Khổ Thánh Trí 9 - Pháp Đưa Đến Đau Khổ & An Vui 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
KHỔ THÁNH TRÍ 9
Pháp Đưa Đến Đau Khổ & An Vui 1
Thích Minh Thành
Kinh Tà kiến, Tăng Chi Bộ, tập I:
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn diệt.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn diệt.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh đi đến tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, như không như lý tác ý. Do không như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh được tăng trưởng.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, như như lý tác ý. Do như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Các chúng sanh có đầy đủ tà kiến, này các Tỳ-kheo, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi lành, cõi Trời, cõi đời này, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Các chúng sanh có đầy đủ chánh kiến, này các Tỳ-kheo, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, cõi Trời, cõi đời này.
Ðối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý, đưa đến bất hạnh, đau khổ. Vì cớ sao? Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo.
Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây nimba, hay hột giống cây Kosàtaki (một loại cây leo), hay hột giống cây mướp đắng, được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh đắng, tánh cay, tánh không lạc của nó. Vì cớ sao? Vì tánh ác của hột giống, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo.
Ðối với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, đưa đến hạnh phúc, an lạc. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của chánh kiến, này các Tỳ-kheo.
Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây mía, hay hột giống cây lúa, hay hột giống cây nho được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh ngọt, thích ý, tánh ngon ngọt của nó. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của hột giống.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh hiền thiện của chánh kiến, này các Tỳ-kheo".
(Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, 1-10. Tà Kiến v.v...)
Hôm nay chúng ta học về chủ đề pháp đưa đến đau khổ và pháp đưa đến hạnh phúc. Thế Tôn nói rằng ngài không thấy một pháp nào khác do pháp ấy mà các pháp ác chưa sanh đã được sanh khởi, các pháp ác đã sanh phát triển lớn mạnh như tà kiến. Ngài không thấy trên đời này có một cái gì mà những pháp ác chưa sanh lại sanh, đã sanh thì lớn mạnh tăng trưởng giống như cái thấy biết lệch lạc sai lầm, đối với người có thấy biết lệch lạc thì những pháp ác chưa sanh sẽ sanh khởi, pháp ác đã sanh sẽ được lớn mạnh, ngược lại đối với người thấy đúng thì các pháp thiện chưa sanh sẽ được sanh, các pháp thiện đã sanh khởi được lớn mạnh nhưng hôm nay chúng ta sẽ nhấn mạnh về cái thấy sai lầm, lệch lạc.
Đầu tiên là từ cái thấy sai, cái thấy tà bại, cái thấy lệch lạc này làm những pháp bất thiện được sanh khởi và lớn mạnh. Thế nào là thấy sai? Cái thấy sai, thấy tà bại, thấy lầm lạc là cho rằng không có nhân quả, không có nghiệp báo, không có thiện ác. Đây là cái thấy mang đến nguy hiểm nhưng trên đời lại có những hạng người như vậy, họ không tin có nhân quả nghiệp báo, họ không tin những hành động, lời nói đó sẽ mang đến quả báo về sau, họ chỉ biết những gì xảy ra ngay trước mắt, miễn sao họ được nhiều lợi ích, có sự vui sướng là đủ, họ không cần biết sau này như thế nào. Ngược với tà kiến là chánh kiến, chánh kiến giúp chúng ta thấy có thiện ác, có nhân quả và thấy có nghiệp báo.
Những điều Minh Thành nói ở trên là tà kiến thông thường, phổ biến của những người không biết Phật pháp, trong kinh gọi là ngoại đạo. Ngoài ra cfn có những trường hợp tà kiến nặng hơn nữa, trong kinh ghi lại có một vị tu theo một người tịnh thủy hành, sáng trưa chiều đều tắm, Thế Tôn hỏi như vậy có lợi ích gì thì người này nói do sáng làm điều ác nên trưa tắm cho hết tội, trưa làm xấu thì chiều tắm để tẩy sạch, tối làm ác thì sáng lại tắm để hết tội, đó là tà kiến.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sangàrava trú ở Sàvatthi, là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh).
Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về Tôn giả đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Sangàrava trú ở Sàvatthi, là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh). Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của Bà-la-môn Sangàrava.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Sangàrava; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sangàrava đang ngồi một bên:
-- Có đúng sự thật chăng, này Bà-la-môn, Ông là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh)?
-- Thưa đúng vậy, Tôn giả Gotama.
-- Này Bà-la-môn, nhằm mục đích lợi ích gì, Ông là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh)?
-- Ở đây, Tôn giả Gotama, ban ngày tôi làm ác nghiệp gì, buổi chiều tôi tắm để gội sạch ác nghiệp ấy; buổi tối tôi làm ác nghiệp gì, buổi sáng hôm sau tôi tắm để gội sạch ác nghiệp ấy. Tôn giả Gotama, do nhằm mục đích như vậy, tôi là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều tôi sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh).
(Thế Tôn):
Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm,
Không cấu uế, trong sạch,
Ðược thiện nhơn tán thán,
Là chỗ bậc có trí,
Thường tắm, trừ uế tạp,
Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.
Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, XI. Sangàrava)
Thờ lửa cũng vậy, lạy, cầu rồi hiến tế, quan niệm về lửa và sự quán chiếu về lửa của ngài Xá-lợi-phất dạy chúng ta khác hoàn toàn, đó là sự khác biệt giữa thấy đúng và thấy lệch lạc, sai lầm. Chúng ta đừng nghĩ mình đã có chánh kiến, mình chỉ có được từng phần thôi, cái nào mình học, cái nào mình hiểu, biết và để tâm thì mình mới thấy đúng, còn những cái mình chưa học, chưa hiểu, chưa tu, chưa có chánh niệm tỉnh giác thì vẫn thấy sai.
Gần đây có một giám đốc và phó giám đốc một bệnh viện phải xin lỗi vì toàn thể bệnh viện phải uống nhầm nước dội bồn cầu suốt 28 năm, mãi đến gần đây khi chuẩn bị xây một tòa nhà mới, bệnh viện mới phát hiện ra sự nhầm lẫn nối nhầm đường ống giữa nguồn nước dùng để dội bồn cầu với nguồn nước uống, nhưng may mắn là bệnh viện đã kiểm tra nước mỗi tuần một lần và không có vấn đề gì bất thường. Như vậy trong 28 năm đó không ai hay biết việc này, chỉ khi nào có người phát hiện ra mới biết.
Cái thấy đúng và cái thấy sai cũng giống như vậy, tức là cái thấy lầm lạc này sẽ đưa mình đến khổ, lúc nào cũng thấy thường còn, thấy là vui, thấy có một cái tôi, của tôi trong này, thấy là sạch đẹp, bền chắc, đây là cái thấy sai lầm. Trong một ngày mình có những cái thấy này không? Mình không thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, bất tịnh, không thấy được tính chất khổ đau trong năm uẩn. Một ngày mình thấy được tính chất khổ đau được bao nhiêu lần? Một ngày mình thấy tính dịch chuyển, thiên lưu, tan rã, bể nát của những thọ; tưởng; hành bao nhiêu lần? Một ngày mình thấy không có tôi và của tôi được mấy tiếng? Một ngày mình thấy thân thể này xấu xí, bất tịnh, lủng lỗ đáng xấu hổ được bao lâu? Nếu thấy được như vậy là có chánh kiến, ngược lại thấy đẹp sạch, thấy có tôi, ta, tao, mi, tớ trong đó là tà kiến. Như vậy một ngày mình sống được với chánh kiến bao nhiêu lần? Còn sống với cái thấy sai trong bao lâu? Bây giờ mình cầu xin, lạy lục một đấng nào đó để mình giải thoát thì có được không? Niệm hoặc tụng một câu chú nào đó để hết khổ thì có được không? Hoặc ra giữa trời ngẩng mặt lên cầu xin cho con được sung túc, no đủ thì có được như ước nguyện không? Thật ra muốn ăn phải lăn vào bếp mới có cái ăn, cái thấy đúng này không phải dễ hiểu.
Cái gây ra khổ là tham, sân, si; muốn hết khổ thì phải nhiếp phục tham, sân, si; thấy được tham, sân, si, mình biết tại sao nó sanh khởi và biết cách nhiếp phục, đoạn tận nó thì mới hết khổ, những cái lạy, lễ, cầu nguyện phải tương ứng thì mới hết khổ chứ không phải mình phủ nhận hoàn toàn sự lễ lạy, tụng niệm, cầu xin, những cái tụng niệm, lễ lạy phải đi đến nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si thì cái tụng niệm, lễ lạy đó mới làm đúng, ngược lại cứ ra giữa trời quỳ lạy bốn phương tám hướng cầu xin cho con hết tham, sân, si nhưng đến khi ai đụng vào là mình sừng sộ, tức giận, sân hận, không thấy tham, sân, si, không biết sự sanh khởi, sự đoạn diệt tham, sân, si và cũng không biết con đường đưa đến đoạn diệt tham, sân, si thì cầu hết cuộc đời cũng không hết tham, sân, si, cái đó là thấy sai nên không thể đưa đến hết khổ.
Nếu cầm dùi chuông mà đánh vào hư không lại mong sẽ vang lên tiếng chuông thì có đánh cả năm cũng không thấy gì, còn nếu muốn vang lên tiếng chuông phải đánh vào chuông, đó chính là chánh kiến và tà kiến, tu đúng và tu sai. Bước vào thiền đường phải bấm đúng công tắc đèn thì đèn mới sáng, gõ vào cửa hoặc bấm nhầm công tắc quạt mà muốn đèn sáng thì làm sao có được. Cho nên cái thấy đúng tuyệt đối quan trọng trong sự tu học, nếu thấy sai các pháp ác chưa sanh sẽ sanh, các pháp ác đã sanh sẽ tăng trưởng phát triển. Đó là lý do Thế Tôn nói ngài không thấy một pháp nào khác mà do pháp ấy các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, các pháp bất thiện đã sanh được lớn mạnh như tà kiến.
