Nghiệp & Quả Báo 16
Kinh Nikāya Giảng Giải
Nghiệp & Quả Báo 16
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ác nghiệp PAGEREF _Toc154929287 \h 1
II. Năm nghịch tội PAGEREF _Toc154929288 \h 4
III. Thánh Trí Đức Như Lai PAGEREF _Toc154929289 \h 5
I. Ác nghiệp
Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu chuyên đề về nghiệp trong kinh tạng Nikāya, chúng ta nghe bài kinh rất đặc biệt, bài kinh này sẽ nói cho chúng ta biết được Đức Như Lai thấy biết tâm và căn trí của chúng sanh như thế nào, bài kinh tên "Lời cảm hứng" nằm trong Tăng Chi Bộ, tập III.
" Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỳ-kheo, đi đến một thị trấn của dân chúng Kosala tên là Dandakappaka. Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, ngồi xuống trên chỗ đã được sửa soạn dưới một gốc cây; còn các Tỳ-kheo ấy đi vào Dandakappaka để tìm chỗ ở. Bấy giờ Tôn giả Ananda cùng với một số đông Tỳ-kheo, đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một y để phơi tay chân cho khô.
Rồi một Tỳ-kheo đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, thưa với Tôn giả Ananda:
- Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được' hay có phải nhờ một Thiên nhân?
- Thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Kiếp ở đây là đại kiếp của trái đất.
"Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, với một số đông Tỳ-kheo, con đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Rồi bạch Thế Tôn, một Tỳ-kheo đi đến con, sau khi đến thưa với con: 'Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được' hay có phải nhờ một Thiên nhân? "
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời Tỳ-kheo ấy: 'Thưa Hiền giả, thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố'.
- Này Ananda, hoặc Tỳ-kheo ấy là vị tân nhập, xuất gia chưa được bao lâu, hay vị ấy là Tỳ-kheo trưởng lão ngu si, không thông minh. Làm sao khi ta đã tuyên bố một chiều, ở đây lại có thể có trường hợp thứ hai được? Ta không thể thấy về một người nào khác, này Ananda, sau khi tập trung tất cả tâm, Ta đã tuyên bố như vậy, trừ với Devadatta! Cho đến khi nào, này Ananda, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được'. Cho đến khi nào, này Ananda, Ta không thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Davadatta, cho nên Ta đã tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được'. Ví như, này Ananda, một hố phân cao hơn đầu người, đầy cả phân, và một người rơi vào hố phân cho đến cả đầu. Rồi một người khác đi đến, muốn lợi ích, muốn hạnh phúc, muốn người ấy an ổn khỏi các khổ ách, muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân ấy. Người này đi vòng quanh hố phân và không thấy cho đến một điểm nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở người ấy mà không bị dính phân, để có thể nắm lấy chỗ ấy và kéo lên. Cũng vậy, này Ananda, cho đến khi nào, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được'. Nếu thầy muốn nghe, này Ananda, Như Lai sẽ phân tích về căn trí của con người" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Người này thấy người kia bị rơi xuống nên thấy tội nghiệp nên cố gắng tìm chỗ nào không dính phân để kéo lên thì tìm mãi vẫn không thấy một chỗ nào dù cho nhỏ xíu bằng cọng lông, người này bị lún chìm dưới đống phân không thể níu kéo lên được.
"- Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thiên Thệ, để Thế Tôn phân tích các căn trí của con người, sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này Ananda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Đầu câu chuyện là có một thầy Tỳ-kheo đi đến gặp ngài Ananda để xác nhận lại là nghe nói Đức Thế Tôn tập trung tất cả tâm tuyên bố Đề-bà-đạt-đa rơi vào đọa xứ, đọa xuống địa ngục không thể cứu vãn, có phải như vậy không? Ngài Ananda nói đúng như vậy, sau đó ngài Ananda trở về trình với Đức Phật có một thầy Tỳ-kheo nói như vậy thì Đức Phật nói hoặc là Tỳ-kheo đó là người mới tu chưa được bao lâu, chưa hiểu Đức Phật hoặc là một Tỳ-kheo đã tu lâu năm nhưng ngu si, không có trí tuệ vì "Làm sao khi ta đã tuyên bố một chiều, ở đây lại có thể có trường hợp thứ hai được?", câu này có nghĩa là những gì Đức Thế Tôn đã tuyên bố thì làm sao có thể sai khác được.
Lời của Đức Phật là như thật ngữ, là chân ngữ, không bao giờ đổi khác, từ Bồ-đề đạo tràng là nơi ngài chứng ngộ cho đến Tala song thọ là nơi ngài trút hơi thở cuối cùng tất cả những lời nói ở chặng giữa đó không thể đổi khác, không bao giờ có sai khác cho nên khi Đức Thế Tôn đã tập trung tất cả tâm tuyên bố Đề-bà-đạt-đa đọa vào địa ngục một đại kiếp thì điều đó không thể khác được.
Đề-bà-đạt-đa là người muốn giết Đức Phật, phá hòa hợp Tăng, Đức Thế Tôn lấy hình ảnh ví dụ này rất sâu sắc, "Ta không thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta", cho nên ngài mới tuyên bố như vậy. Pháp trắng chính là thiện pháp, là pháp lành, tâm của Đề-bà-đạt-đa khi đó thiện pháp dù chỉ nhỏ như sợi lông đuôi ngựa cũng không có.
Tâm bị vô minh, bị chấp ngã, bị lòng tham muốn lãnh đạo Tăng đoàn che mờ tất cả, chính vì vậy mà không còn một chút xíu pháp trắng nhỏ nào. Thế Tôn nói những ngày cuối đời của Đề-bà-đạt-đa bệnh rất nặng, bệnh khủng khiếp rồi ông hối hận cùng cực, ông muốn đi đến Đức Thế Tôn để gặp ngài để có những lời tạ tội, dù ông đã đi gần tới nhưng khi các thầy Tỳ-kheo hỏi thì Đức Phật nói Đề-bà-đạt-đa sẽ không gặp được ngài. Cuối đời Đề-bà-đạt-đa bị ghẻ lở máu mủ toàn thân, Thế Tôn nói ông ta không thể gặp Như Lai được, một chút sau thì động đất làm Đề-bà-đạt-đa rơi xuống địa ngục.
