Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thế Nào Là Bậc Chân Nhân

2026-03-03 00:54:40
THẾ NÀO LÀ BẬC CHÂN NHÂN

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lợi ích của một bậc chân nhân PAGEREF _Toc73101946 \h 1

II. Bốn Dự Lưu phần PAGEREF _Toc73101947 \h 3

III. Biết ơn và nhớ ơn PAGEREF _Toc73101948 \h 6

IV. Sáu trường hợp không thể xảy ra PAGEREF _Toc73101949 \h 11

V. Nhận biết chân nhân PAGEREF _Toc73101950 \h 12

VI. Vượt phàm phu địa PAGEREF _Toc73101951 \h 14

VII. Nhắn nhủ PAGEREF _Toc73101952 \h 17

I. Lợi ích của một bậc chân nhân

Phước của ai nấy hưởng. Đúng ra, buổi sáng nay Minh Thành muốn nói chuyện với đại chúng xuất gia và tập sự một bài kinh sâu sắc cho người xuất gia. Minh Thành có để dành những bài kinh rất đặc biệt để trưa nay nói chuyện với hai gia đình phật tử. Một gia đình ở 8000 cây số về đây và một gia đình ở Sài Gòn sáng nay lên tới. Nhưng bây giờ có duyên, thôi thì tặng cho quý phật tử ở 8000 cây số về trước; gia đình kia đến sau, tính sau.

Những bài kinh này rất quan trọng cho người phật tử tại gia và người xuất gia cũng vậy. Hôm nay, chúng ta sẽ học về bậc chân nhân, nói nôm na tiếng Việt của mình là người thiệt. Người thiệt nói theo chữ là người chơn chánh. Lúc Minh Thành đi qua Hồng Kông hoằng pháp, có cô phật tử lớn tuổi nói: “Thưa thầy! Thầy ơi con là người dởm. Con không phải người thiệt.” Lúc đó Minh Thành cũng hơi ngạc nhiên, thì cô mới giải thích là “con chưa có giấy.” Ai chưa nhập quốc tịch thì có một số người, người ta vượt biên qua không có đúng pháp, như vậy là người dởm.

Và lâu lâu mình cũng nghe nói là “bây giờ kiếm người thiệt khó lắm”,“kiếm người thiệt rất là khó”. Kiếm người thiệt khó không, cô Diệu Tịnh? Bây giờ kiếm người thiệt khó không? Người sống thực, người chân thành, thật thà đó, khó hay dễ? Đời giờ kiếm người thiệt khó hay dễ? Thấy khó hay dễ? Khó cỡ nào? Tức là, khó phải không? Hôm nay, mình sẽ nghe Đức Phật dạy mình, muốn làm người thiệt phải như thế nào?

Chân nhân là người thiệt, người chân chánh, người chân thành. Trước hết, bậc chân nhân sinh ra ở trong một gia đình nào là đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người. Bậc chân nhân này, người chân chánh này, sinh ra ở đâu thì sẽ làm lợi ích cho chỗ đó. Đây là bài kinh Chân nhân Tăng chi bộ tập II, trang 377:

“Bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, sinh ra trong gia đình, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho mẹ cha; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho vợ con; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các người hầu hạ, làm công; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho bạn bè, thân hữu; đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho các Sa-môn, Bà-la-môn.

Này các Tỷ-kheo, ví như trận mưa lớn đem lại các mùa gặt được nhiều chín muồi, đưa lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho nhiều người.”

(Kinh Tăng Chi Bộ tập II - Bài kinh Bậc Chân Nhân)

Như vậy, bậc chân nhân này sinh ra ở trong một gia đình nào thì người này sẽ làm cho gia đình đó có lợi ích, có hạnh phúc, có an lạc. Đem lại lợi ích hạnh phúc và an lạc cho ai? Cho cha mẹ, vợ con, người hầu hạ, người làm công, bạn bè thân hữu và các vị sa môn, bà la môn, tức những người tu tập ở đó. Vậy thì, điểm đầu tiên mình xem mình có phải là bậc chân nhân chưa? Mình có đem lại lợi ích cho cha mẹ, vợ con, người hầu, bạn bè và những người tụ tập ở ngay chỗ mình ở chưa?

Ở đây, Đức Phật định nghĩa rất nhiều phương diện. Minh Thành sẽ nói những điểm chính thôi. Các lợi ích nhờ bậc chân nhân trong kinh Tăng chi bộ tập II trang 271, Đức Phật nói là “nhờ nương tựa vào bậc chân nhân. ‘‘Này các Tỳ kheo, chờ đợi là bốn lợi ích.’’ Lúc nãy nói lợi ích chung, rộng; bây giờ nói vô lợi ích cụ thể. Bốn lợi ích mà mình nương tựa nơi bậc chân nhân là gì? Thứ nhất là lớn mạnh nhờ thánh giới, lớn mạnh nhờ thánh định, lớn mạnh nhờ thánh trí huệ và lớn mạnh nhờ thánh giải thoát. “Này các Tỳ kheo, nhờ nương tựa vào bậc chân nhân mà chờ đợi là bốn lợi ích này.”

Ở đây Minh Thành chỉ nói lợi ích thứ nhất thôi, chứ bốn lợi ích này lớn lắm. Tức là do mình được ở gần, được sống chung, mình được làm bà con, thân nhân với bậc chân nhân nên lợi ích đầu tiên là mình sẽ được lớn mạnh trong thánh giới. Như vậy, bậc chân nhân, điểm đầu tiên của họ là gì? Ở trong bài kinh Các học pháp, Đức Phật nói rất rõ là thành tựu được giới hạnh. Mình học ở đây, mình sẽ biết được những tiêu chuẩn của chần nhân ,và mình muốn trở thành chân nhân, mình sẽ làm theo những tiêu chuẩn này là được.

