Pháp Đàm Nikāya - Chánh Pháp Là Gì
Pháp Đàm Nikāya - CHÁNH PHÁP LÀ GÌ?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đức Phật dạy về Chánh Pháp PAGEREF _Toc71533778 \h 1
II. Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc71533779 \h 3
III. Cuộc đời vô thường PAGEREF _Toc71533780 \h 6
IV. Huấn luyện cảm giác PAGEREF _Toc71533781 \h 8
I. Đức Phật dạy về Chánh Pháp
Thở vào cảm giác tâm lắng dịu, thở ra cảm giác tâm dễ chịu. Tâm lắng dịu – thở vào. Tâm dễ chịu – thở ra. Lắng dịu – dễ chịu. Đôi môi nở nụ cười nhẹ.
Đại chúng có thấy cảm giác của mình được an tịnh, dễ chịu không? Hôm nay có phái đoàn của quý Phật tử từ Cần Thơ lên núi thăm viếng chư Tăng, cúng dường trai Tăng, hộ pháp và sáng mai đi làm từ thiện bằng tất cả tấm lòng rất là chân thành, cung kính. Cũng như trưa nay có phái đoàn của quý Phật tử từ Đồng Nai vào, các Phật tử cũng không ngại chờ 2 tiếng để được nghe pháp. Giờ đây chúng ta có mặt tại thiền đường của Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta đang có một không gian bình an, tĩnh lặng, thanh tịnh rất tuyệt vời.
Trong quyển Nghi Thức Tu Học Nikāya, phần Niệm Con Đường Độc Nhất sẽ trả lời câu hỏi Chánh Pháp là gì:
Kinh Niệm Xứ (Trung Bộ Kinh, Tập 1, bài 10)
“Này các Tỳ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn. Đó là Bốn Niệm xứ. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, ở đây:
Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.”
(Trung Bộ Kinh - bài kinh Niệm Xứ)
“Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác.
Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
Này Ananda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III – bài kinh Bệnh)
Như vậy trong cả 2 bài kinh: kinh Bệnh (Tương Ưng Bộ kinh) và kinh Niệm Xứ (Trung Bộ kinh) thì Đức Phật nói cho chúng ta biết Chánh pháp là gì. Nếu không nắm vững được thì chúng ta có tu học suốt đời cũng không thành công. Đức Phật đã nói đây là con đường ĐỘC NHẤT đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ NIẾT BÀN. Đó là bốn Niệm Xứ. Mình phải nắm vững được lời dạy nguyên thủy của Đức Phật đã được truyền thừa trong 2600 năm qua, từ Phật giáo nguyên thủy trong kinh tạng Nikāya. Ở đây chúng ta sẽ tu theo tinh thần Phật giáo nguyên chất. Như vậy Đức Phật nói Tứ Niệm Xứ là con đường ĐỘC NHẤT để đưa chúng sanh đến chỗ thanh tịnh, giải thoát, chấm dứt đau khổ.
Trong bài kinh thứ 2, Đức Phật đã nói hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình. Mọi người tự mình là ngọn đèn cho chính mình có được không? Tự mình nương tựa chính mình có được không? Đức Phật giải thích tiếp: Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác. Nếu như chỉ đọc đoạn đầu tự mình nương tựa mình rồi không đọc tiếp phần sau thì hết sức nguy hiểm vì mình vẫn còn vô minh, vẫn còn tham sân si thì làm sao mình nương tựa vào cái tham sân si đó được? Phải nương tựa vào Chánh pháp mà Chánh pháp là gì? Chánh pháp chính là quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Quán nghĩa là quán xét, soi rọi, xem xét, để ý…
II. Tứ Niệm Xứ
Quán thọ trên các thọ tức là quán sát, xem xét, để ý cảm thọ, cảm giác. Quán chiếu, quán xét, soi rọi nội tâm: Thân - thọ - tâm - pháp. Do mình quán chiếu, soi rọi nội tâm thì mình mới biết trong tâm đang có những cái gì đang xuất hiện, đang vận hành trong đó. Như vậy gọi là quán pháp. Mọi người cứ nhớ Tứ Niệm Xứ là Chánh pháp, mà Tứ Niệm Xứ là sự quay trở lại nhìn kĩ thân tâm chính mình. Đức Phật nói thêm rằng những ai hiện nay hoặc sau khi Ta qua đời thực hành theo bốn Niệm Xứ thì những vị đó là những vị tối thượng trong hàng đệ tử của Ta, nếu vị ấy tha thiết học hỏi.
Thế nào là Tứ Niệm Xứ? Thế nào là sự thường trực soi rọi, quán xét thân, cảm giác, tâm và những thứ đang vận hành bên trong? Tại sao Chánh pháp lại là sự quán xét thân tâm mà không phải là một thứ gì đó cao siêu vời vợi ở thượng phương hạ phương? Tại sao Đức Phật nói mình phải quay lại nhìn thân tâm mình? Tại sao Đức Phật nói mình phải kiểm soát thân tâm chính mình? Tại sao Đức Phật nói phải để ý thân tâm? Tại sao Đức Phật nói phải canh chừng, dò xét thân tâm?
Khi quý vị lên núi mà không để ý bước đi, đường dốc sẽ bị trượt chân té, bị thương, bong gân, bó bột… Mình để ý bước chân để thân thể mình được bình an, không bị tổn thương. Đây chính là sự quán thân.
Đức Phật dạy mình phải để ý lời nói. Vì khi nói ra mà làm người khác bực bội thì mình cũng sẽ nhận lấy cảm giác khó chịu. Như vậy mình phải để ý, kiểm tra lời nói để không làm tổn thương cho người, tổn thương chính mình.
Đây là chỗ thâm ý của Đức Phật. Dò xét cử chỉ, hành động. Một ý nghĩa trong nội tâm mình cũng phải để ý, nếu không dò xét, soi chiếu thì khi khởi lên những ý nghĩ xấu mà mình lại làm theo những ý nghĩ đó thì đem đến sầu bi khổ ưu não, tổn thương cho người và cho chính mình. Minh Thành nói những cái đơn giản, dễ hiểu nhất để mọi người thấy sự quay trở lại để kiểm soát, quán chiếu thân miệng – ý là để 3 nghiệp của mình được bình an, được bảo hộ, bảo toàn. Mọi người có bảo hiểm ý tế rất nhiều, vậy còn bảo hiểm tâm linh thì sao?
Giáo pháp là phương pháp bảo hiểm, bảo vệ, bảo an thân tâm của mình. Điều này còn quan trọng hơn gấp ngàn lần bảo hiểm y tế. Tự mình dò xét chính mình, dò xét cũng chính là quán chiếu. Dò xét những cử chỉ, hành vi, oai nghi, những cách ứng xử của mình với mọi người đúng hay không đúng, hợp hay không hợp, đẹp hay không đẹp. Đây là quán thân trên thân cũng chính là Chánh pháp, là sự tu của mình. Chứ không phải sự tu là tụng niệm, lạy bao nhiêu lạy. Đây chỉ là một phần nhỏ ở trước bàn Phật, còn khi ra ngoài là hết tu. Không phải như vậy. Lúc nào mình cũng để ý nhìn lại, soi rọi, quán chiếu thân tâm.
Trước Thiền đường có bảng Giữ yên lặng, khi nhìn thấy bảng đó thì vào phải khép miệng lại, để điện thoại ở chế độ im lặng. Đây chính là tu. Khi mình đã có bảo an, bảo hộ như vậy thì mọi người được yên tịnh chứ ngồi ở đây cả trăm người mà 5 phút là điện thoại reng, 10 phút tin nhắn tít tít thì người kế mình có bị động tâm không? Sự tu của mình được như vậy thì rất tuyệt vời, rất gần gũi chứ không có xa vời. Đi tới bất cứ chùa nào khi bước vào Chánh điện thì phải cung kính, trang nghiêm, đây là quán thân trên thân, đó là Chánh pháp, là Tứ Niệm Xứ.
