KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - SOI GƯƠNG RỬA MẶT - KINH TỔN GIẢM 2
NIKĀYA GIẢNG GIẢI
SOI GƯƠNG RỬA MẶT – KINH TỔN GIẢM 2
–Thích Minh Thành–
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán xét năm triền cái PAGEREF _Toc209343978 \h 1
II. Sức mạnh của an tịnh PAGEREF _Toc209343979 \h 6
III. Thành tựu trí về ngũ uẩn PAGEREF _Toc209343980 \h 10
I. Quán xét năm triền cái
Chúng ta đang được nghe bài kinh Tổn Giảm – Tăng Chi Bộ – Tập 4, đến đoạn: “Và này chư Hiền, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?”. Một vị Tỳ-kheo phải có sự quán sát như thế nào để có được nhiều lợi ích trong các thiện pháp
1. Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có?
Mỗi một ngày trước khi ngủ, mình phải ngồi tĩnh lặng soi rọi lại trong suốt một ngày qua, mình sống nhiều với tham muốn hay sống với sự ly tham, lìa tham, không có tham. Mỗi một nửa ngày từ khi mình thức dậy đến lúc thọ trai, dùng cơm xong, chuẩn bị nghỉ trưa, khi nằm xuống, hãy soi rọi, kiểm xét lại từ sáng đến trưa nay mình sống nhiều với tham dục, tham muốn, những đòi hỏi hay là sống nhiều với sự không tham, ly tham, lìa tham, đoạn tham, diệt tham, vượt ra khỏi tham, xuất ly tham, viễn ly tham hay là mình sống trong ham muốn. Mỗi một nửa ngày mình phải quán chiếu như vậy cho đến một giờ mình phải soi rọi lại cảm giác nghĩ tưởng trong tâm mình, có nhiều ái luyến không? Có nhiều sự ưa thích, ham thích, muốn, mong muốn, đòi hỏi, tìm tòi không? Có nhiều sự thúc dục ở bên trong không? mỗi một giờ soi rọi lại tâm như vậy. Sự soi rọi này, sự quán sát như vậy được nhiều lợi ích trong các thiện pháp “này chư Hiền, Tỷ-kheo có quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp”.
Mỗi một suy nghĩ sanh khởi lên trong đầu, phải quán sát suy nghĩ này có dục, có tham, có ái không? Nếu có mình phải chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch. Đó là công phu tu tập của người xuất gia, mỗi một ý niệm, mỗi một cảm giác, mỗi một hình bóng trong tâm, đó chính là nhận diện ngũ uẩn, nhìn nhận lại những hành vi cử chỉ trên thân thể, nhìn nhận lại những suy nghĩ nói thầm trong tâm, nhìn nhận lại những cảm giác đang có mặt, nhìn nhận lại những hình bóng, những tưởng đang hiện diện ở nơi nội tâm mình, nhìn nhận lại những nhận thức rõ biết, đó là nhận diện ngũ uẩn khi có dục tham ái sanh khởi. Đây là pháp hành rất quan trọng của đời tu người xuất gia, nếu chúng ta không biết pháp hành, không biết như lý quán sát, nhìn nhận thân tâm một cách đúng đắn, chính xác, chân xát, sâu sắc, tế nhị, nhỏ nhiệm thì lâu ngày đời tu của mình bị thảm bại, thê lương, càng ngày ái càng sanh khởi, dục càng sanh khởi, tăng trưởng, phát triển. Rời xa với đời sống ly tham của người xuất gia không đạt đến cứu cánh Phạm hạnh của một người khất sĩ, nội tâm là một đống rác to lớn, tràn đầy những tham muốn dục vọng. Đó là sự thất bại thê thảm của người xuất gia, sự đau đớn, cay đắng, tủi nhục của người xuất gia. Cho nên bài kinh này là pháp hành quan trọng cốt lõi trong sự hành trì tu tập, chúng ta phải nắm vững bài kinh này.
Minh Thành thưa với quý sư cô, trong giây phút này Minh Thành chỉ còn đảm nhiệm lớp của chúng ta thôi, đây là lớp duy nhất trong trường này, nếu chịu tu học thì Minh Thành có mặt, còn không chịu tu học thì Minh Thành xin tạm biệt, vì đây là pháp hành mà không có thực hành thì không có tương ưng với pháp. Minh Thành đã chào biệt hai lớp buổi sáng rồi, Minh Thành mong rằng các cô nhận được tâm huyết của Minh Thành.
2. Có phải ta sống nhiều với tâm không sân? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Đây là mình quán năm triền cái, Minh Thành đã nói về năm triền cái ở buổi trước, lúc đó Minh Thành đang bị ho nhiều nên không đủ sức để khai triển. Mỗi một nửa ngày, mỗi một giờ, mỗi một suy nghĩ, mỗi một cảm giác, mỗi một hình bóng trong tâm mình phải luôn quán sát, kiểm soát, rà soát, kiểm toán, kiểm kê, kiểm điểm, kiểm tra tâm mình, có hay nóng giận, có những ý nghĩ tức giận, sân giận không? Có cảm giác bức xúc, bực bội, khó chịu người khác không? Nếu có thì lập tức tác ý, đánh đuổi: “Nhục nhã thay cho ta, ở chùa năm, bảy, mười năm mà ai chạm vào là sân hận, sân si, thiêu đốt, phát hỏa lên, thật là tồi bại, xấu hổ, hèn hạ, thấp kém”, phải tác ý như vậy, la rầy tâm sân hận, tâm tức giận, tâm bốc lửa đó phải được quở trách, giáo dục, dạy dỗ, tẩy sạch. Mỗi lần tâm sân giận sanh khởi là thấy xấu hổ, muốn độn thổ, vào soi gương nhìn xem khuôn mặt đang trong lúc tức giận thì như thế nào, nói chuyện với tâm mê “Này, tâm mê nhìn cái mặt trong khi sân giận có dễ thương không? Tu hành mà sân hận, với hình tướng đầu trọc mà sân hận, nhìn kỹ xem có giống người tu không?”. Quở trách, giáo dục, dạy dỗ tâm, rời xa năm triền cái, thấy sự tức giận là một pháp hèn hạ, hạ liệt, thấp kém, phàm phu, ngu si. Thấy những cảm giác tức giận sân hận đó là những pháp thật là ngu si, dại khờ, vô minh, không thể chấp nhận. Làm cho khởi lên tâm thương xót chính mình, thương xót cơn sân giận của mình, thấy mình là kẻ đáng thương khi trong tâm mình còn sanh khởi những cái sân hận, bực bội này. Mình thật đáng tội nghiệp. Mình là nạn nhân của những cơn giận, bị cơn giận xâm chiếm, áp đảo, đè bẹp, đốt cháy, mình không muốn cơn giận này dẫn dắt mình, làm chủ mình, sai khiến mình. Mình phải làm chủ cơn giận, mình phải nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận cơn giận này bằng sự quán chiếu về tâm từ, trải tình thương cho chính mình, thương mình thật nhiều, chứ đang giận thì làm sao trải tình thương cho người được, không thể được. Cho nên quay lại thương mình, thương cho tâm ngu si, sân hận, nóng bức, nhiệt não, bức xúc đang có mặt bên trong mình, soi gương, nhìn mặt và nói chuyện với tâm: “Mày là kẻ đáng thương, nhìn kỹ mặt để thấy mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh này, nhìn kỹ bản mặt đang tức giận đi, cạo đầu, bỏ cha, bỏ mẹ vào chùa tu mà hở một chút là sân, hở một chút là giận, nổi nóng, phựt lửa lên, thật là tồi bại, nhục nhã”, tác ý quở trách tâm sân hận như vậy, la rầy hoài, cho đến khi tâm sân hận thấy mắc cỡ không dám sanh khởi trở lại nữa, mỗi khi sanh khởi là bị la nên hoảng hồn bỏ chạy mất. Đó gọi là ly sân tư duy, là chánh tư duy, là Thánh tư duy, là sự suy nghĩ của bậc Thánh, là sự suy nghĩ chân chánh, là sự như lý tác ý thần thánh, vi diệu, Thánh tuệ, đó là công phu tu tập của chúng ta.
