng suốt, tăm tối, con thành tâm sám hối cái sự vô minh này. Con nguyện từ đây về sau con sẽ cẩn trọng ý thức tỉnh giác, tỉnh táo, tỉnh thức để con tránh những cái sự vô minh như thế này, không cho nó tái sanh, tái diễn, tái lập, tái tục nữa, con thành tâm sám hối". Đó là chơn chánh hạnh, là trực hạnh, là chân nhân, là như pháp hành, là như chân, đó là nói huynh đệ chứ đừng nói chi các bậc thầy, các bậc trưởng lão chỉ lỗi cho mình.
"Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu"
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)
Phải nhớ bài kệ này để ngày nào cũng phải tụng niệm hết, bây giờ chúng ta hiểu được thế nào là trực hạnh, thế nào là chánh hạnh, mình mới có nói cái phần gọi là tổng cương lĩnh thôi, khát quát, căn bản thôi, nếu khai triển ra nhiều lắm. Nội tâm mình còn tham mình biết còn tham, nội tâm mình còn sân mình biết còn sân, nội tâm mình còn si, vô minh mình biết còn si, còn vô minh, nội tâm còn ngã mạn biết nội tâm mình còn ngã mạn, nội tâm còn dục lậu, còn hữu lậu, còn vô minh lậu mình biết còn tật đố, còn xảo ngụy, trá ngụy. Mình biết để mình chỉnh lại, còn hơn thua, còn ganh tỵ, còn nhỏ mọn, còn lừa đảo, còn man trá mình phải biết hết và mình cố gắng để điều chỉnh, tẩy rửa, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, như vậy đó là trực hạnh và chánh hạnh. Mình sẵn sàng quỳ xuống xin lỗi, sám hối, đảnh lễ, cúi lạy những người chỉ lỗi cho mình.
Diệu hạnh là những đức hạnh vi diệu, những đức hạnh vi diệu này làm từ những cái rất là nhỏ, hạnh tâm hiền, hạnh khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, hạnh biết ơn, nhớ ơn, hạnh cúi đầu, hạnh quỳ lạy, hạnh đặt cái đầu mình dưới chân người khác, hạnh diệt ngã, hạnh từ, bi, hỷ, xả, hạnh bao dung, độ lượng, tâm rộng lớn. Nhiều cái đức hạnh lắm, đó là diệu hạnh, là những đức hạnh vi diệu mà phải do mình tu tập và mình phải thành tựu, mỗi một đức hạnh như vậy mình phải thành tựu, chứng đắc, chứng đạt, chứng ngộ. Những đức hạnh vi diệu của thánh hiền phải tập từ chút, từ chút, cái đi của mình cũng phải tập, cái dáng đi của mình có nhẹ nhàng không, trong cái cách nói của mình có nói với cái bản ngã, nói với cái dục không, nói với cái thể hiện ta đây không, có nói lời chân thật, nói lời từ ái, nói lời đúng thời, đúng lúc, nói với từ tâm không. Nếu nói dối, đâm, độc, nhảm nhí thì những cái đó đâu phải là diệu hạnh, ngược lại bốn cái đó, dừng lại bốn cái đó thì nó chỉ là từ bỏ i khẩu nghiệp thôi, nhưng mà tăng trưởng lên thì nó trở thành diệu hạnh, tức là nói đúng thời, nói với một cái tâm từ ái, nói với cái lời lợi ích, nói mà chạm tới trái tim của người ta bằng tất cả sự chân thành thì những cái lời nói như vậy đó là diệu hạnh, là diệu ngữ, là lời nói đẹp.
Cái hành động của mình luôn nghĩ cho người khác, hy sinh bản thân mình ở trong chúng. Mình làm việc không có câu nệ, mình không có ganh tỵ, mình không có khoe công, kể công, cư công, mình làm vì một sự tu tập, mình làm để diệt cái bản ngã, mình làm để nhiếp phục những cái tập tánh, những cái thói quen buông lung phóng dật, biến nhác, dễ vui. Mình nhiếp phục, mình chế ngự nó, mình làm để mình thành tựu những đức hạnh kham nhẫn, những đức hạnh hy sinh, những đức hạnh vì người khác thì cái đó nó là diệu hạnh.
Hồi xưa các vị Tăng sinh thấy sao mà cái toilet cứ sạch sẽ, bóng láng sạch mà không thấy ai lại chùi toilet hết nên muốn tìm cái người mà vệ sinh toilet sạch sẽ, kỹ như vậy thì chờ hoài, tìm hoài, kiếm hoài mà không thấy, không biết ai chùi hết. Một hôm nọ có vị Tăng sinh nhất định phải tìm ra cho được cái người nào mà chùi toilet sạch sẽ như vậy, tối đó vị ấy không ngủ, để ý coi ai, cuối cùng nửa khuya đó là cố hòa thượng Thiện Hòa, viện trưởng viện hóa đạo, ngài đi chùi toilet, chùi cầu tiêu và làm ở trong yên lặng, không ai biết. Đó là diệu hạnh, những cái việc làm đẹp vi diệu đó là làm đẹp cho nên ở trong chúng tuy là mình có học chánh pháp, mình tu chánh pháp như vậy nhưng mà những cái tập khí, những cái thói quen, những cái tánh tình, những cái gai góc ở trong tâm của mình chưa có hết đâu. Nó huân tập nhiều đời, nhiều kiếp, vô thỉ kiếp cho nên ngoài cái sự tu học cái tổng thể của chánh kiến, nhận diện ngũ uẩn, diệt tham, sân, si thì nó có nhiều cái nhỏ nhiệm tập khí mà mình phải để ý mình diệt trừ, mình tu tập những cái đức hạnh, thì đó là diệu hạnh.
II. Sống theo Chánh Pháp
Sau khi mình tu được những cái căn bản quan trọng rồi bắt đầu mình tu những đức hạnh nhỏ nhiệm, vi tế. Thí dụ như cái chuyện hết sức đơn giản, mình ngồi kế bên một huynh đệ mà Phật tử người ta cứ khen người kế bên hoài, từ đầu tới cuối người ta không nói gì tới mình hết lúc đó cảm thọ mình sao? Dễ chịu hay khó chịu?
Sư cô: Dạ mô Phật bạch giáo thọ sư cùng quý huynh đệ là cảm thọ lúc đó của con sẽ rất là khó chịu với người Phật tử này, khi mà mình ngồi kế bên như vậy mà cứ khen một huynh đệ chứ không có đá động gì tới mình hết. Mình nghĩ mình cũng có làm, cũng có tu nhưng mà sao nãy giờ không nói gì tới mình hết trơn.
Sư Phụ: Đúng rồi đó, cho nên mình tu là mình để ý những cái nhỏ đó, mình phải diệt tận cái tâm khó chịu đó và tu cái tâm tùy hỷ, cái tâm vui theo những cái đức, những cái hạnh, những cái tốt của người bạn mình. Người kia nói đúng sự thật mình cũng không chịu nữa, mình cũng không thấy vui nữa, phải không? Chứ người ta nói sai thì không chịu, đằng này người ta nói đúng mình cũng khó chịu, "tại sao không nói tới tôi? Không khen tôi gì hết trơn?". Đó là bản ngã của mình, phải không? Mình làm gì là mình cứ kể công hoài, "bông đó tôi chưng á", "chánh điện này tôi lau nè, tôi quét nè. Sao mà đi vô dơ quá vậy?". Những cái đó làm với một cái tâm bản ngã, với một cái tâm ta đây, với một cái tâm cư công, kể công, khoe công, thì cái đó là phàm phu, không phải là những cái đức hạnh của một người đệ tử Phật chân chánh, thánh đệ tử.
Thậm chí mình hy sinh, mình đem cho những cái rất là khó cho, hy sinh cho đại chúng, hy sinh cho mọi người luôn mà mình cũng không có không có thể hiện, không có tỏ vẻ gì hết, mình thấy mình chỉ là con số không, chỉ là trống rỗng, trống không, vô ngã, không có gì hết, mình làm để cho mình diệt trừ cái tham, sân, si, bản ngã của mình, để tội lỗi của mình tiêu trừ. Mình làm nhiều cái đức hạnh hiền thiện, nhỏ nhiệm như vậy trong một cái tâm vô ngã, vô nhân, trong một cái tâm trống không thì đó là cái diệu hạnh của mình. Vì thế cần phải tập cái tâm rộng lớn vô lượng, đừng sống với tâm nhỏ hẹp.
Ứng lý hạnh hay là như pháp hành, tức là sống với pháp đúng như pháp mà mình thực hành, đúng như pháp tức là sống với Bát Chánh Đạo, sống với Tứ Niệm Xứ, sống như Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần. Chúng ta thấy nội cái này là trùm hết trơn thành ra cái đặc chất, cái đặc tính, cái bản chất của chúng Tăng đầy đủ pháp ở trong đó, có pháp bảo ở trong đó, cho nên tam bảo nhất như, nó nhất quán với nhau, nó có sự liên kết, gắn kết với nhau và do một con người như vậy, đầy đủ những cái này cho nên người này mới xứng đáng được chấp tay, xứng đáng được đảnh lễ, xứng đáng được cúi đầu, xứng đáng được quỳ lạy, xứng đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Đó mới là định nghĩa cái chữ "Tăng" của Đức Phật và nhớ cái chữ "chúng Tăng" này không có phải là người xuất gia không, nhớ kỹ nha, trong đây gồm có thánh đệ tử, cư sĩ, cư sĩ nam và cư sĩ nữ đều có đầy đủ bốn đức hạnh này cho nên có thể chứng tới thánh quả thứ ba Bất Lai thánh quả. Và nếu một vị cư sĩ chứng thánh quả A-la-hán thì họ hoặc xuất gia hoặc là nhập Niết-bàn, mình nhớ kỹ chữ chúng Tăng ở trong kinh Nikāya là tứ chúng của Đức Phật, chữ Tăng đó là đoàn thể đệ tử của Đức Phật thì gồm có tại gia và xuất gia, Tăng Ni và nam nữ cư sĩ. Thành ra mình đọc đi rồi mình sẽ thấy có rất nhiều những vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ thuyết pháp rất là siêu suất và chứng các tầng thánh quả, thuyết pháp cho chư Tăng nữa.
Thật ra chúng ta thấy được điều này để chúng ta có sự tu tập bốn thánh hạnh, đó là bốn đức hạnh của thánh hiền. Con nói cái này để con mời chúng ta trình pháp đó, còn nhiều vị chưa có trình pháp vì mình nghe giảng thì lên trên mạng nghe được nhưng mà trình pháp hay là hỏi thì chỉ có gặp nhau trực tiếp như vậy mới hỏi được. Chúng ta có khi cái thời gian gặp nhau rất là ít chính như vậy những buổi trình pháp, những buổi pháp đàm, hỏi đáp là lợi ích nhiều hơn là chỉ ngồi nghe giảng không. Mời quý thầy, quý cô tiếp tục trình pháp trình bày sự tu học của mình trong thời gian vừa qua, những gì được, những gì mất, những gì đắc, những gì thất, những gì tiến, những gì thối hoặc là dậm chân tại chỗ, những gì nghi ngờ, nghi vấn, khó khăn, không giải quyết được thì mình trình bày lên.
Có bài kinh "Sống Theo Pháp" chúng ta về đọc kỹ cái bài kinh đó nó sẽ hỗ trợ cho chúng ta trong cái như lý hành hay là như pháp hành.
"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- 'Sống theo pháp, sống theo pháp', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo là vị sống theo pháp?
- Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thông suốt pháp tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo thông đạt nhiều kinh điển, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy dùng trọn cả ngày để trình bày pháp cho các người khác, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đấy gọi là Tỳ-kheo thuyết trình nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để tụng đọc, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo đọc tụng nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với tâm tùy tầm tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày suy tầm về pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo suy tầm nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy không dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, không phế bỏ sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, như vậy Tỳ-kheo sống theo pháp.
