Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

10 ĐIỀU TÂM NIỆM - NGƯỜI XUẤT GIA

2026-03-03 00:54:39
Kinh Nikāya Giảng Giải

MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM - NGƯỜI XUẤT GIA

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Người tu chuẩn bị những gì PAGEREF _Toc137896748 \h 1

II.Mười điều tâm niệm PAGEREF _Toc137896749 \h 2

III.Sơ lược Pháp hành Nikāya PAGEREF _Toc137896750 \h 17

Người tu cần chuẩn bị những gì

Khi thực hành, hành trì tu tập có những chướng ngại, chưa hiểu hãy nêu lên để được chia sẻ. Vì hàng ngày chúng ta được nghe giảng nhưng lại ít có những thời gian để trao đổi, thưa hỏi. Chúng ta có thể hỏi trực tiếp và viết câu hỏi vào giấy gửi lên.

Mỗi ngày trước khi đến lớp, phải có ban kiểm tra âm thanh, ánh sáng trước khi học, những vị này phải đến lớp sớm hơn 10-15 phút để chuẩn bị. Những vị này kiểm tra xem âm thanh, ánh sáng có ổn không, nếu có gì trục trặc thì chúng ta xử lí kịp thời. Như vậy, khi giáo thọ sư đến lớp sẽ không có tình trạng bất ổn về âm thanh, ánh sáng và cả sự dao động trong đại chúng.

Trong cuộc sống, nếu lúc bình thường chúng ta không có sự chuẩn bị, đến khi có việc bất thình lình xảy ra thì mình trở tay không kịp. Mọi sự trong thế gian này đều là đột ngột, đột biến, đột quỵ và đột tử. Hai chữ “vô thường” nghĩa là bất thình lình, bất thình lình biến đổi, bất thình lình biến hoại, bất thình lình tan biến, bất thình lình huỷ hoại, hoại diệt. Lúc bình thường nếu ta không có tâm thế chuẩn bị thì đến lúc sự việc xảy ra mình sẽ bị bấn loạn, rối loạn, hoảng loạn, thậm chí là nhiều người điên loạn đối với những sự việc bất ngờ.

Cho nên sự tu tập này chính là sự chuẩn bị và sửa soạn cho thân tâm mình. Trong hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, hằng giây, lúc nào cũng phải nhìn lại và chuẩn bị sẵn sàng, để bất thình lình những việc ác, bất thiện pháp, những tai nạn, hoạn nạn, khổ nạn, tai hoạ ập đến thì mình vẫn có sự điềm tĩnh, trầm tĩnh, tịnh tĩnh, an tĩnh. Vì thế, tu học là sửa soạn trước khi các sự việc xảy ra; còn nếu sự việc xảy ra rồi mình mới biết thì đâu cần tu, như vậy chẳng khác gì người thế gian. Vì đợi đến khi một người trồm đồ bị bắt gặp thì mới biết họ tham lam; đợi đến khi đánh nhau sưng đầu mẻ trán thì thì mới biết đây là sân hận; đợi đến khi hai bên ẩu đả, hơn thua, xấu xé, tranh đấu, giành giật với nhau xong thì mới nhận ra bản ngã… như vậy thì đâu cần tu làm gì, vì vô văn phàm phu cũng biết những điều đó.

Người xuất gia là người biết trước việc sẽ xảy ra và đã có chuẩn bị trong thân tâm mình. Rồi đây chúng ta sẽ gặp những chuyện bất như ý, gặp những chuyện đột ngột trong đời sống này, chúng sẽ cướp đi sự bình an, an ổn của ta, cướp đi những gì quý giá, thân thương nhất mà ta luôn giữ gìn, tích lũy. Tất cả những thứ khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục hấp dẫn… sẽ đổ vỡ, tan biến bất cứ lúc nào và ở đâu. Vì vậy, chúng ta cần có một tâm thế chuẩn bị. Cha Mẹ của mình rồi sẽ ra đi; những người thân thương đều sẽ vô thường; ngay cả bản thân mình, cũng có thể sẽ gặp tai nạn, hoạn nạn… Vậy đến những lúc đó, chúng ta sẽ lấy tâm gì để đối diện nếu mình không có niệm lực, đạo lực, định lực, tuệ lực, không có sức mạnh trong sự hành trì Chánh Pháp? Và như vậy, ta sẽ đau khổ, sầu bi, nước mắt đầm đìa. Chính vì vậy, mỗi một ngày trôi qua là mỗi một ngày chúng ta phải chuẩn bị.

Mười điều tâm niệm của người xuất gia

Thế Tôn dạy ta trong bài kinh “Các Pháp”, Tăng Chi Bộ tập 4 về mười điều người xuất gia phải luôn quán sát:

1. Này các Tỷ-kheo, có mười pháp này, vị xuất gia phải luôn luôn quán sát.

2. Thế nào là mười?

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta nay đi đến tình trạng là người không giai cấp” (mất hết giai cấp).

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Đời sống của ta tùy thuộc vào người khác”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi!”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp, phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Đêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã là người như thế nào?”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta cần phải cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống không hay không?”.

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: “Ta có chứng được các pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ”.

Này các Tỷ-kheo, mười pháp này, vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát.