Nhìn vào trong gương, nhìn kỹ chiếc áo đang mặc, cái đầu trọc, cái gương mặt đang sân hận, gương mặt đang bốc lửa, gương mặt tàn hại thê thảm, đại bại, nhìn kỹ đi xem có hèn hạ, nhục nhã không? Dục sanh khởi lên cũng chửi, nhìn cho kỹ đi, với cái đầu trọc mà còn ham muốn những thứ giống như người thế gian ngoài đời thì có tồi bại, nhục nhã, xấu hổ không? Khi ngồi thiền thì la mắng, chửi rủa tâm mình như vậy đó, đồ ngu si, dục vọng, sân hận. Rồi bản ngã sanh khởi lên khi xúc với huynh đệ, tỷ muội chạm đến là ta đây lên “biết tôi là ai không? Tôi ở đây bao nhiêu năm rồi biết không?”, sanh khởi bản ngã, vênh váo, hống hách, ta đây. Soi gương thấy có nhục, hèn hạ, đê tiện không? Đi tu mười năm rồi mà hở một chút là hơn thua, đúng sai, ta đây, tranh giành phần thắng từng chút với các bậc đồng Phạm hạnh, thật là bẩn thỉu ngu si, vậy thì đừng tu nữa, ra ngoài đời mà hơn thua với người ta. Hôm nay chúng ta được truyền bí kíp võ công đó chúng ta có thấy chưa? Đó là thần lực, Thánh tuệ, là suy nghĩ của bậc Thánh, chánh tư duy là sự suy nghĩ chân chánh của bậc Thánh để ly dục, ly sân, ly tham, ly bản ngã.
Chúng ta có dám la mắng tâm mình như vậy không? Phải dám la mắng quở trách thì mới gọi là tu, là tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ. Tu mà đúng chánh pháp là bầm dập hết, mình day dứt, đau khổ, ưu tư, chiến đấu từng giây, từng phút với những ý nghĩ, cảm giác, suy tư của mình. Bậc chân tu là luôn chiến đấu trong từng ý niệm, từng cảm giác, chiến thắng từng hình bóng trong tâm, chứ không phải tu là chỉ biết hướng ra ngoài làm cái này cái kia, mà trong tâm thì hoàn toàn không thấy, không biết gì hết, dục không thấy, tham không thấy, sân không thấy, bản ngã chình ình một đống không thấy, ai chỉ cho là sân ầm ầm lên, đỏ mặt, tía tai: “ Tôi sân hồi nào? tôi giận hồi nào? tôi bản ngã hồi nào? ai bản ngã?”. Đó gọi là tu mù.
3. Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên đã từ bỏ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Kiểm tra lại có phải ta sống nhiều với sự rã rượi, buồn ngủ, gà gật, ngồi đâu ngủ đó, si si mê mê. Đồng thời dùng pháp như lý tác ý phải la, trách, mắng, chửi tâm ngu si, si mê đó, phải tác ý đánh đuổi nó ra, tất cả là đều phải dùng như lý tác ý, là pháp tổng cương lĩnh trong pháp hành Nikāya. Sau khi nhận diện năm uẩn, nhìn thấy sắc thọ tưởng hành thức, phát hiện ra chỗ cấu nhiễm, rác bẩn, dùng như lý tác ý tận lực diệt trừ năm triền cái: dục tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi.
Trạng thái mơ hồ, đơ đơ, ngáo ngáo, leo lên bồ đoàn ngồi thì gục lên gục xuống, lên tụng lăng nghiêm, đứng gõ mõ một hồi văng luôn chùi gõ. Ở trong chùa lâu năm chứng kiến được những cảnh rất đặc biệt, đứng tụng kinh mà cũng chuối nhũi xuống vì ngủ gục, hồi xưa còn có cảnh các chú tiểu bị liệng dùi…cho nên mình phải luôn kiểm tra tâm, để cho tâm được tỉnh táo, sáng suốt.
Ngài Ananda được tôn xưng là đa văn đệ nhất, là bậc nghe nhiều số một trong hàng Thánh chúng đệ tử, vì khi Ngài nghe pháp tâm Ngài không có năm triền cái, khi Ngài nghe Đức Phật thuyết pháp, tâm Ngài không có dục tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi đối với Pháp, chính vì vậy trong khi nghe pháp tâm ngài sáng suốt, Ngài ghi nhớ được tất cả những lời Phật dạy, không bỏ sót một chữ nào, người đời sau xưng tán Ngài Ananda bằng bài kệ:
Diện như thu mãn nguyệt
Mục tợ thanh liên hoa
Phật pháp như đại hải
Lưu nhập A-nan tâm.
Dịch nghĩa:
Mặt như trăng thu đầy
Mắt tợ hoa sen xanh
Phật pháp như biển cả
Rót vào tâm A-nan.
Trong sự tu của chúng ta đoạn tận được năm triền cái là tuyệt đối quan trong. Mình không biết năm triền cái là cái gì thì vĩnh viễn ở ngoài cửa chùa, dù có ăn hết gạo, cơm cháo cũng chỉ là kẻ đứng ngoài cổng chùa mà thôi. Năm triền cái mà không biết thì làm sao mà diệt. Năm triền cái này Minh Thành đã có chia sẻ trên trang Linh Quy Pháp Ấn khoảng mười lăm buổi cho lớp Cao đẳng Tăng, chúng ta về nghe kỹ lại, thức ăn của năm triền cái, phương pháp đoạn tận năm triền cái đều được chia sẻ đầy đủ. Về chuyên đề của năm triền cái, Đức Phật sẽ nói cho chúng ta biết tại sao có tham, thức ăn của tham, tại sao có sân, thức ăn của sân là gì, tại sao có thức ăn của hôn trầm, buồn ngủ, trạo của lăng xăng hay là hoài nghi, thức ăn của nó là gì, làm sao cho nó chấm dứt và cách chấm dứt chúng bằng phương pháp nào, đều được Đức Phật chỉ rõ, ở đây chúng ta không có nhiều thời gian, chỉ có nói một cách tổng quát như vậy.
Trong sự tu bước đầu tuyệt đối quan trọng là đoạn tận năm triền cái, mà nếu không biết nhận diện năm uẩn thì không biết tham như thế nào thì làm sao đoạn được, không biết sân nằm chỗ nào thì làm sao mà đoạn, hôn trầm sanh khởi lên nhập cuộc với hôn trầm thì ngủ gục luôn, trạo cử sanh khởi là buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, làm sao mà chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch chúng được, như vậy thì vĩnh viễn và mãi mãi ở trong năm triền cái không bước vào được tầng thiền thứ nhất, sơ thiền, ly sanh hỷ lạc, mãi mãi không nếm được hương vị của thiền, sự an lạc của xuất ly, viễn ly, xả ly, đoạn ly đối với các dục. Tu mà vẫn khao khát, thèm thuồng những thứ thế gian mong muốn thì bị chết giữa dòng, dục lạc không có, pháp lạc thiền vị cũng không nếm được, “lưỡng đồ câu thất”, hai đường đều mất, chết giữa dòng.
Thượng toạ Chơn Thanh thường kể câu chuyện về con chó bơi qua sông khi nghe nhà bên kia sông bốc mùi đồ ăn ngon, bơi được đến giữa dòng lại nghe mùi đồ ăn ngon bốc lên từ nhà bên này sông, nó bơi qua bơi lại giữa dòng sông vì bên nào cũng có đồ ăn ngon và bên nào cũng muốn qua. Cuối cùng đuối sức bị chết giữa dòng sông. Đời tu mình cũng giống như vậy nếu không thành tựu chánh tri kiến, không thấy được, sự nguy hại của dục, những nguy hiểm và tác hại của những dục lạc thế gian thì cũng loanh quanh như vậy, lúc thì muốn tu giải thoát, lúc thì cũng ham muốn những dục lạc, cuối cùng thì dục lạc thế gian cũng không hưởng được giống người đời mà thiền vị, pháp lạc cũng không nếm được, cuối cùng ẩn dương nương Phật, chết dần, chết mòn trong chốn thiền môn cô quạnh, đáng thương lắm. Quan trọng là vấn đề phải tập trung tâm lực vào sự nhiếp phục và đoạn tận năm triền cái.
II. Sức mạnh của an tịnh
4. Có phải ta sống nhiều với không trạo cử? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với sự an tịnh lắng dịu hay là ta sống nhiều với sự lăng xăng, tất bật, vội vã, náo động, động loạn, hấp tấp, vội vàng…là những biểu hiện của trạo cử, có chuyện gì một chút thôi cũng lăng xăng, lính quýnh. Một ví dụ đơn giản, bây giờ có con chó chạy vào đây thì tâm đại chúng có yên tĩnh nghe pháp không? Hay hướng hết tâm vào con chó? Hay nghe một tiếng ồn lớn là tâm mình hướng theo tiếng ồn đó, đó là nói những cái động loạn ở bên ngoài chưa nói đến những cái bên trong tâm, ngồi nghe pháp mà tâm ngu ngơ, mộng mơ hướng ngoại, không thì ngồi được một chút là lắc chân, lắc tay, gãi, khát nước, quay tới, quay lui, nhìn qua, nhìn lại, đó là thân trạo cử, ngồi không yên, không có tịnh chỉ các hành, không có an tịnh lắng dịu, thân xao động, lăng xăng động loạn, còn tâm trạo cử là hết nghĩ cái này đến nghĩ cái kia, hết tưởng cái này đến tưởng cái nọ, hết suy tư cái này đến tính cái khác. Chẳng hạn như còn nắm phút nữa mới hết giờ mà thân tâm bắt đầu nhúc nhích, ngồi không yên, nhớm tới, nhớm lui, xếp tập, cặp bỏ hết vào trong giỏ, đó là trạo cử thô. Tất cả những hành động đó đều phải được diệt tận, đều phải chế ngự, nhiếp phục không cho chúng hành động, khi nghe tiếng chuông reo vẫn tập cho tâm an tịnh lắng dịu, phải thường tác ý, cái gì cũng phải tu tập.