II. Năm nghịch tội
Chúng ta thấy lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói thật khiếp sợ, không phải ngài làm ra điều đó mà là nhân quả nghiệp báo của chúng sanh đó phải chịu đựng như vậy. Lúc đó đất nứt ra chôn vùi Đề-bà-đạt-đa ngay tại chỗ nên ông không thể gặp được Đức Phật, chúng ta đọc trong truyện sẽ thấy ông lăn đá từ trên xuống muốn sát hại Đức Phật để lãnh đạo Tăng đoàn thì Đức Phật nói thật là ngu si, ngay cả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên mà ngài còn chưa cho lãnh đạo Tăng chúng thì với một người có tâm tật đố, ganh tỵ muốn sát hại Đức Phật thì càng không thể. Trong ngũ nghịch đại tội có một tội đó là làm cho thân Phật chảy máu.
"- Có năm nghịch tội này, này các Tỳ-kheo, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không có thể chữa trị. Thế nào là năm?
Ðoạt mạng mẹ, Đoạt mạng cha, Đoạt mạng vị A-la-hán, Với ác tâm làm Như Lai chảy máu, Phá hòa hợp Tăng.
Này các Tỳ-kheo, năm pháp ngũ nghịch này, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không thể chữa trị". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Chương V - Năm Pháp, (IX). Ngũ Nghịch)
Đề-bà-đạt-đa phạm vào trong ngũ nghịch đại tội này, bây giờ hằng ngày trên mặt báo chúng ta thấy ngũ nghịch đại tội rất nhiều, con giết mẹ, con giết cha, chắc chắn sẽ đọa địa ngục, vì thế khi đã hiểu được nghiệp quả thì rất sợ chẳng những trên hành động mà còn trên lời nói, chẳng những lời nói mà còn trong ý nghĩ cũng có thể thành ý nghiệp, mình để cho những suy nghĩ ác, tội lỗi sanh khởi mà không chế ngự, không đánh đuổi thì nó sẽ phát ra lời nói, biểu hiện ra hành động, mà khi đã có nghiệp thì sẽ có quả báo, đó là lý do dù không còn cách Đức Phật bao xa nhưng vẫn không thể gặp được Như Lai, đúng là địa chấn đất nứt ra làm Đề-bà-đạt-đa rơi xuống địa ngục ngay khi còn sống.
III. Thánh Trí Đức Như Lai
Chúng ta thấy một lời của bậc Chánh Đẳng Giác là không thể khác được, Thế Tôn đã tuyên thuyết Tứ Thánh Đế thì một triệu tỷ năm sau cũng không thể khác được, Bát Chánh Đạo ngài đã nói thì vô lượng kiếp không thể sai khác được, chỉ có tâm chúng sanh vô minh, tham ái, chấp thủ không đi theo Thánh đạo nên pháp mới diệt chứ thật ra pháp không diệt, vì tâm chúng sanh không chấp nhập cái pháp, không tu học cái pháp, lãnh quên pháp nên gọi là mạt pháp.
Thế Tôn ví dụ hình ảnh một người rơi vào hố phân cao quá đầu, từ đầu đến chân chìm trong phân dơ bẩn, bẩn thỉu, có một người vì lòng thương, vì muốn người đó thoát khỏi khổ đau muốn kéo lên nhưng tìm không thấy chỗ nào không dính phân. "Một người khác đi đến, muốn lợi ích, muốn hạnh phúc, muốn người ấy an ổn khỏi các khổ ách, muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân ấy", đọc câu này chúng ta phải hiểu không phải Thế Tôn không có tâm từ với Đề-bà-đạt-đa, không phải từ bi là người nào cũng cứu được, Thế Tôn vì muốn lợi ích, vì muốn hạnh phúc, vì muốn an ổn, vì muốn người đó thoát khỏi khổ đau mà ngài đi tới đi lui trên hố phân và tìm một chỗ nhỏ để kéo lên mà không thể vì người đó đã lún sâu xuống pháp đen, pháp ác, những bất thiện pháp, không chỗ nào có thiện pháp dù nhỏ như sợi lông đuôi ngựa.
"Thế Tôn nói như sau:
- Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: 'Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện'. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: 'Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và pháp thiện sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy'. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai".(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Khi ngài nhìn một người thì ngài sẽ biết người này có những thiện pháp nào, có những bất thiện nào, thời gian sau thì thiện pháp biến mất nhưng pháp ác lại hiện hữu. Tuy nhiên cội gốc thiện pháp vẫn chưa mất mà sẽ được khởi lên lại, tức là người này còn cứu được, còn tu được, người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Đó là lý do ngài không độ thì thôi mà độ ai là người đó vào ngay Thánh quả vì ngài nhìn là biết người đó như thế nào, còn mình bây giờ nhìn không thấy gì cả mà muốn độ người ta.
"Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể biết những hột giống này sẽ được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: 'Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện'. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: 'Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu. Nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và thiện pháp sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy'. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Giai đoạn đầu vừa có pháp thiện vừa có pháp bất thiện, sau một thời gian thì pháp bất thiện biến mất, các pháp hiện vẫn hiện hữu. Đây là chỗ sâu sắc, nếu nhìn bên ngoài là thất bại hoặc nhìn sơ sơ trong tâm cũng thất bại luôn, mình tưởng hết sân nhưng cội gốc của nó vẫn chưa bị cắt đứt. Nhìn bề ngoài, bề nổi ở trên thì pháp bất thiện biến mất, các pháp thiện đang có mặt nhưng cội gốc bất thiện vẫn chưa cắt đứt, các pháp bất thiện lại có dịp được khởi lên. Chúng ta đừng tự tin khi mình chưa sạch hết các lậu hoặc, mình tu được một chút pháp lành, pháp thiện thì cho rằng mình giỏi rồi, ngon lành rồi là mình sẽ chết với nó, trong tương lai người này sẽ lùi lại và rơi xuống và Đức Phật nhìn là ngài thấy, ngài biết những điều này.
"Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất đầy sỏi đá. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này sẽ không có thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Không phải ai tu cũng chứng Thánh phải, không phải ai tu cũng diệt được tham, sân, si dù cho tu đúng chánh pháp chứ đừng nói chi tu không đúng chánh pháp. Những người phát tâm đi tu rất quyết liệt, sơ tâm rất đẹp nhưng qua thời gian thì tâm đó không còn nữa, các thiện pháp biến mất nhưng mình lại không nhìn thấy những sự tiềm ẩn, tiềm tàng này. Chỉ có nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc thì mình mới đọc được những thầm ý, những suy nghĩ, những cảm giác nhỏ nhiệm, nhìn thấy ngồi nghe pháp trang nghiêm nhưng trong tâm lại có những cảm giác chống đối mà mình không nhìn sâu vào là không biết, có những vị trình pháp khi đến phần quán từ bỏ ngũ uẩn là trong tâm khởi lên suy nghĩ "bỏ hết thì tiếc", "tu gì buồn quá vậy, không có mùi vị gì cả", những ngầm ý đó, những lời nói lầm thầm đó phải được nhìn thấy, đối với sân, tham lam, bản ngã cũng phải nhìn ra được những cái thầm ý ngấm ngầm, những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ, hình bóng, những cảm xúc, nhận thức trong đó cho nên dù có là hạt giống tốt nhưng gieo trên mảnh đất đầy sỏi đá cũng không thể phát triển được.
"Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: 'Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện'. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: 'Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục'". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Người này không có bất kì pháp trắng nào dù nhỏ như đầu sợi lông, người này thành tựu những pháp bất thiện, chỉ thuần một màu đen nên khi thân hoại mạng chung sẽ rơi vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ của địa ngục.
" Ví như, này Ananda, các hột giống bị bể vụn, bị hư thối, bị gió và sức nóng phá hoại, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này không thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có thể tuyên bố ba hạng người khác đồng loại với ba người này hay không?
- Có thể được, này Ananda" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Trong bài kinh này chúng ta có thể thấy được trí tuệ của Phật và cũng thấy được nội tâm của chúng sanh, càng thấy được nội tâm chính mình, càng thấy rõ sự cẩn trọng trong sự tu học, không được tu học hời hợt, không nhìn nội tâm một cách qua loa. Ở đây chúng ta thấy được ba hạng người là ba đề mục để chúng ta quán chiếu và nhìn lại tự tâm mình cũng như những người xung quanh mình.
Hạng thứ nhất là các thiện pháp bị biến mất và các pháp bất thiện hiện hữu, mình nhìn thấy người đó hung dữ, ương ngạnh, ngang bướng, thấy giống như người đó không hiền nhưng người này có gốc thiện, còn có thể giúp được, còn có thể tu được. Nhìn bên ngoài giống như không có tu, giống như người không tốt nhưng gốc thiện của người này còn, đang có và gốc thiện chưa mất đi nên nó sẽ sanh khởi lên khi đúng nhân đúng duyên, đúng lúc đúng thời. Trong chúng ta có những người ngày xưa hung dữ, không biết tu gì cả nhưng may mắn gia đình có người thân qua đời, được tiếp xúc với chư Tăng, chư Ni, được nghe những bài kinh Sám hồng trần.
"Khi nào liệt liệt oanh oanh,
Bây giờ một trận tan tành gió mưa.
Khi nào du lịch giang hồ,
Bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài"
(Sám Hồng Trần)
Mình nghe rồi mình thấy thấm thía, mình thấy hay thì từ từ căn lành của mình sẽ nảy nở, hạt giống tốt sẽ nảy mầm, phát triển, như vậy người này sẽ được sanh khởi thiện pháp từ gốc thiện lành đó. Khi đã sanh khởi lên được thiện pháp thì người này không bị thối lui, không bị rơi ngược trở lại cái xấu ác nữa.
Hạng thứ hai là vừa có pháp thiện pháp vừa có pháp bất thiện nhưng thời gian sau thì pháp bất thiện biến mất, pháp thiện hiện hữu. Có những người tu một thời gian tinh cần, nỗ lực, nghiêm chỉnh, không còn tánh xấu như lúc trước nhưng cội gốc bất thiện vẫn chưa được cắt đứt nên thời gian sau các pháp bất thiện khởi lên trở lại. Có những người tu lúc đầu rất hiền lành, dễ thương, có đức hạnh nhưng tu một thời gian bị dính vào danh lợi, tiền tài, vật chất, bản ngã, ở đây nói cả cư sĩ lẫn xuất gia chứ không phải chỉ có người xuất gia hay chỉ nói cư sĩ.
Nhiều khi bình thường, dễ thương vô cùng nhưng được bầu lên làm trưởng nhóm, huynh trưởng thì thời gian đầu cũng còn dễ thương nhưng sau đó hết dễ thương, như vậy gốc bất thiện pháp chưa được cắt đứt nên nó sanh khởi trở lại thì người này sẽ rơi xuống trong tương lai. Cái này nếu nhìn rộng ra là rất nhiều, khi mình còn khó khăn thì ăn ở hiền lương, nghĩa tình đậm đà với hàng xóm nhưng khi giàu lên rồi không chơi với ai, đổi tánh, "giàu đổi bạn, sang đổi vợ".