Này Tỳ-kheo, như vậy Ta đã thuyết về học thuộc lòng nhiều, đã thuyết về thuyết trình nhiều, đã thuyết về đọc tụng nhiều, đã thuyết về suy tầm nhiều, đã thuyết về sống theo pháp. Này Tỳ-kheo, điều gì bậc Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ khởi lên, các điều ấy, Ta đã làm cho các Thầy. Này Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Này Tỳ-kheo, hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có để về sau sẽ phải hối tiếc. Ðấy là lời giáo giới của Ta cho các Thầy" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VIII. Phẩm Chiến Sĩ, (III). Sống Theo Pháp (1))
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên giáo thọ sư cùng hoàn thể đại chúng, con xin trình pháp thời gian qua con có sự kiểm điểm bản thân của mình, đó là cái vấn đề thứ nhất của con, khi học ở trên lầu thì lúc con đi lên là mình không có cầm theo sách, theo đồ đạt gì. Khi đi lên thì thấy là mình mệt, mình thở nhưng vô tới lớp thì con cũng có quán lại "lâu lâu mình mới đổi lớp, như mấy khóa mười một ngày nào người ta cũng học trên đây, người ta lên được sao mà mình lâu lâu lên một bữa mà mình mệt, mà mình thấy mình khó chịu", con quán đó là thứ nhất.
Cái thứ hai lúc thầy dạy thì mình quán đến những người đang làm lao động ở ngoài xã hội thì con nghĩ đến ba mẹ mình cũng đang làm mưa làm nắng, làm ruộng dãi dầu như vậy mà vẫn làm, mình lên lớp mình mệt chút mà mình khó chịu thì lúc đó là lúc đó con có thể quán lại được. Nhưng cũng lên lớp học với một cái tâm bữa khác là con có xách đồ theo lên nặng, con cũng mệt nhưng mà cái tâm lúc này là con không còn nhớ, không còn nghĩ về đến việc mình quán lại nữa mà với cái tâm sân lên. Khi vô tới chỗ ngồi là con sẽ kiếm chỗ có cái quạt con ngồi, nhưng mà một huynh đệ khác di chuyển cái quạt đi chỗ khác là bắt đầu con sân lên liền, con nói là "con mệt rồi đó nha", huynh đệ đó nó là "cô Hậu mệt rồi hả?", con nói "ừ mệt rồi đó". Con nhấn mạnh vậy đó thì huynh đệ đó chuyển cây quạt quay lại chỗ cũ, ngồi một lát sau là con biết khi con nói là cái tâm con sân lên nhưng mà con không có kiềm lại được. Hôm nay có trình pháp thì con cũng xin sám hối với lời nói đó với huynh đệ ngày hôm đó con có sân lên, đó là vấn đề thứ nhất của con.
Sư Phụ: Sư cô để cho tăng trưởng thiện pháp thì sư cô bước ra ngay chính giữa hướng về hình ảnh của đức Chánh Đẳng Chánh Giác lễ sám hối Đức Phật ba lễ để cho tăng trưởng cái thiện pháp, để mình thể hiện được bằng cái thân hành sám hối cái cảm thọ khó chịu đó trước Đức Thế Tôn. Nguyện từ nay về sau con sống với cảm thọ hiền thiện, khiêm hạ, ngọt ngào và từ ái. Con nguyện con sẽ tẩy sạch hết tất cả những cảm giác bực bội, bức xúc, sân hận này. Con nguyện con luôn sống trong tâm thương, tâm từ, ngọt ngào và rộng lớn.
Sư cô 2: Dạ mô Phật, còn vấn đề thứ hai đó là lúc trước con đi xe là con đi từ đây nếu tính ra là con đi được nửa đoạn đường của thượng tọa về tới Linh Quy là con về tới Định Quán ngay thị trấn luôn, ngay Đá Ba Chồng. Lúc đó cứ trung bình là con chạy 120 cây là đúng hai tiếng rưỡi, là cả năm con cứ đi hai tiếng rưỡi là con từ đây về tới chùa, nhưng mà sau này khoảng một tháng nay chiếc xe của con nó có sự cố là con đổi qua xe khác, con mượn xe khác con đi. Nhưng mà lúc đó cái tâm của con mới chợt suy nghĩ "trời ơi hồi đó giờ mình bán mạng cho tử thân mà mình không biết". Khi con đi chiếc xe này con không nghĩ mình phải chạy tới bao nhiêu mình tới, con nghĩ là con chạy với cái tâm chạy nhanh chút là sợ trúng người này trúng người kia, không có nghĩ đến cái tâm là mình bảo vệ tính mạng của mình. Mình nghĩ tới chiếc xe mới nhớ là cái tâm tham của con nó khởi lên mà con không hay, nó ẩn chứa mà mình không hay biết, tới hôm nay nhờ cái phương tiện này mình đi mà mình mới biết là mình bán mạng mà mình không hay, để tới hôm nay vô tình mình mới biết là cái tâm tham của mình ẩn chứa trong đó, nó không có dịp để nó khởi lên, tới khi đủ duyên nó khởi lên nhưng mà chợt mình nhận ra được cái vấn đề. Mình nhận ra là trong mình có cái tâm tham mà mình không hay biết. Đó là vấn đề thứ hai của con, con cũng xin còn một vấn đề nữa là khi mình chưa đụng chuyện, mình đi đám rồi mình khuyên gia chủ khuyên người ta như thế này, như thế kia.
Đến khi nhà con gặp việc thì con cũng khuyên người nhà cũng nghe, cũng làm theo đúng như vậy nhưng mà trong thâm tâm con nghĩ mình nói được nhưng khi thực hành thì mình chưa thực hành tốt, dù người nhà mình không có nói, không có chê trách gì mình hết. Nhưng mình cảm nhận lại lời nói của mình, mình khuyên người ta mười mà tới khi mình thực hành chỉ được có ba bốn, không được như những lời mà mình khuyên người ngoài, tới khi người nhà mình thì mình mới cảm nhận được hết. Tự nhiên con thấy cái tâm con xấu hổ khi mà mình đứng lên mình nói phải tu như thế này, phải giảng như thế này và phải thực hành như thế này. Những cái lý thuyết đó rất là hay, rất là cao thượng nhưng khi mình thực hành thì mình thực hành không được.
Con tự nghĩ là nếu mình sống mà mình làm không được, mình cứ nói, mình cứ khuyên người ta không biết thì thôi nhưng mà khi người ta biết mình "cô này nói hay vậy đó nhưng mà khi đụng chuyện cô không có làm được như vậy", thế là con tự nghĩ là con xấu hổ với bản thân. Con cũng nói với mấy huynh đệ nhiều khi lên giảng mình nói như thế này mà trong cuộc sống của mình, mình thực tập không được, con dùng cái từ là y như là mình treo đầu dê bán thịt chó vậy đó. Nói chung là mình nói mà mình làm không có được, mình xấu hổ giờ, từ đó con có cảm giác là mình phải e dè lại những cái lời nói của mình, những cái hành động của mình để khi thà mình không làm thì người ta mới không biết, còn một khi mình đã làm rồi thì trước sau gì họ cũng sẽ biết. Thà là mình nói ít mình làm được ít, mình thực hành, mình nói được bao nhiêu thì mình sẽ thực hành được bao nhiêu chứ để khi mình lên mình nói những cái từ hoa mỹ, nó phô trương, nghe rất là thánh thiện nhưng khi xuống bục giảng, xuống với cuộc sống thường của mình thì mình làm không được.
Từ lúc đó là con bắt đầu con sợ như là mình sợ nhân quả vậy đó. Bây giờ mình sống như thế nào, mình làm như thế nào thì mình hãy nói chứ để lên mình nói, mình vẽ ra quá trời luôn mà khi mình thực hành thì không được. Dạ mô Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt. Lành thay! Lành thay! Thiện lành thay! Con thưa với các thầy, các cô, việc làm của người xuất gia chúng ta là cả đời quay trở lại tìm lỗi của mình, thấy lỗi, nhận lỗi, sửa lỗi, giảm lỗi, bớt lỗi và đi đến chỗ hết lỗi. Hãy nhớ kỹ câu nói này, suốt đời không có quên. Sự tu hành là một sự nội quán, nội soi, nội chiếu, nội tỉnh, quay trở lại để nhìn thân tâm của mình mà nhất là chúng ta được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn là một sự nội soi toàn diện, đầy đủ mọi phương diện, khí cạnh, góc độ, thâm sâu, phổ quát, đa diện của thân tâm chúng ta. Nếu chúng ta không thực hành cái này thì uổng cho một cuộc đời tu chúng ta, rất là uổng khi chúng ta gặp được chánh pháp Nikāya này mà chúng ta không có làm thì bỏ qua cơ hội ngàn năm một thuở, vô lượng kiếp có một lần.
Cho nên sự trình pháp vừa rồi của sư cô rất là tốt, con rất là quý kính. Hãy thành thật, chân thật, đó là đệ tử của Đức Phật đó, trực hạnh là đệ tử của Đức Phật. Bây giờ chúng ta phải biết cách tác ý, con chỉ cho các thầy cô cái cách tác ý, tác ý như vừa rồi chúng ta tác ý nhẹ quá, nó không đủ sức, để trị một cái tâm khó chịu, bực bội, bức xúc, sân hận này phải tác ý mạnh, tác ý sâu, tác ý rộng. Người tu chúng ta nếu không có suy xét cho thấu đáo dễ rơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hơn i người không có đi xuất gia. Người xuất gia dễ đọa tam đồ ác đạo hơn, người xuất gia chúng ta là dễ chết ở trong cái sự an nhàn, êm ái, ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng, cơm không cần phải lo, áo đâu có lo, nhà cửa có sẵn đâu có lo, xe cộ, tiền xăng, điện nước không lo gì hết.
Chính cái sự nhàn hạ, không lo lắng này biến mình trở thành một đời sống lục bình trôi sông, không có phát khởi lên một cái cảm giác lo lắng, suy tư, một cái cảm giác băn khoăn, trăn trở, thao thức, ưu tư, sợ hãi, mà không có cái này thì đời tu mình coi như kết thúc rồi, chết rồi, chỉ có một cái thay ma thôi, không có một cái tâm hướng thượng về giới đức, thiền định, trí tuệ, không có một cái tâm cầu mong viễn ly, xuất ly, xả ly, thoát ly rồi mình cứ sống qua ngày đoạn tháng như vậy thì mình chết rồi, đời tu mình chấm hết rồi, và cái sự đọa lạc khả năng rất là lớn. Mình phải phá được cái cảm giác si này, cái cảm giác si tuỳ miên, vô minh tuỳ miên, cái cảm giác trơ trơ, đơ đơ, cái cảm giác an toàn, vô cảm này mình phải phá nó.
Phá nó bằng cách nào? Đức Phật dạy cái cảm giác vui phải quán nó là khổ, vui trong tham dục, vui là khổ. Bây giờ lên ngồi bàn trai Tăng vui không? Ăn mười mấy món vui không? Nếu mình không quán đây mồ hôi, đây là nước mắt, đây là máu, huyết lệ của người ta thì mình vui ở trong cái cảm giác vui đó là vui trong tham dục, vui là khổ đó. Người ta cho mình đi chơi, đi du lịch vui không? Phải quán là khổ, mình tu mà làm gì có đi du lịch? Tiền đâu của mình đi du lịch? Người đời dành dụm, người ta lấy đồng tiền sau những cuộc mồ hôi, nước mắt, cực khổ, nhọc nhằn người ta giải khuây, người ta giải trí một chút cái thành quả sự khó nhọc của người ta. Người ta đi du lịch, đi giải trí, còn mình làm gì mà giải trí? Có tiền đâu mà giả trí? Có tiền đâu mà du lịch cho nên người tu tuyệt đối không có đi chơi, đi chơi là mang họa, mắc nợ, là một sự phỉ nhổ vào chính mình.
Người xuất gia không có chuyện đi chơi, chẳng qua là mình đi công việc gì đó rồi tiện thể ghé thăm hay gì đó, chứ tuyệt đối xuất gia là không có đi chơi. Trở lại cái vấn đề, mình sẽ chết trong một đời sống ẩn dương nương Phật, sống lơ lơ, lửng lửng, qua ngày, lục bình trôi sông, không có ý chí cầu tiến, không có ý chí tiến thủ, không có ý chí viễn ly, xả ly, xuất ly, đoạn ly, không nuôi lớn một cái ý chí mạnh mẽ để giải thoát là tại vì mình cơm có sẵn rồi, áo có sẵn rồi, nhà có sẵn rồi, xe sẵn rồi, xăng sẵn rồi. Người ta quỳ lạy dâng lên cúng rồi ngồi đó ăn, con đã chỉ cách tu trong lúc thọ trai, nghe kỹ bài đó trăm lần, ba trăm lần, năm trăm lần để biết cái cách tu khi ngồi thọ trai cúng dường.
