Làm Sao Để Được Giác Ngộ - Kinh Chánh Giác
Nikāya Giảng Giải
Làm Sao Để Được Giác Ngộ?
Kinh Chánh Giác
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Về núi yên tu PAGEREF _Toc201584208 \h 1
II. Sở y tu tập PAGEREF _Toc201584209 \h 2
III. Làm bạn với thiện PAGEREF _Toc201584210 \h 7
IV. Những câu chuyện tốt đẹp PAGEREF _Toc201584211 \h 10
V. Nghiêm khắc với chính mình PAGEREF _Toc201584212 \h 11
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc201584213 \h 15
I. Về núi yên tu
Lòng nhắc ý phải ước mong
Ước mong thành tựu thượng nhân pháp
Đền đáp cha mẹ cứu đại đồng
Về núi tỉnh tu đẹp tuyệt trần
Ngồi thiền quán chiếu thấu hồng trần
Tác ý ngày đêm như giết giặc
Quang tông diệu tổ đại thành công
Về núi tỉnh tu đẹp tuyệt trần
Phủi giũ bụi đời vạn kiếp nhơ
Thanh lọc sạch sẽ tâm cấu nhiễm
Thanh cao, thanh tịnh, vui vô bờ.
Về núi tỉnh tu đẹp tuyệt trần
Bao đời khốn khổ cảnh mê tân
Giờ đây tỉnh giấc cơn mộng ảo
Mới hay kiếp sống tựa phù vân.
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, đời sống này giống như đám mây, phù vân là cái đám mây trôi. Chúng ta nghe thiền quán vẻ đẹp tuyệt trần của người tu có thấy hạnh phúc không? Khóa tu này uống sữa liên tục, khóa tu này rất nhiều sữa pháp mà nếu không lớn nổi nữa, suy dinh dưỡng thì cái đó ráng chịu.
II. Sở y tu tập
Hôm nay chúng ta được nghe bài kinh Chánh Giác, Tăng Chi Bộ, tập IV.
"- Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'. – 'Bạch Thế Tôn'. Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: 'Thưa chư Hiền, các pháp chánh giác phần lấy gì làm sở y để tu tập?'." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo nếu có người ở đạo khác hỏi các thầy dựa vào các gì để giác ngộ thì các thầy phải trả lời ra sao? Các pháp giác ngộ đó lấy gì làm chỗ dựa để tu tập, tức là lấy những cái pháp gì tựa vào những cái pháp gì, những cái điều gì để mình đạt tới giác ngộ. Đức Phật nêu ra các câu hỏi rồi tự ngài trả lời.
"Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo như thế nào?
- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Thật lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Câu này chúng ta học thuộc lòng trong mỗi buổi tụng kinh, câu này là rất là quan trọng. Tại sao chúng ta học mà không đạt đến chánh pháp? Là vì không ứng dụng theo cái câu này, bây giờ có ai hỏi mình cái gì là mình nói thao thao bất tuyệt. Ví dụ như người ta lại ta hỏi thưa thầy, thưa sư cô, thưa huynh bây giờ tôi muốn tu thế nào để giác ngộ là mình nói ầm ầm, mình nói theo cái suy nghĩ của mình, nói theo cái sở thích của mình, mình nói theo cái quan điểm của mình. Vậy mình giỏi hơn các vị thánh đệ tử hồi xưa hết cho nên mình phàm phu mãi mãi, chúng ta thấy Đức Phật hỏi câu có người hỏi các thầy dựa vào đâu để tu đạt được giác ngộ thì các thầy trả lời sao, chúng ta biết các vị ngồi ở dưới Đức Phật là thánh chúng, không lẽ các ngài không biết, cái ngài đó là thánh nhân, thánh Tăng, các bậc Hiền Thánh rồi mà các ngài trả lời: Đối với chúng con các pháp tu hành lấy Thế Tôn là cội gốc, là gốc rễ, là chỗ căn cứ, là chỗ y cứ. Thế Tôn là bậc lãnh đạo chúng con trong tất cả các pháp tu hành, chúng con nương dựa nơi Đức Thế Tôn. Thật là lành thay! Thật là rất là tốt bạch Đức Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa lời dạy này, lời nói này. Sau khi nghe Đức Phật nói rồi chúng con sẽ tiếp nhận, giữ gìn, hành trì.
Con nhờ học theo cái này mà được bậc đạo sư truyền thụ thánh pháp, con chưa bao giờ dám cãi sư phụ dạy pháp cho con một lần, chưa bao giờ dám. Bốn năm học với thầy không dám cãi một lần nào, bất cứ về phương diện nào mà hồi đó con chưa có biết cái câu này, bây giờ sau khi đi vào vòng pháp này rồi con mới thấy tất cả đều có nhân quả, có đạo lộ hết, có quy trình của pháp. Chúng ta thấy những người ngồi ở phía dưới Đức Phật là thánh Tăng, thánh nhân, là các bậc thánh giả mà không có một vị nào dám trả lời câu hỏi của Đức Phật, nếu mà những cái bậc đã thành tựu thì người ta kính Đức Phật tuyệt đối, kinh pháp tuyệt đối và kính bậc đạo sư tuyệt đối, làm sao dám vượt qua Đức Thế Tôn, làm sao dám vượt qua pháp.
Mấy bữa trước con vô tình lướt những cái bài ở trên cái trang của mình nhưng nhảy vô một cái bài để tựa "Tứ Niệm Xứ không phải là con đường độc nhất", con thấy một cái câu đó thôi là tim con đau nhói, hết sức là nguy hiểm. Đệ tử của Phật mà nói ngược lại Đức Thế Tôn như vậy cho nên mình mãi mãi tu bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp vậy nữa cũng vẫn là phàm phu, cái bản ngã nó lớn cỡ nào thành ra con mới nhắc lại hai chữ "nghe lời" ở trong Nikāya là nó quyết định lên cho mình vào pháp hay là loại khỏi vòng pháp. Hôm nay chúng ta học thêm được hai chữ "nghe lời", thấy vậy nhưng không có dễ chút nào hết vì bên trong mình là một bản ngã chống đối. Con không có nhắm cá nhân bất cứ một ai mà nói chung tất cả cho tất cả các ngũ uẩn và chính tự hơn của con vì con nghe lời cho nên con mới đi vào được dòng pháp này. Lúc đầu con cũng ương ngạnh, sư phụ hay thầy dạy là con không có chịu, con phải đi qua bên các nước Phật giáo nguyên thủy để xác nhận lại, đi qua tám trường thiền lớn nhất của thế giới về mới chịu.
Con đi qua đó xem sự nhận diện ngũ uẩn thì không có một trường thiền nào cả, thành ra hai chữ "nghe lời" này hết sức là đơn giản mà hết sức là khó làm, với một cái tâm phải là hiền thiện, ngoan hiền cho nên khi mình đọc cái bài kệ ngài Xá-lợi-phất "dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền" câu đó là điều kiện tiên quyết để đi vào trong dòng pháp Nikāya. Vì thế chỉ một câu này thôi mà học tám buổi chưa hết, tức là bạch Thế Tôn đối với chúng con Thế Tôn là gốc của pháp, đối với chúng con Thế Tôn là bậc dẫn đường, làm sao chúng con dám vượt qua Đức Thế Tôn, ngài là chỗ nương dựa của chúng con. Đây là lý do tại sao ở đây chúng ta phải học thuộc lòng kinh mỗi buổi sáng đọc vì nếu không là chánh pháp sẽ mất luôn. Chúng ta nhìn thấy không, mạnh người nào người nấy nói, mỗi người nói mỗi kiểu, ai muốn nói gì là nói, đó là loạn pháp, còn các bậc thánh là nhất nhất.
Khi truyền thánh chỉ thì người đọc thánh chỉ dám sửa chữ trong đó không? Chỉ cần sai một chữ thôi là mất giáo pháp, có nhiều cái để mình học lắm. Ví dụ trong pháp luật, chỉ cần sai một chữ hoặc thiếu một chữ thôi, hoặc ghi sai từ không thành có thì sao? Cũng vậy, ngày hôm nay học không có thành công tại vì không tôn trọng lời dạy của Đức Phật, không có tuyệt đối tuân hành đạo lộ mà ngài đã trình bày, tuyên thuyết. Câu này chúng ta thấy các bậc thánh không có dám nói, các ngài toàn là các bậc A-la-hán, làm sao mà không biết được tu thế nào để giác ngộ. Thật là tuyệt vời lắm bạch Thế Tôn, xin ngày hãy nói lên ý nghĩa là lời nói này để chúng con học.
Nhiều lúc con muốn đi vô trong rừng, hoặc lên Tuyết Sơn ở, nhiều lúc thấy nản quá thì không nghe lời, đem hết cả tâm tư, cả tấm lòng ra dạy mà chỉ toàn là hất ngang, gạt ngang không, một lúc nào đó con cũng âm thầm, không thể nào thể nhập vào pháp được. Phải như cái chuyện gì, những chuyện hết sức là chánh đáng tu học nhưng cũng gạt ngang, tôi muốn thì tôi làm, tôi không muốn thì không làm và làm sao mà mình nhận biết được là cái đó nó nghiêm trọng như thế nào, mình thấy nó rất bình thường nhưng mà cái đó nó rất nghiêm trọng. Mình không có nghe lời, mình không có chấp nhận học pháp, chính con cũng bị một lần, nhiều khi cái bản ngã của mình có thấy hoặc là mình không thấy, mình cho qua cho nên dễ nghe, dễ bảo pháp thánh hiền là không phải đơn giản, suốt cuộc đời này mình chỉ làm một người nghe lời thôi là mình Nhập Lưu. Cho nên người nghe lời đẹp lắm, đẹp sao là đẹp, nghe lời trong cái thiện pháp, nghe lời trong cái thánh đạo, nghe lời trong sự rèn luyện, mài giũa, huấn luyện bằng từ tâm của các bậc thiện tri thức, của các bậc tôn đức, của các bậc cha thầy.
Thật là khó thay để tìm được một người nghe lời, khó thay, khó thay, rất là khó phải thực hành hai chữ nghe lời, đa số bên trong tâm là chống lại, cãi lại, không muốn. Khi thiền quán nếu để ý cái này nó sâu sắc lắm, ở ngoài đang giảng thiền quán bất tịnh thì mình lại trải tâm từ. Chúng ta có thấy điều này không? Nó sâu sắc đến vậy, không phải không nghe lời là cãi lại, cái này là quá thô rồi, vẫn dạ vâng nhưng bên trong là một cái ý niệm chống đối không có làm theo, chứ còn cãi ngoài miệng thì hết nói rồi, đằng này vẫn dạ vâng nhưng mà bên trong không làm theo lời dạy, chỉ làm theo cái ý của mình. Đó là không có chấp nhận học pháp, không có tùy thuận pháp, không có tôn kính bậc đạo sư, sâu sắc như vậy, ngay cả trong thiện pháp mà vẫn cứng cỏi, không nghe lời, "tôi muốn tu cái này, tôi không muốn tu cái kia". Mình phải nhìn ra được cái này cho nên rất nhiều người tu không thành công là mới vô tu mà muốn tu cái pháp cao siêu, không muốn tu pháp thấp "tâm hiền mà tu cái gì, tôi hiền rồi còn kêu tôi tâm hiền gì nữa, cái này để cho mấy người Phật tử mới vào chùa tu, tôi ở chùa hai mươi năm rồi đâu cần tu tâm hiền nữa". Cái tâm này ghê gớm lắm cho nên khó thay là gặp được một người nghe lời, biết nghe lời, hy hữu hiếm có ở trên đời và người này trong tương lai là hiền thánh.