Bây giờ tu rất đặt nặng việc cầu xin, không thấy đúng nhân quả trong sự tu, không thấy nguyên nhân làm mình khổ, muốn hết khổ thì phải đoạn tận những gì làm mình khổ. Mình không chịu điều chỉnh trong cái thấy mà lại hướng ra ngoài để cầu xin người này người kia thì đến khi nào mới hết khổ. Chúng ta không chịu thay đổi chấp thường để thể nhập vào cái thấy biết vô thường; không thay đổi chấp ngã để thực tập trí tuệ vô ngã; trong tà kiến về vui sướng không chịu thay đổi tu tập Khổ Thánh Trí để thấy nó là đau khổ; trong cái nhìn sạch đẹp, sai lầm không chịu điều chỉnh theo sự hướng dẫn của bậc Chánh Đẳng Chánh là hôi dơ, bất tịnh. Cứ như vậy thì đến khi nào mới đạt được tâm tịch tịnh, chừng nào có được bình an. Cứ sống với tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo thì đến khi nào có được tâm bình an, có cái thấy chân chánh?
Cho nên, nguyên nhân đầu tiên đưa đến đau khổ là tà kiến, mình thường đốt rất nhiều vàng mã cho người thân đã mất, từ xe cộ, nhà lầu, điện thoại, xe hơi, giấy áo đến tiền bạc đều là vàng mã hết, có cả một con phố làm vàng mã. Thay vì tiền để mua vàng mã thì đem đi bố thí, đem đi giúp đỡ người nghèo khổ sẽ thấy được rõ ràng giá trị, lợi ích, ý nghĩa của thiện pháp đó nhưng không chịu làm, cứ tin theo mê tín, tin theo tà kiến, không được lợi ích gì cả. Có biết bao những cái nhìn sai lầm làm con người ta đau khổ, có biết bao nhiêu những suy nghĩ lệch lạc làm cho mình phải khóc ròng, ray rứt, tức tưởi.
Pháp thứ hai làm lớn mạnh gốc rễ đau khổ, làm tăng trưởng cái nhìn sai lầm là không như lý tác ý, không tác động tâm lý đúng như chân lý, không có suy nghĩ chân chánh về nhân quả nghiệp báo, không có suy nghĩ chân chánh về vô thường, khổ, vô ngã. Chính những suy nghĩ không chân chánh, không suy xét, không chiêm nghiệm, không tư duy theo chiều hướng của trí tuệ nên làm cái thấy sai lớn mạnh. Cái thấy sai chưa sanh được sanh khởi là tại vì mình cho nó ăn, chính là suy nghĩ lầm lạc, do nghĩ lầm lạc nên cái thấy sai chưa sanh được sanh ra, còn đã sanh sẽ được lớn mạnh, đứng vững trong tâm, đó là do suy nghĩ lầm lạc nuôi lớn cái thấy lầm lạc, phi như lý tác ý làm tà kiến tăng trưởng. Ông già bị mất cây búa đốn củi, một người hàng xóm nói rằng có lẽ thằng nhóc kế bên nhà lấy, sau khi nghe người hàng xóm nói thì ông nhìn dáng đi của thằng nhóc, nhìn điệu bộ của nó có vẻ giống kẻ ăn trộm nhưng cuối cùng ông phát hiện ra cây búa nằm trong góc bị những bó củi che lại, tìm ra được cây búa ông lại thấy thằng nhóc có vẻ dễ thương, đàng hoàng.
Như vậy khi có suy nghĩ sai lầm làm mình nhìn không chính xác, có một người nào đó làm mình giận, sau đó mình nhìn những cử chỉ của người đó không dễ thương tí nào, thấy dáng đi là không thích, cách nói chuyện cũng không ưa nhưng trước khi giận là mình không như vậy, mình thấy người đó bình thường nhưng đến khi giận lên rồi là nhìn cái gì của người kia cũng không vừa lòng, thậm chí không muốn nhìn mặt, chỉ thấy cái bóng phớt qua thôi cũng thấy khó chịu. Trong quan hệ vợ chồng cũng vậy, không giận thì anh anh em em rất ngọt ngào, còn giận lên thì đối phương làm gì cũng ghét, cái suy nghĩ sai lầm làm cái thấy biết lệch lạc chưa sanh thì sanh, còn sanh ra rồi thì phát triển lớn mạnh.
Nếu cho rằng không có nhân quả, không có thiện ác, cũng không có phước tội rồi viên mãn những thứ này, làm ác, nói ác, suy nghĩ ác thì sau khi chết sẽ đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đi vào nơi tăm tối của đọa xứ. Nếu cho rằng cái gì cũng có thật, còn hoài sẽ xảy ra tranh đấu, giành giật tới cùng, ăn thua với nhau, cho rằng có cái ta thật sự nên diễn ra biết bao sự cạnh tranh, đấu tranh, cướp đoạt, cho rằng có cái đẹp thật sự nên chỉ cần một ánh nhìn, một tấm hình chụp chung cũng có thể xảy ra án mạng. Hai người yêu nhau nhưng chia tay, sau khi chia tay cô gái chụp hình chung với người đàn ông mới rồi đưa lên mạng xã hội, người đàn ông cũ thấy được thế là giết chết người đàn ông mới, vậy là chỉ vì một tấm hình mà xảy ra án mạng, một người chết, một người chịu án tử hình, đó là cái suy nghĩ tà bại, cái thấy biết sai lầm đưa đến kết quả sau khi chết rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Mọi hành động từ cái thấy sai lầm, mọi lời nói đều phát ra từ cái thấy biết sai lầm, mọi ý nghĩ đều suy tư từ tà kiến, nếu có suy tư, ước nguyện, ý định nào, có bất kì hành động nào cũng đưa đến bất an, bất hạnh, đau khổ vì đây là tính chất xấu ác của cái thấy biết lầm lạc đó. Người có cái thấy biết lệch lạc, sai lầm, tà kiến thì mọi hành động, lời nói, suy tư đều bị cái thấy sai lầm dẫn dắt, nếu có quyết định, mong muốn, ước ao, cầu mong gì đi nữa cũng xuất phát từ tà kiến, ngũ uẩn này vận hành trong tà kiến, từ đó đưa họ đến buồn lo, khổ đau vì tính chất xấu ác của cái thấy biết lầm lẫn, tà bại đó tạo nên. Cũng như trồng cây ớt sẽ cho trái cay, khổ qua sẽ ra trái đắng vì hạt giống nó là vậy.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây nimba, hay hột giống cây Kosàtaki (một loại cây leo), hay hột giống cây mướp đắng, được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh đắng, tánh cay, tánh không lạc của nó. Vì cớ sao? Vì tánh ác của hột giống, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo".
(Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, 1-10. Tà Kiến v.v...)
Lúc trước có một khóa tu Nikāya trên núi của mình, có một cô Phật tử đến lễ lạy với hai hàng nước mắt đầm đìa vì cô đau khổ mười mấy năm mà không giải tỏa được, người trong gia đình hiểu lầm rồi giận hờn, không nhìn mặt, không giao tiếp rồi xúi người trong nhà nói xấu nhau, dù tìm mọi cách hòa giải mà không được. Cô không biết phải làm sao, bây giờ cô tu thì cô thấy mình có lỗi nhưng bây giờ phải làm thế nào vì người ta không tha thứ, chuyện không đáng nhưng họ cứ ghim trong tâm rồi giận luôn, không nhìn mặt, không giao tiếp và nói xấu nhau, nó kéo dài dây dưa rồi giày vò, ray rứt suốt mười mấy năm. Minh Thành nói cô ấy đã học nhận diện thân tâm, cô đã thấy biết được đời sống ngũ uẩn này là khổ, cô đã thực tập tâm hiền, tâm từ, cô đã thấy biết mình là kẻ bị tai nạn của lòng sân hận, của tham, sân, si, của bản ngã, cô đã thấy chúng ta đều là kết quả bất hạnh của tà kiến, khi cô đã thấy tự tâm mình như vậy thì những người khác cũng giống như vậy. Cô xác nhận là đúng, khi cô trải tâm từ cô cảm thấy dào dạt, bi mẫn, trào dâng, nước mắt cô tuôn ra và cô thấy tuyệt vời. Minh Thành nói cô dùng tâm từ để đối đãi với người hiểu lầm, chưa thông cảm kia, mỗi lần tu cô phải trải tâm từ, mỗi lời nói, hành động đều bằng cảm thọ thương mình thương người vì đều là nạn nhân của tham, sân, si, của tà kiến. Cô thực hiện như vậy không lâu thì cô lên đây lạy và cười, lần này cô cũng khóc nhưng khóc vì mừng vui vì cô đã hóa giải được mọi chuyện, người kia đã chấp nhận tha thứ, tâm từ kì diệu, thiêng liêng, tình thương qua sự hiểu biết chánh pháp được lan tỏa, bao trùm được người đó nên họ tha thứ cho cô làm cô vui mừng không thể tả.
Chỉ có hiểu lầm một chút trong gia đình mà biết bao suy nghĩ, hành động, lời nói đều đưa đến bất an cho nhau, gây buồn đau, khổ sầu cho nhau, không phải chỉ hai người đó mà cả nhà từ cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái cũng bị kéo vào chung. Cái thấy là trung tâm chỉ huy mọi thứ, từ cái thấy sai mới dẫn đến nói năng, hành động đều sai.