Tu tập, tập là làm tới làm lui, tập làm cho đến khi nào được thì thôi, giống như việc tập lái xe, làm bánh, nấu cơm, may đồ, còn tu là sửa lại, chỉnh lại cho nó hết hư, tu sửa, tu chỉnh, giống như cái xe đang chạy bị hư máy không chạy được nữa mình phải sửa lại cho xe chạy được lại là hết hư. Mình phải có sự tập, tập “an tịnh lắng dịu”, niệm câu này thường xuyên và liên tục khi đi đứng ngồi nằm đều phải niệm, thân an tịnh, tâm lắng dịu. Đi trong sự an tịnh không có sự thúc giục, vội vã, lăng xăng, gấp gáp, gấp rút, đi trong trạng thái như vậy an tịnh, thảnh thơi, nhẹ nhàng, đi như vậy gọi là thiền đi, thiền hành, muốn được bước thiền như vậy thì phải thực tập, chứ không có cách nào khác. Bước đi của Minh Thành đã tu tập được 30 năm cho đến bây giờ vẫn còn để ý tập, không cho đi vội vã, lăng xăng, gấp rút mà bắt đi trong thong thả, nhẹ nhàng, chánh niệm, gọi là niệm oai nghi trong Tứ niệm xứ: “Vị Tỳ-kheo khi đi phải biết mình đang đi, đứng phải biết mình đang đứng, ngồi phải biết mình đang ngồi, nằm phải biết mình đang nằm, biết rõ việc mình đang làm”, nói phải biết mình đang nói, nói về cái gì, không phải cầm Mic. lên là nói miên man, mông lung, nói chuyện thời xa xưa, đông chu liệt quốc, người ta hỏi cái gì thì trả lời cái đó, đừng nói lời dư thừa, nói phù phiếm cũng phạm giới, nói những lời vô nghĩa, vô ích, không có lợi lạc, lời nói mà không đưa đến đoạn giảm tham sân si, đoạn tận tham sân si, lời nói như vậy là phạm giới, nói dài, nói dai, nói dở thành ra nói dại, nói dóc, vô duyên mà cứ nói hoài, người nghe phát mệt, không kiểm soát được cái dục nói ở bên trong. Thiệt là khổ, thấy thương và tội nghiệp, nói trong dục, trong sân giận, trong bản ngã, trong hơn thua, trong đúng sai. Lớp suy nghĩ ở bên trong, lớp lời nói ra bên ngoài, lớp thì hành động của thân, cứ giao động hoài không an tịnh lắng dịu được, cho nên chúng ta cần phải niệm thường xuyên câu “an tịnh, lắng dịu, dễ chịu”, mỗi bước chân khi đi, khi rửa chén, khi quét nhà đều phải ngưng lại để nhắc nhở tâm, an tịnh, lắng dịu. Mỗi khi bị chỉ trích mình nhắc tâm an tịnh lắng dịu, không vội trả đũa, không vội phản kháng, phản ứng, phản pháo, phản kích, phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, uống nước cũng phải an tịnh và lắng dịu, không phải đưa chai lên miệng tu ực ực, hành động đó cũng là trạo cử. Minh Thành quán sát từng cử chỉ, hành động của các sư cô nhưng Minh Thành không có nhìn, cho đến khi nào lớp đứng lên ra về mà không gây ra tiếng động, thì lúc đó mới tạm gọi là thành công của bước sơ cấp, vỏ ngoài của Phạm hạnh.
Hôm đó các thầy Tỳ-kheo đang pháp đàm sau buổi thọ trai, Đức Thế Tôn đứng chờ ngoài cửa mà các thầy không hay biết, các thầy nói đến 2-3 tiếng đồng hồ, Ngài chờ cho đến buổi pháp đàm xong Ngài bước vào trong và nói:
Ta chờ các thầy lâu quá ta mỏi lưng
Các thầy mới nói:
Bạch Thế Tôn, Ngài không nói để chúng con biết
Đức Phật:
Ta tôn kính Pháp, tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, nên ta không làm gián đoạn buổi pháp đàm của các thầy.
Lúc đó Đức Thế Tôn đã lớn tuổi rồi, chờ lâu quá Ngài bị đau lưng, qua câu chuyện này chúng ta thấy có biết bao nhiêu khía cạnh để học hỏi, nhưng ở đây chúng ta chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh an tịnh lắng dịu. Thứ nhất là Đức Thế Tôn rất cung kính pháp, cho nên Ngài chứng được Vô thượng Pháp luân, người bất kính với Pháp không thể nào thành tựu được Pháp. Thứ hai, Đức Thế Tôn tuy là bậc Đại đạo sư, bậc giáo chủ, là bậc Tối thượng của nhân thiên và Tam giới, nhưng Ngài đi đến không ai biết, đứng ngoài cửa chờ, còn mình đi đến đâu thì trống kèn dữ lắm, chưa đến cửa đã đánh tiếng từ xa: “Tôi đây nè, thấy tôi không? Thấy ai đang đứng ở đây không? Tôi đâu phải là không khí mà không thấy?”. Bị công an phạt, hỏi ngược lại công an: “ Có biết tôi là ai không?”. Chúng ta là người tu phải tập sự an tịnh, lắng dịu trong tất cả mọi hoàn cảnh. Trong kinh Nikaya nói Đức Thế Tôn là Bậc an tịnh, Ngài thuyết pháp để đưa chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh. Bình thường chúng ta không tập an tịnh lắng dịu, khi tức giận nổi nóng lên, lúc dục vọng, ham muốn, hơn thua sanh khởi, lúc đó không thể nào an tịnh được. Bình thường đã không an tịnh được thì lúc hữu sự làm sao mà an tịnh được. Người tu đạt đến cảnh giới tối cao là ngũ uẩn, an tịnh hoàn toàn, bất động tâm giải thoát. Tức là vị này dù cho cái chết có xảy ra với họ thì tâm của họ vẫn trú được trong cảm thọ an tịnh lắng dịu, không bị giao động, không hoảng sợ, không sợ hãi, không hoảng loạn, không rối loạn, không động loạn vì người này thường quán chiếu ngũ uẩn này là vô thường, là ung nhọt, là mũi tên, là kẻ giết người, là hố than hừng, là rắn độc, là người lạ, là sầu bi khổ ưu não, cho nên người này đạt được tâm hoàn toàn an tịnh lắng dịu, bất động đối với tất cả những biến động của thế gian này. Sự an tịnh, lắng dịu này cũng chỉ cho định lực của chúng ta, sức mạnh của sự an tịnh, sức mạnh của sự trầm lặng, sức mạnh của sự bình thản, bình yên. Chúng ta phải để ý tập thật là nhiều trong sự an tịnh, lắng dịu, trong mọi lúc, mọi nơi, mỗi bước chân, mỗi cái ăn, mỗi sự xuất hiện, mỗi lời nói, cử chỉ, hành động đều phải tập an tịnh, lắng dịu.
Hoà thượng chủ tịch Thượng Thiện Hạ Nhân, Ngài đi đến các chỗ lễ lớn, Ngài mặc áo Nhật Bình, đơn giản, bình dị, âm thầm lặng lẽ, đi vào không ai hay biết, mọi cứ đứng ở ngoài cổng để đón Hoà Thượng chứng minh mà khi Ngài đi vào thì không ai biết, hỏi ra thì Ngài đã đi vào trong giảng đường. Thậm chí Ngài về chùa ở quê lúc hai, ba giờ đêm Ngài cũng không kêu cửa, buổi sáng các thầy ra mở cửa thì thấy có người nằm trên băng đá ngủ, đến gần nhìn kỹ thì ra Hoà Thượng, còn mình bây giờ đi đâu về khuya như vậy, đến chùa điện thoại bao nhiêu cuộc, bấm chuông, gõ cửa mấy lần.
