Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tổng Quát Pháp Hành Nikāya - Thánh Trí Ngũ Uẩn

2026-03-03 00:54:39
Tổng Quát Pháp Hành Nikāya

Thánh Trí Ngũ Uẩn

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc212057073 \h 1

II.Sử dụng tâm khéo léo PAGEREF _Toc212057074 \h 5

III.Nhiếp phục, diệt tận cái ác PAGEREF _Toc212057075 \h 9

IV.Tác ý PAGEREF _Toc212057076 \h 14

Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, hôm nay chúng ta học về tổng quát pháp hành thánh trí ngũ uẩn để những người mới đến biết thứ tự tu tập. Tại sao phải nhận diện ngũ uẩn, vì đây là bước tuyệt đối quan trọng, nếu không đi vào được bước này thì tất cả các bước sau không thể tu tập được. Nhận diện ngũ uẩn, nhìn ra được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình có chìa khóa mở căn nhà nội tâm của mình, tất cả chúng sanh từ vô thỉ kiếp, vô thỉ là không biết từ lúc nào, không biết bắt đầu từ lúc nào tất cả chúng sanh là những kẻ vất vơ vất vưởng, sống trong trạng thái hướng ngoại vĩnh hằng, lang thang muôn thuở, là những kẻ vô gia cư, mình đọc kinh ghi là những người cùng tử, nghĩa là những đứa con lưu lạc, những đứa con vất vơ vất vưởng rày đây mai đó. Cái tâm của chúng sanh ở trong trạng thái hướng ngoại, nó đi hoài, không biết căn nhà thật sự của nó ở đâu cho nên bước đầu tiên vào Đức Thế Tôn chỉ cho mình con đường quay về tự thân của mình.

Thực hành ba pháp

Trong việc quay về tự thân thì chúng ta thực hành ba pháp trong ba pháp, cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tỉnh giác. Để mình quay trở về căn nhà nội tâm của mình thì Đức Phật dạy mình phương pháp cảm giác toàn thân. Các giới tử và các vị cư sĩ hiền trí trong một tuần lễ qua có thực tập cảm giác toàn thân được không? Thực tập cảm giác toàn thân là sao? Thay vì mình ngồi đó mình tưởng mơ, mình tơ tưởng, mình nghĩ tới chuyện này, nghĩ tới người kia, nghĩ tới cái nọ thì mình đem cái tâm đó quay trở về thân và mình cảm nhận từ lồng ngực, cảm nhận từ bờ vai, từ cổ, từ mắt, mũi, miệng, má, mặt, đầu, lỗ tai, cảm nhận ngực, bụng, lưng, xương sườn, bàn chân, lòng bàn chân, ống chân. Mình đem cái tâm đi lang thang đó quay trở về để cảm nhận tự thân.

• Định nghĩa 1:

-Thân người là Sắc

-Cảm giác là Thọ

-Hình bóng là Tưởng

-Suy nghĩ là Hành

-Rõ biết là Thức

•Định nghĩa 2:

-Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.

-Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.

-Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.

-Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.

-Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.

Cái bước rất quan trọng để chúng ta quay trở về căn nhà nội tâm, chúng ta không còn làm một kẻ vô gia cư, không còn là một kẻ ăn xin, không còn là một kẻ lang thang ngoài đầu đường xó chợ, không còn là một cái kẻ vất vơ vất vưởng như cô hồn, đó là quay trở về cảm giác toàn thân. Chúng ta thấy cái trình từ Đức Phật dạy rất là rõ, lúc nào chúng ta không có cảm giác toàn thân, lúc nào chúng ta không có nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó chúng ta là những cái thây chết, có xác mà không có cái hồn, có thân mà không có cái tâm, thân ở đây nhưng tâm lang thang như cô hồn. Chúng ta sống với cái tâm này nhiều không? Trước khi nhận diện được cái pháp này chúng ta có sống với cái tâm lang thang đó nhiều không? Cái tâm vất vơ vất vưởng đó nhiều không? Tất cả chúng sanh đều ở trong một cái trạng thái của cái tâm vất vơ vất vưởng, không có nhà để về, tuy là nhà cao cửa rộng, ở biệt thự nhưng mà nội tâm là một nội tâm vô gia cư, Chính vì vậy mà dù cho họ có tiền bạc, danh vọng, địa vị nhưng mà họ lo lắng, bất an, họ sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không biết làm để làm gì, cùng mục đích sống đó là cái gì và làm sao để cho cái tâm mình yên, họ không biết, họ có thể làm ra nhiều tài sản mà không thể làm ra những an lạc cho họ, những hạnh phúc cho họ, những sự bình an cho họ, họ không biết cách làm, vì thế ai nghèo tinh thần, nghèo nội tâm nhiều quá thì về Linh Quy.

Ở đây có nhiều tỷ phú tâm linh lắm, tỷ phú tâm linh ngồi đây rất nhiều, thành ra cái bước rất quan trọng là quay trở về cảm giác toàn thân, cái bước này nó mang tính quyết định rất là lớn trong sự tu tập của chúng ta. Khi quay trở về cảm giác toàn thân cũng có nghĩa rằng mình trở về căn nhà nội tâm của mình, không còn là cái kẻ vất vơ vất vưởng ngoài đầu đường xó chợ nữa, không còn là một cái kẻ rày đây mai đó, mình không còn là một kẻ đi lang thang vô gia cư nữa mà mình bắt đầu thấy được cái căn nhà của mình, thấy được cái căn nhà bình an của mình, đem tâm trở về thân, định tâm ở trên thân tâm. Thân ở đâu thì tâm ở đó, an trú ở trong cái hiện thực, sự thật trong hiện tại, thân như thế nào thì tâm biết rõ như thế nấy.

Bây giờ mình an trú cảm giác toàn thân mà mình nhắm mắt một hồi là mình đi vào trong hô mê, mình đi ở trong những cái tưởng. Chính vì vậy phải rõ biết trước mặt, rõ biết ở trước mặt khi mình quay trở về thân thì mình cảm nhận được thân, cảm giác được thân, rõ biết được thân. Tuy nhiên thân không chưa đủ mà mình phải rõ biết phía trước mặt tức là rõ cảnh, cũng gọi là trần đó, như tự thân của mình thì mình cảm nhận được, mình rõ biết được ở phía trước mặt của mình cái trần cảnh, mình rõ biết, mình có sự nhận thức, nhãn thức của mình rất là tinh minh, cái thấy của mình là cái thấy mở rộng hết mức ra phía trước mặt ở hai bên. Chính vì vậy mà con cứ nhắc vì chúng ta vô ngồi thiền là cứ sụp con mắt xuống, chúng ta sụp mắt xuống thì chúng ta ở trong cái chỗ hôn mê, cái tâm đó là cái tâm một hồi là nó hôn mê rồi nó đi vào trong cái tưởng. Cho nên phải rõ biết ở trước mặt, rõ biết trần cảnh, cái chỗ đặc biệt là rõ biết trần cảnh mà không phải trú ở trên trần cảnh, rõ biết cái thân mà không phải trú ở trên thân, nó đi sâu vào biết được nội tâm tỉnh giác.

