Thánh Tăng Thời Đức Phật 9 - Đức Chúng Như Hải Và Xin Ăn Còn Đâu Bản Ngã
Nikāya Giảng Giải
Thánh Tăng Thời Đức Phật 9
Đức Chúng Như Hải Và Xin Ăn Còn Đâu Bản Ngã
Thích Minh Thành
Ngày 27 tháng 11 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khéo nghe PAGEREF _Toc169767733 \h 1
II. Trú chỗ xa vắng PAGEREF _Toc169767734 \h 5
III. Từ bỏ thế tục PAGEREF _Toc169767735 \h 11
IV. Chia sẻ cảm thọ PAGEREF _Toc169767736 \h 15
I. Khéo nghe
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Đà Phật (3 lần)
Kính bạc chư tôn đức và chư hiền trí, sáng hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Thánh Tăng thời Đức Phật. Hôm nay là ngày rằm tháng 10, kỷ niệm xuất gia 32 năm của con. Trong sự hoan hỉ, pháp hỷ cho nên con cũng muốn cúng dường đại chúng những bài pháp hoan hỉ, hỷ lạc, hạnh phúc trong sự tu học giữa núi rừng.
“Trong thời Đức Phật tại thế, ngài sanh ở nước Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nālaka, con của nữ Bà-la-môn Rūpasārī và em trai của Sāriputta. Ngài theo gương anh, xuất gia, và sau một thời gian tinh cần tu hành, chứng đuợc quả A-la-hán. Phấn khởi với quả chứng của mình và đời sống viễn ly, ngài nói lên bài kệ:
Khéo nghe, nghe tăng trưởng,
Nghe tăng trưởng, phát tuệ,
Nhờ tuệ biết ý nghĩa,
Nghĩa được biết, lạc đến.
Hãy trú chỗ xa vắng,
Hãy sống, thoát kiết sử,
Tại đấy, hỷ chưa đạt,
Hãy sống giữa chúng Tăng,
Tự ngã được chế ngự,
An trú trong chánh niệm.”
(Tiểu Bộ kinh – kinh Mahacunda)
Bài kệ tiếng đạo của Ngài, Ngài nói lên kinh nghiệm, cách tu, con đường đưa đến thành tựu của Ngài.
“Khéo nghe, nghe tăng trưởng,
Nghe tăng trưởng, phát tuệ,
Nhờ tuệ biết ý nghĩa,
Nghĩa được biết, lạc đến.”
Đây là bài kệ thứ nhất, Ngài nói rằng Ngài nhờ Ngài khéo nghe pháp, pháp nghe lời dạy của Đức Phật và Ngài tăng trưởng trong sự nghe pháp. Do Ngày siêng nghe pháp, nghe nhiều, phát triển trong sự nghe, cho nên Ngài phát tuệ. Đường nhiên la sau khi nghe có chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, quán chiếu, quán sát, thiền quán, thiền tư, thiền tuệ. Nhờ Ngài nghe nhiều, trầm tư, mặc tưởng, nghiền ngẫm, quán chiếu, quán sát, suy tư, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, thiền tuệ, thiền tư. Cho nên Ngài phát sanh ra trí, nhờ trí tuệ đó Ngài biết được ý nghĩa của pháp. Đây là em ruột của ngài Xá-lợi-phất, khi Ngài phát được trí tuệ đó thì Ngài biết được ý nghĩa của pháp. Khi biết được ý nghĩa đó thì Niết-bàn đến, sự an lạc đến với Ngài.
Đó là lý do tại sao là Linh Quy Pháp Ấn là trú tâm mỗi ngày 2 thời, 1 thời nghe pháp và 1 thời thiền quán. Con mong chúng ta hiểu được tâm ý của con, trong những khóa tu có thể tới 3 thời. Tại vì con xét tự thân của con cuung như xung quanh, số đông hiện nay rất là khó mà thiền định. Những khóa tu mà chúng ta mở ra cho ngồi yên lặng, ngồi không chịu nỗi. Ngồi chừng 30 phút thôi, là họ đau nhức, họ trở, họ ngứa, họ mỏi mệt, buồn ngủ, chán nản. Chính vì vậy mà con thấy được thích hợp thời đại này, con người hoàn cảnh hiện nay là nghe pháp và thiền quán. Còn thiền chỉ, thiền định thì quá tuyệt vời đối với những người mà ít có nghiệp. Đối với những người tinh cần, tinh tấn, thiền chỉ và thiền định chúng kết hợp vô thì rất tuyệt vời.
Còn nếu như không có được nhiều, thì cũng không phải là tu không thành tựu, bởi vì chủ lực trong Nikāya là thiền quán. Từ căn bản của giới, giới thanh tịnh vịnh tri kiến chánh trực. Tri kiến chánh trực tức là mình thấy biết đúng về pháp, cộng với triển khai thiền quán, chiêm nghiệm, suy tư, quán xét, nghiền ngẫm, đủ sức đưa cho mình vào các tầng thánh quả. Bậc đạo sư và trong Nikāya cũng nói luôn, người chỉ cần được sơ thiền thôi, cũng đủ sức chứng thánh quả A-la-hán. Cho nên, không nhất thiết thiền định thâm sâu mới chứng quả, phải đoạn tận được cái lậu hoặc thì có 1 bài kinh hôm trước chúng ta có học rồi. Sơ thiền hỷ lạc ly dục sanh có tầm có tứ, mà chúng ta tu tập hiện nay, thì không phải khó khăn, mệt nhọc hay phí sức.
Chính vì vậy, mà con rất chú trọng vào nghe pháp và thiền quán. Cho nên các vị không chịu nghe pháp, không chịu đi lên học, không để tâm vào thiền quán là mất lợi ích rất là to lớn. Nói thì nói vậy nhưng mà cũng phải coi căn duyên, phước đức của mình. Nếu mà ép quá thì tu không được, cho nên cũng khích lệ, khuyến khích như vậy chứ không có miễn cưỡng. Nếu như mình cố gắng được thì mình nên cố gắng, khi nào có học có thiền quán. Nếu như mình thấy học quá sức chịu không nổi, thì mình làm công quả cũng được vào những thời phụ. Con 2 thời chính buổi sáng và buổi tối, là vốn liếng của mình. Chúng ta thấy không, buổi sáng chúng ta đánh 1 trận 4 tiếng đồng hồ, mình hoan hỉ không?
Hồi xưa con tu trong các chùa, thì 1 ngày tu 2 tiếng đồng hồ là xong rồi, 2 thời công phụ, mỗi thời 1 tiếng. Mà buổi sáng không chúng ta đánh trận là 4 tiếng, đó chỉ là mới nói về thời gian đó. Chứ đừng có nói trong 2 tiếng đó làm cái gì, 4 tiếng đó làm cái gì. Công năng, sức mạnh, sự đấm phá của mình trúng hồng tâm không? Có khẽ trúng đầu giặc không? Có bắn trúng cái tim của địch không, thì cái đó là khác nữa. Thì chúng ta thấy chúng ta được lợi ích lớn, được lợi đắc lớn, được lời to, được lời nhiều. Mà mới có buổi sáng thôi, mà chúng ta đánh trận có khi 5 tiếng đồng hồ luôn. Hoan hỉ không?
Rồi mình nói người bận công chuyện, hay là người mới vô tu chưa có quen, thì buổi trưa cho đi làm công quả đi. Buổi tối kiếm thêm được 2 tiếng nữa là 6 tiếng đồng hồ, đủ vốn chưa? Nếu mà người siêng thì buổi trưa kiếm thêm 2 tiếng nữa là 8 tiếng, bằng đi làm ở ngoài, đủ vốn chưa? Ngon lành chưa? Con thưa các chư tôn và chư hiền, con phải suy nghĩ rất nhiều lần, rất nhiều chục lần, rất nhiều trăm lần để đưa ra cái thành quả, chứ không phải muốn làm là làm. Phải suy tư trước sau điều chỉnh, xem căn cơ, trình độ, con người, tuổi tác, hoàn cảnh, khí hậu, sức khỏe đủ kiểu hết. Chứ không phải cái thời khóa là đơn giản, cho nên nhiều khi mà có vị nào đó dẫn chúng mà tự động bỏ thời khóa 1 cái là con đau tim, con rất là đau nhói.
Tại vì quý vị nhiều khi đâu có hiểu hết, thấy thời khóa thì lên tu thôi. Chứ nhiều khi quý vị không có biết trong này có dụng ý, rồi bao nhiêu những thứ trong đó. Nói như vậy để cho quý vị hiểu được cái ý là tại sao chúng ta nghe pháp nhiều, thiền quán nhiều. Đó là bậc Thánh A-la-hán, là em ruột của tướng quân Chánh pháp Xá-lợi-phất đó. Con xin thưa chư tôn và chư hiền, hồi xưa khi con chưa vào dòng pháp Nikāya, là mỗi ngày con đã nghe coi bằng 8 tiếng đồng hồ. Mỗi một ngày như vậy, mà suốt 10 năm. Lúc mà chưa đi vào dòng pháp Nikāya, con ra con giảng, con kêu hòa thượng Thanh Từ con. Thành ra mình làm cái gì, mình phải tập trung tâm ý, đầu tư thật nhiều. Dồn hết tâm lực, trí lực, sức lực, hạnh lực, đạo lực, thần lực, pháp lực, dốc toàn lực của mình tập trung tâm ý vào.
Không làm thì thôi, làm thì phải dốc hết sức lực, làm cùng tận khả năng. Mà mình làm hết sức tới đó rồi, thì mình vẫn hoan hỉ. Đó là lý do mà tại sao chúng ta nghe pháp nhiều, và thiền quán liên tục. Chúng ta thấy không, trong mấy ngày nay 5, 7 buổi thiền quán về chiếc lá vàng rơi, mình thấy trí tuệ mình có khai mở lên thêm chút nào không? Bình thường mình đi ngang mình thấy: “Ờ lá thì lá rơi, chứ có gì đâu”. Chúng ta thấy chưa? Đó là khác biệt, sức mạnh của tuệ lực, thiền quán, thiền tuệ, tuệ trí, Thánh tuệ. Chúng ta khai thác những gì mà chúng ta tu học từ trước tới nay, dồn hết sức mạnh vào trong đó để mình triển khai thiền quán. Lợi ích của nó là bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng, không thể trình bày, không thể nói hết.
II. Trú chỗ xa vắng
“Hãy trú chỗ xa vắng,
Hãy sống, thoát kiết sử,
Tại đấy, hỷ chưa đạt,
Hãy sống giữa chúng Tăng”
Ngài khuyên: “Hãy trú chỗ xa vắng, hãy sống thoát kiết sử”. Các vị Thánh Tăng ngày xưa thường ca ngợi, ca tụng, xưng tán, hân hoan, xưng tụng, hoan nghinh những vị tu hành ở cỏi xa vắng. Đây là căn nhà của các bậc hiền trí, hiền thiện, hiền thánh. Là núi rừng, là đồi cao, là nơi xa vắng viễn ly xứ, là nơi không nhàn, không tịnh, tịch tịnh. Nơi vắng lặng, lặng lẽ, rảnh rang, an tịnh, an nhàn, ly tham, ly dục. Rời xa những sự phồn hoa, náo nhiệt, rời xa những sự ghanh đua, tranh đua, tranh giành ồn ào, lòe loẹt của thế tục, thế gian, thế giới. Để chuyên tâm vào tăng thượng giới đức, thiền định, thánh tuệ thì các Ngài ca ngợi. Để chi vậy? Ở chỗ đó để thoát ra được những trói cột, cuột ràng, kiết sử.
Năm hạ phần kiết sử, 5 thượng phần kiết sử, phá được thân kiến. “Tại đấy hỷ chưa đạt, hãy sống giữa chúng Tăng”. Chúng ta thấy không? Không có cố chấp, không có miễn cưỡng. Nếu như ở 1 mình bây giờ mình không thấy hoan hỉ, không thấy an lạc, mình thấy buồn chán, mình thây buông lung, biếng nhác, thì hãy sống giữa chúng Tăng. Nhớ kỹ cái này, chưa nhập thất được đừng có ép vô nhập, vô nhập rồi ăn với ngủ. Nhiều khi vô nhập thời gian rồi tóc mọc dài ra nữa, đi xuống núi luôn, chứ không phải nói là đi nhập thất là ngon đâu. Nếu mình thấy cái tâm nó không hoan hỉ, nó không có thiện pháp giống như mình ở trong chúng thì mình trở ra, trở về chúng.
