Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghiệp 12 - Chủ trương nghiệp của ngoại đạo

2026-03-03 00:54:40
Nghiệp 12 – Chủ Trương Nghiệp Của Ngoại Đạo

-THÍCH MINH THÀNH-

.......................chim mãi hót ca

Một mình ngồi thiền trong nắng sớm

An vui, thanh bình không thể tả.

Về núi yên tu đẹp làm sao

Bình minh, mây sương trắng một màu

Ngạt ngào hoa trà hương tỏa ngát

Nội tâm thanh tịnh thật thanh cao.

Về núi yên tu trí tuệ đầy

Một mình yên lặng ngồi nơi đây

Quán sâu, xét kĩ căn, trần, thức

Giữ tâm bất động chẳng lung lay.

Về núi yên tu sức oai hùng

Tất cả buông xuống nhẹ vô cùng

Độc tu thiền tịnh nhìn thế giới

Cuộc đời sầu khổ bức tranh chung.

Về núi yên tu thật thanh cao

Hồng trần thế tục khó nhuộm màu

Ngày đêm chuyên chú luôn phản tỉnh

Dục, tham, bản ngã khó lọt vào

Về núi yên tu hưởng vui nhàn

Tâm an, thân tịnh, hướng ngoại yên

Tư, tu yên nhất không tạp loạn

Thánh tuệ bừng sáng khắp đại ngàn.

Về núi yên tu thật là vui

Tinh cần, chuyên chú chẳng hề lui

Quyết chí, quyết tâm, quyết tiến bộ

Diệt tận lậu hoặc chẳng dễ vui.

Về núi yên tu thật cao chiêu

Nhìn ra bản ngã suốt sớm chiều

Dập đầu quỳ lạy chân thiên hạ

Nhiếp phục cái ta hết tự kiêu.

Về núi yên tu thật cao minh

Ngày đêm nội soi thân tâm mình

Nhìn ra rác bẩn toàn cấu nhiễm

Diệt trừ dục, ái giết vô minh.

Về núi yên tu tối thượng thừa

Thực hành tâm nguyện khó từ xưa

Diệt trừ tham, sân, si, bản ngã

Tỉnh giác không thể bị chúng lừa.

Về núi yên tu thật tuyệt vời

Tấm lòng trải rộng khắp trùng khơi

Bao đời dục ái làm ta khổ

Hôm nay thoát ra thật thảnh thơi.

Về núi yên tu tối thượng tôn

Thế Tôn từng dạy thiền tránh ồn

Gai nhọn an định là thanh sắc

Sống hạnh viễn ly sạch tâm hồn.

Về núi yên tu tối thượng thừa

Bao nhiêu dục ái quyết phải chừa

Thực hành ly dục, tâm hỷ lạc

Đúng lời Phật dạy hạnh từ xưa.

Về núi yên tu tối thượng tôn

Phiền não quá khứ đã được chôn

Thiện pháp lạc trú lòng hoan hỷ

Trong dòng sanh tử bước lên cồn.

Về núi yên tu thật kỳ tài

Một nhảy vượt ra khỏi trần ai

Tiêu diêu, tự tại siêu vật ngoại

Hồng trần tục lụy xin bái bai.

***

Đảnh lễ Đức Thế tôn bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác

Đảnh lễ bốn Thánh trí đưa đến ly tham, giải thoát

Đảnh lễ bốn đôi tám chúng Hiền Thánh Tăng, ruộng phước vô thượng ở trên đời.

***

Xin thưa đại chúng, hôm qua con mệt nên ngủ sớm, 8 giờ mấy là con ngủ rồi và 11 giờ mấy thức dậy. Thức dậy nằm Như lý tác ý không có ngủ và nó nhìn thấy được những thọ, tưởng, hành sanh diệt, sanh diệt. Như lý tác ý của mình liên tục, liên tục, nó nhiều mình đếm không xuể. Đặc biệt là tại sao nó nhiều, có quán cà phê sát bên đây, xe chạy cũng cỡ mười mấy lần một đêm. Hồi xưa là con đã nhìn xa, sợ dính liền người dân ồn ào cho nên cố gắng đất chùa phải rộng. Trước khi những người này mở quán, họ có kêu con để bán nhưng họ nói giá trên trời. Gia đình họ có ông chồng bệnh ung thư cũng nặng lắm, không biết còn sống không. Con nhớ ơn nghĩa cái thất khai sơn của mình họ từng là chủ nên khi họ mở quán con cũng nghĩ đơn sơ thôi kệ người ta nghèo khổ, cho người ta kiếm chút. Nhưng không ngờ càng ngày họ làm càng lớn, có bữa giảng pháp phải xuống xin họ mở nhạc nhỏ lại, nguyên khu vực này chỉ có một chỗ vậy thôi. Nhiều khi một ngày họ chạy mười mấy chuyến như vậy thì trong tâm con dao động, con mới Như lý tác ý không cho nó hướng ra ngoài âm thanh đó nữa, bắt nó quay về nhiếp phục cảm thọ, tưởng, hành. Con mới tác ý “Nếu mình ngủ thì mình không có nghe, mấy bữa khác nó cũng chạy nhưng mình nghe lờ mờ thôi tại mình thức mình mới nghe rõ. Mày biết chi để cho mày phiền não, đồ ngu. Cái biết này là cái biết của vô minh, của nghiệp. Cái biết, cái nghe, cái thấy, cái tiếp xúc nó sanh ra phiền não. Đi theo những cảm giác này là thú vậy, muốn làm súc sanh hả?” Quay lại nhiếp phục trong tự thân tâm của chính mình, con tác ý nhiều phương diện lắm cho đến lúc nó lắng, nó tan cái cảm giác đó luôn. Con quán con té xuống nằm chết ngay lúc này, đứt gân máu chết ngay tại chỗ này. Rồi con nói “Khi ở Sài Gòn ngủ trong cái phòng xe chạy sáng đêm đó thì sao không bực đi, ở đây có một chỗ à”. Con tác ý rất nhiều khía cạnh, khi tác ý xong xuôi hết thì lúc đó gần 3 giờ đêm. Từ 12 giờ tới 3 giờ đêm là con đi thiền hành, coi những thọ, tưởng, hành của mình, không chỉ những thứ đó mà nhiều thứ khác nữa.

Nhiều khi lúc khuya tâm mình an tịnh, mình thấy trong nội tâm của mình những suy nghĩ, những cảm giác, những hình bóng hoạt động khủng khiếp lắm. Cho đến khi mình tác ý tan hết những cảm giác nghĩ tưởng đó, mình thấy rằng cái thức, nghiệp thức – cái biết theo nghiệp rất là sâu xa. Mình phải tập không dao động trước cảnh. Nếu chỉ có một tiếng xe mà mình bị động, cái mành trúc rớt là tâm mình loạn thì mai mốt tai nạn hay cái chết đến sao mình bình an được. Tất cả những gì xảy ra với mình, mình cũng đem cái chết ra so sánh, đối chiếu, nếu đối với cái này động thì cái chết chắc chắn là phải đọa. Sau khi tác ý xong rồi thì sẽ hỷ lạc lắm, y như Thất giác chi vậy, trạch pháp xong tinh tấn rồi tới hỷ giác chi, khinh an. Khi đó, con ngủ thêm được 1 tiếng nữa, chuông đánh cái boong, giật mình thức dậy, gọi điện thoại cho mấy thầy dậy chuẩn bị. Mấy chú đánh chuông lúc 3 giờ 45 thì tức là khoảng 2 giờ 45 là khinh an xuất hiện và đi vào giấc ngủ.