(Tăng Chi Bộ Kinh IV, 10. Chương Mười Pháp, V. Phẩm Mắng Nhiếc, bài kinh Các Pháp)

Mọi thứ chúng ta yêu thích, sẽ bị đổi thay, biến hoại. Chúng ta phải biết bao nhiêu người đã ra đi vì tai nạn, dịch bệnh, chúng ta phải cảm nhận được sự đau khổ ấy, khi nói đến việc ra đi của bất kỳ ai chúng ta không nên cười vì chúng ta phải để tâm mình luôn có tình thương, từ bi. Để ý khi đến đám tang chúng ta sẽ thấy bốn chữ: “Tang trí kỳ ai” khi có tang lễ để bày tỏ sự đau xót đau thương của những người thân thương trong gia đình đối với người đã mất. Không nên ca hát vui vẻ trong đám tang. Ta nên biết làm gì, làm như thế nào cho phù hợp. Vì thế chúng ta nên giữ tâm hiền, tâm từ, yêu thương để dễ tu dễ học, dễ cảm nhận được pháp.

---

Ta nay đi đến tình trạng là người không giai cấp

Điều đầu tiên ta cần nhớ rằng, một người tu sẽ trở thành kẻ ăn xin. Hôm qua, cô Phật tử ở bếp hỏi Minh Thành: “Hôm nay bếp có bánh mỳ, con thỉnh thầy ăn sáng, hoặc thầy có muốn dùng món gì khác không thì con sẽ làm ạ?”. Minh Thành thưa với cô rằng, Minh Thành là người ăn xin, không dám đòi hỏi gì, cô muốn cho gì thì cứ cho. Thế nên, người xuất gia phải luôn nhớ rằng mình đang đi đến tình trạng là người không có giai cấp. Không phải đắp y lên là chúng ta làm thầy, rồi cho phép mình hơn người, đó là tâm ngã mạn, tâm như vậy tu không đến đâu, mà còn có thể đưa mình xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta cạo tóc, thọ giới không phải để làm thầy mà là hạ giai cấp của mình xuống cùng tội và trở thành kẻ ăn xin. Xin hãy nhớ kỹ điều này, nếu quên điều này thì không còn là người tu. Luôn luôn nhớ mình là một kẻ ăn xin, một kẻ thấp hèn nhất trong xã hội. Vì đối với bên ngoài, một người tu không còn địa vị gì nữa, hơn nữa đời sống của người xuất gia còn phụ thuộc vào người khác.

Đời sống của ta tùy thuộc vào người khác

Tất cả tứ sự, bốn nhu cầu cần thiết cho sự sống còn của người xuất gia là do người khác quyết định. Trong ăn uống và đời sống hằng ngày, mình không có quyền gì để đòi món này, thích món kia, lựa chọn các món ăn, thậm chí có vị còn đi vào nhà hàng, làm như vậy là hoàn toàn sai pháp, người tu không được phép đi vào những nơi đó, chỉ trừ trường hợp bất khả kháng. Đúng ra chúng ta phải ôm bình bát đi ăn xin theo đúng như lời dạy của Đức Phật, nhưng do thời đại đổi khác, phong tục tập quán cũng không như xưa nên chúng ta tùy thuận theo hiện tại, không giữ được Thánh Pháp của các bậc Thánh, truyền thống ba đời của các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Vì khi ôm bát đi khất thực, chúng ta mới hạ thấp được cái tôi, bẻ gãy được bản ngã, bỏ được sự kiêu căng, hạ thấp mình xuống cùng. Nếu tu mà không nhớ được những điều căn bản này thì chúng ta dễ rơi vào con đường bị đọa lạc. Những suy nghĩ: mình tu là trở thành thầy người khác, tu để làm sư phụ, tu để làm trụ trì… sẽ đưa mình vào địa ngục, ngã quỷ, súc sanh. Một người chân tu luôn có ý nghĩ tu là để chặt đứt ngọn cờ ngã mạn, hạ thấp địa vị của mình trong xã hội xuống cùng tột, chỉ là một kẻ ăn xin.

Trong những buổi lễ trai tăng, người tu nếu không thực hành và học kỹ pháp sẽ rất nguy hiểm. Tu chưa được bao nhiêu nhưng thích lên ngồi dự, để những người đáng ông, đáng bà mình quỳ lạy dâng bao thư; nếu khi ngồi không tam đề ngũ quán, không quán niệm, không quay trở lại nhìn đức hạnh của mình thì mỗi cái lạy là mười thanh kiếm bén đâm thẳng vào tim, mười con dao sắc nhọn đâm vào lồng ngực. Giới đức của mình được bao nhiêu? Mình đạt được định nào từ Sơ thiền đến Tứ thiền trong Thánh Chánh Định hay chưa? Thánh Tuệ Uẩn của mình được thành tựu hay chưa? Mà trong lúc trai tăng mình lại buông lung phóng dật, cười nói vô tư để những người đáng ông đáng cha đáng bà mẹ quỳ lạy dâng bao thư. Trong đó chính là mồ hôi, là nước mắt, là máu mà họ không dám ăn, không dám xài, thậm chí không cho con cái của mình mà để dành dâng cúng lên chư Tăng Ni; rồi mình ngồi đó cười nói, thả lỏng các căn, buông lung phóng dật, không tam đề ngũ quán. Cho nên, Đức Phật dạy Tỳ-kheo khi ăn nếu “tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu”, đọc thì đọc vậy nhưng tâm trí cũng tán, tạp như thường, như vậy là chúng ta không nghe lời Đức Phật, không phải con ngoan của Ngài.