Cố Hoà Thượng Thượng Trí Hạ Tịnh, nghe kể lại ở trong buổi họp, các thầy lăng xăng bàn chuyện này, nói kia, cuối cùng thỉnh Ngài lên, Ngài chỉ nói một câu: “Sao không nghe ai nói chuyện tu gì hết?”. Các bậc tôn đức từ xưa và nay đều ở trong một nội tâm rất là trầm lặng sâu sắc. Cho nên từ trong chiếc ghế nhà trường chúng ta phải tập sự an tịnh lắng dịu, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã - năm khiêm. Tập sự an tịnh, lắng dịu trong mọi hoàn cảnh, khi bị người xỉ thẳng mặt, dù có bị vu oan, vu khống gì cũng từ từ, bình tĩnh, không vội vàng. Vì trước khi nghe chửi, tâm mình bình thường, vui tươi, tại sao sau khi nghe chửi lại phừng phực, phẫn nộ lên, tại sao lại như vậy, trước đó mình không có bị như vậy, cho nên chuyện gì cũng lắng dịu từ từ, đâu còn có đó, không việc gì phải phùng mang trợn mắt lại, phải trả đũa, phản kháng, làm cho dữ dằn lên. Tập làm sao để có được một đinh lực, đạo lực, thiền lực vững mạnh, tập cho có được một sức mạnh của sự an tịnh và lắng dịu.
Bình thường mình cứ lăng xăng, đến khi hữu sự thì mất hết năng lực, năng lượng, đến lúc cần dùng không có, chỉ biết ngồi một chỗ, còn bình thường mình giữ nội lực, nội hàm, nội công, nội tâm của mình, khi có hữu sự mình đem ra sử dụng, tất cả tiềm lực, công lực, đạo lực, sức mạnh của sự an tịnh và lắng dịu được tu tập, tích tụ, đến lúc cần dùng thì tung ra, thì mới hoàn thành xuất sắc công việc, đừng để chưa ra trận với đủ thứ ham muốn, đến khi nghe tiếng trống xung trận thì hoảng hồn bỏ chạy.
III. Thành tựu trí về ngũ uẩn
5. Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Minh Thành có chia sẻ về nghi ngờ, mình thường nghi ngờ trước kia mình là ai, sau này mình chết đi đâu, mình sẽ ra sao, bây giờ hiện tại mình là ai? Học không đúng sẽ hiểu không chính xác, sẽ hiểu chung chung về nghi ngờ. Trước kia mình là ngũ uẩn, là tổ hợp của tứ đại, sắc uẩn, là những cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ là hành, là những nhận thức. Sau này có chết đi mình cũng sinh trong ngũ uẩn và hiện tại cái thân mình đang mang là ngũ uẩn. Khi xác quyết được trí về ngũ uẩn, mình sẽ thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp, phá vỡ tất cả những nghi ngờ về thân tâm và thế giới. Tất cả không đi ra ngoài ngũ uẩn, dù cho vô lượng, vô biên kiếp nữa cũng chỉ là ngũ uẩn, trừ những bậc xuất ly khỏi ngũ uẩn, những bậc Thánh là đoạn tận ngũ uẩn, đi ra khỏi ngũ uẩn.
Lấy một ví dụ để chúng ta dễ hiểu hơn, mình nhớ lại khoản thời gian mình còn nhỏ, chúng ta sẽ nhớ lại hình bóng, những cảm giác, những nhận thức của ngày xưa, ngày còn nhỏ xíu ngây thơ, dễ thương, rồi bây giờ đi đến với tương lai, hai mươi, hai lăm năm sau mình sẽ là ni trưởng, ni sư, sư bà, với những suy nghĩ, nhớ tưởng về quá khứ và tương lai,thì cũng là sự nhớ tưởng trong sắc thọ tưởng hành thức và hiện tại mình cùng đang sống trong năm uẩn của sắc thọ tưởng hành thức. Tất cả những suy nghĩ của mình là suy nghĩ trong sắc thọ tưởng hành thức, tất cả những gì mình nghĩ về mình đều nằm trong năm thủ uẩn, không đi ra khỏi năm uẩn.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu... không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã... quán thọ như là tự ngã... quán tưởng như là tự ngã... quán các hành như là tự ngã... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... người ấy chạy theo vòng theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi các hành, không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: " Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau
(Tương Ưng Bộ Kinh III – Kinh Dây Thằng
Đức Phật ví dụ giống như con chó bị trói trong cây cột, con chó này có nằm, ngồi, đứng, đi, có làm bất cứ thứ gì đi nữa cũng không rời khỏi cây cột, chúng sanh cũng vậy có đi đứng ngồi nằm, nói ăn uống ngủ nghỉ gì đi nữa cũng không rời khỏi năm thủ uẩn, bị vô minh, tham ái và chấp thủ trong sắc thọ tưởng hành thức này, bị đau khổ, sầu bi, sân si, hơn thua, giành giật, cướp bóc, yêu hận, thương ghét đều nằm trong năm thủ uẩn, không ngoài năm thủ uẩn này. Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán nhìn năm thủ uẩn này là ung nhọt, là bẩn thỉu, là bong bóng, là vết thương, là khổ đau, bất an, lo lắng, sợ hãi, bất toại nguyện, là thiếu thốn là khát khao, là sầu bi ưu não, là tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, đầy rẫy những sự khốn nạn, các Ngài nhàm chán và thoát ra còn chúng ta thì đam mê, khao khát, thèm thuồng, ưa thích, trói trăn ràng buộc ở trong này, đầy nước mắt và máu ở trong năm thủ uẩn này.
Chúng ta là những kẻ đáng thương, là những kẻ bệnh hoạn, bệnh cả thân lẫn tâm, mà không lo trị bệnh, đi đâu cũng vênh váo, tôi ta, chị đại, chị cả, chị lớn, đó là bản ngã đáng thương, dại khờ, ngu si, mê muội, vô minh, tăm tối, bản ngã sinh ra đầy những nước mắt hơn thua, hờn giận, những giành giật, đấu tranh từng chút, một ánh mắt thôi cũng sân si, thù hận, một hành động thôi cũng gây đau khổ, một lời nói ra cũng gây thù hận, thật là đáng thương cho chúng ta, thật là tội nghiệp cho chúng ta, thật là đáng xót xa cho chúng ta, mà chúng ta không biết, sống trong si ám, trong bóng đêm mù loà, trong vô tri, vô thức, cả ngày chỉ biết lo tham sân si, hơn thua, thị phi, tâm này cứ vận hành hoạt động, cứ bốc lửa ở bên trong.
6. Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với phẫn nộ không? chạm đến là sừng sộ, bốc lửa, bốc cháy, nhiệt não, nóng bức, phóng hoả, giết người, đốt nhà, đốt chùa. Hàng ngày đầy dẫy trên mặt báo. Chúng ta nghĩ rằng người này phóng hoả đốt nhà người kia, sự thật không phải là như vậy, không có người nào hết, chỉ là những đống ngũ uẩn, đầy rẫy những ngọn lửa của tham sân si và chính những cảm giác những suy nghĩ đó, đốt cháy, phóng hoả chứ không có ai hết, không có một tự ngã nào hết, chỉ có những cảm giác thiêu đốt, đốt cháy phẫn nộ thúc dục ở bên trong. Và tất cả hữu tình chúng sanh là nạn nhân của những cảm giác phẫn nộ, bốc cháy, thiêu đốt đó, chúng ta đã từng đau khổ với những cảm giác này rất nhiều rồi. Đừng nói chi xa xôi, huynh đệ ở chung phòng mà giận nhau là cảm giác khó chịu, đau khổ, bức xúc vô cùng, vậy mà nuôi dưỡng cảm giác đó, không chịu xả bỏ, ghim gút trong lòng. Trong đạo có câu: “Tăng hận bất cách túc” (Người tu giận không quá một đêm), so với trong kinh Nikāya là chưa chính xác, Trong kinh Nikāya là phải phá sập ngay cảm giác sân hận đó, diệt tận nó liền, không cho cư trú, thì đó mới là người thông minh trí tuệ, còn cái này giận mà cứ chất chứa trong lòng để cho cơn giận đó hành hạ, thiêu đốt, làm mình khổ đau chứ chẳng có gì hết. Nếu muốn nhẹ nhàng, thanh thản, dễ chịu, mát mẻ, ngọt ngào thì phải tu tập tâm hiền, tâm từ, tâm mát mẻ, dễ chịu, lắng dịu, ngọt ngào, thanh lương, tha thứ, hiền lương, tâm thương. Hôm nay chúng ta phải tập cho được sự an tịnh, khi nào tiếng chuông ren lên thì lúc đó chúng ta nhẹ nhàng ung dung, tự tại, đeo đãi lên vai đi từng bước, từng bước thiền hành xuống cầu thang, phải tập được cái đó, nhiếp phục được cảm thọ thúc dục, làm cho thân tâm mình an tịnh, lắng dịu, tịch tịnh, không làm được điều này thì khoan tu cái gì hết, đừng tu cái gì hết. Chúng ta thấy học như vậy có thực tế không, có pháp học, pháp hành rõ ràng chưa, thực tập được ngay tại chỗ, không nói cái gì mà xa vời, xa xôi, viễn vông. Tu như vậy mới gọi là tu./.