“Hãy sống ở trong chúng, tự ngã được chế ngự”, sống ở trong chúng thì chính mình sẽ được chế ngự, nhờ đức chúng như hải. Đức của chúng như biển cả, đại dương, đại hải. Chúng ta thấy cái này tuyệt vời không? Mình sẽ được chế ngự nếu mình sống giữa trong chúng, an trú trong chánh niệm. Nói ví dụ 1 cái chúng ta thấy hay lắm, như tới giờ ai cũng lên ngồi thiền mà mình nằm ở đây mình ngủ thì mình coi được không? Kỳ cục, xấu hổ, nhục nhã không? Nếu mà người có sĩ diện cũng ráng ráng. Bây giờ buồn ngủ dữ lắm mà ai cũng lên, cũng ráng lê lên, kéo lên, rồi nghe quán dập tới tấp hết trơn mà ngủ gì được.
Thấy chưa? Rồi bây giờ ai cũng hộ trì căn hết trơn, ai cũng an tịnh lắng dịu hết, mình vô mình nói chuyện to lớn, rồi nhìn ai cũng nhìn mình hết trơn, thấy mình xấu hổ, hạ liệt, hèn kém, nhục không? Rồi người ta ăn người ta ăn nhẹ nhàng, chậm rãi, còn mình rớt đũa, rớt muỗng, rớt tô, bể chén, thì mình chui dưới đất độn thổ chứ. Thì như vậy mình tự động được chế ngự tự ngã, an trú trong chánh niệm, tuyệt vời không? Chưa sống được trong rừng, chưa nhập thất được, thì sống giữa chúng. Khi lên ngồi thiền ai cũng im ru hết trơn, mình ngồi 1 hồi rụt rịch, cục kịt, gãy đầu, sửa áo. Còn may còn được được chứ quay trực tuyến 1 hồi lên coi, nhìn cái mặt không giống ai hết trơn, nhìn giống khỉ. Ai người ta cũng ngồi bất động hết trơn, ngồi gãy đầu, móc lỗ mũi, sửa áo, duỗi chân, nhìn xấu quá xấu đi, tồi tệ quá, nhục quá.
Rồi lần sau ráng chỉnh lại, ráng đẹp lại, đó là tự ngã được chế ngự. Rồi trình pháp cũng như vậy nữa, người ta trình đớn giảng, vừa phải, trọng yếu, quan trọng, mình vô 1 cái là hai mươi mấy ba chục phút. Mình xuống mình coi lại mình thấy xấu hổ không? Mình nói tiểu sử cuộc đời của mình, nói tam quốc chí diễn nghĩa, đông chu liệt quốc, mình đi 1 vòng từ Á sang Âu, các châu lục. Mình nhìn mình thấy xấu hổ, nhục chứ. Mình nói 1 hồi mình nói cái bản ngã mình không, còn không thôi mình đang sám hối cái mình chỉ lỗi người mình đang sám hối. Thì càng nhục nữa, quá nhục, về nghe lại thấy nhục 1 cục. Tuyệt với không? Đó là đức chúng như hải đó.
Người ta ai cũng ta đi cuốc cỏ, trồng rau, tưới cây, quét rác, còn mình nằm trong đó mình ngủ, mình nằm quẹt quẹt điện thoại mình coi được không? Ai nhìn cho, ai coi cho, “tập mục sở thị”, 1 chục con mắt nhìn vô, 1 trăm con mắt nhìn vô. Mình ráng, cũng muốn quẹt dữ lắm mà thôi kìm lại đi ra làm. Tự ngã được chế ngự, tuyệt diệu không? Nhiều lắm, quán chiếu đi, nhiều lắm nói không có hết đâu. Do đó tại sao mà chúng ta đi lại khóa tu để mà vô tu, đi lên núi để mà tu, chứ không phải ở nhà mình tu với cái gì. Có cơ hội thì chúng ta phải đến đạo tràng, đến khóa tu, đi về núi là vậy đó, “đức chúng như hải” là vậy đó. Người ta đi bước đi thong thả, nhẹ nhàng, thanh thoát, mình đi bước đi như thùng phi chuyển động.
Đi chưa tới mà xèm xẹp, chưa thấy cái mặt mà cái tiếng nó oai oái, văng vẳng, vang vang vậy đó, như vậy xấu hổ, nhục nhã nữa. Xong mình nhìn thấy người ta im ra, đi nhẹ te, quay lại mình cúi đầu xuống không dám dòm ai hết trơn. Rồi mình thấy các vị đức hạnh, có đạo hạnh, tự nhiên mình có xu hướng, chí hướng, hướng thượng, tăng thượng. Còn mình ở nhà mình 1 mình có ai đâu mà có chí hướng, có ai đâu mà mình hướng thượng, tăng thượng. Cho nên “chưa sống được chỗ xa vắng, thì hãy sống giữa chúng Tăng, tự thân mình được chế ngự, an trú trong chánh niệm”. Thì mình sống trong chúng mình thấy mình giống như là dị nhân vậy đó, biết dị nhân không? Là dị hộm.
Tới giờ người ta thiền chỉ cái mình móc phone ra mình thiền quán, mình đeo tai phone vô. Tới giờ người ta thiền quán cái mình muốn thiền chỉ, tới giờ người ta đi ngủ thì mình ra tu, tới giờ người ta tu thì mình đi ngủ. Phải nhìn thấy được những cái đó, có khi mình thấy, có khi mình không thấy, mà người ta đứng ở ngoài người ta nhìn thấy. Mà mình dẫn chúng nữa, kêu đại chúng thiền chỉ đi, mình bỏ tai phone vô lỗ tai mình thiền quán. Cái đó phải chánh niệm sâu sắc, phải nhìn thấy. Cho nên các vị dẫn chúng phải khéo léo, uyển chuyển, nhẹ nhàng khéo léo đưa chúng nâng cấp lên từ từ mà chúng không hay không biết. Tới chừng hay biết rồi là lên cao cấp rồi, hoan hỉ không?
Làm cho mọi người tăng thượng, tự ngã tăng thượng, đại chúng tăng thượng, hội chúng tăng thượng. Phải để tâm thật nhiều vào sự tu học, và công quả của đại chúng. Thật là thiện xảo, khéo léo, phương tiện, giúp cho mọi người, đại chúng hoan hỉ, tinh tấn ngày đêm tu tập trong các thiện pháp. Bây giờ mình thấy đó, con người ta quỳ lạy mẹ người ta khóc như vậy, đó là cư sĩ. Còn mình xuất gia, mình nhìn lại mình bất hiếu, tủi thân, nước mắt mình trào dâng, ray rứt, đau xót. Mình lấy những buổi thiền biết ơn, làm động lực để cho mình tăng tiến trong cái phạm hạnh của mình. Đức chúng như hải là nư vậy đó, nhìn thấy cư sĩ mà hiếu thảo với cha mẹ như vậy, mình xuất gia mình thấy mình nhục, xấu hổ, đau lòng.
Mình thấy mình thiếu bổn phận, thiếu trách nhiệm, thiếu hiếu đạo, thiếu hiếu hạnh. Đại hiếu mình chưa có thành tựu, cái xuất thế gian hiếu mình chưa có hoàn thành, lấy cái đó làm động lực. Cho nên tất cả những pháp hành mình tu, hôm qua hay hôm kia con có nói về tổng quát pháp hành Nikāya, chúng ta nghe kỹ bài đó rất quan trọng. Biết ơn, tâm hiền, tâm hòa kính, diệt dục, diệt ngã, tứ vô lượng tâm, để làm quyển sách pháp hành, tổng quát pháp hành Nikāya, tiếp theo quyển pháp hành căn bản. Nhiều những cái pháp đó, thực hành pháp nào viễn mãn, chứng đạt pháp đó hết. Ít nhất 70, 80, 90 phần trăm. Cái tâm biết ơn, cái tâm hiền, cái tâm hòa kính, diệt dục, diệt ngã, tứ vô lượng tâm.
Tất cả các pháp đều phải thành tựu hết, chứ không phải chỉ 1 pháp. Tu mà tới lúc tâm biết ơn của mình thành căn cứ địa, tường đồng dác sắt, vững trú. Và không bao giờ có 1 chút mầm mống của tâm phản trắc, vô ơn, phản bội. Diệt tận hoàn toàn cái tâm đó luôn, cái tâm phản trắc, tráo trở, vô ơn, phản bội, diệt tận không còn 1 mảnh may nào hết. Thì thành tựu được tâm biết ơn, nhớ ơn của bậc chân nhân. Mới được cái đó là mới 1 pháp thôi, chứ không phải thành tựu 1 pháp đó là xong. Thành tựu tâm hiền trong tất cả hoàn cảnh nào, người ta có phi nhổ, sỉ nhục, dẫm đạp, thậm chí là giết hại luôn mà mình không có khởi sân hận, như vậy mình chứng đắc được tâm hiền.
Thành tựu được tâm hòa kính, cho đến cái lúc mà người ta chống đối đủ thứu kiểu hết trơn, mà cái tâm mình vẫn hài hòa, hiền hòa, vẫn là kính trọng. Không có dao động, không có lung lay, vẫn vững trú, trở thành căn cứ địa cái tâm hòa kính đó, là mình chứng đắc được cái tâm hòa kính đó viễn mãn. Diệt dục tới cái lúc mà tâm, ý, niệm, thọ, tưởng, hành, thức không còn nữa. Đó là nói tận cùng, còn 70, 80 phần trăm là nói ở trên thân mình hoàn toàn có thể làm chủ được. Rồi mới đi tới làm chủ được thọ, tưởng, hành. Diệt ngã cũng vậy, diệt cho tới tận cùng, diệt không còn cái ảo ảnh của tự thân ở trong tâm nữa luôn, là mình mới chứng đắc được cái pháp đó. Là mỗi pháp, mỗi pháp phải chứng đắc, chứng đạt, chứng ngộ hết.
Chứng không phải mình học cái nào cũng phớt phớt 1 chút là rồi xong, thì cuối cùng không có pháp nào. Giống như con chuột nó đị lọt vô cái tủ, nó cạp cạp chỗ này 1 chút, chỗ kia 1 chút, chỗ nọ 1 chút, nó cạp 1 hồi ở trong đó thì nó hết ngạt trong đó thôi. Phải cạp 1 chỗ, cạp hoài cho nó lủng mới chạy ra khỏi cái tủ, cái rương đó. Cho nên đó là mấy ngày hôm nay chúng ta tập thiền quán về khổ Thánh trí, trong chiếc là vàng rơi đó, là chúng ta đang tập cạp 1 chỗ, xuyên thủng 1 chỗ. Con chắc chắn với chúng ta nếu hổm rày mà người nào theo lời hướng dẫn mà thực tập như vậy, mà từ nay cho tới chết hễ gặp chiếc lá vàng là nhớ trí tuệ liền. Nhất trí như vậy phải không? Trừ mấy người hổm rày không có thực tập, chúng ta tiếp tục quán nữa, trở thành trí tuệ trong con người mình không có mất.
Khi đã quán được như cách mà chúng ta đã quán, thì không những gặp lá vàng, mà gặp tất cả mọi cái biến diệt, thì cái trí đó đều bừng sáng, rực sáng, chói sáng, chiếu sáng, tỏa sáng trong tâm mình hết. Mình thấy 1 người khiêm cung, khiêm hạ trong chúng, chẳng hạn như mình thấy Ni sư đi, một bậc trưởng thượng, tri thức, học vấn cao, đức hạnh như vậy. Mà cách hành xử khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm hòa, khiêm nhã như vậy. Mình nhìn lại mình, mình thấy nhục nhã, xấu hổ. Hay là mình nhìn thấy sư cô Tuệ Quý hiền lành, trầm lặng, lẳng lặng như vậy. Rồi mình nhìn thấy mình xôn xao, dao động, nói nhiều, tháo động, động loạn, mình nhìn thấy mìh xấu hổ, hạ liệt, hèn kém.
Đó là đức chúng như hải đó, thấy chưa? Biết rõ chưa? Để không thôi ở trong dòng sông mà chết khát. Chúng ta hiểu câu đó không? Tối ngày mình lo dòm cái bản thân mình không à. Cái ta, cái tôi, cái ích kỷ, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ nhít bên trong mình. Không thấy đức hạnh hiền thiện, cao thượng, rộng lớn của các bậc hiền trí, đó là chết khát giữa dòng sông. Nếu mình nhìn thấy những tấm gương của các vị bệnh tật, thậm chí là những căn bệnh nan y như vậy mà chịu khó, chịu tu, chịu học, chịu phụng sự Tam Bảo, nhìn lại mình làm biếng làm nhác. Mình nhìn thấy vậy mình hổ thẹn, bây giờ mình cố gắng, nỗ lực lên. Rồi mình nhìn thấy những người trẻ tuổi, người ta từ bỏ tuổi thanh xuân, tóc còn đen nhánh, sức khỏe, sắc đẹp, những cái dục lạc ngoài đời người ta từ bỏ, người ta đi tu.