Phải tu cho sâu sắc còn không thôi là mình sẽ chết, mình sẽ đọa, bây giờ mình suy nghĩ coi, cái tuổi ông, tuổi cha, tuổi bà nội, ông nội mình, mua gánh bán bưng, đi bán vé số, đi lượm ve chai, đi gom phế liệu, đi chìa tay ăn xin, thậm chí chín chục tuổi còn đẩy cái xe rùa đi bán rau. Trong khi mình bây giờ còn thanh niên thiếu nữ trẻ khỏe như vậy, chỉ có đi học thôi mà mình sân si cái gì, mình la cái tâm, mình quở cái tâm, mình trách cái tâm, mình mắng cái tâm, mình chửi cái tâm của mình. "Ngươi làm cái gì ở đây? Ngươi đang làm cái gì? Ngươi có biết giờ này cha mẹ ngươi đang làm gì không? Ngươi biết cô bác ngươi đang làm gì không? Có biết bao nhiêu những con người đang đói thiếu ngoài đường đầu đường xó chợ, mua gánh bán bưng, thức khuya dậy sớm, ngươi bước mấy bước đi học mà sân si hả? Ngươi muốn xuống hỏa ngục hay sao? Để ta đưa ng vô hỏa ngục để ngươi ôm những cái cột đồng cháy đỏ đó cho ngươi biết thế nào là nóng nực, ngươi xuống dưới để sân".
Phải tác ý mạnh như vậy, "ta đưa ngươi vào chảo dầu sôi để ngươi biết thế nào là nóng hỡi cái tâm ngu si này, cái tâm ngu muội, mê muội, hôn mê này, hôn ám này, cái tâm mù lòa này. Ngươi mở mắt ra, ngươi tỉnh đi, ngươi nhìn thấy bao nhiêu người đau khổ, bao nhiêu người mồ hôi, bao nhiêu người phải rướm lệ, bao nhiêu người phải đổ xương máu xuống để kiếm được cái áo, để kiếm được một chén cơm manh áo. Bây giờ ai quỳ xuống đây để cung phụng, cúng dường, đảnh lễ cho ngươi để ngươi tu học, một chút như vậy mà ngươi sân si, ngươi khó chịu, ngươi bực bội hỡi này cái tâm mê, cái tâm si, cái tâm dại khờ kia". Phải tác ý mạnh lên, mà con thưa thiệt với các thầy, các cô là ở đây con không có dám nói mạnh lắm, nói vừa vừa thôi chứ còn nếu ở trong chùa ở trên con thì con nói mạnh hơn nữa, phải dùng hết tất cả những cái gì mạnh nhất bổ vô cái tâm hôm mê, cái tâm ngủ say, cái tâm mù lòa cho nó tỉnh thức, càng mạnh càng tốt.
Mình ngồi xuống viết nguyên một cái bài tác ý chửi nó, viết cái bài đó luôn, mình đọc thoại với tâm mình, mình nói chuyện với tâm mình, mình la tâm, mình rầy tâm, mình trách tâm, mình chửi tâm, mình mắng tâm mình. Như vậy đó là như lý tác ý, thánh tư duy, chánh tư duy, là tuệ lực, là sức mạnh, vậy là vừa thương cho roi cho vọt cũng là thương cho êm cho ấm luôn, bây giờ dùng tâm từ. Có khi mình sử dụng cương, có khi sử dụng nhu, có cứng, có khi sử dụng mềm, có khi mình đánh nhưng mà có khi mình cũng xoa, "ta tội nghiệp ngươi quá, ta thiệt là tội nghiệp cho ngươi đó cái tâm ngu, cái tâm mê. Ngươi đang làm cái gì vậy? Ngươi đang sống như thế nào? Ngươi có thấy ngươi đáng thương không? Ngươi có thấy ngươi đáng thương hay không? Ngươi bây giờ là một kẻ tàn phế hay sao, ngươi què không có chân ngươi lếch hay sao? Bây giờ ngươi có chân đi được mà ngươi còn sân si hả? Ngươi muốn vô đầu thai làm kẻ què không? Muốn làm những chúng sanh gọi là trường bò, bàng sanh, cái xương sống nằm ngang phải không chứ tại sao ngươi được làm người như vậy, ngươi được xuất gia mà một chút như vậy ngươi khó chịu là sao? Ngươi đáng thương lắm, ngươi là phế nhân, là khuyết tật, cái tâm này là một cái tâm bệnh hoạn, một tâm tật nguyền, một cái tâm hèn hạ, một cái tâm thấp kém".
Mình phải tác ý mạnh như vậy đó, mình đánh cái cảm thọ này, mình diệt nó luôn. Mình làm mạnh một lần cho tới ba lần, năm lần từ đó về sau nó hết luôn, nó diệt luôn, không còn sanh khởi trở lại trong tương lai luôn chứ mình để thì vài bữa nữa nó sanh khởi nữa. Cái quạt cũng vậy, "bây giờ ngươi muốn mát phải không? Ta cho ngươi xuống hàng băng địa ngục để ngươi xuống dưới đó mát dữ lắm". Chúng ta về đọc trong kinh địa ngục để thấy, để tìm cái mát ở trong đó, tác ý vậy để diệt tận cái tâm đó luôn, "ngươi thật là đáng thương, ngươi thật là tội nghiệp, ngươi thật là tồi bại, ngươi thật là hèn hạ, ngươi thật là bệnh hoạn. Cái tâm này là một cái tâm khuyết tật, cái tâm tật nguyền, cái tâm hôn mê, ngươi tỉnh ra đi. Ngươi có thương cha, thương mẹ, thương ông, thương bà không? Ngươi có thương Đàn-na tín thí không? Ngươi có hiểu là giờ này người ta khổ như thế nào không mà người ăn sung mặc sướng, rảnh rỗi như vậy, mấy bước đi thôi mà sân hận là sân hận cái gì?"
Chúng ta tác ý vậy đó, nhiều cái để tác ý lắm, đó là cái phần thứ nhất là cái phần sân, tới cái phần tham mình cũng tác ý mạnh. Vì cái tâm tham, vì cái tâm muốn, vì cái tâm dục, vì cái tâm yêu thích cái thân này cho nên nó hôn mê, nó không nhìn thấy nguy hiểm, cái tai họa tiềm ẩn ở trong cái tâm tham đó. Thế Tôn nói tâm tham này là tác thành mù lòa, tác thành không mắt, tác thành vô trí, tác thành ngu si, mê muội. Mình dùng tất cả những lời lẽ mạnh nhất để mình đánh nó, diệt nó, còn cuối cùng là nhục nhã sanh thánh quả, người nào tu mà không có nhục nhã, không có sợ hãi tức là không có tàm quý thì không bao giờ tu được. Cái cuối cùng là một sự xấu hổ, sự nhục nhã, sự lo lắng và sợ hãi vì mình chưa có xứng đáng những cái đức hạnh, giới, định, tuệ không có đầy đủ, tri kiến không có đầy đủ, sự thấy biết về khổ mình chưa có, không thấy được cái vô thường, khổ, vô ngã trong cái tứ đại ngũ uẩn đáng kinh, đáng gớm, đáng chán, bất tịnh, hôi dơ, ung nhọt, tai họa, đầy bất an, đầy đau khổ, đầy bất hạnh, đầy bất trắc, bất thường, bất ổn, bất định này.
Mình thấy mình thật là tội nghiệp, thật là đáng thương, thật là xấu hổ, thật là nhục nhã, thật là lo lắng, thật là sợ hãi để làm một cái động lực để mình nỗ lực như thế nào để thể nhập được cái chân pháp, cái chánh pháp, để mình thật sự là ứng lý hạnh, như pháp hành, để thật sự là mình sống ở trong pháp, mình thể nhập ở trong pháp, mình tương ưng với pháp, mình với pháp là một. Mình phải có cái vốn liếng, có cái trí tuệ, có cái thấy biết để khi cái tâm nổi lên như vậy mà thiện hay bất thiện là mình thấy liền, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch bằng nhiều phương pháp, bằng nhiều cách thức, bằng nhiều phương tiện thiện xảo, bằng tuệ lực của mình, chánh tri kiến của mình, thánh tri kiến của mình, bằng những lời như lý tác ý đanh thép, mạnh mẽ, sắc bén.
III. Giải oán kết
Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, cung kính bái bạch trên thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa quý đệ đồng học thì hôm qua cái tiết học này con cũng có cái tâm tư, cái ưu tư, cái câu chuyện chất chứa cũng bấy lâu mà cũng chưa có giải tỏa được nên còn bị tắc khí, không có thông. Nhân tiện hôm nay học pháp hành, mấy huynh đệ cũng chia sẻ chân thành, chân thật, chất phát thì con nói lên cái cảnh, cái việc của con để trên thượng tọa chứng minh cũng như là chư tôn đức Tăng Ni nhị bộ Tăng già ở đây chứng minh cho con. Đường tu của con không có được thuận duyên lắm cho nên gặp một số cái nghịch duyên với thầy tổ, từ ngày con xuất gia thì con không có học được nhiều từ thầy tổ của mình, đổi lại là những lời rầy la, quở mắng với những hình ảnh không đẹp con nhìn thấy nên cái tâm con không có phục. Khi nó không phục thì nó không có chịu, khi sư phụ giảng con cũng không có để tai lắng nghe cho nên tình thầy trò của con và thầy tổ của con xa cách lắm. Tuy ở trong một chùa nhưng mà giống như ở hai thế giới khác biệt vậy, chính vì những cái nội kết lâu dài đó khi con tốt nghiệp trung cấp trên Tây Ninh xong con cũng có một số cái chướng duyên oan gia trái chủ hành xác con, những cái phần âm nên con về xin sư phụ đi ra miền Trung để gặp một số huynh đệ dùng pháp để trị cho con.
Con về có lạy sư phụ, sư phụ cũng nói cho con đi, rồi khi con gần về thì lúc đó đã qua mùa dịch thì con có gọi cho một vị sư huynh ra rước con thì sư phụ không có cho. Sư phụ đuổi con luôn, con điện thoại sư phụ nói "giờ đi luôn đi, đừng về nữa" thì cái lòng câm thù, căm phẫn, khó chịu của nó giống như là nó bóc lên tới nóc nhà luôn rồi. Lúc đó con rất là buồn bực, con về vô sân lấy xe con đi luôn, khi sư phụ biết con bỏ đi về núi tu thời gian rồi con muốn đi học, khi biết chỗ con ở rồi nói một số điều không có đẹp về con với cái vị cho con ở, rồi đi nói chỗ này chỗ kia giống như trệt đường của con vậy đó.
Lòng căm thù con như thêm một tầng nữa, con rất là buồn bực, khi nhìn thấy cái hình ảnh ai mà nhắc tới thì con giống như nổi máu xung thiên vậy đó. Thông qua khi mà học thượng tọa cũng nói ơn giáo dưỡng, ơn của thầy tổ rất là to lớn thì sẵn ở đây thì con cũng hướng về chư Tăng sám hối cái tâm cống cao ngã mạn, những hành vi không có tốt với thầy tổ của mình, cũng như các bậc sư trưởng đã từng dạy dỗ con. Chính cái việc này, cái ưu tư, cái uất ức của con lớn lắm tại bây giờ con đi đâu cũng giống như người bỏ thầy, phản thầy rồi đủ thứ cái, nói chung là buồn lắm, đi tu mà thầy tổ nói mình này kia rồi coi như là triệt đường sống của mình luôn là giống mình trở thành phế vật luôn vậy đó, quái thú luôn.
Con rất là ưu tư, buồn bực, sầu não nhiều cái lắm, đôi lúc mình không có biết chia sẻ với ai cho nên có những cái tắc khí ở trong người. Con biết con tu không tiến là cũng có nhiều nguyên nhân, nhiều lần con cũng tính xả giới ra đời, rất là nhiều lần thối sụt, không muốn tu nữa. Hôm nay nhân dịp này cũng trình bày, thưa lên với thầy cũng như Tăng Ni, chư huynh đệ ở đây để chứng minh, liễu tri cho lời sám hối của con để những cái ưu tư, uất ức, trăn trở của con bấy lâu nay nó được đả thông, nó khai thông để cuộc sống con nhẹ nhàng hơn, chứ để con khổ lắm. Nói chung là đi đâu ai cũng phản thầy rồi đủ thứ cái, bị gán cho nhiều tội lắm, nhiều khi con muốn ra đời làm lại người thường đi chứ đi tu nhiều cái còn nhiều khi tệ hơn nữa, thôi tu làm cái gì khổ sở như thế. Thì xin trình bày trên thượng tọa giáo thọ sư chứng minh, quý huynh đệ chứng minh cho lòng sám hối chân thành của con để con giải tỏa những cái tâm tư này và có lời chỉ dạy cho con để tiếp tục tiến tu. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Thầy bước ra đảnh lễ hướng về sư phụ, hướng về tam bảo, hướng về các bậc ân nhân với cái tâm biết lỗi, nhận lỗi, sám hối chân thành bằng tất cả tấm lòng của mình cầu xin tha thứ ở trong lòng.