Đây chính là sự bảo toàn, bảo hộ thân thể. Mọi người có thấy tuyệt vời không? Có thấy thực tế không? Mình phải xem mình ngồi, đi đứng, nằm, cử chỉ… nhất là khi vào tu tập, phải tập quán thân trên thân. Chánh pháp không còn nằm trong cuốn kinh nữa mà Chánh pháp nằm ở cử chỉ, hành động của thân thể mình, lúc đó sẽ biểu hiện Chánh pháp, người nào đến chùa cũng là đóa hoa sen, còn không sẽ là súng, canh nhau để bắn, bắt lỗi người này người kia.
Cho nên sự tu là không phải nhìn người ta mà quay lại nhìn chính thân tâm mình. Khi ăn cũng phải quán thân trên thân, gắp ra sao, nhai như thế nào, nuốt làm sao chứ đừng thấy ngon quá rồi húp sột soạt, quay lại thấy ai cũng nhìn mình, vì lúc đó mê quá nên quên hết. Mỗi cử chỉ, hành động thể hiện Chánh pháp, oai nghi, sự trang nghiêm của người Phật tử. Khi chúng ta thực tập thiền định thì Minh Thành nhìn xuống thấy mọi người đẹp vô cùng, nhờ lực của chư Tăng, chư Ni, của Tam bảo thì mọi người vào được sự quán thân trên thân.
Tiếp theo, mình thường nhìn lại cảm giác, cảm thọ, cảm nhận trong tâm của mình, phải để ý cảm giác vì nó rất nguy hiểm. Vui quá thì bung luôn, buồn quá thì rơi xuống vực. Cho nên phải nhìn lại cảm giác xem trong hiện tại có cảm giác gì. Đó là chỗ chất chứa những thứ phiền não cũng là chỗ chất chứa công đức, trí tuệ. Có những lúc mình đi đâu gặp người nào xong là quên, nghe cái gì rồi cũng quên nhưng có những cảm giác để lại trong lòng suốt đời không quên được.
Thành ra cảm giác là kho chứa, tất cả những cái gì mình nghe, tiếp xúc xong là để trong cảm giác. Vì vậy cảm giác này mà mình không thấy, không biết, không hiểu về nó, không tìm hiểu kĩ lưỡng thì mình chết với nó. Cả một cuộc đời của mình có phải là chạy theo cảm giác không? Lúc nhỏ thì chạy theo bánh kẹo, quần áo mới. Lớn thêm chút thì chạy theo những cảm giác tình yêu, tình ái. Lớn thêm nữa thì chạy theo cảm giác của gia đình. Lớn thêm thì chạy theo cảm giác của tiền tài, danh vọng. Kế đó là cảm giác của sầu bi ưu não, tham sân si. Tiếp theo là cảm giác già bệnh. Cuối cùng là kết thúc. Tất cả chúng ta cứ ưa tìm cảm giác êm ái, ngọt ngào, khoan khoái. Những cảm giác này là ưa thích, cứ đi tìm kiếm. Còn cảm giác bực bội là mình làm cho nó tan biến ngay, mình không có muốn.
Cho nên cảm giác vui sướng là mình bị dính mắc giống như người đang bị trói buộc. Khi mình tiếp xúc với ai đó mà có cảm giác dễ thương, êm ái là muốn rước về nhà. Đức Phật nói kẻ phàm phu bị rơi vào cảm giác đó thì giống như người bị trói buộc, đi ra không được. Khi gặp một cảm giác bực bội, khó chịu thì có cảm giác giống như bị trói buộc. Quý vị nhớ ai nhất? Nhớ người yêu, nhớ tiền, nhớ con cái… Hai người mình nhớ nhiều nhất, nhớ sâu nhất chính là người yêu và người hận. Người thương thật là thương và người ghét thật là ghét là 2 loại người mình nhớ nhiều nhất.
Đức Phật gọi đây là bị trói buộc trong cảm giác. Người không thương không ghét thì mình không nhớ nhiều, mọi người kiểm tra lại có đúng không? Người thương mà nhớ là bình thường, còn người ghét mình cũng không quên được, ghét mà lại thích nhớ mới chết. Thế nên mới gọi là oán tắng hội khổ. Ghét mà cứ gặp mặt hoài, gặp rồi thì khó chịu. Người thương gặp thì dễ chịu, mà không được gặp thì tan nát tâm can. Như vậy cảm giác dễ chịu, ưa thích, khoan khoái là mình bị trói cột vào đó. Cảm giác khó chịu, bực bội mình cũng bị trói cột vào đó.
Cảm giác thứ 3 là không thương cũng không ghét, không dễ chịu cũng không khó chịu thì mình cũng bị trói buộc vào đó. Ví dụ ở nhà mình thấy sáng ăn, trưa ăn, chiều cũng ăn rồi làm bình thường, vậy là mình thích cảm giác đều đều này và mình nghĩ rằng nó sẽ như vậy hoài, sáng ăn rồi làm, chiều ăn rồi làm, tối ăn rồi ngủ. Đức Phật nói cái này cũng bị trói buộc, vì nó không thể nào đều đều như vậy hoài được mà nó vô thường. Đến một lúc nào đó sẽ không còn khỏe nữa, không còn trẻ nữa, cái khỏe đó sẽ thành bệnh.
III. Cuộc đời vô thường
Hiện tại bây giờ chỉ có một căn bệnh thôi mà rúng động địa cầu, đã có 25 quốc gia bị nhiễm, 4-50 người chết trong 1 ngày. Đức Phật nói
“Tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh nằm trong sức khỏe, tánh chết nằm trong sự sống”.
Vậy mà mình cứ vô tư, cứ nghĩ sẽ trẻ hoài, khỏe hoài, đó gọi là vô minh mà tự cho là thông minh. Mình không biết rằng cái túi thịt này, đống thịt này bất cứ lúc nào cũng có thể vỡ nát ở bất cứ chỗ nào, bất cứ khi nào. Một ông già đang đi trên đường đột nhiên ngã xuống chết, chủ quán café dọn quán đóng cửa thì thấy một thanh niên khụy xuống chết ngay ghế. Người trai trẻ hơn 20 tuổi trước đó 5-10 phút có biết rằng mình sẽ ra đi không?
Tánh chết nằm trong sự sống là như vậy đó mà mình không nhìn thấy được là mình vô minh, si mê, không có trí huệ. Thành ra Đức Phật đã chỉ ra cả 3 loại cảm giác: Dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu thì mình đều bị trói cột vào trong đó. Trói cột bởi sự vô minh, trói cột bởi sự không thấy biết, trói cột bởi sự không quán chiếu, tư duy, thẩm sát để mình có thể thấy được bản chất của đời sống này, của thân thể này, của nội tâm này. Đức Phật dạy mình quán cảm giác để mình thấy được cảm giác vui thích, khoan khoái này sanh rồi sẽ diệt. Cây mai này trước đây mấy ngày được bao nhiêu người đến chụp hình, nâng niu vậy mà bây giờ tả tơi, hoa lá rụng đầy gốc.
Tấm thân già của mình rồi cũng sẽ giống cây mai này. Nhưng cây mai này nếu được chăm sóc cẩn thận thì năm sau sẽ nở, tấm thân này được chăm sóc đàng hoàng thì tươi đẹp, còn không đàng hoàng thì tắt thở. Cổ nhân có câu “Sơn trung tự hữu thiên niên thọ. Thế thượng nan phùng bách tuế nhân”. Nghĩa là trong núi có cây sống được ngàn năm nhưng trên đời khó gặp người trăm tuổi. Những tai nạn, chiến tranh, dịch bệnh… nhìn thấy là hoảng sợ nên phải ráng tu tập. Mình nhìn các cảm giác rồi khi có cảm giác khoan khoái, thích thú sanh khởi lên thì mình phải biết cảm giác này vô thường. Tuy là vui nhưng cái vui này không bền lâu, có vậy mình mới không bị cái vui này trói buộc mình.