Mình bây giờ cái thân mình là thân tàn, ma dại, bệnh hoạn, ốm đau, mà mình còn tiếc, không dám cạo mái tóc. Mình thấy mình tủi chứ, mình thấy thấp hèn, hèn kém chứ, đó là đức chúng như hải đó. Mình nhìn thấy các vị hy sinh ở trong bếp, ngày đêm bên đống lửa, thức khuya dậy sớm, cực khổ, vất vả lo 3 bữa ăn cho đại chúng hàng trăm người. Mà lúc nào cũng hiền lành, từ ái, khiêm cung, nhỏ nhẹ hết. Đó là những tâm gương phản chiếu, phản ảnh, phản tỉnh, đó là đức chúng như đại dương. Nhìn ai mình cũng thấy là bậc chân nhân, bậc hiền thiện, hiền trí. Nhìn ai cũng là những bài học, tấm gương, phản tỉnh.
Mình nhìn thầy thầy Nghĩa hy sinh tất cả thời gian, công sức, nửa đêm nửa hôm, thức khuya dậy sớm, gánh vác hết tất cả mọi việc từ cầu tiêu cho đến Chánh điện. Từ ở trên đỉnh núi cho đến chân núi, từ trong chùa cho đến ngoài Bảo Lộc. Chúng ta có hoan hỉ không? Chúng ta nhìn thấy kỹ sư nông nghiệp, trưởng ban lương thực của chúng ta mặt mày của bữa nay đen thùi lùi, chúng ta có thấy thương không? Chúng ta nhìn thấy thầy Nhựt Tiến hiền lành, lễ nghi, khiêm cung, khiêm hạ, đức hạnh. Phải vượt qua bao nhiều khó khăn, thử thách để mà có mặt tại Linh sơn. Chúng ta thấy hỷ lạc, hạnh phúc không? Mình ở chung với bậc hiền nhân.
III. Từ bỏ thế tục
Chúng ta thấy bây giờ sư cô Huệ Lý bỏ chùa, bỏ đệ tử, bỏ công danh, bỏ ngoài những lợi dưỡng cung kính, đi lên trên rừng sâu núi thẳm, mỗi lần ra là khóc. Chúng ta có thấy ngưỡng mộ không? Rất là nhiều những tấm gương để cho mình học, nhiều lắm nói không hết, còn lại phía sau nhiều lắm. Mấy cái đầu còn tóc cũng có những bậc rất đáng cung kính, kính trọng, học hỏi. Chứ chưa chắc mình cạo cái tóc đi, là mình lo hơn những người còn tóc đâu, nhớ lời bậc đạo sư đi. Công đức của hội chúng là như biển cả.
Ngài gặp đức Phật, xúc động, xuất gia đã được nói trong chương một, với câu kệ: “Như bị cảm hóa bởi sức mạnh”. Ở đây, vị Trưởng lão sống thân thiết với các bạn, các Tôn giả Anuruddha, Bhaddiya.
Trong vườn trúc phía Đông,
Các Thích tử thân hữu,
Từ bỏ những tài sản,
Không phải là ít oi,
Vui thích với những gì,
Nhận được từ bình bát.
Siêng, tinh cần, tinh tấn,
Thường kiên trì hăng hái,
Ưa thích lạc pháp vị,
Từ bỏ lạc thế gian.”
(Tiểu Bộ kinh – kinh Kimbila)
Các vị này sống viễn li trong 1 rừng trúc phía đông, các thích tử là những hoàng thân quốc thích, hoàng thất, hoàng tộc, hoàng gia. Nhớ chữ “Thích tử”, là dòng họ Thích ca Sakiya đó, là hoàng tộc. Mà các vị này tử bỏ tài sản không phải là ít oi, tức là từ bỏ địa vị, quan quyền, hoàn thân, quốc thích, và vui thích với những gì nhận được từ bình bát. Chỗ này tuyệt vời lắm, mà hôm trước có bài kinh mà chừng nữa tìm, chúng ta sẽ có những buổi thiền quán về cái bình bát này, kết hợp với diệt ngã, tuyệt vời lắm, quán chiếu cái bình bát giống như chiếc lá vàng rơi. Từ bỏ những điều như vậy, đi ăn xin, từ 1 hoàng thân quốc thích, hoàng thất, hoàn gia, mà bây giờ làm người ăn xin. Đầu trần, chân đất ôm bình bát đi ăn xin, hình ảnh này đang rất là xúc động.
Chúng ta có là gì so với các ngài, thật sự chúng ta có là gì so với các bậc Thánh. Thiền quán về hình ảnh của hoàng thất, hoàng gia, hoàng tộc bỏ hết tất cả để mà đầu trần, chân đất, ôm bình bát đi ăn xin. Hãy lấy hình ảnh đó làm đề mục thiền quán, kết hợp với bài diệt ngã tiếp tục những ngày sau. Có bài kinh Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, ở ngoài đời người ta mắng chửi ngươi là kẻ ăn xin, là kẻ ăn mài. Trên tay với cái bình bát mà người đi từng nhà như vậy, là lời nói sỉ nhục tận cùng của thế gian. Mà các ông cũng đâu phải bị vua bắt, bị quan bắt, bị cha mẹ bắt, bị giặt cướp hay là bị chủ nợ rượt đòi mà các ông đi tu. Các ông đi tu để thấy khổ, để đoạn tận các khổ đau. Mục đích cao thượng, cứu cánh phạm hạnh, các vị không thể nào quên mục đích này”.
Mình ở trong chùa 1 thời gian là mình quên mình là kẻ ăn xin, có xin mình vênh váo, ta đây. Có những cái giả danh người ta đặt cho các phẩm vị, mà mình quên mất cái chức thực thụ của mình là 1 người ăn xin thực thụ.
Về núi yên tu thật tuyệt trần,
Đầu trần chân đất diệt cái tâm,
Khấc thực, ăn xin còn đâu ngã,
Khiêm cung, khiêm hạ thật nếp nhà.”
Cái đầu trần, chân đất, đầu trọc, bình bát này để diệt cái ta, từ bỏ cái tôi, vứt bỏ cái bản ngã nhục nhã, ác độc, đầy tai họa, khổ đau trên cuộc đời này. “Khất thực, xin ăn còn đâu ngã”, còn cái gì là sĩ diện trên cuộc đời này nữa, khi mình làm 1 kẻ xin ăn. Hôm nay chúng ta đi khất thực, hôm nay rằm tháng 10, chúng ta khất thực thiền quán. Mở bài mà con đã chia sẻ, nhắc nhở các vị xuất gia chúng ta thiền quán cái này. Và kết hợp mỗi người tóm tắt 1 đoạn sám hối diệt ngã, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm 1 đoạn đó, 4 câu, 8 câu thôi. Và chúng ta liên tục trong mấy ngày thiền quán về hình ảnh khất thực và diệt ngã, trong bài sám hối diệt ngã.
“Khất thực, ăn xin còn đâu ngã
Khiêm cung, khiêm hạ thật nếp nhà”
Chúng ta hãy chiêm nghiệm những hình ảnh đầu trần, chân đất, ôm bát đi ăn xin. Cái hình ảnh hoàng thất, hoàng gia, hoàng tộc, hoàng thân quốc thích mà làm kẻ ăn mày. Chúng ta chiêm nghiệm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã. Năm cái khiêm này chúng ta triển khai thiền quán, chiêm nghiệm thật sâu sắc. Làm cái đề mục thiền quán sau chiếc lá vàng rơi, còn cái gì ở trên cuộc đời này đối với 1 kẻ ăn mày, không còn 1 chút sỉ diện nào nữa hết trơn. Người ta đi làm công thì cũng có sỉ diện đi làm công, bán vé số thì cũng còn nghề để cho người ta làm là bán vé số. Còn cái này hỏi mình làm cái nghề gì, mình làm cái nghề ăn mày thì làm gì còn có cái nghề, không còn giai cấp gì ở trong cái xã hội này nữa.
Đây là cái pháp an trú tâm của tôn giả Xá-lợi-phất, trong 9 pháp an trú tâm. Thật sự là tận cùng của xã hội, là cái đáy của xã hội rồi, thật sự chúng ta đã đi đến chỗ hoàn toàn không còn giái cấp nữa rồi. “Bạch Thế Tôn, ví như là 1 kẻ ăn xin hạ liệt chiên đà la, tay cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn. Với một tâm trạng hạ liệt, thấp hèn, bần cùng một kẻ ăn mày. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú tâm giống như là một kẻ ăn mày chiên đà la, cái tâm con rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân”. An trú tâm như là 1 kẻ ăn mày, đây là pháp hành của bậc tướng quân Chánh pháp, đại pháp nhân.
Ngày nay người xuất gia chúng ta lãng quên, quên mất, bỏ quên. Thật sự là không còn cái gì trên cuộc đời nữa, nghề bán vé số cũng còn 1 cái nghề làm ăn. Người đi làm thuê, làm mướn, ở đợ cũng có 1 nghề người ta làm trên mồ hôi, trên đôi tay, cánh tay để người ta dành lấy đồng tiền, để người ta mua cơm, mua áo, còn mình là chìa tay để xin ăn. Sau này chúng ta đủ duyên rồi, thì những ngày rằm chúng ta đi khất thực. Con sẽ xin phép, nếu mà được chúng ta sẽ đi trong 1 tháng 2 ngày, hay 4 ngày gì đó. Những ngày đó là chuyên ròng thực tập, để giữ lại 1 cái nếp cao thượng, thanh tao, phạm hạnh. Một cái nếp mà tận cùng của xã hội, nhưng mà lại cao tột độ của Thánh hiền.
Đó là đáy của xã hội, là đỉnh của thánh hiền là cái pháp khất thực, là hình ảnh của người ăn xin. Đối với đời không còn là gì, nhưng mà đối với đạo đây là 1 hình ảnh thanh tao, cao thượng, thánh thiện, tột cùng, vô thượng, tối thượng, tận cùng diệt tận bản ngã. Thật là đẹp là hình ảnh của 1 vị khất thực, thật là thanh cao là hình ảnh của 1 vị xuất gia ôm bình bát. Thật là cao thượng là sự phá bỏ hoàn toàn cái bản ngã này. Thật là vi diệu là hình ảnh đập vỡ, diệt tận, đánh phá hoàn toàn cái tôi, cái ta ác độc, đầy tai họa trên cuộc đời này. Đẹp lắm, cao thượng, thanh cao, thánh thiện, tối thượng, vô thượng lắm là hình của 1 người ăn xin.
An trú tâm như vậy hoài hoài, khi mỗi 1 ngày mình bưng cơm mình ăn. Cho đến mình còn ôm bình bát mình ăn cơm như vậy mà mình còn tham, sân, si, bản ngã thì là 1 sự nhục nhã nó xâm chiếm. Cho đến ngày nào mà trong mình ôm bình bát, mà không còn dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã nữa. Thì đến ngày đó mình ăn cơm, mình cầm bình bát trong sự cao thượng, thánh thiện, đứng ngẩn cao đầu giữa cuộc đời đầy bẩn thỉu, dục vọng, bản ngã, vô minh. Ngày nào mình còng bưng chén cơm mà còn dục, còn tham, còn ái, còn vô minh, bản ngã là mình xấu hổ, nhục nhã, tồi bại, bẩn thỉu, còn đau lòng, ray rứt, tức tửi, buồn khổ, xót xa.
“Siêng, tinh cần, tinh tấn,
Thường kiên trì hăng hái,
Ưa thích lạc pháp vị,
Từ bỏ lạc thế gian”
Con mời chư tôn thiền đức chia sẻ cảm thọ của mình, trong hình ảnh đầu trần, chân đất ôm bát đi ăn xin, khất thực.
IV. Chia sẻ cảm thọ
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con chân thành đảnh lễ sư phụ, các quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Con rất xúc động khi nghe sư phụ chỉ dạy cho chúng con về hạnh ăn xin, ăn mày của người tu. Con nhớ đến lời của Phật dạy, đây là 1 nghề sinh sống hèn hạ nhất, đây là 1 lời nguyền rủa trong đời. Khi mà ôm bình bát đi chỗ này chỗ kia, và đó là nghề sinh sống. Khi sư phu nói rằng sau này hàng tháng sẽ có 1 số ngày, có thể sẽ được đi khất thực. Trong tâm con hoan hỉ, nếu mà lời sư phụ được các ngài chấp nhận, thì đó là niềm hạnh phúc của chúng con. Mỗi khi bê cái bình bát lên, hãy nhớ mình là người ăn xin, là 1 người hèn hạ, nhục nhã, không có giai cấp, để mà diệt cái bản ngã của mình, con biết ơn sư phụ rất là nhiều.