Cho nên, hai điều trên rất là quan trọng, lúc nào không nhớ mình là kẻ ăn xin thì lúc đó chúng ta không còn là một người tu, dù cho có đắp y, mặc áo thì cũng chỉ là hình thức bên ngoài. Chúng ta phải luôn luôn cúi đầu hạ thấp mình xuống, luôn luôn khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã, thấy mình là một kẻ ăn xin trong cuộc đời này, đời sống chúng ta tùy thuộc vào đàn na tín thí, sự sống còn của mình là nhờ những đồng bạc cắc, đồng bạc lẻ từ mồ hôi, nước mắt và máu của các vị tín chủ, tín thí, Phật tử, vì vậy phải biết cung kính với Phật tử. Đừng nói chi đến việc cung kính với Sư phụ và các bậc tôn túc, trưởng thượng.

Lúc nãy khi Minh Thành bước vào lớp thấy vô cùng hỡi ôi, thật sự đáng thương quý huynh đệ. Mới xuất gia mà không giữ gìn oai nghi, không có sự cung kính đối với các bậc giáo thọ, hòa thượng a-xà-lê thì đến lúc mình thọ giới lớn sẽ trở thành người như thế nào? Những điều căn bản ban đầu chưa có, nền mống không vững chắc thì tương lai sẽ ra sao? Khi nhìn những cảnh tượng như vậy, tim Minh Thành vô cùng đau nhói. Thật lòng chia sẻ, khi nhìn thấy huynh đệ, Minh Thành cầm nước mắt lại, trong lòng vô cùng thương huynh đệ. Rồi tương lai sẽ đi về đâu nếu ngay từ đầu không có nền tảng.

Sau khi thay đổi thành người xuất gia, chúng ta phải thay đổi hạ thấp bản thân mình xuống thành người ăn xin. Chúng ta không giữ tâm niệm này thì đời tu của chúng ta sẽ không thành tựu. mỗi khi bưng chén cơm lên ăn, mình phải biết rằng mình là người ăn xin, không đòi hỏi, không tham sân khi ăn. Phải có tâm thái của người khất sỹ như trong thánh pháp. Xin thưa với tất cả các thầy, mong các Thầy cẩn trọng, con xuất gia đến nay đã hơn 30 năm nhưng con vẫn giữ tâm thế là một người đệ tử, như trong thân tâm con là đứa con của tâm chúng, là đệ tử của tâm bảo, là con trò của Tăng đoàn.

Khi đã quyết định xuất gia, nội tâm ta phải thay đổi, tức là lúc ngoài đời chúng ta có thể là bác sĩ, kỹ sư, những người giàu có… nhưng sau khi đã cạo đầu thì chúng ta chỉ là người ăn xin. Không được đem nhãn mác “tôi là bác sĩ”, “tôi là kỹ sư”, “tôi là tiến sĩ” để vào chùa, những thứ này phải dẹp bỏ hết, đầu tiên muốn vào tu là phải trở thành người khất sĩ. Hơn nữa, sự xuất gia là do tự nguyện, không ai bắt ép mình đi tu, vì vậy, ai chịu làm người ăn xin thì đi tu, còn không chịu thì đừng đi. Bởi bản chất của người xuất gia là phải ăn xin, nếu không không giữ được tâm niệm này, không có tâm tư, tâm thái, tam đạo này thì ngay từ bản chất đầu tiên của người tu ta đã không có.

Mỗi khi bưng chén cơm lên ăn, phải biết rằng mình là người ăn xin, không được đòi hỏi, không tham khi có đồ ăn nhiều, sân khi đồ ăn ít, tâm thái như vậy không phải là tâm thái của người khất sĩ cao thương trong Thánh Pháp. Xin thưa với tất cả các thầy, mong các thầy cẩn trọng, Minh Thành xuất gia đến nay đã 30 năm nhưng từ ngày xuất gia cho đến nay, Minh Thành vẫn giữ tâm thế là một người con trò, một người đệ tử; dù đứng lớp hơn mười mấy năm, như trong thâm tâm mình, con vẫn là đứa con của Tăng chúng, là đệ tử của Tam bảo, là con trò của Tăng đoàn. Cho nên điều căn bản nhất người xuất gia cần nhớ là mình nay là người ăn xin thấp hèn nhất, quên điều này thì không còn là người tu.

Nay cử chỉ oai nghi của ta cần phải thay đổi

Kế tiếp, người tu phải thay đổi oai nghi cử chỉ. Chúng ta không thể nào đi đứng nói năng một cách buông lung phóng dật, muốn nói gì nói, muốn nhìn gì nhìn, muốn làm gì làm, muốn phát biểu gì là phát biểu. Mỗi ngày phải cố gắng thu nhiếp sáu căn, phòng hộ, nhiếp phục, chế ngự, bảo vệ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Trong Tương Ưng Sáu Xứ, Đức Phật giảng dạy:

- Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ...

Tai... Mũi...... Lưỡi... Thân...

Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), V. Phẩm Từ Bỏ, bài kinh Thâu Nhiếp)

Sáu xúc xứ là sáu chỗ tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; vị nào không biết nhiếp phục, bảo vệ, chế ngự, thu thúc thì sẽ bất an, tại họa, đau khổ lâu dài, người này có thể rơi vào đọa xứ, ác thú, địa ngục, ngã quỷ, súc sanh. Cho nên, chúng ta phải hết sức cẩn thận trong ý tứ khi đi đứng ngồi nằm, nói nín, động tĩnh, không được buông thả, buông lơi, buông trôi, buông lung phóng dật. Trong ánh nhìn, cử chỉ, nhất cử nhất động đều phải được kiểm soát, phòng hộ, bảo vệ. Chúng ta phải là người quản thúc, quản trị, quán lý chính mình. Đây là điều vô cùng quan trọng, là điều tâm niệm của một người xuất gia.

Trước khi đi tu, những cử chỉ oai nghi này mình muốn thế nào cũng được, không ai quản thúc; nhưng đã vào tu rồi thì mỗi ngày mỗi giờ phải xem xét, soi rọi, theo dõi, kiểm tra, canh chừng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chính mình. Sau đó cố gắng thay đổi từng chút trong từng cử chỉ oai nghi, sao cho xứng đáng là một người xuất gia. Nếu không thay đổi gì so với trước kia thì chúng ta chưa tu được gì. Vì tu là phải thay đổi, sửa đổi, điều chỉnh, chỉnh lý, chỉnh sửa đến chỗ hoàn thiện, hoàn mỹ, hoàn thành, thành tựu.

Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?

Tức là không biết chính mình có tự chỉ trích mình về giới hạnh hay không? Mỗi khi ngồi lại, nghĩ đến những việc làm sai, những hành động có tội, những giới đã phạm thì tâm ta sẽ chỉ trích, làm cho mình ray rứt, bất an. Mỗi khi tụng giới là trong tâm đây lo lắng, sợ hãi, bứt rứt. Đến giờ ngồi thiền là ta không ngồi được, vì những hình ảnh sai trái đã làm cứ ám ảnh trong tâm, tòa án lương tâm bắt đầu xét xử, làm cho mình ray rứt, hối lỗi, đó gọi là trạo hối – trạo cử và hối hận, đây là một trong năm triền cái.

---

Năm triền cái gồm Tham dục, Sân hận, Hôn trầm thuỵ miên, Trạo hối và Hoài nghi. Chính năm thứ này đã che mờ tâm, làm ta trở thành không mắt, trở thành mù loà, trí huệ trở nên yếu ớt. Một người bị chiếm đóng bởi năm thứ này thì trí huệ họ không được sáng tỏ và trạo hối đã nhắc đến ở trên là một trong năm thứ che đậy tâm. Tâm bị những thứ này che mờ là không thể vào thiền định, vì để vào Sơ thiền thì phải lìa năm triền cái, cho nên, còn trạo hối thì không vào Sơ thiền được.

Tôn giả Anan mỗi khi nghe Đức Phật giảng pháp thì tâm Ngài không có năm triền cái, vì vậy Ngài ghi nhớ được tất cả, không quên điều gì. Còn tâm chúng ta, sở dĩ nhớ trước quên sau, nói rồi quên, học rồi không nhớ là do tâm này đầy rẫy năm triền cái: cứ tham cái này, thích cái kia, muốn cái nọ; giận người này, bực người kia; ngồi học thì tâm cứ trơ trơ, đơ đơ, ngủ gục; thân thì lắc lư, động đậy, nói chuyện, còn tâm vất vơ vất vưởng, lang thang, cả thân và tâm đều trạo cử; cùng với sự hoài nghi đối với giáo pháp, không biết pháp dạy có đúng không, chưa thành tựu Chánh kiến của bậc Thánh. Đó là tâm bị năm triền cái che đậy nên cứ lờ mờ, không được sáng tỏ, giống như mặt trăng bị mây đen che, ánh sáng không tỏa ra được. Khi nào dẹp được năm triền cái, tức là chấm dứt được những tham muốn, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử trạo hối, nghi ngờ phân vân lưỡng lự thì lúc đó tâm mình mới sáng trong giống như trăng tròn sáng tỏ, không bị mây che.

---

Như vậy, điều tâm niệm thứ tư là “không biết chính mình có tự chỉ trích mình về giới hạnh không”, đó là chỉ đến sự trạo hối. Một người phạm giới, mỗi khi ngồi thiền thì tâm đầy những sự hối hận, hối tiếc, vì cứ nhớ đến những hình ảnh sai trái. Những cảm xúc, cảm thọ, những hình ảnh trong tưởng uẩn, những suy nghĩ trong ý hành cứ sanh khởi lên, ám ảnh mình, khiến cho tâm bất an, không được an tịnh lắng dịu, do vậy, người này không thể vào định.

Cho nên, người muốn tu được thiền định thì giới phải thanh tịnh, phải giữ được giới thì mới vào được các tầng thiền.

Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?

Một mặt là ta tự chỉ trích mình. Mặt thứ hai là ta sợ huynh đệ xung quanh chỉ trích mình. Vì vậy mà tâm cứ lo lắng, bất an, không bình an được.

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại".