Chỗ tuyệt vời tối thượng tức là rõ biết tâm, tức là thân căn, trần cảnh, tâm thức, căn - trần - thức cho nên cái pháp gọi là ba pháp mà chúng ta thực tập là một cái pháp ngồi thiền đầy tất cả các trí tuệ đầy chỉ, quán, định, huệ, thấy rõ được căn - trần - thức - thân tâm - cảnh trong cùng một ngồi thiền chứ không phải chỉ có biết hơi thở không. Hơi thở là một cái pháp rất là nhỏ, nếu mình đem cái tâm mình vào hơi thở đó thì lúc đó cái tâm nhỏ hẹp lắm, nó không đủ sức để mình nhìn thấy được hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của ngũ uẩn. Mình an trú trong hơi thở một hồi là cảm giác không thấy rõ chứ đừng nó chi tới hình bóng trong tâm rồi cái suy nghĩ trong tâm. Cho nên phương pháp thực hành ba pháp này là cực kỳ quan trọng, sau khi mình đã biết nhận diện ngũ uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì mình phải để tâm vào an trú vào cảm giác toàn thân.

Khi chúng ta an trú cảm giác toàn thân thì chúng ta ngồi đó thì vững như là núi chúa. Sở dĩ nghe tiếng động giật mình là tại vì cái tâm mình lúc đó đi lang thang, còn nếu mình có cảm giác toàn thân dù động sát bên lớn nữa mình cũng không bị giật mình, giống như mình lang thang ở ngoài có vài giọt mưa thôi là mình chạy, nắng táp mưa sa, còn mình ở trong cái nhà ngon lành, được che chắn đàng hoàng thì mình có bị nắng táp mưa sa, tất cả gió bão của ngoại cảnh cũng khó làm dao động được cái thân tâm mình khi mình an trú cảm giác toàn thân, định tâm trên thân. Hiệu quả cảm giác toàn thân rất là tuyệt vời cho nên chúng ta cố gắng nhớ để thực tập, không phải chỉ lúc ngồi thiền bất cứ lúc nào cũng phải thực hành ba pháp, rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác.

Hai cái này là phải học thuộc nhần nhuyễn, thật là nhần nhuyễn, nếu xuống núi mà được hai cái này thôi là đã đủ rồi đó, cái căn bản là đã đầy đủ cái vốn để mà mình tu rồi. Đó là tối thiểu đó, đây là nói cho các cái vị lên núi một ngày, hai ngày, ba ngày, còn mình hai tuần thì mình có nhiều thiện pháp lớn hơn, sâu hơn, các vị lên có hai ba ngày thôi, có một ngày xuống núi, ngày mai xuống núi, ba ngày xuống núi, bốn ngày xuống núi thì phải nắm vững được cái này.

Cảm giác toàn thân này cực kỳ quan trọng, mình vào trong nhà của mình có ghế sofa, có gường, có chõng, có võng để nằm sướng thân, nào giờ mình đi lang thang vất vơ vất vưởng, hồi nào giờ là vô gia cư, nắng táp mưa sa, ngủ dưới dạ cầu, ngoài công viên, nhặt cái đồ ăn của người ta quăng ở ngoài đường. Hồi sáng này trình pháp đi nhặt thức ăn thừa của người ta để ăn, mình chạy đi kiếm những cái thứ mà người ta giục ra, người ta bố thí tình thương cho mình, mình thiếu thốn tình thương, mình thèm thuồng tình thương, mình khao khát tình thương, mình đói khát tình thương, mình chạy đi kiếm những cái cảm giác của người khác bố thí cho mình. Tại vì mình lang thang, mình vất vơ vất vưởng, mình vô gia cư, mình nghèo khổ, mình nghèo đói, mình đói khát, mình cơ hàng cho nên phải đi xin của người ta. Bây giờ mình không thèm xin nữa, mình trở về nhà của mình có gường, có chõng, có chăn, có nệm, có võng, mình có nước chanh, nước cam uống dễ chịu, ngọt ngào, uống nước cam với mật ong.

"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người nói như phân, hạng người nói như hoa, hạng người nói như mật." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nói Như Hoa)

Lời nói bốc cái mùi không ai chịu nổi hết là lời nói giống như cái cầu tiêu vậy đó, nói ra là đâm bị thóc, thọc bị gạo, nói ra là chia rẽ, nói ra là châm chọc, nói là ghim gút, nói là cạnh khóe, nói móc người ta. Đó là không biết tu, là vô văn phàm phu ngu si, si mê tự làm khổ mình, làm khổ người, bây giờ chúng ta không có, chúng ta bỏ cái lời nói như phân đó để nói lời nói như hoa có sắc, có hương. Chúng ta thấy mấy hoa trà, hoa cà phê ở đây thơm lắm, tỏa hương ngào ngạt, tới đúng mùa quý vị lên đây rồi quý vị thấy giống như hương trời vậy đó, nó tỏa thơm hết cả cái núi đồi, đi đâu cũng nghe mùi thơm hết.

Chúng ta nói cái lời phải nhớ nói như hoa, rồi lời nói như mật ngọt bổ dưỡng. Khi mình đã biết quay về căn nhà thì mình có nhiều sự hưởng thụ trong căn nhà của mình, vậy mà phải đợi con nhắc hoài, con cứ kêu rồi mới đọc, mà kêu đọc cũng lộn nữa. Mỗi lần mình đọc lên là mỗi lần mình sung sướng. mình hạnh phúc. mình khoan khoái, mình uống nước cam, mình uống sữa, bữa hôm đi thiền hành con thấy có cô ngắt đóa hoa cắm lên tai, thì cũng như vậy đó, mình đem những cái tươi nhất, đẹp nhất để mình trang điểm lên cái thân tâm của mình. Mình đừng có đem phân bôi vô mặt mình, mình sống với những cái tâm bốc mùi như vậy, nó sân si, nó ghim gút, nó cọc cằn, cau có, phẫn nộ tức là mình đem phân quẹt vô mặt mình và mình làm trò cười cho thiên hạ.

Mình biết nhục không? Nhục nhã lắm, nhục nhã với chồng con lắm, nhục nhã với cha mẹ lắm, nhục nhã với anh em, chị em, nhục nhã với huynh đệ, thầy bạn lắm. Mình nuôi dưỡng những cái cảm xúc ngược lại, những cái này là sự dao động, sôi động, khó chịu, ngược với ngọt ngào là cay cú, khó ưa, hoa mật thơm ngon bổ dưỡng không chịu, mình tàn nhẫn với mình dữ lắm cho nên mình mới để cho những cái cảm giác dao động, loạn động, khó chịu, cay cú, cay độc, cay nghiệt, khó ưa, khó gần, khó nuôi, khó bảo, khó dạy, cái gì cũng khó hết, cái gì cũng chê hết, gặp ai cũng chê, cho ăn cái gì cũng chê, ở đâu cũng chê, chúng nào cũng bất mãn hết, bất bình hết, bất nhẫn rồi đi tới bất trắc. Đó là cái tâm ngu mê làm vậy đó cho nên khi mình trở về được cái cảm giác toàn thân thì sướng, khỏe, nhẹ, thơm, ngọt dịu, mát mẻ tuyệt vời.