Đức Thế Tôn, các bậc thánh đệ tử, bậc đạo sư – mẹ hiền thánh và sư phụ cũng vậy, dùng mọi phương tiện để chỉ dạy cho chúng con. Để cho cái tâm mê của con, cái tâm vô mình sâu dày, cái tâm ngu bền vững có thể hiểu được sự đau khổ của ngũ uẩn, của thế giới này. Được tu tập trong dòng Thánh pháp tối thượng này, con thật là hạnh phúc. Trong bài pháp hôm nay, cũng như những ngày sư phụ đã hướng dẫn cho chúng con thiền quán về lá vàng rơi, con rất hạnh phúc, vì con thấy pháp. Sự sanh diệt của ngũ uẩn, của thế giới này. Con hạnh phúc bởi vì con nhận thấy sự nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã trong con ngày được tăng thêm.
Và chính cái hạnh nhớ mình là người ăn mày, ăn xin này sẽ giúp cho con được diệt cái bản ngã xấu xa, tồi tệ luôn luôn nhận ngũ uẩn là mình. Và con xin nhớ lời của Đức Thế Tôn, các bậc Thánh, bậc đạo sư và sư phụ đã chỉ dạy. Cái pháp tu diệt ngã là đặt biệt quan trọng, quyết định sự xả bỏ tham đắm, dính mắc vào trong ngũ uẩn này. Đó là con đường đưa chúng con dần đi đến sự giải thoát đau khổ, và giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi vô tận này. Con xin tri ân công đức của Tam Bảo và Thánh giới, con xin tri ân công đức của sư phụ, của đạo tràng Nikāya, của tất cả ngũ uẩn, các vật vô tình trong thế giới, vũ trụ này. Con xin chân thành cảm ơn, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 2:
“Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn – bậc A-la-hán Chánh đẳng giác
Con chân thành lễ trên sư phụ tôn kính
Con chân thành đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng chư vị hiền thiện.
Con kính thưa sư phụ, khi con được nghe sư phụ cho thiền quán về thời Đức Phật, các Thánh Tăng đi khất thực. Và sư phụ dạy đi khất thực là 1 nghề xin ăn tồi tệ, hạ tiện, bần cùng nhất thế gian. Thọ trong con cảm thấy mình vừa nhục nhã, vừa hạnh phúc. Nhục nhã vì mình là người xin ăn, hạnh phúc là mình đã được diệt diệt cái bản ngã tồi tệ, xấu xa này. Khi con được nghe sư phụ nói tới đây, sư phụ sẽ xin các cấp được cho Linh Quy Pháp Ấn đi khất thực. Hình bóng trong con hồi tưởng về thời Đức Phật đi xin ăn, đi khất thực, đầu trần, chân đất. Con thật hạnh phúc, con nghĩ hình bóng trong con có hình bóng Tăng đoàn của Linh Quy Pháp Ấn thật đảo, đi trên những con đường.
Con tưởng đến: “Chắc Phật tử ở đây họ thấy những hình ảnh ấy, họ cũng phát được tâm bồ đề đến với đạo Phật. Con thật hạnh phúc, con mong muốn sự thật này sẽ được chính quyền và giáo hội cho phép. Đó là hạnh phúc vô bờ trong tư tưởng của con, con xin kính trình trên sư phụ cùng chư tôn thiền đưc Tăng Ni và chư vị hiền thiện. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 3:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con chân thành đảnh lễ trên sư phụ tôn kính
Con chân thành đảnh lễ trên chư tôn đức Tăng Ni, cùng chư vị hiền trí. Con xin được trình bày cảm thọ của con, về hình tướng ôm bát đi khất thực. Con nhớ lại những lúc sư phụ dẫn đoàn đi khất thực, mặc dù chỉ đi khất thực trong chùa, nhưng con được trải nghiệm sâu sắc sự ăn xin, từ bỏ tất cả. Chân chạm đất, đá, cỏ, cảm giác trong con thoải mái, như được lớn mạnh hơn, như cái cây được cắm rễ vào đất. Ôm bình bát đi chậm rải, dù cho ngoài kia có xoay chuyển, tâm và thân vẫn bất động tiến về phía trước, hướng thượng, tăng trưởng. Thật là an lạc, nhẹ nhàng, chân được chạm đất, nhưng tâm được bay với mây. Đây là những cảm thọ của con, và con biết ơn những gì sư phụ đã truyền trao. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 4:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức Thế Tôn, ân đức sư phụ và đại chúng. Đức chúng như hải, con xin biết ơn điều này. Khi mà con đi học thì vị hướng dẫn ở trường nói là 1 tiếng học trên lớp, thì phải là 4 tiếng tự mình học. Gần đây con nhắc mình khi mình học từ sư phụ, mình phải học giống như vậy. Tức là mình nắm bắt ý nào sư phụ dạy trong ngày, mình phải xoáy sâu vào điều đó. Đi học thì phải làm bài tập, phải xoáy thật sâu để cho những gì mình học phải thâm nhập. Khi sư phụ nói sư phụ học 8 tiếng mỗi ngày, thì truyền cảm hứng cho con phải nỗ lực, cố gắng hơn. Đức chúng như hải, xin biết ơn sư phụ thường xuyên dạy chỗ chúng con.
Và khi nói về hạnh khiêm cung, thì con nhớ là khi con mới tới đây, con vào Văn Thỷ Đường con giặt quần áo. Con cầm muỗng xà bông này không phải của mình, cái thao này không phải của mình, nhà vệ sinh này không phải nhà của mình, ca múc nước, xô, tất tần tật không cái gì là của mình hết, con ngồi con giật mình. Ngay cả cái áo mà con mặc, áo tràng, áo của cô bạn của Má tặng cho Má, Má cho con. Cô đó thì con nói thật là con không có thích cô đó, cổ có nhiều cái hay lắm nhưng àm cổ rất nhiều chuyện và nói rất là nhiều. Con mới giật mình tự nói: “Trời ơi, nợ xà bông, nước, xô, thao, ngay cả cái áo mình mặc là cái áo tràng”. Con nhớ lời sư phụ nói là ở chùa, không tu đàng hoàng là mắc nợ, thiếu nợ, mang nợ.
Mà nợ này là nợ nóng, mà nợ nóng là phải trả bằng sức nóng của địa ngục, là sức nóng của việc cày bừa dưới ánh nắng mặt trời ở trên cánh đồng. Con phải ghi nhớ điều này, và cũng biết ơn sư phụ đã chỉ dạy hạnh của ngài Xá-lợi-phất như là cái tấm giẻ rách. Con nghĩ ngài trí tuệ như vậy, mà ngài như tấm giẻ rách. Mà mình ngu si như thế này, thì phải là thấp hơn thấm giẻ rách nữa. Cái tấm giẻ rách nó không có hôi, cái thân này là hôi. Cái giẻ rách hôi, khi chùi cái chân hôi lên cái giẻ rách. Khi mình chết mình sẽ bị hạ xuống cái lỗ thấp, thì bây giờ mình cúi thấp xuống, mình không hạ mình xuống thì sau này người ta cũng hạ mình xuống à, không ai đưa mình lên hết.
Đức chúng như hải xin biết ơn sư phụ chỉ dạy cho chúng con cái hạnh khiêm cung, khiêm hạ. Gần đây con có nói chuyện với cô Diệu An, cô có nói ngày xưa cô đi khất thực, thì có ngày chỉ xin được chè, cô chỉ ăn 1 ngày 1 bữa chỉ ăn chè. Có ngày họ cho bánh, không chỉ 1 ngày, mà 7 ngày chỉ có bánh. Con hỏi: “Làm sao cô có thể tu tập hạnh phúc được như vậy?” Cô nói là nhờ như lý tác ý, đó là sợ. Khi mình tham, mình muốn mình sẽ thành con này con kia, thành con heo. Mình đi tu thì trong 10 điều tâm niệm, mình ở giai cấp nào? Không có giai cấp nào hết, thì có gì để mà đòi hỏi. Rồi cô cũng nói là nếu mình tác ý là mình ngán, thì mình sẽ ngán.
Có thêm 1 tác ý khác nữa mà con học từ ngài Hư Vân, đó là lòng biết ơn. Ngài luôn luôn nói ăn với lòng biết ơn Đức Thế Tôn. Trong bộ phim “Trăm năm trưởng lão Hư Vân hòa thượng”, thì ngài khất thực tô cơm mà đứa trẻ cho 1 nắm muối vào, ngài vẫn ăn rất là điềm nhiên và đối xử với đứa bé tràn đầy niềm thương yêu, không có bất kỳ sự giận dữ nào hết. Khi ngài ăn khoai lang cũng vậy, Phật tử người ta vứt lên trên bàn, thì ngài nhặt lại cất vô trong cái tô để ăn nữa. Rồi các vị nói ăn như vậy là sẽ bệnh, ngài nói: “Không, ăn với lòng biết ơn thì không có bệnh gì hết”, và ngài đã sống tới 120 tuổi.
Thì con thấy là đức chúng như hải, con học từ ngài Hư Vân trên video, con học từ cô Diệu An, rồi nhìn cái tấm giẻ rách, tất cả điều hỗ trợ cho sự học hỏi của con. Nhất định là con sẽ ghi nhớ, phải khắc sâu, xoáy sâu, thường xuyên nhắc mình những điều này. Hạnh khất thực cũng là 1 điều hỗ trợ thêm cho con, nhắc cho con phải biết cung kính, khiêm hạ, trước khi mà người ta hạ mình xuống cái huyệt. Nhìn Thế Tôn cao thượng, cao đẹp, nghĩ tới mình còn nhiều những điều xấu xa, tồi tệ, để mà thay đổi, chuyển hóa ngày 1 tốt hơn, đẹp hơn. Xin biết ơn Thế Tôn, biết ơn sư phụ, đại chúng, đức chúng như hải xin biết ơn điều này.”
Phật tử 5:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính đảnh lễ trên sư phụ, con kính đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền thiện. Sáng nay cảm thọ trong con là cảm thọ ưu tư, về hình ảnh người xuất gia ôm bình bát đi khất thực. Đó là bước đường của sự giải thoát, thoát khỏi tham, sân, si, bản ngã, dục ái mà Đức Phật đã tìm ra và giảng dạy. Con có duyên nghe bậc đạo sư giảng về bào kinh “Khất thực và mục đích người tu”, nghe sư phụ giảng về bài thiền quán. Trong những ngày xuống núi và ở trên đây, con khi nào cũng nghe và chiêm nghiệm. Con ưu tư và thấy mình thật là vô minh nhiều, không bài “Khất thực”, Đức Phật có dạy người xuất gia ôm bình bát đi khất thực, là 1 nghề cho rằng là hạ liệt nhất, đó là tầng lớp thấp của xã hội.
Bậc đạo sư có giảng dạy mục đích của người tu là thấy khổ, và con đường diệt khổ. Con đã thấy sơ sơ, con thấy trong mình là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ác thú. Khi bị các tâm tham, sân, si, dục ái, vô minh nó dẫn dắt, mà mình không biết tác ý. Con xuống núi, đâu đâu con cũng thấy là khổ, cái khổ trong các mối quan hệ bạn bè, thầy trò, huynh đệ, an hem, Phật tử. Đâu đâu cũng là nguy hiểm, tai nạn, là bất an. Con nghe thầy giảng bài thiền quán về luật quả, khi nào con cũng nghe và thấy xấu hổ. Thầy dạy người tu xuất gia 10 năm, 20 năm, 30 năm, cuối cùng là vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đó là mục đích cuối cùng của người tu ư? Bỏ cha, bỏ mẹ, phải nhẫn nhục, cô đơn, phải chịu khổ, rồi cuối cùng bị rơi vào địa ngục.
Mình có biết ông bà, tổ tiên đang trông mong, chờ đợi mình, con ưu tư và chiêm nghiệm. Con tự hỏi mục đích của người tu là gì? Hỏi Đức Phật, hỏi thầy tốt, hỏi bậc chân tu, hỏi các đồng phạm hạnh, hỏi cha mẹ, hỏi các bậc thiền trí, nếu quên thì họ sẽ trả lời cho mục đích của người tu. Con rất là xấu hổ khi còn vô minh nhiều, hồi con lên đây học, mỗi lần sư phụ khuyên răn, xách tấn thì con thấy là đang khuyên răn, xách tấn mình. Con thật là xấu hổ, khi nghe sư phụ nhắc đến con, con thấy xậu hổ, nhục nhã khi còn nhiều kém cõi. Con thấy thân ngũ uẩn này thật là đáng sợ, con chia nó ra làm 3 phần. Con bỏ xương riêng, máu mủ riêng và thọ, tưởng, hành, thức riêng. Con hỏi xương thì không trả lời, con hỏi da thì không trả lời, con hỏi tưởng, hành thì nó cười, nó bảo khi nào hỏi thì nói giả dối.