Vợ chồng với nhau cũng vậy, vợ nghi chồng có vợ bé rồi để trong bụng suốt thời gian dài, đến khi tìm hiểu ra thì người kia là bà con, chỉ vì hiểu lầm mà ôm ấp sự đau khổ, đưa đến bất an. Cho nên giữa vợ chồng, thầy trò, huynh đệ, anh em, giữa bạn bè, bạn đồng tu có chuyện gì thì hãy gặp thẳng nhau để hỏi chứ đừng giữ trong lòng rồi tưởng tượng ra đủ thứ viễn cảnh. Có khi cái hiểu lầm đó kéo dài mấy chục năm rồi cũng từng ấy năm khó chịu, bứt rứt, đau khổ, vì vậy có chuyện bất đồng thì hãy gặp nhau giải bày để làm sáng tỏ chứ không nên để trong bụng.
Đức Phật ví dụ mướp đắng, ớt sẽ cho ra trái đắng, cay, không có ngọt vì những gì nó lấy lên từ đất, từ nước đều đưa đến đắng, cay. Cũng vậy, khi đã có cái nhìn lệch lạc, vô minh, si ám thì suy nghĩ sẽ theo vô minh, theo hơn thua, thị phi, phải quấy, lợi ích, địa vị; những quyết định là quyết định theo tham, sân, si, hơn thua, dục ái; những ước nguyện theo dục vọng, ích kỷ, ta đây và những sự vận hành trong ngũ uẩn đều trong ảo tưởng, vận hành trong những chất liệu của khổ đau. Như vậy đại khổ uẩn này được tập khởi bằng những cái nhìn sai lầm, những suy tư lệch lạc về người khác. Đơn giản mình vào chùa tu, thầy quản chúng thấy mình tu không tinh tấn nên nhắc nhở, thấy mình không biết làm nên đến chỉ dẫn thì mình lại thấy khó khăn, cái gì cũng bị nói, ở nhà được mọi người thương mến không phải làm gì vậy mà giờ vào tu phải đi như thế này, ăn như thế này, phải nói như vầy… chịu không nổi là hoàn tục. Điều này là một trong bốn sự sợ hãi của người xuất gia được Đức Phật nói đến.
Học đạo mà suy nghĩ như vậy là phi như lý tác ý, nghĩ sai. Trong khi người ta đối đãi với mình bằng tâm từ, tâm thương, vậy mà mình quay ngược lại sân hận, bản ngã, nhìn không đúng vấn đề, không đúng thực tại rồi sanh ra biết bao suy nghĩ, hành động, lời nói, quyết định đều là đau khổ, bất an, buồn lo vì tánh chất xấu ác của cái thấy biết lệch lạc, sai lầm, tà kiến là như vậy. Nhiều khi đi tu mà cứ thấy chạy lo việc bên ngoài nên mới kêu nghỉ một thời gian vào thất tu đi, có vậy mà giận, buồn rồi xuống núi, mình thấy đi tu mà cứ lao vào công việc giống như một công nhân mà không thấy tự thân mình, không có thời gian tu tập sẽ uổng cho đời tu, có vậy mà hiểu lầm rồi bỏ xuống núi.
Giữa thầy trò, huynh đệ, chị em tỉ muội, giữa vợ chồng, bạn bè, đồng nghiệp, giữa bạn đạo với nhau thì chánh kiến này không chỉ là thấy năm uẩn, không chỉ là nhìn thấy bên ngoài hoặc nói trên miệng vô thường, khổ, vô ngã mà chánh kiến này phải soi rọi từng ngõ ngách, từng góc kẹt, từng góc cạnh trong đời sống, khi người ta nói chuyện với mình thì mình phải dùng cái tâm trong sáng, vô tư, bình tĩnh soi xét tại sao người ta lại nói như vậy, tại sao thầy lại nói như vậy, nếu không hiểu thì phải hỏi lại cho nên cái thấy đúng vô cùng tuyệt diệu. Mình để ly nước trên bàn được thầy chỉ dạy phải để như vậy thế mà mình lại nghĩ thầy khó quá, cái gì cũng nói, vậy là thất bại, tà kiến làm cho tà tư duy sanh khởi, phi như lý tác ý sanh khởi, thế là mình né tránh thầy, mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ cả gia đình đi tìm thầy học đạo vậy mà thầy dạy thì mình lại bản ngã, cái nhìn sai, cái thấy sai, cái hiểu sai phá vỡ hết tất cả sự nghiệp đạo hạnh của người xuất gia, phá vỡ hết sự nghiệp đạo hạnh của người cư sĩ, phá vỡ hết sự nghiệp đạo hạnh của người đệ tử Phật, người ta bỏ chùa, bỏ xuất gia cũng chỉ vì những cái này.
Khi đến chùa được sư cô đem đồ ra mời người kia mà không mời mình rồi giận, so bì, giận làm gì những chuyện nhỏ nhặt này, ở nhà mình ăn không thiếu thứ gì vậy mà vào chùa cũng còn so đo, mình vào chùa để cầu pháp hay cầu gạo, có khi người ta làm công quả nhiều rồi sư cô để dành cho một phần trái cây hay bánh gì đó, trong khi mình mới lại thì làm sao có được. Mình không tìm hiểu, không hỏi rõ ràng là mình giận trước rồi tính sau, rồi buồn không đến chùa nữa, tâm tà kiến này nhỏ hẹp, nhỏ mọn, si mê, ngu muội cho nên phải tu tâm rộng mở, rộng lớn. Người hướng dẫn muốn mình tốt nên chỉ dẫn tận tình cho mình, lúc đầu mình hào hứng nhưng thời gian sau lại sân lên, không học gì nữa, nghĩ rằng người hướng dẫn bới lông tìm vết, vạch lá tìm sâu, tìm lỗi sai của mình nhưng người kia là vì từ tâm, tình thương, vì lòng bi mẫn muốn chỉ dạy mọi thứ cho mình, vậy là mình nghĩ xấu, thậm chí nói xấu cả sư phụ mình.
Những người nào đến xin tu học mà lại nói xấu sư phụ họ là Minh Thành không dám nhận, chính sư phụ của họ mà họ còn nói xấu thì huống hồ gì mình, cho nên cái thấy đúng này rất sâu sắc và rộng lớn, rất tỉ mỉ, nhỏ nhiệm từng chút một trong mọi vấn đề. Vào toilet mà thấy hậu quả của người đi trước còn để lại bốc mùi khinh khủng thì mình vào dội cho sạch sẽ, nhiếp phục cảm thọ, đây là cơ hội để mình làm phước.
Minh Thành thường kể câu chuyện chùa Ấn Quang ngày xưa, các vị Tăng sinh học ở đó không thấy ai chùi rửa mà toilet sạch bóng, nửa đêm các vị nghe tiếng lau chùi phát ra trong đó, các vị bước vào thì thấy Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Hòa đang chùi rửa trong đó. Một Hòa Thượng đứng đầu của học viện lại đi làm chuyện thấp kém nhất. Bây giờ mình vào toilet thì nhớ lại hình ảnh một Hòa Thượng viện trưởng của học viện nửa đêm vào chùi toilet không cho ai biết để bòn phước. Trong khi mình mới làm công quả, tập sự hoặc chỉ mới cạo đầu thì dội nước toilet có gì là lớn lao so với Hòa Thượng, đó là suy nghĩ chánh kiến, suy nghĩ công đức. Còn suy nghĩ la lối, sân si, khó chịu lên là suy nghĩ sai sẽ dẫn đến lời nói sai, hành động sai. Nhưng nói vậy không phải mình bỏ qua cho người kia, nếu có duyên thì tìm hiểu xem người kia có chuyện gấp hay gì không mà bị mất chánh niệm không dội, có khi vừa xong nghe điện thoại reng là nói chuyện rồi quên dội luôn, mình nhắc nhở họ khéo léo và phù hợp. Điều quan trọng là mình không để những cảm thọ sân hận, bực bội, những suy nghĩ, quyết định sai xảy ra làm bất an, đau khổ.
Trong thời Đức Phật còn tại thế có hai vị luật sư và pháp sư cãi nhau thành chuyện lớn chỉ vì cái chậu nước úp xuống hay không úp, cái thấy sai làm đau khổ cho cả chư thiên và loài người, gây bất an cho đại chúng. Hoặc là tô chén ăn xong không rửa rồi cãi nhau, đâm chết người, chỉ có việc không rửa tô chén mà xảy ra án mạng, đó là do tà kiến, cái nhìn sai lầm và phi như lý tác ý nên đưa đến đau khổ, bất hạnh, bất an, khổ sầu. Tự thân người sân hận đâm chết người phải vào tù, người kia chết và gia đình, cha mẹ, bà con, vợ chồng, anh em, ông bà của cả hai đều đau khổ, đó chính là pháp đưa đến đau khổ trên cuộc đời này. Do thấy sai lệch, thấy sai lầm, tà kiến, suy nghĩ một hướng, suy nghĩ theo tham, sân, si, bản ngã, không suy nghĩ khách quan, bao dung, không suy nghĩ cho mình cho người, không suy nghĩ rộng rãi nên làm cho cuộc đời thành rối ren.
Chính cái nhìn sai và suy nghĩ lầm lạc này là gốc rễ của mọi vấn đề, còn nói sai, hành động sai là đi theo sau nghĩ sai thôi, hai cái đó làm cho thế giới phải đau đớn, nước mắt phải chảy, máu phải đổ, làm tan nát tình thân, tan nát những sự hòa hợp, đoàn kết, thương yêu nhau. Ở miền Trung lại đang bị bão lũ khắp nơi, biết bao nhiêu người ôm đồ lánh nạn trong biển nước, đường xá thành biển, giao thông ách tắc, ác pháp tăng trưởng trong khi thiện pháp bị suy giảm. Thật xót xa cho cuộc đời này, mình phải thấy đúng chúng ta đang khổ đau nên hãy thương nhau, hãy nghĩ cho nhau, mình được ngồi yên tu học, mình có nhà cửa, có ăn mỗi ngày trong khi người ta mất nhà, đói kém, mất mùa, tiêu tán tài sản, lang thang vất vơ vất vưởng, chỉ có tâm từ mới giúp cho mình có tình thương, cảm thông, tha thứ.
"Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau.
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm đau khổ.
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm oan trái.
Đừng tạo thêm đắng cay,
Đừng tạo thêm khổ ải,
Cho kiếp người của nhau"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Phải như vậy mới nhìn thấy đúng thảm cảnh của cuộc đời, của thế gian. Mình chỉ nhìn vào cá nhân mình chứ không nhìn ra đại cuộc, không thấy biển cả mênh mông sóng ngập trời.
"Bể khổ mênh mông sóng ngập trời
Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi!
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Ngoảnh lại cùng trong biển khổ thôi!
Ngoảnh lại cùng trong biển khổ thôi!
Nổi chìm, chìm nổi biết bao người
Kiếp người nghĩ cũng lênh đênh quá
Qua cánh bèo trôi mặt nước thôi!"
(Bể Thảm – Đoàn Như Khuê)
Chiếc thuyền ở trong biển, dù ngược gió hay xuôi gió cũng đều phải bị sóng gió dập dùi và khổ lụy, sinh ra làm kiếp người đều phải chịu khổ, quờ quạng, sợ hãi, lo lắng. Đó là hình ảnh của tất cả chúng sanh hữu tình trên cuộc đời này và chính chúng ta, mình không thể giúp người ta thì hãy để người khác giúp, phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã từng ca ngợi "có đất nước nào mà lũ lụt, dịch bệnh như vừa rồi người dân thương nhau, giúp đỡ nhau đến vậy”, có những người mang dép tổ ong cầm tiền ra đường chia cho những đồng bào trên đường về quê tránh dịch, những người phụ nữ mang bầu phải ngồi trên chiếc xe máy cũ kỹ vượt hàng ngàn cây số để về quê, thậm chí có những thai phụ sanh con giữa đường, có những người bị tai nạn giao thông hoặc bị nhiễm dịch bệnh trên đường về quê. Có người phải đi bộ chân trần cả trăm cây số để về quê vì trong túi không còn tiền, một người thầy giáo đưa đôi dép cho người này, đó là nghĩa cử cao đẹp đầy tình thương của một người thầy giáo. Tại sao mình không nhìn thấy những cảnh này? Tại sao mình không cảm thông và thấu hiểu nỗi khổ của mình và của người khác mà mình lại làm những chuyện khiến cho người ta phải bất an, đau khổ?
Đức Thế Tôn đã nói khổ như vậy là vừa đủ để giải thoát khỏi tất cả các hành, đừng tạo thêm khổ nữa, đừng tạo thêm oai trái cho nhau nữa, khoan hãy nói đoạn tận sanh tử, siêu xuất tam giới mà nói đến việc sống với nhau phải có tình có nghĩa, có nhân có hậu, sống phải biết nghĩ về người khác, biết cảm thông cho những nỗi khổ của nhau, những điều căn bản này phải làm được, đó là chánh kiến của phàm phu, còn bậc chân nhân là phải biết ơn, nhớ ơn và đền ơn, làm được bao nhiêu đó cũng bớt khổ rất nhiều rồi. Biết bao nỗi khổ vì dịch bệnh, lũ lụt, sanh ly tử biệt, cuộc sống đầy bất trắc chưa đủ hay sao mà còn kiếm chuyện, gây gỗ? Vì vậy thương cho tà kiến của chúng ta, thương cho cái suy nghĩ lệch lạc, sai lầm của chúng ta, thương cho những mong muốn tà ác, đều đem đến bất hạnh, tai nạn, khổ sầu cho nhau.
Vì lòng tham vọng, dục vọng mà gây chiến tranh, đấu tranh, đem đến sợ hãi, bất an cho biết bao người, khi hiểu ra rồi mới thấy chánh kiến rất cao quý tối thượng, phải tôn thờ chánh kiến vì không có nó là đau khổ mọi mặt, mỗi ngày chúng ta nghe, tư duy, quán chiếu là nhằm tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển vững mạnh trong cái thấy đúng này và cái thấy đúng này có rất nhiều góc cạnh, phương diện chứ không phải chỉ có một chút là đủ. Cho đến khi nào nhìn thấy mọi hình thái, mọi sự vận hành, dịch chuyển, hình thức trên thế gian này đều là khổ đau và mình trào dâng cảm thọ xót thương, bi mẫn lan tỏa cùng khắp tất cả, không có cái nào là không khổ, không có một chúng sanh hữu tình hay vô tình nào là không đáng thương thì lúc đó chánh kiến mới được viên mãn, từ tâm mới được vô lượng.
"-- Này các Tỳ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời".
(Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng))
Khi nào nhìn thấy tất cả mọi góc cạnh, phương diện, ngõ ngách trên thế giới này là một sự tổng hợp của đại khổ uẩn và mình có tình thương dào dạt, thậm chí mình có thể đem sinh mạng này chặt ra từng phần để mọi người được an lạc, được hạnh phúc, bớt khổ đau thì mình cũng sẵn sàng, tình nguyện, không gì làm chướng ngại được thì tâm từ của mình được viên mãn. Khổ vậy là vừa đủ rồi, còn gây khổ cho nhau để làm gì nữa? Mình ngồi trong nhà mặc áo ấm, quấn khăn còn thấy lạnh trong khi người ta phải trầm mình trong nước vì lũ dâng cao biết bao ngày qua, lại còn bị dịch bệnh, bị mất nhà, mất tài sản, người thân chết, bao trùm mọi nơi là sự bất an, lo lắng và sợ hãi cho nên cần nuôi lớn tình thương này, thấu hiểu khổ đau này để không tạo thêm khổ cho nhau nữa, nếu không đem đến trí tuệ cho người ta, nếu không đem được bình an đến cho người ta thì ít nhất cũng đừng tạo ra đau khổ cho người sống với mình, đừng để những suy nghĩ, hành động, lời nói làm tổn thương người sống chung với mình.
Không có chuyện gì lớn lao cả nhưng từ cái thấy sai lầm, ích kỷ, cái thấy không có sự nhân từ, cảm thông, bao dung làm cho bất an, buồn lo, khổ sở cho nên kẻ thù thật sự là tà kiến, cái mà mình cần nhiếp phục, đoạn tận và tẩy sạch là cái thấy biết sai lầm, cái suy nghĩ lệch lạc về người khác, guồng máy hoạt động của vũ trụ này gom lại chỉ có dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã và tà kiến, đây là những thứ mình cần hạ thủ, ngoài ra trên thế giới này không có ai làm mình khổ cả. Vô minh tức là tà kiến, vì không sáng suốt nên nhìn sai rồi có ra những suy nghĩ, lời nói, hành động sai, cuối cùng là tạo nghiệp, lãnh lấy quả báo khổ. Bây giờ muốn hết khổ thì tu chánh kiến, thấy đúng sự thật vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, thấy đúng sự đau khổ đó để sống bằng tình thương.
Nếu đúng như sự thật mà tác động tâm ý và suy nghĩ thì chánh kiến chưa sanh sẽ sanh, còn chánh kiến đã sanh sẽ tăng trưởng quảng đại lên thêm. Nhờ có chánh kiến mà chúng sanh sau khi chết được sanh lên cõi người hưởng phước hoặc sanh lên cõi trời an vui. Mọi lời nói của miệng, mọi suy nghĩ, mọi sự thấy đúng theo chánh kiến đều được chấp nhận, những ước nguyện, việc làm, quyết định nào trong chánh kiến đều đưa đến an lạc, an vui, bình an vì tính chất tốt đẹp, hiền thiện, tình thương, từ tâm của chánh tri kiến, nhìn đâu cũng thấy khổ nên hãy thương yêu, tha thứ, bao dung, độ lượng lẫn nhau.
Vì tính chất hiền thiện của cái thấy đúng đó nên mọi lời nói, hành động, ý nghĩ, suy tư, những ước muốn nào, sự vận hành trong ngũ uẩn này đều đưa đến sự vui mừng, vừa lòng, thích ý, đưa đến hạnh phúc, an lạc. Cũng như cây mía, sầu riêng, những gì nó lấy lên từ đất, lấy lên từ nước thì tất cả đều đưa đến cái ngọt, thơm, bổ dưỡng, dinh dưỡng vì tính hiền thiện của hạt giống. Hạt giống của tâm từ cũng ngọt ngào giống như vậy, cũng thơm tho, đầy dinh dưỡng, chánh kiến và như lý tác ý là hai pháp đưa đến hạnh phúc, an lạc, còn tà kiến, phi như lý tác ý, nhìn sai và suy nghĩ lầm lạc là đưa đến đau khổ, ngay trong hiện tại là thân, miệng, ý, suy tư, ước nguyện, hành động đều đưa đến bất hạnh, trong tương lai khi chết rồi sẽ đưa đến ba đường ác. Khi tác động tâm ý đúng như chân lý cộng với chánh tri kiến cho ra trong hiện tại thân, miệng, ý, suy tư, quyết định, ước nguyện đều là an vui, hạnh phúc, sau khi nhắm mắt ra đi được sanh vào cõi người, cõi trời tốt đẹp để tiếp tục tu thành tựu chánh tri kiến này, tiếp tục tẩy sạch các lậu hoặc, các rác bẩn, phiền não.
Hôm nay chúng ta học về Tà kiến trong Tăng Chi Bộ, tập I. Đức Phật chỉ ra hai con đường, một con đường của tà kiến, của phi như lý tác ý, của đọa lạc, ba ác đạo và đau khổ ngay trong hiện tại, con đường còn lại của chánh kiến, như lý tác ý được hạnh phúc trong thân, miệng, ý, mọi suy nghĩ, ước nguyện, sau khi nhắm mắt ra đi được sanh lên cõi lành, thiện thú, thiên giới và trong cõi đời này.
./.
