Năm Triền Cái 3- Đối Trị Của 5 Triền Cái
5 TRIỀN CÁI 3
ĐỐI TRỊ CỦA NĂM TRIỀN CÁI
THÍCH MINH THÀNH
Thức ăn của nghi ngờ là 3 đời, nếu nói rộng ra là sự do dự, nghi ngờ về 3 đời. Ba đời đó là quá khứ, vị lai và hiện tại. Đối với quá khứ mình do dự, vị lai mình do dự, hiện tại mình cũng do dự. Đối với sự do dự đó mình sanh khởi lên sự suy nghĩ không chân chánh, không chính xác. Cho nên cái nghi chưa khởi thì sanh khởi, cái nghi đã khởi thì làm cho nó tăng thêm lớn mạnh. Đó là thức ăn cho nghi cái. Do mình không thành tựu trí 5 uẩn nên mới nghi ngờ không biết mình là ai, mình là người như thế nào. Nếu thành tựu trí 5 uẩn thì quá khứ mình là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Hiện tại mình cũng là sắc; thọ; tưởng; hành; thức và tương lai chắc chắn cũng là sắc; thọ; tưởng; hành; thức chứ không thể ra khỏi 5 uẩn này. Cho nên khi thành tựu trí 5 uẩn này là xác quyết phá vỡ nghi triền cái, chính vì vậy nên Minh Thành luôn chia sẻ với mọi người về pháp hành 5 uẩn để làm nền tảng cho việc phá vỡ 5 triền cái này. Không có gì trong trời đất này ra khỏi 5 thủ uẩn, tất cả sắc pháp nằm trong sắc uẩn, tất cả cảm giác nằm trong thọ uẩn, tất cả những cái tưởng, suy nghĩ và nhận thức đều trong đó. Như vậy 5 cái đó bao trùm hết tất cả vũ trụ vạn vật, cho nên dù cho trạng thái, hình dáng gì của chúng sanh cũng không ra ngoài 5 uẩn. Vì thế thành tựu được trí 5 uẩn sẽ phá được cái nghi ngờ trong quá khứ mình như thế nào, bây giờ mình là cái gì, sau này chết mình ra thành cái gì. Thành tựu được trí 5 uẩn sẽ phá được hết sự do dự.
Bây giờ mình bỏ đói, không cho 5 triền cái ăn. Nói rộng ra là mình làm cho nó giảm thiểu, chấm dứt, phá sập 5 triền cái này. Quán bất tịnh để trị tham dục cái, dùng những tư duy chân chánh mới làm cho tham dục chưa sanh sẽ không sanh khởi, còn tham dục đã sanh sẽ được đoạn tận. Nếu không quán bất tịnh thì chỉ thấy vị ngọt của sắc dục, chỉ thấy cái mặt đẹp mà không thấy mặt xấu, thấy cái mặt còn sống chứ không thấy cái mặt đã chết, thấy mặt hoa nở chứ không thấy mặt hoa tàn. Muốn trị tham dục thì phải nhìn cái mặt không sạch sẽ, cái mặt hôi thối, bất tịnh, cái mặt xanh bầm, đen nám, rỉ chảy bốc mùi, giòi bò lổm ngổm trong 2 tròng mắt. Mới nghe thôi đã thấy ngao ngán nên chỉ có cái này mới phá được dục tham. Dục tham bị phá là nhờ bất tịnh quán, chứ nếu không có bất tịnh quán thì không phá được triệt để dục tham. Nhiều khi mình nghĩ mình không khởi tham dục mà kêu mình quán nhưng gặp cảnh sẽ khởi, gặp đúng đối tượng sẽ khởi. Như vậy thì đâu phải không có mà tham dục ngủ ngầm, chưa thức dậy, tới khi thức dậy thì nó rất mạnh mẽ và nguy hiểm, nó sẽ đánh mình sụp đổ hoàn toàn. Trưởng lão Tăng kệ trong Tiểu Bộ kinh đã nói thời Đức Phật còn tại thế những bậc thánh Tăng, A-la-hán thành tựu thánh đạo, thánh quả toàn bộ đều nhờ bất tịnh quán.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49)).
Ngài thành tựu là do lúc đó định tướng của ngài rất vững chắc và kiên định. Pháp quán đó không phải đơn sơ, không phải quán trong vài ngày, hay vài năm mà phải gọi là thâm quán, ngài quán đến mức cực đỉnh thì đột phá.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình của những người lữ hành, cha mẹ gọi ngài là Ràjadatta (Vua ban cho), vì rằng sinh được ngài là nhờ cha mẹ cầu nguyện Vesavana, một vị thiên thần hư không. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài một lần dẫn năm trăm cỗ xe hàng hóa đến Ràjagaha (Vương Xá); tại đấy ngài tiêu tất cả tiền, tiêu một ngàn đồng cho một kỹ nữ đẹp, đến nỗi ngài hết cả tiền, không có đủ ăn, phải đi lang thang trong đói khổ. Rồi ngài đến tinh xá Trúc Lâm (Veluvana) với các cư sĩ khác, tại đấy bậc Ðạo Sư đang thuyết pháp với một thính chúng rất lớn. Rồi Rajadatta, ngồi ở phía ngoài thính chúng nghe, khởi lòng tin và xuất gia. Thực hành hạnh đầu đà, ngài sống trong một nghĩa địa.