Ba đứa đưa tập hợp lại, nó muốn cho mình đi vào đường ác, nó giả dối, đáng sợ. Con được đi hành khất, đi khất thực cùng đại chúng, con mong muốn 1 lần sống đời phạm hạnh đi khất thực. Con xin tri ân sư phụ cùng đại chúng, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Thánh Tăng Thời Đức Phật 9
Đức Chúng Như Hải Và Xin Ăn Còn Đâu Bản Ngã
Thích Minh Thành
Ngày 27 tháng 11 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khéo nghe PAGEREF _Toc169767733 \h 1
II. Trú chỗ xa vắng PAGEREF _Toc169767734 \h 5
III. Từ bỏ thế tục PAGEREF _Toc169767735 \h 11
IV. Chia sẻ cảm thọ PAGEREF _Toc169767736 \h 15
I. Khéo nghe
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Đà Phật (3 lần)
Kính bạc chư tôn đức và chư hiền trí, sáng hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Thánh Tăng thời Đức Phật. Hôm nay là ngày rằm tháng 10, kỷ niệm xuất gia 32 năm của con. Trong sự hoan hỉ, pháp hỷ cho nên con cũng muốn cúng dường đại chúng những bài pháp hoan hỉ, hỷ lạc, hạnh phúc trong sự tu học giữa núi rừng.
“Trong thời Đức Phật tại thế, ngài sanh ở nước Magadha (Ma-kiệt-đà), làng Nālaka, con của nữ Bà-la-môn Rūpasārī và em trai của Sāriputta. Ngài theo gương anh, xuất gia, và sau một thời gian tinh cần tu hành, chứng đuợc quả A-la-hán. Phấn khởi với quả chứng của mình và đời sống viễn ly, ngài nói lên bài kệ:
Khéo nghe, nghe tăng trưởng,
Nghe tăng trưởng, phát tuệ,
Nhờ tuệ biết ý nghĩa,
Nghĩa được biết, lạc đến.
Hãy trú chỗ xa vắng,
Hãy sống, thoát kiết sử,
Tại đấy, hỷ chưa đạt,
Hãy sống giữa chúng Tăng,
Tự ngã được chế ngự,
An trú trong chánh niệm.”
(Tiểu Bộ kinh – kinh Mahacunda)
Bài kệ tiếng đạo của Ngài, Ngài nói lên kinh nghiệm, cách tu, con đường đưa đến thành tựu của Ngài.
“Khéo nghe, nghe tăng trưởng,
Nghe tăng trưởng, phát tuệ,
Nhờ tuệ biết ý nghĩa,
Nghĩa được biết, lạc đến.”
Đây là bài kệ thứ nhất, Ngài nói rằng Ngài nhờ Ngài khéo nghe pháp, pháp nghe lời dạy của Đức Phật và Ngài tăng trưởng trong sự nghe pháp. Do Ngày siêng nghe pháp, nghe nhiều, phát triển trong sự nghe, cho nên Ngài phát tuệ. Đường nhiên la sau khi nghe có chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, quán chiếu, quán sát, thiền quán, thiền tư, thiền tuệ. Nhờ Ngài nghe nhiều, trầm tư, mặc tưởng, nghiền ngẫm, quán chiếu, quán sát, suy tư, chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, thiền tuệ, thiền tư. Cho nên Ngài phát sanh ra trí, nhờ trí tuệ đó Ngài biết được ý nghĩa của pháp. Đây là em ruột của ngài Xá-lợi-phất, khi Ngài phát được trí tuệ đó thì Ngài biết được ý nghĩa của pháp. Khi biết được ý nghĩa đó thì Niết-bàn đến, sự an lạc đến với Ngài.
Đó là lý do tại sao là Linh Quy Pháp Ấn là trú tâm mỗi ngày 2 thời, 1 thời nghe pháp và 1 thời thiền quán. Con mong chúng ta hiểu được tâm ý của con, trong những khóa tu có thể tới 3 thời. Tại vì con xét tự thân của con cuung như xung quanh, số đông hiện nay rất là khó mà thiền định. Những khóa tu mà chúng ta mở ra cho ngồi yên lặng, ngồi không chịu nỗi. Ngồi chừng 30 phút thôi, là họ đau nhức, họ trở, họ ngứa, họ mỏi mệt, buồn ngủ, chán nản. Chính vì vậy mà con thấy được thích hợp thời đại này, con người hoàn cảnh hiện nay là nghe pháp và thiền quán. Còn thiền chỉ, thiền định thì quá tuyệt vời đối với những người mà ít có nghiệp. Đối với những người tinh cần, tinh tấn, thiền chỉ và thiền định chúng kết hợp vô thì rất tuyệt vời.
Còn nếu như không có được nhiều, thì cũng không phải là tu không thành tựu, bởi vì chủ lực trong Nikāya là thiền quán. Từ căn bản của giới, giới thanh tịnh vịnh tri kiến chánh trực. Tri kiến chánh trực tức là mình thấy biết đúng về pháp, cộng với triển khai thiền quán, chiêm nghiệm, suy tư, quán xét, nghiền ngẫm, đủ sức đưa cho mình vào các tầng thánh quả. Bậc đạo sư và trong Nikāya cũng nói luôn, người chỉ cần được sơ thiền thôi, cũng đủ sức chứng thánh quả A-la-hán. Cho nên, không nhất thiết thiền định thâm sâu mới chứng quả, phải đoạn tận được cái lậu hoặc thì có 1 bài kinh hôm trước chúng ta có học rồi. Sơ thiền hỷ lạc ly dục sanh có tầm có tứ, mà chúng ta tu tập hiện nay, thì không phải khó khăn, mệt nhọc hay phí sức.
Chính vì vậy, mà con rất chú trọng vào nghe pháp và thiền quán. Cho nên các vị không chịu nghe pháp, không chịu đi lên học, không để tâm vào thiền quán là mất lợi ích rất là to lớn. Nói thì nói vậy nhưng mà cũng phải coi căn duyên, phước đức của mình. Nếu mà ép quá thì tu không được, cho nên cũng khích lệ, khuyến khích như vậy chứ không có miễn cưỡng. Nếu như mình cố gắng được thì mình nên cố gắng, khi nào có học có thiền quán. Nếu như mình thấy học quá sức chịu không nổi, thì mình làm công quả cũng được vào những thời phụ. Con 2 thời chính buổi sáng và buổi tối, là vốn liếng của mình. Chúng ta thấy không, buổi sáng chúng ta đánh 1 trận 4 tiếng đồng hồ, mình hoan hỉ không?
Hồi xưa con tu trong các chùa, thì 1 ngày tu 2 tiếng đồng hồ là xong rồi, 2 thời công phụ, mỗi thời 1 tiếng. Mà buổi sáng không chúng ta đánh trận là 4 tiếng, đó chỉ là mới nói về thời gian đó. Chứ đừng có nói trong 2 tiếng đó làm cái gì, 4 tiếng đó làm cái gì. Công năng, sức mạnh, sự đấm phá của mình trúng hồng tâm không? Có khẽ trúng đầu giặc không? Có bắn trúng cái tim của địch không, thì cái đó là khác nữa. Thì chúng ta thấy chúng ta được lợi ích lớn, được lợi đắc lớn, được lời to, được lời nhiều. Mà mới có buổi sáng thôi, mà chúng ta đánh trận có khi 5 tiếng đồng hồ luôn. Hoan hỉ không?
Rồi mình nói người bận công chuyện, hay là người mới vô tu chưa có quen, thì buổi trưa cho đi làm công quả đi. Buổi tối kiếm thêm được 2 tiếng nữa là 6 tiếng đồng hồ, đủ vốn chưa? Nếu mà người siêng thì buổi trưa kiếm thêm 2 tiếng nữa là 8 tiếng, bằng đi làm ở ngoài, đủ vốn chưa? Ngon lành chưa? Con thưa các chư tôn và chư hiền, con phải suy nghĩ rất nhiều lần, rất nhiều chục lần, rất nhiều trăm lần để đưa ra cái thành quả, chứ không phải muốn làm là làm. Phải suy tư trước sau điều chỉnh, xem căn cơ, trình độ, con người, tuổi tác, hoàn cảnh, khí hậu, sức khỏe đủ kiểu hết. Chứ không phải cái thời khóa là đơn giản, cho nên nhiều khi mà có vị nào đó dẫn chúng mà tự động bỏ thời khóa 1 cái là con đau tim, con rất là đau nhói.
Tại vì quý vị nhiều khi đâu có hiểu hết, thấy thời khóa thì lên tu thôi. Chứ nhiều khi quý vị không có biết trong này có dụng ý, rồi bao nhiêu những thứ trong đó. Nói như vậy để cho quý vị hiểu được cái ý là tại sao chúng ta nghe pháp nhiều, thiền quán nhiều. Đó là bậc Thánh A-la-hán, là em ruột của tướng quân Chánh pháp Xá-lợi-phất đó. Con xin thưa chư tôn và chư hiền, hồi xưa khi con chưa vào dòng pháp Nikāya, là mỗi ngày con đã nghe coi bằng 8 tiếng đồng hồ. Mỗi một ngày như vậy, mà suốt 10 năm. Lúc mà chưa đi vào dòng pháp Nikāya, con ra con giảng, con kêu hòa thượng Thanh Từ con. Thành ra mình làm cái gì, mình phải tập trung tâm ý, đầu tư thật nhiều. Dồn hết tâm lực, trí lực, sức lực, hạnh lực, đạo lực, thần lực, pháp lực, dốc toàn lực của mình tập trung tâm ý vào.
Không làm thì thôi, làm thì phải dốc hết sức lực, làm cùng tận khả năng. Mà mình làm hết sức tới đó rồi, thì mình vẫn hoan hỉ. Đó là lý do mà tại sao chúng ta nghe pháp nhiều, và thiền quán liên tục. Chúng ta thấy không, trong mấy ngày nay 5, 7 buổi thiền quán về chiếc lá vàng rơi, mình thấy trí tuệ mình có khai mở lên thêm chút nào không? Bình thường mình đi ngang mình thấy: “Ờ lá thì lá rơi, chứ có gì đâu”. Chúng ta thấy chưa? Đó là khác biệt, sức mạnh của tuệ lực, thiền quán, thiền tuệ, tuệ trí, Thánh tuệ. Chúng ta khai thác những gì mà chúng ta tu học từ trước tới nay, dồn hết sức mạnh vào trong đó để mình triển khai thiền quán. Lợi ích của nó là bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng, không thể trình bày, không thể nói hết.
II. Trú chỗ xa vắng
“Hãy trú chỗ xa vắng,
Hãy sống, thoát kiết sử,
Tại đấy, hỷ chưa đạt,
Hãy sống giữa chúng Tăng”
Ngài khuyên: “Hãy trú chỗ xa vắng, hãy sống thoát kiết sử”. Các vị Thánh Tăng ngày xưa thường ca ngợi, ca tụng, xưng tán, hân hoan, xưng tụng, hoan nghinh những vị tu hành ở cỏi xa vắng. Đây là căn nhà của các bậc hiền trí, hiền thiện, hiền thánh. Là núi rừng, là đồi cao, là nơi xa vắng viễn ly xứ, là nơi không nhàn, không tịnh, tịch tịnh. Nơi vắng lặng, lặng lẽ, rảnh rang, an tịnh, an nhàn, ly tham, ly dục. Rời xa những sự phồn hoa, náo nhiệt, rời xa những sự ghanh đua, tranh đua, tranh giành ồn ào, lòe loẹt của thế tục, thế gian, thế giới. Để chuyên tâm vào tăng thượng giới đức, thiền định, thánh tuệ thì các Ngài ca ngợi. Để chi vậy? Ở chỗ đó để thoát ra được những trói cột, cuột ràng, kiết sử.
Năm hạ phần kiết sử, 5 thượng phần kiết sử, phá được thân kiến. “Tại đấy hỷ chưa đạt, hãy sống giữa chúng Tăng”. Chúng ta thấy không? Không có cố chấp, không có miễn cưỡng. Nếu như ở 1 mình bây giờ mình không thấy hoan hỉ, không thấy an lạc, mình thấy buồn chán, mình thây buông lung, biếng nhác, thì hãy sống giữa chúng Tăng. Nhớ kỹ cái này, chưa nhập thất được đừng có ép vô nhập, vô nhập rồi ăn với ngủ. Nhiều khi vô nhập thời gian rồi tóc mọc dài ra nữa, đi xuống núi luôn, chứ không phải nói là đi nhập thất là ngon đâu. Nếu mình thấy cái tâm nó không hoan hỉ, nó không có thiện pháp giống như mình ở trong chúng thì mình trở ra, trở về chúng.
“Hãy sống ở trong chúng, tự ngã được chế ngự”, sống ở trong chúng thì chính mình sẽ được chế ngự, nhờ đức chúng như hải. Đức của chúng như biển cả, đại dương, đại hải. Chúng ta thấy cái này tuyệt vời không? Mình sẽ được chế ngự nếu mình sống giữa trong chúng, an trú trong chánh niệm. Nói ví dụ 1 cái chúng ta thấy hay lắm, như tới giờ ai cũng lên ngồi thiền mà mình nằm ở đây mình ngủ thì mình coi được không? Kỳ cục, xấu hổ, nhục nhã không? Nếu mà người có sĩ diện cũng ráng ráng. Bây giờ buồn ngủ dữ lắm mà ai cũng lên, cũng ráng lê lên, kéo lên, rồi nghe quán dập tới tấp hết trơn mà ngủ gì được.