KHỔ THÁNH TRÍ 9
Pháp Đưa Đến Đau Khổ & An Vui 1
Thích Minh Thành
Kinh Tà kiến, Tăng Chi Bộ, tập I:
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn diệt.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn diệt.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh đi đến tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, như không như lý tác ý. Do không như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh được tăng trưởng.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, như như lý tác ý. Do như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Các chúng sanh có đầy đủ tà kiến, này các Tỳ-kheo, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi lành, cõi Trời, cõi đời này, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Các chúng sanh có đầy đủ chánh kiến, này các Tỳ-kheo, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, cõi Trời, cõi đời này.
Ðối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý, đưa đến bất hạnh, đau khổ. Vì cớ sao? Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo.
Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây nimba, hay hột giống cây Kosàtaki (một loại cây leo), hay hột giống cây mướp đắng, được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh đắng, tánh cay, tánh không lạc của nó. Vì cớ sao? Vì tánh ác của hột giống, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo.
Ðối với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, đưa đến hạnh phúc, an lạc. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của chánh kiến, này các Tỳ-kheo.
Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây mía, hay hột giống cây lúa, hay hột giống cây nho được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh ngọt, thích ý, tánh ngon ngọt của nó. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của hột giống.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh hiền thiện của chánh kiến, này các Tỳ-kheo".
(Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, 1-10. Tà Kiến v.v...)
Hôm nay chúng ta học về chủ đề pháp đưa đến đau khổ và pháp đưa đến hạnh phúc. Thế Tôn nói rằng ngài không thấy một pháp nào khác do pháp ấy mà các pháp ác chưa sanh đã được sanh khởi, các pháp ác đã sanh phát triển lớn mạnh như tà kiến. Ngài không thấy trên đời này có một cái gì mà những pháp ác chưa sanh lại sanh, đã sanh thì lớn mạnh tăng trưởng giống như cái thấy biết lệch lạc sai lầm, đối với người có thấy biết lệch lạc thì những pháp ác chưa sanh sẽ sanh khởi, pháp ác đã sanh sẽ được lớn mạnh, ngược lại đối với người thấy đúng thì các pháp thiện chưa sanh sẽ được sanh, các pháp thiện đã sanh khởi được lớn mạnh nhưng hôm nay chúng ta sẽ nhấn mạnh về cái thấy sai lầm, lệch lạc.
Đầu tiên là từ cái thấy sai, cái thấy tà bại, cái thấy lệch lạc này làm những pháp bất thiện được sanh khởi và lớn mạnh. Thế nào là thấy sai? Cái thấy sai, thấy tà bại, thấy lầm lạc là cho rằng không có nhân quả, không có nghiệp báo, không có thiện ác. Đây là cái thấy mang đến nguy hiểm nhưng trên đời lại có những hạng người như vậy, họ không tin có nhân quả nghiệp báo, họ không tin những hành động, lời nói đó sẽ mang đến quả báo về sau, họ chỉ biết những gì xảy ra ngay trước mắt, miễn sao họ được nhiều lợi ích, có sự vui sướng là đủ, họ không cần biết sau này như thế nào. Ngược với tà kiến là chánh kiến, chánh kiến giúp chúng ta thấy có thiện ác, có nhân quả và thấy có nghiệp báo.
Những điều Minh Thành nói ở trên là tà kiến thông thường, phổ biến của những người không biết Phật pháp, trong kinh gọi là ngoại đạo. Ngoài ra cfn có những trường hợp tà kiến nặng hơn nữa, trong kinh ghi lại có một vị tu theo một người tịnh thủy hành, sáng trưa chiều đều tắm, Thế Tôn hỏi như vậy có lợi ích gì thì người này nói do sáng làm điều ác nên trưa tắm cho hết tội, trưa làm xấu thì chiều tắm để tẩy sạch, tối làm ác thì sáng lại tắm để hết tội, đó là tà kiến.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sangàrava trú ở Sàvatthi, là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh).
Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về Tôn giả đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, Bà-la-môn Sangàrava trú ở Sàvatthi, là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh). Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn đi đến trú xứ của Bà-la-môn Sangàrava.
Thế Tôn im lặng nhận lời.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Sangàrava; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Rồi Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sangàrava đang ngồi một bên:
-- Có đúng sự thật chăng, này Bà-la-môn, Ông là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh)?
-- Thưa đúng vậy, Tôn giả Gotama.
-- Này Bà-la-môn, nhằm mục đích lợi ích gì, Ông là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh)?
-- Ở đây, Tôn giả Gotama, ban ngày tôi làm ác nghiệp gì, buổi chiều tôi tắm để gội sạch ác nghiệp ấy; buổi tối tôi làm ác nghiệp gì, buổi sáng hôm sau tôi tắm để gội sạch ác nghiệp ấy. Tôn giả Gotama, do nhằm mục đích như vậy, tôi là nhà Tịnh thủy hành, tin tưởng nhờ nước được thanh tịnh, sáng chiều tôi sống theo hạnh xuống nước (để tắm cho thanh tịnh).
(Thế Tôn):
Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm,
Không cấu uế, trong sạch,
Ðược thiện nhơn tán thán,
Là chỗ bậc có trí,
Thường tắm, trừ uế tạp,
Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.
Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!"
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, XI. Sangàrava)
Thờ lửa cũng vậy, lạy, cầu rồi hiến tế, quan niệm về lửa và sự quán chiếu về lửa của ngài Xá-lợi-phất dạy chúng ta khác hoàn toàn, đó là sự khác biệt giữa thấy đúng và thấy lệch lạc, sai lầm. Chúng ta đừng nghĩ mình đã có chánh kiến, mình chỉ có được từng phần thôi, cái nào mình học, cái nào mình hiểu, biết và để tâm thì mình mới thấy đúng, còn những cái mình chưa học, chưa hiểu, chưa tu, chưa có chánh niệm tỉnh giác thì vẫn thấy sai.
Gần đây có một giám đốc và phó giám đốc một bệnh viện phải xin lỗi vì toàn thể bệnh viện phải uống nhầm nước dội bồn cầu suốt 28 năm, mãi đến gần đây khi chuẩn bị xây một tòa nhà mới, bệnh viện mới phát hiện ra sự nhầm lẫn nối nhầm đường ống giữa nguồn nước dùng để dội bồn cầu với nguồn nước uống, nhưng may mắn là bệnh viện đã kiểm tra nước mỗi tuần một lần và không có vấn đề gì bất thường. Như vậy trong 28 năm đó không ai hay biết việc này, chỉ khi nào có người phát hiện ra mới biết.
Cái thấy đúng và cái thấy sai cũng giống như vậy, tức là cái thấy lầm lạc này sẽ đưa mình đến khổ, lúc nào cũng thấy thường còn, thấy là vui, thấy có một cái tôi, của tôi trong này, thấy là sạch đẹp, bền chắc, đây là cái thấy sai lầm. Trong một ngày mình có những cái thấy này không? Mình không thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, bất tịnh, không thấy được tính chất khổ đau trong năm uẩn. Một ngày mình thấy được tính chất khổ đau được bao nhiêu lần? Một ngày mình thấy tính dịch chuyển, thiên lưu, tan rã, bể nát của những thọ; tưởng; hành bao nhiêu lần? Một ngày mình thấy không có tôi và của tôi được mấy tiếng? Một ngày mình thấy thân thể này xấu xí, bất tịnh, lủng lỗ đáng xấu hổ được bao lâu? Nếu thấy được như vậy là có chánh kiến, ngược lại thấy đẹp sạch, thấy có tôi, ta, tao, mi, tớ trong đó là tà kiến. Như vậy một ngày mình sống được với chánh kiến bao nhiêu lần? Còn sống với cái thấy sai trong bao lâu? Bây giờ mình cầu xin, lạy lục một đấng nào đó để mình giải thoát thì có được không? Niệm hoặc tụng một câu chú nào đó để hết khổ thì có được không? Hoặc ra giữa trời ngẩng mặt lên cầu xin cho con được sung túc, no đủ thì có được như ước nguyện không? Thật ra muốn ăn phải lăn vào bếp mới có cái ăn, cái thấy đúng này không phải dễ hiểu.
Cái gây ra khổ là tham, sân, si; muốn hết khổ thì phải nhiếp phục tham, sân, si; thấy được tham, sân, si, mình biết tại sao nó sanh khởi và biết cách nhiếp phục, đoạn tận nó thì mới hết khổ, những cái lạy, lễ, cầu nguyện phải tương ứng thì mới hết khổ chứ không phải mình phủ nhận hoàn toàn sự lễ lạy, tụng niệm, cầu xin, những cái tụng niệm, lễ lạy phải đi đến nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si thì cái tụng niệm, lễ lạy đó mới làm đúng, ngược lại cứ ra giữa trời quỳ lạy bốn phương tám hướng cầu xin cho con hết tham, sân, si nhưng đến khi ai đụng vào là mình sừng sộ, tức giận, sân hận, không thấy tham, sân, si, không biết sự sanh khởi, sự đoạn diệt tham, sân, si và cũng không biết con đường đưa đến đoạn diệt tham, sân, si thì cầu hết cuộc đời cũng không hết tham, sân, si, cái đó là thấy sai nên không thể đưa đến hết khổ.
Nếu cầm dùi chuông mà đánh vào hư không lại mong sẽ vang lên tiếng chuông thì có đánh cả năm cũng không thấy gì, còn nếu muốn vang lên tiếng chuông phải đánh vào chuông, đó chính là chánh kiến và tà kiến, tu đúng và tu sai. Bước vào thiền đường phải bấm đúng công tắc đèn thì đèn mới sáng, gõ vào cửa hoặc bấm nhầm công tắc quạt mà muốn đèn sáng thì làm sao có được. Cho nên cái thấy đúng tuyệt đối quan trọng trong sự tu học, nếu thấy sai các pháp ác chưa sanh sẽ sanh, các pháp ác đã sanh sẽ tăng trưởng phát triển. Đó là lý do Thế Tôn nói ngài không thấy một pháp nào khác mà do pháp ấy các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, các pháp bất thiện đã sanh được lớn mạnh như tà kiến.