Sử dụng tâm khéo léo

Trong kinh Đức Phật nói giường lớn của ngài là cái tâm đại bi, đó chính là giường chõng lớn của Như Lai. Ngài đâu có nằm giường lớn đâu, giường lớn hoàng cung ngài bỏ rồi nhưng mà cái giường lớn của ngài là tâm đại từ, đại bi, chư thiên còn khao khát được nằm cái giường đó, trên trời cũng không có, cái tâm đại bi cứu cánh của Đức Phật ở trong cái thánh trí.

"Ở đây, này Bà-la-môn, Ta sống gần một làng hay một thị trấn. Buổi sáng, Ta đắp y, cầm y bát, đi vào làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực. Sau khi ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, Ta đi đến góc cuối của ngôi rừng. Ở tại đấy, Ta lượm cỏ hay lá chất thành một đống, rồi ta ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Ta an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ cùng khắp vô biên giới.Ta an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi, ... Với tâm câu hữu với hỷ, ... Với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai ... quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.

Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đi kinh hành, thời trong lúc ấy, chỗ kinh hành của Ta thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta đứng, thời trong lúc ấy, chỗ đứng của Ta thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu ta ngồi, thời trong lúc ấy, chỗ Ta ngồi thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, trong trạng thái như vậy, nếu Ta nằm, thời trong lúc ấy, các giường cao giường lớn của Ta thuộc Phạm Thiên. Này Bà-la-môn, đây là giường cao, giường lớn thuộc Phạm Thiên, mà Ta có được không khó khăn, được chúng không có mệt nhọc, được chúng không phí sức." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, Venaga)

Cho nên khi mình quay về nhà rồi mình phải biết sử dụng thân tâm của mình một cách khôn ngoan, một cách khéo léo, một cách thiện xảo, một cách thông minh, một cách trí tuệ. Nhiều khi ngồi quán tâm hỉ mà cái mặt nhìn thấy tội, quán thiền tâm hỷ mà nhìn mặt giống như hết tiền, tới chừng người ta quán về khổ thánh trí thì ngồi cười, kêu lên trình pháp thì "con hạnh phúc quá", hạnh phúc với pháp thì đúng, còn đằng này ngồi đơ ra, người ta quán tâm từ chảy nước mắt mà bảo "con không có cảm thọ gì hết". Nhiều khi những người không tu dòng pháp này, họ tu những cái khác thì trong cảm thọ rất là cứng chắc, có một cánh cửa vô hình chặn lại như cổ nhân có câu "Nhật nguyệt tuy minh nan chiếu phúc bồn chi hạ" nghĩa là mặt trời và mặt trăng tuy sáng nhưng cũng không chiếu vô được cái chậu đang úp.

Khi con qua đi qua bên Úc Châu chia sẻ thì có những vị đó cũng gọi là tu mấy chục, nhưng mà mấy cái bữa đầu rồi tới bữa thứ hai, bữa thứ ba rồi con hỏi từ vô lượng tâm thì người khóc hết trơn, con hỏi một chú cảm thọ của chú thế nào thì chú bảo không có cảm thọ gì hết, tức là cao cấp đó, là bất động đó nhưng mà từ từ tới những bữa cuối rồi thì "Dạ thưa thầy ông nhà của con mấy chục năm nay con chưa bao giờ thấy ổng cười như vậy hết trơn, chưa bao giờ thấy ổng vui vẻ, ổng mở lòng với thầy như vậy. Quá tuyệt vời luôn", tới ngày cuối là bịn rịn không rời con, mới có tám mươi mấy tuổi mà chở con chạy xe ầm ầm. Thành ra thánh trí ngũ uẩn này sẽ chiếu hết, mở hết tất cả những cái cảm thọ cứng chắc nhất, cũng như có những vị ở đây lúc ngày đầu vô cảm thọ nó cứng khừ nhưng tới bữa nay bắt đầu cũng ướt át rồi. Có nhiều vị thắc mắc sao khóc nhiều vậy nhưng tới nay thì biết rồi.

Pháp tu này cái đánh vào cảm thọ, tất cả pháp là hội tụ nơi cảm thọ mà cái cảm thọ vẫn một cục, không nhúc nhích gì hết là không có tu, nó phải rục rịch, nhúc nhích, nó phải thấm. Cho nên con ví dụ là từ cái chỗ cứng chắc, kế đó từ từ nó mềm ra, từ từ dội nước cho thấm, gọi là mưa dầm thấm lâu, vô thiền quán là tạt nước vào tim, tạt thẳng vô não, nghe thiền quán mà cả thấy nhức nhói, thấm thía, chạm cả vào tim. Tất cả nước bốn biển chỉ có vị mặn, pháp của Phật chỉ có một vị là vị giải thoát, là thoát ra khỏi tham, sân, si, vô minh, bản ngã.

"Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)

Muốn thoát ra thì đầu tiên phải cảm nhận được nó, không cảm nhận thì làm sao cảm động, không cảm động thì làm sao cảm hóa. Cho nên cái tâm ban đầu cứng chắc nhưng cứ tạt nước, dội nước, tưới nước, rưới nước thì nó thấm lần lần, từ từ nó mềm ra, cái tâm nhu nhuyến, mềm mại dễ sử dụng, cái từ này sâu sắc lắm, bây giờ mình tạm cho mình vui lúc đầu vì tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng này là của thánh nhân. Cái tâm mình lúc đầu cứng, từ từ mềm ra, nhu nhuyến, mềm mại rồi nó nhũng ra, nó tan chảy, hòa tan nước với sữa. Khi mà nước với sữa nó đó hòa hợp với nhau rồi tách ra được không? Tất nhiên là không cho nên Đức Thế Tôn nói các vị tu ở trong pháp của ngài, gọi là thánh đệ tử thân tuy khác nhau nhưng đồng một tâm, đó là cái tâm hiền thiện.

Từ chỗ này phải đi tới tâm hiền, khi những cái cảm thọ này thành tựu, nó phong phú, nó giàu có, nó nhiều, nó đầy ắp thì bước vô cái tâm hiền này giống như mở cái cánh cửa chào mừng, hoan nghênh mời vô. Những cái này có rồi thì bước vào rất dễ dàng, rất là tự nhiên đi vào cái tâm hiền, mà tâm hiền này có tới chín pháp tu của ngài Xá-lợi-phất. Cái tâm hiền này phải dùng tới chín pháp an trú tâm, mà cái tâm hiền này là tâm hiền thánh chứ không phải hiền bình thường cho nên vị trí của mình hiện tại nó ở đây, những cái an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào này phá những cái nãy mình nói. Cái an tịnh này trị cái bệnh dao động, mình có bệnh dao động nhiều không? Dao động miệng, dao động tâm, cái lắng dịu này trị cái bệnh loạn động, mình có loạn động không? Cái tâm có nổi loạn không? Cái miệng có nổi loạn không? Cái thân lâu lâu có nổi loạn không? Đụng tới tô thì rớt tô, đụng chén bể chén, bưng bát rớt bát, làm tới đâu là ầm ầm tới đó, đó là bạo động, từ chỗ dao động, loạn động đưa đến bạo động.