Có một chú tu tập ở đây, thỉnh thoảng về thăm đứa con nuôi, tới lúc chia tay thì đứa con chạy theo gọi “ba” thì chú này có cảm giác nát ruột. Vì cảm giác ngọt ngào, êm ái nó xâm chiếm mình. Ngay khi đoàn tụ, hạnh phúc thì mình phải biết tiệc nào rồi cũng tàn, khi đã nhìn thấy được thì mình sẽ bớt mê đắm vào cảm giác khoan khoái, đam mê này. Khi gặp cảm giác khó chịu, bực bội mà mình sân lên thì mình biết cảm giác sân này vô thường, chút xíu sẽ tan ra.
Có cục nước đá nào đặc hoài mà không tan ra? Mình phải để ra ngoài ánh nắng rồi tan hết ra, thì cảm giác sân hận, bực bội này chút xíu sẽ tan, đừng chấp vào nó. Khi mình giận ai thì mình quán "Cảm giác này rồi sẽ tan biến", "Cảm giác giận này không phải là ta, không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta". Cảm giác này khi tiếp xúc với câu nói khi nãy, tiếp xúc với cử chỉ khi nãy mới có chứ trước khi nghe, trước khi tiếp xúc thì đâu có cảm giác này.
IV. Huấn luyện cảm giác
Bây giờ có cảm giác này chẳng qua do tiếp xúc rồi khởi lên, mà "Khởi lên chút xíu rồi cũng diệt. Mày diệt đi, tan đi", "Cái đồ sanh diệt, cái đồ vô thường, cái đồ tạm bợ, giả dối, tao không đi theo mày đâu".
Có một Phật tử thưa rằng người này nói một câu với em rể mà người em này giận hơn 10 năm không nói chuyện. Người em rể này là người có tiền, có quyền trong gia đình cho nên người này giận thì cha mẹ cũng không thân thiện. Thành ra bây giờ người Phật tử này muốn xin lỗi nhưng em rể không cho gặp mặt. Chỉ có một câu nói mà giận hơn 10 năm, quý vị nghĩ thử chỉ với một cảm giác khó chịu, bực tức mà ôm trong lòng hơn 10 năm thì dễ chịu hay khó chịu? Khỏe hay mệt? Bây giờ Phật dạy buông bỏ cảm giác đó xuống, để cho cảm giác đó tan ra. Nếu mình tha thứ được thì nhẹ nhõm như bỏ cục đá trên vai xuống, giống như mỗi người vác bao xi măng trong 3 tiếng là mệt mỏi, vậy mà người em rể này ôm cục tức trong 15 năm. Khổ không quý vị? Có phải cảm giác làm cho con người khổ không? Mọi người ôm ấp cái cảm giác khốn khổ, bực bội trong lòng làm chi cho khổ?
Đức Phật dạy nhìn vào cảm giác để thấy cái tai hại, nguy hiểm, cái sự hành hạ, giày xéo tâm can mình. Chị dâu – em chồng còn giận như vậy thì anh em ruột làm sao? Mẹ con có giận không? Giận mấy chục năm không nhìn mặt nhau. Vợ chồng ở chung mà bằng mặt, không bằng lòng. Bình thường không giận thì gặp nhau nói chuyện vui vẻ, còn khi giận trong 7 ngày thì 7 ngày đó nặng nề, mặt nặng như chì, gặp nhau là nhìn chỗ khác vậy mà lại ôm ấp cảm giác đó. Bây giờ Đức Phật dạy buông bỏ cảm giác đó xuống là hạnh phúc, mọi người có chịu không? Đây chính là quán thọ trên thọ, Chánh pháp chính là ở đây. Nhìn vào cảm giác mình nói "Cảm giác này là thuốc độc", "Cảm giác giận là thứ tai hại, là lửa, là đốt cháy mọi thứ", "Cảm giác này làm cho mình sầu bi khổ ưu não, làm cho tan nát gia đình", "Cảm giác này tan biến đi, dập tắt đi". Mình làm cho cảm giác này tan ra như bỏ viên thuốc sủi bọt vào nước.
Cảm giác sân nằm ngay lòng ngực, mình phải thường trực nhìn cảm giác thì mới biết nơi trú ngụ của nó. Khi mọi người giận thì trước tiên là nóng trong lòng ngực rồi mới lan tỏa lên cổ, lên mặt. Có nhiều người giận lên mà mặt đỏ bừng, người khác thì xanh mét, cơ thể rung lên nhưng đầu tiên lồng ngực sẽ nóng trước. Cảm giác dục ở chỗ phát dục. Cảm giác si ở chỗ hai con mắt, mắt bị sụp xuống. Như vậy đây là 3 chỗ trú ngụ của tham sân si, đều nằm trên cơ thể của mình. Khi nó sanh khởi lên mình chỉ cần hướng tâm vào đó tác ý thì nó sẽ dịu xuống. Khi dục sanh khởi thì mình tác ý "Mày đã chạy theo cái dục tham này mấy chục năm rồi khổ chưa đủ hay sao? Từ nhỏ đến lớn chạy theo bao nhiêu cái dục rồi? Bây giờ còn muốn chạy theo để khổ nữa hay sao? Mày hãy tan biến đi, đừng hại tao nữa. Tao không muốn ở trong cảm giác thúc giục, đòi hỏi hoài".
Mình tác ý mạnh vào ngay chỗ đó thì cảm giác đó tan ra, lắng dịu xuống. Cái sân và si cũng vậy, si là do con mắt kết hợp với bộ não, lúc đó con mắt nặng trì xuống, nhướng nhướng lên rồi sụp xuống. Mình cảm thọ thật mạnh, mở rộng tầm nhìn rộng mở, lớn ra, nhìn tới chân trời, như vậy mới đánh tan cảm giác si trong con mắt. Khi đã nhìn ra được thì đánh mạnh vào tổng hành dinh, ngay căn cứ địa, chỗ trú ẩn thì nó sẽ tan biến. Thành ra trong cảm giác tức giận là sân, trong cảm giác khoan khoái là tham, trong cảm giác đơ đơ là si. Khi đánh tan những cái này thì tham sân si được giảm bớt, mình được bình an, mát mẻ, mình được giải thoát khỏi tham sân si, giải thoát khỏi những cảm giác nóng bức, nhiệt não, thúc giục ham muốn, những cảm giác ngu ngơ, si si, mông lung, mơ hồ. Một khi đã thoát được khỏi những cảm giác này thì tâm mình thanh tịnh, trong sáng, trí huệ sẽ tỏa rạng.
Đó là quán thọ trên thọ, quán cảm giác và thường trực phải nhìn lại cảm giác của chính mình, đừng để cho bị trói buộc, đam mê, dính mắc trong cảm giác. Bất cứ cảm giác nào cũng phải nhìn ra nó và biết "Đây là đồ sanh diệt, đồ giả dối", "Cảm giác này không phải là tôi, không phải là của tôi. Cảm giác này là khổ", cầm xâu chuỗi lên lần và nói "Cái tâm lắng dịu", "Cái tâm dễ chịu". Lần 1 hột chuỗi là nói một câu như vậy, đây gọi là niệm tâm. Nhưng niệm mà mình phải thấy cảm giác thật sự là lắng dịu và dễ chịu thì mình đang tu tập cảm giác, cảm thọ. Những người tu tập được như vậy thì Đức Phật gọi là “những vị tối thượng trong hàng đệ tử của Ta, nếu những vị ấy thiết tha học hỏi”. Tu được như vậy rồi nhưng vẫn phải thiết tha học hỏi thêm nữa, thì đó là những đệ tử cao nhất của Như Lai.