Nguyện cho con luôn nhìn thấy được nhân quả nghiệp báo nhiều đời, xóa sạch những tâm sân hận, oán kết.
Nguyện cho con từ nay cho đến mạng chung sống với cảm giác biết ơn, nhớ ơn đối với tất cả.
Nguyện cho con tháo gỡ sạch tất cả những mối oan kết, những nội kết để cho tâm con được nhẹ nhàng, thanh tịnh, tăng thượng trong giới đức, thiền định, trí tuệ và giải thoát.
Lành thay! Lành thay! Thiện lành thay! Rất là tốt, rất là tốt, chúng ta người tu với nhau có một cái đạo tình thiêng liêng, linh sơn cốt nhục, quyến thuộc bồ đề, nếu mà mình hiểu được thì mình thương nhau không hết chứ mình không có làm khổ cho nhau. Tại vì mình chưa có thấy được khổ thánh trí, khổ thánh đế, chưa có nếm được sự thật về khổ trong đời sống này, trong ngũ uẩn này, nếu thật sự mình thấy, mình biết, mình sẽ không làm khổ cho nhau. Nếu thật sự mình thấy, mình biết được cái nhân quả, cái nghiệp báo của nhiều kiếp trong quá khứ mình sẽ không có hờn trách bất cứ một ai hết, huống chi là thầy trò, huynh đệ, cha mẹ, anh em. Tất cả chúng ta đều là có một cái món nợ từ quá khứ cho nên chúng ta hãy với một cái tâm đón nhận, tiếp nhận bằng một tình thương, một sự hiểu, cảm thông, dầu cho chúng ta chưa có hiểu được nhiều cũng cố gắng đừng có để cho sanh ra những cái hiềm khích, những cái oán trách, hận thù.
Hãy nhớ thật là kỹ, thêm một người bạn hơn là một người thù huống chi là các bậc sư trưởng, hãy chấp nhận và hãy sống với một cái tâm buông xả, tâm hiểu thương, tâm tha thứ. Mình phải nhìn thấy được mục đích của mình xuất gia không phải đi tìm những cái này, mình tìm giải thoát, những cái này mình cứ bỏ qua, bước qua, đi qua nó để mình vượt lên nó và cái ý nghĩ ra đời là không đáng, con thì ngược lại con thưa các thầy các cô, con gặp nghịch cảnh nhiều chừng nào là con vượt mạnh nhiều chừng đó, lạ vậy đó.
Cái gì càng khó chừng nào con càng thích làm, con đi con đường này cũng nhiều chông gai, nhiều phản đối khủng khiếp lắm, con đi một con đường riêng chỉ có giống mình Đức Phật, không có giống với những cái gì mà con đã được thừa hưởng cho nên con càng cảm thông. Khi thầy nói con cảm thông rất là nhiều, con thấy mình ở trong đó, chúng sanh ở trong đó và tất cả người tu chúng ta cũng nhiều cảnh ngộ, mà cái tâm thương của mình lan tỏa rộng lớn.
./.
Bốn Đức Hạnh Người Tu
Tu Học Mệt Mỏi?
Làm Sao Giải Oán Kết 1?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn đức hạnh người tu PAGEREF _Toc213873504 \h 1
II. Sống theo Chánh Pháp PAGEREF _Toc213873505 \h 8
III. Giải oán kết PAGEREF _Toc213873506 \h 17
I. Bốn đức hạnh người tu
Một tấc thời gian: một tấc vàng,
Tấc vàng khó chuộc tấc thời gian.
Con đứng lớp mấy chục năm chưa bao giờ đi trễ giờ hết, mấy chục năm lên lớp chưa có một tiết học nào đi trễ hết và đi ra giảng pháp, hoằng pháp cũng mấy chục năm không có một buổi giảng pháp nào trễ hết. Cho nên cái tu học của mình là từ những cái hạnh nhỏ mới trở thành cái đức lớn, cái phàm phu xem thường lại là cái điều mà các bậc thượng triết lưu tâm, đó là cái câu ở trong triệu luận. Và ở trong kinh tạng Nikāya đó có một cái câu là "sợ hãi các lỗi nhỏ nhặt", hôm qua chúng ta có nghe cụm từ chấp nhận các học pháp thì hôm nay chúng ta học thêm cụm từ là sợ hãi các tội lỗi nhỏ nhặt.
Con thí dụ cho chúng ta thấy, đúng ra là mình học hai tiết là từ mấy giờ tới mấy giờ? Đúng hai tiết là phải vậy mà chúng ta mất như vậy là bỏ bao nhiêu? Một ngày chúng ta bỏ hơn nửa tiếng thì chúng ta cộng lại tuần là bao nhiêu, tháng là bao nhiêu, một học kỳ là bao nhiêu, một năm là bao nhiêu, ba năm là bao nhiêu. Rất là nhiều, đó là chưa kể khi mình lên lớp mà cái lúc đó tâm của mình không có chú tâm trong khi nghe pháp thì dầu cho mình có mặt nhưng mà cũng không tính, tại lúc đó mình bị năm triền cái xâm chiếm, áp đảo, có khi mình ngồi đó nhưng mà cái tâm mình lo. Cái tâm đó là ở trong trạng thái trạo cử, buông lung, như vậy dầu cho có mặt mà không có chú tâm, tập trung, lắng tai nghe pháp thì vẫn không tính cái thời gian đó, hoặc là mình hôn trầm, hoặc là cái tâm mình lo ra, nghĩ ngợi lung tung, không có tập trung thì dầu có mặt cũng không tính.
Như vậy trong một thời học mà chúng ta học một thời pháp như vậy một tiếng rưỡi thì cái thời gian mà chúng ta tập trung tâm ý, lắng tai nghe pháp được bao nhiêu? Nhất là cái giờ buổi trưa này nữa, trưa l không có nghỉ nữa, khuya thức công phu, đây nói mấy người tinh tấn thì cái hôn trầm xâm chiếm, rồi thân tâm trạo cử, trạo hối, rồi trễ giờ thì chúng ta thấy trừ ra không còn bao nhiêu hết. Chính vì vậy mà cái sự học chúng ta giống như cái rổ mà mình đổ nước vô nó tuộc hết trơn, thành ra học tu hoài mà không có tăng trưởng, không có thâm sâu cái trí tuệ vì chúng ta xem thường những cái nhỏ.
Chính vì vậy mà các thầy cô thấy tới giờ là con lên lớp, hôm trước hai ba người cũng lên lớp. Mình lên lớp không phải vì những người không đến mà mình vì những người có mặt, thành ra trong một cái pháp nhiều cái để học lắm, nhiều cái lắm, cái đi học trễ hoặc là cái vô trễ, hay là ra sớm, hay là học với cái tâm uể oải, học với cái tâm lo ra, học với cái tâm không có tập trung thì những cái đó không tính và đó chính là nguyên nhân để cho diệu pháp hỗn loạn, biến mất, không cung kính chánh pháp, không có cung kính thiền định, không có cung kính thánh trí tuệ, không có cung kính Tăng. Đó là nguyên nhân chánh pháp, diệu pháp biến mất, thành ra nhiều pháp lắm, nếu mà mình học là chỗ nào cũng có nhiều cái pháp. Khi mình trình pháp cũng vậy nữa, mình trình pháp không có nhiệt tình, kêu tới mình thì mình mới trình, mà kêu mình trình thì chỉ trình có một hai chuyện thôi rồi giấu lại, thì tất cả những cái đó chưa đủ chuẩn để học thánh pháp. Như vậy trình pháp không có đủ bốn cái đức của thánh hạnh.
"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)
Đây là bốn cái đức hạnh để tạo thành chất liệu, để cấu thành một người xuất gia, một người thánh đệ tử, để trở thành một thành viên dự vào hàng Tăng bảo. Nếu không có bốn đức hạnh này không phải là người tu, nếu chúng ta chưa học Nikāya là chúng ta chưa có nghe cái này đâu.
Cái lớp của chúng ta rất là đặc biệt, con chỉ khác hơn tất cả các lớp khác, khi mình nói, khi mình trình pháp, khi mình đọc kinh hoặc khi mình làm công chuyện, hay là chạy xe, tất cả mọi cái mà mình làm trong một cái cảm thọ thúc giục, gấp gáp, gấp rút, vội vã, vội vàng, hấp tấp, bộp chộp là mình đang làm ở trong một cái cảm thọ dục. Phải nhớ kỹ cái này, không ai chỉ đâu, ở trong cái cảm thọ dục rất dễ xảy ra lỗi lầm, sơ xuất và tai nạn, chỉ có mình nhận diện ngũ uẩn, mình tu tập trí tuệ về ngũ uẩn mình mới biết, nếu không là không có biết. Mình đi hấp tấp thì sao? Chạy xe hấp tấp, vội vàng thì sao? Nói chuyện hấp tấp thì có vấp không? Có lẹo lưỡi không? Có lỡ lời không? Mình suy nghĩ mà mình gấp gáp, mình không có suy nghĩ cặn kẽ thì cái suy nghĩ của mình có thấu đáo không? Nó có sâu sắc không? Nó có chính xác không? Nó có dựa vào pháp để suy nghĩ không hay là nó quyết định theo cảm tính? Quyết định theo cái ham muốn, quyết định theo bản ngã, nó quyết định theo cái cạn cợt, sân hận, bực bội?
Lúc đó mình nói ra mình quyết định là hư chuyện hết, chính vì vậy nhất định phải luôn luôn kiểm soát cái dục ở trong cảm giác, trong cảm thọ. Đó là cái thứ nhất, cái thứ hai khi mình trùng tuyên thánh điển, bất cứ một thành viên nào trong lớp Tăng Ni chúng ta và sau này lên giảng pháp phải đọc bằng một cảm thọ cung kích tột cùng, từng lời, từng câu, từng chữ mình xem giống như Đức Phật đang hiện tại nói cái lời đó. Mình hồi tưởng lại, mình dùng cái tưởng của mình xuyên không 2600 năm trước, hình ảnh Thế Tôn ngồi và thánh chúng nói ra cái lời kinh đó, mình đọc như vậy là trong cảm Thọ vừa an tịnh, vừa lắng dịu, vừa cung kính Phật, cung kính pháp và cung kính chư vị thánh Tăng truyền thừa pháp tạng.
Chúng ta thấy nhiều cái pháp không? Đọc như vậy gọi là trùng tuyên thánh điển, trùng tuyên thánh pháp, không phải đợi tới cái tháng cuối năm đi qua bồ đề đạo tràng rồi ngồi nghe người ta đọc kinh Pali lúc đó mới là trùng tuyên tam tạng, ngay tại chỗ này, bất cứ ở nơi nào mình nói về bài kinh thì lúc đó là trùng tuyên thánh điển.
Sư Thầy: Mô Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư bốn hạnh của một vị Tăng hay là một người xuất gia được Đức Phật dạy trong kinh Trung Bộ bài số bảy, bài kinh tấm vải. Thứ nhất là diệu hạnh là đệ tử của Đức Thế Tôn, thứ hai trực hạnh là đệ tử của Đức Thế Tôn, thứ ba chánh hạnh là đệ tử của Đức Thế Tôn, thứ tư là như lý hạnh hay là ứng lý hạnh là đệ tử của Đức Thế Tôn.