Chúng ta biết bạo động trên thế giới rất nhiều, nổi loạn cho nên có chương trình bất bạo động mà cứu cả một đất nước cho nên cái chữ an tịnh này, lắng dịu này là tối thượng, không phải bình thường, tu tới chứng A-la hán. Trong kinh Nikāya nói Thế Tôn là bậc an tịnh, thuyết pháp để đưa chúng sanh đạt đến cảnh giới an tịnh, hai chữ đó là tu cho tới cứu cánh cùng cực. Khi mình tu tới tột cùng rồi sắc của mình sẽ an tịnh, tất cả thọ của mình sẽ an tịnh, lắng dịu, tất cả tưởng an tịnh, tất cả hành lắng dịu hết, tất cả thức an tịnh, lắng dịu hết, đi đến Niết-bàn tâm bất động giải thoát. Thành ra mấy cái chữ này tu tới chết chưa xong, đừng có xem thường, học được chút rồi nghĩ "mấy cái này tôi biết, mấy cái này sơ cấp mới vô tôi biết rồi", bây giờ làm được chưa, biết mà làm được chưa, "tôi học cái gì cao siêu chứ còn cái này tôi biết hết trơn rồi, nói hoài".

Cái tâm đó là tâm ngã mạn, tâm đó là tâm bất kính với pháp, tâm đó là tâm vô minh cho nên mình nhìn sâu sắc mới thấy hay lắm. Chừng nào mình chứng được cái pháp đó, mà mình chứng được cái pháp đó thì khi nói cái pháp đó mình hoan hỉ, mình ngọt ngào, mình sung sướng. Còn giờ nói mà mình chống lại thì coi cái chống đó là cái gì, cho nên ở trong cái bạo động, ở trong cái loạn động, cái dao động này là một cái tâm chống đối, mà cái tâm chống đối này rất là nguy hiểm. Người tu dòng pháp này đầu tiên là diệt cái tâm chống đối trước, mà không phải diệt lúc đầu đâu mà diệt cho tới cái lúc mình Nhập Lưu thì lúc đó mới hết chống đối. Có những người tu trình pháp nói "chánh quán thọ thực khó chịu quá, vô ăn đi, chờ lâu nên bực bội, khó chịu quá", cái dục bên trong chống đối hoặc là ngồi thiền thấy khó chịu quá, thấy trong người thúc giục muốn bước ra tung tăng ở ngoài, nó muốn lang thang sống đời vất vưởng, ngồi yên không chịu, nó khó chịu lắm.

Cho nên mình thấy sự tu của mình rất là quan trọng, trong cái sự tu của mình mấy cái chữ này nó quan trọng lắm, đó là nhiếp phục và chế ngự, mấy cái từ này rất là quan trọng, đây là pháp hành. Nhiếp phục và chế ngự cảm thọ, nhiếp phục và chế ngự mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, nhiếp phục và chế ngự thân, miệng, ý, nhiếp phục và chế ngự các ác và bất thiện pháp. Một mặt mình nhiếp phục, chế ngự những cái tham, sân, si, ác bất thiện pháp, những cái gọi là loạn động, dao động, loạn động, bạo động, một mặt mình tăng trưởng các thiện pháp ngọt ngào, hiền thiện này, diệt ác sanh thiện.

Phải nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch diệt tận các ác và bất thiện pháp, khi mình nhìn lại, mình nhận diện ngũ uẩn rồi, mình nhìn vô cảm thọ rồi mình sẽ thấy cảm thọ sân, mình biết cảm thọ tham, mình biết cảm thọ thúc giục, mình biết cảm thọ muốn hơn thua, tranh giành, ta, tôi. Sau khi mình biết thì mình phải nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, diệt tận nó, tùy theo khả năng của mình, tùy theo tên địch rồi tùy theo vũ khí của mình, có pháp khí, vũ khí độ nào thì mình sẽ nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận nó theo cái mức độ đó. Tùy theo sự nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm của mình để mình đánh giặc thì mình sẽ có được những cái chiến thắng tương thích, tương ứng, phù hợp với mồ hôi nước mắt, công sức mà mình đổ ra tu. Tu này là tu thiệt chứ không có tu giả được, nó nằm trong cảm thọ thì làm sao tu giả được, nói ra là bốc mùi thì làm sao giả, nói ra là tỏa hương thì làm sao giả được.

Thầy Thiện Huệ:

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật, ngài là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chánh pháp, pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng, diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, trực Hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng, chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với thánh giới, giới được các bậc thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.

Nhiếp phục, diệt tận cái ác

Sư Phụ: Chúng ta diệt ác sanh thiện, nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, diệt tận những cái pháp ác, những tham muốn, những thúc giục, những thèm khát, những bực bội, những phẫn nộ, những sân hận, những tức giận, ganh tị, tật đố, hơn thua, cống cao ngã mạn, kiêu mạn, kiêu ngạo, hống hách, khoe khoan, dối trá… Những cái pháp ác đó chúng ta phải nhiếp phục nó, khi chúng ta nhận diện thọ; tưởng; hành, nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ thấy những cái hình bóng đó xuất hiện, những cái suy nghĩ sanh khỏi, những cái cảm giác đó bốc lên. Chúng ta phải nhiếp phục và chế ngự nó, diệt tận nó, chúng ta thấy từ hôm ngày đầu tới nay mình có tu giống vậy không ạ? Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, tất cả pháp lấy cảm thọ làm chỗ hội tụ, làm chỗ quy tụ, cho nên chúng ta tu là chúng ta đánh ngay cái tổng tư lệnh, bộ chỉ huy, đầu não của tất cả ngũ uẩn nằm trong này. Nó là thống soái, thống lãnh, nó là tổng đạo diễn, bộ chỉ huy, nó nằm trong cảm thọ của chúng ta cho nên mấy hôm nay chúng ta tu tập cảm thọ hiền thiện, những cảm thọ thương, từ bi, thương hiểu, những cái cảm thọ thấy được nỗi khổ của cuộc đời này, những cảm thọ buông xả, những cảm thọ hoan hỉ, những cảm thọ xót thương chính mình và xót thương hữu tình chúng sanh, từ, bi, hỷ, xả vô lượng tâm.