Con bây giờ cũng chưa có nghe lời đạo sư trọn vẹn và con đang cố gắng hết sức mình để làm một đứa học trò nghe lời dạy của ngài. Ví dụ kinh Tứ Niệm Xứ nói khi đi phải tỉnh giác, khi đứng phải tỉnh đánh giác, khi ngồi, khi ôm bát, khi đắp y đều phải tỉnh giác, đại tiểu tiện, thức, nói, im lặng đều phải tỉnh giác. Đức Phật dặn từng chút nhưng mình có nghe lời không? Chẳng những mình học lòng, đọc làu làu trên chánh điện nhưng khi ra ngoài ai chỉ mình buông lung là mình sân si lên, bao nhiêu lớp vô minh, bản ngã, bao nhiêu lớp sân hận che lấp, phong tỏa hết cho nên chỉ riêng hai chữ "nghe lời" thôi là Nhập Lưu cho đến thánh Tăng A-la-hán.
Chính con chia sẻ cho những lớp học cao đẳng, trung cấp, những cái tu viện, những cái thiền viện thì "thầy hướng dẫn bất tịnh mà con ngồi quán chỉ thấy tịnh không à thầy". Cái tâm mình dễ sợ như vậy, thậm chí là chống đối lại luôn "gì mà ghê quá vậy, mở cái gì ghê vậy", cái tâm chống đối làm cho mình văng khỏi dòng pháp, không thể nhập được lời Phật dạy nhưng cũng không phải nói đâu gật đó, nghe lời bằng một cái tâm trí tuệ, chỗ này là cái chỗ khác biệt với người ba phải. Nghe lời không phải là kiêu gì làm đó, không phải là mê tín mà nghe tâm phục khẩu phục, đây là thánh trí tuệ của Đức Phật, đây là những bậc thầy thành tựu, đây là những bậc chân nhân, chánh kiến thì mình nghe, mình diệt cái tâm tôi ta, cao ngạo, chống đối, phản trắc. Mình nhìn đi khiếp lắm, từ từ chúng ta nhận diện ngũ uẩn rồi chúng ta thấy cái tâm bên trong là một cái tâm xảo quyệt, phản trắc khủng khiếp, khiếp sợ.
Chúng ta nhìn sâu vô rồi chúng ta thấy khủng khiếp, cái tâm này là một cái tâm xảo quyệt, gian trá, một cái tâm hết sức là trá ngụy mà Tây Du Ký diễn tả đó là yêu tinh và nghiệt xúc, bao nhiêu cái con yêu quái đó là tâm của mình. nó là yêu tinh làm cho mình không có đi tới Tây Thiên được, không có thỉnh kinh được, không có gặp được thánh pháp, nó ngăn chặn hết, nó kêu mình ở lại đi, nó kêu Đường Tăng ở lại đây đi, nó kêu Bát Giới ở lại đây đi. Đó là cái nội tâm của chúng ta, cho nên là thật sự một người thật tu là không có một cái giây phút nào không nhìn vô thọ; tưởng; hành hết. Khi mà họ thường nhìn như vậy có ai chỉ một cái là họ rất là nhẹ nhàng, rất là cúi đầu, rất là vâng lời, do mình không tu, mình chỉ tu trong thiền đường, lúc trở ra không có tu cho nên người tu chỉ pháp là mình không thấy pháp gì cả, chỉ thấy sân si, bản ngã, vô minh không thôi.
Thậm chí ngay trên thiền đường chưa chắc tu trọn vẹn, không có tu một tiếng đồng hồ mà được tiếng đâu, ngồi trong đó là trùm trùm lớp lớp vô minh, bản ngã, ngay cả được nhận diện nhưng cũng không có chính xác, chỉ là mới nhận diện cái phần thô thiển nhất thôi cho nên đối với sự tu hành trong dòng Nikāya này là sự tinh tấn là phải không ngừng nghỉ và nỗ lực liên tục, liên tục, liên tục, liên tục, hoài hoài cho đến khi nào đoạn tận các lậu hoặc một cách hoàn toàn. Với một người mà cái tâm cạn cợt, một cái tâm hài lòng, chấp nhận với những cái nhỏ bé, cạn cợt, hẹp hòi thì không thể nhập được cái pháp này, chỉ tu gieo duyên ở phía ngoài thôi. Tu cái pháp này cái tâm phải hết sức tinh tế, cẩn trọng, sâu sắc, kiên trì và luôn luôn hướng thượng liên tục, một cái tâm mà vừa được yên yên, ổn ổn chút chút, biết nhận diện ngũ uẩn, biết tác ý một chút là thấy được rồi, khỏe rồi, nhàn rồi là dừng lại thì mình chết ngay tại chỗ đó, cuộc đời mình coi như là đóng bít cửa ngộ. Ngược lại phải cố gắng liên tục, liên tục và liên tục, chúng ta thấy cái người đi lên cầu thang, ở Hồng Kông có chỗ đại Phật phải đi năm trăm bậc thang và nhiều hơn nữa, có những chỗ hàng ngàn bậc thang, mình tới đó mệt thì mình dừng lại chút xíu mình thở rồi mình đi tiếp, mình tới đó rồi mình đứng đó ngắm cảnh khỏi cần lên Phật thì uổng phí, 1.000 bậc thang đó là đi viếng cảnh, đi lễ chùa thôi, huống chi muốn siêu phàm nhập thánh, muốn đoạn tận dòng sanh tử mà mình không có chịu nỗ lực cho nên tu trong cái này là một cái ý chí kiên trì, hùng lực phải là vô lượng, vô hạn, vô tận, thì mới thành tựu.
Tại sao hai ngàn năm mai một? Vì người ta hài lòng, chấp nhận với những cái hết sức là nhỏ hẹp, cạn cợt, thì chánh pháp thì bị thất truyền cho nên tu học như vậy, đạo tràng Nikāya như vậy nhưng mà tôn giả nói là không có người nào, chưa có người nào hết. Chúng ta thấy một cái câu nói khủng khiếp, một cái câu đó mình phải nghe giống như trời long đất lỡ, giống như sấm sét ngang mày, thì như vậy là mạng mạch chánh pháp sẽ diệt vong vì không có người thành tựu. Học hiểu thì biết nhưng cũng không có người thành tựu, thì đây cũng dừng lại ở cái pháp học thôi vì mình không có đem hết tấm lòng để hành pháp. Chúng ta phải tâm tâm niệm niệm trong mỗi suy nghĩ của mình, phải suy nghĩ về pháp, an trú ở trong pháp, trong mỗi cảm thọ, mỗi hình bóng của mình chứ không còn nói là giờ giấc gì nữa, ở chỗ nào nữa.
III. Làm bạn với thiện
Thí dụ mình được giao cho một cái pháp tâm hiền là phải hành trì liên tục ngày đêm, trừ khi nào mệt thì ngủ thôi, hoặc tâm từ, hay là diệt ngã, trừ khi nào cái pháp đó thành tựu trong người mình không mất nữa. Mình làm năm ba bữa, bảy bữa, mười bữa rồi xong mình bỏ, làm cái khác năm, bảy ngày rồi mình bỏ là không có cái nào ra cái nào.
"Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: 'Thưa chư Hiền, các pháp chánh giác phần, lấy gì làm sở y để tu tập?' Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: 'Ở đây, thưa chư Hiền, Tỳ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này chư Hiền, đây là sở y thứ nhất để tu tập các pháp chánh giác phần'." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Cái đầu tiên mình muốn đạt đến Chánh Giác là mình phải làm bạn với thiện, phải gần gũi với thiện, thân hữu, phải giao thiệp với thiện, qua lại với thiện. Làm bạn với thiện thì sao, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện thì?
"Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo có giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Này chư Hiền, đây là sở y thứ hai để tu tập các pháp chánh giác phần" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Đó là lợi ích của làm bạn với thiện, mình sẽ giữ giới, mình sẽ sống với sự bảo vệ của giới bổn, mình sẽ có đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Như vậy làm bạn với thiện thì mình phải niệm giới, thí dụ như mình được thọ mười giới Sa-di trong khóa tu này, mình không phải đợi tới cái thời khóa kêu lên đọc giới lúc đó mình mới đọc, bất cứ lúc nào mình rảnh là nhắc lại mười cái giới trong tâm của mình và mình đem mười giới đó đối chiếu, so sánh để xem mình làm được bao nhiêu giới, giới nào chưa được trọn vẹn thì mình tăng trưởng, phát triển cái giới đó lên. Mình giữ gìn, mình để tâm, để ý, giới nào chưa được trọn vẹn thì sám hối, mình coi cái oai nghi của mình có đầy đủ không, cái hành động của mình có chân chánh không, gọi là oai nghi chánh hạnh, như vậy gọi là mình đang làm bạn với thiện tức là mình sống với giới, mình để ý oai nghi, mình xấu hổ với những cái tội lỗi, những cái sai quấy mà mình đã làm, hay là đã suy nghĩ trong tâm, mình sợ hãi, mình lo lắng, như vậy là mình đang làm bạn với thiện, thậm chí một lỗi hết sức nhỏ nhặt.
Mình chấp nhận và học tập ở trong các học pháp, những cái pháp gì trong đạo tràng đưa ra, trên quý thầy đề ra, trong nội quy, trong thanh quy là phải cố gắng giữ gìn những cái pháp đó. Mình giữ được cái pháp đó là mình đang làm bạn với thiện, mất cái pháp đó là làm bạn với ác. Thí dụ ở trong thanh quy đạo tràng là cố gắng giữ gìn yên lặng tối đa mà mình mất cái pháp đó tức là mình làm bạn với ác, mình giữ được cái pháp đó tức là mình đang làm bạn với thiện. Trong cái thanh quy đó mình đối chiếu, mỗi ngày phải đọc thanh quy để nhắc nhớ cho mình những cái điểm quan trọng ở trong đó và mình ứng dụng theo trong đó là mình đang làm bạn với thiện. Thí dụ mình lỡ cười lớn hoặc nói chuyện lớn tiếng là mình thấy xấu hổ, sợ hãi, mình đang làm bạn với ác chứ không phải làm bạn với thiện, mình không có an tịnh, lắng dịu thì mình thấy xấu hổ, còn khi mình an tịnh, lắng dịu thì mình thấy vui, nình đi nhẹ nhàng, mình ngồi mỉm cười vì mình đang làm bạn với thiện, mình đang sống với thiện, mình đang thân hữu với thiện, mình đang giao thiệp với thiện.