Sư Phụ: Có khi gọi là chánh hạnh, có khi gọi là chơn chánh hạnh, có khi gọi là ứng lý hạnh cũng có khi gọi là như pháp hành. Đây gọi là bốn thánh hạnh và chúng ta nhớ bốn thánh hạnh này không phải của riêng chư Tăng nha, nhớ kỹ nha, Hồi nãy thầy nói của người xuất gia, đây là gồm chung cho tất cả xuất gia và tại gia ở trong hàng thánh đệ tử của Đức Phật, thành ra chữ chúng Tăng rất nhiều người hiểu lầm. Đây là cái đặc tính, cái đặc chất, cái bản chất, cái tính chất, cái chất liệu, cái yếu tố để tạo thành một người đệ tử chân chánh của Đức Phật là thánh đệ tử.
Ở trong kinh tạng Nikāya không có giải thích như khi mình tu tập sẽ thấy biết được, nãy giờ chúng ta đang nói cái tính chất này là có khi để cái này đầu tiên, trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là đệ tử của Thế Tôn, cái này quan trọng. Trực hạnh là cái gì? Một cái nội tâm, một cái lời nói, những cái hành động ngay thẳng, chánh trực, chực là chánh trực, là ngay thẳng. Diệu hạnh là những cái đức hạnh vi diệu thành ra chữ trực với chữ chánh này gần với nhau, tức là những cái đức hạnh ngay thẳng, chơn chánh, thành thật, chánh trực. Chữ trực với chữ chánh cộng lại thành chánh trực hoặc là chơn chánh, cái này rất quan trọng, không có cái này là không tu được, đó là một cái tâm chân thật, chân thành, chân chánh.
Chính vì vậy ở trong kinh Nikāya chúng ta gặp thêm một cái từ nữa là "chân nhân", đây là từ tương đương với những cái ý nghĩa này. Có nhiều từ trong Nikāya và chúng ta sẽ gặp được những cái từ tương đương nữa là "như thật", "như chân" nghĩa là đúng như sự thật. Tất cả những cái từ đó là nói lên cái ý gì? Cái quan trọng là một cái tâm thành thật, chân thật, chân chánh, chánh trực, ngay thẳng, thành thật, những cái này quan trọng, cực kỳ quan trọng. Nếu mình tu mà cái tâm mình không có thành thật, tâm dối trá, xảo trá, bất chánh, bất minh, xảo ngụy, gian trá thì không tu được, trừ khi nào sửa cái này thì mới tu được tại vì đây là chánh pháp. Bây giờ chúng Tăng thì phải tương ưng với chánh pháp chứ người mà không tương ưng với pháp thì làm sao nhân pháp hợp nhất được? Chúng ta nhớ kỹ chỗ này.
"Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Đáng được tán thán, này các Tỳ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Đạo Sư. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)
Đó là cái bản con ghi ở chánh điện ở trên Quán Chiếu Đường, Cổng Trời đó, không phải cái thấp kém mà có thể đạt được cái cao thượng, phải là cái cao thượng mới đạt được đến chỗ cao thượng, cái nhân pháp này phải tương ưng, chúng ta có Tương Ưng Bộ kinh. Như vậy một cái tâm dối trá, không có chân thật làm sao tu được chánh pháp? Cho nên khi trình pháp rất là quan trọng, khi mình trình pháp thì bậc thầy thiện xảo, bậc thầy có trí tuệ, bậc thầy minh kiến nhìn ra được hết ngũ uẩn của mình, không cần phải có thần thông, con ngày xưa khi học với sư phụ của con là bậc đạo sư nói chuyện qua điện thoại thôi nhưng ngài đọc ra hết cái ngũ uẩn của mình. Tâm đang có cái gì trong đó, ngài nói một cái mình đứng hình hết trơn, rúng động hết trơn, ngài chỉ nghe cái âm thanh trong điện thoại thôi thì ngài biết sự tu của mình đang tiến, thối hay là dậm tại chỗ. Cái âm thanh thôi, chúng ta thấy khiếp không?
Quay trở lại cái vấn đề, cái tâm chân thật, chân thành, chân chánh, nhìn ở bên trong con người của mình một cách ngay thẳng, có dục, tham, ái thì nói là có, tình trạng của nó nghiêm trọng như thế nào thì mình trình bày. Còn cái này mình giấu, mình không nói, nói con không có gì hết, con an ổn, con tu bình thường, nói láo, nói dóc, che đậy, mình dối trá với bậc đạo sư của mình rồi xong, cái bậc đó là bậc giáo thọ, bậc A-xà-lê, bậc sư phụ bậc đạo sư của mình, còn hơn cả cha mẹ nữa. Bây giờ chúng ta tu dám nói hết không? Có cái gì dám nói với sư phụ không? Có dám lại nói với con không? Hiếm lắm, con đứng lớp mấy chục năm mà rất hiếm, đếm trên đầu ngón tay có một số Tăng Ni sinh dám lại trình bày riêng hoặc là điện thoại, một số vị là điện thoại tới khóc "bây giờ con bị phạm giới, con đau khổ, con trằn trọc, con hối hận nên thầy giúp cho con".
Những cái đó rất là tốt, rất tốt, rất là tốt, đó là người chân thật, chân thành, chân chánh, muốn tu hành. Con bị lỗi cái này, con bị phạm cái kia, con bị sai cái nọ, hãy giúp đỡ cho con, còn phần lớn, đa số là che đậy, che giấu thì như vậy không có một cái trực hạnh, không có chánh hạnh cho nên khi trình pháp phải trình hết. Như ngày hôm qua chúng ta trình pháp có một số vị rất tốt, dám nói ra được là rất tốt, còn nhiều khi mình không trình mà thấy người ta nói sự thật mình cười chúm chím là không tốt cho nên tính chất chân thật rất quan trọng dù ngoài đời hay là trong đạo, nhất là ở trong đạo thì cái tâm chân thành, chân thật, chân chánh, thành thật, ngay thẳng, chánh trực như vậy thì cái này học được chánh pháp. Nếu như cái tâm mình chưa có thành thật thì phải làm cho nó thành thật thì mới học được chánh pháp. Mọi người thấy rõ chỗ này chưa?
Mình thành thật nhìn nhận cái dục, tham, ái của mình để mình sám hối với sư phụ, sám hối với thầy, mình trình bày ra với những bậc trưởng lão, tôn đức, trưởng thượng chỉ dạy cho mình cái cách nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận, diệt tận. Bây giờ mình nhìn thấy cái bản ngã trong mình ngông nghênh, nó cao ngạo, nó ngạo mạn, nó ngã mạn, nó kiêu mạn mà mình không biết làm sao để nhiếp phục nó thì mình đi đảnh lễ các bậc tôn đức, các bậc thầy mà mình tin tưởng có trí tuệ, là bậc cha của chúng Tăng, là bậc thầy của chúng ta, là bậc trưởng lão ở trong chúng Tăng, là bậc giàu kinh nghiệm, nhiều trí tuệ, là bậc thông đạt pháp học, pháp hành. Mình đi lại các ngài, đắp y lạy, thỉnh, hỏi pháp "bây giờ làm sao chỉ con cách nhiếp phục, chế ngự cái bản ngã, cái tôi của con. Con thấy bên trong con là một sự ngạo mạn, kiêu mạn, ngã mạn". Đó là trực hạnh, bây giờ mấy người được vậy? Không có những cái này là không thể tu được.
Mình có giận huynh đệ, các bậc đồng phạm hạnh chỉ cho mình "sao mà sư cô sân quá vậy?" thì mình phải cúi đầu nhận lỗi "dạ con biết cái lỗi của con, con biết cái tâm con còn giận nhiều, nó còn sân nhiều. Con thấy con thật là xấu hổ, thật là đáng trách, con xuất gia nhiều năm, con tu học nhiều năm mà tới nay con vẫn còn sân hận rất nhiều, con thấy thật là xấu hổ, thật là đáng sợ, tàm quý. Con xin sám hối với sư cô". Như vậy mới là người tu, như vậy mới là một người xuất gia, mới là thánh đệ tử, mới là một vị khất sĩ, một vị tu sĩ, mới là một thành viên ở trong Tăng bảo, Tăng chúng. Còn đằng này mới nói "sao cô giận quá vậy?" là mình phùng mang trợn mắt, mình làm dữ lên, như vậy là phàm phu hạ liệt, sân si, xấu hổ, nhục nhã, thấp kém, không có xứng đáng là đệ tử của Phật. Đó là trực hạnh, đó là chánh hạnh, đó là chơn chánh hạnh, đó là chân nhân, đó là như chân, như thật.
Mình nói, mình hành xử không có chánh niệm, không tỉnh giác thì người ta nói "thầy sao mà vô minh quá vậy?", "Sao chư huynh vô minh quá vậy?" thì mình trả lời "dạ, dạ, con xin lỗi thầy, xin lỗi đại đức, xin lỗi Sư huynh, lúc đó thật sự là con vô minh, con không thấy được, con không hiểu được, con không cảm thọ được, con không có biết cho nên con có những lời nói, hành động không có sáng suốt, tăm tối, con thành tâm sám hối cái sự vô minh này. Con nguyện từ đây về sau con sẽ cẩn trọng ý thức tỉnh giác, tỉnh táo, tỉnh thức để con tránh những cái sự vô minh như thế này, không cho nó tái sanh, tái diễn, tái lập, tái tục nữa, con thành tâm sám hối". Đó là chơn chánh hạnh, là trực hạnh, là chân nhân, là như pháp hành, là như chân, đó là nói huynh đệ chứ đừng nói chi các bậc thầy, các bậc trưởng lão chỉ lỗi cho mình.
"Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu"
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)
Phải nhớ bài kệ này để ngày nào cũng phải tụng niệm hết, bây giờ chúng ta hiểu được thế nào là trực hạnh, thế nào là chánh hạnh, mình mới có nói cái phần gọi là tổng cương lĩnh thôi, khát quát, căn bản thôi, nếu khai triển ra nhiều lắm. Nội tâm mình còn tham mình biết còn tham, nội tâm mình còn sân mình biết còn sân, nội tâm mình còn si, vô minh mình biết còn si, còn vô minh, nội tâm còn ngã mạn biết nội tâm mình còn ngã mạn, nội tâm còn dục lậu, còn hữu lậu, còn vô minh lậu mình biết còn tật đố, còn xảo ngụy, trá ngụy. Mình biết để mình chỉnh lại, còn hơn thua, còn ganh tỵ, còn nhỏ mọn, còn lừa đảo, còn man trá mình phải biết hết và mình cố gắng để điều chỉnh, tẩy rửa, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, như vậy đó là trực hạnh và chánh hạnh. Mình sẵn sàng quỳ xuống xin lỗi, sám hối, đảnh lễ, cúi lạy những người chỉ lỗi cho mình.
Diệu hạnh là những đức hạnh vi diệu, những đức hạnh vi diệu này làm từ những cái rất là nhỏ, hạnh tâm hiền, hạnh khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, hạnh biết ơn, nhớ ơn, hạnh cúi đầu, hạnh quỳ lạy, hạnh đặt cái đầu mình dưới chân người khác, hạnh diệt ngã, hạnh từ, bi, hỷ, xả, hạnh bao dung, độ lượng, tâm rộng lớn. Nhiều cái đức hạnh lắm, đó là diệu hạnh, là những đức hạnh vi diệu mà phải do mình tu tập và mình phải thành tựu, mỗi một đức hạnh như vậy mình phải thành tựu, chứng đắc, chứng đạt, chứng ngộ. Những đức hạnh vi diệu của thánh hiền phải tập từ chút, từ chút, cái đi của mình cũng phải tập, cái dáng đi của mình có nhẹ nhàng không, trong cái cách nói của mình có nói với cái bản ngã, nói với cái dục không, nói với cái thể hiện ta đây không, có nói lời chân thật, nói lời từ ái, nói lời đúng thời, đúng lúc, nói với từ tâm không. Nếu nói dối, đâm, độc, nhảm nhí thì những cái đó đâu phải là diệu hạnh, ngược lại bốn cái đó, dừng lại bốn cái đó thì nó chỉ là từ bỏ i khẩu nghiệp thôi, nhưng mà tăng trưởng lên thì nó trở thành diệu hạnh, tức là nói đúng thời, nói với một cái tâm từ ái, nói với cái lời lợi ích, nói mà chạm tới trái tim của người ta bằng tất cả sự chân thành thì những cái lời nói như vậy đó là diệu hạnh, là diệu ngữ, là lời nói đẹp.