Mình thấy sự tu học của mình là quay lại nhiếp phục ở bên trong chứ không phải đi chiến đấu ở bên ngoài. Chiến đấu bên ngoài là mình khổ suốt đời, suốt kiếp, không bao giờ chiến đấu ở ngoài mà cho nó xong. Nhiếp phục cảm thọ, nghĩ tưởng bên trong là mình thành công. Mình không có mong cầu người này đối với mình thế này, người kia đối với mình thế khác, người nọ đối với mình phải như nào, như nào. Điều đó không thể mong cầu được. Điều mình mong cầu là nhiếp phục được những cảm thọ, bản ngã, sân hận, hơn thua bên trong chính mình. Đó là điều mong cầu, đó là việc cần làm, phải làm, nên làm và đáng làm của người tu. Làm được điều đó thì ở hoàn cảnh nào thì mình cũng bình an. Hôm nay chúng ta học bài kinh hết sức đặc biệt, quý vị sẽ rất là bất ngờ vì mình hiểu cái nghiệp không có đúng, coi chừng mình hiểu nghiệp giống như của ngoại đạo, theo chủ trương 3 quan điểm truyền thống về vô vi là không có hành động của ngoại đạo. Ngoại đạo là ở ngoài đạo Phật, không phải là đạo Phật trong thời kỳ Đức Thế tôn còn tại thế.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh, bài kinh Sở Y Xứ tức là chỗ nương tựa, Đức Phật nói có 3 chỗ nương tựa của ngoại đạo, của người không phải đạo Phật.

Này các Tỷ-kheo, có ba ý xứ này của ngoại đạo, dầu có bị các bậc Hiền giả cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn kiên trì trong quan điểm truyền thống về vô vi (không hành động). Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-lamôn thuyết như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì, con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ”.

Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-lamôn, thuyết pháp như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì, con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân một tạo hóa tạo ra”.

Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-lamôn, thuyết pháp như sau, chấp kiến như sau: “Phàm có cảm giác gì, con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do không nhân, không duyên”.

Cái thứ nhất là khó, coi chừng cái thứ nhất là mình bị nhiều. Tại sao “Phàm có cảm giác gì, con người này lãnh thọ lạc, khổ hay không khổ, không lạc, tất cả đều do nhân nghiệp quá khứ”? Vậy đúng không, mình cũng hay nói vậy mà, phải không “Tại đời trước tôi sao đó, nên bây giờ tôi bị cái nghiệp này”. Vì sao ở đây Đức Phật nói đó là quan điểm của ngoại đạo, là kiến chấp? Chúng ta sẽ nghe Đức Phật giải thích:

Do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người sát sanh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người lấy của không cho; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người không Phạm hạnh; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói láo; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói hai lưỡi; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người ác khẩu; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người nói lời phù phiếm; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người tham lam; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người tâm sân; do nhân nghiệp quá khứ, sẽ trở thành người theo tà kiến". Nhưng này các Tỷ-kheo, với những ai trở lại dựa vào nghiệp quá khứ là lý do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có “Đây là việc phải làm”, hay “Đây là việc không nên làm”. Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là sự chỉ trích đúng pháp thứ nhất của Ta đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thuyết như vậy, có chấp kiến như vậy.

(Tăng Chi Bộ Kinh - Tập 1, VII. Phẩm Lớn, bài kinh Sở Y Xứ)

Nếu như mình nghĩ rằng tất cả những cái bây giờ mình đang có ở đây là do cái nghiệp của mình. Người đó trộm cái, hỏi trộm cắp vì cái gì, thì họ nói là do cái nghiệp của tôi quen trộm cắp rồi. Người mà dựa vào cái nhân nghiệp quá khứ thì người đó không có ước muốn, không có tinh tấn, không có nỗ lực rằng cái này nên làm, cái này không nên làm. Bắt đầu hiểu hiểu ra chưa? Người này nghèo, nói rằng “Cái số tôi nghèo, nghiệp tôi nó nghèo, mạng tôi nó nghèo, khỏi cần làm”. Cái này mình thấy ở ngoài nhiều không, thì đây là kiến chấp của ngoại đạo, bị Thế Tôn chỉ trích. Một người hay nói chuyện, hở ra cái gì cũng nói, gặp gì cũng nói, nhiều khi nói không có duyên, bất lịch sự, thô tháo, bừa bãi, nói đến thì họ nói “Cái nghiệp tôi vậy, tôi quen vậy rồi”. Như vậy thì người này kiến chấp và không có cơ hội sửa đổi. Người này vĩnh viễn ở ác pháp, bất thiện pháp. Thành ra nghiệp quả nó thâm sâu lắm, mình đừng tưởng đâu mình hiểu về nghiệp “Nghiệp có gì đâu, tôi biết rồi”. Người này hay nổi nóng, họ nói “Tôi quen rồi, tánh tôi tánh nóng”. Người đó có thể sửa được không? Đó là chấp vô nghiệp của quá khứ. Bây giờ mình học ngũ uẩn rồi, mình biết tánh nóng đó là sân, tánh nóng đó nằm trong uẩn nào? Trong tưởng có không, trong hành có không? Nhưng căn bản của nó là tích tụ trong cảm thọ. Nó chẳng qua là những cảm giác lặp tới, lặp lui riết rồi quen và nó tích tụ. Bây giờ mình tu là giải phá cảm giác, giải tỏa cảm giác, giải phóng cảm giác, giải thoát cảm giác. Mình muốn giải phá, giải tỏa, giải phóng cảm giác này thì phải cần một sự nỗ lực liên tục, kiên trì, quyết tâm thật là mãnh liệt. Chứ nếu mình có một suy nghĩ “Thôi, tôi không thể nào thay đổi được” thì suy nghĩ đó nó giết chết mình. Suy nghĩ đó cũng là ý nghiệp. Mình thấy nó rất là sâu sắc. Cho nên tưởng đâu mình tu Phật nhưng suy nghĩ, quan điểm, cách nhìn của mình lại là nhìn theo ngoại đạo.

Đây là chỗ Đức Phật chỉ trích “Như vậy, sự cần thiết cần phải làm hay không cần phải làm không được tìm thấy là chân thực, là đáng tin cậy, thời danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được, vì các Ông sống thất niệm và với các căn không hộ trì”. Suy nghĩ đó là suy nghĩ tà tư duy, tà kiến, kiến chấp. Bây giờ một người mà bộp chộp, tháo động, lăn xăn, bất cẩn, cẩu thả khi được nhắc nhở, chỉ dẫn thì nói “Tánh tôi quen rồi, tôi không thể nào sửa được hết”, thì người đó có còn là người tu không? “Danh từ Sa-môn không thể áp dụng đúng pháp cho các Ông được”, các ông không phải người tu, người tu không có quan điểm như vậy, quan điểm đó không phải là của người tu. Tu là điều chỉnh, là chuyển hóa các dòng cảm thọ, chuyển hóa những suy nghĩ, nhận thức, mở ra những kiến chấp cứng chắc, chấp thủ, kiến thủ, những cái thấy sai lầm gọi là vọng kiến, tà kiến trong thân tâm của mình. Cho nên nếu một người đã mang suy nghĩ như vậy thì người này tu được không, tu thành công không, tu có kết quả không. Chúng ta có cái này nhiều không, cho nên tu không thành công. Phải dẹp cách nhìn, cách suy nghĩ này. Đó là cái chủ trưởng thứ nhất của ngoại đạo.

Mình nói rộng ra một chút, hôm trước ở trên nhật ký zalo có một sư Nam tông đăng lên một câu Minh Thành hết sức bất ngờ, đại ý là có tai nạn, dịch bệnh hay gì đó thì 18 năm sau ta vẫn là một trang hảo hán, nói giống như trong phim kiếm hiệp, câu đó trong phim kiếm hiệp hay nói. 20 năm sau ta lại là một trang hảo hán – đó là chấp thủ. Cái này nhiều lắm, không riêng gì một người đó, đây là quan điểm chung trong phim Tàu, mà người Việt mình cũng ảnh hưởng rất nhiều. Đây chính là kiến chấp của phàm phu ngoại đạo: người chết làm người, thú chết làm thú, chim chết sẽ trở lại thành chim, chó chết sẽ trở thành chó lại, người chết sẽ trở thành người lại, không phải như vậy. Chính vì vậy phải nghe lời Đức Phật, phải quán chiếu, phải điều chỉnh suy nghĩ của mình về nghiệp. Chứ nếu người chết vẫn làm người thì tu chi nữa, khỏi cần tu vì mình làm gì cũng được hết đời sau mình sanh ra mặt mũi giống y chang như cũ mà. 20 năm sau ta lại là một trang hảo hán – đó là kiến chấp, là tà kiến, thấy biết tà đạo, mê lầm. Mấy cái này nhiều lắm. Có nhiều người mình gặp lúc họ 20 tuổi, sau đó 20, 30 năm sau gặp lại, họ 40, 50 tuổi nhưng tánh vẫn y chang, không thay đổi, có vậy không? Người rắc rối vẫn rắc rối, người khó chịu vẫn khó chịu, người tham lam vẫn tham lam, trái cà, trái ớt cũng bốc bỏ túi. Người keo kiệt tới 70 tuổi, già rồi cũng keo kiệt y chang. Mình thấy cái nghiệp khủng khiếp lắm. Chính trong dòng họ con có một cô hàng xóm dưới quê giàu lắm, giàu khủng chứ không phải giàu vừa nhưng mặc quần áo cũ không, dép thì rách, lấy cọng kẽm buột lại, không dám ăn, người teo héo giống như cây tre miễu. Năm nay 82 tuổi rồi vẫn y chang như vậy, con đi tu 30 năm con về con gặp cũng vậy, nhưng giờ biết cũng chùa chút đỉnh cũng đỡ, không dám ăn xài gì hết. Cho nên chỉ có sự tu Chánh tri kiến mới điều chỉnh tà kiến, Chánh tư duy mới điều chỉnh tà tư duy. Nếu mình không học Thánh pháp, Chánh pháp thì lối món của tư duy, khuôn sáo của suy nghĩ, gọng kiềm của cảm thọ ngàn năm không thay đổi.