Như vậy đó là ý nghĩa trong hỷ vô lượng tâm, vui vì mình biết giữ giới, vui vì mình biết tu tập các đức hạnh của thánh hiền cho nên người không biết thì nghĩ rằng "giữ giới khó quá, vậy rồi buồn lắm", người ta không biết là giữ giới là vui. Chẳng hạn như bây giờ mình nói ví dụ để cho mở rộng ra cho quý Phật tử dễ hiểu, bây giờ bạn bè của mình nhậu tập tô, đập chén, nói qua nói lại, cự cãi mà mình được ròi xa cái quán nhậu đó, mình chạy xa ra, mình đi ra, mình được ngồi yên một mình nhất là ngồi trên đây bên khóm trúc, rừng tre, trên đồi cao, núi vắng, quay trở về để mình nhìn nhận thân tâm của mình thì mình vui vì được giữ giới. Đúng ra là bữa nay ở nhà, lễ hay mùa hè này là nhậu, đi chơi cho nên tại sao mà con thưa các bậc hiền trí là lễ là con cho tu, mô Phật.
Mấy ngày người ta đi chơi là con cho tu, con thấy thương vì đến dịp lễ tết là chết rất nhiều người, tai nạn giao thông rất nhiều cho nên những khóa tu mở ra những dịp đó là nhằm bớt chết, bớt tai nạn, bớt khổ. Nhìn đâu cũng thấy thương hết quý vị ơi, nhiều khi đang ngồi thiền quán mà con mèo hay con tắc kè kêu lên là trong tâm nhói tim lên, cảm thọ tự động sanh khởi như vậy, khi mình đã thấm cái khổ thì tự động sanh khởi lên tâm từ, nhìn đâu tâm từ của mình cũng tràn ngập dào dạt, người ta chửi mà mình thấy thương họ, không dùng lời nào nói cho hết. Quý vị tu rồi quý vị sẽ cảm nhận được phép màu, người ta hại mình, người ta lừa gạt mình mà mình chỉ thấy thương sao là thương cho họ tại vì họ không biết họ sắp bị tai họa, tai nạn ở phía sau họ.
Cho nên nhớ làm bạn với thiện tức là giữ giới, tức là giữ oai nghi, tức là hành trì thanh quy, tức là sợ hãi những tội lỗi dầu cho rất nhỏ nhặt, đó là đang làm bạn với thiện, nhớ kỹ đây là những pháp đưa đến Chánh Giác được chính Đức Thế Tôn đã tuyên thuyết. Chẳng hạn như mình vô ngồi thì phải xem có ngay hàng thẳng lối không, khi nãy con vẫn thấy cái hàng bị xéo, đó là sự chánh niệm của mình. Mình không để ý ngồi xéo thì tất cả người phía sau sẽ đi theo mình xéo hết, cái hàng có hình có tướng, một con người mấy chục ký lô ngồi trước mặt như vậy mà còn ngồi vào không thẳng thì cái tâm sao mà thẳng được. Mấy chục kí lô thịt ngồi trước mặt mà còn không thấy cho chính xác thì ở bên trong là một cái tâm không có hình, không có tướng làm sao nhìn thấy được?
Phải bắt đầu từ những cái đơn giản nhất và cái đó là làm bạn với thiện, thân thiện với thiện, giao thiệp với thiện, gần gũi với thiện, sống với thiện, cần phải thực tập rất nhiều đức hạnh. Hồi xưa con chưa vô dòng pháp này con nghĩ mình tu, rồi tụng kinh, ngồi thiền, giảng pháp như vậy cũng hay rồi đó nhưng bây giờ thấy là chẳng có gì hết trơn, phải đào luyện mình từng góc độ, khía cạnh, từng chút, mình thấy mình còn một cái nào mà nó chưa có được tốt là ngay cái đó phải mài giũa, đẽo, đục, gọt, bào, chà giấy nhám. Nếu xong cái này mà thấy còn cái kia thì tiếp tục làm cái kia y như vậy, xong cái kia mà thấy vẫn còn thì tiếp tục làm nữa, đó là bát chánh, tám phương diện của đời sống hiền thiện, lành thiện.
Cứ bào giũa, quét dọn, chà, đẽo, gọt, rèn luyện từng chút thì làm sao mình có thời gian nói chuyện người này người kia, làm sao có thời gian sân si với người nọ người kia. Mình không còn thời gian kịp nữa, chết tới nơi rồi, cái tóc bạc là có thư mời rồi, cái bệnh tới là có thư mời của Diêm Vương rồi, cái già tới thì cũng có giấy mời rồi nhưng không biết bao nhiêu ngày, có thể là tối nay, cũng có thể là một chút nữa, cũng có thể là ngày mai, hay là tuần sau, hay tháng sau. Giấy mời này không ghi ngày thì cái này mới khó, còn nếu định sẵn ba năm, năm năm hay là bảy ngày để còn chuẩn bị, đằng này không biết gì cả thì mới gọi là vô thường, bất ngờ, đột ngột. Con tạm giải thích chữ vô thường cho có ấn tượng, cho có cảm thọ là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, không có cho phép mình thời này tu không được thôi để thời sao con tu, không có thời sau, tu chỉ có ngay khoảnh khắc này thôi.
IV. Những câu chuyện tốt đẹp
"Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo có định, câu chuyện này có khả năng đoạn giảm hướng thượng đưa đến tâm được rộng mở như luận về ít dục, luận về biết đủ, luận về viễn ly, luận về không tụ hội, luận về tinh tấn tinh cần, luận về giới, luận về định, luận về tuệ, luận về giải thoát, luận về giải thoát tri kiến, những câu chuyện như vậy, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Này chư Hiền, đây là sở y thứ ba để tu tập các pháp chánh giác phần" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Chúng ta thấy cái chỗ này rất lạ, Đức Phật dạy mình những câu chuyện có khả năng đoạn giảm, hướng thượng, đưa đến tâm được rộng mở, chúng ta đang làm điều này. Những câu chuyện làm cho giảm bớt những tham, sân, si, bản ngã, những câu chuyện, những lời nói có thể đoạn tận những cái dục ái, vô minh, những câu chuyện, những lời nói có thể làm cho mình hướng thượng lên giới, định, tuệ, những câu chuyện, những cái lời nói có thể làm cho tâm mình được rộng mở như là từ bi hỷ xả, tứ vô lượng tâm. Bây giờ kêu mình nói mà mình không chịu thì đó là cái tâm chống đối, những cái lời nói đó, Những cái câu chuyện đó, những cái pháp nghĩa đó là đưa cho mình hướng thượng rộng lớn, đưa cho mình đoạn giảm phiền não vậy mà nói là "tôi không muốn nói, nói hoài".
Thật sự là con đau lòng, đau lòng lắm, hồi đó có một chú làm công quả chùa này nói rằng "học gì mà học hoài vậy thầy, nghe pháp gì mà nghe hoài", chú không bao giờ vô nghe, con xót thương lắm, chú không thích nghe thì để người ta nghe, chú thích làm công quả thì chú làm đi, nước mắt con chảy vào trong, chảy vào bên trong trái tim. Con rất là thương, bây giờ ở đây cũng có nhiều người không chịu nghe pháp, thậm chí kêu làm những chương trình pháp hội là bên trong có tâm chống đối, không muốn làm. Thật là đau lòng! Bây giờ con hỏi chúng ta những buổi ngồi thiền tại sao có những người phải đeo cái phone vào lỗ tai, là do ngồi thiền không nổi, một là mình ngủ gục, hai là mình vọng tưởng, mình không đối diện nổi với cái tâm của mình. Chúng ta thấy cái này có hơn nhiều không ạ? Một là ngủ, hai là ngồi vọng tưởng, cho nên trong thời đại này ít có người đạt được các thiền định, nếu mà mình buông bỏ cái pháp nữa là rồi xong.
Đệ tử của Đức Phật gọi là bậc đa văn thánh đệ tử, đa văn là nghe nhiều thánh pháp Nikāya. Mình nghe nhiều như vậy, mình liên tục trình pháp như vậy mà mình còn như vậy, nếu bây giờ bỏ cái pháp ra không trình pháp nữa, để cho mình tự tung tự tác, để cho mình buông lung phóng dật thì làm gì có đạo tràng Nikāya. Để cho mình nuôi dưỡng cái dục, muốn làm gì thì làm, "đừng ai nói gì đến tôi, tôi muốn làm gì thì tôi làm", cái tâm như vậy phải nhìn ra, phải trị nó, diệt nó, cái tâm như vậy không ai cứu mình nổi, thánh nhân hay Phật ở kế bên cũng không cứu mình nổi. Đó là lý do tại sao tâm hiền phải diệt ngã, nhiếp phục bản ngã là cánh cửa để bước vào đạo tràng Nikāya, con thật sự bây giờ nhiều hạnh phúc, nhiều an lạc khi thấy chúng mình hiền thiện, ai tới cũng khen, khi thấy chúng mình ngọt ngào với nhau, hiền hoà với nhau, bảo bọc, che chở, yêu thương với nhau nhưng mà con không có thỏa mãn, con không có hài lòng với cái thiện pháp đó vì mình thỏa mãn là mình chết, mình phải tăng thượng lên nữa, hướng thượng lên nữa, cao thượng lên nữa.
Tất cả chúng ta khi chưa Nhập Lưu điều có khả năng thối đọa là chắc chắn, trừ khi nào mình bất thoái chuyển tức là Nhập Lưu, tịnh tính bất động đối với pháp. Còn mình chưa Nhập Lưu thì khả năng lui sụt, thối thất, sa đọa, thối đọa là chắc chắn, những người trình pháp đầy nước mắt, quán chiếu thâm sâu vô thường, khổ, vô ngã, nói là như bậc thánh nhưng mà những cái chuyện hết sức là đơn giản mà sân si, ngã mạn lên, cái tâm quậy ở bên trong muốn đưa xuống núi luôn. Cái tâm này rất ghê gớm, cái tâm này không thể xem thường, không bao giờ được xem thường cái tâm này, dễ dãi với nó, dễ vui với nó.
V. Nghiêm khắc với chính mình
Phải nghiêm khắc với nó, phải trừng trị nó, mình không có biết nghiêm khắc với chính mình, không biết trừng trị chính mình, không biết sát phạt chính mình thì mình sẽ chết dài dài, mình đau khổ mãi mãi, mình trầm luân muôn kiếp, mình phải thẳng tay với chính mình, mình phải sát phạt với cái tư tưởng khốn nạn, súc vật, những cái tư tưởng đầy ngã mạn, dục, tham, sân, si, mình diệt tận nó, mình không có nương tay với nó thì mình mới còn sống ở trong pháp này, nếu không là mình sẽ chết, mình sẽ trở lùi lại trong cái đầm, lún sâu xuống cái đầm lầy của những dục vọng, khát ái, tai họa, khổ nạn, ách nạn, hoạn nạn, hiểm nạn, nguy nan, mình không quyết liệt, nỗ lực thì mình sẽ bị thiêu đốt trong cái hố than hừng của sân hận, mình không có quyết liệt, mãnh liệt, cường liệt thì mình mãi mãi sống trong kiếp mù lòa, trong màn đen, trong bóng đêm, mình mà không có mãnh liệt, không có sống chết với nó, quyết tử thì cơ hội ngàn năm của mình lần này gặp được chánh pháp bỏ qua như là bóng màu thôi, cũng là những kỷ niệm thôi. Cho nên những câu chuyện Đức Phật dạy mình để đạt được sự cao thượng, hướng thượng, tâm rộng lớn, đoạn giảm phiền não là câu chuyện ít dục biết đủ.