Mới được một chút phước lại còn không cẩn thận kiểm soát thân tâm của mình, bắt đầu buông thả thì những pháp ác sanh khởi trở lại, đưa mình lùi lại và rơi xuống, có những người nằm ngoài vỉa hè trên chiếc chiếu rất nhỏ nhưng ngày xưa là đại gia một vùng, tiếng tăm vang dội, bây giờ bệnh nan y, không có tiền uống thuốc, bữa đói bữa no. Cái thiện, cái ác, cái giàu, cái nghèo, cái tội, cái phước phải đưa vào những trường hợp này để chúng ta biết, để chúng ta tu. Mình có phước là kết quả của một chút thiện pháp mình làm được rồi minh buông lung, thả lỏng, không còn sợ nhân quả nghiệp báo thì lúc đó mình bị lùi lại và rơi xuống. Đó là vật chất, còn đối với sự tu cũng vậy, lúc mới tu thì tâm rất dễ thương, hiền lành, làm gì cũng rụt rè, e dè, cẩn thận như người vợ trẻ mới về nhà chồng, xấu hổ, cẩn thận với mẹ chồng, cha chồng, anh chị em chồng, thậm chí với cả người làm công.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: "Hãy đi đi, các người có biết được gì!".
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV). Người Vợ Trẻ)
Lúc mới đi chùa thì hiền lành, dễ thương nhưng đi chùa một thời gian là hết hiền lành, dễ thương "chùa của tôi, tôi ở đây công quả 20 năm rồi", "thầy của tôi", "tôi tu pháp môn này", bản ngã sanh, ngã sở sanh, cao thấp hơn thua sanh. Người xuất gia mới đầu thì cung kính, hiền hòa, từ ái nhưng thọ giới lớn là vỗ ngực xưng tên ta là thầy, ta là sư cô. "Hà nãi tài đăng giới phẩm, tiện ngôn ngã thị Tỳ-kheo" nghĩa là tại sao vừa được giới phẩm lại tùy tiện cho mình là bậc Tỳ-kheo? Đó là do gốc rễ của bất thiện pháp, ác pháp chưa được cắt đứt hoàn toàn cho nên có cơ hội là nó nảy mầm, vì thế chúng ta cần phải rất cẩn thận. Nếu cắt được gốc rễ của nó là vào các tầng Thánh quả, cho đến Thánh quả thứ ba mới hết tham, sân.
Vì vậy chúng ta không thể tu học qua loa, xem thường như cưỡi ngựa xem hoa, gieo duyên, người xưa nói làm phước mà không tu huệ, không lo tu tập, nhiếp phục tham, sân, si thì chỉ làm phước bên ngoài, đó là kẻ thù của đời thứ ba, nghĩa là đời này làm phước rất nhiều thì đời sau hưởng phước, đến đời thứ ba là đọa cho nên làm phước thiện bên ngoài rất tốt nhưng tu tập quay trở lại nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã là rất quan trọng. Muốn hết khổ thì phước huệ phải song tu, bi trí song vận, giống như con chim có hai cánh mới bay được, cái xe tối thiểu phải có hai bánh mới chạy được.
Có nhiều người chỉ thích làm từ thiện chứ không thích ngồi thiền, không thích nghe pháp, có người thích nghe pháp, ngồi thiền nhưng không chịu làm phước, đây là chỗ chúng ta cần để ý, phải cẩn thận ở chỗ Đức Phật nói cội gốc bất thiện chưa được cắt đứt thì các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ các pháp bất thiện đó. Cho đến khi nào tâm mình hoàn toàn diệt tận hết tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái thì lúc đó mình mới tự tin hoàn toàn, không còn lo sợ gì nữa, lúc đó đại tự tại, đại vô quý, việc cần làm đã làm xong, còn giờ nhìn lại trong tâm còn ham muốn, nóng giận, còn đủ thứ thì mình phải lo lắng, còn đề phòng, canh chừng, kiểm tra, còn theo dõi những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư của mình, theo dõi lời nói, hành động, ý nghĩ của mình rồi nhiếp phục, chế ngự nó.
Đức Phật ví dụ hạt giống gặp được mảnh đất tốt thì nảy mầm, còn ví dụ thứ hai là hạt giống được gieo lên mảnh đất sỏi đá thì không thể phát triển được, cho nên chúng ta có mảnh đất phì nhiêu, chúng ta có mặt ở đây thì tam bảo gọi là vô thượng phước điền, Đức Thế Tôn là bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người, là ruộng phước vô thượng thứ nhất của tất cả Thánh hiền, chánh pháp là ruộng phước thứ hai, vô thượng, tối tôn, là đệ nhị tối thượng phước điền, các bậc tu hành đúng chánh pháp của Đức Phật, có đầy đủ bốn tánh chất "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời" là đệ tam tối thượng phước điền giữa chư thiên và loài người. Đây là ba mảnh ruộng phì nhiêu, đầy dưỡng chất để tất cả chúng sanh được gieo trồng, được cấy, được gặt, từ đó chúng ta mới tăng trưởng, mới nảy mầm lớn mạnh cây Thánh pháp, cây giác ngộ của chúng ta.
Qua bài kinh này chúng ta thấy được lời nói của Đức Phật tuyên bố là không thể sai khác được, những lời Đức Phật nói trong kinh Nikāya này ngàn tỷ năm sau cũng không thay đổi, không đổi khác được. Chúng ta cần cẩn thận đối với nghiệp quả qua hình ảnh Đề-bà-đạt-đa không còn một chút nào pháp trắng dù chỉ bằng sợi lông ngựa. Chúng ta phải cố gắng tu tập càng nhiều pháp trắng càng tốt, bên ngoài là làm phước, bên trong là tu trí tuệ để nhiếp phục cảm thọ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, luôn thực hành cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, từ bi, tâm thương rộng lớn để mầm giác ngộ của mình nảy nở, hạt giống được nảy mầm, cây Thánh đạo, đạo thọ của mình được lớn mạnh, được xum xuê trong Thánh pháp.