Cho nên sự tu của mình là một cuộc cải cách vĩ đại, đột phá, làm thay đổi lớn trong nhận thức. Chứ bây giờ mình chấp vô nhân nghiệp quá khứ là xong rồi. Tu theo Chánh kiến này thì cái gì cũng có thể thay đổi được, đó mới là hiểu giáo pháp vô thường. Sắc là vô thường, cảm giác là vô thường, suy nghĩ là vô thường, những cái tưởng, cái thức là vô thường nên nó đổi được, chứ mình nói “Không, tôi vậy là vậy, chứ không đổi” thì đây là kiến chấp rồi. Kiến chấp như vậy thì nghiệp không thay đổi, không thể từ đen mà đi tới trắng được, không thể từ tối mà đi ra sáng được, không thể từ ác bất thiện pháp mà đi vào thiện pháp được, không thể tăng thượng được, giáo pháp là có khả năng hướng thượng. Còn nếu chấp vô quá khứ là nó đứng một chỗ, không đi lên được. Cho nên có những người tu 5 năm, 7 năm, 10 năm, 20 năm mà vẫn y chang vậy, không có khả năng hướng thượng. Cho nên mình đọc kinh là Tăng thượng tăng học – Tăng thượng giới học – Tăng thượng tuệ học, chữ đó hay lắm. Tăng thượng, hướng thượng là giống như ngoài đời là phát triển. Khi Bình Dương mới vừa thành phố mới cách đây 15 – 20 năm, Minh Thành không nhớ chính xác, mấy chú chở Minh Thành đi Bình Dương, vừa tới thấy nó để một cái bảng thật lớn “Luôn luôn thay đổi để phát triển”. Minh Thành nhìn thấy câu đó là trong tâm chấn động hết, đó chính là chuyển nghiệp. Câu đó là pháp nhưng người ta ứng dụng vào chỗ họ làm giàu, còn mình ứng dụng vào chỗ tu. Luôn luôn thay đổi để mà phát triển, đó là hướng thượng tăng học. Chánh pháp có khả năng hướng thượng, tăng thượng đức hạnh, tăng thượng tâm thanh cao, tăng thượng sự hiểu biết chân lý, tuệ giác. Đó chính là Tăng thượng tăng học – Tăng thượng giới học – Tăng thượng tuệ học. Bây giờ mình hài lòng, mình chấp nhận với cái hiện tại là mình vô kiến chấp. Đây là Minh Thành nói rộng cho quý vị thấy. Trong suy nghĩ của mình mà cái nào cứ y như cái nấy hoài là chết, đó là suy nghĩ có ngã, hữu ngã, là suy nghĩ chấp thường, suy nghĩ chấp vô nhân nghiệp quá khứ. Nếu như vậy là phàm phu hoài, làm sao phàm thành Thánh, sao có người hướng Dự lưu, sao có người hướng nhập lưu, sao có người Nhất lai, sao có Bất lai, sao có A La Hán. Nếu vậy cứ là vậy thì đâu có thay đổi. Cho nên đó là phá chủ trương thứ nhất của ngoại đạo.

Bây giờ tới chủ trương thứ hai là vị tạo hóa, đấng tạo hóa, là ông trời. Nhân gian hay nói câu “Người tính không bằng trời tính, số trời đã định, có bề trên sắp đặt hết”. Câu này nghe quen không, đó là tư tưởng của ngoại đạo: quy về một đấng tạo hóa. Thông thường thì được nhưng mà xét sâu vô pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì không trúng. Nếu có một ông trời tạo như vậy thì mình đâu có cần phải tu vì cái gì cũng được đặt sẵn hết rồi. Thậm chí nhà Nho có câu “Nhất ẩm nhất trác, giai do tiền định”, tức là một chén cơm hay một chung trà cũng là định trước hết rồi, khỏi cần tính gì nữa hết. Ăn cháo cũng định, ăn cơm cũng đinh, ăn gạo lứt cũng định luôn thì mình khỏi cần tính gì nữa hết. Cho nên Nho giáo mình học bình thường sẽ thấy hay nhưng theo giáo pháp Đức Phật Thích Ca thì không có đúng. Có những người đề xướng Tam giáo đồng nguyên, Phật Lão Trang thì những người đó không thành tựu Chánh tri kiến, làm sao đồng được. Người không có Chánh tri kiến mới đề xướng cái đó, người có Chánh tri kiến không có nói như vậy. Ngoài bậc Chánh Đẳng Giác ra thì không có ai chỉ mình thấy ngũ uẩn hết. Không có một người nào có thể chỉ cho mình con đường chấm dứt các nghiệp. Không có một người nào có đủ trí tuệ, đủ khả năng chứng ngộ điều được đó ngoài Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và các bậc A La Hán, các bậc Thánh tăng, đệ tử của Như Lai đã thành tựu Chánh tri kiến. Không ai chỉ được cái đó hết cho nên mới gọi là ruộng phước vô thượng ở đời. Chỗ này là chỗ hết sức quan trọng mà chúng ta hết sức hiểu lầm, cứ vô gặp Thánh là lạy, cứ gặp tượng là nhào vô thắp nhang. Miền Bắc gặp cứ đổi tiền lẻ, bỏ tiền vô, 100 ngàn đổi còn 60, 70 ngàn, gặp tượng nào cũng nhét, gặp giếng cũng quăng vô. Tượng nào cũng lạy dù không biết đó là ông gì, cứ gặp là lạy. Bây giờ Bồ Tát là để từ cổng chùa vô tới chỗ mà không biết chỗ đó là gì, điều này hết sức nguy hiểm, chỗ tôn kính để tôn thờ, đảnh lễ đâu phải là chuyện để cho mình làm giống như lính hầu đứng ngoài đường. Chúng ta vô nhiều chỗ có thấy cảnh này không, nhiều lắm. Loạn hết trơn. Nhìn vô đó là mình biết mấy người này sao rồi, đừng có lại đó. Những người có Chánh tri kiến không có làm như vậy, tượng Phật chứ đâu phải lính hầu cho mình đâu mà để hai bên đường đi. Thậm chí là Thập bát La Hán, không phải là để chỗ như vậy. Người mà biết được thật sự Phật, biết được thật sự Pháp, biết được thật sự chúng Tăng thì sẽ tôn kính cùng cực, không phải muốn để đâu là để. Quý vị nhìn Linh Quy Pháp Ấn coi được mấy tượng Phật, đâu phải muốn để đâu là để. Cho nên học về cái nghiệp này nó soi sáng cho mình rất là nhiều khía cạnh, không phải chuyện dễ.