Điều này chúng ta đã chia sẻ ở phần đầu tiên. Tức là, tất cả những thứ ta xem là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục hấp dẫn… sẽ đổ vỡ, tan biến bất cứ lúc nào và ở đâu. Vì vậy, chúng ta cần có một tâm thế chuẩn bị. Cha Mẹ của mình rồi sẽ ra đi; những người thân thương đều sẽ vô thường; ngay cả bản thân mình, cũng có thể sẽ gặp tai nạn, hoạn nạn…

Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp, phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.

Nghiệp là suy nghĩ, lời nói, hành động, trong kinh Nikāya Đức Phật giải thích rất là sâu sắc, đầy đủ: “Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý” (trích Tăng Chi Bộ Kinh III, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch). Đức Phật tuyên bố tác ý chính là nghiệp, chứ không phải đợi ta nói chuyện, hành động ra ngoài thì mới tạo nghiệp. Vì vậy, việc kiểm soát những suy nghĩ của mình là điều vô cùng quan trọng, chứ không phải chỉ kiểm soát lời nói hay hành động. Thông thường suy nghĩ của mình không ai biết được, trừ bậc chứng đắc Tha tâm đông, chỉ cần hướng tâm đến thì các vị sẽ biết ta suy nghĩ điều gì. Nhưng nếu trong suy nghĩ có nhiều điều bất thiện, thuộc về dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy – ba thứ này là Tà tư duy thì đó chính là nghiệp. Như vậy, Tà tư duy là những suy nghĩ sai lầm, khiến mình sanh khởi những tham muốn, sân giận, có hại. Ngược lại, Chánh tư duy gồm ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy.

---

Ví dụ đơn giản, chẳng hạn mình có suy nghĩ ham ăn, được chia món ăn đó rồi nhưng lại muốn thêm nữa thì đó là Tà tư duy. Hoặc được Phật tử cúng dường một đôi dép, nhìn qua thấy huynh đệ bên cạnh có đôi dép đẹp hơn, thế là mình muốn đổi đôi khác, muốn được nhận đôi dép giống người bên cạnh, đó cũng là Tà tư duy, không thiểu dục tri túc, không ít muốn biết đủ, không an phận với phước của mình. Phước mỗi người mỗi khác, phước mình ít nhưng lại muốn nhiều như người khác là tà tư duy, là tai hoạ.

Đây là những điều nhỏ rất dễ thấy. Chúng ta cần nhớ rằng, khi phước báu của mình chưa nhiều, chỉ như một cây con vừa nảy mầm; còn phước báu của vị khác như cây cổ thụ to lớn; nếu cây nhỏ mà muốn được tưới tẩm bằng lượng nước của cây cổ thụ thì sớm muộn cũng sẽ bật gốc, cuốn trôi mình đi mất.

Vì vậy, chúng ta phải biết an phận, ít muốn biết đủ với phước mình đang có, đồng thời siêng năng tinh tấn tu tập, làm phước, trí huệ song tu. Làm vậy không phải để về sau mình được hưởng thụ, mà cứ cố gắng tu tập tất cả thiện pháp, như vậy tự động phước đức sẽ được tăng trưởng. là để chúng ta dung bồi cái gốc rễ bên trong mình. Siêng năng tu tập, không phải tu tập để đựơc hưởng, mình tu tập thiện pháp để phước đức của mình tăng trưởng. Ngược lại, nếu không lo vun bồi phước đức của bản thân, cứ hướng ra ngoài để so đo với người khác thì chỉ nhận về những bất an, tai họa, đau khổ, đố kị, ganh ghét, sầu bi khổ ưu não.

---

Trong Ly dục tư duy, chữ “dục” này sâu sắc nhất là dục nam nữ. Đức Phật dạy phải quán tứ đại, quán bất tịnh, quán 32 thể trượt và quán 9 giai đoạn tử thi, quán bộ xương, quán cát bụi. Những pháp quán này là pháp hành, chúng ta có thể ngồi thiền và thực hành thiền quán về các đề mục trên. Trong Thân Hành Niệm của Tứ Niệm Xứ, có sáu phương diện Niệm thân, gồm: Niệm Hơi Thở, Niệm Oai Nghi, Niệm Hành Động, Niệm Tứ Đại, Niệm 32 Thể Trược, Niệm 9 Giai Đoạn Tử Thi. Đây là sáu phương diện đánh phá sự chấp thủ về thân này đối với tâm ngu của phàm phu. Ba phép quán đầu: Niệm Hơi Thở, Niệm Oai Nghi, Niệm Hành Động như những phần trên đã chia sẻ. Ba phép quán sau: Niệm Tứ Đại, Niệm 32 Thể Trược, Niệm 9 Giai Đoạn Tử Thi giúp ta đánh phá vào các dục độc ác, khốn nạn, giết người, như Bạch Cốt Tinh muốn ăn thịt Đường Tăng. Tên ác ma này không phải ở bên ngoài mà chính ở trong tâm ta. Nếu tâm mình chứng ngộ được Thánh trí huệ về bất tịnh thì không ai có thể làm cho mình thèm muốn, khao khát, ham thích nữa. Chỉ vì bên trong ham muốn, mà khi bên ngoài có duyên đến, thậm chí chưa có thì tự nó đi kiếm và tạo nghiệp bất thiện.