Quán tâm trên tâm là mình phải nhìn thấy cái tâm nhỏ hẹp hay rộng mở. Cái tâm của người phàm phu không biết tu là cái tâm nhỏ nhoi, nhỏ nhặt, nhỏ hẹp. Giận lên thì chỉ biết cái giận đó, không đi ra được vì hình bóng hiện lên, cảm giác giận đang có mặt, những suy nghĩ về cái giận cứ lòng vòng trong đầu. Cảm giác giận cứ hừng hực, nóng trong người. Đây là thọ; tưởng; hành của sân trong nội tâm. Lúc mình sân giận, tham, bản ngã, ganh tỵ thì hãy tu tập cái tâm rộng mở, mở ánh nhìn rộng tới chân trời để quán chiếu "có biết bao nhiêu người khổ vì dịch bệnh, người ta bằng tuổi mình mà đi bán vé số, lụm ve chai, phế liệu, bằng tuổi mình mà con cái bỏ không ai nuôi". "Đại gia mà bây giờ xin người ta 200 ngàn để mua cái nạng chống, từng một thời khét tiếng một vùng mà bây giờ trở thành người nghèo không có tiền mua thuốc uống, hay mua 1 cái nạng chống đi".
Như vậy mỗi khi cái tâm bị phiền não thì phải tập mở rộng cái tâm ra để thoát ra khỏi cơn giận, cơn tham muốn hay cơn ganh tỵ nhỏ nhặt đó để thấy được nhiều khía cạnh đau khổ trên cuộc đời này đang có mặt. Khi vào viện thì nhìn cho kĩ bệnh nhân, các mạnh thường quân hay phát cháo, bánh mì cho người nghèo khổ "Sân giận, phiền não đi rồi mai đây tấm thân này nằm giống như vậy". Hoặc nhìn cái thân con chó cùi, ghẻ lở rồi quán chiếu "Giận đi, tham sân si đi rồi mai sau tái sanh vào cái thân như vậy". Tự mình hỏi cảm giác giận "Mày có biết sợ không khi sau này có thể tái sanh vào thân con chó ghẻ này?".
Tự mình dùng Như lý tác ý, tức là tác động tâm ý, huấn luyện cảm giác, cái tâm của mình để mở rộng tầm mắt nhìn được hết tất cả mọi khía cạnh trên đời sống này, nhìn rộng ra các nước trên thế giới này để cái tâm bao la, rộng lớn. Hãy tập từ vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm rộng lớn ra. Mọi người hãy thực tập mở rộng bốn tâm vô lượng từ bi hỷ xả, đó là mình đang tu tập quán tâm trên tâm. Mình đang giận chồng, đang ghen thì có những hình bóng, suy nghĩ hiện lên, cảm giác bực bội, khó chịu trong người thì hãy thoát khỏi cái tâm ghen tuông đó. Đây là một vài điểm ví dụ cho mọi người thấy chứ thật ra có muôn ngàn cái phiền não, ganh tỵ một chút cũng khó chịu, đố kỵ một chút cũng khó chịu.
Suốt ngày cứ dính mắc, chạy theo tham muốn nên cứ khổ hoài. Cái tâm không tu tập thì khốn khổ, hoạn nạn, nhỏ hẹp, ích kỷ cho nên phải quán tâm, phải tu tập tâm, mở rộng tâm thành vô lượng, còn chưa vô lượng được thì rộng mở, rộng lượng rồi từ từ đi đến chỗ vô lượng. Một khi đã thoát khỏi phiền não thì rất tuyệt vời. Có một Phật tử nói rằng trong những ngày tu bị tiếp duyên xúc cảnh nên khởi lên bản ngã, người này thấy được cảm giác cái tôi bị xúc phạm nên khó chịu thì người này đi ra ngoài và tác ý "Đây là đống phân chứ có ai ở đây đâu", "Bên trong này là máu mủ, đàm giải, phân và nước tiểu chứ có ai ở trong đây đâu, có ta nào trong đây đâu". Khi người này tác ý mạnh như vậy thì tự nhiên cảm giác về bản ngã tan biến và nói với Minh Thành "Khi đã thoát ra được thì cảm giác về bản ngã, về tham sân si được nhẹ nhàng và con cảm thấy an lạc". Tu được thì tuyệt vời như vậy đó, mình thấy được cảm giác được thoát ra rất rõ ràng.
Còn cảm giác không biết tu tập thì khi khởi gì lên là mình nhập theo đó luôn. Khi buồn là mình xụ mặt, mở miệng không nổi. Khi vui là mặt mày tươi tỉnh, phơi phới. Khi nào trì trệ là mình đơ đơ. Tâm có cảm giác gì là mình nhập theo đó như bị ma nhập, không thoát ra được. Còn người nào có tu tập quán thọ trên các thọ thì người đó nhiếp phục được cảm giác, chế ngự, làm chủ và có khả năng thoát ra khỏi các cảm giác. Cho nên đó là sự tu tập thân – thọ – tâm. Hãy tập cái tâm rộng mở, người nào hay chỉ trích, nhỏ nhặt, ganh tỵ thì mai đây chết thành con muỗi chuyên đi hút máu, hay con mọt, con mối… Thành ra những cái tâm nhỏ hẹp, tham sân si, ngã mạn là mình phải diệt ngay lập tức.
Pháp là những sự vận hành trong tâm. Mình cũng phải nhìn thấy nó, xem cái gì đang vận hành trong tâm. Phải nhận diện ngũ uẩn, thân thể lúc này như thế nào, đang có cảm giác gì, đang có suy nghĩ, lời nói gì. Mình xem trong tâm có hỷ lạc hay không? Xem trong tâm có dục tham, có sân, có hoài nghi, có trạo cử dao động hay không? Đó là mình quán pháp trên pháp.
Tu từ từ rồi mình sẽ thấy rất tuyệt vời. Đây là Chánh pháp. Đây là thiền định chánh thống của Đức Phật. Phải bước vào từ cánh cửa chánh tri kiến của sự nhìn thấy được năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sắc là thân thể này. Thọ là những cảm giác. Tưởng là những hình bóng trong tâm. Hành là những suy nghĩ. Thức là sự rõ biết. Học thuộc lòng và tập nhìn vào đó, một khi đã nhìn thì sẽ thấy được những thứ làm cho mình khổ rồi mình nhiếp phục những thứ đó, diệt hết những thứ đó thì mình hết khổ. Như vậy gọi là Diệt Đế, tức là Niết-bàn. Đây là chỗ thanh tịnh, bình an, là chỗ tất cả các bậc thánh giả chứng đắc, giác ngộ. Tất cả các bậc A-la-hán và Đức Thế Tôn sống trong cái tâm đó và truyền dạy cho chúng sanh cái tâm đó, chỉ cho chúng sanh con đường đi đến cái tâm đó và đem thánh pháp này để soi sáng cho thế gian này, thấy rõ được con đường chấm dứt khổ đau và đạt được bình an, hạnh phúc. Đây là mục đích, giá trị, ý nghĩa của Chánh pháp Đức Phật đem đến cống hiến cho cuộc đời này.
Như vậy Chánh pháp là Tứ Niệm Xứ: Quán thân trên thân; quán thọ trên thọ; quán tâm trên tâm; quán pháp trên pháp. Quán thân thể, cảm giác, nội tâm và những thứ đang vận hành trong tâm, nói gọi lại là quán xét thân tâm. Quán xét thân tâm để nhiếp phục tham sân si, vô minh và bản ngã. Vì những thứ này làm cho mình khổ, nhiếp phục được những thứ đó thì mình bớt khổ, hết khổ thì mình vui. Đây là Chánh pháp tối thượng của Đức Phật, là ngọn đèn, là chỗ nương tựa. Ai tu tập được những điều đó được Đức Phật gọi là những vị tối thượng trong hàng đệ tử của Ta, nếu những vị ấy thiết tha học hỏi.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đức Phật dạy về Chánh Pháp PAGEREF _Toc71533778 \h 1
II. Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc71533779 \h 3
III. Cuộc đời vô thường PAGEREF _Toc71533780 \h 6
IV. Huấn luyện cảm giác PAGEREF _Toc71533781 \h 8
I. Đức Phật dạy về Chánh Pháp
Thở vào cảm giác tâm lắng dịu, thở ra cảm giác tâm dễ chịu. Tâm lắng dịu – thở vào. Tâm dễ chịu – thở ra. Lắng dịu – dễ chịu. Đôi môi nở nụ cười nhẹ.