Cho nên bây giờ nếu cái gì cũng ông trời cũng định, cũng tính hết trơn rồi thì mình tính chi nữa, mình khỏi cần tính. Có bề trên an bày sắp đặt hết trên rồi, bề trên đó là ai thì do mình tưởng tượng, do truyền thuyết của người trước nói lại rồi mình nghe theo. Đức Phật nói ta là chủ của nghiệp, cái thiện, ác ta đã làm ra thì tự ta thừa kế, tự ta thọ lãnh. Còn mình quy về cho một đấng nào đó là mình vô trách nhiệm, chạy trốn trách nhiệm. Có một số người sử dụng nghĩa lý là dùng chữ “thiên”, ông trời là chỉ định lý nhân quả, định luật nhân quả. Sau này ta giải thích tránh việc mê tín dị đoan rằng cái mà bao trùm hết thế giới này chính là định lý nhân quả, đó là trời, là thiên lý, là đạo lý thiên nhiên, đó là cái lý nhân quả bảo trùm trời đất này thì được. Chứ còn tưởng đâu có một ông nào đó sắp đặt cho tất cả, có bao nhiêu nam, bao nhiêu nữ, người này giàu, người này nghèo, người kia bệnh, người kia sướng, người kia đẹp, xấu là ổng sắp xếp ra hết là không phải. Đó là cái nghiệp mình tạo ra chứ sao mà có một người làm ra như vậy. Nếu làm ra như vậy thì sao ổng không làm cho đẹp hết đi, giàu hết đi chứ làm chi đui, cùi, què, sứt mẻ, điếc, làm chi ra cái thân bệnh hoạn, vì vậy đó là do cái nghiệp của người đó. Ác nghiệp hay thiện nghiệp, đen hay trắng hay là vừa đen vừa trắng, hay là thuần trắng mới tạo ra thân tướng như vậy, ở một quốc độ, một thế giới, một hoàn cảnh như vậy. Bây giờ mình bị xì ke thì mình đổ thừa “Số tôi bị xì ke” hay mình bị ghiền thuốc, ghiền đánh bài rồi mình nói “Cái số tôi vậy”, rồi mình vô mình lạy Phật hay ông trời độ cho con hết ghiền thì được không? Ai tập, ai tiếp xúc với cái đó, ai quyết định chơi cái đó rồi bây giờ mình muốn cho hết thì ai quyết định. Qua đó mới chứng minh được cái lý “Ta là chủ nhân của nghiệp, ta là bà con của nghiệp. Nghiệp là bào thai. Nghiệp là chỗ nương dựa, là quyến thuộc”. Thành ra tất cả mọi điều là do chính mình làm chủ, không ai làm chủ được cho mình, dầu cho cha mẹ ruột, anh em ruột, ông nội, bà nội thì mỗi người đều có nghiệp riêng. Bây giờ một người bệnh người kia chịu thế thì được không, đau thế giùm được không, chết thế giùm được không, ở tù thế được không? Nó rõ ràng vậy đó.

Cho nên khi nói do một đấng tạo hóa tạo ra thì Đức Phật chỉ trích tư tưởng, quan điểm này. Mình thấy tại sao mà người ta ở nguyên cái nước đó toàn là sa mạc không, ở dưới thì nó có dầu. Còn những nước mình ở thấy toàn là biển không, nước không, ở trên đảo. Hay là nước đó người ta da đen thùi lui như vậy, đói rách, thiếu thốn. Có người ở đất nước mặt mũi, mình mẩy đẹp, da trắng như sữa, cao quý như vậy. Tất cả những cái đó là phước biểu hiện, nghiệp biểu hiện, nghiệp đen, nghiệp trắng biểu hiện. Cho nên khi mình hiểu được cái này sẽ bớt cầu xin. Đi theo Nikāya vậy chứ về có chuyện là vô lạy ào ào để cầu. Đương nhiên mình ở đây cũng cầu xin, nhưng cầu cái gì, ai nhớ bài Phục nguyện không? Đó là cầu buông bỏ tham ái, buông bỏ sân hận, buông bỏ trạo cử, hôn trầm, thùy miên, buông bỏ bản ngã, buông bỏ những thứ làm cho mình khổ đau. Cầu cái đó là Chánh cầu, đó là kinh Ước nguyện mình có học trong kinh Nikāya. Đức Phật dạy sự ước nguyện của người tu là có cầu xin, có cầu nguyện nhưng nguyện những cái đó mới là chánh đáng. Tại vì nguyện những cái đó là mình làm, chứ mình nguyện mà kêu Phật làm giùm thì là trật lất, Phật không có làm giùm ai được hết. Phật chỉ cho mình cách làm đúng rồi mình làm theo cách đó. Mình làm ít mình hưởng ít, mình làm nhiều hưởng nhiều, mình không làm mình không hưởng, còn mình làm trọn vẹn thì mình hưởng Thánh quả tối cao, lậu tận A La Hán. Cho nên giáo lý này làm cho mình sáng tỏ ra hết tất cả, sáng rực hết, mình sẽ thấy tuyệt vời lắm, đời sống của mình tuyệt diệu lắm, bớt mê tín, bớt ỷ lại, bớt cầu xin. Đức Phật nói trong Nikāya mình học:

Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác.

Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này Ananda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ… quán tâm trên tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.

Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương 3, Phẩm Ambapàli, Phần Bệnh)

Chúng ta thấy lời dạy chánh thống của Đức Phật rất rõ ràng, thiết thực và rất là cụ thể. Tại sao lúc trước mình nghe, mình đọc rồi mình bỏ qua, là tại vì mình quen với tà kiến, mê tín ăn sâu vô trong này. Cho nên cái ăn này nó mạnh hơn cái kia, cái kia nghe thì phớt qua thôi, còn cái ăn sâu trong não, ăn sâu trong tim, trong tâm can gỡ ra không được. Những vị tối thượng trong hàng đệ tử của Như Lai là vị trú trên Tứ Niệm Xứ, thấy được ngũ uẩn, vô thường, khổ, không, vô ngã. Thế nào mấy vị lớn tuổi, mấy vị ngồi trong đây cũng nói “Con cũng thấy có gia hộ mà, con thấy có độ mà, thầy nói vậy là sao?”, quý vị biết ai độ mình không? Con lấy thí dụ là quý vị hiểu liền, bây giờ quý vị hữu sự, quý vị đi nhờ người ta, mà quý vị nhờ là nhờ người có khả năng, có ơn nghĩa, có thương mình hay mình nhờ người dưng? Người đó là người có ơn, có nghĩa, có tình, thậm chí là mình giúp họ rồi nên mình nhờ người ta giúp đỡ. Tuy là nói nhờ người đó giúp nhưng lúc trước mình đã giúp người ta, chứ tự nhiên mình nhờ người dưng thì người ta giúp không? Mình nhờ một chuyện lớn thì người dưng giúp không? Chư Thiên cũng giống vậy, những người được gia hộ là các vị Chư Thiên đó từng là cha mẹ, anh em, bạn bè, người ân nghĩa với mình. Cho nên mình cầu, mình có phước đức, mình có thành tâm, đúng nhân, đúng duyên, đúng lúc, đúng thời thì được giúp nhưng cái giúp đó là do mình đã làm rồi nên mình được giúp, mình không kêu người ta cũng giúp. Có những trường hợp mình gặp nạn, mình không cần kêu thì người thân mình cũng giúp. Sự gia hộ là vậy, chứ không có tự ai lại giúp mình hết.