Là hạng người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu. Người này được gọi là bực chân Nhân. Đức Phật định nghĩa: từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, tức là năm giới, giữ được năm giới; từ bỏ tà hạnh trong các dục tức là ngoại tình, tà dâm, không chung thủy. Từ bỏ điều đó. Từ bỏ nói dối, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, những chất làm say sưa, do đó năm điều kiện này gọi là năm giới. Nó là căn bản, là nền tảng, là gốc rễ của người tu - dù cho là người tại gia hay là phật tử xuất gia. Cho nên, mỗi ngày đừng chú trọng nhiều vô tụng chú hay niệm phật mà quên cái phần giới. Mỗi ngày trước bàn Phật mình phải đọc lại năm giới và tam quy.

II. Bốn Dự Lưu phần

Có một bài kinh, Đức Phật cũng nói rất rõ, bài kinh mà đức Phật nói về bài kinh Bạn bè thân hữu. Bây giờ Minh Thành nói tới đâu là dẫn chứng kinh, chứng minh cho quý vị thấy chứ không nói chung chung. Bài kinh Bạn bè thân hữu, kinh Tương ưng bộ, tập V, Đức Phật nói :

“Những ai, này các Tỷ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, những ai mà các Ông nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè, thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được các Ông khuyến khích, áp đặt, an trú trong bốn Dự lưu phần. Thế nào là bốn?”

(Kinh Tương Ưng Bộ tập V, bài kinh Bạn bè thân hữu 2)

Những ai mà các ông có lòng từ mẫn, những ai mà các ông nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè thân hữu hay bà con hay cùng một huyết thống, các người ấy cần phải được các ông khuyến khích, áp đặt an trú trong bốn dự lưu phần.

Bài kinh có tên là Bạn bè thân hữu, Đức Phật nói:

Này các đệ tử, các ông mà những ai mà các ông thương, những người mà các ông nghĩ rằng những người đó là bạn thân của mình, là bà con của mình, hay là huyết thống của mình, tức là cha mẹ, anh chị em của mình, thì mình phải khuyến khích những người đó.

Thêm từ nữa là “áp đặt”. Từ này hơi mạnh, áp đặt để làm gì? Giúp cho họ an trú trong bốn dự lưu phần, giúp cho họ được có đủ bốn điều này. Thứ nhất là khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú vô trong tịnh tính bất động đối với Đức Phật; tịnh tính bất động đối với giáo pháp; tịnh tính bất động đối với Tăng và tịnh tính bất động đối với thánh giới. Đây là mình trả ơn rồi đó. Những người thân, cha mẹ, ông bà, anh chị em của mình, mình làm sao phải cố gắng khuyến khích họ, giúp cho họ có đủ bốn điều này. Tại vì bốn điều này là bốn điều kiện để vào vòng thánh, là bốn điều kiện để chính thức trở thành người phật tử chân chánh của Phật; là bốn điều kiện để chấm dứt ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Cho nên, mình phải khuyến khích, nhưng mình phải biết, mình mới khuyến khích chứ. Vậy bốn điều là gì? Ở đây, Minh Thành nói trước để quý vị biết bốn điều này. Quý vị nghe bốn điều này, mỗi ngày quý vị đọc tụng và thành tựu được niềm tin không dao động với bốn điều này, thì sau đó mình mới giúp cho người thân mình đi vào an trú ở trong bốn điều này được.

Như vậy, bốn điều này là lòng tin không dao động đối với Đức Phật. Ngày nào ở trước bàn Phật mình cũng phải đọc. Minh Thành sẽ gửi cho quý vị tờ giấy có bài kinh này. Phải thành tựu với niềm tin bất động với Đức Phật là bậc Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hạnh Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn! Không phải nói suông theo cái chữ đó mà mình phải hiểu được cái nghĩa trong đó. Và dầu cho cái thân tứ đại của mình có đổi khác nhưng nhất định mình không thay đổi khi mình thành tựu niềm tin bất động đối với Phật. Người thành tựu được niềm tin bất động như vậy sẽ không bao giờ sanh vào trong địa ngục, súc sanh hay ngạ quỷ. Đây là điều thứ nhất.

Điều thứ hai là đối với Pháp, đối với Tăng và đối với Thánh giới. Nói điều này thì Minh Thành trở lại điều lúc nãy nói với quý vị là ngày nào lên trước bàn Phật, quý vị cũng nói bốn Pháp quy y và năm giới. Thường thường mình nghe ba, phải không? Bây giờ mình thêm một là quy y với Thánh giới. Tại vì nếu mà không có giới này, mình dễ rơi vào ba đường ác. Mình phải nhắc, “con tên.., tuổi... Hôm nay con xin phát nguyện, trọn đời con trở về nương tựa với Đức Phật, với giáo pháp, với chư tăng và với thánh giới!” Tại sao gọi là thánh giới? Nói giới là được rồi, tại sao là thánh giới? Tại vì thánh ở đây là bậc thánh thiện, chỉ cho Đức Thế tôn, bậc chánh đẳng giác, toàn giác, cứu cánh giác, đại giác. Giới này không phải với bình thường, những cái điều lệ mà mình giữ gìn ở đây không phải là một người bình thường đặt ra. Không phải của công ty, xí nghiệp, một tập thể nội quy quy định ra.. Không phải. Điều này là của bậc Chánh đẳng giác Như Lai Thế Tôn.  

Cho nên, điều này gọi là thánh giới, không phải là giới bình thường. Nên mình phải đem cả một cuộc đời của mình nương tựa giới pháp này. Nếu không có giới này, mình sẽ rơi trong những đường khổ, không bảo đảm. Có được giới này mới đủ lực, có được bốn phần này gọi là bốn dự lưu phần, bốn phần này sẽ được đưa mình dự lưu, tức là tham dự vô vòng của chánh pháp, của thánh trí, gọi là bốn dự lưu phần. Con suốt đời về “nương tựa Phật, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng, nương tựa Thánh giới! Con suốt đời từ bỏ sát sanh; từ bỏ trộm cấp lấy của không cho; từ bỏ tà hạnh trong các dục; từ bỏ nói dối; từ bỏ uống rượu men rượu nấu, những chất say sưa.” Ngày nào trước bàn Phật mình cũng đọc bốn dự lưu phần và năm giới. Cái đó còn quan trọng hơn là mình niệm Phật. Tại vì niệm, mình đâu có nhớ giới. Cho nên, đó là điều thứ nhất.