Cái hành động của mình luôn nghĩ cho người khác, hy sinh bản thân mình ở trong chúng. Mình làm việc không có câu nệ, mình không có ganh tỵ, mình không có khoe công, kể công, cư công, mình làm vì một sự tu tập, mình làm để diệt cái bản ngã, mình làm để nhiếp phục những cái tập tánh, những cái thói quen buông lung phóng dật, biến nhác, dễ vui. Mình nhiếp phục, mình chế ngự nó, mình làm để mình thành tựu những đức hạnh kham nhẫn, những đức hạnh hy sinh, những đức hạnh vì người khác thì cái đó nó là diệu hạnh.
Hồi xưa các vị Tăng sinh thấy sao mà cái toilet cứ sạch sẽ, bóng láng sạch mà không thấy ai lại chùi toilet hết nên muốn tìm cái người mà vệ sinh toilet sạch sẽ, kỹ như vậy thì chờ hoài, tìm hoài, kiếm hoài mà không thấy, không biết ai chùi hết. Một hôm nọ có vị Tăng sinh nhất định phải tìm ra cho được cái người nào mà chùi toilet sạch sẽ như vậy, tối đó vị ấy không ngủ, để ý coi ai, cuối cùng nửa khuya đó là cố hòa thượng Thiện Hòa, viện trưởng viện hóa đạo, ngài đi chùi toilet, chùi cầu tiêu và làm ở trong yên lặng, không ai biết. Đó là diệu hạnh, những cái việc làm đẹp vi diệu đó là làm đẹp cho nên ở trong chúng tuy là mình có học chánh pháp, mình tu chánh pháp như vậy nhưng mà những cái tập khí, những cái thói quen, những cái tánh tình, những cái gai góc ở trong tâm của mình chưa có hết đâu. Nó huân tập nhiều đời, nhiều kiếp, vô thỉ kiếp cho nên ngoài cái sự tu học cái tổng thể của chánh kiến, nhận diện ngũ uẩn, diệt tham, sân, si thì nó có nhiều cái nhỏ nhiệm tập khí mà mình phải để ý mình diệt trừ, mình tu tập những cái đức hạnh, thì đó là diệu hạnh.
II. Sống theo Chánh Pháp
Sau khi mình tu được những cái căn bản quan trọng rồi bắt đầu mình tu những đức hạnh nhỏ nhiệm, vi tế. Thí dụ như cái chuyện hết sức đơn giản, mình ngồi kế bên một huynh đệ mà Phật tử người ta cứ khen người kế bên hoài, từ đầu tới cuối người ta không nói gì tới mình hết lúc đó cảm thọ mình sao? Dễ chịu hay khó chịu?
Sư cô: Dạ mô Phật bạch giáo thọ sư cùng quý huynh đệ là cảm thọ lúc đó của con sẽ rất là khó chịu với người Phật tử này, khi mà mình ngồi kế bên như vậy mà cứ khen một huynh đệ chứ không có đá động gì tới mình hết. Mình nghĩ mình cũng có làm, cũng có tu nhưng mà sao nãy giờ không nói gì tới mình hết trơn.
Sư Phụ: Đúng rồi đó, cho nên mình tu là mình để ý những cái nhỏ đó, mình phải diệt tận cái tâm khó chịu đó và tu cái tâm tùy hỷ, cái tâm vui theo những cái đức, những cái hạnh, những cái tốt của người bạn mình. Người kia nói đúng sự thật mình cũng không chịu nữa, mình cũng không thấy vui nữa, phải không? Chứ người ta nói sai thì không chịu, đằng này người ta nói đúng mình cũng khó chịu, "tại sao không nói tới tôi? Không khen tôi gì hết trơn?". Đó là bản ngã của mình, phải không? Mình làm gì là mình cứ kể công hoài, "bông đó tôi chưng á", "chánh điện này tôi lau nè, tôi quét nè. Sao mà đi vô dơ quá vậy?". Những cái đó làm với một cái tâm bản ngã, với một cái tâm ta đây, với một cái tâm cư công, kể công, khoe công, thì cái đó là phàm phu, không phải là những cái đức hạnh của một người đệ tử Phật chân chánh, thánh đệ tử.
Thậm chí mình hy sinh, mình đem cho những cái rất là khó cho, hy sinh cho đại chúng, hy sinh cho mọi người luôn mà mình cũng không có không có thể hiện, không có tỏ vẻ gì hết, mình thấy mình chỉ là con số không, chỉ là trống rỗng, trống không, vô ngã, không có gì hết, mình làm để cho mình diệt trừ cái tham, sân, si, bản ngã của mình, để tội lỗi của mình tiêu trừ. Mình làm nhiều cái đức hạnh hiền thiện, nhỏ nhiệm như vậy trong một cái tâm vô ngã, vô nhân, trong một cái tâm trống không thì đó là cái diệu hạnh của mình. Vì thế cần phải tập cái tâm rộng lớn vô lượng, đừng sống với tâm nhỏ hẹp.
Ứng lý hạnh hay là như pháp hành, tức là sống với pháp đúng như pháp mà mình thực hành, đúng như pháp tức là sống với Bát Chánh Đạo, sống với Tứ Niệm Xứ, sống như Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần. Chúng ta thấy nội cái này là trùm hết trơn thành ra cái đặc chất, cái đặc tính, cái bản chất của chúng Tăng đầy đủ pháp ở trong đó, có pháp bảo ở trong đó, cho nên tam bảo nhất như, nó nhất quán với nhau, nó có sự liên kết, gắn kết với nhau và do một con người như vậy, đầy đủ những cái này cho nên người này mới xứng đáng được chấp tay, xứng đáng được đảnh lễ, xứng đáng được cúi đầu, xứng đáng được quỳ lạy, xứng đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Đó mới là định nghĩa cái chữ "Tăng" của Đức Phật và nhớ cái chữ "chúng Tăng" này không có phải là người xuất gia không, nhớ kỹ nha, trong đây gồm có thánh đệ tử, cư sĩ, cư sĩ nam và cư sĩ nữ đều có đầy đủ bốn đức hạnh này cho nên có thể chứng tới thánh quả thứ ba Bất Lai thánh quả. Và nếu một vị cư sĩ chứng thánh quả A-la-hán thì họ hoặc xuất gia hoặc là nhập Niết-bàn, mình nhớ kỹ chữ chúng Tăng ở trong kinh Nikāya là tứ chúng của Đức Phật, chữ Tăng đó là đoàn thể đệ tử của Đức Phật thì gồm có tại gia và xuất gia, Tăng Ni và nam nữ cư sĩ. Thành ra mình đọc đi rồi mình sẽ thấy có rất nhiều những vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ thuyết pháp rất là siêu suất và chứng các tầng thánh quả, thuyết pháp cho chư Tăng nữa.
Thật ra chúng ta thấy được điều này để chúng ta có sự tu tập bốn thánh hạnh, đó là bốn đức hạnh của thánh hiền. Con nói cái này để con mời chúng ta trình pháp đó, còn nhiều vị chưa có trình pháp vì mình nghe giảng thì lên trên mạng nghe được nhưng mà trình pháp hay là hỏi thì chỉ có gặp nhau trực tiếp như vậy mới hỏi được. Chúng ta có khi cái thời gian gặp nhau rất là ít chính như vậy những buổi trình pháp, những buổi pháp đàm, hỏi đáp là lợi ích nhiều hơn là chỉ ngồi nghe giảng không. Mời quý thầy, quý cô tiếp tục trình pháp trình bày sự tu học của mình trong thời gian vừa qua, những gì được, những gì mất, những gì đắc, những gì thất, những gì tiến, những gì thối hoặc là dậm chân tại chỗ, những gì nghi ngờ, nghi vấn, khó khăn, không giải quyết được thì mình trình bày lên.
Có bài kinh "Sống Theo Pháp" chúng ta về đọc kỹ cái bài kinh đó nó sẽ hỗ trợ cho chúng ta trong cái như lý hành hay là như pháp hành.
"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- 'Sống theo pháp, sống theo pháp', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo là vị sống theo pháp?
- Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thông suốt pháp tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo thông đạt nhiều kinh điển, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy dùng trọn cả ngày để trình bày pháp cho các người khác, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đấy gọi là Tỳ-kheo thuyết trình nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để tụng đọc, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo đọc tụng nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với tâm tùy tầm tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày suy tầm về pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo suy tầm nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy không dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, không phế bỏ sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, như vậy Tỳ-kheo sống theo pháp.
Này Tỳ-kheo, như vậy Ta đã thuyết về học thuộc lòng nhiều, đã thuyết về thuyết trình nhiều, đã thuyết về đọc tụng nhiều, đã thuyết về suy tầm nhiều, đã thuyết về sống theo pháp. Này Tỳ-kheo, điều gì bậc Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ khởi lên, các điều ấy, Ta đã làm cho các Thầy. Này Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Này Tỳ-kheo, hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có để về sau sẽ phải hối tiếc. Ðấy là lời giáo giới của Ta cho các Thầy" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VIII. Phẩm Chiến Sĩ, (III). Sống Theo Pháp (1))
Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên giáo thọ sư cùng hoàn thể đại chúng, con xin trình pháp thời gian qua con có sự kiểm điểm bản thân của mình, đó là cái vấn đề thứ nhất của con, khi học ở trên lầu thì lúc con đi lên là mình không có cầm theo sách, theo đồ đạt gì. Khi đi lên thì thấy là mình mệt, mình thở nhưng vô tới lớp thì con cũng có quán lại "lâu lâu mình mới đổi lớp, như mấy khóa mười một ngày nào người ta cũng học trên đây, người ta lên được sao mà mình lâu lâu lên một bữa mà mình mệt, mà mình thấy mình khó chịu", con quán đó là thứ nhất.
Cái thứ hai lúc thầy dạy thì mình quán đến những người đang làm lao động ở ngoài xã hội thì con nghĩ đến ba mẹ mình cũng đang làm mưa làm nắng, làm ruộng dãi dầu như vậy mà vẫn làm, mình lên lớp mình mệt chút mà mình khó chịu thì lúc đó là lúc đó con có thể quán lại được. Nhưng cũng lên lớp học với một cái tâm bữa khác là con có xách đồ theo lên nặng, con cũng mệt nhưng mà cái tâm lúc này là con không còn nhớ, không còn nghĩ về đến việc mình quán lại nữa mà với cái tâm sân lên. Khi vô tới chỗ ngồi là con sẽ kiếm chỗ có cái quạt con ngồi, nhưng mà một huynh đệ khác di chuyển cái quạt đi chỗ khác là bắt đầu con sân lên liền, con nói là "con mệt rồi đó nha", huynh đệ đó nó là "cô Hậu mệt rồi hả?", con nói "ừ mệt rồi đó". Con nhấn mạnh vậy đó thì huynh đệ đó chuyển cây quạt quay lại chỗ cũ, ngồi một lát sau là con biết khi con nói là cái tâm con sân lên nhưng mà con không có kiềm lại được. Hôm nay có trình pháp thì con cũng xin sám hối với lời nói đó với huynh đệ ngày hôm đó con có sân lên, đó là vấn đề thứ nhất của con.
Sư Phụ: Sư cô để cho tăng trưởng thiện pháp thì sư cô bước ra ngay chính giữa hướng về hình ảnh của đức Chánh Đẳng Chánh Giác lễ sám hối Đức Phật ba lễ để cho tăng trưởng cái thiện pháp, để mình thể hiện được bằng cái thân hành sám hối cái cảm thọ khó chịu đó trước Đức Thế Tôn. Nguyện từ nay về sau con sống với cảm thọ hiền thiện, khiêm hạ, ngọt ngào và từ ái. Con nguyện con sẽ tẩy sạch hết tất cả những cảm giác bực bội, bức xúc, sân hận này. Con nguyện con luôn sống trong tâm thương, tâm từ, ngọt ngào và rộng lớn.