Rồi một nhà lữ hành khác cũng tiêu hết một ngàn đồng cho người kỳ nữ, nhưng trên tay người này có một chiếc nhẫn rất có giá trị và người kỹ nữ thèm muốn lấy chiếc nhẫn. Nàng cho người đánh cắp. Nhưng người hầu hạ của người lữ hành tin cho cảnh sát biết, đến lục soát nhà nàng giết nàng và quăng thân nàng trong nghĩa địa.
Trưỏng lão Rajadatta, đang đi tìm một đối tượng để quán tưởng, thấy được thi hài của người kỹ nữ. Ngài tập trung tư tưởng, nhưng các phần thi hài nàng chưa bị chó hay chó rừng ăn, làm ngài dao động và chi phối ngài. Ngài lấy làm ảo não buồn phiền, lánh xa đi một lúc rồi lại bắt đầu tự mình khích lệ, tu thiền, phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương V. Phẩm Năm Kệ, (CXCVIII) Ràjadatta (Thera. 37)).
Qua 2 câu chuyện này thì mình thấy chứng A-la-hán sao nhẹ nhàng, dễ dàng quá nhưng thật ra muốn chứng được A-la-hán như các vị trên phải quán hàng chục năm trở lên.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài tái sanh trong một gia đình giàu có và đặt tên là Candana, ngài sống một đời sống gia đình cho đến khi ngài được nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp. Và chứng quả Dự Lưu. Khi ngài sanh được một người con, ngài xuất gia, chọn lựa một đề tài thiền quán và sống ở trong rừng. Ði đến Sàvatthi để yết kiến bậc Ðạo Sư, ngài ở trong một bãi tha ma, vợ ngài nghe tin ngài đến, liền trang điểm, đem con theo, nghĩ rằng: 'Với nhan sắc nàng có thể khiến ngài từ bỏ xuất gia'. Ngài thấy nàng từ xa đi đến nghĩ cách để thoát khỏi bị nàng cám dỗ, phát triển thiền quán và chứng được sáu thắng trí. Ngài thuyết giảng cho nàng, khiến nàng qui y và thọ các giới. Rồi ngài trở lui ở chỗ cũ của ngài (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương IV – Phẩm Bốn Kệ, (CXCIV) Candana (Thera. 35))
Trên đây cho chúng ta thấy sức mạnh khủng khiếp của việc quán bất tịnh. Có 1 trường hợp khác:
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một người trong hội đồng thành phố giàu có, ở Ràjagaha (Vương Xá) và được đặt tên là Samudda. Vì ngài rất đẹp trai nên được gọi là Sundara-Samudda, khi ngài còn trẻ, ngài thấy được uy nghi đức Phật, khi có cuộc lễ đón rước đức Phật đến Ràjagaha, với lòng tin và với thiên tánh tự nhiên, ngài xuất gia. Ðược giao cho một đề tài thiền quán, ngài đi từ Ràjagaha đến Sàvatthi, ở với một người bạn và tu tập thiền quán. Mẹ ngài ở Vương Xá, thấy các người con của các đại biểu hội đồng thành phố khác với những người vợ trang sức thật lộng lẫy vui chơi trong những ngày lễ, bà mẹ buồn, nhớ con và khóc; một kỹ nữ thấy vậy liền dỗ bà và tự nguyện đi đến Sàvatthi để đem con bà về. Bà mẹ hứa rằng, nếu con bà chịu cưới nàng, bà sẽ cho nàng làm chủ gia đình và tặng nhiều tặng phẩm. Với một số tùy tùng, nàng đi đến Sàvatthi và dừng lại ngôi nhà ngài thường hay đến hằng ngày để khất thực; nàng hết sức săn sóc cho ngài. Nàng ăn mặc lộng lẫy và mang dép vàng; một hôm nàng để đôi dép nàng tại ngưỡng cửa, đảnh lễ ngài với hai tay chấp lại, khi ngài đi qua với cử chỉ muốn cám dỗ ngài. Và ngài một tư tưởng thế tục thoáng qua, ngài cương quyết nỗ lực cuối cùng đứng tại đấy thiền định, thiền quán và chứng được sáu thắng trí (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VII- Phẩm Bảy Kệ, (CCXXIV) Sundara-Samudda (Thera. 49)).