Lúc nãy nói, nương tựa bậc chân nhân thì mình có bốn lợi ích: lớn mạnh nhờ thánh giới, lớn mạnh nhờ thánh định, thánh trí huệ và thánh giải thoát. Trong kinh tạng Nikāya nói rất kỹ, không nói chung chung giống như giới-định-tuệ. Lược bớt cái đó là thiếu. Đây dùng là thánh giới, thánh định, thánh trí huệ và thánh giải thoát.  

Tức là cái định này không phải là định bình thường, cái sự làm cho tâm bình an, tâm tĩnh lặng này là cái phương pháp cách thức làm cho tâm bình an tĩnh lặng này là của bậc đại thánh. Đức Thế Tôn. Chứ không phải là cái tâm bình an thường thường của mình đi du lịch, dã ngoại hay là của để mình lại ngồi yoga. Không phải. Cái đó là phàm phu định, là tà định, là cái tâm thảnh thơi của người bình thường. Còn tâm an định này là thánh định, là của Đức Thế Tôn. Chỉ có bậc chân nhân mới chỉ mình cho mình cái tâm an định này.

Thánh trí huệ là sự hiểu biết thấu đáo mà không phải cái hiểu biết bình thường của trí thức, của tưởng tượng; không phải tưởng tri, không phải thức tri, mà là cái biết của tuệ tri, thánh trí huệ. Có sự giải thoát, sự tháo gỡ, cởi mở thảnh thơi, tự tại này không phải là sự thảnh thơi bình thường của người phàm, mà đây gọi là thánh giải thoát. Bốn điều này chỉ có bậc chân nhân mới đem lại cho mình. Cho nên, điều kiện thứ nhất để trở thành bậc chân nhân, người chân chánh, là người đó phải đầy đủ về giới hạnh, giới đức. Đây là yếu tố thứ nhất để mình xét người đó có phải là chân nhân không, người thiệt hay là người dởm.

III. Biết ơn và nhớ ơn

Yếu tố thứ hai là gì? Trong bài kinh Đất, Tăng chi bộ tập I, trang 118, Đức Phật nói:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là địa vị bậc không phải Chân nhân?

Người không phải Chân nhân, này các Tỷ-kheo, không biết ơn, không nhớ ơn. Đối với những người độc ác, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn. Đây hoàn toàn là địa vị kẻ không Chân nhân, này các Tỷkheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn.

Còn bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Đối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn. Đây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là biết ơn, nhớ ơn.”

(Tăng Chi Bộ tập I, bài kinh Đất)

Lúc xưa, Minh Thành chưa học bài kinh này, nhưng đối với pháp biết ơn nhớ ơn này, mình khắc vô trái tim. Minh Thành mới thấy đúng là những điều Đức Phật dùng cái từ là “đặc tánh” của họ, đặc tánh của thiện nhân và chân nhân. Người hiền thiện, người tốt lành hoặc người chân chánh, là người đó luôn luôn biết ơn và nhớ ơn. Không thể có một bậc chân nhân mà người đó lại vô ơn bội nghĩa được.

Cho nên, đặc tánh của người thiện nhân, chân nhân là người đó luôn nhớ ơn, biết ơn, cảm ơn; luôn tìm mọi cách để đền ơn đối với những người đã tri ân với mình. Ai là người có ơn với mình? Ông bà, cha mẹ, cô bác, anh chị em ruột của mình, vợ chồng, bạn bè. Đó là nói ngoài đời. Ai là người có ơn với mình trong đạo ? Tam bảo, Thầy, Tổ, bậc thiện tri thức, họ hướng dẫn mình tu học, biết đâu là thiện, là ác, đâu là chính, là tà, đâu là con đường giải thoát. Ai là những người có ơn với mình?

Thậm chí, những người phụ giúp việc cho mình cũng là có ơn với mình. Tuy họ nhận đồng tiền của mình nhưng họ có thương mình, họ có giúp, có lo lắng cho mình. Nếu không giúp mình thì họ làm việc cẩu thả, có khi cháy nhà, có khi ảnh hưởng tới con nhỏ của mình, ảnh hưởng tới tài sản của mình.. Như vậy, mình có biết ơn nhớ ơn những người đó không, hay là mình đi học để mình về với Phật, còn cha mẹ, mình không biết tới; ông bà, mình bỏ qua một bên? Vợ chồng sống chung với nhau lâu rồi toàn nhìn cái lỗi, cái xấu của nhau, toàn là bới móc những cái dở của nhau không..?

Cho nên cái tu của mình, mình nhìn lại, xem có phải mình đang tu học chân chánh không, có phải chân nhân không? Cái này quan trọng lắm. Bậc chân nhân, đặc tính của họ là luôn luôn biết ơn, nhớ ơn những người mình đã thọ ơn. Làm ơn cho người ta, mình không mong cầu báo đáp, nhưng nhận cái ơn của người ta thì mình không thể quên được. Tuyệt đối không được quên khi mình nhận ơn của người ta. Điều này rất quan trọng, cực kỳ quan trọng trong đời sống này. Nếu mình không có đặc tính này, mình là người giả, mình là ngụy nhân quân tử. Quên những người có ân.

Ân đức lớn nhất với mình là cha mẹ. Dầu cho cha mẹ có làm điều gì, bất cứ điều gì, mình đều không có lý do bất hiếu với cha mẹ, không có lý do quên ơn cha mẹ, càng không có lý do nói xấu, xem thường cha mẹ. Đây là thiện hạnh đứng đầu trong tất cả hạnh. Đức Phật nói trong bài kinh Phạm Thiên, bài kinh Bằng với Phạm Thiên, Tăng chi bộ tập I:

“Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên.

Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Đạo sư thời xưa.

Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.

Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ.

Các Đạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ.

Đáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ

Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là cha mẹ đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời.

Mẹ cha gọi Phạm Thiên,

Bậc Đạo sư thời trước,

Xứng đáng được cúng dường,

Vì thương đến con cháu.