Thấy chưa? Rồi bây giờ ai cũng hộ trì căn hết trơn, ai cũng an tịnh lắng dịu hết, mình vô mình nói chuyện to lớn, rồi nhìn ai cũng nhìn mình hết trơn, thấy mình xấu hổ, hạ liệt, hèn kém, nhục không? Rồi người ta ăn người ta ăn nhẹ nhàng, chậm rãi, còn mình rớt đũa, rớt muỗng, rớt tô, bể chén, thì mình chui dưới đất độn thổ chứ. Thì như vậy mình tự động được chế ngự tự ngã, an trú trong chánh niệm, tuyệt vời không? Chưa sống được trong rừng, chưa nhập thất được, thì sống giữa chúng. Khi lên ngồi thiền ai cũng im ru hết trơn, mình ngồi 1 hồi rụt rịch, cục kịt, gãy đầu, sửa áo. Còn may còn được được chứ quay trực tuyến 1 hồi lên coi, nhìn cái mặt không giống ai hết trơn, nhìn giống khỉ. Ai người ta cũng ngồi bất động hết trơn, ngồi gãy đầu, móc lỗ mũi, sửa áo, duỗi chân, nhìn xấu quá xấu đi, tồi tệ quá, nhục quá.
Rồi lần sau ráng chỉnh lại, ráng đẹp lại, đó là tự ngã được chế ngự. Rồi trình pháp cũng như vậy nữa, người ta trình đớn giảng, vừa phải, trọng yếu, quan trọng, mình vô 1 cái là hai mươi mấy ba chục phút. Mình xuống mình coi lại mình thấy xấu hổ không? Mình nói tiểu sử cuộc đời của mình, nói tam quốc chí diễn nghĩa, đông chu liệt quốc, mình đi 1 vòng từ Á sang Âu, các châu lục. Mình nhìn mình thấy xấu hổ, nhục chứ. Mình nói 1 hồi mình nói cái bản ngã mình không, còn không thôi mình đang sám hối cái mình chỉ lỗi người mình đang sám hối. Thì càng nhục nữa, quá nhục, về nghe lại thấy nhục 1 cục. Tuyệt với không? Đó là đức chúng như hải đó.
Người ta ai cũng ta đi cuốc cỏ, trồng rau, tưới cây, quét rác, còn mình nằm trong đó mình ngủ, mình nằm quẹt quẹt điện thoại mình coi được không? Ai nhìn cho, ai coi cho, “tập mục sở thị”, 1 chục con mắt nhìn vô, 1 trăm con mắt nhìn vô. Mình ráng, cũng muốn quẹt dữ lắm mà thôi kìm lại đi ra làm. Tự ngã được chế ngự, tuyệt diệu không? Nhiều lắm, quán chiếu đi, nhiều lắm nói không có hết đâu. Do đó tại sao mà chúng ta đi lại khóa tu để mà vô tu, đi lên núi để mà tu, chứ không phải ở nhà mình tu với cái gì. Có cơ hội thì chúng ta phải đến đạo tràng, đến khóa tu, đi về núi là vậy đó, “đức chúng như hải” là vậy đó. Người ta đi bước đi thong thả, nhẹ nhàng, thanh thoát, mình đi bước đi như thùng phi chuyển động.
Đi chưa tới mà xèm xẹp, chưa thấy cái mặt mà cái tiếng nó oai oái, văng vẳng, vang vang vậy đó, như vậy xấu hổ, nhục nhã nữa. Xong mình nhìn thấy người ta im ra, đi nhẹ te, quay lại mình cúi đầu xuống không dám dòm ai hết trơn. Rồi mình thấy các vị đức hạnh, có đạo hạnh, tự nhiên mình có xu hướng, chí hướng, hướng thượng, tăng thượng. Còn mình ở nhà mình 1 mình có ai đâu mà có chí hướng, có ai đâu mà mình hướng thượng, tăng thượng. Cho nên “chưa sống được chỗ xa vắng, thì hãy sống giữa chúng Tăng, tự thân mình được chế ngự, an trú trong chánh niệm”. Thì mình sống trong chúng mình thấy mình giống như là dị nhân vậy đó, biết dị nhân không? Là dị hộm.
Tới giờ người ta thiền chỉ cái mình móc phone ra mình thiền quán, mình đeo tai phone vô. Tới giờ người ta thiền quán cái mình muốn thiền chỉ, tới giờ người ta đi ngủ thì mình ra tu, tới giờ người ta tu thì mình đi ngủ. Phải nhìn thấy được những cái đó, có khi mình thấy, có khi mình không thấy, mà người ta đứng ở ngoài người ta nhìn thấy. Mà mình dẫn chúng nữa, kêu đại chúng thiền chỉ đi, mình bỏ tai phone vô lỗ tai mình thiền quán. Cái đó phải chánh niệm sâu sắc, phải nhìn thấy. Cho nên các vị dẫn chúng phải khéo léo, uyển chuyển, nhẹ nhàng khéo léo đưa chúng nâng cấp lên từ từ mà chúng không hay không biết. Tới chừng hay biết rồi là lên cao cấp rồi, hoan hỉ không?
Làm cho mọi người tăng thượng, tự ngã tăng thượng, đại chúng tăng thượng, hội chúng tăng thượng. Phải để tâm thật nhiều vào sự tu học, và công quả của đại chúng. Thật là thiện xảo, khéo léo, phương tiện, giúp cho mọi người, đại chúng hoan hỉ, tinh tấn ngày đêm tu tập trong các thiện pháp. Bây giờ mình thấy đó, con người ta quỳ lạy mẹ người ta khóc như vậy, đó là cư sĩ. Còn mình xuất gia, mình nhìn lại mình bất hiếu, tủi thân, nước mắt mình trào dâng, ray rứt, đau xót. Mình lấy những buổi thiền biết ơn, làm động lực để cho mình tăng tiến trong cái phạm hạnh của mình. Đức chúng như hải là nư vậy đó, nhìn thấy cư sĩ mà hiếu thảo với cha mẹ như vậy, mình xuất gia mình thấy mình nhục, xấu hổ, đau lòng.
Mình thấy mình thiếu bổn phận, thiếu trách nhiệm, thiếu hiếu đạo, thiếu hiếu hạnh. Đại hiếu mình chưa có thành tựu, cái xuất thế gian hiếu mình chưa có hoàn thành, lấy cái đó làm động lực. Cho nên tất cả những pháp hành mình tu, hôm qua hay hôm kia con có nói về tổng quát pháp hành Nikāya, chúng ta nghe kỹ bài đó rất quan trọng. Biết ơn, tâm hiền, tâm hòa kính, diệt dục, diệt ngã, tứ vô lượng tâm, để làm quyển sách pháp hành, tổng quát pháp hành Nikāya, tiếp theo quyển pháp hành căn bản. Nhiều những cái pháp đó, thực hành pháp nào viễn mãn, chứng đạt pháp đó hết. Ít nhất 70, 80, 90 phần trăm. Cái tâm biết ơn, cái tâm hiền, cái tâm hòa kính, diệt dục, diệt ngã, tứ vô lượng tâm.
Tất cả các pháp đều phải thành tựu hết, chứ không phải chỉ 1 pháp. Tu mà tới lúc tâm biết ơn của mình thành căn cứ địa, tường đồng dác sắt, vững trú. Và không bao giờ có 1 chút mầm mống của tâm phản trắc, vô ơn, phản bội. Diệt tận hoàn toàn cái tâm đó luôn, cái tâm phản trắc, tráo trở, vô ơn, phản bội, diệt tận không còn 1 mảnh may nào hết. Thì thành tựu được tâm biết ơn, nhớ ơn của bậc chân nhân. Mới được cái đó là mới 1 pháp thôi, chứ không phải thành tựu 1 pháp đó là xong. Thành tựu tâm hiền trong tất cả hoàn cảnh nào, người ta có phi nhổ, sỉ nhục, dẫm đạp, thậm chí là giết hại luôn mà mình không có khởi sân hận, như vậy mình chứng đắc được tâm hiền.
Thành tựu được tâm hòa kính, cho đến cái lúc mà người ta chống đối đủ thứu kiểu hết trơn, mà cái tâm mình vẫn hài hòa, hiền hòa, vẫn là kính trọng. Không có dao động, không có lung lay, vẫn vững trú, trở thành căn cứ địa cái tâm hòa kính đó, là mình chứng đắc được cái tâm hòa kính đó viễn mãn. Diệt dục tới cái lúc mà tâm, ý, niệm, thọ, tưởng, hành, thức không còn nữa. Đó là nói tận cùng, còn 70, 80 phần trăm là nói ở trên thân mình hoàn toàn có thể làm chủ được. Rồi mới đi tới làm chủ được thọ, tưởng, hành. Diệt ngã cũng vậy, diệt cho tới tận cùng, diệt không còn cái ảo ảnh của tự thân ở trong tâm nữa luôn, là mình mới chứng đắc được cái pháp đó. Là mỗi pháp, mỗi pháp phải chứng đắc, chứng đạt, chứng ngộ hết.
Chứng không phải mình học cái nào cũng phớt phớt 1 chút là rồi xong, thì cuối cùng không có pháp nào. Giống như con chuột nó đị lọt vô cái tủ, nó cạp cạp chỗ này 1 chút, chỗ kia 1 chút, chỗ nọ 1 chút, nó cạp 1 hồi ở trong đó thì nó hết ngạt trong đó thôi. Phải cạp 1 chỗ, cạp hoài cho nó lủng mới chạy ra khỏi cái tủ, cái rương đó. Cho nên đó là mấy ngày hôm nay chúng ta tập thiền quán về khổ Thánh trí, trong chiếc là vàng rơi đó, là chúng ta đang tập cạp 1 chỗ, xuyên thủng 1 chỗ. Con chắc chắn với chúng ta nếu hổm rày mà người nào theo lời hướng dẫn mà thực tập như vậy, mà từ nay cho tới chết hễ gặp chiếc lá vàng là nhớ trí tuệ liền. Nhất trí như vậy phải không? Trừ mấy người hổm rày không có thực tập, chúng ta tiếp tục quán nữa, trở thành trí tuệ trong con người mình không có mất.
Khi đã quán được như cách mà chúng ta đã quán, thì không những gặp lá vàng, mà gặp tất cả mọi cái biến diệt, thì cái trí đó đều bừng sáng, rực sáng, chói sáng, chiếu sáng, tỏa sáng trong tâm mình hết. Mình thấy 1 người khiêm cung, khiêm hạ trong chúng, chẳng hạn như mình thấy Ni sư đi, một bậc trưởng thượng, tri thức, học vấn cao, đức hạnh như vậy. Mà cách hành xử khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm hòa, khiêm nhã như vậy. Mình nhìn lại mình, mình thấy nhục nhã, xấu hổ. Hay là mình nhìn thấy sư cô Tuệ Quý hiền lành, trầm lặng, lẳng lặng như vậy. Rồi mình nhìn thấy mình xôn xao, dao động, nói nhiều, tháo động, động loạn, mình nhìn thấy mìh xấu hổ, hạ liệt, hèn kém.
Đó là đức chúng như hải đó, thấy chưa? Biết rõ chưa? Để không thôi ở trong dòng sông mà chết khát. Chúng ta hiểu câu đó không? Tối ngày mình lo dòm cái bản thân mình không à. Cái ta, cái tôi, cái ích kỷ, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ nhít bên trong mình. Không thấy đức hạnh hiền thiện, cao thượng, rộng lớn của các bậc hiền trí, đó là chết khát giữa dòng sông. Nếu mình nhìn thấy những tấm gương của các vị bệnh tật, thậm chí là những căn bệnh nan y như vậy mà chịu khó, chịu tu, chịu học, chịu phụng sự Tam Bảo, nhìn lại mình làm biếng làm nhác. Mình nhìn thấy vậy mình hổ thẹn, bây giờ mình cố gắng, nỗ lực lên. Rồi mình nhìn thấy những người trẻ tuổi, người ta từ bỏ tuổi thanh xuân, tóc còn đen nhánh, sức khỏe, sắc đẹp, những cái dục lạc ngoài đời người ta từ bỏ, người ta đi tu.