Như vậy, phương pháp Quán Tứ Đại, Quán 32 Thể Trược, Quán 9 Giai Đoạn Tử Thi giúp cho ta ly dục tư duy, lìa xa những ham muốn. Quán chính là tư duy, là quán chiếu, là nghiền ngẫm, là tác ý, là suy niệm, là nhắc nhở, là thiền tập, là thiền tuệ, là thiền quán, là thiền tư.

---

Ly sân tư duy là suy nghĩ sao cho mình rời khỏi tâm giận; khi nổi giận, phải tìm cách suy nghĩ để mình từ bỏ cơn giận… những suy nghĩ đó là Chánh tư duy – Thánh tư duy. Tu không phải chỉ là ngồi im, thiền không phải là ngồi yên là xong, mà thiền gồm có thiền quán, thiền chỉ, thiền định, thiền tuệ. Thiền tuệ là ngồi suy nghĩ rời xa những ham muốn, đó là những suy nghĩ của bậc Thánh, là suy nghĩ chân chính:

“Tâm mê ơi, là tâm mê, tại sao cứ ham muốn thân xác bất tịnh, máu mủ tanh hôi, bẩn thỉu, phèo, phổi, gan, ruột, chỉ toàn phân và nước tiểu. Tại sao lại ham thích thân này như vậy? Đau khổ mãi chưa đủ hay sao? Cứ thèm muốn, khao khát, khắc ái từ vô lượng kiếp đến nay chưa đủ hay sao? Sao mãi thèm muốn mãi hỡi tâm ngu si mê muội, khát ái. Ngươi hãy nhả ra, khạc ra, nhổ ra, ói ra những thứ đó. Ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, hỡi tâm khát ái, ngu si này”.

Phải tác ý, mắng chửi, đuổi đánh tâm mê này. Đuổi nó giống như quét nhà, vứt nó giống như vứt rác, hỷ nó ra như hỷ mũi, khạc nó ra như khạc đờm. Đó là chúng ta dùng tuệ lực của thiền quán để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận những ham muốn, khao khát, thèm muốn trong thân tâm mình. Như vậy gọi là Ly dục tư duy, là những suy nghĩ giúp ta rời xa những tham muốn. Luôn quở trách, la rầy, dạy dỗ, huấn luyện, giáo dục, đào tạo, dạy dỗ, điều chỉnh, dẫn dắt, hướng dẫn tâm mình. Luôn kiểm tra, kiểm điểm, xử lý ngay lập tức nếu thấy tâm mình sanh khởi ác và bất thiện pháp.

Chúng ta phải thẳng tay trừng trị, không được để tâm này lộng hành, muốn nghĩ gì nghĩ, muốn nói gì nói, muốn làm gì làm; mà phải đưa tâm này vào khuôn phép, oai nghi, giới luật, đưa vào tâm vào những thiện pháp, những pháp lành trong thu thúc lục căn, thanh tịnh giới, như vậy mới chính là tu tập. Còn khi sanh khởi sân giận mà mình để mặc cho tâm sân giận, không biết cách nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch thì chúng ta không biết tu. Người tu phải biết dùng suy nghĩ thiện đánh đuổi những suy nghĩ ác; dùng suy nghĩ chánh đánh đuổi suy nghĩ tà; dùng suy nghĩ yêu thương đánh đuổi suy nghĩ tức giận; dùng suy nghĩ nhúng nhường, hạ mình, khiêm hạ để đánh đuổi tâm hơn thua, ngã mạn, ngạo mạn. Đó là mình đang tu Chánh tư duy.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, để tu được Chánh tư duy – suy nghĩ chân chánh thì đầu tiên mình phải có Chánh kiến, tức là thấy được ngũ uẩn, đây là điều rất quan trọng. Chỉ khi nào thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì lúc đó chúng ta mới biết cách tu. Còn chưa biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức là gì là ta chưa thấy được thân tâm mình, mà khi không thấy được tâm chính mình thì làm sao nhiếp phục, chế ngự, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ tâm.

---

Trên đây là Minh Thành nói sơ lược về chữ “nghiệp” cho chúng ta dễ thấy. Nghiệp ở trong ý nghĩ, lời nói, hành động của mình và mình sẽ là người thừa kế nghiệp đó. Nghiệp đó sẽ là bào thai, đẻ ra thân này. Đức Thế Tôn tuyên thuyết trong kinh Nikāya rằng:

Này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp cũ?

Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp cũ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp mới?

Này các Tỷ-kheo, hiện tại phàm làm việc gì với thân, với lời nói, hay với ý. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp mới.

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Mới và Cũ, bài kinh Nghiệp)

Con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, gương mặt, thân xác, hình hài này là nghiệp cũ. Từ lời nói, hành động của quá khứ hình thành ra một thân thể như hiện tại. Còn những gì ta đang suy nghĩ, nói năng, hành động ngay bây giờ, chính là nghiệp mới. Kinh tạng Nikāya sẽ cho chúng ta nhiều trí tuệ bất ngờ, không như trước đây mình hiểu mọi thứ một cách chung chung. Kinh Nikāya Đức Phật phân tích, trình bày một cách đầy đủ và minh bạch, tường tận, rõ ràng và thực tại để chúng ta thấy rõ rằng, những nghiệp mình đã làm chính là bà con, là bào thai, là chỗ quy hướng, những nghiệp gì mình đã hay sẽ làm, thiện hay ác, mình sẽ thừa tự nghiệp ấy.

Đêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã là người như thế nào?

Một Ni sư đang tu học tại Linh Quy Pháp Ấn, khi đọc đến câu này là Ni sư trình pháp trong nước mắt. Vào mỗi chiều, nếu tu không thấy tiến bộ là Ni sư rất buồn và xúc động. Ngày xưa, cũng có nhiều vị thiền sư ở Trung Hoa, chiều đến là trầm tư rằng đã qua một ngày, sao chưa thấy sự tiến bộ trong tu tập. Vì vậy, hãy tự nhìn lại xem mình đã bao giờ suy nghĩ “Đêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã là người như thế nào” chưa? Hay mình cứ sống đều đều như lục bình trôi sông, nước trôi đi đâu là nó trôi theo đó, không có mục tiêu, lí tưởng, ý chí, nỗ lực, quyết tâm, quyết tử, mạnh mẽ để phấn đấu, tiến lên một cách tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh.

Người ngoài đời, mỗi ngày họ lao động làm việc cũng cầm được tiền trong tay, hoặc đến cuối tuần, cuối tháng cũng nhận lương mang về nuôi vợ con, gia đình. Còn người tu phải tự mình thấy biết được mỗi ngày mình đã tu học được những gì, tăng trưởng được những thiện pháp gì? Đừng cho rằng “tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng” là xong, vậy thì tu làm chi! Chúng ta chưa đạt tới cảnh đó. Trước hết, phải thấy rõ mỗi một ngày mình tu được thiện pháp gì, mình tăng tiến như thế nào, hoặc thụt lùi ra sao, hay mình đang đứng lại… tất cả những điều đó mình phải thấy biết thật rõ ràng.

Chúng ta phải viết nhật ký tu học, mỗi ngày tổng kết lại những gì đã diễn ra, để xem hôm đó mình đã học được những gì, làm được thiện pháp nào, còn mắc lỗi gì? Hoặc mình đã có những lời nói làm cho bạn bè, huynh đệ đau khổ, bất an, buồn bực; hay mình đã làm được những thiện lành gì để cho mọi người được hoan hỷ, an lạc? Cho nên, mỗi người chúng ta phải có riêng một quyển nhất ký tu học để ghi lại những diễn biến trong tâm. Đến cuối tuần xem lại để xét xem tuần vừa qua mình có tiến bộ hay không. Tu học phải cố gắng, nỗ lực như vậy, không được thả trôi cuộc đời xuất gia của mình.

Câu “Đêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã là người như thế nào” vô cùng thấm thía. Vị nào thật sự có tâm tu, đọc câu này lên sẽ cảm thấy xót xa, đau nhói. Hãy viết câu này dán lên trên bàn học để tự nhắc nhở mình.

Ta cần phải cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống hay không?

Có bao giờ ta đã thực tập đời sống viễn ly nhập thất, độc cư thiền định chưa? Hay mình chỉ thích đám đông, thích lễ hội, thích tổ chức chương trình này kia, không ở một mình được? Người tu chúng ta phải tập đời sống viễn ly trong một thời gian nhất định, có thể một tuần, hai tuần, một tháng hoặc ba tháng An cư kiết hạ... Thông thường, chúng ta cần phải nhập chúng khi mới vào tu để học tập và được chỉ dạy từng chút; sau một thời gian, công phu đã có sự vững chắc thì dần dần phải tập nhập thất, sống một mình, cắt bớt những duyên xúc bên ngoài, việc duy nhất cần phải làm là soi rọi vào bên trong để thấy tâm mình đang vận hành, diễn biến như thế nào. Rất là cần thiết để chúng ta sống một mình, sống rời xa, sống viễn ly, sống độc cư, sống an tịnh.

Ta có chứng được các pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ?

Thế nào là Pháp Thượng Nhân? Đó chính là sự nhận diện ngũ uẩn, nhận diện lậu hoặc, nhận diện dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, nhận diện những điều xấu ác, bất thiện trong tâm. Nói đơn giản nhất, Thượng Nhân Pháp là thấy được, chứng ngộ được Tứ Thánh Đế. Nghĩa là thấy được thân thể này là khổ, cảm giác này là khổ, hình bóng trong tâm là khổ, suy nghĩ là khổ, nhận thức là khổ; thấy được tứ đại ngũ uẩn này là khổ, là vô thường, là vô ngã một cách thâm sâu và chứng ngộ sự thật đó, chứ không phải chỉ thấy trên kiến thức, trên sự học hiểu. Sau khi đã thấy khổ thì tâm ta mới mạnh mẽ, quyết định rời xa, rời xa, từ bỏ, xuất ly, giải thoát. Đó là Thượng Nhân Pháp, Bốn đôi Tám chúng Hiền Thánh, từ Sơ quả cho đến tứ Thánh quả.

…Để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ?

Ngày cuối cùng là khi mình sắp ra đi, các bậc đồng Phạm hạnh hỏi ta có hối tiếc gì không, cũng như Đức Thế Tôn thường đến hỏi các thầy Tỳ-kheo xem vị ấy có hối tiếc gì không? Vì vậy, hãy cố gắng tu tập, nỗ lực thực hành, để lúc ra đi, chúng ta không còn điều gì hối tiếc cho cuộc đời tu của mình.