Do vậy, bậc Hiền triết,

Đảnh lễ và tôn trọng,

Dâng đồ ăn đồ uống,

Vải mặc và giường nằm,

Thoa bóp (cả thân mình)

Tắm rửa cảchân tay.

Với sở hành như vậy,

Đối với mẹ và cha,

Đời này người Hiền khen,

Đời sau hưởng Thiên lạc. ”

(Tăng chi bộ kinh tập I, bài kinh Ngang bằng với phạm thiên)

 Cho nên, hai chữ biết ơn, nhớ ơn này rất quan trọng. Sau này mình ở đây sẽ làm Tri Ân Đường thay vì những chùa khác làm nhà Tổ, ở đây mình sẽ làm Tri Ân Đường. Đó là cái nhà để mình nhớ tưởng ân đức. Không phải chỉ việc của Thầy Tổ không thôi mà còn là của tất cả những người đã có ơn với mình. Cho nên, là một người tu, mình tuyệt đối không thể trở thành người vong ân bội nghĩa được. Ông bà là ông bà, cha mẹ là cha mẹ, cô bác là cô bác.

Có một vị là thánh tăng của Phật giáo Tây Tạng đã bị người dì cướp hết tài sản. Nhưng khi Ngài tu học, Ngài hiểu phật pháp rồi, lúc trước Ngài oán hận, lúc sau này Ngài nhẫn nhục hết, dầu bị đánh đập, bị ném đá, đập gậy cho đến cướp hết tất cả các tài sản.., Ngài cũng cảm ơn vì nhờ những người đó mà Ngài mới xuất gia, giác ngộ, Ngài mới thành thánh tăng. Còn sư phụ của Ngài thì ra tay tàn độc với Ngài nhưng mà giúp cho Ngài tẩy sạch hết tất cả những sát nghiệp lúc trước Ngài chưa xuất gia, và cuối cùng Ngài trở thành một vị thánh tăng, trở thành người được người ta tôn xưng là Phật Thích Ca của Tây Tạng, tôn xưng là vị Phật của Tây Tạng.

Cho nên, mình hãy để ý, có khi mình sống theo cách nhìn của thường tình, mình không thực tập nhìn theo giáo pháp thì mình sẽ không có vượt tiến lên được ở trong pháp và luật của Đức Thế Tôn. Nếu ai làm gì cho mình chướng ngại thì mình coi người đó là người chướng ngại, là kẻ chướng ngại, là vật chướng ngại của mình.., mà mình không nghĩ rằng, chính người đó đã giúp cho mình thành tựu được sự nhẫn nhịn, sự kiên trì, thành tựu được sức mạnh để vượt lên. Mình phải cảm ơn những người đó. Chính những người đó làm cho mình mạnh mẽ lên, kiên cường, vững chắc lên, và hết tất cả những người mình giao thiệp, toàn là những ân nhân, thi ân của mình hết. Không có cái tưởng, chướng ngại đối với người đó, đối với vật, sự việc đó; mà ngược lại là cái tưởng cảm ơn, biết ơn thì cái tâm mình không những không phiền não còn tăng thêm nhẫn lực, hùng lực, trí lực.

Nên, đặc tính tiếp theo là đặc tính biết ơn, nhớ ơn. Điều này dễ làm không, đối với những người có ơn nghĩa với mình ? Nãy giờ nói cha mẹ, nói con cái, nói vợ chồng đối đãi nhau như thế nào? Hỏi thử mẹ của cô Hương, bây giờ vợ chồng sống với nhau, mình có thấy rằng ổng có ơn với mình nhất hạng không? Lâu lâu có phiền não với nhau nhiều không? Nhiều lúc mình phiền não, mình giận lên, mình quên hết ơn nghĩa của nhau. Mình nhớ đến những lúc, chuyện làm là mình tức tối ghê lắm, rồi mình quên hết là người này giúp đỡ cho mình rất nhiều trong mấy chục năm qua.

Có khi không có người này mình sống không được, tại vì những lúc mình bệnh không có ai lo. Vợ chồng lo với nhau thôi. Hay là con cũng có ơn với mình rất nhiều, những lúc có lỗi hay sai gì, mình trút hết những cơn giận, mình quên những lúc bệnh hoạn, con đã lo cho mình. Thành ra, ngoài đối với cha mẹ, vợ chồng con cái, và anh chị em, cô bác.., mình nhìn kỹ, mình quán chiếu nhiều về biết ơn nhớ ơn, mình sẽ thay đổi cách suy nghĩ, cách nói và hành động của mình trong đời sống.

Trong đạo tràng cũng vậy, đối với thầy, đối với sư huynh, sư đệ, đối với những người phật tử công quả trong chùa.., mình phải luôn luôn nhìn thấy những người đó là người có ân, và nếu mình quên điều này đi là mình lọt ra khỏi cái con người thật, trở thành người giả rồi. Lúc mới vô chùa dễ thương thật dễ thương. Đức Thế Tôn gọi là “giống như cô dâu mới vô nhà chồng rụt rè, e thẹn, cẩn thận từng lời, từng hành động.”

Tới khi ở trong chùa lâu rồi, đó thì làm giống như cô dâu về nhà chồng lâu rồi, Đức Phật ví dụ trong kinh, Đức Phật nói tới nói lui rất nhiều, có khi bất kính với cha mẹ chồng, gây gỗ với chồng, mà lúc đầu thậm chí đối với người làm cũng rất e dè, người làm thuê làm công; ở một thời gian rồi cũng thay đổi, giống như mình vô chùa ở một thời gian lâu rồi quên, không còn nghe lời thầy nữa. Thấy sư huynh mình cũng thường thường thôi, chứ có gì đâu. Đó là thất bại rất lớn. Rồi xem thường phật tử, cư sĩ. Chỗ đó là chỗ mình đi xuống. Đức Phật nói đó là “những hạng người mình cần đáng tôn quý, tôn kính, tôn trọng, kính trọng, và đối với cha mẹ, đối với huynh trưởng, đối với thầy.., không có nên sanh kiêu mạng, mà phải kính trọng những người ấy, tôn kính những vị ấy, cúng dường họ.., mới là cái điều tốt lành.’’ Đặc tính vừa nói rất quan trọng, mình phải để ý và thực hành.