SOI GƯƠNG RỬA MẶT – KINH TỔN GIẢM 2
–Thích Minh Thành–
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán xét năm triền cái PAGEREF _Toc209343978 \h 1
II. Sức mạnh của an tịnh PAGEREF _Toc209343979 \h 6
III. Thành tựu trí về ngũ uẩn PAGEREF _Toc209343980 \h 10
I. Quán xét năm triền cái
Chúng ta đang được nghe bài kinh Tổn Giảm – Tăng Chi Bộ – Tập 4, đến đoạn: “Và này chư Hiền, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?”. Một vị Tỳ-kheo phải có sự quán sát như thế nào để có được nhiều lợi ích trong các thiện pháp
1. Có phải ta sống nhiều với không tham, không biết trong ta có pháp này hay không có?
Mỗi một ngày trước khi ngủ, mình phải ngồi tĩnh lặng soi rọi lại trong suốt một ngày qua, mình sống nhiều với tham muốn hay sống với sự ly tham, lìa tham, không có tham. Mỗi một nửa ngày từ khi mình thức dậy đến lúc thọ trai, dùng cơm xong, chuẩn bị nghỉ trưa, khi nằm xuống, hãy soi rọi, kiểm xét lại từ sáng đến trưa nay mình sống nhiều với tham dục, tham muốn, những đòi hỏi hay là sống nhiều với sự không tham, ly tham, lìa tham, đoạn tham, diệt tham, vượt ra khỏi tham, xuất ly tham, viễn ly tham hay là mình sống trong ham muốn. Mỗi một nửa ngày mình phải quán chiếu như vậy cho đến một giờ mình phải soi rọi lại cảm giác nghĩ tưởng trong tâm mình, có nhiều ái luyến không? Có nhiều sự ưa thích, ham thích, muốn, mong muốn, đòi hỏi, tìm tòi không? Có nhiều sự thúc dục ở bên trong không? mỗi một giờ soi rọi lại tâm như vậy. Sự soi rọi này, sự quán sát như vậy được nhiều lợi ích trong các thiện pháp “này chư Hiền, Tỷ-kheo có quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp”.
Mỗi một suy nghĩ sanh khởi lên trong đầu, phải quán sát suy nghĩ này có dục, có tham, có ái không? Nếu có mình phải chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch. Đó là công phu tu tập của người xuất gia, mỗi một ý niệm, mỗi một cảm giác, mỗi một hình bóng trong tâm, đó chính là nhận diện ngũ uẩn, nhìn nhận lại những hành vi cử chỉ trên thân thể, nhìn nhận lại những suy nghĩ nói thầm trong tâm, nhìn nhận lại những cảm giác đang có mặt, nhìn nhận lại những hình bóng, những tưởng đang hiện diện ở nơi nội tâm mình, nhìn nhận lại những nhận thức rõ biết, đó là nhận diện ngũ uẩn khi có dục tham ái sanh khởi. Đây là pháp hành rất quan trọng của đời tu người xuất gia, nếu chúng ta không biết pháp hành, không biết như lý quán sát, nhìn nhận thân tâm một cách đúng đắn, chính xác, chân xát, sâu sắc, tế nhị, nhỏ nhiệm thì lâu ngày đời tu của mình bị thảm bại, thê lương, càng ngày ái càng sanh khởi, dục càng sanh khởi, tăng trưởng, phát triển. Rời xa với đời sống ly tham của người xuất gia không đạt đến cứu cánh Phạm hạnh của một người khất sĩ, nội tâm là một đống rác to lớn, tràn đầy những tham muốn dục vọng. Đó là sự thất bại thê thảm của người xuất gia, sự đau đớn, cay đắng, tủi nhục của người xuất gia. Cho nên bài kinh này là pháp hành quan trọng cốt lõi trong sự hành trì tu tập, chúng ta phải nắm vững bài kinh này.
Minh Thành thưa với quý sư cô, trong giây phút này Minh Thành chỉ còn đảm nhiệm lớp của chúng ta thôi, đây là lớp duy nhất trong trường này, nếu chịu tu học thì Minh Thành có mặt, còn không chịu tu học thì Minh Thành xin tạm biệt, vì đây là pháp hành mà không có thực hành thì không có tương ưng với pháp. Minh Thành đã chào biệt hai lớp buổi sáng rồi, Minh Thành mong rằng các cô nhận được tâm huyết của Minh Thành.
2. Có phải ta sống nhiều với tâm không sân? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Đây là mình quán năm triền cái, Minh Thành đã nói về năm triền cái ở buổi trước, lúc đó Minh Thành đang bị ho nhiều nên không đủ sức để khai triển. Mỗi một nửa ngày, mỗi một giờ, mỗi một suy nghĩ, mỗi một cảm giác, mỗi một hình bóng trong tâm mình phải luôn quán sát, kiểm soát, rà soát, kiểm toán, kiểm kê, kiểm điểm, kiểm tra tâm mình, có hay nóng giận, có những ý nghĩ tức giận, sân giận không? Có cảm giác bức xúc, bực bội, khó chịu người khác không? Nếu có thì lập tức tác ý, đánh đuổi: “Nhục nhã thay cho ta, ở chùa năm, bảy, mười năm mà ai chạm vào là sân hận, sân si, thiêu đốt, phát hỏa lên, thật là tồi bại, xấu hổ, hèn hạ, thấp kém”, phải tác ý như vậy, la rầy tâm sân hận, tâm tức giận, tâm bốc lửa đó phải được quở trách, giáo dục, dạy dỗ, tẩy sạch. Mỗi lần tâm sân giận sanh khởi là thấy xấu hổ, muốn độn thổ, vào soi gương nhìn xem khuôn mặt đang trong lúc tức giận thì như thế nào, nói chuyện với tâm mê “Này, tâm mê nhìn cái mặt trong khi sân giận có dễ thương không? Tu hành mà sân hận, với hình tướng đầu trọc mà sân hận, nhìn kỹ xem có giống người tu không?”. Quở trách, giáo dục, dạy dỗ tâm, rời xa năm triền cái, thấy sự tức giận là một pháp hèn hạ, hạ liệt, thấp kém, phàm phu, ngu si. Thấy những cảm giác tức giận sân hận đó là những pháp thật là ngu si, dại khờ, vô minh, không thể chấp nhận. Làm cho khởi lên tâm thương xót chính mình, thương xót cơn sân giận của mình, thấy mình là kẻ đáng thương khi trong tâm mình còn sanh khởi những cái sân hận, bực bội này. Mình thật đáng tội nghiệp. Mình là nạn nhân của những cơn giận, bị cơn giận xâm chiếm, áp đảo, đè bẹp, đốt cháy, mình không muốn cơn giận này dẫn dắt mình, làm chủ mình, sai khiến mình. Mình phải làm chủ cơn giận, mình phải nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận cơn giận này bằng sự quán chiếu về tâm từ, trải tình thương cho chính mình, thương mình thật nhiều, chứ đang giận thì làm sao trải tình thương cho người được, không thể được. Cho nên quay lại thương mình, thương cho tâm ngu si, sân hận, nóng bức, nhiệt não, bức xúc đang có mặt bên trong mình, soi gương, nhìn mặt và nói chuyện với tâm: “Mày là kẻ đáng thương, nhìn kỹ mặt để thấy mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh này, nhìn kỹ bản mặt đang tức giận đi, cạo đầu, bỏ cha, bỏ mẹ vào chùa tu mà hở một chút là sân, hở một chút là giận, nổi nóng, phựt lửa lên, thật là tồi bại, nhục nhã”, tác ý quở trách tâm sân hận như vậy, la rầy hoài, cho đến khi tâm sân hận thấy mắc cỡ không dám sanh khởi trở lại nữa, mỗi khi sanh khởi là bị la nên hoảng hồn bỏ chạy mất. Đó gọi là ly sân tư duy, là chánh tư duy, là Thánh tư duy, là sự suy nghĩ của bậc Thánh, là sự suy nghĩ chân chánh, là sự như lý tác ý thần thánh, vi diệu, Thánh tuệ, đó là công phu tu tập của chúng ta.