Đức Phật đưa lên cả chục cái ví dụ về dục, như là cái hố than hừng, khúc xương khô rồi con chó cứ gặm nó mà không có gì trong đó cả, cái lưỡi câu gắn mồi, đớp vào là bị lột da, chặt đầu, cạo vảy, xáo thịt. Con cá thác lác chết cũng không toàn thây, không được ăn nguyên miếng như những con cá khác mà bị cạo thịt ra, nhồi lên nhồi xuống cho nát nhừ ra hết, chúng ta cũng bị cái dục, cái sân, bản ngã nhồi mình như vậy, nó bằm mình ra, dằm mình ra tan xương nát thịt, nó ác độc với mình dữ lắm mà tại sao mình nương tay với nó, nó hại mình vô lượng vô biên kiếp mà mình không dám đụng vô nó, nó là ông cố nội của mình, ai đụng tới nó là bắt đầu là mình sừng sộ lên, sân si lên, mình bung ra, nó là ông cố tổ của mình hay sao. Mình phải dùng những từ như vậy mới có cảm thọ, nó là kẻ thù vô lượng vô biên kiếp của mình đó mà mình yêu thương nó lắm, mình nghe lời nó dữ lắm, mình làm đầy tớ cho nó dữ lắm, cái bản ngã đó chà đạp mình, vùi dập mình.
Vợ chồng nói ra hai ba câu là cự lộn, cãi lộn, thậm chí bây giờ muốn đi là đi, muốn li dị là li dị, không sống nổi nữa, nó làm cho nhà tan cửa nát là cái bản ngã ác độc đó mà mình không thấy, mình nghĩ là do người này người kia mà thật ra là do bản ngã vô hình làm tan nát hết, nó giết hết hành tinh này, nó hủy hoại trái đất này luôn cho nên hôm nào sân lên bấm nút một cái là cả thế giới thành hoang tàn hết. Cái gì chế tạo ra vũ khí giết người hàng loạt? Chính là dục, sân, bản ngã, "dám đụng tới ta hả, ta cho mi chết, không những mi chết mà cả thành phố cũng chết luôn". Đó là cái bản ngã ác độc, ác ma cho nên chúng ta phải mạnh mẽ với nó, nó đã chà đạp mình vô lượng vô biên kiếp rồi mà giờ mình cứ sợ nó là sao? Khi thiền quán là mình dập nó cho banh xác, bắn nó tan tành, tan rã, tan hoang hết ra, thiền quán phải mạnh lên vì yếu là không quật được nó, phải có ý chí mạnh mẽ lên thì tất cả những cái mệt mỏi, đau nhức cũng không làm mình thối lui, "mày đã chết vì dục ái, vì vô minh, vì sân hận, vì tranh đấu vô lượng vô biên lần mà chưa lần nào chết vì tu thánh pháp, hôm nay tao cho mày chết vì tu thánh pháp".
Mình tác ý mạnh như vậy thì những cái mệt mỏi, ngáp ngủ, đau nhức chạy hết, "tao cho mày chết, mày chết một lần này thôi rồi mày bất tử. Mày sống vô lượng vô biên kiếp đến nay là mày dục, mày ái, mày vô minh, mày chết nhục chết nhã, chết bờ chết bụi, chết oan chết ức, chết mà còn bị xỉ vả, bị hành hình, chết mà còn bị còng, bị lôi, bị kéo, bị hành hình. Mày chết biết bao nhiêu lần nhục nhã, khốn khổ, đau khổ, tồi bại, hèn hạ, mày chết vô số, mày làm con chó mày chết, mày làm con giòi mày chết, mày làm con heo mày chết, mày làm con bò, con gà, con vịt mày chết, mày chết ở trong địa ngục là vô lượng lần rồi mà mày chưa bao giờ mà mày chết ở trong một cái vinh quang. Lần này tao cho mày chết vinh quang, tao cho mày chết được hiển hách, tao cho mày chết rực sáng với thánh đạo, thánh pháp, thánh trí, thánh quả. Mày chịu chết không? Tao cho mày chết để cho mày bất tử, mày không bao giờ chết nữa".
Mình tác ý như vậy đó, "sao mày ngu dữ vậy? Mày có vỡ cái đầu si mê, vô minh này ra không?". Ngày xưa bên Ni cũng có, bên Tăng cũng có các vị tự vẫn, tại sao cái dục cứ thống trị, cứ hành hạ mãi, vị Tỳ-kheo Ni này thắt cổ, vừa đưa đầu vào thòng lọng là đoạn tận tất cả các dục ái, diệt tận ái hết và chứng thánh A-la-hán ngay trên chỗ cái thòng lọng treo cổ.
"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli, con gái của một người chị võ tướng Sìha. Do vậy, nàng được đặt tên là Sìha, như tên của người cậu của nàng. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp cho người cậu, Sìha trở thành một tín nữ và được phép cha mẹ cho xuất gia. Khi nàng tu tập thiền quán, nàng không thể chận đứng tâm tư nàng chạy theo những ngoại vật khả ý. Bảy năm bị dày vò, nàng kết luận: 'Làm sao ta thoát khỏi nếp sống uế nhiễm này. Ta hãy chết, tốt hơn'. Rồi nàng cột sợi dây trên cây, đút cổ vào thòng lọng để thắt cổ chết. Trong giây phút cuối cùng với sự cố gắng tinh thần chất chứa từ trước cho đến nay, nàng cố gắng triển khai thiền quán. Ðối với nàng đời sống hiện tại thật sự là đời sống cuối cùng, trong giờ phút cuối cùng, trí tuệ nàng được viên mãn, và với nội tâm thiền quán nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ Kinh, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (VL). Sìha (Therì. 131))
"Tao cho mày chết một lần để mày bất tử vĩnh viễn không bao giờ chết nữa", có một vị Tỳ-kheo tính leo lên núi nhảy xuống tự vận vì không thể đoạn tận được những cái dục, phiền não ở trong tâm, khi ngài sắp sửa nhảy xuống lúc đó là ngài diệt tận hết tất cả các lậu hoặc và chứng thánh quả tại chỗ.
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'. Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài" (Tiểu Bộ Kinh, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
Phải có một cái tâm quyết tử như vậy, hùng dũng như vậy, mạnh mẽ như vậy thì mình mới có thể phủ đầu được, mình mới có thể đánh ngã, đánh gục, đánh tan được những bọn ác độc, thầm lặng ở bên trong, những cảm giác, nghĩ tưởng này, nhận thức này. Đó là con chỉ cho chúng ta cái cách tác ý, cách tu, trị nó, cách chiến đấu, chiến lược, tác chiến ở trong trận chiến, chiến trường tâm linh thầm lặng, ở bên trong của chính mình.
VI. Trình pháp
Giới tử: Từ hôm đến giờ con chưa từng nghe một lần đạo sư thuyết giảng nhưng con mới nghe đạo sư đang bị ốm và con nguyện nếu có thể con có thể ốm và chết thay cho đạo sư được không. Đến giờ thì sáng nay là một sở thiền mà con rất là mãn nguyện, rất là tỉnh táo và tinh tấn, trong lúc thiền con lại nghĩ đến hình ảnh của sư phụ bị ốm, sao nó lại xuất hiện ở trong đầu của con. Lúc đó sư phụ nằm trên chõng tre, lẽ ra con không muốn chia sẻ nhưng tối qua con không nói rồi, sáng nay mà con không trình pháp thì không được nhưng con không thể nói sai được.
Ở trong suy nghĩ con hình ảnh lúc sư phụ ốm và lúc đó con như thế nào, rồi những suy nghĩ của con về gia đình, về ba đứa con rất là tuyệt vời, rất là đẹp, khi xuống núi thì con sẽ phải tinh tấn rất là nhiều để cùng các con của con hành trì ba pháp và ngũ uẩn. Phải tinh tấn liên tục, sau đó một thời gian nếu đủ duyên thì con cũng muốn là cả bốn mẹ con về núi xuất gia mãi mãi, con cũng không muốn là ba đứa con của con sẽ bị luân hồi, nếu mà được cả bố nữa thì càng tốt. Khi nghe sư phụ nói những hình ảnh của con trong tương lai con biết là con sẽ tinh tấn được như thế nào, bởi vì qua một thời gian ngắn vừa rồi, từng giây phút con cũng luôn luôn phải suy nghĩ là mình phải hành trì, mình phải tinh tấn, không một phút buông lơi, không một giờ sao nhãng.
Con thấy thương sư phụ, nhìn thấy hình ảnh đó là con lại thương, con không biết là con cần phải làm gì để có thể giúp đỡ được sư phụ. Con lại đọc thuộc cái bài cúng dường tối thượng, có nghĩa là bây giờ để giúp được chính bản thân con để cúng dường sư phụ một cách tốt nhất, đó là con phải thuộc pháp, thuộc kinh, phải hành trì tinh tấn liên tục, đó là cảm thọ của con ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Giới tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các bậc hiền trí. Dạ con giới tử Hiền Như xin trình pháp. Hôm nay qua bài giảng của sư phụ con cảm nhận được sâu sắc những lời dạy của sư phụ, qua câu kinh "đối với chúng con các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa" làm cho con cảm thọ của con thật là hỷ lạc vì con thấy được tầm quan trọng của câu kinh này, đó là các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, con thấy sự quan trọng của việc học pháp và việc làm bạn với thiện, đó là mình giữ giới. Con hiểu là các pháp ở đây có nghĩa là mình phải thực hành nhận diện năm uẩn để mình thấy rõ được sự vô minh, dục ái, tham, sân, si, bản ngã trong cái ngũ uẩn này để nhiếp phục và từ bỏ nó.
Qua bài giảng của sư phụ con được như được tiếp thêm một sức mạnh để con được tiến tu và học pháp. Ý hành của con có suy nghĩ là sau khi trở về nhà con phải sắp xếp việc tu học nhiều hơn nữa để không phụ công ơn của sư phụ đã giảng dạy và không phụ ân đức của Thế Tôn đã để lại giáo pháp lý tham tối thượng này. Dạ con kính tri ân tam bảo, tri ân đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính tri ân sư phụ, quý thầy, quý sư cô và các bậc hiền trí. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Làm Sao Để Được Giác Ngộ?