IV. Sáu trường hợp không thể xảy ra

Đức Thế tôn trong bài kinh Bậc đạo sư, Tăng chi bộ tập III, trang 254, Đức Phật nói:

“Này các Tỷ-kheo, có sáu trường hợp không thể xảy ra.

Thế nào là sáu?

Người đầy đủ tri kiến không thể sống không tôn kính, không tùy thuận bậc đạo Sư.

Người đầy đủ tri kiến không thể sống không tôn kính, không tùy thuận Chánh pháp.

Người đầy đủ tri kiến không thể sống không tôn kính, không tùy thuận chúng Tăng.

Người đầy đủ tri kiến không thể sống không tôn kính, không tùy thuận học pháp.

Người đầu đủ tri kiến không thể rơi trở lại vào những vấn đề không nên trở lại.

Người đầy đủ tri kiến không thể làm cho sanh khởi hữu thứ tám.

Này các Tỷ-kheo, đây là sáu trường hợp không thể xảy ra.”

(Tăng chi bộ kinh tập III, bài kinh Bậc Đạo Sư)

Đây là trường hợp thứ nhất. Người có đầy đủ tri kiến là người thành tựu chánh tri kiến rồi, thấy rõ pháp, hiểu rõ được đạo rồi, không thể sống mà không tôn kính, không tùy thuận bậc đạo sư. Người đó nhất định phải tôn kính, tùy thuận bậc đạo sư. Ở đây mình hiểu đạo sư là Đức Thế Tôn hoặc là vị thầy dạy dỗ cho mình tu hành mà chính mình đã chọn. Người đó thành tựu được quả Tu-đà-hoàn, vào vòng pháp, đã thấy rõ được cái pháp rồi thì không thể nào có thêm đời thứ tám nữa, đời thứ bảy là cuối cùng. Chấm dứt. Đây là nói tới bậc thành tựu chánh tri kiến.

Cho nên, bây giờ mình chưa thành tựu chánh tri kiến, mình phải học theo sáu cái điều này. Thứ nhất là phải tôn kính, thuận theo bậc Đạo sư; thứ hai là tôn kính thuận theo Pháp, tôn kính thuận theo Tăng, tôn kính thuận theo học pháp. Học pháp là những điều Đức Thế Tôn đã quy định, đã chỉ dẫn, đã chỉ dạy trong kinh tạng Nikäya. Tức là tôn kính, thuận theo học pháp, học pháp là nãy giờ mình nói, nhưng ở đây là điều kiện của bậc chân nhân. Những người tiếp theo là không thể rơi lại vào những vấn đề không nên trở lại. Và cuối cùng là không sanh khởi thêm cái hữu thứ tám.

V. Nhận biết chân nhân

Như vậy, mình thấy là bậc chân nhân có những cái yếu tố rất quan trọng. Nói về sự nhận định các bậc chân nhân ở trong bài kinh Vasakara, vị Bà-la-môn là vị đại thần của nước Ma-kiệt-đà hỏi Đức Phật: “Thưa tôn giả Gotama, bậc không phải chân nhân có thể biết được một người không phải là chân nhân hay không?”.

Đức Phật nói là “Không được, không phải chân nhân thì không thể biết được một người không phải chân nhân.” Điều này dễ hiểu không? Không phải là chân nhân thì mình không thể biết được người đó có phải là chân nhân hay không, vì mình đâu có biết cái pháp chân nhân là gì. Quý vị hiểu không? Ví dụ, mình không phải là bác sĩ, mình là người ở dưới quê, dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, có bác sĩ xuống, mình có biết được ông đó là bác sĩ không nếu không nói?

Ví dụ cụ thể, chữ ‘’chân nhân’’ đây mình có thể ví dụ như là chữ thánh nhân vậy. Mình không phải thánh nhân thì làm sao mình biết người đó không phải là thánh nhân? Nói vậy thì dễ hiểu, phải không? Trường hợp thứ hai: “Thưa tôn giả Gotama, không phải chân nhân có thể biết bậc chân nhân không?”. Đức Phật nói: “Không, không có trường hợp đó.”

Trường hợp thứ ba: “Có cơ hội để một người chân nhân có thể biết được một người phải là chân nhân?” Đức Phật nói:“Có.” Tức là, một người là chân nhân có thể biết được một người kia là chân nhân, tức là một người này đã là thánh nhân rồi biết người kia là thánh nhân. Trường hợp này thì có. Trường hợp cuối cùng: “Một người chân nhân có thể biết được một người không phải là chân nhân, được không?”.“Được”.

Cho nên, chỗ này mình phải học thêm, điều này rất quan trọng. Mình là một người phàm phu, không thể biết được người đó là thánh nhân, không thể nào mình biết được. Chỗ này rất quan trọng. Làm sao mình biết được vị đó là phàm tăng hay là thánh tăng? Bởi vì mình dự đoán, mình lấy cái suy nghĩ, cái cảm giác, những cái tưởng của mình và mình đoán người đó. Cho nên, không thể nào mình biết được. Vì thế, mình không được xem thường, nhất là người cư sĩ , cung kính tất cả.

Hay người xuất gia cũng vậy, đối với người xuất gia, cung kính tất cả. Làm sao mình biết được? Nãy giờ mình học trường hợp này để thấy, nếu mình không phải là thánh nhân làm sao mình biết được người đó là thánh nhân? Bài kinh này rất hay. Không được xem thường, thậm chí là những người cư sĩ, người ta tu thành tựu thánh đạo, thánh quả, mình không phải là thánh đạo, thánh quả thì làm sao mình biết được? Điều này rất quan trọng. Nếu mình gặp một bậc thánh nhân mà mình phỉ báng hay có ý niệm xem thường thì mình vĩnh viễn phải chìm trong những chỗ tăm tối dài lâu.