Nhìn vào trong gương, nhìn kỹ chiếc áo đang mặc, cái đầu trọc, cái gương mặt đang sân hận, gương mặt đang bốc lửa, gương mặt tàn hại thê thảm, đại bại, nhìn kỹ đi xem có hèn hạ, nhục nhã không? Dục sanh khởi lên cũng chửi, nhìn cho kỹ đi, với cái đầu trọc mà còn ham muốn những thứ giống như người thế gian ngoài đời thì có tồi bại, nhục nhã, xấu hổ không? Khi ngồi thiền thì la mắng, chửi rủa tâm mình như vậy đó, đồ ngu si, dục vọng, sân hận. Rồi bản ngã sanh khởi lên khi xúc với huynh đệ, tỷ muội chạm đến là ta đây lên “biết tôi là ai không? Tôi ở đây bao nhiêu năm rồi biết không?”, sanh khởi bản ngã, vênh váo, hống hách, ta đây. Soi gương thấy có nhục, hèn hạ, đê tiện không? Đi tu mười năm rồi mà hở một chút là hơn thua, đúng sai, ta đây, tranh giành phần thắng từng chút với các bậc đồng Phạm hạnh, thật là bẩn thỉu ngu si, vậy thì đừng tu nữa, ra ngoài đời mà hơn thua với người ta. Hôm nay chúng ta được truyền bí kíp võ công đó chúng ta có thấy chưa? Đó là thần lực, Thánh tuệ, là suy nghĩ của bậc Thánh, chánh tư duy là sự suy nghĩ chân chánh của bậc Thánh để ly dục, ly sân, ly tham, ly bản ngã.
Chúng ta có dám la mắng tâm mình như vậy không? Phải dám la mắng quở trách thì mới gọi là tu, là tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ. Tu mà đúng chánh pháp là bầm dập hết, mình day dứt, đau khổ, ưu tư, chiến đấu từng giây, từng phút với những ý nghĩ, cảm giác, suy tư của mình. Bậc chân tu là luôn chiến đấu trong từng ý niệm, từng cảm giác, chiến thắng từng hình bóng trong tâm, chứ không phải tu là chỉ biết hướng ra ngoài làm cái này cái kia, mà trong tâm thì hoàn toàn không thấy, không biết gì hết, dục không thấy, tham không thấy, sân không thấy, bản ngã chình ình một đống không thấy, ai chỉ cho là sân ầm ầm lên, đỏ mặt, tía tai: “ Tôi sân hồi nào? tôi giận hồi nào? tôi bản ngã hồi nào? ai bản ngã?”. Đó gọi là tu mù.
3. Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên đã từ bỏ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Kiểm tra lại có phải ta sống nhiều với sự rã rượi, buồn ngủ, gà gật, ngồi đâu ngủ đó, si si mê mê. Đồng thời dùng pháp như lý tác ý phải la, trách, mắng, chửi tâm ngu si, si mê đó, phải tác ý đánh đuổi nó ra, tất cả là đều phải dùng như lý tác ý, là pháp tổng cương lĩnh trong pháp hành Nikāya. Sau khi nhận diện năm uẩn, nhìn thấy sắc thọ tưởng hành thức, phát hiện ra chỗ cấu nhiễm, rác bẩn, dùng như lý tác ý tận lực diệt trừ năm triền cái: dục tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi.
Trạng thái mơ hồ, đơ đơ, ngáo ngáo, leo lên bồ đoàn ngồi thì gục lên gục xuống, lên tụng lăng nghiêm, đứng gõ mõ một hồi văng luôn chùi gõ. Ở trong chùa lâu năm chứng kiến được những cảnh rất đặc biệt, đứng tụng kinh mà cũng chuối nhũi xuống vì ngủ gục, hồi xưa còn có cảnh các chú tiểu bị liệng dùi…cho nên mình phải luôn kiểm tra tâm, để cho tâm được tỉnh táo, sáng suốt.
Ngài Ananda được tôn xưng là đa văn đệ nhất, là bậc nghe nhiều số một trong hàng Thánh chúng đệ tử, vì khi Ngài nghe pháp tâm Ngài không có năm triền cái, khi Ngài nghe Đức Phật thuyết pháp, tâm Ngài không có dục tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi đối với Pháp, chính vì vậy trong khi nghe pháp tâm ngài sáng suốt, Ngài ghi nhớ được tất cả những lời Phật dạy, không bỏ sót một chữ nào, người đời sau xưng tán Ngài Ananda bằng bài kệ:
Diện như thu mãn nguyệt
Mục tợ thanh liên hoa
Phật pháp như đại hải
Lưu nhập A-nan tâm.
Dịch nghĩa:
Mặt như trăng thu đầy
Mắt tợ hoa sen xanh
Phật pháp như biển cả
Rót vào tâm A-nan.
Trong sự tu của chúng ta đoạn tận được năm triền cái là tuyệt đối quan trong. Mình không biết năm triền cái là cái gì thì vĩnh viễn ở ngoài cửa chùa, dù có ăn hết gạo, cơm cháo cũng chỉ là kẻ đứng ngoài cổng chùa mà thôi. Năm triền cái mà không biết thì làm sao mà diệt. Năm triền cái này Minh Thành đã có chia sẻ trên trang Linh Quy Pháp Ấn khoảng mười lăm buổi cho lớp Cao đẳng Tăng, chúng ta về nghe kỹ lại, thức ăn của năm triền cái, phương pháp đoạn tận năm triền cái đều được chia sẻ đầy đủ. Về chuyên đề của năm triền cái, Đức Phật sẽ nói cho chúng ta biết tại sao có tham, thức ăn của tham, tại sao có sân, thức ăn của sân là gì, tại sao có thức ăn của hôn trầm, buồn ngủ, trạo của lăng xăng hay là hoài nghi, thức ăn của nó là gì, làm sao cho nó chấm dứt và cách chấm dứt chúng bằng phương pháp nào, đều được Đức Phật chỉ rõ, ở đây chúng ta không có nhiều thời gian, chỉ có nói một cách tổng quát như vậy.
Trong sự tu bước đầu tuyệt đối quan trọng là đoạn tận năm triền cái, mà nếu không biết nhận diện năm uẩn thì không biết tham như thế nào thì làm sao đoạn được, không biết sân nằm chỗ nào thì làm sao mà đoạn, hôn trầm sanh khởi lên nhập cuộc với hôn trầm thì ngủ gục luôn, trạo cử sanh khởi là buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, làm sao mà chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch chúng được, như vậy thì vĩnh viễn và mãi mãi ở trong năm triền cái không bước vào được tầng thiền thứ nhất, sơ thiền, ly sanh hỷ lạc, mãi mãi không nếm được hương vị của thiền, sự an lạc của xuất ly, viễn ly, xả ly, đoạn ly đối với các dục. Tu mà vẫn khao khát, thèm thuồng những thứ thế gian mong muốn thì bị chết giữa dòng, dục lạc không có, pháp lạc thiền vị cũng không nếm được, “lưỡng đồ câu thất”, hai đường đều mất, chết giữa dòng.
Thượng toạ Chơn Thanh thường kể câu chuyện về con chó bơi qua sông khi nghe nhà bên kia sông bốc mùi đồ ăn ngon, bơi được đến giữa dòng lại nghe mùi đồ ăn ngon bốc lên từ nhà bên này sông, nó bơi qua bơi lại giữa dòng sông vì bên nào cũng có đồ ăn ngon và bên nào cũng muốn qua. Cuối cùng đuối sức bị chết giữa dòng sông. Đời tu mình cũng giống như vậy nếu không thành tựu chánh tri kiến, không thấy được, sự nguy hại của dục, những nguy hiểm và tác hại của những dục lạc thế gian thì cũng loanh quanh như vậy, lúc thì muốn tu giải thoát, lúc thì cũng ham muốn những dục lạc, cuối cùng thì dục lạc thế gian cũng không hưởng được giống người đời mà thiền vị, pháp lạc cũng không nếm được, cuối cùng ẩn dương nương Phật, chết dần, chết mòn trong chốn thiền môn cô quạnh, đáng thương lắm. Quan trọng là vấn đề phải tập trung tâm lực vào sự nhiếp phục và đoạn tận năm triền cái.
II. Sức mạnh của an tịnh
4. Có phải ta sống nhiều với không trạo cử? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với sự an tịnh lắng dịu hay là ta sống nhiều với sự lăng xăng, tất bật, vội vã, náo động, động loạn, hấp tấp, vội vàng…là những biểu hiện của trạo cử, có chuyện gì một chút thôi cũng lăng xăng, lính quýnh. Một ví dụ đơn giản, bây giờ có con chó chạy vào đây thì tâm đại chúng có yên tĩnh nghe pháp không? Hay hướng hết tâm vào con chó? Hay nghe một tiếng ồn lớn là tâm mình hướng theo tiếng ồn đó, đó là nói những cái động loạn ở bên ngoài chưa nói đến những cái bên trong tâm, ngồi nghe pháp mà tâm ngu ngơ, mộng mơ hướng ngoại, không thì ngồi được một chút là lắc chân, lắc tay, gãi, khát nước, quay tới, quay lui, nhìn qua, nhìn lại, đó là thân trạo cử, ngồi không yên, không có tịnh chỉ các hành, không có an tịnh lắng dịu, thân xao động, lăng xăng động loạn, còn tâm trạo cử là hết nghĩ cái này đến nghĩ cái kia, hết tưởng cái này đến tưởng cái nọ, hết suy tư cái này đến tính cái khác. Chẳng hạn như còn nắm phút nữa mới hết giờ mà thân tâm bắt đầu nhúc nhích, ngồi không yên, nhớm tới, nhớm lui, xếp tập, cặp bỏ hết vào trong giỏ, đó là trạo cử thô. Tất cả những hành động đó đều phải được diệt tận, đều phải chế ngự, nhiếp phục không cho chúng hành động, khi nghe tiếng chuông reo vẫn tập cho tâm an tịnh lắng dịu, phải thường tác ý, cái gì cũng phải tu tập.