Kinh Chánh Giác
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Về núi yên tu PAGEREF _Toc201584208 \h 1
II. Sở y tu tập PAGEREF _Toc201584209 \h 2
III. Làm bạn với thiện PAGEREF _Toc201584210 \h 7
IV. Những câu chuyện tốt đẹp PAGEREF _Toc201584211 \h 10
V. Nghiêm khắc với chính mình PAGEREF _Toc201584212 \h 11
VI. Trình pháp PAGEREF _Toc201584213 \h 15
I. Về núi yên tu
Lòng nhắc ý phải ước mong
Ước mong thành tựu thượng nhân pháp
Đền đáp cha mẹ cứu đại đồng
Về núi tỉnh tu đẹp tuyệt trần
Ngồi thiền quán chiếu thấu hồng trần
Tác ý ngày đêm như giết giặc
Quang tông diệu tổ đại thành công
Về núi tỉnh tu đẹp tuyệt trần
Phủi giũ bụi đời vạn kiếp nhơ
Thanh lọc sạch sẽ tâm cấu nhiễm
Thanh cao, thanh tịnh, vui vô bờ.
Về núi tỉnh tu đẹp tuyệt trần
Bao đời khốn khổ cảnh mê tân
Giờ đây tỉnh giấc cơn mộng ảo
Mới hay kiếp sống tựa phù vân.
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, đời sống này giống như đám mây, phù vân là cái đám mây trôi. Chúng ta nghe thiền quán vẻ đẹp tuyệt trần của người tu có thấy hạnh phúc không? Khóa tu này uống sữa liên tục, khóa tu này rất nhiều sữa pháp mà nếu không lớn nổi nữa, suy dinh dưỡng thì cái đó ráng chịu.
II. Sở y tu tập
Hôm nay chúng ta được nghe bài kinh Chánh Giác, Tăng Chi Bộ, tập IV.
"- Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'. – 'Bạch Thế Tôn'. Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: 'Thưa chư Hiền, các pháp chánh giác phần lấy gì làm sở y để tu tập?'." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo nếu có người ở đạo khác hỏi các thầy dựa vào các gì để giác ngộ thì các thầy phải trả lời ra sao? Các pháp giác ngộ đó lấy gì làm chỗ dựa để tu tập, tức là lấy những cái pháp gì tựa vào những cái pháp gì, những cái điều gì để mình đạt tới giác ngộ. Đức Phật nêu ra các câu hỏi rồi tự ngài trả lời.
"Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo như thế nào?
- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Thật lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỳ-kheo sẽ thọ trì" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Câu này chúng ta học thuộc lòng trong mỗi buổi tụng kinh, câu này là rất là quan trọng. Tại sao chúng ta học mà không đạt đến chánh pháp? Là vì không ứng dụng theo cái câu này, bây giờ có ai hỏi mình cái gì là mình nói thao thao bất tuyệt. Ví dụ như người ta lại ta hỏi thưa thầy, thưa sư cô, thưa huynh bây giờ tôi muốn tu thế nào để giác ngộ là mình nói ầm ầm, mình nói theo cái suy nghĩ của mình, nói theo cái sở thích của mình, mình nói theo cái quan điểm của mình. Vậy mình giỏi hơn các vị thánh đệ tử hồi xưa hết cho nên mình phàm phu mãi mãi, chúng ta thấy Đức Phật hỏi câu có người hỏi các thầy dựa vào đâu để tu đạt được giác ngộ thì các thầy trả lời sao, chúng ta biết các vị ngồi ở dưới Đức Phật là thánh chúng, không lẽ các ngài không biết, cái ngài đó là thánh nhân, thánh Tăng, các bậc Hiền Thánh rồi mà các ngài trả lời: Đối với chúng con các pháp tu hành lấy Thế Tôn là cội gốc, là gốc rễ, là chỗ căn cứ, là chỗ y cứ. Thế Tôn là bậc lãnh đạo chúng con trong tất cả các pháp tu hành, chúng con nương dựa nơi Đức Thế Tôn. Thật là lành thay! Thật là rất là tốt bạch Đức Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa lời dạy này, lời nói này. Sau khi nghe Đức Phật nói rồi chúng con sẽ tiếp nhận, giữ gìn, hành trì.
Con nhờ học theo cái này mà được bậc đạo sư truyền thụ thánh pháp, con chưa bao giờ dám cãi sư phụ dạy pháp cho con một lần, chưa bao giờ dám. Bốn năm học với thầy không dám cãi một lần nào, bất cứ về phương diện nào mà hồi đó con chưa có biết cái câu này, bây giờ sau khi đi vào vòng pháp này rồi con mới thấy tất cả đều có nhân quả, có đạo lộ hết, có quy trình của pháp. Chúng ta thấy những người ngồi ở phía dưới Đức Phật là thánh Tăng, thánh nhân, là các bậc thánh giả mà không có một vị nào dám trả lời câu hỏi của Đức Phật, nếu mà những cái bậc đã thành tựu thì người ta kính Đức Phật tuyệt đối, kinh pháp tuyệt đối và kính bậc đạo sư tuyệt đối, làm sao dám vượt qua Đức Thế Tôn, làm sao dám vượt qua pháp.
Mấy bữa trước con vô tình lướt những cái bài ở trên cái trang của mình nhưng nhảy vô một cái bài để tựa "Tứ Niệm Xứ không phải là con đường độc nhất", con thấy một cái câu đó thôi là tim con đau nhói, hết sức là nguy hiểm. Đệ tử của Phật mà nói ngược lại Đức Thế Tôn như vậy cho nên mình mãi mãi tu bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp vậy nữa cũng vẫn là phàm phu, cái bản ngã nó lớn cỡ nào thành ra con mới nhắc lại hai chữ "nghe lời" ở trong Nikāya là nó quyết định lên cho mình vào pháp hay là loại khỏi vòng pháp. Hôm nay chúng ta học thêm được hai chữ "nghe lời", thấy vậy nhưng không có dễ chút nào hết vì bên trong mình là một bản ngã chống đối. Con không có nhắm cá nhân bất cứ một ai mà nói chung tất cả cho tất cả các ngũ uẩn và chính tự hơn của con vì con nghe lời cho nên con mới đi vào được dòng pháp này. Lúc đầu con cũng ương ngạnh, sư phụ hay thầy dạy là con không có chịu, con phải đi qua bên các nước Phật giáo nguyên thủy để xác nhận lại, đi qua tám trường thiền lớn nhất của thế giới về mới chịu.
Con đi qua đó xem sự nhận diện ngũ uẩn thì không có một trường thiền nào cả, thành ra hai chữ "nghe lời" này hết sức là đơn giản mà hết sức là khó làm, với một cái tâm phải là hiền thiện, ngoan hiền cho nên khi mình đọc cái bài kệ ngài Xá-lợi-phất "dễ bảo, dễ nghe pháp thánh hiền" câu đó là điều kiện tiên quyết để đi vào trong dòng pháp Nikāya. Vì thế chỉ một câu này thôi mà học tám buổi chưa hết, tức là bạch Thế Tôn đối với chúng con Thế Tôn là gốc của pháp, đối với chúng con Thế Tôn là bậc dẫn đường, làm sao chúng con dám vượt qua Đức Thế Tôn, ngài là chỗ nương dựa của chúng con. Đây là lý do tại sao ở đây chúng ta phải học thuộc lòng kinh mỗi buổi sáng đọc vì nếu không là chánh pháp sẽ mất luôn. Chúng ta nhìn thấy không, mạnh người nào người nấy nói, mỗi người nói mỗi kiểu, ai muốn nói gì là nói, đó là loạn pháp, còn các bậc thánh là nhất nhất.
Khi truyền thánh chỉ thì người đọc thánh chỉ dám sửa chữ trong đó không? Chỉ cần sai một chữ thôi là mất giáo pháp, có nhiều cái để mình học lắm. Ví dụ trong pháp luật, chỉ cần sai một chữ hoặc thiếu một chữ thôi, hoặc ghi sai từ không thành có thì sao? Cũng vậy, ngày hôm nay học không có thành công tại vì không tôn trọng lời dạy của Đức Phật, không có tuyệt đối tuân hành đạo lộ mà ngài đã trình bày, tuyên thuyết. Câu này chúng ta thấy các bậc thánh không có dám nói, các ngài toàn là các bậc A-la-hán, làm sao mà không biết được tu thế nào để giác ngộ. Thật là tuyệt vời lắm bạch Thế Tôn, xin ngày hãy nói lên ý nghĩa là lời nói này để chúng con học.
Nhiều lúc con muốn đi vô trong rừng, hoặc lên Tuyết Sơn ở, nhiều lúc thấy nản quá thì không nghe lời, đem hết cả tâm tư, cả tấm lòng ra dạy mà chỉ toàn là hất ngang, gạt ngang không, một lúc nào đó con cũng âm thầm, không thể nào thể nhập vào pháp được. Phải như cái chuyện gì, những chuyện hết sức là chánh đáng tu học nhưng cũng gạt ngang, tôi muốn thì tôi làm, tôi không muốn thì không làm và làm sao mà mình nhận biết được là cái đó nó nghiêm trọng như thế nào, mình thấy nó rất bình thường nhưng mà cái đó nó rất nghiêm trọng. Mình không có nghe lời, mình không có chấp nhận học pháp, chính con cũng bị một lần, nhiều khi cái bản ngã của mình có thấy hoặc là mình không thấy, mình cho qua cho nên dễ nghe, dễ bảo pháp thánh hiền là không phải đơn giản, suốt cuộc đời này mình chỉ làm một người nghe lời thôi là mình Nhập Lưu. Cho nên người nghe lời đẹp lắm, đẹp sao là đẹp, nghe lời trong cái thiện pháp, nghe lời trong cái thánh đạo, nghe lời trong sự rèn luyện, mài giũa, huấn luyện bằng từ tâm của các bậc thiện tri thức, của các bậc tôn đức, của các bậc cha thầy.
Thật là khó thay để tìm được một người nghe lời, khó thay, khó thay, rất là khó phải thực hành hai chữ nghe lời, đa số bên trong tâm là chống lại, cãi lại, không muốn. Khi thiền quán nếu để ý cái này nó sâu sắc lắm, ở ngoài đang giảng thiền quán bất tịnh thì mình lại trải tâm từ. Chúng ta có thấy điều này không? Nó sâu sắc đến vậy, không phải không nghe lời là cãi lại, cái này là quá thô rồi, vẫn dạ vâng nhưng bên trong là một cái ý niệm chống đối không có làm theo, chứ còn cãi ngoài miệng thì hết nói rồi, đằng này vẫn dạ vâng nhưng mà bên trong không làm theo lời dạy, chỉ làm theo cái ý của mình. Đó là không có chấp nhận học pháp, không có tùy thuận pháp, không có tôn kính bậc đạo sư, sâu sắc như vậy, ngay cả trong thiện pháp mà vẫn cứng cỏi, không nghe lời, "tôi muốn tu cái này, tôi không muốn tu cái kia". Mình phải nhìn ra được cái này cho nên rất nhiều người tu không thành công là mới vô tu mà muốn tu cái pháp cao siêu, không muốn tu pháp thấp "tâm hiền mà tu cái gì, tôi hiền rồi còn kêu tôi tâm hiền gì nữa, cái này để cho mấy người Phật tử mới vào chùa tu, tôi ở chùa hai mươi năm rồi đâu cần tu tâm hiền nữa". Cái tâm này ghê gớm lắm cho nên khó thay là gặp được một người nghe lời, biết nghe lời, hy hữu hiếm có ở trên đời và người này trong tương lai là hiền thánh.