Mình bây giờ cái thân mình là thân tàn, ma dại, bệnh hoạn, ốm đau, mà mình còn tiếc, không dám cạo mái tóc. Mình thấy mình tủi chứ, mình thấy thấp hèn, hèn kém chứ, đó là đức chúng như hải đó. Mình nhìn thấy các vị hy sinh ở trong bếp, ngày đêm bên đống lửa, thức khuya dậy sớm, cực khổ, vất vả lo 3 bữa ăn cho đại chúng hàng trăm người. Mà lúc nào cũng hiền lành, từ ái, khiêm cung, nhỏ nhẹ hết. Đó là những tâm gương phản chiếu, phản ảnh, phản tỉnh, đó là đức chúng như đại dương. Nhìn ai mình cũng thấy là bậc chân nhân, bậc hiền thiện, hiền trí. Nhìn ai cũng là những bài học, tấm gương, phản tỉnh.
Mình nhìn thầy thầy Nghĩa hy sinh tất cả thời gian, công sức, nửa đêm nửa hôm, thức khuya dậy sớm, gánh vác hết tất cả mọi việc từ cầu tiêu cho đến Chánh điện. Từ ở trên đỉnh núi cho đến chân núi, từ trong chùa cho đến ngoài Bảo Lộc. Chúng ta có hoan hỉ không? Chúng ta nhìn thấy kỹ sư nông nghiệp, trưởng ban lương thực của chúng ta mặt mày của bữa nay đen thùi lùi, chúng ta có thấy thương không? Chúng ta nhìn thấy thầy Nhựt Tiến hiền lành, lễ nghi, khiêm cung, khiêm hạ, đức hạnh. Phải vượt qua bao nhiều khó khăn, thử thách để mà có mặt tại Linh sơn. Chúng ta thấy hỷ lạc, hạnh phúc không? Mình ở chung với bậc hiền nhân.
III. Từ bỏ thế tục
Chúng ta thấy bây giờ sư cô Huệ Lý bỏ chùa, bỏ đệ tử, bỏ công danh, bỏ ngoài những lợi dưỡng cung kính, đi lên trên rừng sâu núi thẳm, mỗi lần ra là khóc. Chúng ta có thấy ngưỡng mộ không? Rất là nhiều những tấm gương để cho mình học, nhiều lắm nói không hết, còn lại phía sau nhiều lắm. Mấy cái đầu còn tóc cũng có những bậc rất đáng cung kính, kính trọng, học hỏi. Chứ chưa chắc mình cạo cái tóc đi, là mình lo hơn những người còn tóc đâu, nhớ lời bậc đạo sư đi. Công đức của hội chúng là như biển cả.
Ngài gặp đức Phật, xúc động, xuất gia đã được nói trong chương một, với câu kệ: “Như bị cảm hóa bởi sức mạnh”. Ở đây, vị Trưởng lão sống thân thiết với các bạn, các Tôn giả Anuruddha, Bhaddiya.
Trong vườn trúc phía Đông,
Các Thích tử thân hữu,
Từ bỏ những tài sản,
Không phải là ít oi,
Vui thích với những gì,
Nhận được từ bình bát.
Siêng, tinh cần, tinh tấn,
Thường kiên trì hăng hái,
Ưa thích lạc pháp vị,
Từ bỏ lạc thế gian.”
(Tiểu Bộ kinh – kinh Kimbila)
Các vị này sống viễn li trong 1 rừng trúc phía đông, các thích tử là những hoàng thân quốc thích, hoàng thất, hoàng tộc, hoàng gia. Nhớ chữ “Thích tử”, là dòng họ Thích ca Sakiya đó, là hoàng tộc. Mà các vị này tử bỏ tài sản không phải là ít oi, tức là từ bỏ địa vị, quan quyền, hoàn thân, quốc thích, và vui thích với những gì nhận được từ bình bát. Chỗ này tuyệt vời lắm, mà hôm trước có bài kinh mà chừng nữa tìm, chúng ta sẽ có những buổi thiền quán về cái bình bát này, kết hợp với diệt ngã, tuyệt vời lắm, quán chiếu cái bình bát giống như chiếc lá vàng rơi. Từ bỏ những điều như vậy, đi ăn xin, từ 1 hoàng thân quốc thích, hoàng thất, hoàn gia, mà bây giờ làm người ăn xin. Đầu trần, chân đất ôm bình bát đi ăn xin, hình ảnh này đang rất là xúc động.
Chúng ta có là gì so với các ngài, thật sự chúng ta có là gì so với các bậc Thánh. Thiền quán về hình ảnh của hoàng thất, hoàng gia, hoàng tộc bỏ hết tất cả để mà đầu trần, chân đất, ôm bình bát đi ăn xin. Hãy lấy hình ảnh đó làm đề mục thiền quán, kết hợp với bài diệt ngã tiếp tục những ngày sau. Có bài kinh Đức Thế Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, ở ngoài đời người ta mắng chửi ngươi là kẻ ăn xin, là kẻ ăn mài. Trên tay với cái bình bát mà người đi từng nhà như vậy, là lời nói sỉ nhục tận cùng của thế gian. Mà các ông cũng đâu phải bị vua bắt, bị quan bắt, bị cha mẹ bắt, bị giặt cướp hay là bị chủ nợ rượt đòi mà các ông đi tu. Các ông đi tu để thấy khổ, để đoạn tận các khổ đau. Mục đích cao thượng, cứu cánh phạm hạnh, các vị không thể nào quên mục đích này”.
Mình ở trong chùa 1 thời gian là mình quên mình là kẻ ăn xin, có xin mình vênh váo, ta đây. Có những cái giả danh người ta đặt cho các phẩm vị, mà mình quên mất cái chức thực thụ của mình là 1 người ăn xin thực thụ.
Về núi yên tu thật tuyệt trần,
Đầu trần chân đất diệt cái tâm,
Khấc thực, ăn xin còn đâu ngã,
Khiêm cung, khiêm hạ thật nếp nhà.”
Cái đầu trần, chân đất, đầu trọc, bình bát này để diệt cái ta, từ bỏ cái tôi, vứt bỏ cái bản ngã nhục nhã, ác độc, đầy tai họa, khổ đau trên cuộc đời này. “Khất thực, xin ăn còn đâu ngã”, còn cái gì là sĩ diện trên cuộc đời này nữa, khi mình làm 1 kẻ xin ăn. Hôm nay chúng ta đi khất thực, hôm nay rằm tháng 10, chúng ta khất thực thiền quán. Mở bài mà con đã chia sẻ, nhắc nhở các vị xuất gia chúng ta thiền quán cái này. Và kết hợp mỗi người tóm tắt 1 đoạn sám hối diệt ngã, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm 1 đoạn đó, 4 câu, 8 câu thôi. Và chúng ta liên tục trong mấy ngày thiền quán về hình ảnh khất thực và diệt ngã, trong bài sám hối diệt ngã.
“Khất thực, ăn xin còn đâu ngã
Khiêm cung, khiêm hạ thật nếp nhà”
Chúng ta hãy chiêm nghiệm những hình ảnh đầu trần, chân đất, ôm bát đi ăn xin. Cái hình ảnh hoàng thất, hoàng gia, hoàng tộc, hoàng thân quốc thích mà làm kẻ ăn mày. Chúng ta chiêm nghiệm khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã. Năm cái khiêm này chúng ta triển khai thiền quán, chiêm nghiệm thật sâu sắc. Làm cái đề mục thiền quán sau chiếc lá vàng rơi, còn cái gì ở trên cuộc đời này đối với 1 kẻ ăn mày, không còn 1 chút sỉ diện nào nữa hết trơn. Người ta đi làm công thì cũng có sỉ diện đi làm công, bán vé số thì cũng còn nghề để cho người ta làm là bán vé số. Còn cái này hỏi mình làm cái nghề gì, mình làm cái nghề ăn mày thì làm gì còn có cái nghề, không còn giai cấp gì ở trong cái xã hội này nữa.
Đây là cái pháp an trú tâm của tôn giả Xá-lợi-phất, trong 9 pháp an trú tâm. Thật sự là tận cùng của xã hội, là cái đáy của xã hội rồi, thật sự chúng ta đã đi đến chỗ hoàn toàn không còn giái cấp nữa rồi. “Bạch Thế Tôn, ví như là 1 kẻ ăn xin hạ liệt chiên đà la, tay cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn. Với một tâm trạng hạ liệt, thấp hèn, bần cùng một kẻ ăn mày. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú tâm giống như là một kẻ ăn mày chiên đà la, cái tâm con rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân”. An trú tâm như là 1 kẻ ăn mày, đây là pháp hành của bậc tướng quân Chánh pháp, đại pháp nhân.
Ngày nay người xuất gia chúng ta lãng quên, quên mất, bỏ quên. Thật sự là không còn cái gì trên cuộc đời nữa, nghề bán vé số cũng còn 1 cái nghề làm ăn. Người đi làm thuê, làm mướn, ở đợ cũng có 1 nghề người ta làm trên mồ hôi, trên đôi tay, cánh tay để người ta dành lấy đồng tiền, để người ta mua cơm, mua áo, còn mình là chìa tay để xin ăn. Sau này chúng ta đủ duyên rồi, thì những ngày rằm chúng ta đi khất thực. Con sẽ xin phép, nếu mà được chúng ta sẽ đi trong 1 tháng 2 ngày, hay 4 ngày gì đó. Những ngày đó là chuyên ròng thực tập, để giữ lại 1 cái nếp cao thượng, thanh tao, phạm hạnh. Một cái nếp mà tận cùng của xã hội, nhưng mà lại cao tột độ của Thánh hiền.
Đó là đáy của xã hội, là đỉnh của thánh hiền là cái pháp khất thực, là hình ảnh của người ăn xin. Đối với đời không còn là gì, nhưng mà đối với đạo đây là 1 hình ảnh thanh tao, cao thượng, thánh thiện, tột cùng, vô thượng, tối thượng, tận cùng diệt tận bản ngã. Thật là đẹp là hình ảnh của 1 vị khất thực, thật là thanh cao là hình ảnh của 1 vị xuất gia ôm bình bát. Thật là cao thượng là sự phá bỏ hoàn toàn cái bản ngã này. Thật là vi diệu là hình ảnh đập vỡ, diệt tận, đánh phá hoàn toàn cái tôi, cái ta ác độc, đầy tai họa trên cuộc đời này. Đẹp lắm, cao thượng, thanh cao, thánh thiện, tối thượng, vô thượng lắm là hình của 1 người ăn xin.
An trú tâm như vậy hoài hoài, khi mỗi 1 ngày mình bưng cơm mình ăn. Cho đến mình còn ôm bình bát mình ăn cơm như vậy mà mình còn tham, sân, si, bản ngã thì là 1 sự nhục nhã nó xâm chiếm. Cho đến ngày nào mà trong mình ôm bình bát, mà không còn dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã nữa. Thì đến ngày đó mình ăn cơm, mình cầm bình bát trong sự cao thượng, thánh thiện, đứng ngẩn cao đầu giữa cuộc đời đầy bẩn thỉu, dục vọng, bản ngã, vô minh. Ngày nào mình còng bưng chén cơm mà còn dục, còn tham, còn ái, còn vô minh, bản ngã là mình xấu hổ, nhục nhã, tồi bại, bẩn thỉu, còn đau lòng, ray rứt, tức tửi, buồn khổ, xót xa.
“Siêng, tinh cần, tinh tấn,
Thường kiên trì hăng hái,
Ưa thích lạc pháp vị,
Từ bỏ lạc thế gian”
Con mời chư tôn thiền đức chia sẻ cảm thọ của mình, trong hình ảnh đầu trần, chân đất ôm bát đi ăn xin, khất thực.
IV. Chia sẻ cảm thọ
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con chân thành đảnh lễ sư phụ, các quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Con rất xúc động khi nghe sư phụ chỉ dạy cho chúng con về hạnh ăn xin, ăn mày của người tu. Con nhớ đến lời của Phật dạy, đây là 1 nghề sinh sống hèn hạ nhất, đây là 1 lời nguyền rủa trong đời. Khi mà ôm bình bát đi chỗ này chỗ kia, và đó là nghề sinh sống. Khi sư phu nói rằng sau này hàng tháng sẽ có 1 số ngày, có thể sẽ được đi khất thực. Trong tâm con hoan hỉ, nếu mà lời sư phụ được các ngài chấp nhận, thì đó là niềm hạnh phúc của chúng con. Mỗi khi bê cái bình bát lên, hãy nhớ mình là người ăn xin, là 1 người hèn hạ, nhục nhã, không có giai cấp, để mà diệt cái bản ngã của mình, con biết ơn sư phụ rất là nhiều.
Đức Thế Tôn, các bậc thánh đệ tử, bậc đạo sư – mẹ hiền thánh và sư phụ cũng vậy, dùng mọi phương tiện để chỉ dạy cho chúng con. Để cho cái tâm mê của con, cái tâm vô mình sâu dày, cái tâm ngu bền vững có thể hiểu được sự đau khổ của ngũ uẩn, của thế giới này. Được tu tập trong dòng Thánh pháp tối thượng này, con thật là hạnh phúc. Trong bài pháp hôm nay, cũng như những ngày sư phụ đã hướng dẫn cho chúng con thiền quán về lá vàng rơi, con rất hạnh phúc, vì con thấy pháp. Sự sanh diệt của ngũ uẩn, của thế giới này. Con hạnh phúc bởi vì con nhận thấy sự nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã trong con ngày được tăng thêm.