Tại vì bậc thánh nhân, bậc chân nhân đó, nếu nhà mình cung kính, mình tôn trọng, người ta sẽ chỉ cho mình thánh đạo thánh quả. Bởi vì mình xem thường mình, thậm chí phỉ báng thì mình mất cơ hội thánh đạo thánh quả; vô cùng tận, có khi vĩnh viễn chìm trong bóng đêm. Dù cho người đó là một vị cư sĩ nhưng có thể người ta thành tựu thánh đạo, thánh quả. Mình đâu có biết. Phải thánh nhân với thánh nhân mới biết. Phải chân nhân với chân nhân mới biết. Nhiều khi trong nhà của mình, người thân của mình mà người ta là người chỉ là cư sĩ hay xuất gia thì càng không thể nữa.

VI. Vượt phàm phu địa

Thành tựu ít nhất vào trong bốn đôi tám chúng của Phật rồi, tức là từ hướng dự lưu đã là vào tám chúng của Phật rồi, hoặc là dự lưu thánh quả rồi. Thành ra, có những trường hợp rất nguy hiểm, không được xem thường, luôn luôn phải cung kính, nhất là những vị thâm nhập tạng kinh này, tu hành trong tạng kinh này, mình phải cẩn thận. Trong tạng kinh Nikāya, những vị đã nắm hết những tư tưởng này ở trong đây, hành trì ở trong đây. Hôm trước mình học bài kinh Vượt khỏi địa vị của phàm phu địa, trì tín thành, trì phát thành.

Bài kinh Con mắt trong Tương ưng bộ kinh :

“Này các Tỷ-kheo, mắt là vô thường, biến hoại, đổi khác. Tai là vô thường, biến hoại, đổi khác. Mũi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Lưỡi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Thân là vô thường, biến hoại, đổi khác. Ý là vô thường, biến hoại, đổi khác.

Này các Tỷ-kheo, ai có lòng tin, có tín giải đối với những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy tín hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.

Với ai, này các Tỷ-kheo, kham nhẫn một ít Thiền quán, như vậy với trí tuệ về những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy pháp hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy, phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.

Với ai, này các Tỷ-kheo, đối với những pháp này, biết rõ như vậy, thấy như vậy, vị ấy được gọi là đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc hướng đến giác ngộ.”

(Tương Ưng Bộ Kinh tập III – bài kinh Con mắt)

Cho nên, sự tu học của mình nếu đi đúng chánh pháp là mình đang đi trên thánh đạo. ‘’Đạo” là con đường,“thánh” là Đức Thế Tôn. Là con đường của Đức Phật. Mình đang đi trên con đường của Đức Phật là đi trên thánh đạo và chắc chắn sẽ có thánh quả. Sớm chiều thôi, không xa.

Trở lại điều kiện quan trọng của bậc chân nhân: là cung kính, là biết ơn, là tôn trọng, rất quan trọng. Mình thấy mấy điều trong bậc chân nhân này, thứ nhất là giữ gìn giới hạnh, và Đức Phật còn nói trong đoạn sau:

“Này các Tỳ kheo, thế nào là bậc chân nhân và còn hơn bậc chân nhân nữa? Tức là không những người đó giữ gìn với hạnh mà còn khuyến khích cho những người khác giữ gìn với hạnh; chẳng những người đó không sát sanh mà còn khuyến khích những người khác không sát sanh; người đó không có lấy của không cho mà còn khuyến khích người khác không có lấy của không cho; không có tà hạnh trong các dục mà còn khuyến khích người khác không tà hanh trong các dục; không có nói láo mà còn khuyến khích cho người khác không nói láo; không có uống rượu, sử dụng những chất say sưa mà còn khuyến khích cho những người khác không sử dụng những chất say sưa.’’

Đức Phật nói:“không những là bậc chân nhân mà người này còn hơn những bậc chân nhân nữa.” Và đặc điểm thứ nhất, điều kiện thứ nhất, yếu tố thứ nhất để tác thành bậc chân nhân là giới hạnh.

Điều đầu tiên chúng ta nói là bậc chân nhân xuất hiện ở đâu, trong gia đình nào là lợi lạc trong gia đình đó, cha mẹ, cô bác, anh chị, ông bà, anh chị em, bạn bè thân hữu, thậm chí người làm công cũng được lợi lạc. Đó là cái điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là tại sao được lợi lạc? Người đó thành tựu giới hạnh. Trong giới hạnh đó có đức hạnh, đó là sự biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, đền ơn. Trả nợ đức hạnh của bậc chân nhân với hạnh và đức hạnh lúc nào người đó nghĩ về người khác lại nghĩ cái ơn của người khác đối với mình.

Một điểm Đức Phật nói đặc tính của người chân nhân là khi nói về ai, nếu có người ta hỏi thì người này cũng e dè, cũng rụt rè, cũng không muốn nói về cái lỗi xấu của người khác, huống là không có người hỏi. Một đặc tính nữa của bậc chân nhân về đức hạnh là người này không nói lỗi của người khác, không khen mình chê người, thầy đọc nguyên văn luôn là “không có khen mình chê người”.

Trong kinh Bậc chân nhân, Tăng chi bộ tập I, trang 699 :“Bậc chân nhân là thế nào? Dầu không được hỏi cũng nói lên lời tán thán người khác, còn nói gì nếu mà được hỏi.” Người này luôn luôn tán thán, khen ngợi những người khác. Chưa có ai hỏi về cha mẹ mình, huống nữa là hỏi mình tán thán đức hạnh của cha mẹ mình. Của vợ chồng mình, của con cái mình hay là thầy mình, của những người có ơn với mình. Hôm nay mình không phải là chân nhân nên mình nói, có khi nói về vợ chồng mình nói xấu nhiều hay nói tốt nhiều? Người ta hỏi,  “thôi chán quá, muốn chết luôn..’’ Mình toàn là nhìn cái tiêu cực thôi. Thầy mình nữa, chỗ đau đớn nhất làm Minh Thành thấy rất xót xa là mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết gia đình, mình vô, mình chê lại thầy mình. Cực kỳ nguy hiểm. Vậy thôi, mình đi theo thầy làm gì, cái này nhiều lắm, không phải là một đạo tràng, rất nhiều.