Con bây giờ cũng chưa có nghe lời đạo sư trọn vẹn và con đang cố gắng hết sức mình để làm một đứa học trò nghe lời dạy của ngài. Ví dụ kinh Tứ Niệm Xứ nói khi đi phải tỉnh giác, khi đứng phải tỉnh đánh giác, khi ngồi, khi ôm bát, khi đắp y đều phải tỉnh giác, đại tiểu tiện, thức, nói, im lặng đều phải tỉnh giác. Đức Phật dặn từng chút nhưng mình có nghe lời không? Chẳng những mình học lòng, đọc làu làu trên chánh điện nhưng khi ra ngoài ai chỉ mình buông lung là mình sân si lên, bao nhiêu lớp vô minh, bản ngã, bao nhiêu lớp sân hận che lấp, phong tỏa hết cho nên chỉ riêng hai chữ "nghe lời" thôi là Nhập Lưu cho đến thánh Tăng A-la-hán.
Chính con chia sẻ cho những lớp học cao đẳng, trung cấp, những cái tu viện, những cái thiền viện thì "thầy hướng dẫn bất tịnh mà con ngồi quán chỉ thấy tịnh không à thầy". Cái tâm mình dễ sợ như vậy, thậm chí là chống đối lại luôn "gì mà ghê quá vậy, mở cái gì ghê vậy", cái tâm chống đối làm cho mình văng khỏi dòng pháp, không thể nhập được lời Phật dạy nhưng cũng không phải nói đâu gật đó, nghe lời bằng một cái tâm trí tuệ, chỗ này là cái chỗ khác biệt với người ba phải. Nghe lời không phải là kiêu gì làm đó, không phải là mê tín mà nghe tâm phục khẩu phục, đây là thánh trí tuệ của Đức Phật, đây là những bậc thầy thành tựu, đây là những bậc chân nhân, chánh kiến thì mình nghe, mình diệt cái tâm tôi ta, cao ngạo, chống đối, phản trắc. Mình nhìn đi khiếp lắm, từ từ chúng ta nhận diện ngũ uẩn rồi chúng ta thấy cái tâm bên trong là một cái tâm xảo quyệt, phản trắc khủng khiếp, khiếp sợ.
Chúng ta nhìn sâu vô rồi chúng ta thấy khủng khiếp, cái tâm này là một cái tâm xảo quyệt, gian trá, một cái tâm hết sức là trá ngụy mà Tây Du Ký diễn tả đó là yêu tinh và nghiệt xúc, bao nhiêu cái con yêu quái đó là tâm của mình. nó là yêu tinh làm cho mình không có đi tới Tây Thiên được, không có thỉnh kinh được, không có gặp được thánh pháp, nó ngăn chặn hết, nó kêu mình ở lại đi, nó kêu Đường Tăng ở lại đây đi, nó kêu Bát Giới ở lại đây đi. Đó là cái nội tâm của chúng ta, cho nên là thật sự một người thật tu là không có một cái giây phút nào không nhìn vô thọ; tưởng; hành hết. Khi mà họ thường nhìn như vậy có ai chỉ một cái là họ rất là nhẹ nhàng, rất là cúi đầu, rất là vâng lời, do mình không tu, mình chỉ tu trong thiền đường, lúc trở ra không có tu cho nên người tu chỉ pháp là mình không thấy pháp gì cả, chỉ thấy sân si, bản ngã, vô minh không thôi.
Thậm chí ngay trên thiền đường chưa chắc tu trọn vẹn, không có tu một tiếng đồng hồ mà được tiếng đâu, ngồi trong đó là trùm trùm lớp lớp vô minh, bản ngã, ngay cả được nhận diện nhưng cũng không có chính xác, chỉ là mới nhận diện cái phần thô thiển nhất thôi cho nên đối với sự tu hành trong dòng Nikāya này là sự tinh tấn là phải không ngừng nghỉ và nỗ lực liên tục, liên tục, liên tục, liên tục, hoài hoài cho đến khi nào đoạn tận các lậu hoặc một cách hoàn toàn. Với một người mà cái tâm cạn cợt, một cái tâm hài lòng, chấp nhận với những cái nhỏ bé, cạn cợt, hẹp hòi thì không thể nhập được cái pháp này, chỉ tu gieo duyên ở phía ngoài thôi. Tu cái pháp này cái tâm phải hết sức tinh tế, cẩn trọng, sâu sắc, kiên trì và luôn luôn hướng thượng liên tục, một cái tâm mà vừa được yên yên, ổn ổn chút chút, biết nhận diện ngũ uẩn, biết tác ý một chút là thấy được rồi, khỏe rồi, nhàn rồi là dừng lại thì mình chết ngay tại chỗ đó, cuộc đời mình coi như là đóng bít cửa ngộ. Ngược lại phải cố gắng liên tục, liên tục và liên tục, chúng ta thấy cái người đi lên cầu thang, ở Hồng Kông có chỗ đại Phật phải đi năm trăm bậc thang và nhiều hơn nữa, có những chỗ hàng ngàn bậc thang, mình tới đó mệt thì mình dừng lại chút xíu mình thở rồi mình đi tiếp, mình tới đó rồi mình đứng đó ngắm cảnh khỏi cần lên Phật thì uổng phí, 1.000 bậc thang đó là đi viếng cảnh, đi lễ chùa thôi, huống chi muốn siêu phàm nhập thánh, muốn đoạn tận dòng sanh tử mà mình không có chịu nỗ lực cho nên tu trong cái này là một cái ý chí kiên trì, hùng lực phải là vô lượng, vô hạn, vô tận, thì mới thành tựu.
Tại sao hai ngàn năm mai một? Vì người ta hài lòng, chấp nhận với những cái hết sức là nhỏ hẹp, cạn cợt, thì chánh pháp thì bị thất truyền cho nên tu học như vậy, đạo tràng Nikāya như vậy nhưng mà tôn giả nói là không có người nào, chưa có người nào hết. Chúng ta thấy một cái câu nói khủng khiếp, một cái câu đó mình phải nghe giống như trời long đất lỡ, giống như sấm sét ngang mày, thì như vậy là mạng mạch chánh pháp sẽ diệt vong vì không có người thành tựu. Học hiểu thì biết nhưng cũng không có người thành tựu, thì đây cũng dừng lại ở cái pháp học thôi vì mình không có đem hết tấm lòng để hành pháp. Chúng ta phải tâm tâm niệm niệm trong mỗi suy nghĩ của mình, phải suy nghĩ về pháp, an trú ở trong pháp, trong mỗi cảm thọ, mỗi hình bóng của mình chứ không còn nói là giờ giấc gì nữa, ở chỗ nào nữa.
III. Làm bạn với thiện
Thí dụ mình được giao cho một cái pháp tâm hiền là phải hành trì liên tục ngày đêm, trừ khi nào mệt thì ngủ thôi, hoặc tâm từ, hay là diệt ngã, trừ khi nào cái pháp đó thành tựu trong người mình không mất nữa. Mình làm năm ba bữa, bảy bữa, mười bữa rồi xong mình bỏ, làm cái khác năm, bảy ngày rồi mình bỏ là không có cái nào ra cái nào.
"Này các Tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: 'Thưa chư Hiền, các pháp chánh giác phần, lấy gì làm sở y để tu tập?' Ðược hỏi vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: 'Ở đây, thưa chư Hiền, Tỳ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này chư Hiền, đây là sở y thứ nhất để tu tập các pháp chánh giác phần'." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Cái đầu tiên mình muốn đạt đến Chánh Giác là mình phải làm bạn với thiện, phải gần gũi với thiện, thân hữu, phải giao thiệp với thiện, qua lại với thiện. Làm bạn với thiện thì sao, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện thì?
"Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo có giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Này chư Hiền, đây là sở y thứ hai để tu tập các pháp chánh giác phần" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Đó là lợi ích của làm bạn với thiện, mình sẽ giữ giới, mình sẽ sống với sự bảo vệ của giới bổn, mình sẽ có đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Như vậy làm bạn với thiện thì mình phải niệm giới, thí dụ như mình được thọ mười giới Sa-di trong khóa tu này, mình không phải đợi tới cái thời khóa kêu lên đọc giới lúc đó mình mới đọc, bất cứ lúc nào mình rảnh là nhắc lại mười cái giới trong tâm của mình và mình đem mười giới đó đối chiếu, so sánh để xem mình làm được bao nhiêu giới, giới nào chưa được trọn vẹn thì mình tăng trưởng, phát triển cái giới đó lên. Mình giữ gìn, mình để tâm, để ý, giới nào chưa được trọn vẹn thì sám hối, mình coi cái oai nghi của mình có đầy đủ không, cái hành động của mình có chân chánh không, gọi là oai nghi chánh hạnh, như vậy gọi là mình đang làm bạn với thiện tức là mình sống với giới, mình để ý oai nghi, mình xấu hổ với những cái tội lỗi, những cái sai quấy mà mình đã làm, hay là đã suy nghĩ trong tâm, mình sợ hãi, mình lo lắng, như vậy là mình đang làm bạn với thiện, thậm chí một lỗi hết sức nhỏ nhặt.
Mình chấp nhận và học tập ở trong các học pháp, những cái pháp gì trong đạo tràng đưa ra, trên quý thầy đề ra, trong nội quy, trong thanh quy là phải cố gắng giữ gìn những cái pháp đó. Mình giữ được cái pháp đó là mình đang làm bạn với thiện, mất cái pháp đó là làm bạn với ác. Thí dụ ở trong thanh quy đạo tràng là cố gắng giữ gìn yên lặng tối đa mà mình mất cái pháp đó tức là mình làm bạn với ác, mình giữ được cái pháp đó tức là mình đang làm bạn với thiện. Trong cái thanh quy đó mình đối chiếu, mỗi ngày phải đọc thanh quy để nhắc nhớ cho mình những cái điểm quan trọng ở trong đó và mình ứng dụng theo trong đó là mình đang làm bạn với thiện. Thí dụ mình lỡ cười lớn hoặc nói chuyện lớn tiếng là mình thấy xấu hổ, sợ hãi, mình đang làm bạn với ác chứ không phải làm bạn với thiện, mình không có an tịnh, lắng dịu thì mình thấy xấu hổ, còn khi mình an tịnh, lắng dịu thì mình thấy vui, nình đi nhẹ nhàng, mình ngồi mỉm cười vì mình đang làm bạn với thiện, mình đang sống với thiện, mình đang thân hữu với thiện, mình đang giao thiệp với thiện.