Một mặt ở bên đây chúng ta diệt những cái cảm thọ ác, nhiếp phục, chế ngự những cái tham, sân, si, bản ngã, hơn thua, tật đố, ganh tị, ghim gút, cọc cằn, cống cao ngã mạn, dối trá, xảo ngụy, tất cả những cái cấu nhiễm rác bẩn ở trong tâm là cần được quét dọn. Khi mình quay cho về nhà bỏ trống vô lượng, căn nhà bị bỏ hoang vô lượng vô biên kiếp, mình bỏ nó cả trăm đời ngàn kiếp, vô lượng vô số kiếp thì nó cực kì dơ bẩn, nhiều lúc mình ớn, mình khiếp luôn, mình thấy khủng khiếp cái tâm này quá mà chỉ có nhận diện ngũ uẩn mới thấy. Nhớ kỹ, chỉ có người nhận diện ngũ uẩn mới thấy tâm mình một cách chính xác nhất, đây gọi là thánh tr,í là trí tuệ của bậc thánh, trí tuệ tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Cái này là một sự thấy đúng về thân tâm của mình, thấy chính xác nhất, thấy đúng nhất, ta gọi là thấy đúng của bậc thánh, còn gọi là thánh tri kiến, chánh tri kiến, chánh kiến, gọi là tri kiến của bậc thánh. Lúc nào chúng ta không thấy ngũ uẩn thì lúc đó chúng ta là phàm phu tri kiến, lúc nào không thấy ngũ uẩn, lúc nào không thấy năm thì thấy một, đây là một bản ngã, một cái tôi, một cái ta, một cái bản ngã, "đụng vô đây biết tay tôi". Khi mình nhận diện ngũ uẩn thì cái nắm tay mở ra từ từ, khi mình thấy được năm thì lúc đó không có một, mà khi có một là lúc đó không thấy được năm. Hễ mình quên nhận diện ngũ uẩn thì lúc đó là cái thấy về tôi, hễ thấy cái tôi là không thấy ngũ uẩn, hễ thấy ngũ uẩn là không còn cái tôi nữa. Tuyệt diệu không? Tối thượng không?

Lúc nào mình thấy một là lúc đó mất thánh trí rồi, mất trí huệ rồi, Lúc nào mình thấy năm nhóm thì lúc đó là minh, lúc nào mình thấy một cái bản ngã là vô minh. Mình chọn cái nào, một ngày hai mươi bốn tiếng được mấy lần? Cái năm này ác độc lắm, năm cái thằng này ác dữ lắm, năm thằng này gọi là ngũ hành, năm thằng này nó hành mình, năm cái thằng nói nặng là năm thằng mất dạy. Sắc; thọ; tưởng; hành; thức này trong vô lượng, vô số, vô biên kiếp rồi mình đâu có thấy nó đâu mà mình dạy cho nên nó quậy mình. Bây giờ mình kêu đừng giận nó nghe lời không? Nó cứ giận, mình kêu nó đừng có bản ngã nghe, học biết vô ngã rồi nó có bản ngã không, kêu nó đừng có tham nó có tham không, vậy là nó có dạy không. Từ vô lượng, vô số, vô biên kiếp là nó là đi hoang, cái tâm hoang vu, cái tâm rừng rú, cái tâm hôn mê, cái tâm chấp thủ, cái tâm rất là to, cao lớn, cho mình là hay lắm, cho nên nó hành mình.

Sắc có hành mình không? Ngồi một chút có hành không? Sáng thức sớm chút nó có hành không? Con mắt nó có hành mình không? Rồi đói chút cái bụng có hành mình không? Rồi mắc mà mình đi ra không được nó có hành mình không? Có quýnh quán lên không? Nó hành mình từ mở mắt cho đến nhắm mắt, trong lúc ngủ nó cũng hành mình nữa, nằm chiêm bao thấy cự cãi, tức quá rồi nói không được, nằm chiêm bao thấy cãi nhau, ngủ mà nó cũng hành hạ mình, cũng sân trong giấc ngủ nữa. Vậy là cái tâm hôn mê, cái tham dục trong giấc mộng có không, những cái bất tịnh chảy ra, rồi nó sân hận, nó sân si lên, nó phừng phựt lên. Lúc nằm chiêm bao nó giận có giống y như lúc ở ngoài không? Nó y chang, nó hành mình đó, phải nhìn thấy nó hành mình, cứ cưng nó, cứ chiều nó, cứ thương nó, cứ bênh giật nó, nó làm cho mình khổ.

Cưng nó, thương nó, chiều nó, bênh nó rồi lo cho nó, cung phụng cho nó, rồi tạo nghiệp vì nó, tới cuối cùng nó đi không có một lời từ biệt nào hết, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã. Vậy giờ mượn nó tu được không? Buồn ngủ một chút, tê cẳng nhức lưng một chút cũng vượt qua luôn, nhất chí không? "Từ nay ta không nghe lời mi nữa, ta hết ngu rồi, ta có trí tuệ rồi", mạnh mẽ lên, trí huệ lên, thánh trí là ở đây, thấy đúng của bậc thánh, thấy đúng những cái sắc hành này, cái sắc này nó hành hạ mình. Thọ này nó hành hạ mình không? Chỉ cần nghe một lời nói thôi là về ăn không ngon, ngủ không yên, tối nằm chiêm bao nói mớ cãi lộn, đó là cái sân. Bây giờ tới cái tham ái thì sao? Có mất ăn bỏ ngủ không? Lúc mới gặp ổng ra sao? Có bị ám ảnh không? Ám ảnh hình bóng ổng trong đầu rồi nhớ, rồi thương, rồi yêu, rồi đau đớn, đau khổ, đau xót, đó là cái thọ hành mình mà mình không thấy.

Nhiều khi trong nhà cái chuyện có chút xíu không có đáng gì hết, nói hai ba câu rồi cãi nhau, giận nhau, phựt lên cháy lan khắp nhà, thậm chí lan qua nhà kế bên, đó là cảm thọ hành mình. Cảm thọ hơn thua là chạy xe phải chạy nhanh hơn, lên xe là vọt, phóng nhanh vượt ẩu rồi vào nhà thương, nhà xác, nhà hoàn rồi nhà mồ. Đó chỉ là cảm giác thôi chứ không có gì hết, cái cảm giác chút xíu, cái hơi bốc lên là bắt đầu phùng mang trợn mắt lên thì nó trở thành ra ngũ quỷ, từ ngũ hành biến thành ngũ quỷ. Chúng ta thấy ở trong Tây Du Ký mấy cái con đó là ngũ uẩn đó chứ không có xa đâu, những cái cảm thọ trong con người mình là yêu tinh, nó ngăn trở con đường thỉnh kinh.

Đây là đang đi thỉnh kinh mà bị yêu tinh cản trở, đó là từ cái ngũ hành qua ngũ quái, ngũ quỷ, nó làm khổ mình dữ lắm. Mình phải nhìn ra cho được, mình phải nhìn ra cho được mình nhìn ra được cái bản mặt của nó, mình biết tên tuổi rồi mặt mũi, biết tánh tình, biết bản chất, biết được rồi mình phải trị nó, không trị nó thì nó đè đầu cưỡi cổ mình, nó hành hạ mình, nó đày đọa mình, nó hành xác, hành tội mình, nó hành phạt mình, nó hành hình mình. Một ông già tám mươi tuổi mà đi hiếp một đứa trẻ chưa đầy hai tuổi, khủng khiếp không? mới vừa rồi bà già tám mươi mấy tuổi nằm bệnh mà một thanh niên đi vô hãm hiếp bà già tám mươi mấy tuổi, chúng ta thấy khủng khiếp không? Cái cảm giác nó hành hạ mình, cái dục nó hành hạ mình, nó đày đọa chúng sanh.