Tu tập, tập là làm tới làm lui, tập làm cho đến khi nào được thì thôi, giống như việc tập lái xe, làm bánh, nấu cơm, may đồ, còn tu là sửa lại, chỉnh lại cho nó hết hư, tu sửa, tu chỉnh, giống như cái xe đang chạy bị hư máy không chạy được nữa mình phải sửa lại cho xe chạy được lại là hết hư. Mình phải có sự tập, tập “an tịnh lắng dịu”, niệm câu này thường xuyên và liên tục khi đi đứng ngồi nằm đều phải niệm, thân an tịnh, tâm lắng dịu. Đi trong sự an tịnh không có sự thúc giục, vội vã, lăng xăng, gấp gáp, gấp rút, đi trong trạng thái như vậy an tịnh, thảnh thơi, nhẹ nhàng, đi như vậy gọi là thiền đi, thiền hành, muốn được bước thiền như vậy thì phải thực tập, chứ không có cách nào khác. Bước đi của Minh Thành đã tu tập được 30 năm cho đến bây giờ vẫn còn để ý tập, không cho đi vội vã, lăng xăng, gấp rút mà bắt đi trong thong thả, nhẹ nhàng, chánh niệm, gọi là niệm oai nghi trong Tứ niệm xứ: “Vị Tỳ-kheo khi đi phải biết mình đang đi, đứng phải biết mình đang đứng, ngồi phải biết mình đang ngồi, nằm phải biết mình đang nằm, biết rõ việc mình đang làm”, nói phải biết mình đang nói, nói về cái gì, không phải cầm Mic. lên là nói miên man, mông lung, nói chuyện thời xa xưa, đông chu liệt quốc, người ta hỏi cái gì thì trả lời cái đó, đừng nói lời dư thừa, nói phù phiếm cũng phạm giới, nói những lời vô nghĩa, vô ích, không có lợi lạc, lời nói mà không đưa đến đoạn giảm tham sân si, đoạn tận tham sân si, lời nói như vậy là phạm giới, nói dài, nói dai, nói dở thành ra nói dại, nói dóc, vô duyên mà cứ nói hoài, người nghe phát mệt, không kiểm soát được cái dục nói ở bên trong. Thiệt là khổ, thấy thương và tội nghiệp, nói trong dục, trong sân giận, trong bản ngã, trong hơn thua, trong đúng sai. Lớp suy nghĩ ở bên trong, lớp lời nói ra bên ngoài, lớp thì hành động của thân, cứ giao động hoài không an tịnh lắng dịu được, cho nên chúng ta cần phải niệm thường xuyên câu “an tịnh, lắng dịu, dễ chịu”, mỗi bước chân khi đi, khi rửa chén, khi quét nhà đều phải ngưng lại để nhắc nhở tâm, an tịnh, lắng dịu. Mỗi khi bị chỉ trích mình nhắc tâm an tịnh lắng dịu, không vội trả đũa, không vội phản kháng, phản ứng, phản pháo, phản kích, phải an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, uống nước cũng phải an tịnh và lắng dịu, không phải đưa chai lên miệng tu ực ực, hành động đó cũng là trạo cử. Minh Thành quán sát từng cử chỉ, hành động của các sư cô nhưng Minh Thành không có nhìn, cho đến khi nào lớp đứng lên ra về mà không gây ra tiếng động, thì lúc đó mới tạm gọi là thành công của bước sơ cấp, vỏ ngoài của Phạm hạnh.
Hôm đó các thầy Tỳ-kheo đang pháp đàm sau buổi thọ trai, Đức Thế Tôn đứng chờ ngoài cửa mà các thầy không hay biết, các thầy nói đến 2-3 tiếng đồng hồ, Ngài chờ cho đến buổi pháp đàm xong Ngài bước vào trong và nói:
Ta chờ các thầy lâu quá ta mỏi lưng
Các thầy mới nói:
Bạch Thế Tôn, Ngài không nói để chúng con biết
Đức Phật:
Ta tôn kính Pháp, tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, nên ta không làm gián đoạn buổi pháp đàm của các thầy.
Lúc đó Đức Thế Tôn đã lớn tuổi rồi, chờ lâu quá Ngài bị đau lưng, qua câu chuyện này chúng ta thấy có biết bao nhiêu khía cạnh để học hỏi, nhưng ở đây chúng ta chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh an tịnh lắng dịu. Thứ nhất là Đức Thế Tôn rất cung kính pháp, cho nên Ngài chứng được Vô thượng Pháp luân, người bất kính với Pháp không thể nào thành tựu được Pháp. Thứ hai, Đức Thế Tôn tuy là bậc Đại đạo sư, bậc giáo chủ, là bậc Tối thượng của nhân thiên và Tam giới, nhưng Ngài đi đến không ai biết, đứng ngoài cửa chờ, còn mình đi đến đâu thì trống kèn dữ lắm, chưa đến cửa đã đánh tiếng từ xa: “Tôi đây nè, thấy tôi không? Thấy ai đang đứng ở đây không? Tôi đâu phải là không khí mà không thấy?”. Bị công an phạt, hỏi ngược lại công an: “ Có biết tôi là ai không?”. Chúng ta là người tu phải tập sự an tịnh, lắng dịu trong tất cả mọi hoàn cảnh. Trong kinh Nikaya nói Đức Thế Tôn là Bậc an tịnh, Ngài thuyết pháp để đưa chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh. Bình thường chúng ta không tập an tịnh lắng dịu, khi tức giận nổi nóng lên, lúc dục vọng, ham muốn, hơn thua sanh khởi, lúc đó không thể nào an tịnh được. Bình thường đã không an tịnh được thì lúc hữu sự làm sao mà an tịnh được. Người tu đạt đến cảnh giới tối cao là ngũ uẩn, an tịnh hoàn toàn, bất động tâm giải thoát. Tức là vị này dù cho cái chết có xảy ra với họ thì tâm của họ vẫn trú được trong cảm thọ an tịnh lắng dịu, không bị giao động, không hoảng sợ, không sợ hãi, không hoảng loạn, không rối loạn, không động loạn vì người này thường quán chiếu ngũ uẩn này là vô thường, là ung nhọt, là mũi tên, là kẻ giết người, là hố than hừng, là rắn độc, là người lạ, là sầu bi khổ ưu não, cho nên người này đạt được tâm hoàn toàn an tịnh lắng dịu, bất động đối với tất cả những biến động của thế gian này. Sự an tịnh, lắng dịu này cũng chỉ cho định lực của chúng ta, sức mạnh của sự an tịnh, sức mạnh của sự trầm lặng, sức mạnh của sự bình thản, bình yên. Chúng ta phải để ý tập thật là nhiều trong sự an tịnh, lắng dịu, trong mọi lúc, mọi nơi, mỗi bước chân, mỗi cái ăn, mỗi sự xuất hiện, mỗi lời nói, cử chỉ, hành động đều phải tập an tịnh, lắng dịu.
Hoà thượng chủ tịch Thượng Thiện Hạ Nhân, Ngài đi đến các chỗ lễ lớn, Ngài mặc áo Nhật Bình, đơn giản, bình dị, âm thầm lặng lẽ, đi vào không ai hay biết, mọi cứ đứng ở ngoài cổng để đón Hoà Thượng chứng minh mà khi Ngài đi vào thì không ai biết, hỏi ra thì Ngài đã đi vào trong giảng đường. Thậm chí Ngài về chùa ở quê lúc hai, ba giờ đêm Ngài cũng không kêu cửa, buổi sáng các thầy ra mở cửa thì thấy có người nằm trên băng đá ngủ, đến gần nhìn kỹ thì ra Hoà Thượng, còn mình bây giờ đi đâu về khuya như vậy, đến chùa điện thoại bao nhiêu cuộc, bấm chuông, gõ cửa mấy lần.