Như vậy đó là ý nghĩa trong hỷ vô lượng tâm, vui vì mình biết giữ giới, vui vì mình biết tu tập các đức hạnh của thánh hiền cho nên người không biết thì nghĩ rằng "giữ giới khó quá, vậy rồi buồn lắm", người ta không biết là giữ giới là vui. Chẳng hạn như bây giờ mình nói ví dụ để cho mở rộng ra cho quý Phật tử dễ hiểu, bây giờ bạn bè của mình nhậu tập tô, đập chén, nói qua nói lại, cự cãi mà mình được ròi xa cái quán nhậu đó, mình chạy xa ra, mình đi ra, mình được ngồi yên một mình nhất là ngồi trên đây bên khóm trúc, rừng tre, trên đồi cao, núi vắng, quay trở về để mình nhìn nhận thân tâm của mình thì mình vui vì được giữ giới. Đúng ra là bữa nay ở nhà, lễ hay mùa hè này là nhậu, đi chơi cho nên tại sao mà con thưa các bậc hiền trí là lễ là con cho tu, mô Phật.
Mấy ngày người ta đi chơi là con cho tu, con thấy thương vì đến dịp lễ tết là chết rất nhiều người, tai nạn giao thông rất nhiều cho nên những khóa tu mở ra những dịp đó là nhằm bớt chết, bớt tai nạn, bớt khổ. Nhìn đâu cũng thấy thương hết quý vị ơi, nhiều khi đang ngồi thiền quán mà con mèo hay con tắc kè kêu lên là trong tâm nhói tim lên, cảm thọ tự động sanh khởi như vậy, khi mình đã thấm cái khổ thì tự động sanh khởi lên tâm từ, nhìn đâu tâm từ của mình cũng tràn ngập dào dạt, người ta chửi mà mình thấy thương họ, không dùng lời nào nói cho hết. Quý vị tu rồi quý vị sẽ cảm nhận được phép màu, người ta hại mình, người ta lừa gạt mình mà mình chỉ thấy thương sao là thương cho họ tại vì họ không biết họ sắp bị tai họa, tai nạn ở phía sau họ.
Cho nên nhớ làm bạn với thiện tức là giữ giới, tức là giữ oai nghi, tức là hành trì thanh quy, tức là sợ hãi những tội lỗi dầu cho rất nhỏ nhặt, đó là đang làm bạn với thiện, nhớ kỹ đây là những pháp đưa đến Chánh Giác được chính Đức Thế Tôn đã tuyên thuyết. Chẳng hạn như mình vô ngồi thì phải xem có ngay hàng thẳng lối không, khi nãy con vẫn thấy cái hàng bị xéo, đó là sự chánh niệm của mình. Mình không để ý ngồi xéo thì tất cả người phía sau sẽ đi theo mình xéo hết, cái hàng có hình có tướng, một con người mấy chục ký lô ngồi trước mặt như vậy mà còn ngồi vào không thẳng thì cái tâm sao mà thẳng được. Mấy chục kí lô thịt ngồi trước mặt mà còn không thấy cho chính xác thì ở bên trong là một cái tâm không có hình, không có tướng làm sao nhìn thấy được?
Phải bắt đầu từ những cái đơn giản nhất và cái đó là làm bạn với thiện, thân thiện với thiện, giao thiệp với thiện, gần gũi với thiện, sống với thiện, cần phải thực tập rất nhiều đức hạnh. Hồi xưa con chưa vô dòng pháp này con nghĩ mình tu, rồi tụng kinh, ngồi thiền, giảng pháp như vậy cũng hay rồi đó nhưng bây giờ thấy là chẳng có gì hết trơn, phải đào luyện mình từng góc độ, khía cạnh, từng chút, mình thấy mình còn một cái nào mà nó chưa có được tốt là ngay cái đó phải mài giũa, đẽo, đục, gọt, bào, chà giấy nhám. Nếu xong cái này mà thấy còn cái kia thì tiếp tục làm cái kia y như vậy, xong cái kia mà thấy vẫn còn thì tiếp tục làm nữa, đó là bát chánh, tám phương diện của đời sống hiền thiện, lành thiện.
Cứ bào giũa, quét dọn, chà, đẽo, gọt, rèn luyện từng chút thì làm sao mình có thời gian nói chuyện người này người kia, làm sao có thời gian sân si với người nọ người kia. Mình không còn thời gian kịp nữa, chết tới nơi rồi, cái tóc bạc là có thư mời rồi, cái bệnh tới là có thư mời của Diêm Vương rồi, cái già tới thì cũng có giấy mời rồi nhưng không biết bao nhiêu ngày, có thể là tối nay, cũng có thể là một chút nữa, cũng có thể là ngày mai, hay là tuần sau, hay tháng sau. Giấy mời này không ghi ngày thì cái này mới khó, còn nếu định sẵn ba năm, năm năm hay là bảy ngày để còn chuẩn bị, đằng này không biết gì cả thì mới gọi là vô thường, bất ngờ, đột ngột. Con tạm giải thích chữ vô thường cho có ấn tượng, cho có cảm thọ là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, không có cho phép mình thời này tu không được thôi để thời sao con tu, không có thời sau, tu chỉ có ngay khoảnh khắc này thôi.
IV. Những câu chuyện tốt đẹp
"Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-kheo có định, câu chuyện này có khả năng đoạn giảm hướng thượng đưa đến tâm được rộng mở như luận về ít dục, luận về biết đủ, luận về viễn ly, luận về không tụ hội, luận về tinh tấn tinh cần, luận về giới, luận về định, luận về tuệ, luận về giải thoát, luận về giải thoát tri kiến, những câu chuyện như vậy, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. Này chư Hiền, đây là sở y thứ ba để tu tập các pháp chánh giác phần" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác, (I). (1) Chánh Giác)
Chúng ta thấy cái chỗ này rất lạ, Đức Phật dạy mình những câu chuyện có khả năng đoạn giảm, hướng thượng, đưa đến tâm được rộng mở, chúng ta đang làm điều này. Những câu chuyện làm cho giảm bớt những tham, sân, si, bản ngã, những câu chuyện, những lời nói có thể đoạn tận những cái dục ái, vô minh, những câu chuyện, những lời nói có thể làm cho mình hướng thượng lên giới, định, tuệ, những câu chuyện, những cái lời nói có thể làm cho tâm mình được rộng mở như là từ bi hỷ xả, tứ vô lượng tâm. Bây giờ kêu mình nói mà mình không chịu thì đó là cái tâm chống đối, những cái lời nói đó, Những cái câu chuyện đó, những cái pháp nghĩa đó là đưa cho mình hướng thượng rộng lớn, đưa cho mình đoạn giảm phiền não vậy mà nói là "tôi không muốn nói, nói hoài".
Thật sự là con đau lòng, đau lòng lắm, hồi đó có một chú làm công quả chùa này nói rằng "học gì mà học hoài vậy thầy, nghe pháp gì mà nghe hoài", chú không bao giờ vô nghe, con xót thương lắm, chú không thích nghe thì để người ta nghe, chú thích làm công quả thì chú làm đi, nước mắt con chảy vào trong, chảy vào bên trong trái tim. Con rất là thương, bây giờ ở đây cũng có nhiều người không chịu nghe pháp, thậm chí kêu làm những chương trình pháp hội là bên trong có tâm chống đối, không muốn làm. Thật là đau lòng! Bây giờ con hỏi chúng ta những buổi ngồi thiền tại sao có những người phải đeo cái phone vào lỗ tai, là do ngồi thiền không nổi, một là mình ngủ gục, hai là mình vọng tưởng, mình không đối diện nổi với cái tâm của mình. Chúng ta thấy cái này có hơn nhiều không ạ? Một là ngủ, hai là ngồi vọng tưởng, cho nên trong thời đại này ít có người đạt được các thiền định, nếu mà mình buông bỏ cái pháp nữa là rồi xong.
Đệ tử của Đức Phật gọi là bậc đa văn thánh đệ tử, đa văn là nghe nhiều thánh pháp Nikāya. Mình nghe nhiều như vậy, mình liên tục trình pháp như vậy mà mình còn như vậy, nếu bây giờ bỏ cái pháp ra không trình pháp nữa, để cho mình tự tung tự tác, để cho mình buông lung phóng dật thì làm gì có đạo tràng Nikāya. Để cho mình nuôi dưỡng cái dục, muốn làm gì thì làm, "đừng ai nói gì đến tôi, tôi muốn làm gì thì tôi làm", cái tâm như vậy phải nhìn ra, phải trị nó, diệt nó, cái tâm như vậy không ai cứu mình nổi, thánh nhân hay Phật ở kế bên cũng không cứu mình nổi. Đó là lý do tại sao tâm hiền phải diệt ngã, nhiếp phục bản ngã là cánh cửa để bước vào đạo tràng Nikāya, con thật sự bây giờ nhiều hạnh phúc, nhiều an lạc khi thấy chúng mình hiền thiện, ai tới cũng khen, khi thấy chúng mình ngọt ngào với nhau, hiền hoà với nhau, bảo bọc, che chở, yêu thương với nhau nhưng mà con không có thỏa mãn, con không có hài lòng với cái thiện pháp đó vì mình thỏa mãn là mình chết, mình phải tăng thượng lên nữa, hướng thượng lên nữa, cao thượng lên nữa.
Tất cả chúng ta khi chưa Nhập Lưu điều có khả năng thối đọa là chắc chắn, trừ khi nào mình bất thoái chuyển tức là Nhập Lưu, tịnh tính bất động đối với pháp. Còn mình chưa Nhập Lưu thì khả năng lui sụt, thối thất, sa đọa, thối đọa là chắc chắn, những người trình pháp đầy nước mắt, quán chiếu thâm sâu vô thường, khổ, vô ngã, nói là như bậc thánh nhưng mà những cái chuyện hết sức là đơn giản mà sân si, ngã mạn lên, cái tâm quậy ở bên trong muốn đưa xuống núi luôn. Cái tâm này rất ghê gớm, cái tâm này không thể xem thường, không bao giờ được xem thường cái tâm này, dễ dãi với nó, dễ vui với nó.
V. Nghiêm khắc với chính mình
Phải nghiêm khắc với nó, phải trừng trị nó, mình không có biết nghiêm khắc với chính mình, không biết trừng trị chính mình, không biết sát phạt chính mình thì mình sẽ chết dài dài, mình đau khổ mãi mãi, mình trầm luân muôn kiếp, mình phải thẳng tay với chính mình, mình phải sát phạt với cái tư tưởng khốn nạn, súc vật, những cái tư tưởng đầy ngã mạn, dục, tham, sân, si, mình diệt tận nó, mình không có nương tay với nó thì mình mới còn sống ở trong pháp này, nếu không là mình sẽ chết, mình sẽ trở lùi lại trong cái đầm, lún sâu xuống cái đầm lầy của những dục vọng, khát ái, tai họa, khổ nạn, ách nạn, hoạn nạn, hiểm nạn, nguy nan, mình không quyết liệt, nỗ lực thì mình sẽ bị thiêu đốt trong cái hố than hừng của sân hận, mình không có quyết liệt, mãnh liệt, cường liệt thì mình mãi mãi sống trong kiếp mù lòa, trong màn đen, trong bóng đêm, mình mà không có mãnh liệt, không có sống chết với nó, quyết tử thì cơ hội ngàn năm của mình lần này gặp được chánh pháp bỏ qua như là bóng màu thôi, cũng là những kỷ niệm thôi. Cho nên những câu chuyện Đức Phật dạy mình để đạt được sự cao thượng, hướng thượng, tâm rộng lớn, đoạn giảm phiền não là câu chuyện ít dục biết đủ.