Mình phải ghê rợn, ghê rợn, kinh hãi, khiếp đảm, ác độc là những cái cảm giác này, những cảm giác dục, tham, ái, những cảm giác sân hận này, những cảm giác hơn thua, bản ngã này là tai hại, tai họa, nó hiểm họa, nó tai nạn, tai ương, nó ách nạn, nó khốn nạn, nó hiểm nạn, nó nguy nan, cho nên mình phải luôn luôn an trú cảm giác toàn thân để nhìn ra các cái cảm thọ đó và nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận nó, đó là ta diệt ác. Bây giờ chúng ta sanh thiện là từ, bi, hỷ, xả vô lượng tâm, khi trải từ vô lượng tâm thì cảm giác lúc đó ngọt ngào, thương mến, dễ chịu, thấy thương mình thật nhiều, thấm thía nỗi khổ của tự thân mình, của cuộc đời, của chúng sanh, đó là chúng ta đang sanh thiện, làm cho sanh khởi những cảm thọ hiền thiện. Nó ngọt ngào, nó hiền hòa, nó từ ái, nó yêu thương, nó chạm đến những cảm xúc cả một cuộc đời sống tới nay năm mươi năm, sáu mươi năm, bảy mươi năm mình chưa từng có được, làm cho sanh khởi những cảm giác hiền thiện hiền trí, hiền đức, hiền lương, những cái cảm giác của các bậc hiền thánh là mình thấy được cái đau khổ, khổ thánh trí trên cuộc đời này.

Làm cho sanh khởi những cái cảm giác, những cái cảm thọ hiền thiện, hiền hòa, hiền kính, hiền thương, hiền từ. Cho nên đừng có sợ khóc, đừng có sợ, cứ để cho khóc, từ vô lượng vô biên, vô thỉ kiếp tới nay vì thất tình nó khóc, vì thất nghiệp nó khóc, vì thất chí nó khóc, vì tham, sân, si nó khóc, vì bản ngã, hơn thua, tật đố nó khóc mà bây giờ nó khóc vì nó thấy được chánh pháp tối thượng. Như vậy có đáng giá không? Cứ để cho nó khóc, cứ cho nó khóc cho sưng con mắt lên, mỗi dòng nước mắt chảy xuống là mỗi lần được gội rửa, được lau chùi, được quét dọn, được tưới tẩm, được thanh lọc, thanh tẩy, tịnh tẩy, tịnh hóa cho nên cái cảm thọ cứ để cho khóc. Có mấy người đặt tên khóa tu của mình là đệ nhất khóc, không sao cả, người ta không biết thì thắc mắc tu gì khóc dữ vậy, vô đây rồi biết, nhất chí không? Trong này chẳng những có đệ nhất khóc mà còn có đệ nhất từ, đệ nhất bi, đệ nhất hỷ, đệ nhất xả, còn có đệ nhất hiền, đệ nhất hòa, đệ nhất kính, đệ nhất thương.

Hãy cho nó sanh khởi lên, hãy làm cho sanh khởi những cảm giác hiền thiện, sanh khởi cảm thọ hiền thương. Vô lượng vô biên kiếp sanh tử vừa qua mình chưa có những cái cảm thọ này, mình toàn có những cái cảm thọ hơn thua, tham lam, sân si, bản ngã, ganh tỵ, tật đố, ghim gút, cọc cằn, móc câu, đâm thọc, thêu dệt, những cái cảm thọ bất thiện ác không. Bây giờ mình cho nó sanh lên những cái cảm thọ hết sức hiền thiện, hết sức là tuyệt vời, tuyệt diệu, hết sức là ngọt ngào, dễ chịu, hết sức là mát mẻ, thanh lương. Mình tu cho tới cảm động cả trời đất nữa, chúng ta thấy chư thiên đãi mình không, cái ngày mới rồi cái ngày kế chúng ta ngồi bên Thánh Pháp Viện có biển mây không thể tưởng tượng được, một lát sau tưởng là tan nhưng lại hiện ra cho nên ta phải cảm ơn chư thiên. Tức là cái lòng từ của mình, tình thương của mình, chánh pháp của mình lan tỏa đất trời cho đến tất cả chư thiên, chư thần, tất cả đều phải hân hoan, hoan hỉ, biểu hiện ra những cái để mình thấy được cái sự đồng thuận, đồng lòng, đồng cảm, đồng tâm, đồng tu với mình vui.

Tất cả chư thiên giờ cũng hoan hỉ, thấy mình tu vậy là hoan hỉ lắm, mình về đây mình tu sát ở trên trời mà, Cổng Trời bước vô là tới. Chúng ta hạnh phúc thì chúng ta mới ở đây tu được hai tuần, còn lên đây mà thấy mặt buồn thì ba bữa là âm thầm quải đãi xuống núi khỏi từ giã cho nên mình phát huy được những cảm thọ này rất là tuyệt diệu. Nếu tối nay thời tiết tốt hoặc là ngày mai chúng ta sẽ đốt lửa ngồi ở ngoài bãi cỏ ngoài trời để chúng ta thiền quán tâm hiền như lửa, như sưởi ấm mình, sưởi ấm con tim lạnh giá, cô đơn, lẻ loi, sầu, bi, ưu, não của mình bằng những cảm thọ ấm áp, ngọt ngào, yêu thương, từ ái của các bậc hiền thánh cao thượng.

Tác ý

Tuyệt chịu lắm, tu cái này tuyệt diệu lắm, nó đánh thẳng vô tổng hành dinh của cảm thọ đấy, tất cả pháp lấy cảm thọ làm hội tụ và tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi cho nên mình phải tác ý. Tác Ý là tác động tâm ý đúng như chân lý, gọi là tác ý, tác động tâm ý tức là tự mình nhắc mình, tự mình hướng cái tâm của mình, tác động tâm ý đúng như chân lý những lời Đức Phật dạy. Thí dụ mình tác Ý tâm từ thì cái tâm mình sanh khởi lên tình thương, sáng này mình tác ý về cái khổ của cuộc đời thì lúc trí tuệ về khổ của mình rực sáng, nó chạm đến trái tim của mình, nó chạm tới trái tim của những người thân thương của mình và nó chạm đến nỗi khổ của tất cả hữu tình chúng sanh. Lúc đó tình thương của mình bao la, dào dạt, rộng lớn, sung mãn cùng khắp, đó là chúng ta lấy tác ý làm sanh khởi, phải tác động tâm ý, còn ngồi thù lù một cục, ngồi im ru hoài không có tác ý gì hết thì không sanh khởi cái gì cả.

Cũng vác cái thân lên ngồi hai tiếng chờ cho đánh tiếng chuông xong là thấy khỏe thì tu không có cái gì cả, không như lý tác ý, không làm cho các thiện pháp sanh khởi, ngồi chịu trận vậy đó, lâu lâu nhìn đồng hồ xem gần hết giờ chưa, chưa hết giờ thì nôn nóng, vừa nghe đánh kẻng hết giờ thì thấy khỏe, mặt mày rạng rỡ. Tu vậy khổ lắm, mình tu có hương vị, có mùi vị, có thú vị, có đạo vị, có pháp vị, có thiền vị, Đức Phật có nhiều cái vui lắm, viễn ly lạc, chánh giác lạc, siêu thế lạc, Niết-bàn lạc, rất là nhiều niềm vui nếu mình biết tu ở trong Nikāya. Niềm vui của thượng nhân pháp không phải là niềm vui thấp hèn, hạ liệt của phàm phu chỉ biết ở trong năm dục trưởng dưỡng mà mình có những niềm vui cao thượng hơn, tối thắng hơn, thù thắng hơn, vượt lên trên thế gian gọi là siêu thế lạc tức là niềm vui siêu việt thế gian.