./.
Nghiệp & Quả Báo 16
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ác nghiệp PAGEREF _Toc154929287 \h 1
II. Năm nghịch tội PAGEREF _Toc154929288 \h 4
III. Thánh Trí Đức Như Lai PAGEREF _Toc154929289 \h 5
I. Ác nghiệp
Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu chuyên đề về nghiệp trong kinh tạng Nikāya, chúng ta nghe bài kinh rất đặc biệt, bài kinh này sẽ nói cho chúng ta biết được Đức Như Lai thấy biết tâm và căn trí của chúng sanh như thế nào, bài kinh tên "Lời cảm hứng" nằm trong Tăng Chi Bộ, tập III.
" Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỳ-kheo, đi đến một thị trấn của dân chúng Kosala tên là Dandakappaka. Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, ngồi xuống trên chỗ đã được sửa soạn dưới một gốc cây; còn các Tỳ-kheo ấy đi vào Dandakappaka để tìm chỗ ở. Bấy giờ Tôn giả Ananda cùng với một số đông Tỳ-kheo, đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một y để phơi tay chân cho khô.
Rồi một Tỳ-kheo đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, thưa với Tôn giả Ananda:
- Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được' hay có phải nhờ một Thiên nhân?
- Thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Kiếp ở đây là đại kiếp của trái đất.
"Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, với một số đông Tỳ-kheo, con đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Rồi bạch Thế Tôn, một Tỳ-kheo đi đến con, sau khi đến thưa với con: 'Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được' hay có phải nhờ một Thiên nhân? "
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời Tỳ-kheo ấy: 'Thưa Hiền giả, thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố'.
- Này Ananda, hoặc Tỳ-kheo ấy là vị tân nhập, xuất gia chưa được bao lâu, hay vị ấy là Tỳ-kheo trưởng lão ngu si, không thông minh. Làm sao khi ta đã tuyên bố một chiều, ở đây lại có thể có trường hợp thứ hai được? Ta không thể thấy về một người nào khác, này Ananda, sau khi tập trung tất cả tâm, Ta đã tuyên bố như vậy, trừ với Devadatta! Cho đến khi nào, này Ananda, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được'. Cho đến khi nào, này Ananda, Ta không thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Davadatta, cho nên Ta đã tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được'. Ví như, này Ananda, một hố phân cao hơn đầu người, đầy cả phân, và một người rơi vào hố phân cho đến cả đầu. Rồi một người khác đi đến, muốn lợi ích, muốn hạnh phúc, muốn người ấy an ổn khỏi các khổ ách, muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân ấy. Người này đi vòng quanh hố phân và không thấy cho đến một điểm nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở người ấy mà không bị dính phân, để có thể nắm lấy chỗ ấy và kéo lên. Cũng vậy, này Ananda, cho đến khi nào, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được'. Nếu thầy muốn nghe, này Ananda, Như Lai sẽ phân tích về căn trí của con người" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Người này thấy người kia bị rơi xuống nên thấy tội nghiệp nên cố gắng tìm chỗ nào không dính phân để kéo lên thì tìm mãi vẫn không thấy một chỗ nào dù cho nhỏ xíu bằng cọng lông, người này bị lún chìm dưới đống phân không thể níu kéo lên được.
"- Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thiên Thệ, để Thế Tôn phân tích các căn trí của con người, sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này Ananda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Đầu câu chuyện là có một thầy Tỳ-kheo đi đến gặp ngài Ananda để xác nhận lại là nghe nói Đức Thế Tôn tập trung tất cả tâm tuyên bố Đề-bà-đạt-đa rơi vào đọa xứ, đọa xuống địa ngục không thể cứu vãn, có phải như vậy không? Ngài Ananda nói đúng như vậy, sau đó ngài Ananda trở về trình với Đức Phật có một thầy Tỳ-kheo nói như vậy thì Đức Phật nói hoặc là Tỳ-kheo đó là người mới tu chưa được bao lâu, chưa hiểu Đức Phật hoặc là một Tỳ-kheo đã tu lâu năm nhưng ngu si, không có trí tuệ vì "Làm sao khi ta đã tuyên bố một chiều, ở đây lại có thể có trường hợp thứ hai được?", câu này có nghĩa là những gì Đức Thế Tôn đã tuyên bố thì làm sao có thể sai khác được.
Lời của Đức Phật là như thật ngữ, là chân ngữ, không bao giờ đổi khác, từ Bồ-đề đạo tràng là nơi ngài chứng ngộ cho đến Tala song thọ là nơi ngài trút hơi thở cuối cùng tất cả những lời nói ở chặng giữa đó không thể đổi khác, không bao giờ có sai khác cho nên khi Đức Thế Tôn đã tập trung tất cả tâm tuyên bố Đề-bà-đạt-đa đọa vào địa ngục một đại kiếp thì điều đó không thể khác được.
Đề-bà-đạt-đa là người muốn giết Đức Phật, phá hòa hợp Tăng, Đức Thế Tôn lấy hình ảnh ví dụ này rất sâu sắc, "Ta không thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta", cho nên ngài mới tuyên bố như vậy. Pháp trắng chính là thiện pháp, là pháp lành, tâm của Đề-bà-đạt-đa khi đó thiện pháp dù chỉ nhỏ như sợi lông đuôi ngựa cũng không có.
Tâm bị vô minh, bị chấp ngã, bị lòng tham muốn lãnh đạo Tăng đoàn che mờ tất cả, chính vì vậy mà không còn một chút xíu pháp trắng nhỏ nào. Thế Tôn nói những ngày cuối đời của Đề-bà-đạt-đa bệnh rất nặng, bệnh khủng khiếp rồi ông hối hận cùng cực, ông muốn đi đến Đức Thế Tôn để gặp ngài để có những lời tạ tội, dù ông đã đi gần tới nhưng khi các thầy Tỳ-kheo hỏi thì Đức Phật nói Đề-bà-đạt-đa sẽ không gặp được ngài. Cuối đời Đề-bà-đạt-đa bị ghẻ lở máu mủ toàn thân, Thế Tôn nói ông ta không thể gặp Như Lai được, một chút sau thì động đất làm Đề-bà-đạt-đa rơi xuống địa ngục.