Bây giờ tu rất đặt nặng việc cầu xin, không thấy đúng nhân quả trong sự tu, không thấy nguyên nhân làm mình khổ, muốn hết khổ thì phải đoạn tận những gì làm mình khổ. Mình không chịu điều chỉnh trong cái thấy mà lại hướng ra ngoài để cầu xin người này người kia thì đến khi nào mới hết khổ. Chúng ta không chịu thay đổi chấp thường để thể nhập vào cái thấy biết vô thường; không thay đổi chấp ngã để thực tập trí tuệ vô ngã; trong tà kiến về vui sướng không chịu thay đổi tu tập Khổ Thánh Trí để thấy nó là đau khổ; trong cái nhìn sạch đẹp, sai lầm không chịu điều chỉnh theo sự hướng dẫn của bậc Chánh Đẳng Chánh là hôi dơ, bất tịnh. Cứ như vậy thì đến khi nào mới đạt được tâm tịch tịnh, chừng nào có được bình an. Cứ sống với tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo thì đến khi nào có được tâm bình an, có cái thấy chân chánh?
Cho nên, nguyên nhân đầu tiên đưa đến đau khổ là tà kiến, mình thường đốt rất nhiều vàng mã cho người thân đã mất, từ xe cộ, nhà lầu, điện thoại, xe hơi, giấy áo đến tiền bạc đều là vàng mã hết, có cả một con phố làm vàng mã. Thay vì tiền để mua vàng mã thì đem đi bố thí, đem đi giúp đỡ người nghèo khổ sẽ thấy được rõ ràng giá trị, lợi ích, ý nghĩa của thiện pháp đó nhưng không chịu làm, cứ tin theo mê tín, tin theo tà kiến, không được lợi ích gì cả. Có biết bao những cái nhìn sai lầm làm con người ta đau khổ, có biết bao nhiêu những suy nghĩ lệch lạc làm cho mình phải khóc ròng, ray rứt, tức tưởi.
Pháp thứ hai làm lớn mạnh gốc rễ đau khổ, làm tăng trưởng cái nhìn sai lầm là không như lý tác ý, không tác động tâm lý đúng như chân lý, không có suy nghĩ chân chánh về nhân quả nghiệp báo, không có suy nghĩ chân chánh về vô thường, khổ, vô ngã. Chính những suy nghĩ không chân chánh, không suy xét, không chiêm nghiệm, không tư duy theo chiều hướng của trí tuệ nên làm cái thấy sai lớn mạnh. Cái thấy sai chưa sanh được sanh khởi là tại vì mình cho nó ăn, chính là suy nghĩ lầm lạc, do nghĩ lầm lạc nên cái thấy sai chưa sanh được sanh ra, còn đã sanh sẽ được lớn mạnh, đứng vững trong tâm, đó là do suy nghĩ lầm lạc nuôi lớn cái thấy lầm lạc, phi như lý tác ý làm tà kiến tăng trưởng. Ông già bị mất cây búa đốn củi, một người hàng xóm nói rằng có lẽ thằng nhóc kế bên nhà lấy, sau khi nghe người hàng xóm nói thì ông nhìn dáng đi của thằng nhóc, nhìn điệu bộ của nó có vẻ giống kẻ ăn trộm nhưng cuối cùng ông phát hiện ra cây búa nằm trong góc bị những bó củi che lại, tìm ra được cây búa ông lại thấy thằng nhóc có vẻ dễ thương, đàng hoàng.
Như vậy khi có suy nghĩ sai lầm làm mình nhìn không chính xác, có một người nào đó làm mình giận, sau đó mình nhìn những cử chỉ của người đó không dễ thương tí nào, thấy dáng đi là không thích, cách nói chuyện cũng không ưa nhưng trước khi giận là mình không như vậy, mình thấy người đó bình thường nhưng đến khi giận lên rồi là nhìn cái gì của người kia cũng không vừa lòng, thậm chí không muốn nhìn mặt, chỉ thấy cái bóng phớt qua thôi cũng thấy khó chịu. Trong quan hệ vợ chồng cũng vậy, không giận thì anh anh em em rất ngọt ngào, còn giận lên thì đối phương làm gì cũng ghét, cái suy nghĩ sai lầm làm cái thấy biết lệch lạc chưa sanh thì sanh, còn sanh ra rồi thì phát triển lớn mạnh.
Nếu cho rằng không có nhân quả, không có thiện ác, cũng không có phước tội rồi viên mãn những thứ này, làm ác, nói ác, suy nghĩ ác thì sau khi chết sẽ đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đi vào nơi tăm tối của đọa xứ. Nếu cho rằng cái gì cũng có thật, còn hoài sẽ xảy ra tranh đấu, giành giật tới cùng, ăn thua với nhau, cho rằng có cái ta thật sự nên diễn ra biết bao sự cạnh tranh, đấu tranh, cướp đoạt, cho rằng có cái đẹp thật sự nên chỉ cần một ánh nhìn, một tấm hình chụp chung cũng có thể xảy ra án mạng. Hai người yêu nhau nhưng chia tay, sau khi chia tay cô gái chụp hình chung với người đàn ông mới rồi đưa lên mạng xã hội, người đàn ông cũ thấy được thế là giết chết người đàn ông mới, vậy là chỉ vì một tấm hình mà xảy ra án mạng, một người chết, một người chịu án tử hình, đó là cái suy nghĩ tà bại, cái thấy biết sai lầm đưa đến kết quả sau khi chết rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Mọi hành động từ cái thấy sai lầm, mọi lời nói đều phát ra từ cái thấy biết sai lầm, mọi ý nghĩ đều suy tư từ tà kiến, nếu có suy tư, ước nguyện, ý định nào, có bất kì hành động nào cũng đưa đến bất an, bất hạnh, đau khổ vì đây là tính chất xấu ác của cái thấy biết lầm lạc đó. Người có cái thấy biết lệch lạc, sai lầm, tà kiến thì mọi hành động, lời nói, suy tư đều bị cái thấy sai lầm dẫn dắt, nếu có quyết định, mong muốn, ước ao, cầu mong gì đi nữa cũng xuất phát từ tà kiến, ngũ uẩn này vận hành trong tà kiến, từ đó đưa họ đến buồn lo, khổ đau vì tính chất xấu ác của cái thấy biết lầm lẫn, tà bại đó tạo nên. Cũng như trồng cây ớt sẽ cho trái cay, khổ qua sẽ ra trái đắng vì hạt giống nó là vậy.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây nimba, hay hột giống cây Kosàtaki (một loại cây leo), hay hột giống cây mướp đắng, được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh đắng, tánh cay, tánh không lạc của nó. Vì cớ sao? Vì tánh ác của hột giống, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo".
(Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, 1-10. Tà Kiến v.v...)
Lúc trước có một khóa tu Nikāya trên núi của mình, có một cô Phật tử đến lễ lạy với hai hàng nước mắt đầm đìa vì cô đau khổ mười mấy năm mà không giải tỏa được, người trong gia đình hiểu lầm rồi giận hờn, không nhìn mặt, không giao tiếp rồi xúi người trong nhà nói xấu nhau, dù tìm mọi cách hòa giải mà không được. Cô không biết phải làm sao, bây giờ cô tu thì cô thấy mình có lỗi nhưng bây giờ phải làm thế nào vì người ta không tha thứ, chuyện không đáng nhưng họ cứ ghim trong tâm rồi giận luôn, không nhìn mặt, không giao tiếp và nói xấu nhau, nó kéo dài dây dưa rồi giày vò, ray rứt suốt mười mấy năm. Minh Thành nói cô ấy đã học nhận diện thân tâm, cô đã thấy biết được đời sống ngũ uẩn này là khổ, cô đã thực tập tâm hiền, tâm từ, cô đã thấy biết mình là kẻ bị tai nạn của lòng sân hận, của tham, sân, si, của bản ngã, cô đã thấy chúng ta đều là kết quả bất hạnh của tà kiến, khi cô đã thấy tự tâm mình như vậy thì những người khác cũng giống như vậy. Cô xác nhận là đúng, khi cô trải tâm từ cô cảm thấy dào dạt, bi mẫn, trào dâng, nước mắt cô tuôn ra và cô thấy tuyệt vời. Minh Thành nói cô dùng tâm từ để đối đãi với người hiểu lầm, chưa thông cảm kia, mỗi lần tu cô phải trải tâm từ, mỗi lời nói, hành động đều bằng cảm thọ thương mình thương người vì đều là nạn nhân của tham, sân, si, của tà kiến. Cô thực hiện như vậy không lâu thì cô lên đây lạy và cười, lần này cô cũng khóc nhưng khóc vì mừng vui vì cô đã hóa giải được mọi chuyện, người kia đã chấp nhận tha thứ, tâm từ kì diệu, thiêng liêng, tình thương qua sự hiểu biết chánh pháp được lan tỏa, bao trùm được người đó nên họ tha thứ cho cô làm cô vui mừng không thể tả.
Chỉ có hiểu lầm một chút trong gia đình mà biết bao suy nghĩ, hành động, lời nói đều đưa đến bất an cho nhau, gây buồn đau, khổ sầu cho nhau, không phải chỉ hai người đó mà cả nhà từ cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái cũng bị kéo vào chung. Cái thấy là trung tâm chỉ huy mọi thứ, từ cái thấy sai mới dẫn đến nói năng, hành động đều sai.