“Nếu mà được hỏi phải trả lời không dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lời tán thán người khác,  nói đầy đủ và toàn bộ. Đó là đặc tính của bậc chân nhân. Dù không được hỏi, vẫn nói lên lời không có tán thán về mình, còn nói gì nếu mà được hỏi; nếu mà được hỏi và phải trả lời, thì không có dè dặt, không ngập ngừng, vị ấy nói lên lời không có tán thán về mình, đầy đủ và toàn bộ. Cần phải được hiểu như vậy. Này các Tỳ kheo, vị này là bậc chân nhân.’’  Không có khen mình, không có chê người. Khi nói về những điểm tốt của mình không có khen ngợi mình. Đó là cái đức hạnh tiếp theo của bậc chân nhân.

Tiếp theo nữa là làm cho những cái người nương tựa mình lớn mạnh ở trong thánh giới, thánh định, thánh tuệ và thánh giải thoát; đặt những người thân của mình đi vào quy y Tứ bảo và năm giới; nương tựa Phật, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng, nương tựa Thánh giới. Luôn luôn nói thực tập năm giới pháp, bốn dự lưu phần, niềm tin bất động đối với Phật, đối với tại Pháp, đối với Tăng và đối với Thánh giới. Như vậy, điểm cuối cùng là làm sao để mà mình nhận biết được một bậc chân nhân, mình phải là chân nhân. Nếu mình chưa là chân nhân thì mình không biết được, cho nên mình cung kính, tôn trọng đối với tất cả. Nhắc lại, nhất là những vị thông đạt và tu tập trong bộ kinh Nikäya này, cẩn thận, cung kính, dù là cư sĩ, dù là những người rất nhỏ.., mình không thể nào biết được người đó là thánh nhân, tại vì mình là phàm phu.

VII. Nhắn nhủ

Hôm nay, thầy muốn chia sẻ một điều cho gia đình Phật tử từ 8000 cây số trở về đây, mong muốn rằng, trong gia đình phải luôn luôn sống trong tinh thần biết ơn, nhớ ơn nhau, biết tôn trọng nhau, biết thương mến, biết xây dựng một gia đình theo tinh thần của Đức Phật dạy: hòa hợp, an lạc theo giới pháp, theo sự quy tín Tam bảo, biết làm giảm thiểu cái khổ cho nhau, ta tu tập cho đến chỗ chấm dứt cái khổ, đừng gây thêm cái khổ cho nhau. Phải luôn luôn nhìn lại nội tâm mình, để thấy lúc nào có tham, lúc nào có sân hận, lúc nào có bản ngã..; lúc đó mình nói với những lời nói gì, lời nói đó là lời nói của tình thương, của sự quan tâm, cảm thông hay là lời nói đó của sân hận, của ta đây, của cống cao, của bản ngã..

Và những lời nói, ý nghĩ này, những hành động này sẽ làm đổ vỡ hạnh phúc của gia đình. Ta đi ngược lại những lời dạy của Đức Thế Tôn sẽ tăng thêm thống khổ, khổ ách, khổ nạn, khổ não, khổ lụy. Và mình nhớ Đức Phật dạy: chân nhân là người luôn luôn biết tôn kính, kính trọng, biết tôn trọng tất cả những người bà con quyến thuộc, ông bà cha mẹ, cô bác, anh chị em, vợ chồng, con cái, thậm chí người làm công cho mình. Phải nhìn thấy được phương diện họ đã giúp đỡ mình, ân nhân của mình, thì mình sẽ có một cuộc sống theo tinh thần Đức Phật dạy của người chân nhân.

Trong phần chân nhân, Minh Thành chỉ nói tới đó thôi, chứ còn mức cao nữa. Tức là vị chân nhân đó thực hành bát chánh đạo, nhưng ở đây Minh Thành chỉ dừng lại ở phần vừa vừa thôi. Mình có thể nhìn ra được người đó là thiện nhân, chứ mình không thể nhìn ra được người đó là thánh nhân. Trở lại vấn đề ở đây, Minh Thành sẵn nhớ, một phật tử mới đề cập, Minh Thành nhắc lại điều này quan trọng. Đa số người học Phật là có một sự hiểu chưa chính xác về tu tập, mình nghĩ rằng mình tu, khi mình ngồi lại, mình tìm được cái tâm thanh tịnh, hoặc là chỉ có một câu niệm Phật thôi, hoặc là ngồi tâm yên lặng thanh tịnh.., thì lúc đó là mình tu giỏi. Đại đa số ai cũng nghĩ vậy. Điều này không chính xác. Bây giờ Minh Thành hỏi một câu hỏi, quý phật tử nếu ai trả lời đúng là thưởng lớn. “Người tu khá là ngồi thấy được cái gì?” Cho tất cả quý phật tử cư sĩ. Bây giờ thường thường mình nghĩ, mình tu khá, tu giỏi, tu tốt là khi mình ngồi, cái tâm mình yên lặng, nhẹ nhàng hoặc là câu Phật hiệu thôi. Vậy là mình tu giỏi. Nhưng thầy nói, cái đó là chưa có chính xác. Nếu người tu giỏi là phải thấy được cái gì lúc mình một mình ngồi yên lặng trở lại? Hoặc là thường thường mình phát hiện ra được cái gì ở trong nội tâm của mình mà gọi đó là người tu giỏi, tu khá? Không ai lãnh thưởng hết, không ai muốn lãnh thưởng hết. Cô cầm micro nói cho mọi người cùng nghe.

Ban cho sanh chúng những lời Phật trao.”