Và chính cái hạnh nhớ mình là người ăn mày, ăn xin này sẽ giúp cho con được diệt cái bản ngã xấu xa, tồi tệ luôn luôn nhận ngũ uẩn là mình. Và con xin nhớ lời của Đức Thế Tôn, các bậc Thánh, bậc đạo sư và sư phụ đã chỉ dạy. Cái pháp tu diệt ngã là đặt biệt quan trọng, quyết định sự xả bỏ tham đắm, dính mắc vào trong ngũ uẩn này. Đó là con đường đưa chúng con dần đi đến sự giải thoát đau khổ, và giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi vô tận này. Con xin tri ân công đức của Tam Bảo và Thánh giới, con xin tri ân công đức của sư phụ, của đạo tràng Nikāya, của tất cả ngũ uẩn, các vật vô tình trong thế giới, vũ trụ này. Con xin chân thành cảm ơn, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 2:
“Con chân thành đảnh lễ Đức Thế Tôn – bậc A-la-hán Chánh đẳng giác
Con chân thành lễ trên sư phụ tôn kính
Con chân thành đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng chư vị hiền thiện.
Con kính thưa sư phụ, khi con được nghe sư phụ cho thiền quán về thời Đức Phật, các Thánh Tăng đi khất thực. Và sư phụ dạy đi khất thực là 1 nghề xin ăn tồi tệ, hạ tiện, bần cùng nhất thế gian. Thọ trong con cảm thấy mình vừa nhục nhã, vừa hạnh phúc. Nhục nhã vì mình là người xin ăn, hạnh phúc là mình đã được diệt diệt cái bản ngã tồi tệ, xấu xa này. Khi con được nghe sư phụ nói tới đây, sư phụ sẽ xin các cấp được cho Linh Quy Pháp Ấn đi khất thực. Hình bóng trong con hồi tưởng về thời Đức Phật đi xin ăn, đi khất thực, đầu trần, chân đất. Con thật hạnh phúc, con nghĩ hình bóng trong con có hình bóng Tăng đoàn của Linh Quy Pháp Ấn thật đảo, đi trên những con đường.
Con tưởng đến: “Chắc Phật tử ở đây họ thấy những hình ảnh ấy, họ cũng phát được tâm bồ đề đến với đạo Phật. Con thật hạnh phúc, con mong muốn sự thật này sẽ được chính quyền và giáo hội cho phép. Đó là hạnh phúc vô bờ trong tư tưởng của con, con xin kính trình trên sư phụ cùng chư tôn thiền đưc Tăng Ni và chư vị hiền thiện. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 3:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con chân thành đảnh lễ trên sư phụ tôn kính
Con chân thành đảnh lễ trên chư tôn đức Tăng Ni, cùng chư vị hiền trí. Con xin được trình bày cảm thọ của con, về hình tướng ôm bát đi khất thực. Con nhớ lại những lúc sư phụ dẫn đoàn đi khất thực, mặc dù chỉ đi khất thực trong chùa, nhưng con được trải nghiệm sâu sắc sự ăn xin, từ bỏ tất cả. Chân chạm đất, đá, cỏ, cảm giác trong con thoải mái, như được lớn mạnh hơn, như cái cây được cắm rễ vào đất. Ôm bình bát đi chậm rải, dù cho ngoài kia có xoay chuyển, tâm và thân vẫn bất động tiến về phía trước, hướng thượng, tăng trưởng. Thật là an lạc, nhẹ nhàng, chân được chạm đất, nhưng tâm được bay với mây. Đây là những cảm thọ của con, và con biết ơn những gì sư phụ đã truyền trao. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Phật tử 4:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ ân đức Thế Tôn, ân đức sư phụ và đại chúng. Đức chúng như hải, con xin biết ơn điều này. Khi mà con đi học thì vị hướng dẫn ở trường nói là 1 tiếng học trên lớp, thì phải là 4 tiếng tự mình học. Gần đây con nhắc mình khi mình học từ sư phụ, mình phải học giống như vậy. Tức là mình nắm bắt ý nào sư phụ dạy trong ngày, mình phải xoáy sâu vào điều đó. Đi học thì phải làm bài tập, phải xoáy thật sâu để cho những gì mình học phải thâm nhập. Khi sư phụ nói sư phụ học 8 tiếng mỗi ngày, thì truyền cảm hứng cho con phải nỗ lực, cố gắng hơn. Đức chúng như hải, xin biết ơn sư phụ thường xuyên dạy chỗ chúng con.
Và khi nói về hạnh khiêm cung, thì con nhớ là khi con mới tới đây, con vào Văn Thỷ Đường con giặt quần áo. Con cầm muỗng xà bông này không phải của mình, cái thao này không phải của mình, nhà vệ sinh này không phải nhà của mình, ca múc nước, xô, tất tần tật không cái gì là của mình hết, con ngồi con giật mình. Ngay cả cái áo mà con mặc, áo tràng, áo của cô bạn của Má tặng cho Má, Má cho con. Cô đó thì con nói thật là con không có thích cô đó, cổ có nhiều cái hay lắm nhưng àm cổ rất nhiều chuyện và nói rất là nhiều. Con mới giật mình tự nói: “Trời ơi, nợ xà bông, nước, xô, thao, ngay cả cái áo mình mặc là cái áo tràng”. Con nhớ lời sư phụ nói là ở chùa, không tu đàng hoàng là mắc nợ, thiếu nợ, mang nợ.
Mà nợ này là nợ nóng, mà nợ nóng là phải trả bằng sức nóng của địa ngục, là sức nóng của việc cày bừa dưới ánh nắng mặt trời ở trên cánh đồng. Con phải ghi nhớ điều này, và cũng biết ơn sư phụ đã chỉ dạy hạnh của ngài Xá-lợi-phất như là cái tấm giẻ rách. Con nghĩ ngài trí tuệ như vậy, mà ngài như tấm giẻ rách. Mà mình ngu si như thế này, thì phải là thấp hơn thấm giẻ rách nữa. Cái tấm giẻ rách nó không có hôi, cái thân này là hôi. Cái giẻ rách hôi, khi chùi cái chân hôi lên cái giẻ rách. Khi mình chết mình sẽ bị hạ xuống cái lỗ thấp, thì bây giờ mình cúi thấp xuống, mình không hạ mình xuống thì sau này người ta cũng hạ mình xuống à, không ai đưa mình lên hết.
Đức chúng như hải xin biết ơn sư phụ chỉ dạy cho chúng con cái hạnh khiêm cung, khiêm hạ. Gần đây con có nói chuyện với cô Diệu An, cô có nói ngày xưa cô đi khất thực, thì có ngày chỉ xin được chè, cô chỉ ăn 1 ngày 1 bữa chỉ ăn chè. Có ngày họ cho bánh, không chỉ 1 ngày, mà 7 ngày chỉ có bánh. Con hỏi: “Làm sao cô có thể tu tập hạnh phúc được như vậy?” Cô nói là nhờ như lý tác ý, đó là sợ. Khi mình tham, mình muốn mình sẽ thành con này con kia, thành con heo. Mình đi tu thì trong 10 điều tâm niệm, mình ở giai cấp nào? Không có giai cấp nào hết, thì có gì để mà đòi hỏi. Rồi cô cũng nói là nếu mình tác ý là mình ngán, thì mình sẽ ngán.
Có thêm 1 tác ý khác nữa mà con học từ ngài Hư Vân, đó là lòng biết ơn. Ngài luôn luôn nói ăn với lòng biết ơn Đức Thế Tôn. Trong bộ phim “Trăm năm trưởng lão Hư Vân hòa thượng”, thì ngài khất thực tô cơm mà đứa trẻ cho 1 nắm muối vào, ngài vẫn ăn rất là điềm nhiên và đối xử với đứa bé tràn đầy niềm thương yêu, không có bất kỳ sự giận dữ nào hết. Khi ngài ăn khoai lang cũng vậy, Phật tử người ta vứt lên trên bàn, thì ngài nhặt lại cất vô trong cái tô để ăn nữa. Rồi các vị nói ăn như vậy là sẽ bệnh, ngài nói: “Không, ăn với lòng biết ơn thì không có bệnh gì hết”, và ngài đã sống tới 120 tuổi.
Thì con thấy là đức chúng như hải, con học từ ngài Hư Vân trên video, con học từ cô Diệu An, rồi nhìn cái tấm giẻ rách, tất cả điều hỗ trợ cho sự học hỏi của con. Nhất định là con sẽ ghi nhớ, phải khắc sâu, xoáy sâu, thường xuyên nhắc mình những điều này. Hạnh khất thực cũng là 1 điều hỗ trợ thêm cho con, nhắc cho con phải biết cung kính, khiêm hạ, trước khi mà người ta hạ mình xuống cái huyệt. Nhìn Thế Tôn cao thượng, cao đẹp, nghĩ tới mình còn nhiều những điều xấu xa, tồi tệ, để mà thay đổi, chuyển hóa ngày 1 tốt hơn, đẹp hơn. Xin biết ơn Thế Tôn, biết ơn sư phụ, đại chúng, đức chúng như hải xin biết ơn điều này.”
Phật tử 5:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính đảnh lễ trên sư phụ, con kính đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các bậc hiền thiện. Sáng nay cảm thọ trong con là cảm thọ ưu tư, về hình ảnh người xuất gia ôm bình bát đi khất thực. Đó là bước đường của sự giải thoát, thoát khỏi tham, sân, si, bản ngã, dục ái mà Đức Phật đã tìm ra và giảng dạy. Con có duyên nghe bậc đạo sư giảng về bào kinh “Khất thực và mục đích người tu”, nghe sư phụ giảng về bài thiền quán. Trong những ngày xuống núi và ở trên đây, con khi nào cũng nghe và chiêm nghiệm. Con ưu tư và thấy mình thật là vô minh nhiều, không bài “Khất thực”, Đức Phật có dạy người xuất gia ôm bình bát đi khất thực, là 1 nghề cho rằng là hạ liệt nhất, đó là tầng lớp thấp của xã hội.
Bậc đạo sư có giảng dạy mục đích của người tu là thấy khổ, và con đường diệt khổ. Con đã thấy sơ sơ, con thấy trong mình là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ác thú. Khi bị các tâm tham, sân, si, dục ái, vô minh nó dẫn dắt, mà mình không biết tác ý. Con xuống núi, đâu đâu con cũng thấy là khổ, cái khổ trong các mối quan hệ bạn bè, thầy trò, huynh đệ, an hem, Phật tử. Đâu đâu cũng là nguy hiểm, tai nạn, là bất an. Con nghe thầy giảng bài thiền quán về luật quả, khi nào con cũng nghe và thấy xấu hổ. Thầy dạy người tu xuất gia 10 năm, 20 năm, 30 năm, cuối cùng là vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đó là mục đích cuối cùng của người tu ư? Bỏ cha, bỏ mẹ, phải nhẫn nhục, cô đơn, phải chịu khổ, rồi cuối cùng bị rơi vào địa ngục.
Mình có biết ông bà, tổ tiên đang trông mong, chờ đợi mình, con ưu tư và chiêm nghiệm. Con tự hỏi mục đích của người tu là gì? Hỏi Đức Phật, hỏi thầy tốt, hỏi bậc chân tu, hỏi các đồng phạm hạnh, hỏi cha mẹ, hỏi các bậc thiền trí, nếu quên thì họ sẽ trả lời cho mục đích của người tu. Con rất là xấu hổ khi còn vô minh nhiều, hồi con lên đây học, mỗi lần sư phụ khuyên răn, xách tấn thì con thấy là đang khuyên răn, xách tấn mình. Con thật là xấu hổ, khi nghe sư phụ nhắc đến con, con thấy xậu hổ, nhục nhã khi còn nhiều kém cõi. Con thấy thân ngũ uẩn này thật là đáng sợ, con chia nó ra làm 3 phần. Con bỏ xương riêng, máu mủ riêng và thọ, tưởng, hành, thức riêng. Con hỏi xương thì không trả lời, con hỏi da thì không trả lời, con hỏi tưởng, hành thì nó cười, nó bảo khi nào hỏi thì nói giả dối.
Ba đứa đưa tập hợp lại, nó muốn cho mình đi vào đường ác, nó giả dối, đáng sợ. Con được đi hành khất, đi khất thực cùng đại chúng, con mong muốn 1 lần sống đời phạm hạnh đi khất thực. Con xin tri ân sư phụ cùng đại chúng, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”