Đại chúng có thấy cảm giác của mình được an tịnh, dễ chịu không? Hôm nay có phái đoàn của quý Phật tử từ Cần Thơ lên núi thăm viếng chư Tăng, cúng dường trai Tăng, hộ pháp và sáng mai đi làm từ thiện bằng tất cả tấm lòng rất là chân thành, cung kính. Cũng như trưa nay có phái đoàn của quý Phật tử từ Đồng Nai vào, các Phật tử cũng không ngại chờ 2 tiếng để được nghe pháp. Giờ đây chúng ta có mặt tại thiền đường của Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta đang có một không gian bình an, tĩnh lặng, thanh tịnh rất tuyệt vời.
Trong quyển Nghi Thức Tu Học Nikāya, phần Niệm Con Đường Độc Nhất sẽ trả lời câu hỏi Chánh Pháp là gì:
Kinh Niệm Xứ (Trung Bộ Kinh, Tập 1, bài 10)
“Này các Tỳ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn. Đó là Bốn Niệm xứ. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, ở đây:
Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.”
(Trung Bộ Kinh - bài kinh Niệm Xứ)
“Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác.
Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
Này Ananda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập III – bài kinh Bệnh)
Như vậy trong cả 2 bài kinh: kinh Bệnh (Tương Ưng Bộ kinh) và kinh Niệm Xứ (Trung Bộ kinh) thì Đức Phật nói cho chúng ta biết Chánh pháp là gì. Nếu không nắm vững được thì chúng ta có tu học suốt đời cũng không thành công. Đức Phật đã nói đây là con đường ĐỘC NHẤT đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ NIẾT BÀN. Đó là bốn Niệm Xứ. Mình phải nắm vững được lời dạy nguyên thủy của Đức Phật đã được truyền thừa trong 2600 năm qua, từ Phật giáo nguyên thủy trong kinh tạng Nikāya. Ở đây chúng ta sẽ tu theo tinh thần Phật giáo nguyên chất. Như vậy Đức Phật nói Tứ Niệm Xứ là con đường ĐỘC NHẤT để đưa chúng sanh đến chỗ thanh tịnh, giải thoát, chấm dứt đau khổ.
Trong bài kinh thứ 2, Đức Phật đã nói hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình. Mọi người tự mình là ngọn đèn cho chính mình có được không? Tự mình nương tựa chính mình có được không? Đức Phật giải thích tiếp: Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác. Nếu như chỉ đọc đoạn đầu tự mình nương tựa mình rồi không đọc tiếp phần sau thì hết sức nguy hiểm vì mình vẫn còn vô minh, vẫn còn tham sân si thì làm sao mình nương tựa vào cái tham sân si đó được? Phải nương tựa vào Chánh pháp mà Chánh pháp là gì? Chánh pháp chính là quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Quán nghĩa là quán xét, soi rọi, xem xét, để ý…
II. Tứ Niệm Xứ
Quán thọ trên các thọ tức là quán sát, xem xét, để ý cảm thọ, cảm giác. Quán chiếu, quán xét, soi rọi nội tâm: Thân - thọ - tâm - pháp. Do mình quán chiếu, soi rọi nội tâm thì mình mới biết trong tâm đang có những cái gì đang xuất hiện, đang vận hành trong đó. Như vậy gọi là quán pháp. Mọi người cứ nhớ Tứ Niệm Xứ là Chánh pháp, mà Tứ Niệm Xứ là sự quay trở lại nhìn kĩ thân tâm chính mình. Đức Phật nói thêm rằng những ai hiện nay hoặc sau khi Ta qua đời thực hành theo bốn Niệm Xứ thì những vị đó là những vị tối thượng trong hàng đệ tử của Ta, nếu vị ấy tha thiết học hỏi.
Thế nào là Tứ Niệm Xứ? Thế nào là sự thường trực soi rọi, quán xét thân, cảm giác, tâm và những thứ đang vận hành bên trong? Tại sao Chánh pháp lại là sự quán xét thân tâm mà không phải là một thứ gì đó cao siêu vời vợi ở thượng phương hạ phương? Tại sao Đức Phật nói mình phải quay lại nhìn thân tâm mình? Tại sao Đức Phật nói mình phải kiểm soát thân tâm chính mình? Tại sao Đức Phật nói phải để ý thân tâm? Tại sao Đức Phật nói phải canh chừng, dò xét thân tâm?
Khi quý vị lên núi mà không để ý bước đi, đường dốc sẽ bị trượt chân té, bị thương, bong gân, bó bột… Mình để ý bước chân để thân thể mình được bình an, không bị tổn thương. Đây chính là sự quán thân.
Đức Phật dạy mình phải để ý lời nói. Vì khi nói ra mà làm người khác bực bội thì mình cũng sẽ nhận lấy cảm giác khó chịu. Như vậy mình phải để ý, kiểm tra lời nói để không làm tổn thương cho người, tổn thương chính mình.
Đây là chỗ thâm ý của Đức Phật. Dò xét cử chỉ, hành động. Một ý nghĩa trong nội tâm mình cũng phải để ý, nếu không dò xét, soi chiếu thì khi khởi lên những ý nghĩ xấu mà mình lại làm theo những ý nghĩ đó thì đem đến sầu bi khổ ưu não, tổn thương cho người và cho chính mình. Minh Thành nói những cái đơn giản, dễ hiểu nhất để mọi người thấy sự quay trở lại để kiểm soát, quán chiếu thân miệng – ý là để 3 nghiệp của mình được bình an, được bảo hộ, bảo toàn. Mọi người có bảo hiểm ý tế rất nhiều, vậy còn bảo hiểm tâm linh thì sao?
Giáo pháp là phương pháp bảo hiểm, bảo vệ, bảo an thân tâm của mình. Điều này còn quan trọng hơn gấp ngàn lần bảo hiểm y tế. Tự mình dò xét chính mình, dò xét cũng chính là quán chiếu. Dò xét những cử chỉ, hành vi, oai nghi, những cách ứng xử của mình với mọi người đúng hay không đúng, hợp hay không hợp, đẹp hay không đẹp. Đây là quán thân trên thân cũng chính là Chánh pháp, là sự tu của mình. Chứ không phải sự tu là tụng niệm, lạy bao nhiêu lạy. Đây chỉ là một phần nhỏ ở trước bàn Phật, còn khi ra ngoài là hết tu. Không phải như vậy. Lúc nào mình cũng để ý nhìn lại, soi rọi, quán chiếu thân tâm.
Trước Thiền đường có bảng Giữ yên lặng, khi nhìn thấy bảng đó thì vào phải khép miệng lại, để điện thoại ở chế độ im lặng. Đây chính là tu. Khi mình đã có bảo an, bảo hộ như vậy thì mọi người được yên tịnh chứ ngồi ở đây cả trăm người mà 5 phút là điện thoại reng, 10 phút tin nhắn tít tít thì người kế mình có bị động tâm không? Sự tu của mình được như vậy thì rất tuyệt vời, rất gần gũi chứ không có xa vời. Đi tới bất cứ chùa nào khi bước vào Chánh điện thì phải cung kính, trang nghiêm, đây là quán thân trên thân, đó là Chánh pháp, là Tứ Niệm Xứ.