Sơ lược Pháp hành Nikāya

Điều quan trọng trong sự tu tập là nhận diện được ngũ uẩn, biết được tâm là gì, đây chính là chìa khóa để mở cánh cửa ngôi nhà nội tâm. Nếu chưa biết ngũ uẩn thì tất cả sự tu chỉ nằm trên suy tưởng, không nhìn thấy được tâm mình. Trước khi đến lớp, Minh Thành dự định sẽ hướng dẫn quý thầy nhận diện ngũ uẩn, nhưng lúc bước vào lớp thì lớp học không được trang nghiêm nên Minh Thành đổi ý, giảng về chủ đề người xuất gia và do đó, huynh đệ bị mất đi lợi ích lớn.

Vì không còn nhiều thời gian nên Minh Thành chỉ tóm tắt đơn ngắn gọn về cách nhận diện ngũ uẩn. Sau đây Minh Thành sẽ hướng dẫn quý thầy nhận diện ngũ uẩn đơn giản nhất

Mời quý thầy nhắm mắt nhớ về mẹ của mình, nhớ về những kỉ niệm thân thương nhất về mẹ. Khi nhớ như vậy thì trong tâm chúng ta có hình ảnh của mẹ hiện ra, đó là tưởng; có một cảm giác thân thương, ấm áp, ngọt ngào sanh khởi khi nghĩ về mẹ, đó là thọ; có những suy nghĩ liên hệ đến mẹ, chẳng hạn “không biết mẹ đang làm gì”, những suy nghĩ và lời nói thầm trong tâm như vậy gọi là hành; khi chúng ta rõ biết mình đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về mẹ như vậy, sđó gọi là thức. Cuối cùng, sắc thân chúng ta đang ngồi ở đây là sắc. Những sắc, thọ, tưởng, hành, thức này chúng ta sử dụng xuyên suốt hàng ngày nhưng mình không biết chúng.

Ví dụ tiếp theo, mời quý thầy nhắm mắt nhớ về ngôi chùa mình đang ở… Khi đó có hình bóng của ngôi chùa hiện ra; có cảm giác thân thương, dễ chịu sanh khởi; có những suy nghĩ liên hệ đến ngôi chùa và chúng ta rõ biết những điều kể trên đang có mặt trong tâm. Đó là chúng ta nhận diện ngũ uẩn, thấy được vận hành của ngũ uẩn.

Chúng ta đọc trong Bát Nhã Tâm Kinh câu “chiếu kiến ngũ uẩn…” hàng nhiều năm trời nhưng lại không biết ngũ uẩn là gì. Khi được hướng dẫn nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ biết được ngũ uẩn thật sự là gì. Khi đã biết được trí tuệ này thì chúng ta phải thường xuyên nhận diện ngũ uẩn để xem trong tâm mình hiện tại đang có hình bóng, suy nghĩ, cảm giác gì. Sau đó chúng ta liên tục theo dõi, kiểm tra, xem xét, quán sát chúng, đây chính là quán tâm trên tâm trong Tứ Niệm Xứ. Cho nên, bước đầu tiên trong sự tu học là chúng ta nhất định phải nhận diện được ngũ uẩn, có như vậy thì những pháp tu sâu hơn mới dần dần được khai triển.

Sau khi nhận diện được ngũ uẩn thì bước tiếp theo sẽ thực tập nhận diện ba cảm thọ: cảm thọ dễ chịu luôn có tham trong đó; cảm thọ khó chịu luôn có sân trong đó; cảm thọ không dễ chịu không khó chịu luôn có si trong đó. Nhờ vậy, chúng ta sẽ phát hiện được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si chính là nằm trong cảm thọ, bằng không, dù tu bao nhiêu năm cũng không biết tham, sân, si nằm ở đâu.

Đức Phật cũng dạy từng phương pháp cụ thể để đối trị tham, sân, si, Minh Thành gọi đó là Thánh trí về tham, sân, si. Phương pháp cơ bản nhất cần nắm là Tham dùng quán bất tịnh để đối trị; Sân dùng trải tâm từ để đối trị; Si dùng quán trí tuệ để đổi trị… cùng với những phương pháp khác. Đồng thời chúng ta cũng phải tu tập cho cảm thọ được rộng lớn bằng cách quán Tứ Vô Lượng Tâm. Để đối trị được dục, cần phải quán tứ đại, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn tử thi và nghe những bài pháp Minh Thành giảng thuộc chủ đề Con Đường Đoạn Tận Tham Ái. Phải nghe thật nhiều và thực tập thường xuyên, liên tục, lâu ngày mới có kết quả. Không thể nghe xong một lần rồi thực tập được vài bữa là thành công được. Người tu chúng ta phải thực tập những phương pháp này lâu dài và kiên định, kiên trì để chiến đấu được với cái dục này.

Như vậy, trong sự tu tập này, pháp hành là vô cùng quan trọng. Vì lẽ đó, môn chính yếu hiện nay Minh Thành chia sẻ cho chư Tăng Ni là Pháp Hành Kinh Tạng Nikāya, để mọi người nghe xong có thể thực hành, vì hiện tại sự thực hành rất ít, trong khi pháp học rất nhiều. Chính vì vậy, Minh Thành chọn con đường đi vào pháp hành./.