Minh Thành xin chia sẻ chỗ này một chút. Nói một cách đơn giản, người tu khá là những người đó luôn luôn nhìn lại cảm giác của mình, để phát hiện ra được tham sân si và bản ngã của mình hoạt động như thế nào. Đó mới là người tu khá, tu giỏi và thành tựu chánh tri kiến của đạo Phật. Tại vì người phàm phu, người không biết tu thì họ cứ nhìn người ta, cứ nhìn người này lỗi, nói người kia lỗi thậm chí những người ân nghĩa của họ, họ cũng nhìn thấy toàn sai lỗi. Còn người chân nhân, người chân tu, người thật tu, người tu khá thì người đó quay trở lại để nhìn tham sân si, muốn thấy được nó thì phải ở trong cái cảm giác. Luôn luôn họ nhìn lại cảm thọ của cảm giác để họ thấy được cái tham sanh khởi lên như thế nào, nó hoạt động như thế nào, nó chi phối mình như thế nào? Phải thấy được cái sân, cái nóng giận của chính mình, nó sanh khởi như thế nào, nó hoạt động như thế nào, và nó thiêu đốt mình, hoành hành như thế nào trong nội tâm của mình?

Chẳng hạn, lúc nãy cô Diệu Tịnh đọc bài để tán thán Minh Thành. Minh Thành xem lại trong lúc nghe bài đó, tâm mình như thế nào, có khởi lên cái cảm giác thích thú, khoan khoái, mình có thấy mình vui sướng ở trong đó hay không? Lúc đó Minh Thành phải nhìn, phải xem lại, trong đó mình có cái tham, cái bản ngã không? Điều này quý phật tử dễ không? Nó khác hoàn toàn với cái thông thường của mình quan niệm, là luôn luôn lúc nào mình cũng nhìn lại nội tâm của mình: có tham hay không có tham, có sân hay không có sân, nội tâm hiện giờ có tỉnh táo, sáng suốt không hay là nó đang trong trì trệ, si mê, xem hiện tại lời nói, hành động của mình đó có phải từ cái bản ngã, cái tôi, cái ta đây của mình phát xuất không; thấy được tham sân si, thấy được bản ngã thì người đó mới thành tựu trí huệ. Còn nếu không thấy gì hết, cứ thấy người ta thôi, thấy mình tốt thì cái đó là vô minh, chưa có thấy được mình. Cho nên, thiền Tứ niệm xứ là quay trở lại nhìn để nhìn thân, tự thân và tự tâm của chính mình. Nhìn thấy lại thì mình sẽ phát hiện, khi mình phát hiện rồi mình sẽ có cách nhiếp phục, chuyển hóa và trọn diệt nó. Cho nên sự phát giác ra được tham sân si của chính mình, những cái xấu dở, những cái phiền não của mình là một sự thành tựu rất vĩ đại của người tu.

Sự thành tựu vĩ đại của người tu là sự phát hiện ra, thấy được bản ngã hoạt động, cái ta đây, sự nóng giận, sự tham muốn, sự ganh tỵ.. Những cái xấu xa nhất trong nội tâm mà mình thấy được hết là mình đã thể nhập trí huệ. Cái này là sự thật phũ phàng. Mình tưởng mình tu cao, mình hơn người ta hết, mình đặc biệt. Không phải. Mình thấy cái này, mình xấu hổ và nhục nhã; mình e thẹn, tàm quý, xấu hổ, nhục nhã vô cùng khi mình thấy cái tâm của mình nó thực sự là như vậy, thì đó là thành tựu trí huệ. Người này luôn luôn khiêm tốn khiêm hạ, luôn nhún nhường và rất xấu hổ, dùng danh từ theo ngoài đời là nhục nhã vô cùng. Tại sao nội tâm của mình là như vậy? Bây giờ mình mới phát hiện ra, trước giờ mình không thấy, mình tưởng mình ngon lắm. Một ví dụ đơn giản, người tu luôn luôn lúc nào cũng soi gương, người tu giỏi là người lúc nào cũng soi gương, lúc nào cũng đặt cái gương trước mặt mình, để xem hiện tại mặt mình sạch hay đang dơ, đang đỏ hay đang trắng, đang dính sơn hay dính bùn? Đó là người tu khá, mới thành tựu trí huệ. Luôn luôn lúc nào cũng nhìn lại nội tâm của mình hết. Và khi mình nhìn lại như vậy mình mới phát hiện ra, phát hiện ra rồi mình xấu hổ. Và chính cái xấu hổ này đưa mình vào dòng thánh.

Quý phật tử xem lại cách tu của mình trước nay như thế nào. Coi chừng tu riết rồi thấy mình ngước lên trên, không ai bằng mình nữa hết. Điều đó là sai đường. Nhiếp phục bản ngã, đánh đổ cái ta đây, đập tan cái tôi, bắt nó quỳ xuống lạy người ta, bắt nó khiêm hạ, nhún nhường, bắt nó cung kính, tôn trọng tất cả mọi người. Đó là sự tu của trí huệ, thể nhập trí huệ.

Thấy được pháp là thấy được pháp ô nhiễm, dơ bẩn ở trong nội tâm mình. Thấy được pháp là thấy được cái xấu xa, tồi tệ nhất trong nội tâm của mình; thấy được pháp là thấy được cái vô minh ngạo mạn của mình đối với người khác, nhất là những người ân nhân, ân nghĩa, ân tình với mình. Mình vẫn vô minh, vẫn ngạo mạn đối với cha mẹ mình, đối với thầy tổ mình, đối với bậc thiện tri thức. Mình phải nhiếp phục nó, đập tan cái ngạo mạn đó, cho nó tan ra, vỡ ra, cho nó thành cát bụi. Đó là trí huệ, thể nhập trí huệ chân chánh của Phật giáo.

Hôm nay nói tới đây. Chúc cho các quý vị thể nhập chân thật trí huệ thánh trí.

Mời tất cả quý vị ngồi tĩnh lặng, trải tâm từ của mình ra, mở tình thương của mình ra, để tâm từ mở tình thương lan tỏa khắp đến tất cả những người mà mình oán ghét, mình buồn giận; trải tâm từ của mình, tha thứ hết cho những người làm mình phiền lụy. Trải hết tâm từ của mình đến những người thân thương, ân đức. Trải tâm từ của mình ra khắp cả căn nhà này, khắp vùng núi đồi này, trải tâm từ của mình lan tỏa hết linh quy pháp ấn, hết cả ngọn núi hàng ngàn hecta này, mở rộng tình thương ra hết trên dưới, Đông Tây Nam Bắc, khắp mười phương./.