Đây chính là sự bảo toàn, bảo hộ thân thể. Mọi người có thấy tuyệt vời không? Có thấy thực tế không? Mình phải xem mình ngồi, đi đứng, nằm, cử chỉ… nhất là khi vào tu tập, phải tập quán thân trên thân. Chánh pháp không còn nằm trong cuốn kinh nữa mà Chánh pháp nằm ở cử chỉ, hành động của thân thể mình, lúc đó sẽ biểu hiện Chánh pháp, người nào đến chùa cũng là đóa hoa sen, còn không sẽ là súng, canh nhau để bắn, bắt lỗi người này người kia.
Cho nên sự tu là không phải nhìn người ta mà quay lại nhìn chính thân tâm mình. Khi ăn cũng phải quán thân trên thân, gắp ra sao, nhai như thế nào, nuốt làm sao chứ đừng thấy ngon quá rồi húp sột soạt, quay lại thấy ai cũng nhìn mình, vì lúc đó mê quá nên quên hết. Mỗi cử chỉ, hành động thể hiện Chánh pháp, oai nghi, sự trang nghiêm của người Phật tử. Khi chúng ta thực tập thiền định thì Minh Thành nhìn xuống thấy mọi người đẹp vô cùng, nhờ lực của chư Tăng, chư Ni, của Tam bảo thì mọi người vào được sự quán thân trên thân.
Tiếp theo, mình thường nhìn lại cảm giác, cảm thọ, cảm nhận trong tâm của mình, phải để ý cảm giác vì nó rất nguy hiểm. Vui quá thì bung luôn, buồn quá thì rơi xuống vực. Cho nên phải nhìn lại cảm giác xem trong hiện tại có cảm giác gì. Đó là chỗ chất chứa những thứ phiền não cũng là chỗ chất chứa công đức, trí tuệ. Có những lúc mình đi đâu gặp người nào xong là quên, nghe cái gì rồi cũng quên nhưng có những cảm giác để lại trong lòng suốt đời không quên được.
Thành ra cảm giác là kho chứa, tất cả những cái gì mình nghe, tiếp xúc xong là để trong cảm giác. Vì vậy cảm giác này mà mình không thấy, không biết, không hiểu về nó, không tìm hiểu kĩ lưỡng thì mình chết với nó. Cả một cuộc đời của mình có phải là chạy theo cảm giác không? Lúc nhỏ thì chạy theo bánh kẹo, quần áo mới. Lớn thêm chút thì chạy theo những cảm giác tình yêu, tình ái. Lớn thêm nữa thì chạy theo cảm giác của gia đình. Lớn thêm thì chạy theo cảm giác của tiền tài, danh vọng. Kế đó là cảm giác của sầu bi ưu não, tham sân si. Tiếp theo là cảm giác già bệnh. Cuối cùng là kết thúc. Tất cả chúng ta cứ ưa tìm cảm giác êm ái, ngọt ngào, khoan khoái. Những cảm giác này là ưa thích, cứ đi tìm kiếm. Còn cảm giác bực bội là mình làm cho nó tan biến ngay, mình không có muốn.
Cho nên cảm giác vui sướng là mình bị dính mắc giống như người đang bị trói buộc. Khi mình tiếp xúc với ai đó mà có cảm giác dễ thương, êm ái là muốn rước về nhà. Đức Phật nói kẻ phàm phu bị rơi vào cảm giác đó thì giống như người bị trói buộc, đi ra không được. Khi gặp một cảm giác bực bội, khó chịu thì có cảm giác giống như bị trói buộc. Quý vị nhớ ai nhất? Nhớ người yêu, nhớ tiền, nhớ con cái… Hai người mình nhớ nhiều nhất, nhớ sâu nhất chính là người yêu và người hận. Người thương thật là thương và người ghét thật là ghét là 2 loại người mình nhớ nhiều nhất.
Đức Phật gọi đây là bị trói buộc trong cảm giác. Người không thương không ghét thì mình không nhớ nhiều, mọi người kiểm tra lại có đúng không? Người thương mà nhớ là bình thường, còn người ghét mình cũng không quên được, ghét mà lại thích nhớ mới chết. Thế nên mới gọi là oán tắng hội khổ. Ghét mà cứ gặp mặt hoài, gặp rồi thì khó chịu. Người thương gặp thì dễ chịu, mà không được gặp thì tan nát tâm can. Như vậy cảm giác dễ chịu, ưa thích, khoan khoái là mình bị trói cột vào đó. Cảm giác khó chịu, bực bội mình cũng bị trói cột vào đó.
Cảm giác thứ 3 là không thương cũng không ghét, không dễ chịu cũng không khó chịu thì mình cũng bị trói buộc vào đó. Ví dụ ở nhà mình thấy sáng ăn, trưa ăn, chiều cũng ăn rồi làm bình thường, vậy là mình thích cảm giác đều đều này và mình nghĩ rằng nó sẽ như vậy hoài, sáng ăn rồi làm, chiều ăn rồi làm, tối ăn rồi ngủ. Đức Phật nói cái này cũng bị trói buộc, vì nó không thể nào đều đều như vậy hoài được mà nó vô thường. Đến một lúc nào đó sẽ không còn khỏe nữa, không còn trẻ nữa, cái khỏe đó sẽ thành bệnh.
III. Cuộc đời vô thường
Hiện tại bây giờ chỉ có một căn bệnh thôi mà rúng động địa cầu, đã có 25 quốc gia bị nhiễm, 4-50 người chết trong 1 ngày. Đức Phật nói
“Tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh nằm trong sức khỏe, tánh chết nằm trong sự sống”.
Vậy mà mình cứ vô tư, cứ nghĩ sẽ trẻ hoài, khỏe hoài, đó gọi là vô minh mà tự cho là thông minh. Mình không biết rằng cái túi thịt này, đống thịt này bất cứ lúc nào cũng có thể vỡ nát ở bất cứ chỗ nào, bất cứ khi nào. Một ông già đang đi trên đường đột nhiên ngã xuống chết, chủ quán café dọn quán đóng cửa thì thấy một thanh niên khụy xuống chết ngay ghế. Người trai trẻ hơn 20 tuổi trước đó 5-10 phút có biết rằng mình sẽ ra đi không?
Tánh chết nằm trong sự sống là như vậy đó mà mình không nhìn thấy được là mình vô minh, si mê, không có trí huệ. Thành ra Đức Phật đã chỉ ra cả 3 loại cảm giác: Dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu thì mình đều bị trói cột vào trong đó. Trói cột bởi sự vô minh, trói cột bởi sự không thấy biết, trói cột bởi sự không quán chiếu, tư duy, thẩm sát để mình có thể thấy được bản chất của đời sống này, của thân thể này, của nội tâm này. Đức Phật dạy mình quán cảm giác để mình thấy được cảm giác vui thích, khoan khoái này sanh rồi sẽ diệt. Cây mai này trước đây mấy ngày được bao nhiêu người đến chụp hình, nâng niu vậy mà bây giờ tả tơi, hoa lá rụng đầy gốc.
Tấm thân già của mình rồi cũng sẽ giống cây mai này. Nhưng cây mai này nếu được chăm sóc cẩn thận thì năm sau sẽ nở, tấm thân này được chăm sóc đàng hoàng thì tươi đẹp, còn không đàng hoàng thì tắt thở. Cổ nhân có câu “Sơn trung tự hữu thiên niên thọ. Thế thượng nan phùng bách tuế nhân”. Nghĩa là trong núi có cây sống được ngàn năm nhưng trên đời khó gặp người trăm tuổi. Những tai nạn, chiến tranh, dịch bệnh… nhìn thấy là hoảng sợ nên phải ráng tu tập. Mình nhìn các cảm giác rồi khi có cảm giác khoan khoái, thích thú sanh khởi lên thì mình phải biết cảm giác này vô thường. Tuy là vui nhưng cái vui này không bền lâu, có vậy mình mới không bị cái vui này trói buộc mình.