Xin thưa đại chúng, mình không thể nào tìm Đức Phật được hết, Phật không có độ mình, Phật chỉ cho mình 37 phẩm trợ đạo, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ là độ mình, chứ Phật không có cho cái này, cho cái kia. “Phật độ cho con khỏe mạnh, độ cho con con thi đậu, hay con làm ăn thuận lợi, buôn may bán đắc”, cầu như vậy không phải. Đó là mình không hiểu Phật mình mới cầu nguyện như vậy. Phật là ra khỏi năm uẩn chứ hình bóng, là cái tượng mình thấy trênh Chánh điện không phải là Phật. Phật là ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức, sao mình kêu Ngài được. Phật không còn ở trong thế giới của vô thường, vô ngã mong manh này nữa, Ngài đã đi ra khỏi rồi. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật nói “Không có bất cứ một ai có thể thấy được Như Lai sau khi Như Lai diệt độ”. Đức Phật ra khỏi ngũ uẩn rồi làm sao thấy, mình thấy là thấy sắc uẩn, còn Đức Phật không phải là sắc uẩn nữa, đi ra đó rồi làm sao thấy. Cho nên mình tưởng ra cái hình này là Phật, cái tướng kia là Phật, đó là tưởng tượng, những màu sắc tướng làm lên để cho mình nhớ ơn để mình tu. Còn người chân chánh thấy pháp, khi cúi xuống lạy Phật thì không có một hình bóng nào hiện ra hết, mà là trùm hư không pháp giới, vô tướng thênh thang, xuất ly năm uẩn, đó là gương mặt thật của Phật Thích Ca Mâu Ni, không có một hình tướng nào, vượt ra khỏi năm uẩn, tự tại, bất động. Những cái trong tâm mình tưởng tượng ra thì đó là sắc tưởng chứ không phải Phật, còn mình thấy cái tượng bên ngoài là sắc tướng. Tuy nhiên mấy bà già lại vuốt vuốt tượng Phật rồi vuốt lên đầu bà ấy thì cũng đỡ hơn là đi vuốt Bà Chúa Xứ hay là mấy cái miếu này nọ kia. Như vậy là người ta cũng có lòng tin. Cho nên Phật trí thâm sâu vô lượng, vượt ra ngoài sắc tướng ngũ uẩn, tịch tịnh bất động, không còn những thân thể dơ dáy, hôi tanh, bẩn thỉu, máu mủ như mình nữa. Không còn những cảm giác, những nghĩ tưởng thúc giục, những nhận thức theo nghiệp như mình nữa. Nó ngoài sức tưởng tượng, Phật giới là bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn được cảnh giới của chư Phật. Nghiệp quả là 1 trong 4 bất khả tư nghì, không thể nào mình suy nghĩ được cái nghiệp của người đó tại sao lại như vậy. Suy nghĩ cái đó Đức Phật nói là điên loạn, không thể suy nghĩ được. Cho nên mình chỉ cố gắng nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt, tu tập những thiện pháp. Như Lai tuyên bố làm tất cả mọi thiện pháp, tu tập tất cả mọi thiện pháp và Như Lai chứng nhập thành tựu tất cả viên mãn đối với thiện pháp. Cho nên cái thân cuối cùng của Như Lai là cái thân đại viên mãn của bạch pháp, tịnh pháp. Tất cả những gì trên thế gian này ưu việt nhất là Ngài đều thành tựu hết, một công đức viên mãn, một trí huệ viên mãn trong đời sống cuối cùng của Ngài.

Thành ra như vậy là có độ hay không có độ, có gia hộ hay không có gia hộ, có người khác gia hộ cho mình hay là không có? Vẫn là chính mình! Bình thường mình sống với người ta có ân, có nghĩa, có tình với người ta, khi có hữu sự mình nhờ thì người ta giúp. Còn bình thường mình không cần biết ai hết, mình chỉ cần biết mình thôi, hữu sự mình đi nhờ người ta có được không? Thì đó cũng là nhân quả. Cho nên mình cứ suy nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt, gieo duyên tất cả mọi người đều tốt bằng tấm lòng chân thành thì mình sẽ gặp tất cả những cái tốt. Nhất trí vậy không, chứ cứ đi lo hướng ngoại cầu xin để làm gì mà tự thân mình không chịu chuyển hết suy nghĩ cho nó thiện, lời nói cho nó lành, việc làm cho công đức. Không chịu làm những thứ đó mà cứ lo “Không biết có ai giúp tôi không?”, nhất là mấy đứa trẻ bây giờ làm sao phải gặp được đại gia, gặp được quý nhân, gặp được người này người kia là giám đốc hay là chủ tịch hội đồng quản trị để nâng đỡ cho mình mau lên thì cái đó là ảo tưởng, là tai họa, sống trong viễn vọng, trong mơ mộng, viễn vông. Mình người tu tối ngày cũng vậy “Sao không gặp được Đức Phật, gặp được các bậc A La Hán, gặp được Thánh tăng, gặp được Thánh nhân”, tới chừng gặp được Thánh nhân là chạy luôn. Bởi vì Thánh nhân chỉ mình quá xá lỗi, sợ quá “Cái Thánh này tôi không khoái rồi, tưởng đâu Thánh là các Ngài xẹt hào quang, làm dữ dằn. Ai dè lại chỉ tôi tham, sân, si, bản ngã không trời”. Bởi vì đó là Thánh tưởng của mình, chứ không phải Thánh thiệt. Như vậy cuối cùng sự tu của mình là hướng ngoại chứ không có sự quay lại để lo cho tự thân mình, nhiếp phục tự thân mình.

Cho nên câu lúc này Đức Phật nói “Hãy tự mình nương tựa chính mình” là chỗ đó. Lại chùa nào tu cũng bắt “Thầy phải vầy vầy nè. Đại chúng phải vầy vầy nè. Sửa cái này lại. Để như vầy là sai”, đi đâu cũng muốn làm sếp hết. Thấy cái nguyên nhân khổ không, thấy bản ngã nó vác tới chùa không? Cho nên nhìn cây trúc ngay đây nó ngã xuống mà con không có cho chặt, com để đó để khi vô cúi cái đầu xuống rồi chun vô, vậy mà qua khỏi cái cây đó vô cũng ngẩng đầu lên. Hồi đó con mới lên đây cất am tranh, cái mái phủ xuống dài lắm, mấy người đó tính cắt, con nói “Không, cắt ít chỗ nhọn thôi, cho ai vô am tranh cũng phải cúi đầu xuống”. Có hiệu quả thật, rất là nhiều hiệu quả. Mà người nào để ý mới biết tác dụng, còn không để ý thì cũng như không. Cho nên “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Phải để ý, phải suy nghĩ, phải suy xét thì mới sanh khởi thiện pháp. Còn mình cũng để ý, cũng suy nghĩ, cũng suy xét mà suy xét tầm bậy thì sanh ra ác pháp. Đi vô thấy bực mình, “Cái cây này ngã sao không chịu cắt đi, để vậy đi khó chịu quá”, như vậy là ác pháp sanh. Nhưng có người vô thì suy nghĩ “Cái này chắc có ý nghĩa gì đó, tại sao ngã vậy mà không chịu cắt?”, suy nghĩ từ từ như vậy thì nó ra thiện pháp. Một suy nghĩ của mình thôi mà nó có thể là trắng mà nó cũng có thể là đen. Tu trong suy nghĩ là vậy, tu trong từng suy nghĩ, trong từng tư duy của mình. Chứ mình đòi mấy ông Thánh giống như trong phim thì đi vô phim mà tìm, kiếm phim mà coi, trong đó Thánh nhiều lắm như Tề Thiên Đại Thánh vậy. Còn nhiều khi mình gặp các vị chân tu, các bậc thành tựu, mình thấy sao bình thường quá vậy. Bình thường đi lạy người ta là nhỏ, nếu lớn là người ta phải lạy lại vì vậy mình đi tìm người mà được lạy chứ mình không có tìm người lạy người khác. Coi chừng người được lạy đó không phải Thánh mà người đi lạy người khác coi chừng là không phải phàm.

Trở lại vấn đề, chủ thuyết thứ ba không nhân không duyên, cái này nhiều lắm. Tất cả là không nhân, không duyên, đều là tự nhiên. Cái này những đạo lớn mình nói cũng có trong đây tức là thuận theo tự nhiên. Trong đó nó có nhiều nghĩa lắm, ở đây mình giải thích theo nghĩa cái gì sanh ra cũng tự nhiên hết, tự nhiên nó có vậy thôi, giống như Linh Quy Pháp Ấn mình là tự nhiên. Cây trên trước là cây cô đơn của Sơn Tùng, chùa này là chùa của Sơn Tùng, tại vì tự nhiên mà, chứ không cần biết lịch sử ngôi chùa sao, không tìm hiểu cho nó cặn kẽ. Tự nhiên sanh ra là giàu, tự nhiên sanh ra là mù, chột, đui, điếc, tự nhiên sanh ra là què. Đây là chủ thuyết của kiến chấp ở ngoài đời, cho rằng tất cả pháp là tự nhiên. Cái gì cũng tự nhiên hết, nếu mà tự nhiên hết, ông trời tạo ra như vậy thì “những người này không có lí do kiên thực, với những người ấy sẽ không có ước muốn, không có tinh tấn, không có “Đây là việc phải làm”, hay “Đây là việc không nên làm”.” Những người mà có tư tưởng như nãy giờ nói sẽ không có suy nghĩ nỗ lực, cố gắng thay đổi, cải cách, cách mạng để làm cho mới lại. Không có ước muốn đó bởi vì cho rằng đó là tự nhiên hết rồi, đó là do một đấng nào tạo ra rồi thì mình cần gì phải nỗ lực nữa. Mình có nỗ lực cũng vậy thôi, tại vì ổng tạo ra như vậy rồi, không thể thay đổi được nữa. Nếu mà mình suy nghĩ vậy thì mình thua mấy người đi thẩm mỹ. Những người đi phẫu thuật thẩm mỹ lúc đầu hình xấu quắc sau đó nhìn hình kế bên là hết hồn, tưởng đâu là người khác. Người ta đâu có “Tôi sanh ra sao để vậy” mà người ta đi sửa, đau đớn quằng quại, tốn tiền tốn bạc, cha mẹ từ mặt có khi cũng chịu, làm luôn. Thậm chí bây giờ là con trai làm thành con gái, con gái làm thành con trai, tới mức độ như vậy, mấy người đó đâu phải tự nhiên mà có một sự nỗ lực.