II. Năm nghịch tội
Chúng ta thấy lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói thật khiếp sợ, không phải ngài làm ra điều đó mà là nhân quả nghiệp báo của chúng sanh đó phải chịu đựng như vậy. Lúc đó đất nứt ra chôn vùi Đề-bà-đạt-đa ngay tại chỗ nên ông không thể gặp được Đức Phật, chúng ta đọc trong truyện sẽ thấy ông lăn đá từ trên xuống muốn sát hại Đức Phật để lãnh đạo Tăng đoàn thì Đức Phật nói thật là ngu si, ngay cả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên mà ngài còn chưa cho lãnh đạo Tăng chúng thì với một người có tâm tật đố, ganh tỵ muốn sát hại Đức Phật thì càng không thể. Trong ngũ nghịch đại tội có một tội đó là làm cho thân Phật chảy máu.
"- Có năm nghịch tội này, này các Tỳ-kheo, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không có thể chữa trị. Thế nào là năm?
Ðoạt mạng mẹ, Đoạt mạng cha, Đoạt mạng vị A-la-hán, Với ác tâm làm Như Lai chảy máu, Phá hòa hợp Tăng.
Này các Tỳ-kheo, năm pháp ngũ nghịch này, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không thể chữa trị". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, Chương V - Năm Pháp, (IX). Ngũ Nghịch)
Đề-bà-đạt-đa phạm vào trong ngũ nghịch đại tội này, bây giờ hằng ngày trên mặt báo chúng ta thấy ngũ nghịch đại tội rất nhiều, con giết mẹ, con giết cha, chắc chắn sẽ đọa địa ngục, vì thế khi đã hiểu được nghiệp quả thì rất sợ chẳng những trên hành động mà còn trên lời nói, chẳng những lời nói mà còn trong ý nghĩ cũng có thể thành ý nghiệp, mình để cho những suy nghĩ ác, tội lỗi sanh khởi mà không chế ngự, không đánh đuổi thì nó sẽ phát ra lời nói, biểu hiện ra hành động, mà khi đã có nghiệp thì sẽ có quả báo, đó là lý do dù không còn cách Đức Phật bao xa nhưng vẫn không thể gặp được Như Lai, đúng là địa chấn đất nứt ra làm Đề-bà-đạt-đa rơi xuống địa ngục ngay khi còn sống.
III. Thánh Trí Đức Như Lai
Chúng ta thấy một lời của bậc Chánh Đẳng Giác là không thể khác được, Thế Tôn đã tuyên thuyết Tứ Thánh Đế thì một triệu tỷ năm sau cũng không thể khác được, Bát Chánh Đạo ngài đã nói thì vô lượng kiếp không thể sai khác được, chỉ có tâm chúng sanh vô minh, tham ái, chấp thủ không đi theo Thánh đạo nên pháp mới diệt chứ thật ra pháp không diệt, vì tâm chúng sanh không chấp nhập cái pháp, không tu học cái pháp, lãnh quên pháp nên gọi là mạt pháp.
Thế Tôn ví dụ hình ảnh một người rơi vào hố phân cao quá đầu, từ đầu đến chân chìm trong phân dơ bẩn, bẩn thỉu, có một người vì lòng thương, vì muốn người đó thoát khỏi khổ đau muốn kéo lên nhưng tìm không thấy chỗ nào không dính phân. "Một người khác đi đến, muốn lợi ích, muốn hạnh phúc, muốn người ấy an ổn khỏi các khổ ách, muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân ấy", đọc câu này chúng ta phải hiểu không phải Thế Tôn không có tâm từ với Đề-bà-đạt-đa, không phải từ bi là người nào cũng cứu được, Thế Tôn vì muốn lợi ích, vì muốn hạnh phúc, vì muốn an ổn, vì muốn người đó thoát khỏi khổ đau mà ngài đi tới đi lui trên hố phân và tìm một chỗ nhỏ để kéo lên mà không thể vì người đó đã lún sâu xuống pháp đen, pháp ác, những bất thiện pháp, không chỗ nào có thiện pháp dù nhỏ như sợi lông đuôi ngựa.
"Thế Tôn nói như sau:
- Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: 'Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện'. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: 'Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và pháp thiện sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy'. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai".(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Khi ngài nhìn một người thì ngài sẽ biết người này có những thiện pháp nào, có những bất thiện nào, thời gian sau thì thiện pháp biến mất nhưng pháp ác lại hiện hữu. Tuy nhiên cội gốc thiện pháp vẫn chưa mất mà sẽ được khởi lên lại, tức là người này còn cứu được, còn tu được, người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Đó là lý do ngài không độ thì thôi mà độ ai là người đó vào ngay Thánh quả vì ngài nhìn là biết người đó như thế nào, còn mình bây giờ nhìn không thấy gì cả mà muốn độ người ta.
"Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể biết những hột giống này sẽ được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: 'Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện'. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: 'Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu. Nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và thiện pháp sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy'. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Giai đoạn đầu vừa có pháp thiện vừa có pháp bất thiện, sau một thời gian thì pháp bất thiện biến mất, các pháp hiện vẫn hiện hữu. Đây là chỗ sâu sắc, nếu nhìn bên ngoài là thất bại hoặc nhìn sơ sơ trong tâm cũng thất bại luôn, mình tưởng hết sân nhưng cội gốc của nó vẫn chưa bị cắt đứt. Nhìn bề ngoài, bề nổi ở trên thì pháp bất thiện biến mất, các pháp thiện đang có mặt nhưng cội gốc bất thiện vẫn chưa cắt đứt, các pháp bất thiện lại có dịp được khởi lên. Chúng ta đừng tự tin khi mình chưa sạch hết các lậu hoặc, mình tu được một chút pháp lành, pháp thiện thì cho rằng mình giỏi rồi, ngon lành rồi là mình sẽ chết với nó, trong tương lai người này sẽ lùi lại và rơi xuống và Đức Phật nhìn là ngài thấy, ngài biết những điều này.
"Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất đầy sỏi đá. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này sẽ không có thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Không phải ai tu cũng chứng Thánh phải, không phải ai tu cũng diệt được tham, sân, si dù cho tu đúng chánh pháp chứ đừng nói chi tu không đúng chánh pháp. Những người phát tâm đi tu rất quyết liệt, sơ tâm rất đẹp nhưng qua thời gian thì tâm đó không còn nữa, các thiện pháp biến mất nhưng mình lại không nhìn thấy những sự tiềm ẩn, tiềm tàng này. Chỉ có nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc thì mình mới đọc được những thầm ý, những suy nghĩ, những cảm giác nhỏ nhiệm, nhìn thấy ngồi nghe pháp trang nghiêm nhưng trong tâm lại có những cảm giác chống đối mà mình không nhìn sâu vào là không biết, có những vị trình pháp khi đến phần quán từ bỏ ngũ uẩn là trong tâm khởi lên suy nghĩ "bỏ hết thì tiếc", "tu gì buồn quá vậy, không có mùi vị gì cả", những ngầm ý đó, những lời nói lầm thầm đó phải được nhìn thấy, đối với sân, tham lam, bản ngã cũng phải nhìn ra được những cái thầm ý ngấm ngầm, những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ, hình bóng, những cảm xúc, nhận thức trong đó cho nên dù có là hạt giống tốt nhưng gieo trên mảnh đất đầy sỏi đá cũng không thể phát triển được.
"Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: 'Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện'. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: 'Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục'". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Người này không có bất kì pháp trắng nào dù nhỏ như đầu sợi lông, người này thành tựu những pháp bất thiện, chỉ thuần một màu đen nên khi thân hoại mạng chung sẽ rơi vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ của địa ngục.
" Ví như, này Ananda, các hột giống bị bể vụn, bị hư thối, bị gió và sức nóng phá hoại, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này không thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có thể tuyên bố ba hạng người khác đồng loại với ba người này hay không?
- Có thể được, này Ananda" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (VIII). Lời Cảm Hứng)
Trong bài kinh này chúng ta có thể thấy được trí tuệ của Phật và cũng thấy được nội tâm của chúng sanh, càng thấy được nội tâm chính mình, càng thấy rõ sự cẩn trọng trong sự tu học, không được tu học hời hợt, không nhìn nội tâm một cách qua loa. Ở đây chúng ta thấy được ba hạng người là ba đề mục để chúng ta quán chiếu và nhìn lại tự tâm mình cũng như những người xung quanh mình.
Hạng thứ nhất là các thiện pháp bị biến mất và các pháp bất thiện hiện hữu, mình nhìn thấy người đó hung dữ, ương ngạnh, ngang bướng, thấy giống như người đó không hiền nhưng người này có gốc thiện, còn có thể giúp được, còn có thể tu được. Nhìn bên ngoài giống như không có tu, giống như người không tốt nhưng gốc thiện của người này còn, đang có và gốc thiện chưa mất đi nên nó sẽ sanh khởi lên khi đúng nhân đúng duyên, đúng lúc đúng thời. Trong chúng ta có những người ngày xưa hung dữ, không biết tu gì cả nhưng may mắn gia đình có người thân qua đời, được tiếp xúc với chư Tăng, chư Ni, được nghe những bài kinh Sám hồng trần.
"Khi nào liệt liệt oanh oanh,
Bây giờ một trận tan tành gió mưa.
Khi nào du lịch giang hồ,
Bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài"
(Sám Hồng Trần)
Mình nghe rồi mình thấy thấm thía, mình thấy hay thì từ từ căn lành của mình sẽ nảy nở, hạt giống tốt sẽ nảy mầm, phát triển, như vậy người này sẽ được sanh khởi thiện pháp từ gốc thiện lành đó. Khi đã sanh khởi lên được thiện pháp thì người này không bị thối lui, không bị rơi ngược trở lại cái xấu ác nữa.
Hạng thứ hai là vừa có pháp thiện pháp vừa có pháp bất thiện nhưng thời gian sau thì pháp bất thiện biến mất, pháp thiện hiện hữu. Có những người tu một thời gian tinh cần, nỗ lực, nghiêm chỉnh, không còn tánh xấu như lúc trước nhưng cội gốc bất thiện vẫn chưa được cắt đứt nên thời gian sau các pháp bất thiện khởi lên trở lại. Có những người tu lúc đầu rất hiền lành, dễ thương, có đức hạnh nhưng tu một thời gian bị dính vào danh lợi, tiền tài, vật chất, bản ngã, ở đây nói cả cư sĩ lẫn xuất gia chứ không phải chỉ có người xuất gia hay chỉ nói cư sĩ.
Nhiều khi bình thường, dễ thương vô cùng nhưng được bầu lên làm trưởng nhóm, huynh trưởng thì thời gian đầu cũng còn dễ thương nhưng sau đó hết dễ thương, như vậy gốc bất thiện pháp chưa được cắt đứt nên nó sanh khởi trở lại thì người này sẽ rơi xuống trong tương lai. Cái này nếu nhìn rộng ra là rất nhiều, khi mình còn khó khăn thì ăn ở hiền lương, nghĩa tình đậm đà với hàng xóm nhưng khi giàu lên rồi không chơi với ai, đổi tánh, "giàu đổi bạn, sang đổi vợ".