Thế gian chỉ biết ăn chơi, những cái ngũ dục thôi, tài sắc, những cái sắc; thanh; hương; vị; xúc chứ không biết cái niềm vui trở về với sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Một cái tâm thương, tâm từ rộng lớn, vĩ đại với một niềm hoan hỉ, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm, một cái niềm vui trùm cả trời đất thì như vậy ai sánh nổi niềm vui này, chỉ có các bậc thánh đệ tử. Cho nên con mới gọi người tu chúng ta là tỷ phú tâm linh, niềm vui của người ta dữ lắm là cái nhà trăm tầng thôi là quá cỡ rồi, cho trăm mấy chục tầng luôn đi, còn niềm vui mình trùm cả cái địa cầu này, nó trải khắp mười phương, bên phải, bên trái, phía trước, phía sau, chiều dọc, chiều ngang, cùng khắp tất cả mọi phương hướng, tâm vô lượng vô biên, không hận, không sân, từ ái, dạt dào, ngọt ngào, yêu thương cùng khắp thập phương, vô lượng, vô tận vô biên thì ai chơi nổi với niềm vui này của mình, không có ai mà so sánh tại vì mình đâu muốn hơn ai đâu, tự nhiên pháp nó là như vậy.

"Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

Dầu cho loại chúng Tăng hay hội chúng nào, này các Tỳ-kheo, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy. Tức là bốn đôi tám vị, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. Này các Tỳ-kheo, đây là bốn lòng tin tối thượng." (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)

"Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương trợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc Tối thượng giữa các loài hai chân." (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, Như Lai)

Mình đang đi trên con đường tối thượng, không có cái gì cao hơn, vô thượng, tối thượng, thù thắng, siêu diệt thế gian này, siêu thế lạc. Buồn cái gì? Dục nó buồn, ái nó buồn, tham nó buồn, vô minh nó buồn, ngu si nó buồn chứ trí huệ không có buồn, sự thấy biết khổ trong cuộc đời này làm sao buồn được. Mình càng thấy khổ thì mình càng rời xa, mình càng rời xa thì mình càng thoát ra, mình càng thoát ra thì mình càng hỷ lạc, mình càng hân hoan, mình càng hạnh phúc. Buồn cái gì mà buồn? Buồn vì không có thằng chồng hành hạ, nó đập hay sao, muốn kiếm cái thằng say xỉn về đánh hay sao, muốn kiếm cái con đó về hành hạ hay là sao mà buồn, muốn kiếm con ghệ để nó hành hạ cho khổ sở hay sao.

Đi tu cạo đầu sung sướng biết bao nhiêu mà nói, mình tu là mình thoát sanh tử nhưng sanh tử có nhiều nghĩa, nói nôm na là sanh tử là sanh con, đi tu mà không sanh con cũng khỏe hết năm mươi phần trăm rồi, giải thoát rồi. Cỡ tuổi này có bốn đứa con thì làm sao ngồi đây tu được, sáng ra là đầu tắt mặt tối, làm quần quật vẫn không đủ tiền nuôi gia đình, rồi bệnh tật, con cái khóc lóc nửa đêm, rồi chồng nhậu về quậy. Đi tìm những cái này để làm cái gì? Tìm mấy cái khổ đó để làm cái gì? Đó là nói cái nghèo, còn nhà giàu bảy tám tầng, villa, biệt thự rồi để cho những người làm ở đó hưởng, còn bản thân sáng phải đi kiếm tiền đến tối mới về rồi lo lắng, suy tư, bất an đủ kiểu. Bây giờ mà cạo đầu lên núi thì "về núi yên tu sướng hơn tiên", sướng đến nỗi kêu trời đất luôn tại vì niềm hạnh phúc của mình là vô lượng vô biên, không hận không sân cùng khắp mười phương vô lượng.

Mình trú trong cái tâm vô lượng đó, mình hạnh phúc, mình không còn muốn những cái thấp hèn, những cái hèn hạ, những cái bẩn thỉu, những cái làm cho mình khổ đau. Bây giờ chúng ta nhìn thử đi, nhậu vui không? Rượu vào lời ra vui không? Xong rồi đập chén, đập bàn, đập nhau, bây giờ mình coi trong cái tình dục, tình ái, ghen rồi tạt axit vô đối phương, toàn bộ mặt mang bảy mươi lăm phần trăm thương tích, trở thành một người dị dạng, dị hình, dị tật, không dám ra đường luôn. Hoặc là cứ xách xe chạy mà không biết chạy đi đâu, cứ chạy hoài vậy đó, thích đời lang thang, thích xê dịch, chạy hoài mà không biết chạy đi đâu, kiếm hoài mà không biết kiếm cái gì. Về núi ngồi yên thiệt là vui, bầu trời mát dịu đẹp tuyệt vời, vườn trúc ngày xưa như tái hiện Thế Tôn, thánh chúng tại nơi này.

Phải biết tác ý, tất cả các pháp lấy tác Ý làm sanh khởi nên phải tác ý lên, Trúc Lâm như tại, linh sơn như tại. Giống như mình ăn món ngon, mình muốn ăn nữa, mình muốn ăn thêm, rồi mấy bữa sau mình cũng muốn ăn nữa, mình ăn một cái món ăn vô vị, không có mùi vị gì, nó nhạt miệng thì mình đâu có muốn ăn nữa, cũng vậy, mình tu phải có thú vị, phải có hương vị, phải có pháp vị, phải có đạo vị, phải có thiền vị, phải có lạc vị, phải có hỷ vị, phải có thánh trí huệ vị ở trong đó. Cho nên Thế Tôn làm cho phấn khởi, làm cho hân hoan rồi sau đó ngài mới thuyết những cái pháp thâm sâu, ngài mới thuyết những cái pháp về cái nguy hiểm và tác hại của dục, ngài mới nói những cái lỗi lầm của dục ở trong cuộc đời này làm cho chúng sanh đau khổ, rồi ngài mới Tuyên thuyết những cái pháp cao thượng được tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác quá khứ, hiện tại, vị lai tuyên dương, đó là bốn sự thật về khổ của bậc thánh.