Sư cô 2: Dạ mô Phật, còn vấn đề thứ hai đó là lúc trước con đi xe là con đi từ đây nếu tính ra là con đi được nửa đoạn đường của thượng tọa về tới Linh Quy là con về tới Định Quán ngay thị trấn luôn, ngay Đá Ba Chồng. Lúc đó cứ trung bình là con chạy 120 cây là đúng hai tiếng rưỡi, là cả năm con cứ đi hai tiếng rưỡi là con từ đây về tới chùa, nhưng mà sau này khoảng một tháng nay chiếc xe của con nó có sự cố là con đổi qua xe khác, con mượn xe khác con đi. Nhưng mà lúc đó cái tâm của con mới chợt suy nghĩ "trời ơi hồi đó giờ mình bán mạng cho tử thân mà mình không biết". Khi con đi chiếc xe này con không nghĩ mình phải chạy tới bao nhiêu mình tới, con nghĩ là con chạy với cái tâm chạy nhanh chút là sợ trúng người này trúng người kia, không có nghĩ đến cái tâm là mình bảo vệ tính mạng của mình. Mình nghĩ tới chiếc xe mới nhớ là cái tâm tham của con nó khởi lên mà con không hay, nó ẩn chứa mà mình không hay biết, tới hôm nay nhờ cái phương tiện này mình đi mà mình mới biết là mình bán mạng mà mình không hay, để tới hôm nay vô tình mình mới biết là cái tâm tham của mình ẩn chứa trong đó, nó không có dịp để nó khởi lên, tới khi đủ duyên nó khởi lên nhưng mà chợt mình nhận ra được cái vấn đề. Mình nhận ra là trong mình có cái tâm tham mà mình không hay biết. Đó là vấn đề thứ hai của con, con cũng xin còn một vấn đề nữa là khi mình chưa đụng chuyện, mình đi đám rồi mình khuyên gia chủ khuyên người ta như thế này, như thế kia.
Đến khi nhà con gặp việc thì con cũng khuyên người nhà cũng nghe, cũng làm theo đúng như vậy nhưng mà trong thâm tâm con nghĩ mình nói được nhưng khi thực hành thì mình chưa thực hành tốt, dù người nhà mình không có nói, không có chê trách gì mình hết. Nhưng mình cảm nhận lại lời nói của mình, mình khuyên người ta mười mà tới khi mình thực hành chỉ được có ba bốn, không được như những lời mà mình khuyên người ngoài, tới khi người nhà mình thì mình mới cảm nhận được hết. Tự nhiên con thấy cái tâm con xấu hổ khi mà mình đứng lên mình nói phải tu như thế này, phải giảng như thế này và phải thực hành như thế này. Những cái lý thuyết đó rất là hay, rất là cao thượng nhưng khi mình thực hành thì mình thực hành không được.
Con tự nghĩ là nếu mình sống mà mình làm không được, mình cứ nói, mình cứ khuyên người ta không biết thì thôi nhưng mà khi người ta biết mình "cô này nói hay vậy đó nhưng mà khi đụng chuyện cô không có làm được như vậy", thế là con tự nghĩ là con xấu hổ với bản thân. Con cũng nói với mấy huynh đệ nhiều khi lên giảng mình nói như thế này mà trong cuộc sống của mình, mình thực tập không được, con dùng cái từ là y như là mình treo đầu dê bán thịt chó vậy đó. Nói chung là mình nói mà mình làm không có được, mình xấu hổ giờ, từ đó con có cảm giác là mình phải e dè lại những cái lời nói của mình, những cái hành động của mình để khi thà mình không làm thì người ta mới không biết, còn một khi mình đã làm rồi thì trước sau gì họ cũng sẽ biết. Thà là mình nói ít mình làm được ít, mình thực hành, mình nói được bao nhiêu thì mình sẽ thực hành được bao nhiêu chứ để khi mình lên mình nói những cái từ hoa mỹ, nó phô trương, nghe rất là thánh thiện nhưng khi xuống bục giảng, xuống với cuộc sống thường của mình thì mình làm không được.
Từ lúc đó là con bắt đầu con sợ như là mình sợ nhân quả vậy đó. Bây giờ mình sống như thế nào, mình làm như thế nào thì mình hãy nói chứ để lên mình nói, mình vẽ ra quá trời luôn mà khi mình thực hành thì không được. Dạ mô Phật.
Sư Phụ: Rất là tốt. Lành thay! Lành thay! Thiện lành thay! Con thưa với các thầy, các cô, việc làm của người xuất gia chúng ta là cả đời quay trở lại tìm lỗi của mình, thấy lỗi, nhận lỗi, sửa lỗi, giảm lỗi, bớt lỗi và đi đến chỗ hết lỗi. Hãy nhớ kỹ câu nói này, suốt đời không có quên. Sự tu hành là một sự nội quán, nội soi, nội chiếu, nội tỉnh, quay trở lại để nhìn thân tâm của mình mà nhất là chúng ta được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn là một sự nội soi toàn diện, đầy đủ mọi phương diện, khí cạnh, góc độ, thâm sâu, phổ quát, đa diện của thân tâm chúng ta. Nếu chúng ta không thực hành cái này thì uổng cho một cuộc đời tu chúng ta, rất là uổng khi chúng ta gặp được chánh pháp Nikāya này mà chúng ta không có làm thì bỏ qua cơ hội ngàn năm một thuở, vô lượng kiếp có một lần.
Cho nên sự trình pháp vừa rồi của sư cô rất là tốt, con rất là quý kính. Hãy thành thật, chân thật, đó là đệ tử của Đức Phật đó, trực hạnh là đệ tử của Đức Phật. Bây giờ chúng ta phải biết cách tác ý, con chỉ cho các thầy cô cái cách tác ý, tác ý như vừa rồi chúng ta tác ý nhẹ quá, nó không đủ sức, để trị một cái tâm khó chịu, bực bội, bức xúc, sân hận này phải tác ý mạnh, tác ý sâu, tác ý rộng. Người tu chúng ta nếu không có suy xét cho thấu đáo dễ rơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hơn i người không có đi xuất gia. Người xuất gia dễ đọa tam đồ ác đạo hơn, người xuất gia chúng ta là dễ chết ở trong cái sự an nhàn, êm ái, ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng, cơm không cần phải lo, áo đâu có lo, nhà cửa có sẵn đâu có lo, xe cộ, tiền xăng, điện nước không lo gì hết.
Chính cái sự nhàn hạ, không lo lắng này biến mình trở thành một đời sống lục bình trôi sông, không có phát khởi lên một cái cảm giác lo lắng, suy tư, một cái cảm giác băn khoăn, trăn trở, thao thức, ưu tư, sợ hãi, mà không có cái này thì đời tu mình coi như kết thúc rồi, chết rồi, chỉ có một cái thay ma thôi, không có một cái tâm hướng thượng về giới đức, thiền định, trí tuệ, không có một cái tâm cầu mong viễn ly, xuất ly, xả ly, thoát ly rồi mình cứ sống qua ngày đoạn tháng như vậy thì mình chết rồi, đời tu mình chấm hết rồi, và cái sự đọa lạc khả năng rất là lớn. Mình phải phá được cái cảm giác si này, cái cảm giác si tuỳ miên, vô minh tuỳ miên, cái cảm giác trơ trơ, đơ đơ, cái cảm giác an toàn, vô cảm này mình phải phá nó.
Phá nó bằng cách nào? Đức Phật dạy cái cảm giác vui phải quán nó là khổ, vui trong tham dục, vui là khổ. Bây giờ lên ngồi bàn trai Tăng vui không? Ăn mười mấy món vui không? Nếu mình không quán đây mồ hôi, đây là nước mắt, đây là máu, huyết lệ của người ta thì mình vui ở trong cái cảm giác vui đó là vui trong tham dục, vui là khổ đó. Người ta cho mình đi chơi, đi du lịch vui không? Phải quán là khổ, mình tu mà làm gì có đi du lịch? Tiền đâu của mình đi du lịch? Người đời dành dụm, người ta lấy đồng tiền sau những cuộc mồ hôi, nước mắt, cực khổ, nhọc nhằn người ta giải khuây, người ta giải trí một chút cái thành quả sự khó nhọc của người ta. Người ta đi du lịch, đi giải trí, còn mình làm gì mà giải trí? Có tiền đâu mà giả trí? Có tiền đâu mà du lịch cho nên người tu tuyệt đối không có đi chơi, đi chơi là mang họa, mắc nợ, là một sự phỉ nhổ vào chính mình.
Người xuất gia không có chuyện đi chơi, chẳng qua là mình đi công việc gì đó rồi tiện thể ghé thăm hay gì đó, chứ tuyệt đối xuất gia là không có đi chơi. Trở lại cái vấn đề, mình sẽ chết trong một đời sống ẩn dương nương Phật, sống lơ lơ, lửng lửng, qua ngày, lục bình trôi sông, không có ý chí cầu tiến, không có ý chí tiến thủ, không có ý chí viễn ly, xả ly, xuất ly, đoạn ly, không nuôi lớn một cái ý chí mạnh mẽ để giải thoát là tại vì mình cơm có sẵn rồi, áo có sẵn rồi, nhà có sẵn rồi, xe sẵn rồi, xăng sẵn rồi. Người ta quỳ lạy dâng lên cúng rồi ngồi đó ăn, con đã chỉ cách tu trong lúc thọ trai, nghe kỹ bài đó trăm lần, ba trăm lần, năm trăm lần để biết cái cách tu khi ngồi thọ trai cúng dường.
Phải tu cho sâu sắc còn không thôi là mình sẽ chết, mình sẽ đọa, bây giờ mình suy nghĩ coi, cái tuổi ông, tuổi cha, tuổi bà nội, ông nội mình, mua gánh bán bưng, đi bán vé số, đi lượm ve chai, đi gom phế liệu, đi chìa tay ăn xin, thậm chí chín chục tuổi còn đẩy cái xe rùa đi bán rau. Trong khi mình bây giờ còn thanh niên thiếu nữ trẻ khỏe như vậy, chỉ có đi học thôi mà mình sân si cái gì, mình la cái tâm, mình quở cái tâm, mình trách cái tâm, mình mắng cái tâm, mình chửi cái tâm của mình. "Ngươi làm cái gì ở đây? Ngươi đang làm cái gì? Ngươi có biết giờ này cha mẹ ngươi đang làm gì không? Ngươi biết cô bác ngươi đang làm gì không? Có biết bao nhiêu những con người đang đói thiếu ngoài đường đầu đường xó chợ, mua gánh bán bưng, thức khuya dậy sớm, ngươi bước mấy bước đi học mà sân si hả? Ngươi muốn xuống hỏa ngục hay sao? Để ta đưa ng vô hỏa ngục để ngươi ôm những cái cột đồng cháy đỏ đó cho ngươi biết thế nào là nóng nực, ngươi xuống dưới để sân".
Phải tác ý mạnh như vậy, "ta đưa ngươi vào chảo dầu sôi để ngươi biết thế nào là nóng hỡi cái tâm ngu si này, cái tâm ngu muội, mê muội, hôn mê này, hôn ám này, cái tâm mù lòa này. Ngươi mở mắt ra, ngươi tỉnh đi, ngươi nhìn thấy bao nhiêu người đau khổ, bao nhiêu người mồ hôi, bao nhiêu người phải rướm lệ, bao nhiêu người phải đổ xương máu xuống để kiếm được cái áo, để kiếm được một chén cơm manh áo. Bây giờ ai quỳ xuống đây để cung phụng, cúng dường, đảnh lễ cho ngươi để ngươi tu học, một chút như vậy mà ngươi sân si, ngươi khó chịu, ngươi bực bội hỡi này cái tâm mê, cái tâm si, cái tâm dại khờ kia". Phải tác ý mạnh lên, mà con thưa thiệt với các thầy, các cô là ở đây con không có dám nói mạnh lắm, nói vừa vừa thôi chứ còn nếu ở trong chùa ở trên con thì con nói mạnh hơn nữa, phải dùng hết tất cả những cái gì mạnh nhất bổ vô cái tâm hôm mê, cái tâm ngủ say, cái tâm mù lòa cho nó tỉnh thức, càng mạnh càng tốt.
Mình ngồi xuống viết nguyên một cái bài tác ý chửi nó, viết cái bài đó luôn, mình đọc thoại với tâm mình, mình nói chuyện với tâm mình, mình la tâm, mình rầy tâm, mình trách tâm, mình chửi tâm, mình mắng tâm mình. Như vậy đó là như lý tác ý, thánh tư duy, chánh tư duy, là tuệ lực, là sức mạnh, vậy là vừa thương cho roi cho vọt cũng là thương cho êm cho ấm luôn, bây giờ dùng tâm từ. Có khi mình sử dụng cương, có khi sử dụng nhu, có cứng, có khi sử dụng mềm, có khi mình đánh nhưng mà có khi mình cũng xoa, "ta tội nghiệp ngươi quá, ta thiệt là tội nghiệp cho ngươi đó cái tâm ngu, cái tâm mê. Ngươi đang làm cái gì vậy? Ngươi đang sống như thế nào? Ngươi có thấy ngươi đáng thương không? Ngươi có thấy ngươi đáng thương hay không? Ngươi bây giờ là một kẻ tàn phế hay sao, ngươi què không có chân ngươi lếch hay sao? Bây giờ ngươi có chân đi được mà ngươi còn sân si hả? Ngươi muốn vô đầu thai làm kẻ què không? Muốn làm những chúng sanh gọi là trường bò, bàng sanh, cái xương sống nằm ngang phải không chứ tại sao ngươi được làm người như vậy, ngươi được xuất gia mà một chút như vậy ngươi khó chịu là sao? Ngươi đáng thương lắm, ngươi là phế nhân, là khuyết tật, cái tâm này là một cái tâm bệnh hoạn, một tâm tật nguyền, một cái tâm hèn hạ, một cái tâm thấp kém".