Đức Phật đưa lên cả chục cái ví dụ về dục, như là cái hố than hừng, khúc xương khô rồi con chó cứ gặm nó mà không có gì trong đó cả, cái lưỡi câu gắn mồi, đớp vào là bị lột da, chặt đầu, cạo vảy, xáo thịt. Con cá thác lác chết cũng không toàn thây, không được ăn nguyên miếng như những con cá khác mà bị cạo thịt ra, nhồi lên nhồi xuống cho nát nhừ ra hết, chúng ta cũng bị cái dục, cái sân, bản ngã nhồi mình như vậy, nó bằm mình ra, dằm mình ra tan xương nát thịt, nó ác độc với mình dữ lắm mà tại sao mình nương tay với nó, nó hại mình vô lượng vô biên kiếp mà mình không dám đụng vô nó, nó là ông cố nội của mình, ai đụng tới nó là bắt đầu là mình sừng sộ lên, sân si lên, mình bung ra, nó là ông cố tổ của mình hay sao. Mình phải dùng những từ như vậy mới có cảm thọ, nó là kẻ thù vô lượng vô biên kiếp của mình đó mà mình yêu thương nó lắm, mình nghe lời nó dữ lắm, mình làm đầy tớ cho nó dữ lắm, cái bản ngã đó chà đạp mình, vùi dập mình.
Vợ chồng nói ra hai ba câu là cự lộn, cãi lộn, thậm chí bây giờ muốn đi là đi, muốn li dị là li dị, không sống nổi nữa, nó làm cho nhà tan cửa nát là cái bản ngã ác độc đó mà mình không thấy, mình nghĩ là do người này người kia mà thật ra là do bản ngã vô hình làm tan nát hết, nó giết hết hành tinh này, nó hủy hoại trái đất này luôn cho nên hôm nào sân lên bấm nút một cái là cả thế giới thành hoang tàn hết. Cái gì chế tạo ra vũ khí giết người hàng loạt? Chính là dục, sân, bản ngã, "dám đụng tới ta hả, ta cho mi chết, không những mi chết mà cả thành phố cũng chết luôn". Đó là cái bản ngã ác độc, ác ma cho nên chúng ta phải mạnh mẽ với nó, nó đã chà đạp mình vô lượng vô biên kiếp rồi mà giờ mình cứ sợ nó là sao? Khi thiền quán là mình dập nó cho banh xác, bắn nó tan tành, tan rã, tan hoang hết ra, thiền quán phải mạnh lên vì yếu là không quật được nó, phải có ý chí mạnh mẽ lên thì tất cả những cái mệt mỏi, đau nhức cũng không làm mình thối lui, "mày đã chết vì dục ái, vì vô minh, vì sân hận, vì tranh đấu vô lượng vô biên lần mà chưa lần nào chết vì tu thánh pháp, hôm nay tao cho mày chết vì tu thánh pháp".
Mình tác ý mạnh như vậy thì những cái mệt mỏi, ngáp ngủ, đau nhức chạy hết, "tao cho mày chết, mày chết một lần này thôi rồi mày bất tử. Mày sống vô lượng vô biên kiếp đến nay là mày dục, mày ái, mày vô minh, mày chết nhục chết nhã, chết bờ chết bụi, chết oan chết ức, chết mà còn bị xỉ vả, bị hành hình, chết mà còn bị còng, bị lôi, bị kéo, bị hành hình. Mày chết biết bao nhiêu lần nhục nhã, khốn khổ, đau khổ, tồi bại, hèn hạ, mày chết vô số, mày làm con chó mày chết, mày làm con giòi mày chết, mày làm con heo mày chết, mày làm con bò, con gà, con vịt mày chết, mày chết ở trong địa ngục là vô lượng lần rồi mà mày chưa bao giờ mà mày chết ở trong một cái vinh quang. Lần này tao cho mày chết vinh quang, tao cho mày chết được hiển hách, tao cho mày chết rực sáng với thánh đạo, thánh pháp, thánh trí, thánh quả. Mày chịu chết không? Tao cho mày chết để cho mày bất tử, mày không bao giờ chết nữa".
Mình tác ý như vậy đó, "sao mày ngu dữ vậy? Mày có vỡ cái đầu si mê, vô minh này ra không?". Ngày xưa bên Ni cũng có, bên Tăng cũng có các vị tự vẫn, tại sao cái dục cứ thống trị, cứ hành hạ mãi, vị Tỳ-kheo Ni này thắt cổ, vừa đưa đầu vào thòng lọng là đoạn tận tất cả các dục ái, diệt tận ái hết và chứng thánh A-la-hán ngay trên chỗ cái thòng lọng treo cổ.
"Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli, con gái của một người chị võ tướng Sìha. Do vậy, nàng được đặt tên là Sìha, như tên của người cậu của nàng. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp cho người cậu, Sìha trở thành một tín nữ và được phép cha mẹ cho xuất gia. Khi nàng tu tập thiền quán, nàng không thể chận đứng tâm tư nàng chạy theo những ngoại vật khả ý. Bảy năm bị dày vò, nàng kết luận: 'Làm sao ta thoát khỏi nếp sống uế nhiễm này. Ta hãy chết, tốt hơn'. Rồi nàng cột sợi dây trên cây, đút cổ vào thòng lọng để thắt cổ chết. Trong giây phút cuối cùng với sự cố gắng tinh thần chất chứa từ trước cho đến nay, nàng cố gắng triển khai thiền quán. Ðối với nàng đời sống hiện tại thật sự là đời sống cuối cùng, trong giờ phút cuối cùng, trí tuệ nàng được viên mãn, và với nội tâm thiền quán nàng chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ" (Tiểu Bộ Kinh, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm V. Tập Năm Kệ, (VL). Sìha (Therì. 131))
"Tao cho mày chết một lần để mày bất tử vĩnh viễn không bao giờ chết nữa", có một vị Tỳ-kheo tính leo lên núi nhảy xuống tự vận vì không thể đoạn tận được những cái dục, phiền não ở trong tâm, khi ngài sắp sửa nhảy xuống lúc đó là ngài diệt tận hết tất cả các lậu hoặc và chứng thánh quả tại chỗ.
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'. Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài" (Tiểu Bộ Kinh, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
Phải có một cái tâm quyết tử như vậy, hùng dũng như vậy, mạnh mẽ như vậy thì mình mới có thể phủ đầu được, mình mới có thể đánh ngã, đánh gục, đánh tan được những bọn ác độc, thầm lặng ở bên trong, những cảm giác, nghĩ tưởng này, nhận thức này. Đó là con chỉ cho chúng ta cái cách tác ý, cách tu, trị nó, cách chiến đấu, chiến lược, tác chiến ở trong trận chiến, chiến trường tâm linh thầm lặng, ở bên trong của chính mình.
VI. Trình pháp
Giới tử: Từ hôm đến giờ con chưa từng nghe một lần đạo sư thuyết giảng nhưng con mới nghe đạo sư đang bị ốm và con nguyện nếu có thể con có thể ốm và chết thay cho đạo sư được không. Đến giờ thì sáng nay là một sở thiền mà con rất là mãn nguyện, rất là tỉnh táo và tinh tấn, trong lúc thiền con lại nghĩ đến hình ảnh của sư phụ bị ốm, sao nó lại xuất hiện ở trong đầu của con. Lúc đó sư phụ nằm trên chõng tre, lẽ ra con không muốn chia sẻ nhưng tối qua con không nói rồi, sáng nay mà con không trình pháp thì không được nhưng con không thể nói sai được.
Ở trong suy nghĩ con hình ảnh lúc sư phụ ốm và lúc đó con như thế nào, rồi những suy nghĩ của con về gia đình, về ba đứa con rất là tuyệt vời, rất là đẹp, khi xuống núi thì con sẽ phải tinh tấn rất là nhiều để cùng các con của con hành trì ba pháp và ngũ uẩn. Phải tinh tấn liên tục, sau đó một thời gian nếu đủ duyên thì con cũng muốn là cả bốn mẹ con về núi xuất gia mãi mãi, con cũng không muốn là ba đứa con của con sẽ bị luân hồi, nếu mà được cả bố nữa thì càng tốt. Khi nghe sư phụ nói những hình ảnh của con trong tương lai con biết là con sẽ tinh tấn được như thế nào, bởi vì qua một thời gian ngắn vừa rồi, từng giây phút con cũng luôn luôn phải suy nghĩ là mình phải hành trì, mình phải tinh tấn, không một phút buông lơi, không một giờ sao nhãng.
Con thấy thương sư phụ, nhìn thấy hình ảnh đó là con lại thương, con không biết là con cần phải làm gì để có thể giúp đỡ được sư phụ. Con lại đọc thuộc cái bài cúng dường tối thượng, có nghĩa là bây giờ để giúp được chính bản thân con để cúng dường sư phụ một cách tốt nhất, đó là con phải thuộc pháp, thuộc kinh, phải hành trì tinh tấn liên tục, đó là cảm thọ của con ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Giới tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể các bậc hiền trí. Dạ con giới tử Hiền Như xin trình pháp. Hôm nay qua bài giảng của sư phụ con cảm nhận được sâu sắc những lời dạy của sư phụ, qua câu kinh "đối với chúng con các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa" làm cho con cảm thọ của con thật là hỷ lạc vì con thấy được tầm quan trọng của câu kinh này, đó là các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, con thấy sự quan trọng của việc học pháp và việc làm bạn với thiện, đó là mình giữ giới. Con hiểu là các pháp ở đây có nghĩa là mình phải thực hành nhận diện năm uẩn để mình thấy rõ được sự vô minh, dục ái, tham, sân, si, bản ngã trong cái ngũ uẩn này để nhiếp phục và từ bỏ nó.
Qua bài giảng của sư phụ con được như được tiếp thêm một sức mạnh để con được tiến tu và học pháp. Ý hành của con có suy nghĩ là sau khi trở về nhà con phải sắp xếp việc tu học nhiều hơn nữa để không phụ công ơn của sư phụ đã giảng dạy và không phụ ân đức của Thế Tôn đã để lại giáo pháp lý tham tối thượng này. Dạ con kính tri ân tam bảo, tri ân đức bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính tri ân sư phụ, quý thầy, quý sư cô và các bậc hiền trí. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.