Vợ chồng với nhau cũng vậy, vợ nghi chồng có vợ bé rồi để trong bụng suốt thời gian dài, đến khi tìm hiểu ra thì người kia là bà con, chỉ vì hiểu lầm mà ôm ấp sự đau khổ, đưa đến bất an. Cho nên giữa vợ chồng, thầy trò, huynh đệ, anh em, giữa bạn bè, bạn đồng tu có chuyện gì thì hãy gặp thẳng nhau để hỏi chứ đừng giữ trong lòng rồi tưởng tượng ra đủ thứ viễn cảnh. Có khi cái hiểu lầm đó kéo dài mấy chục năm rồi cũng từng ấy năm khó chịu, bứt rứt, đau khổ, vì vậy có chuyện bất đồng thì hãy gặp nhau giải bày để làm sáng tỏ chứ không nên để trong bụng.
Đức Phật ví dụ mướp đắng, ớt sẽ cho ra trái đắng, cay, không có ngọt vì những gì nó lấy lên từ đất, từ nước đều đưa đến đắng, cay. Cũng vậy, khi đã có cái nhìn lệch lạc, vô minh, si ám thì suy nghĩ sẽ theo vô minh, theo hơn thua, thị phi, phải quấy, lợi ích, địa vị; những quyết định là quyết định theo tham, sân, si, hơn thua, dục ái; những ước nguyện theo dục vọng, ích kỷ, ta đây và những sự vận hành trong ngũ uẩn đều trong ảo tưởng, vận hành trong những chất liệu của khổ đau. Như vậy đại khổ uẩn này được tập khởi bằng những cái nhìn sai lầm, những suy tư lệch lạc về người khác. Đơn giản mình vào chùa tu, thầy quản chúng thấy mình tu không tinh tấn nên nhắc nhở, thấy mình không biết làm nên đến chỉ dẫn thì mình lại thấy khó khăn, cái gì cũng bị nói, ở nhà được mọi người thương mến không phải làm gì vậy mà giờ vào tu phải đi như thế này, ăn như thế này, phải nói như vầy… chịu không nổi là hoàn tục. Điều này là một trong bốn sự sợ hãi của người xuất gia được Đức Phật nói đến.
Học đạo mà suy nghĩ như vậy là phi như lý tác ý, nghĩ sai. Trong khi người ta đối đãi với mình bằng tâm từ, tâm thương, vậy mà mình quay ngược lại sân hận, bản ngã, nhìn không đúng vấn đề, không đúng thực tại rồi sanh ra biết bao suy nghĩ, hành động, lời nói, quyết định đều là đau khổ, bất an, buồn lo vì tánh chất xấu ác của cái thấy biết lệch lạc, sai lầm, tà kiến là như vậy. Nhiều khi đi tu mà cứ thấy chạy lo việc bên ngoài nên mới kêu nghỉ một thời gian vào thất tu đi, có vậy mà giận, buồn rồi xuống núi, mình thấy đi tu mà cứ lao vào công việc giống như một công nhân mà không thấy tự thân mình, không có thời gian tu tập sẽ uổng cho đời tu, có vậy mà hiểu lầm rồi bỏ xuống núi.
Giữa thầy trò, huynh đệ, chị em tỉ muội, giữa vợ chồng, bạn bè, đồng nghiệp, giữa bạn đạo với nhau thì chánh kiến này không chỉ là thấy năm uẩn, không chỉ là nhìn thấy bên ngoài hoặc nói trên miệng vô thường, khổ, vô ngã mà chánh kiến này phải soi rọi từng ngõ ngách, từng góc kẹt, từng góc cạnh trong đời sống, khi người ta nói chuyện với mình thì mình phải dùng cái tâm trong sáng, vô tư, bình tĩnh soi xét tại sao người ta lại nói như vậy, tại sao thầy lại nói như vậy, nếu không hiểu thì phải hỏi lại cho nên cái thấy đúng vô cùng tuyệt diệu. Mình để ly nước trên bàn được thầy chỉ dạy phải để như vậy thế mà mình lại nghĩ thầy khó quá, cái gì cũng nói, vậy là thất bại, tà kiến làm cho tà tư duy sanh khởi, phi như lý tác ý sanh khởi, thế là mình né tránh thầy, mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ cả gia đình đi tìm thầy học đạo vậy mà thầy dạy thì mình lại bản ngã, cái nhìn sai, cái thấy sai, cái hiểu sai phá vỡ hết tất cả sự nghiệp đạo hạnh của người xuất gia, phá vỡ hết sự nghiệp đạo hạnh của người cư sĩ, phá vỡ hết sự nghiệp đạo hạnh của người đệ tử Phật, người ta bỏ chùa, bỏ xuất gia cũng chỉ vì những cái này.
Khi đến chùa được sư cô đem đồ ra mời người kia mà không mời mình rồi giận, so bì, giận làm gì những chuyện nhỏ nhặt này, ở nhà mình ăn không thiếu thứ gì vậy mà vào chùa cũng còn so đo, mình vào chùa để cầu pháp hay cầu gạo, có khi người ta làm công quả nhiều rồi sư cô để dành cho một phần trái cây hay bánh gì đó, trong khi mình mới lại thì làm sao có được. Mình không tìm hiểu, không hỏi rõ ràng là mình giận trước rồi tính sau, rồi buồn không đến chùa nữa, tâm tà kiến này nhỏ hẹp, nhỏ mọn, si mê, ngu muội cho nên phải tu tâm rộng mở, rộng lớn. Người hướng dẫn muốn mình tốt nên chỉ dẫn tận tình cho mình, lúc đầu mình hào hứng nhưng thời gian sau lại sân lên, không học gì nữa, nghĩ rằng người hướng dẫn bới lông tìm vết, vạch lá tìm sâu, tìm lỗi sai của mình nhưng người kia là vì từ tâm, tình thương, vì lòng bi mẫn muốn chỉ dạy mọi thứ cho mình, vậy là mình nghĩ xấu, thậm chí nói xấu cả sư phụ mình.
Những người nào đến xin tu học mà lại nói xấu sư phụ họ là Minh Thành không dám nhận, chính sư phụ của họ mà họ còn nói xấu thì huống hồ gì mình, cho nên cái thấy đúng này rất sâu sắc và rộng lớn, rất tỉ mỉ, nhỏ nhiệm từng chút một trong mọi vấn đề. Vào toilet mà thấy hậu quả của người đi trước còn để lại bốc mùi khinh khủng thì mình vào dội cho sạch sẽ, nhiếp phục cảm thọ, đây là cơ hội để mình làm phước.
Minh Thành thường kể câu chuyện chùa Ấn Quang ngày xưa, các vị Tăng sinh học ở đó không thấy ai chùi rửa mà toilet sạch bóng, nửa đêm các vị nghe tiếng lau chùi phát ra trong đó, các vị bước vào thì thấy Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Hòa đang chùi rửa trong đó. Một Hòa Thượng đứng đầu của học viện lại đi làm chuyện thấp kém nhất. Bây giờ mình vào toilet thì nhớ lại hình ảnh một Hòa Thượng viện trưởng của học viện nửa đêm vào chùi toilet không cho ai biết để bòn phước. Trong khi mình mới làm công quả, tập sự hoặc chỉ mới cạo đầu thì dội nước toilet có gì là lớn lao so với Hòa Thượng, đó là suy nghĩ chánh kiến, suy nghĩ công đức. Còn suy nghĩ la lối, sân si, khó chịu lên là suy nghĩ sai sẽ dẫn đến lời nói sai, hành động sai. Nhưng nói vậy không phải mình bỏ qua cho người kia, nếu có duyên thì tìm hiểu xem người kia có chuyện gấp hay gì không mà bị mất chánh niệm không dội, có khi vừa xong nghe điện thoại reng là nói chuyện rồi quên dội luôn, mình nhắc nhở họ khéo léo và phù hợp. Điều quan trọng là mình không để những cảm thọ sân hận, bực bội, những suy nghĩ, quyết định sai xảy ra làm bất an, đau khổ.
Trong thời Đức Phật còn tại thế có hai vị luật sư và pháp sư cãi nhau thành chuyện lớn chỉ vì cái chậu nước úp xuống hay không úp, cái thấy sai làm đau khổ cho cả chư thiên và loài người, gây bất an cho đại chúng. Hoặc là tô chén ăn xong không rửa rồi cãi nhau, đâm chết người, chỉ có việc không rửa tô chén mà xảy ra án mạng, đó là do tà kiến, cái nhìn sai lầm và phi như lý tác ý nên đưa đến đau khổ, bất hạnh, bất an, khổ sầu. Tự thân người sân hận đâm chết người phải vào tù, người kia chết và gia đình, cha mẹ, bà con, vợ chồng, anh em, ông bà của cả hai đều đau khổ, đó chính là pháp đưa đến đau khổ trên cuộc đời này. Do thấy sai lệch, thấy sai lầm, tà kiến, suy nghĩ một hướng, suy nghĩ theo tham, sân, si, bản ngã, không suy nghĩ khách quan, bao dung, không suy nghĩ cho mình cho người, không suy nghĩ rộng rãi nên làm cho cuộc đời thành rối ren.
Chính cái nhìn sai và suy nghĩ lầm lạc này là gốc rễ của mọi vấn đề, còn nói sai, hành động sai là đi theo sau nghĩ sai thôi, hai cái đó làm cho thế giới phải đau đớn, nước mắt phải chảy, máu phải đổ, làm tan nát tình thân, tan nát những sự hòa hợp, đoàn kết, thương yêu nhau. Ở miền Trung lại đang bị bão lũ khắp nơi, biết bao nhiêu người ôm đồ lánh nạn trong biển nước, đường xá thành biển, giao thông ách tắc, ác pháp tăng trưởng trong khi thiện pháp bị suy giảm. Thật xót xa cho cuộc đời này, mình phải thấy đúng chúng ta đang khổ đau nên hãy thương nhau, hãy nghĩ cho nhau, mình được ngồi yên tu học, mình có nhà cửa, có ăn mỗi ngày trong khi người ta mất nhà, đói kém, mất mùa, tiêu tán tài sản, lang thang vất vơ vất vưởng, chỉ có tâm từ mới giúp cho mình có tình thương, cảm thông, tha thứ.