Những cái này mình phân tích ra thì rộng lắm, cùng khắp, nhiều lắm. Đừng nói người cư sĩ, đừng nói người không biết tu, ngay cả người xuất gia cũng âm thầm, ngầm ở trong tư tưởng mấy cái này đầy rẫy hết. Người xuất gia có những tư tưởng này không? Nhiều lắm, nên không phấn đấu, không nỗ lực, không muốn thay đổi, không muốn làm mới. Như vậy được rồi, còn gì nữa đâu mà lo, ngày có 3 bữa cơm rồi, phòng có chỗ ở rồi, ngày vô gõ chuông, gõ mõ 2 thời, đi cúng là có tiền, vậy là xong, không có quyết tâm, không có nỗ lực, không có tăng thượng, không có tăng tiến trong giới học, tâm học, tuệ học. Phật dạy giống như con lừa đi theo con bò, dạy tới mức độ như vậy mà cũng trơ trơ, nói tới như vậy không phải nói nhẹ, nặng đó, vậy mà vô tu cũng làm biếng, giải đãi. Thương cho mình, thương cho bọn phàm phu vô minh, lười biếng mà không có biết nhục, không biết tàm quý, không biết xấu hổ gì hết, cứ trơ trơ. Đi chùa lâu nhiều khi con sợ, nhiều khi giờ con cũng trốn, con ở trong phòng hoài, con sợ lắm, Phật tử mà con cũng sợ lắm. Vô chùa một thời gian rồi là giống như trụ trì luôn “Nhất trụ trì, nhì nhà bếp”. Nhiều khi con không dám xuống nhà bếp “Mô Phật, không dám!”. Cho nên ở đây con quyết tâm, mong đại chúng thương con, yểm trợ nhà bếp Linh Quy Pháp Ấn là phải tu, nhất trí không? Phải tu, nếu không là đổi nhiệm kỳ, không cho ở dưới thâm căn cố đế, đó là hại người ta. Mấy bà sư cô dưới bếp con ở chùa mấy chục năm con sợ lắm, cái đó là làm mất đi hình ảnh đẹp của Tam bảo, phá vỡ ruộng phước vô thượng. Người ta đến chùa một lần người ta bỏ không đi nữa, chính là những thành phần gọi là “Sư tử trùng thực sư tử nhục”. Thịt của con sư tử không con nào dám ăn hết, nghe mùi là nó sợ, nhưng con trùng ở trong thân sư tử sanh ra giòi.

Đức Phật nói giáo pháp của Đức Phật không có một ngoại đạo, thiên ma hay bất cứ ai có thể phá vỡ được Chánh pháp luân mà Thế Tôn đã chuyển, chỉ có đệ tử của Ngài không có tu chứng thì giáo pháp của Ngài sẽ đi đến chỗ hoại diệt. Cho nên giáo pháp ngoại diệt là một phần trách nhiệm thuộc về mấy cái đầu trọc ngồi đây. Tức là trách nhiệm của những người không phải ở bên ngoài đâu mà là do mình không tu chứng Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả. Ngay cả hàng cư sĩ, đừng tưởng ngồi sau có tóc là ngon, có tóc cũng là ở trong Tăng đoàn, từ Sơ quả cho đến Tam quả, Bất lai. Giáo pháp hoại diệt cũng do một phần của quý vị ngồi sau không có giữ gìn, hộ trì, truyền bá Chánh pháp, không có thực tập, tu tập, chứng ngộ giáo pháp, cho nên giáo pháp nó diệt. Chứ không quy vào chư Tăng hết, mà cả cư sĩ, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cận sự nam, cận sự nữ. Trong Tăng đoàn của Phật là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, là đoàn thể Phật giáo. Trước giờ mình hiểu sai hết là Tăng đoàn là mấy thầy, mấy cô thôi, không phải như vậy mà có cả nam cư sĩ, nữ cư sĩ. Thời Đức Phật có rất nhiều những cư sĩ chứng ngộ từ Sơ quả cho đến Tam quả, thời đại bây giờ có khi cũng có mà mình không biết. Người gần gũi với mình nhất mình đã biết là những vị làm rực sáng Chánh pháp. Cho nên điều hết sức quan trọng trong sự tu là mình phải có sự phấn đấu, nỗ lực trong sự học pháp, hành pháp, truyền pháp, hoằng pháp, hộ pháp, chứ không phải nói “Tôi chỉ biết tu thôi, ai sao kệ người ta”.

Hỗm giờ con chỉ nói về nghiệp đen, con ít nói về nghiệp trắng, phải làm cho thật nhiều nghiệp trắng, thấy cái đó là thiện, là đúng, là Chánh pháp thì hãy dồn hết tất cả tâm huyết, công sức thậm chí cả tính mạng của mình để làm chứ không phải nói cái miệng không mà phải hành động bằng trái tim. Đức Phật thí dụ một căn nhà cháy, người có trí sẽ lấy đồ quý giá nhất của họ đem ra, đó là người có trí. Đức Phật nói tấm thân vô thường này sẽ bị tiêu hoại, phước nghiệp, công đức, những thiện pháp mà mình đã làm tức là mình lấy được đồ quý giá đem ra. Khi thân này cháy, cái nhà đó bị cháy, người đó cầm những đồ quý đi ra, họ xây được nhà khác, làm được việc khác. Cũng vậy khi thân mình tan hoại ra, thì phước đức, phước báu, công đức của mình sẽ làm tư lương, là hành trang, hành lý cho kiếp sau của mình sanh ra được đầy đủ phước báu, yểm trợ mình để viên mãn bồ đề đạo, chứng ngộ trên chánh giác. Cho nên sự tu tập của mình phải đầy đủ, đừng hiểu biết một chút là tưởng đâu mình biết hết rồi thì không được, phải cần cần, cung kính, cầu học. Cần cầu Chánh kiến viên mãn của bậc Tu đà hoàn, đừng hiểu một chút mà vội đóng cánh cửa giác ngộ là uổng lắm. Tiếp tục bài kinh Sở Y Xứ.

Đây là pháp ta thuyết giảng không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lội, không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí huệ quở trách.

Đó là những pháp: Sáu giới, Sáu xúc xứ, Mười tám ý cận hành, Bốn thánh đế.

Này các Tỷ-kheo, có sáu giới này: địa giới, thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới. Sáu giới này, này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách.

Sáu giới: đất, nước, gió, lửa, hư không, thức. Đất, nước, gió, lửa là ở trong thân và ngoài thân. Mình phải tập nhận diện tứ đại, đừng có học bài vở xong rồi trở ra thì cục chình ình đó là cục thịt. Mình phải tập nhận diện đây là địa đại, thí dụ mình nhìn vô gương mình thấy bóng mình trong đó, mình nói đây là địa đại, đây là đất, đây là cát bụi, khói sương. Mình tập nhận diện như vậy, mình phải tác ý, chứ mình nhìn vô mình thấy cái mặt mốc của mình trong đó không thì đâu có phải là nhận diện địa đại. Phải tập nhận diện như vậy, tập tác ý như vậy để từ từ mình gỡ cái chấp thủ địa đại, hoan hỷ địa đại, yêu thích địa đại, bám chặt địa đại. Mình gỡ ra được cái đó để bớt chấp là mình bớt khổ, bớt tham, bớt ái, bớt dục, bớt sân, bớt bản ngã ở trong địa đại.