Mình phải tác ý mạnh như vậy đó, mình đánh cái cảm thọ này, mình diệt nó luôn. Mình làm mạnh một lần cho tới ba lần, năm lần từ đó về sau nó hết luôn, nó diệt luôn, không còn sanh khởi trở lại trong tương lai luôn chứ mình để thì vài bữa nữa nó sanh khởi nữa. Cái quạt cũng vậy, "bây giờ ngươi muốn mát phải không? Ta cho ngươi xuống hàng băng địa ngục để ngươi xuống dưới đó mát dữ lắm". Chúng ta về đọc trong kinh địa ngục để thấy, để tìm cái mát ở trong đó, tác ý vậy để diệt tận cái tâm đó luôn, "ngươi thật là đáng thương, ngươi thật là tội nghiệp, ngươi thật là tồi bại, ngươi thật là hèn hạ, ngươi thật là bệnh hoạn. Cái tâm này là một cái tâm khuyết tật, cái tâm tật nguyền, cái tâm hôn mê, ngươi tỉnh ra đi. Ngươi có thương cha, thương mẹ, thương ông, thương bà không? Ngươi có thương Đàn-na tín thí không? Ngươi có hiểu là giờ này người ta khổ như thế nào không mà người ăn sung mặc sướng, rảnh rỗi như vậy, mấy bước đi thôi mà sân hận là sân hận cái gì?"
Chúng ta tác ý vậy đó, nhiều cái để tác ý lắm, đó là cái phần thứ nhất là cái phần sân, tới cái phần tham mình cũng tác ý mạnh. Vì cái tâm tham, vì cái tâm muốn, vì cái tâm dục, vì cái tâm yêu thích cái thân này cho nên nó hôn mê, nó không nhìn thấy nguy hiểm, cái tai họa tiềm ẩn ở trong cái tâm tham đó. Thế Tôn nói tâm tham này là tác thành mù lòa, tác thành không mắt, tác thành vô trí, tác thành ngu si, mê muội. Mình dùng tất cả những lời lẽ mạnh nhất để mình đánh nó, diệt nó, còn cuối cùng là nhục nhã sanh thánh quả, người nào tu mà không có nhục nhã, không có sợ hãi tức là không có tàm quý thì không bao giờ tu được. Cái cuối cùng là một sự xấu hổ, sự nhục nhã, sự lo lắng và sợ hãi vì mình chưa có xứng đáng những cái đức hạnh, giới, định, tuệ không có đầy đủ, tri kiến không có đầy đủ, sự thấy biết về khổ mình chưa có, không thấy được cái vô thường, khổ, vô ngã trong cái tứ đại ngũ uẩn đáng kinh, đáng gớm, đáng chán, bất tịnh, hôi dơ, ung nhọt, tai họa, đầy bất an, đầy đau khổ, đầy bất hạnh, đầy bất trắc, bất thường, bất ổn, bất định này.
Mình thấy mình thật là tội nghiệp, thật là đáng thương, thật là xấu hổ, thật là nhục nhã, thật là lo lắng, thật là sợ hãi để làm một cái động lực để mình nỗ lực như thế nào để thể nhập được cái chân pháp, cái chánh pháp, để mình thật sự là ứng lý hạnh, như pháp hành, để thật sự là mình sống ở trong pháp, mình thể nhập ở trong pháp, mình tương ưng với pháp, mình với pháp là một. Mình phải có cái vốn liếng, có cái trí tuệ, có cái thấy biết để khi cái tâm nổi lên như vậy mà thiện hay bất thiện là mình thấy liền, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch bằng nhiều phương pháp, bằng nhiều cách thức, bằng nhiều phương tiện thiện xảo, bằng tuệ lực của mình, chánh tri kiến của mình, thánh tri kiến của mình, bằng những lời như lý tác ý đanh thép, mạnh mẽ, sắc bén.
III. Giải oán kết
Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, cung kính bái bạch trên thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa quý đệ đồng học thì hôm qua cái tiết học này con cũng có cái tâm tư, cái ưu tư, cái câu chuyện chất chứa cũng bấy lâu mà cũng chưa có giải tỏa được nên còn bị tắc khí, không có thông. Nhân tiện hôm nay học pháp hành, mấy huynh đệ cũng chia sẻ chân thành, chân thật, chất phát thì con nói lên cái cảnh, cái việc của con để trên thượng tọa chứng minh cũng như là chư tôn đức Tăng Ni nhị bộ Tăng già ở đây chứng minh cho con. Đường tu của con không có được thuận duyên lắm cho nên gặp một số cái nghịch duyên với thầy tổ, từ ngày con xuất gia thì con không có học được nhiều từ thầy tổ của mình, đổi lại là những lời rầy la, quở mắng với những hình ảnh không đẹp con nhìn thấy nên cái tâm con không có phục. Khi nó không phục thì nó không có chịu, khi sư phụ giảng con cũng không có để tai lắng nghe cho nên tình thầy trò của con và thầy tổ của con xa cách lắm. Tuy ở trong một chùa nhưng mà giống như ở hai thế giới khác biệt vậy, chính vì những cái nội kết lâu dài đó khi con tốt nghiệp trung cấp trên Tây Ninh xong con cũng có một số cái chướng duyên oan gia trái chủ hành xác con, những cái phần âm nên con về xin sư phụ đi ra miền Trung để gặp một số huynh đệ dùng pháp để trị cho con.
Con về có lạy sư phụ, sư phụ cũng nói cho con đi, rồi khi con gần về thì lúc đó đã qua mùa dịch thì con có gọi cho một vị sư huynh ra rước con thì sư phụ không có cho. Sư phụ đuổi con luôn, con điện thoại sư phụ nói "giờ đi luôn đi, đừng về nữa" thì cái lòng câm thù, căm phẫn, khó chịu của nó giống như là nó bóc lên tới nóc nhà luôn rồi. Lúc đó con rất là buồn bực, con về vô sân lấy xe con đi luôn, khi sư phụ biết con bỏ đi về núi tu thời gian rồi con muốn đi học, khi biết chỗ con ở rồi nói một số điều không có đẹp về con với cái vị cho con ở, rồi đi nói chỗ này chỗ kia giống như trệt đường của con vậy đó.
Lòng căm thù con như thêm một tầng nữa, con rất là buồn bực, khi nhìn thấy cái hình ảnh ai mà nhắc tới thì con giống như nổi máu xung thiên vậy đó. Thông qua khi mà học thượng tọa cũng nói ơn giáo dưỡng, ơn của thầy tổ rất là to lớn thì sẵn ở đây thì con cũng hướng về chư Tăng sám hối cái tâm cống cao ngã mạn, những hành vi không có tốt với thầy tổ của mình, cũng như các bậc sư trưởng đã từng dạy dỗ con. Chính cái việc này, cái ưu tư, cái uất ức của con lớn lắm tại bây giờ con đi đâu cũng giống như người bỏ thầy, phản thầy rồi đủ thứ cái, nói chung là buồn lắm, đi tu mà thầy tổ nói mình này kia rồi coi như là triệt đường sống của mình luôn là giống mình trở thành phế vật luôn vậy đó, quái thú luôn.
Con rất là ưu tư, buồn bực, sầu não nhiều cái lắm, đôi lúc mình không có biết chia sẻ với ai cho nên có những cái tắc khí ở trong người. Con biết con tu không tiến là cũng có nhiều nguyên nhân, nhiều lần con cũng tính xả giới ra đời, rất là nhiều lần thối sụt, không muốn tu nữa. Hôm nay nhân dịp này cũng trình bày, thưa lên với thầy cũng như Tăng Ni, chư huynh đệ ở đây để chứng minh, liễu tri cho lời sám hối của con để những cái ưu tư, uất ức, trăn trở của con bấy lâu nay nó được đả thông, nó khai thông để cuộc sống con nhẹ nhàng hơn, chứ để con khổ lắm. Nói chung là đi đâu ai cũng phản thầy rồi đủ thứ cái, bị gán cho nhiều tội lắm, nhiều khi con muốn ra đời làm lại người thường đi chứ đi tu nhiều cái còn nhiều khi tệ hơn nữa, thôi tu làm cái gì khổ sở như thế. Thì xin trình bày trên thượng tọa giáo thọ sư chứng minh, quý huynh đệ chứng minh cho lòng sám hối chân thành của con để con giải tỏa những cái tâm tư này và có lời chỉ dạy cho con để tiếp tục tiến tu. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Thầy bước ra đảnh lễ hướng về sư phụ, hướng về tam bảo, hướng về các bậc ân nhân với cái tâm biết lỗi, nhận lỗi, sám hối chân thành bằng tất cả tấm lòng của mình cầu xin tha thứ ở trong lòng.
Nguyện cho con luôn nhìn thấy được nhân quả nghiệp báo nhiều đời, xóa sạch những tâm sân hận, oán kết.
Nguyện cho con từ nay cho đến mạng chung sống với cảm giác biết ơn, nhớ ơn đối với tất cả.
Nguyện cho con tháo gỡ sạch tất cả những mối oan kết, những nội kết để cho tâm con được nhẹ nhàng, thanh tịnh, tăng thượng trong giới đức, thiền định, trí tuệ và giải thoát.
Lành thay! Lành thay! Thiện lành thay! Rất là tốt, rất là tốt, chúng ta người tu với nhau có một cái đạo tình thiêng liêng, linh sơn cốt nhục, quyến thuộc bồ đề, nếu mà mình hiểu được thì mình thương nhau không hết chứ mình không có làm khổ cho nhau. Tại vì mình chưa có thấy được khổ thánh trí, khổ thánh đế, chưa có nếm được sự thật về khổ trong đời sống này, trong ngũ uẩn này, nếu thật sự mình thấy, mình biết, mình sẽ không làm khổ cho nhau. Nếu thật sự mình thấy, mình biết được cái nhân quả, cái nghiệp báo của nhiều kiếp trong quá khứ mình sẽ không có hờn trách bất cứ một ai hết, huống chi là thầy trò, huynh đệ, cha mẹ, anh em. Tất cả chúng ta đều là có một cái món nợ từ quá khứ cho nên chúng ta hãy với một cái tâm đón nhận, tiếp nhận bằng một tình thương, một sự hiểu, cảm thông, dầu cho chúng ta chưa có hiểu được nhiều cũng cố gắng đừng có để cho sanh ra những cái hiềm khích, những cái oán trách, hận thù.
Hãy nhớ thật là kỹ, thêm một người bạn hơn là một người thù huống chi là các bậc sư trưởng, hãy chấp nhận và hãy sống với một cái tâm buông xả, tâm hiểu thương, tâm tha thứ. Mình phải nhìn thấy được mục đích của mình xuất gia không phải đi tìm những cái này, mình tìm giải thoát, những cái này mình cứ bỏ qua, bước qua, đi qua nó để mình vượt lên nó và cái ý nghĩ ra đời là không đáng, con thì ngược lại con thưa các thầy các cô, con gặp nghịch cảnh nhiều chừng nào là con vượt mạnh nhiều chừng đó, lạ vậy đó.
Cái gì càng khó chừng nào con càng thích làm, con đi con đường này cũng nhiều chông gai, nhiều phản đối khủng khiếp lắm, con đi một con đường riêng chỉ có giống mình Đức Phật, không có giống với những cái gì mà con đã được thừa hưởng cho nên con càng cảm thông. Khi thầy nói con cảm thông rất là nhiều, con thấy mình ở trong đó, chúng sanh ở trong đó và tất cả người tu chúng ta cũng nhiều cảnh ngộ, mà cái tâm thương của mình lan tỏa rộng lớn.
./.