Cố Hoà Thượng Thượng Trí Hạ Tịnh, nghe kể lại ở trong buổi họp, các thầy lăng xăng bàn chuyện này, nói kia, cuối cùng thỉnh Ngài lên, Ngài chỉ nói một câu: “Sao không nghe ai nói chuyện tu gì hết?”. Các bậc tôn đức từ xưa và nay đều ở trong một nội tâm rất là trầm lặng sâu sắc. Cho nên từ trong chiếc ghế nhà trường chúng ta phải tập sự an tịnh lắng dịu, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã - năm khiêm. Tập sự an tịnh, lắng dịu trong mọi hoàn cảnh, khi bị người xỉ thẳng mặt, dù có bị vu oan, vu khống gì cũng từ từ, bình tĩnh, không vội vàng. Vì trước khi nghe chửi, tâm mình bình thường, vui tươi, tại sao sau khi nghe chửi lại phừng phực, phẫn nộ lên, tại sao lại như vậy, trước đó mình không có bị như vậy, cho nên chuyện gì cũng lắng dịu từ từ, đâu còn có đó, không việc gì phải phùng mang trợn mắt lại, phải trả đũa, phản kháng, làm cho dữ dằn lên. Tập làm sao để có được một đinh lực, đạo lực, thiền lực vững mạnh, tập cho có được một sức mạnh của sự an tịnh và lắng dịu.
Bình thường mình cứ lăng xăng, đến khi hữu sự thì mất hết năng lực, năng lượng, đến lúc cần dùng không có, chỉ biết ngồi một chỗ, còn bình thường mình giữ nội lực, nội hàm, nội công, nội tâm của mình, khi có hữu sự mình đem ra sử dụng, tất cả tiềm lực, công lực, đạo lực, sức mạnh của sự an tịnh và lắng dịu được tu tập, tích tụ, đến lúc cần dùng thì tung ra, thì mới hoàn thành xuất sắc công việc, đừng để chưa ra trận với đủ thứ ham muốn, đến khi nghe tiếng trống xung trận thì hoảng hồn bỏ chạy.
III. Thành tựu trí về ngũ uẩn
5. Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ đã được vượt qua? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Minh Thành có chia sẻ về nghi ngờ, mình thường nghi ngờ trước kia mình là ai, sau này mình chết đi đâu, mình sẽ ra sao, bây giờ hiện tại mình là ai? Học không đúng sẽ hiểu không chính xác, sẽ hiểu chung chung về nghi ngờ. Trước kia mình là ngũ uẩn, là tổ hợp của tứ đại, sắc uẩn, là những cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ là hành, là những nhận thức. Sau này có chết đi mình cũng sinh trong ngũ uẩn và hiện tại cái thân mình đang mang là ngũ uẩn. Khi xác quyết được trí về ngũ uẩn, mình sẽ thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp, phá vỡ tất cả những nghi ngờ về thân tâm và thế giới. Tất cả không đi ra ngoài ngũ uẩn, dù cho vô lượng, vô biên kiếp nữa cũng chỉ là ngũ uẩn, trừ những bậc xuất ly khỏi ngũ uẩn, những bậc Thánh là đoạn tận ngũ uẩn, đi ra khỏi ngũ uẩn.
Lấy một ví dụ để chúng ta dễ hiểu hơn, mình nhớ lại khoản thời gian mình còn nhỏ, chúng ta sẽ nhớ lại hình bóng, những cảm giác, những nhận thức của ngày xưa, ngày còn nhỏ xíu ngây thơ, dễ thương, rồi bây giờ đi đến với tương lai, hai mươi, hai lăm năm sau mình sẽ là ni trưởng, ni sư, sư bà, với những suy nghĩ, nhớ tưởng về quá khứ và tương lai,thì cũng là sự nhớ tưởng trong sắc thọ tưởng hành thức và hiện tại mình cùng đang sống trong năm uẩn của sắc thọ tưởng hành thức. Tất cả những suy nghĩ của mình là suy nghĩ trong sắc thọ tưởng hành thức, tất cả những gì mình nghĩ về mình đều nằm trong năm thủ uẩn, không đi ra khỏi năm uẩn.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu... không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã... quán thọ như là tự ngã... quán tưởng như là tự ngã... quán các hành như là tự ngã... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... người ấy chạy theo vòng theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi các hành, không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: " Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau
(Tương Ưng Bộ Kinh III – Kinh Dây Thằng
Đức Phật ví dụ giống như con chó bị trói trong cây cột, con chó này có nằm, ngồi, đứng, đi, có làm bất cứ thứ gì đi nữa cũng không rời khỏi cây cột, chúng sanh cũng vậy có đi đứng ngồi nằm, nói ăn uống ngủ nghỉ gì đi nữa cũng không rời khỏi năm thủ uẩn, bị vô minh, tham ái và chấp thủ trong sắc thọ tưởng hành thức này, bị đau khổ, sầu bi, sân si, hơn thua, giành giật, cướp bóc, yêu hận, thương ghét đều nằm trong năm thủ uẩn, không ngoài năm thủ uẩn này. Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán nhìn năm thủ uẩn này là ung nhọt, là bẩn thỉu, là bong bóng, là vết thương, là khổ đau, bất an, lo lắng, sợ hãi, bất toại nguyện, là thiếu thốn là khát khao, là sầu bi ưu não, là tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, đầy rẫy những sự khốn nạn, các Ngài nhàm chán và thoát ra còn chúng ta thì đam mê, khao khát, thèm thuồng, ưa thích, trói trăn ràng buộc ở trong này, đầy nước mắt và máu ở trong năm thủ uẩn này.
Chúng ta là những kẻ đáng thương, là những kẻ bệnh hoạn, bệnh cả thân lẫn tâm, mà không lo trị bệnh, đi đâu cũng vênh váo, tôi ta, chị đại, chị cả, chị lớn, đó là bản ngã đáng thương, dại khờ, ngu si, mê muội, vô minh, tăm tối, bản ngã sinh ra đầy những nước mắt hơn thua, hờn giận, những giành giật, đấu tranh từng chút, một ánh mắt thôi cũng sân si, thù hận, một hành động thôi cũng gây đau khổ, một lời nói ra cũng gây thù hận, thật là đáng thương cho chúng ta, thật là tội nghiệp cho chúng ta, thật là đáng xót xa cho chúng ta, mà chúng ta không biết, sống trong si ám, trong bóng đêm mù loà, trong vô tri, vô thức, cả ngày chỉ biết lo tham sân si, hơn thua, thị phi, tâm này cứ vận hành hoạt động, cứ bốc lửa ở bên trong.
6. Có phải ta sống nhiều với không phẫn nộ? Không biết trong ta có pháp này hay không có?
Có phải ta sống nhiều với phẫn nộ không? chạm đến là sừng sộ, bốc lửa, bốc cháy, nhiệt não, nóng bức, phóng hoả, giết người, đốt nhà, đốt chùa. Hàng ngày đầy dẫy trên mặt báo. Chúng ta nghĩ rằng người này phóng hoả đốt nhà người kia, sự thật không phải là như vậy, không có người nào hết, chỉ là những đống ngũ uẩn, đầy rẫy những ngọn lửa của tham sân si và chính những cảm giác những suy nghĩ đó, đốt cháy, phóng hoả chứ không có ai hết, không có một tự ngã nào hết, chỉ có những cảm giác thiêu đốt, đốt cháy phẫn nộ thúc dục ở bên trong. Và tất cả hữu tình chúng sanh là nạn nhân của những cảm giác phẫn nộ, bốc cháy, thiêu đốt đó, chúng ta đã từng đau khổ với những cảm giác này rất nhiều rồi. Đừng nói chi xa xôi, huynh đệ ở chung phòng mà giận nhau là cảm giác khó chịu, đau khổ, bức xúc vô cùng, vậy mà nuôi dưỡng cảm giác đó, không chịu xả bỏ, ghim gút trong lòng. Trong đạo có câu: “Tăng hận bất cách túc” (Người tu giận không quá một đêm), so với trong kinh Nikāya là chưa chính xác, Trong kinh Nikāya là phải phá sập ngay cảm giác sân hận đó, diệt tận nó liền, không cho cư trú, thì đó mới là người thông minh trí tuệ, còn cái này giận mà cứ chất chứa trong lòng để cho cơn giận đó hành hạ, thiêu đốt, làm mình khổ đau chứ chẳng có gì hết. Nếu muốn nhẹ nhàng, thanh thản, dễ chịu, mát mẻ, ngọt ngào thì phải tu tập tâm hiền, tâm từ, tâm mát mẻ, dễ chịu, lắng dịu, ngọt ngào, thanh lương, tha thứ, hiền lương, tâm thương. Hôm nay chúng ta phải tập cho được sự an tịnh, khi nào tiếng chuông ren lên thì lúc đó chúng ta nhẹ nhàng ung dung, tự tại, đeo đãi lên vai đi từng bước, từng bước thiền hành xuống cầu thang, phải tập được cái đó, nhiếp phục được cảm thọ thúc dục, làm cho thân tâm mình an tịnh, lắng dịu, tịch tịnh, không làm được điều này thì khoan tu cái gì hết, đừng tu cái gì hết. Chúng ta thấy học như vậy có thực tế không, có pháp học, pháp hành rõ ràng chưa, thực tập được ngay tại chỗ, không nói cái gì mà xa vời, xa xôi, viễn vông. Tu như vậy mới gọi là tu./.