Nước tiểu, nước mũi, nước mắt, nước miếng, mủ, máu, tinh huyết, những chất dịch mồ hôi trong cơ thể mình chảy ra thì mình phải nhận diện đây là thủy đại. Hơi thở khì khịt khi ngồi thiền mình tập nhận diện là phong đại, mình thấy được sự sanh diệt của hơi thở. Nó vào ra, ngừng lại chút xíu, rồi nó ra, nó vào ngừng lại chút xíu rồi nó lại ra. Đó là sự sanh diệt của phong đại, mình phải tập nhận diện nó. Hơi ấm mình phải tập nhận diện là hỏa đại, những phần trống trong cơ thể mình tập nhận diện là không đại. Cái biết phải nhận diện là thức đại, thức giới.

Nhận diện những cái đó để phá vỡ thân kiến là nguyên khối tượng. Khi phân tách ra sáu cái này rồi thì đâu còn là một cái. Khi mình nhận diện, phân tách như vậy thì bản ngã lúc đó vỡ ra ngay khi mình nhận diện. Cho nên đó là tại sao Đức Phật không nói ngũ uẩn thôi mà Đức Phật nói tứ đại, nói sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu giới làm gì? Đức Phật nói tất cả những phương diện để cho mình gỡ ra hết, giống như nguyên chiếc xe gỡ từng bộ phận ra hết để cho nó bày hiện tính chất trống rỗng, gắn kết rỗng không của cái mà mình gọi là ta. Cho nên quán một cái không đủ, phải quán nhiều phương diện rồi mới phá được thân kiến chấp ngã.

Sáu xúc xứ: nhãn xúc xứ, nhĩ xúc xứ, tỷ xúc xứ, thiệt xúc xứ, thân xúc xứ, ý xúc xứ. Mình học mấy cái chữ trả bài như vậy chứ khi mình ra tiếp xúc thì nó nhanh lắm, mình mà không tập nhận diện là mình không biết, vì nó nhanh lắm. Nhãn xúc nhanh cực kì. Quý vị nghĩ trí huệ Chánh Đẳng Chánh Giác đại định của Đức Phật mà nhìn ra được hết tất cả những pháp này thì khủng khiếp cỡ nào. Đây là sự giác ngộ vĩ đại của bậc Chánh Đẳng Giác tức là ở trong thân tâm này, thế giới này có bất cứ cái gì, góc cạnh nào, khía cạnh nào, phương diện nào, tất cả ngõ ngách của nó là Phật chứng ngộ trọn vẹn, không sót cái nào hết. Đó gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, Toàn Giác, Đại Giác, Vô Thượng Giác, Viên Mãn Giác. Chứ mình biết được một pháp nào thì nói “Ôi chao, biết được một pháp như vậy là được rồi”, mới học được một chút thì nói “Thôi, nhiêu đây tu hổng xong chứ học chi cho nhiều”. Thấy tâm mình nói như vậy chưa, đó là vô minh, làm biếng, phàm phu. Cho nên mình phải tập nhãn xúc ra làm sao, nhãn xúc xứ nó ra làm sao, những cái tiếp xúc nó ra làm sao, nó sanh ra cảm thọ ra sao, thích thích, khoái khoái, sân sân, trơ trơ nó ra làm sao, phải thấy!

Mười tám ý cận hành: khi con mắt thấy sắc, tư tưởng hướng về và đến gần sắc, làm y xứ cho hỷ, hướng về và đến gần sắc, làm y xứ cho ưu, hướng về và đến gần sắc, làm y xứ cho xả.

Cái này sâu sắc lắm. Khi mắt nhìn thấy sắc là mình có một tư tưởng hướng về, đến gần sắc, đó là sắc tầm. Nhìn thấy cái gì đó đẹp, người nào vừa ý là bắt đầu có tư tưởng hướng về, đến gần sắc đó. Nó làm chỗ dựa cho sự hoan hỷ, thích thú, khoái. Rồi bắt đầu “hướng về và đến gần sắc làm y xứ cho ưu”. Nãy là mừng, bây giờ là buồn, thấy cái gì mà buồn? Một hồi xuống bếp không thấy cái gì ăn hết, buồn. Tu núi xong trở về gặp ổng sao ổng dòm chỗ khác, buồn. Có những thứ mình nhìn vô là tự mình buồn, thấy cái buồn, có nhiều không quý vị, đó là ưu, buồn lo. Hỷ rồi ưu rồi tới xả. Xả là xả bỏ, đây là sự tu tập, xả bỏ cái hỷ, xả bỏ cái ưu đó, xả bỏ cái ưa thích hay cái buồn lo đó. Như vậy mỗi cái là sáu: mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý đối với pháp, nhân ra thành ra mười tám ý cận hành. Cái này hết sức thâm sâu, mình ngồi một ngàn tỷ kiếp suy nghĩ, mình nhìn cũng không ra được mấy cái này. Mười tám ý cận hành tức là những suy nghĩ để đưa đến những hành động, rồi sanh khởi ra những cảm thọ hỷ, ưu và xả. Trong ba cái này, mình có cái nào nhiều? Nếu là xả nhiều thì khỏe lắm. Mình thấy cả cuộc đời mình chạy theo hỷ, trốn tránh, chối bỏ ưu, còn xả thì là miệng nói vậy thôi. Nhiều khi buồn miệng nói buông buông, miệng nói vậy thôi, chứ sâu thẳm trong tâm là chưa. Đó là mười tám ý cận hành.

Bốn thánh đế: Do chấp thủ sáu giới, này các Tỷ-kheo, nên có nhập thai. Do có nhập thai, nên có danh sắc. Do duyên danh sắc, nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ, nên có xúc. Do duyên xúc, nên có thọ.

Với người có cảm thọ, này các Tỷ-kheo, Ta nêu rõ: “Đây là Khổ”, Ta nêu rõ: “Đây là Khổ tập”, Ta nêu rõ: “Đây là Khổ diệt”, Ta nêu rõ: “Đây là con Đường đưa đến Khổ diệt”.

Tới chữ thọ là ngừng, từ cái thọ này hiển bày Tứ Thánh Đế. Chấp thủ sáu giới tức là mình cho rằng đất là mình, nước là mình, gió là mình, lửa là mình, khoảng trống là mình, nhận thức là mình. Nếu nói ngũ uẩn là mình cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức là mình. Còn ở đây là Đức Phật ở khía cạnh khác nói mà cũng là năm uẩn thôi. Mình cho đất là mình tức là mình cho rằng thịt, mỡ, tim, gan, phèo, phổi là mình. Cho nước là mình tức là cho rằng máu, nước mắt, nước tiểu, nước mũi, nước miếng là mình. Nghe nói sao dơ quá, thấy ớn quá nhưng mà khoái, thích, mê, ham, ai mà đụng tới làm chảy miếng máu thử là biết. Cho nên đó là cho nước là mình. Hoan hỷ với địa giới, chấp thủ với địa giới, bám chặt vô trong địa giới.

Do chấp thủ sáu giới đó cho nên nhập thai, nó đi vô bào thai, nói vậy cho dễ hiểu. Mình có thích gương mặt này không, khi soi gương mình thích con mắt, lỗ mũi, miệng, môi, chân mày, mái tóc, mình coi bàn tay của mình, mình thấy cũng được chứ không đến nỗi. Mình nhìn tất cả: mắt, tai, mặt, mũi, miệng, môi, làn da, mái tóc, móng tay, móng chân, từ sợi lông, bất cứ cái gì mình dòm cũng ưa thích, cũng có sự chấp thủ, tham ái. Chính vì mình thích, mình yêu mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, những cảm giác nghĩ tưởng này cho nên khi thân này mạng chung nó đi tìm một cái giống như vậy. Rất rõ, mình thích cái đó cho nên mình mới đi tìm. Quý vị không thích thì quý vị có ngồi ở đây không hay là “Ông đó ổng lên ổng nói gì bộ xương không, ghê quá trời quá đất, thôi đi qua chùa khác nghe đi. Người ta nói gì nghe hay ho chứ ổng nói toàn là chết, già, bộ xương. Sợ ma mà ổng cứ đưa bộ xương ra hoài. Tối ổng cho coi mấy cái gì thấy ghê.” Vì vậy thích Linh Quy Pháp Ấn mới lên, cũng vậy, thích cái thân này nên mới nhập thai không thích thì sao nhập thai. Rất là khoa học, rất là nhân quả, rất là rõ ràng, rất là rực sáng và thực tế. Cũng vậy thích người đó mới cưới chứ không thích thì sao cưới, thích có con mới mang bầu 9 tháng 10 ngày chứ không thích sao mà mang, mang có sướng gì đâu. Cũng vậy, sâu thẳm bên trong những cảm giác nghĩ tưởng của mình là mình ưa thích thân thể, hình hài, vóc dáng, những cảm giác này. Ưa thích cho nên nhập thai, do nhập thai cho nên có danh sắc, có ngũ uẩn. Sắc là tứ đại, danh là thọ, tưởng, hành, thức. Xúc tác ý, thọ, tưởng, tư nói gọn là thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên do mình nhập thai nên có ngũ uẩn, do có như vậy nên có ra sáu xứ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, do có sáu xứ như vậy nên có sáu xúc. Mắt phải tiếp xúc với sắc, lỗ tai phải tiếp xúc với âm thanh, do có tiếp xúc cho nên mới có cảm giác, cảm thọ. Có cảm thọ thì ta nêu rõ ở đây là khổ.