Có một chú tu tập ở đây, thỉnh thoảng về thăm đứa con nuôi, tới lúc chia tay thì đứa con chạy theo gọi “ba” thì chú này có cảm giác nát ruột. Vì cảm giác ngọt ngào, êm ái nó xâm chiếm mình. Ngay khi đoàn tụ, hạnh phúc thì mình phải biết tiệc nào rồi cũng tàn, khi đã nhìn thấy được thì mình sẽ bớt mê đắm vào cảm giác khoan khoái, đam mê này. Khi gặp cảm giác khó chịu, bực bội mà mình sân lên thì mình biết cảm giác sân này vô thường, chút xíu sẽ tan ra.
Có cục nước đá nào đặc hoài mà không tan ra? Mình phải để ra ngoài ánh nắng rồi tan hết ra, thì cảm giác sân hận, bực bội này chút xíu sẽ tan, đừng chấp vào nó. Khi mình giận ai thì mình quán "Cảm giác này rồi sẽ tan biến", "Cảm giác giận này không phải là ta, không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta". Cảm giác này khi tiếp xúc với câu nói khi nãy, tiếp xúc với cử chỉ khi nãy mới có chứ trước khi nghe, trước khi tiếp xúc thì đâu có cảm giác này.
IV. Huấn luyện cảm giác
Bây giờ có cảm giác này chẳng qua do tiếp xúc rồi khởi lên, mà "Khởi lên chút xíu rồi cũng diệt. Mày diệt đi, tan đi", "Cái đồ sanh diệt, cái đồ vô thường, cái đồ tạm bợ, giả dối, tao không đi theo mày đâu".
Có một Phật tử thưa rằng người này nói một câu với em rể mà người em này giận hơn 10 năm không nói chuyện. Người em rể này là người có tiền, có quyền trong gia đình cho nên người này giận thì cha mẹ cũng không thân thiện. Thành ra bây giờ người Phật tử này muốn xin lỗi nhưng em rể không cho gặp mặt. Chỉ có một câu nói mà giận hơn 10 năm, quý vị nghĩ thử chỉ với một cảm giác khó chịu, bực tức mà ôm trong lòng hơn 10 năm thì dễ chịu hay khó chịu? Khỏe hay mệt? Bây giờ Phật dạy buông bỏ cảm giác đó xuống, để cho cảm giác đó tan ra. Nếu mình tha thứ được thì nhẹ nhõm như bỏ cục đá trên vai xuống, giống như mỗi người vác bao xi măng trong 3 tiếng là mệt mỏi, vậy mà người em rể này ôm cục tức trong 15 năm. Khổ không quý vị? Có phải cảm giác làm cho con người khổ không? Mọi người ôm ấp cái cảm giác khốn khổ, bực bội trong lòng làm chi cho khổ?
Đức Phật dạy nhìn vào cảm giác để thấy cái tai hại, nguy hiểm, cái sự hành hạ, giày xéo tâm can mình. Chị dâu – em chồng còn giận như vậy thì anh em ruột làm sao? Mẹ con có giận không? Giận mấy chục năm không nhìn mặt nhau. Vợ chồng ở chung mà bằng mặt, không bằng lòng. Bình thường không giận thì gặp nhau nói chuyện vui vẻ, còn khi giận trong 7 ngày thì 7 ngày đó nặng nề, mặt nặng như chì, gặp nhau là nhìn chỗ khác vậy mà lại ôm ấp cảm giác đó. Bây giờ Đức Phật dạy buông bỏ cảm giác đó xuống là hạnh phúc, mọi người có chịu không? Đây chính là quán thọ trên thọ, Chánh pháp chính là ở đây. Nhìn vào cảm giác mình nói "Cảm giác này là thuốc độc", "Cảm giác giận là thứ tai hại, là lửa, là đốt cháy mọi thứ", "Cảm giác này làm cho mình sầu bi khổ ưu não, làm cho tan nát gia đình", "Cảm giác này tan biến đi, dập tắt đi". Mình làm cho cảm giác này tan ra như bỏ viên thuốc sủi bọt vào nước.
Cảm giác sân nằm ngay lòng ngực, mình phải thường trực nhìn cảm giác thì mới biết nơi trú ngụ của nó. Khi mọi người giận thì trước tiên là nóng trong lòng ngực rồi mới lan tỏa lên cổ, lên mặt. Có nhiều người giận lên mà mặt đỏ bừng, người khác thì xanh mét, cơ thể rung lên nhưng đầu tiên lồng ngực sẽ nóng trước. Cảm giác dục ở chỗ phát dục. Cảm giác si ở chỗ hai con mắt, mắt bị sụp xuống. Như vậy đây là 3 chỗ trú ngụ của tham sân si, đều nằm trên cơ thể của mình. Khi nó sanh khởi lên mình chỉ cần hướng tâm vào đó tác ý thì nó sẽ dịu xuống. Khi dục sanh khởi thì mình tác ý "Mày đã chạy theo cái dục tham này mấy chục năm rồi khổ chưa đủ hay sao? Từ nhỏ đến lớn chạy theo bao nhiêu cái dục rồi? Bây giờ còn muốn chạy theo để khổ nữa hay sao? Mày hãy tan biến đi, đừng hại tao nữa. Tao không muốn ở trong cảm giác thúc giục, đòi hỏi hoài".
Mình tác ý mạnh vào ngay chỗ đó thì cảm giác đó tan ra, lắng dịu xuống. Cái sân và si cũng vậy, si là do con mắt kết hợp với bộ não, lúc đó con mắt nặng trì xuống, nhướng nhướng lên rồi sụp xuống. Mình cảm thọ thật mạnh, mở rộng tầm nhìn rộng mở, lớn ra, nhìn tới chân trời, như vậy mới đánh tan cảm giác si trong con mắt. Khi đã nhìn ra được thì đánh mạnh vào tổng hành dinh, ngay căn cứ địa, chỗ trú ẩn thì nó sẽ tan biến. Thành ra trong cảm giác tức giận là sân, trong cảm giác khoan khoái là tham, trong cảm giác đơ đơ là si. Khi đánh tan những cái này thì tham sân si được giảm bớt, mình được bình an, mát mẻ, mình được giải thoát khỏi tham sân si, giải thoát khỏi những cảm giác nóng bức, nhiệt não, thúc giục ham muốn, những cảm giác ngu ngơ, si si, mông lung, mơ hồ. Một khi đã thoát được khỏi những cảm giác này thì tâm mình thanh tịnh, trong sáng, trí huệ sẽ tỏa rạng.
Đó là quán thọ trên thọ, quán cảm giác và thường trực phải nhìn lại cảm giác của chính mình, đừng để cho bị trói buộc, đam mê, dính mắc trong cảm giác. Bất cứ cảm giác nào cũng phải nhìn ra nó và biết "Đây là đồ sanh diệt, đồ giả dối", "Cảm giác này không phải là tôi, không phải là của tôi. Cảm giác này là khổ", cầm xâu chuỗi lên lần và nói "Cái tâm lắng dịu", "Cái tâm dễ chịu". Lần 1 hột chuỗi là nói một câu như vậy, đây gọi là niệm tâm. Nhưng niệm mà mình phải thấy cảm giác thật sự là lắng dịu và dễ chịu thì mình đang tu tập cảm giác, cảm thọ. Những người tu tập được như vậy thì Đức Phật gọi là “những vị tối thượng trong hàng đệ tử của Ta, nếu những vị ấy thiết tha học hỏi”. Tu được như vậy rồi nhưng vẫn phải thiết tha học hỏi thêm nữa, thì đó là những đệ tử cao nhất của Như Lai.