"Mỗi người một nỗi khổ,
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau.
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm đau khổ.
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm oan trái.
Đừng tạo thêm đắng cay,
Đừng tạo thêm khổ ải,
Cho kiếp người của nhau"
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
Phải như vậy mới nhìn thấy đúng thảm cảnh của cuộc đời, của thế gian. Mình chỉ nhìn vào cá nhân mình chứ không nhìn ra đại cuộc, không thấy biển cả mênh mông sóng ngập trời.
"Bể khổ mênh mông sóng ngập trời
Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi!
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Ngoảnh lại cùng trong biển khổ thôi!
Ngoảnh lại cùng trong biển khổ thôi!
Nổi chìm, chìm nổi biết bao người
Kiếp người nghĩ cũng lênh đênh quá
Qua cánh bèo trôi mặt nước thôi!"
(Bể Thảm – Đoàn Như Khuê)
Chiếc thuyền ở trong biển, dù ngược gió hay xuôi gió cũng đều phải bị sóng gió dập dùi và khổ lụy, sinh ra làm kiếp người đều phải chịu khổ, quờ quạng, sợ hãi, lo lắng. Đó là hình ảnh của tất cả chúng sanh hữu tình trên cuộc đời này và chính chúng ta, mình không thể giúp người ta thì hãy để người khác giúp, phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã từng ca ngợi "có đất nước nào mà lũ lụt, dịch bệnh như vừa rồi người dân thương nhau, giúp đỡ nhau đến vậy”, có những người mang dép tổ ong cầm tiền ra đường chia cho những đồng bào trên đường về quê tránh dịch, những người phụ nữ mang bầu phải ngồi trên chiếc xe máy cũ kỹ vượt hàng ngàn cây số để về quê, thậm chí có những thai phụ sanh con giữa đường, có những người bị tai nạn giao thông hoặc bị nhiễm dịch bệnh trên đường về quê. Có người phải đi bộ chân trần cả trăm cây số để về quê vì trong túi không còn tiền, một người thầy giáo đưa đôi dép cho người này, đó là nghĩa cử cao đẹp đầy tình thương của một người thầy giáo. Tại sao mình không nhìn thấy những cảnh này? Tại sao mình không cảm thông và thấu hiểu nỗi khổ của mình và của người khác mà mình lại làm những chuyện khiến cho người ta phải bất an, đau khổ?
Đức Thế Tôn đã nói khổ như vậy là vừa đủ để giải thoát khỏi tất cả các hành, đừng tạo thêm khổ nữa, đừng tạo thêm oai trái cho nhau nữa, khoan hãy nói đoạn tận sanh tử, siêu xuất tam giới mà nói đến việc sống với nhau phải có tình có nghĩa, có nhân có hậu, sống phải biết nghĩ về người khác, biết cảm thông cho những nỗi khổ của nhau, những điều căn bản này phải làm được, đó là chánh kiến của phàm phu, còn bậc chân nhân là phải biết ơn, nhớ ơn và đền ơn, làm được bao nhiêu đó cũng bớt khổ rất nhiều rồi. Biết bao nỗi khổ vì dịch bệnh, lũ lụt, sanh ly tử biệt, cuộc sống đầy bất trắc chưa đủ hay sao mà còn kiếm chuyện, gây gỗ? Vì vậy thương cho tà kiến của chúng ta, thương cho cái suy nghĩ lệch lạc, sai lầm của chúng ta, thương cho những mong muốn tà ác, đều đem đến bất hạnh, tai nạn, khổ sầu cho nhau.
Vì lòng tham vọng, dục vọng mà gây chiến tranh, đấu tranh, đem đến sợ hãi, bất an cho biết bao người, khi hiểu ra rồi mới thấy chánh kiến rất cao quý tối thượng, phải tôn thờ chánh kiến vì không có nó là đau khổ mọi mặt, mỗi ngày chúng ta nghe, tư duy, quán chiếu là nhằm tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển vững mạnh trong cái thấy đúng này và cái thấy đúng này có rất nhiều góc cạnh, phương diện chứ không phải chỉ có một chút là đủ. Cho đến khi nào nhìn thấy mọi hình thái, mọi sự vận hành, dịch chuyển, hình thức trên thế gian này đều là khổ đau và mình trào dâng cảm thọ xót thương, bi mẫn lan tỏa cùng khắp tất cả, không có cái nào là không khổ, không có một chúng sanh hữu tình hay vô tình nào là không đáng thương thì lúc đó chánh kiến mới được viên mãn, từ tâm mới được vô lượng.
"-- Này các Tỳ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời".
(Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng))
Khi nào nhìn thấy tất cả mọi góc cạnh, phương diện, ngõ ngách trên thế giới này là một sự tổng hợp của đại khổ uẩn và mình có tình thương dào dạt, thậm chí mình có thể đem sinh mạng này chặt ra từng phần để mọi người được an lạc, được hạnh phúc, bớt khổ đau thì mình cũng sẵn sàng, tình nguyện, không gì làm chướng ngại được thì tâm từ của mình được viên mãn. Khổ vậy là vừa đủ rồi, còn gây khổ cho nhau để làm gì nữa? Mình ngồi trong nhà mặc áo ấm, quấn khăn còn thấy lạnh trong khi người ta phải trầm mình trong nước vì lũ dâng cao biết bao ngày qua, lại còn bị dịch bệnh, bị mất nhà, mất tài sản, người thân chết, bao trùm mọi nơi là sự bất an, lo lắng và sợ hãi cho nên cần nuôi lớn tình thương này, thấu hiểu khổ đau này để không tạo thêm khổ cho nhau nữa, nếu không đem đến trí tuệ cho người ta, nếu không đem được bình an đến cho người ta thì ít nhất cũng đừng tạo ra đau khổ cho người sống với mình, đừng để những suy nghĩ, hành động, lời nói làm tổn thương người sống chung với mình.
Không có chuyện gì lớn lao cả nhưng từ cái thấy sai lầm, ích kỷ, cái thấy không có sự nhân từ, cảm thông, bao dung làm cho bất an, buồn lo, khổ sở cho nên kẻ thù thật sự là tà kiến, cái mà mình cần nhiếp phục, đoạn tận và tẩy sạch là cái thấy biết sai lầm, cái suy nghĩ lệch lạc về người khác, guồng máy hoạt động của vũ trụ này gom lại chỉ có dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã và tà kiến, đây là những thứ mình cần hạ thủ, ngoài ra trên thế giới này không có ai làm mình khổ cả. Vô minh tức là tà kiến, vì không sáng suốt nên nhìn sai rồi có ra những suy nghĩ, lời nói, hành động sai, cuối cùng là tạo nghiệp, lãnh lấy quả báo khổ. Bây giờ muốn hết khổ thì tu chánh kiến, thấy đúng sự thật vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, thấy đúng sự đau khổ đó để sống bằng tình thương.
Nếu đúng như sự thật mà tác động tâm ý và suy nghĩ thì chánh kiến chưa sanh sẽ sanh, còn chánh kiến đã sanh sẽ tăng trưởng quảng đại lên thêm. Nhờ có chánh kiến mà chúng sanh sau khi chết được sanh lên cõi người hưởng phước hoặc sanh lên cõi trời an vui. Mọi lời nói của miệng, mọi suy nghĩ, mọi sự thấy đúng theo chánh kiến đều được chấp nhận, những ước nguyện, việc làm, quyết định nào trong chánh kiến đều đưa đến an lạc, an vui, bình an vì tính chất tốt đẹp, hiền thiện, tình thương, từ tâm của chánh tri kiến, nhìn đâu cũng thấy khổ nên hãy thương yêu, tha thứ, bao dung, độ lượng lẫn nhau.
Vì tính chất hiền thiện của cái thấy đúng đó nên mọi lời nói, hành động, ý nghĩ, suy tư, những ước muốn nào, sự vận hành trong ngũ uẩn này đều đưa đến sự vui mừng, vừa lòng, thích ý, đưa đến hạnh phúc, an lạc. Cũng như cây mía, sầu riêng, những gì nó lấy lên từ đất, lấy lên từ nước thì tất cả đều đưa đến cái ngọt, thơm, bổ dưỡng, dinh dưỡng vì tính hiền thiện của hạt giống. Hạt giống của tâm từ cũng ngọt ngào giống như vậy, cũng thơm tho, đầy dinh dưỡng, chánh kiến và như lý tác ý là hai pháp đưa đến hạnh phúc, an lạc, còn tà kiến, phi như lý tác ý, nhìn sai và suy nghĩ lầm lạc là đưa đến đau khổ, ngay trong hiện tại là thân, miệng, ý, suy tư, ước nguyện, hành động đều đưa đến bất hạnh, trong tương lai khi chết rồi sẽ đưa đến ba đường ác. Khi tác động tâm ý đúng như chân lý cộng với chánh tri kiến cho ra trong hiện tại thân, miệng, ý, suy tư, quyết định, ước nguyện đều là an vui, hạnh phúc, sau khi nhắm mắt ra đi được sanh vào cõi người, cõi trời tốt đẹp để tiếp tục tu thành tựu chánh tri kiến này, tiếp tục tẩy sạch các lậu hoặc, các rác bẩn, phiền não.
Hôm nay chúng ta học về Tà kiến trong Tăng Chi Bộ, tập I. Đức Phật chỉ ra hai con đường, một con đường của tà kiến, của phi như lý tác ý, của đọa lạc, ba ác đạo và đau khổ ngay trong hiện tại, con đường còn lại của chánh kiến, như lý tác ý được hạnh phúc trong thân, miệng, ý, mọi suy nghĩ, ước nguyện, sau khi nhắm mắt ra đi được sanh lên cõi lành, thiện thú, thiên giới và trong cõi đời này.
./.