Chỗ này thâm sâu lắm, tới 2 năm con mới hiểu được câu đó “Này các Tỷ-kheo, phàm tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ”. Minh Thành phải quán chiếu suốt 2 năm trời mới hiểu được câu này, tại vì cảm thọ nào mình cũng bị trói buộc, cảm thọ sung sướng là mình dễ hiểu rồi, còn cảm thọ khổ mình có bị trói buộc không? Trói làm sao? Mình chấp cái đó, mình dính mắc cái đó. Còn cảm thọ không khổ không vui là mình đều đều có một cảm giác an toàn, mình nghĩ rằng nó như vậy hoài. Như vậy thì 3 loại cảm giác đó mình đều bị trói buộc hết. “Kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, có một lạc thọ sanh khởi lên, người ấy giống như là bị trói buộc. Khổ thọ, bất khổ, bất lạc thọ cũng vậy”. Đức Phật dạy quán khổ thọ giống như mũi tên, cảm thọ vui là khổ, cảm thọ không vui không khổ là vô thường. Quán chiếu như vậy để không bị dính mắc, bám chấp ở trong các cảm giác. Thật sự mình lòng vòng hoài ở trong cảm giác mình đi ra không được, tại sao mình không thoát ra khỏi dục, bản ngã, cái tham, cái sân? Tại vì những cảm giác đó nó ăn sâu vô ở bên trong, nó ám ảnh trong đó, mình không phá được ám ảnh, cảm giác đó thì nó đi sâu vô thành ấn tượng thâm sâu ở bên trong. Nó được chất chứa, nuôi dưỡng, được bảo tồn, bảo vệ, gìn giữ trong đó. Không có đủ trí huệ để mình nhìn thấy nó là vô thường, là sanh diệt, là nguyên nhân của khổ cho nên mình chất chứa nó. Bây giờ mình bắt đầu nhìn thấy, bắt đầu tu tập thì mình khịa khịa nó lần lần, mình phá nó từ từ. Như hôm qua các cô nói là phải phá từ từ, chứ một cái rụp là chịu không nỗi, nó lớn lắm, nó mạnh lắm, nó to lắm. Quan trọng là Chánh tri kiến của mình nuôi dưỡng, Chánh tư duy của mình Như lý tác ý rồi cả Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh ngữ, Chánh mạng, Chánh nghiệp của mình. Mình phải nỗ lực để từ từ nuôi dưỡng nó cho đến viên mãn, khi nó viên mãn thì 100% cái thấy của mình sát quyết, không còn lay chuyển nữa lúc đó là bảo chứng, tiến thẳng đến Chánh Giác. Không bao giờ bị lui sụt khi cái thấy nó viên mãn. Chính vì vậy trong sự tu của mình đòi hỏi phải có Như lý tác ý thường xuyên và liên tục. Nếu không có Như lý tác ý thường xuyên và liên tục thì mình sẽ bị những cảm giác nghĩ tưởng của phàm tình che lấp. Sau đó Đức Phật giảng về Tứ Thánh Đế. Giảng về chủ trương hèn hạ nhất là không có nghiệp.

Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tất cả loại vải được dệt, mền được dệt bằng tóc được xem là hạ liệt nhất. Mền được dệt bằng tóc, này các Tỷ-kheo, khi trời lạnh thì lạnh, khi trời nóng thì nóng, xấu xí, có mùi hôi, xúc chạm khó chịu. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong các chủ thuyết của các Sa-môn ngoại đạo tuyên bố, chủ thuyết của Makkhali được xem là hèn hạ nhất. Này các Tỷ-kheo, Makkhali, kẻ ngu si có thuyết như sau, có kiến như sau: “Không có nghiệp, không có kết quả của nghiệp, không có tinh tấn”.

Này các Tỷ-kheo, những ai là các vị A-la-hán trong thời quá khứ, các vị Chánh Đẳng Giác, các bậc Thế Tôn, các vị ấy đều chủ trương có nghiệp, đều chủ trương có nghiệp quả, đều chủ trương có tinh tấn. Nhưng này các Tỷ-kheo, chỉ có Makkhali, kẻ ngu si nói phản lại tất cả: “Không có nghiệp, không có nghiệp quả, không có tinh tấn”.

Này các Tỷ-kheo, những ai là các vị A-la-hán trong thời vị lai, các vị Chánh Đẳng Giác, các bậc Thế Tôn, các vị ấy đều chủ trương có nghiệp, đều chủ trương có nghiệp quả, đều chủ trương có tinh tấn. Nhưng này các Tỷ-kheo, chỉ có Makkhali, kẻ ngu si nói phản lại tất cả: “Không có nghiệp, không nghiệp quả, không có tinh tấn”.

Còn Ta, này các Tỷ-kheo, nay là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác cũng chủ trương có nghiệp, chủ trương có nghiệp quả, chủ trương có tinh tấn. Nhưng này các Tỷ-kheo, chỉ có Makkhali, kẻ ngu si nói phản lại Ta: "Không có nghiệp, không có nghiệp quả, không có tinh tấn".

Ví như, này các Tỷ-kheo, tại cửa sông, có người đặt một cái sập bẫy cá đem đến bất hạnh, đau khổ, tổn hại cho các loại cá. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Makkhali, kẻ ngu si xuất hiện ở đời như cái bẫy sập người, đem lại bất hạnh, đau khổ, tổn hại, nguy hại cho nhiều loài hữu tình.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, Chương 3 Pháp, XIV. Phẩm Kẻ Chiến Sĩ, bài kinh Mền bằng tóc)

Trong bài kinh này Đức Phật nói chủ trương hèn hạ nhất, thấp kém nhất là chủ trương không có nghiệp. Giống như cái mền làm bằng tóc xấu xí, hôi hám, trời nóng thì nó nóng, trời lạnh thì nó lạnh. Chủ trương không có nghiệp, không có quả cho nên không có tinh tấn giống như lúc nãy mình đã học. Có người họ có những mê tín, nói rằng không có nghiệp quả, quý vị có từng gặp những người không tin nghiệp, không tin nhân quả chưa thì cái đó Đức Phật nói là hèn hạ nhất. Tất cả các bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ và vị lai, các Thế Tôn ấy đều tuyên bố chủ trương có nghiệp, có nghiệp quả của nghiệp cho nên có sự tinh tấn để mà chuyển nghiệp, thoát nghiệp và đi đến chỗ chấm dứt các nghiệp để giải thoát. Cho nên “Nay Ta là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác cũng chủ trương có nghiệp, chủ trương có nghiệp quả, chủ trương có tinh tấn.” Như vậy chúng ta nhắc lại lời này để nhấn mạnh điểm nãy giờ mình học về ba cái chủ thuyết. Chủ trương một cho rằng quá khứ đã rồi, nó đã vậy không có sửa đổi. Chủ trương thứ hai là có một đấng tạo hóa. Chủ trương thứ ba là tự nhiên. Nhưng Đức Thế tôn nói nghiệp là cần phải sự tinh tấn, nỗ lực, chuyển hóa, thay đổi từ đen thành trắng và đi tới chỗ không đen, không trắng Niết-bàn.

Chúng ta từng bước, từng bước tu tập để nhận diện cái đen, giảm thiểu cái đen, chuyển hóa cái đen, tu tập cái trắng, phát triển cái trắng, viên mãn cái trắng và đi đến chỗ thoát khỏi đen trắng, sanh ra pháp Niết-bàn.

./.