Quán tâm trên tâm là mình phải nhìn thấy cái tâm nhỏ hẹp hay rộng mở. Cái tâm của người phàm phu không biết tu là cái tâm nhỏ nhoi, nhỏ nhặt, nhỏ hẹp. Giận lên thì chỉ biết cái giận đó, không đi ra được vì hình bóng hiện lên, cảm giác giận đang có mặt, những suy nghĩ về cái giận cứ lòng vòng trong đầu. Cảm giác giận cứ hừng hực, nóng trong người. Đây là thọ; tưởng; hành của sân trong nội tâm. Lúc mình sân giận, tham, bản ngã, ganh tỵ thì hãy tu tập cái tâm rộng mở, mở ánh nhìn rộng tới chân trời để quán chiếu "có biết bao nhiêu người khổ vì dịch bệnh, người ta bằng tuổi mình mà đi bán vé số, lụm ve chai, phế liệu, bằng tuổi mình mà con cái bỏ không ai nuôi". "Đại gia mà bây giờ xin người ta 200 ngàn để mua cái nạng chống, từng một thời khét tiếng một vùng mà bây giờ trở thành người nghèo không có tiền mua thuốc uống, hay mua 1 cái nạng chống đi".
Như vậy mỗi khi cái tâm bị phiền não thì phải tập mở rộng cái tâm ra để thoát ra khỏi cơn giận, cơn tham muốn hay cơn ganh tỵ nhỏ nhặt đó để thấy được nhiều khía cạnh đau khổ trên cuộc đời này đang có mặt. Khi vào viện thì nhìn cho kĩ bệnh nhân, các mạnh thường quân hay phát cháo, bánh mì cho người nghèo khổ "Sân giận, phiền não đi rồi mai đây tấm thân này nằm giống như vậy". Hoặc nhìn cái thân con chó cùi, ghẻ lở rồi quán chiếu "Giận đi, tham sân si đi rồi mai sau tái sanh vào cái thân như vậy". Tự mình hỏi cảm giác giận "Mày có biết sợ không khi sau này có thể tái sanh vào thân con chó ghẻ này?".
Tự mình dùng Như lý tác ý, tức là tác động tâm ý, huấn luyện cảm giác, cái tâm của mình để mở rộng tầm mắt nhìn được hết tất cả mọi khía cạnh trên đời sống này, nhìn rộng ra các nước trên thế giới này để cái tâm bao la, rộng lớn. Hãy tập từ vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm rộng lớn ra. Mọi người hãy thực tập mở rộng bốn tâm vô lượng từ bi hỷ xả, đó là mình đang tu tập quán tâm trên tâm. Mình đang giận chồng, đang ghen thì có những hình bóng, suy nghĩ hiện lên, cảm giác bực bội, khó chịu trong người thì hãy thoát khỏi cái tâm ghen tuông đó. Đây là một vài điểm ví dụ cho mọi người thấy chứ thật ra có muôn ngàn cái phiền não, ganh tỵ một chút cũng khó chịu, đố kỵ một chút cũng khó chịu.
Suốt ngày cứ dính mắc, chạy theo tham muốn nên cứ khổ hoài. Cái tâm không tu tập thì khốn khổ, hoạn nạn, nhỏ hẹp, ích kỷ cho nên phải quán tâm, phải tu tập tâm, mở rộng tâm thành vô lượng, còn chưa vô lượng được thì rộng mở, rộng lượng rồi từ từ đi đến chỗ vô lượng. Một khi đã thoát khỏi phiền não thì rất tuyệt vời. Có một Phật tử nói rằng trong những ngày tu bị tiếp duyên xúc cảnh nên khởi lên bản ngã, người này thấy được cảm giác cái tôi bị xúc phạm nên khó chịu thì người này đi ra ngoài và tác ý "Đây là đống phân chứ có ai ở đây đâu", "Bên trong này là máu mủ, đàm giải, phân và nước tiểu chứ có ai ở trong đây đâu, có ta nào trong đây đâu". Khi người này tác ý mạnh như vậy thì tự nhiên cảm giác về bản ngã tan biến và nói với Minh Thành "Khi đã thoát ra được thì cảm giác về bản ngã, về tham sân si được nhẹ nhàng và con cảm thấy an lạc". Tu được thì tuyệt vời như vậy đó, mình thấy được cảm giác được thoát ra rất rõ ràng.
Còn cảm giác không biết tu tập thì khi khởi gì lên là mình nhập theo đó luôn. Khi buồn là mình xụ mặt, mở miệng không nổi. Khi vui là mặt mày tươi tỉnh, phơi phới. Khi nào trì trệ là mình đơ đơ. Tâm có cảm giác gì là mình nhập theo đó như bị ma nhập, không thoát ra được. Còn người nào có tu tập quán thọ trên các thọ thì người đó nhiếp phục được cảm giác, chế ngự, làm chủ và có khả năng thoát ra khỏi các cảm giác. Cho nên đó là sự tu tập thân – thọ – tâm. Hãy tập cái tâm rộng mở, người nào hay chỉ trích, nhỏ nhặt, ganh tỵ thì mai đây chết thành con muỗi chuyên đi hút máu, hay con mọt, con mối… Thành ra những cái tâm nhỏ hẹp, tham sân si, ngã mạn là mình phải diệt ngay lập tức.
Pháp là những sự vận hành trong tâm. Mình cũng phải nhìn thấy nó, xem cái gì đang vận hành trong tâm. Phải nhận diện ngũ uẩn, thân thể lúc này như thế nào, đang có cảm giác gì, đang có suy nghĩ, lời nói gì. Mình xem trong tâm có hỷ lạc hay không? Xem trong tâm có dục tham, có sân, có hoài nghi, có trạo cử dao động hay không? Đó là mình quán pháp trên pháp.
Tu từ từ rồi mình sẽ thấy rất tuyệt vời. Đây là Chánh pháp. Đây là thiền định chánh thống của Đức Phật. Phải bước vào từ cánh cửa chánh tri kiến của sự nhìn thấy được năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sắc là thân thể này. Thọ là những cảm giác. Tưởng là những hình bóng trong tâm. Hành là những suy nghĩ. Thức là sự rõ biết. Học thuộc lòng và tập nhìn vào đó, một khi đã nhìn thì sẽ thấy được những thứ làm cho mình khổ rồi mình nhiếp phục những thứ đó, diệt hết những thứ đó thì mình hết khổ. Như vậy gọi là Diệt Đế, tức là Niết-bàn. Đây là chỗ thanh tịnh, bình an, là chỗ tất cả các bậc thánh giả chứng đắc, giác ngộ. Tất cả các bậc A-la-hán và Đức Thế Tôn sống trong cái tâm đó và truyền dạy cho chúng sanh cái tâm đó, chỉ cho chúng sanh con đường đi đến cái tâm đó và đem thánh pháp này để soi sáng cho thế gian này, thấy rõ được con đường chấm dứt khổ đau và đạt được bình an, hạnh phúc. Đây là mục đích, giá trị, ý nghĩa của Chánh pháp Đức Phật đem đến cống hiến cho cuộc đời này.
Như vậy Chánh pháp là Tứ Niệm Xứ: Quán thân trên thân; quán thọ trên thọ; quán tâm trên tâm; quán pháp trên pháp. Quán thân thể, cảm giác, nội tâm và những thứ đang vận hành trong tâm, nói gọi lại là quán xét thân tâm. Quán xét thân tâm để nhiếp phục tham sân si, vô minh và bản ngã. Vì những thứ này làm cho mình khổ, nhiếp phục được những thứ đó thì mình bớt khổ, hết khổ thì mình vui. Đây là Chánh pháp tối thượng của Đức Phật, là ngọn đèn, là chỗ nương tựa. Ai tu tập được những điều đó được Đức Phật gọi là những vị tối thượng trong hàng đệ tử của Ta, nếu những vị ấy thiết tha học hỏi.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.