Mới được một chút phước lại còn không cẩn thận kiểm soát thân tâm của mình, bắt đầu buông thả thì những pháp ác sanh khởi trở lại, đưa mình lùi lại và rơi xuống, có những người nằm ngoài vỉa hè trên chiếc chiếu rất nhỏ nhưng ngày xưa là đại gia một vùng, tiếng tăm vang dội, bây giờ bệnh nan y, không có tiền uống thuốc, bữa đói bữa no. Cái thiện, cái ác, cái giàu, cái nghèo, cái tội, cái phước phải đưa vào những trường hợp này để chúng ta biết, để chúng ta tu. Mình có phước là kết quả của một chút thiện pháp mình làm được rồi minh buông lung, thả lỏng, không còn sợ nhân quả nghiệp báo thì lúc đó mình bị lùi lại và rơi xuống. Đó là vật chất, còn đối với sự tu cũng vậy, lúc mới tu thì tâm rất dễ thương, hiền lành, làm gì cũng rụt rè, e dè, cẩn thận như người vợ trẻ mới về nhà chồng, xấu hổ, cẩn thận với mẹ chồng, cha chồng, anh chị em chồng, thậm chí với cả người làm công.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: "Hãy đi đi, các người có biết được gì!".
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV). Người Vợ Trẻ)
Lúc mới đi chùa thì hiền lành, dễ thương nhưng đi chùa một thời gian là hết hiền lành, dễ thương "chùa của tôi, tôi ở đây công quả 20 năm rồi", "thầy của tôi", "tôi tu pháp môn này", bản ngã sanh, ngã sở sanh, cao thấp hơn thua sanh. Người xuất gia mới đầu thì cung kính, hiền hòa, từ ái nhưng thọ giới lớn là vỗ ngực xưng tên ta là thầy, ta là sư cô. "Hà nãi tài đăng giới phẩm, tiện ngôn ngã thị Tỳ-kheo" nghĩa là tại sao vừa được giới phẩm lại tùy tiện cho mình là bậc Tỳ-kheo? Đó là do gốc rễ của bất thiện pháp, ác pháp chưa được cắt đứt hoàn toàn cho nên có cơ hội là nó nảy mầm, vì thế chúng ta cần phải rất cẩn thận. Nếu cắt được gốc rễ của nó là vào các tầng Thánh quả, cho đến Thánh quả thứ ba mới hết tham, sân.
Vì vậy chúng ta không thể tu học qua loa, xem thường như cưỡi ngựa xem hoa, gieo duyên, người xưa nói làm phước mà không tu huệ, không lo tu tập, nhiếp phục tham, sân, si thì chỉ làm phước bên ngoài, đó là kẻ thù của đời thứ ba, nghĩa là đời này làm phước rất nhiều thì đời sau hưởng phước, đến đời thứ ba là đọa cho nên làm phước thiện bên ngoài rất tốt nhưng tu tập quay trở lại nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã là rất quan trọng. Muốn hết khổ thì phước huệ phải song tu, bi trí song vận, giống như con chim có hai cánh mới bay được, cái xe tối thiểu phải có hai bánh mới chạy được.
Có nhiều người chỉ thích làm từ thiện chứ không thích ngồi thiền, không thích nghe pháp, có người thích nghe pháp, ngồi thiền nhưng không chịu làm phước, đây là chỗ chúng ta cần để ý, phải cẩn thận ở chỗ Đức Phật nói cội gốc bất thiện chưa được cắt đứt thì các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ các pháp bất thiện đó. Cho đến khi nào tâm mình hoàn toàn diệt tận hết tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái thì lúc đó mình mới tự tin hoàn toàn, không còn lo sợ gì nữa, lúc đó đại tự tại, đại vô quý, việc cần làm đã làm xong, còn giờ nhìn lại trong tâm còn ham muốn, nóng giận, còn đủ thứ thì mình phải lo lắng, còn đề phòng, canh chừng, kiểm tra, còn theo dõi những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư của mình, theo dõi lời nói, hành động, ý nghĩ của mình rồi nhiếp phục, chế ngự nó.
Đức Phật ví dụ hạt giống gặp được mảnh đất tốt thì nảy mầm, còn ví dụ thứ hai là hạt giống được gieo lên mảnh đất sỏi đá thì không thể phát triển được, cho nên chúng ta có mảnh đất phì nhiêu, chúng ta có mặt ở đây thì tam bảo gọi là vô thượng phước điền, Đức Thế Tôn là bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người, là ruộng phước vô thượng thứ nhất của tất cả Thánh hiền, chánh pháp là ruộng phước thứ hai, vô thượng, tối tôn, là đệ nhị tối thượng phước điền, các bậc tu hành đúng chánh pháp của Đức Phật, có đầy đủ bốn tánh chất "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời" là đệ tam tối thượng phước điền giữa chư thiên và loài người. Đây là ba mảnh ruộng phì nhiêu, đầy dưỡng chất để tất cả chúng sanh được gieo trồng, được cấy, được gặt, từ đó chúng ta mới tăng trưởng, mới nảy mầm lớn mạnh cây Thánh pháp, cây giác ngộ của chúng ta.
Qua bài kinh này chúng ta thấy được lời nói của Đức Phật tuyên bố là không thể sai khác được, những lời Đức Phật nói trong kinh Nikāya này ngàn tỷ năm sau cũng không thay đổi, không đổi khác được. Chúng ta cần cẩn thận đối với nghiệp quả qua hình ảnh Đề-bà-đạt-đa không còn một chút nào pháp trắng dù chỉ bằng sợi lông ngựa. Chúng ta phải cố gắng tu tập càng nhiều pháp trắng càng tốt, bên ngoài là làm phước, bên trong là tu trí tuệ để nhiếp phục cảm thọ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, luôn thực hành cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, từ bi, tâm thương rộng lớn để mầm giác ngộ của mình nảy nở, hạt giống được nảy mầm, cây Thánh đạo, đạo thọ của mình được lớn mạnh, được xum xuê trong Thánh pháp.
./.