Làm cho hân hoan, làm cho hoan hỉ, làm cho hỷ lạc ở trong các thiện pháp, từ từ ngài dẫn dắt, ngài chỉ cái nguy hiểm, cái tai họa, cái tai hại của dục ở trong cuộc đời này. Vì tham, vì dục, vì ái, vì thèm, vì khát, vì cứ chạy đuổi, kiếm hoài, nắm bắt những cái ảo ảnh hoài mà mình khổ đau, đuổi hình bắt bóng, sầu, bi, khổ, ưu, não. Con chó ngậm miếng thịt, lúc đi ngang câu cầu thì nó thấy cái bóng con chó cũng đang ngậm miếng thịt to hơn của mình nên nó nhảy ùm xuống dưới, mất cục thịt, rồi chết chìm luôn, gọi là đuổi hình bắt bóng, nhọc sầu bi, nó ảo tưởng, tất cả chúng sanh sống trong ảo tưởng. Trời đất ơi! Khổ lắm, cái tưởng này nó hành mình, mình nhìn thấy "ổng sướng hơn tôi, tôi làm cực khổ muốn chết luôn, ổng sướng" mà mình không biết ổng cũng khổ lắm, hoặc là "giờ bả sướng hơn tôi" mà mình không biết rằng bả cũng khổ đau lắm, cũng đầy những nỗi khổ niềm đau. Người kia sướng hơn tôi nhưng mình không biết rằng người kia cũng bao nhiêu nỗi sầu đau, uất hận ở trong lòng.

Nếu mình hiểu ra được thì tất cả không ai sướng hết, tất cả là nạn nhân của lòng tham, lòng dục, lòng ái, lòng sân hận, lòng bản ngã, là nô lệ của tham dục, là đầy tớ của tham ái, là kẻ tay sai của những thèm khát bên trong cái cảm giác này. Khi đã biết vậy rồi mình mới thương, thương sao là thương, thương cùng khắp rộng lớn tất cả hữu tình chúng sanh vạn loại, tất cả những ngũ uẩn đáng thương này, tâm thương đó mới là từ bi của đạo Phật, mới là trí tuệ của thánh pháp. Cái tâm thương đó rộng lớn không phân biệt ai hết, tất cả là những ngũ uẩn, có thương mình hay chăng ngũ uẩn khổ. Thương mình là phải biết an tịnh lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, có thời gian rãnh là mình niệm như vậy, nhất là những người hay bị mất ngủ, nằm đó cứ thả lỏng toàn thân rồi kêu cảm thọ giữa lồng ngực và cái cảm giác toàn thân, mình trú vô cảm giác hết cả cơ thể rồi mình kêu một từ an tịnh là an từ trên đỉnh đầu dài xuống gót chân của mình.

Đây là thiền nằm, mình kêu cái thiền an tịnh, lắng dịu như vậy đó, dù cho ngủ không được nhưng mình sẽ rất là khỏe, mình sẽ nạp được cái năng lượng rất là tốt, dầu cho mình ngủ ít nhưng mà thức dậy mình vẫn khỏe. Mình kêu lắng dịu, mình làm cho cảm thọ của mình lắng từ đảnh tóc cho tới gót chân của mình, từng làn da, từng thớ thịt, từng tế bào, ngấm vào xương, vào tủy, vào não, tất cả các tế bào trong cơ thể mình thấy một cái sự lắng dịu xuất hiện rồi mình kêu dễ chịu. Nếu mình ngủ thì mình chỉ kêu hai chữ an tịnh, lắng dịu thôi cũng được hoặc thêm dễ chịu nữa thì tự động thân tâm của mình sẽ nhẹ nhàng, sẽ mát dịu, sẽ lắng dịu, sẽ dễ chịu, dầu cho mất ngủ cũng sẽ ngủ được, mà nếu không ngủ nữa thân thể mình vẫn khỏe, vẫn an, vẫn rất nhẹ, nhất là những người căng thẳng, lo âu, có những vấn đề sợ hãi thì cứ niệm cái này.

Thực tập cảm giác toàn thân hiệu quả bất ngờ, thực tập đi rồi sẽ thấy điều kì diệu. Mình kêu bốn cái tâm vô lượng này luôn, "tâm thương ơi tâm thương, tâm thương đâu rồi tâm thương", những cái lúc khó chịu là mình kêu "tâm thương ơi tâm thương, tình thương rộng lớn đâu rồi". Nói tiếng việt thì tâm từ là tâm thương, tâm bi là tâm xót, tâm hỷ là tâm vui, tâm xả là tâm buông, tự nhiên buổi chiều bước ra nhìn xuống núi thấy buồn, tôi buồn mà không biết vì sao tôi buồn thì nói "tâm vui ơi tâm vui, tâm vui đâu rồi tâm vui, mình đang ở trên núi tu nhẹ nhàng, thanh thoát, viễn ly, an lạc, siêu thế, cao thượng, tối thượng như này, vui lên nghe không, buồn đi chỗ khác chơi để cho bà tu, bà già rồi để cho bà tu" hoặc là "buồn cái gì, muốn xuống nhậu để đánh lộn hả? Muốn xuống đua xe để vô bệnh viện hả? Muốn chạy đi theo những cái đầm lầy của ái dục hả?".

Mình tác ý như vậy, mình cho sanh khởi sự hoan hỉ, sự hỷ lạc, sự hạnh phúc lên. Mình dùng cái tâm vui đánh đuổi cái tâm, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi mà mình không tác ý, mình không tác động tâm ý, mình không dạy dỗ tâm, huấn luyện tâm, giáo dục tâm, dẫn dắt tâm, lèo lái tâm thì cái tâm mình nó chạy tầm bậy, mà nó chạy tầm bậy thì nó rơi xuống vực sâu. Thành ra phải tác ý dẫn cái tâm cho nên thiền quán là cách để chúng ta dẫn tâm, hướng tâm, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ cái tâm, mình an trú tâm mình vào thánh trí, thánh đạo, thánh pháp, thánh tuệ. Bây giờ mình kêu cái tâm xả "thôi xe ơi tội xe quá xả bớt hàng đi xe, quá tải rồi, mày chở cái gì. Của ai mày cũng chất vô đây, mày quá tải rồi, mày làm sập cầu mày biết không. Cây cầu người ta cho có năm tấn mà mày ba mươi lăm tấn là mày chết. Thôi quăng xuống đi, xả xuống đi, tâm ơi tâm, tội tâm quá, xả bớt giận hờn, sân si đi tâm". Cứ nhìn vô sẽ thấy, mà thấy thì phải xử lý rác, quét dọn, mình thấy tu như vậy thì mình đâu có rảnh đâu, mình rất là hoan hỉ, mình được nhẹ nhàng, được khỏe, tươi trẻ, an lạc cho nên phải cố gắng tu tập. hôm nay chúng ta nói về bước đầu để chúng ta thực tập, chúng ta có thể có thêm một hai buổi nữa để chúng ta thấy tiến trình tu tập hiện tại là chúng ta đang đi tới hiền thiện, tạm chia ba cấp độ là hiền thiện, kế đó hiền trí, sau đó là hiền thánh. Hiền giả là một bậc hiền thiện.

Chúng ta tu có trình tự, có thứ tự, có tuần tự, nó đạo lộ, có những cấp bậc rõ ràng chứ không phải muốn nhảy vô tu "sắc tức thị không", không phải nhảy vô cái thiện ác đừng nghĩ gì nữa hết, tu cái kiểu đó rất nguy hiểm phải. Mình thấy rõ được đạo lộ để mình thực hành, mình tu tập.

Tâm hiền này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm hiền này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.