Khủng khiếp như vậy đó! Ngày xưa phương quán bất tịnh là pháp quán thường xuyên được các vị thánh Tăng sử dụng, ngày nào cũng thực tập quán chiếu. Bây giờ có khi mình tu suốt đời cũng chưa ngồi lại để quán bất tịnh, mọi người hãy ứng dụng thử rồi sẽ thấy kết quả.
Đối trị của sân nhuế, sân hận, bực tức, nổi giận là từ bi tư duy. Tức là suy nghĩ là lòng từ, về tâm từ, tình thương mọi người. Suy nghĩ này được tư duy thì cái sân hận chưa sanh sẽ không khởi, cái sân hận đã sanh sẽ được làm cho chấm dứt, nghĩa là không đưa thức ăn cho sân, không nuôi dưỡng cơn giận. Tạng kinh Pali dùng từ tâm giải thoát, còn ở đây dùng từ tâm tư duy. Đức Phật nói sân hận sanh khởi do chướng ngại tướng, tức là mình nuôi dưỡng sân hận. Còn từ tâm tư duy là mình diệt sân hận. Khi một đối tượng, một lời nói hay hành động làm mình bực bội thì mình đừng suy nghĩ về cái xấu, cái dở, cái ghét của người đó mà hãy nghĩ về cái đáng thương của người đó. Nghĩ rằng mình là tai nạn của sân, mình là kẻ nô lệ cho sân hận, mình là đầy tớ cho sân hận và chính sân hận là thủ phạm, là cái thứ làm khổ mình không biết bao nhiêu lần rồi. Giờ đây mình là kẻ tai nạn của sân hận và người bị mình sân hận cũng là nạn nhân của lòng bực tức, nhiệt não. Trong khi mới giận lên đã bị đốt, bây giờ mình đã bị đốt nóng rồi mình đem lửa đốt người kia nữa thì cùng nhau bị cháy. Điều này là sự nguy hiểm và tác hại của sân hận. Thôi! Hãy thương đi! Thương cho cái tâm nóng giận này! Thương cho cái tâm bực tức này! Thương cho cái tâm ngu si, hơn thua, chấp ngã, hiếu thắng! Tội nghiệp quá! Nó đốt mình không biết bao nhiêu năm rồi mà giờ mình lại đem cái này đi đốt người khác nữa. Thôi! Tội nghiệp quá đi! Trải tâm từ ra đi! Tha thứ đi! Dập tắt đi, làm cho mát lạnh, thanh lương đi! Làm cho nó an tịnh tịch tịnh đi! Mình tư duy những tâm từ đó, mình trải tâm từ để tháo gỡ cái tâm buộc vào sân hận thì gọi là từ tâm giải thoát. Đức Phật đã nói vị Tỳ-kheo chỉ cần tu tâm từ, quán tâm từ, trải tâm từ trong thời gian khảy móng tay thì người này xứng đáng nhận thực phẩm cúng dường và ai cúng dường cho người tu tâm từ này thì phước đức vô lượng. Thành ra người nào tu tâm từ gương mặt sẽ hiện lên sự hiền thiện. Hòa Thượng thượng Trí hạ Quảng tu tâm từ mấy chục năm nay, nói về phương diện đóng góp cho Phật giáo Ngài xây chùa khắp nơi, làm những việc khó làm cho nên phước đức của ngài cực kì lớn, hoặc là Hòa Thượng Làng Mai, Hòa Thượng Trúc Lâm đi đến đâu được ngưỡng mộ tới đó, đi tới đâu là xây thiền viện, Đại Tòng Lâm. Đây là những tấm gương trước mắt, cho nên khi thực tập tâm từ là phước đức sẽ tăng trưởng, nhất là những người mình cảm thấy khó chịu thì phải trải tâm từ cho người đó nhiều hơn. Vì nếu mình không trải tâm từ thì những cái nghiệp của mình có thể tăng trưởng, phát triển làm chướng ngại trong con đường đạo của mình. Thành ra trong đời tu tốt nhất là không thù, không ghét, không giận ai, dùng tâm từ xóa hết, trang trải tận cùng để được mát mẻ thanh lương, đó cũng là lý do khi tụng cái gì rồi cuối cùng cũng là Nam mô thanh lương địa Bồ Tát. Niệm như vậy là đang hướng tới tâm từ, thanh lương là mát mẻ, trong kinh Nikāya dùng từ mát lạnh tịch tịnh, người tu lúc nào cũng mát mẻ, chứ người tu mà mặt hầm hầm là không được rồi. Cái này để mình đối trị tâm sân hận, Đức Phật dạy phải tu tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa, phải vững chắc như thành trì thì mới có tác dụng chứ không phải chỉ nói trên miệng. Phải là ngày nào cũng thực tập tâm từ, nhất là những khi mình khó chịu, bực bội thì phải trải tâm từ nhiều hơn lúc bình thường. Phải làm sao khi nhìn ai cũng không có người nào đáng ghét, không có người nào đáng giận và càng không có người thù.
Thùy miên cái là sự che đậy của hôn trầm, làm biếng, thụ động rồi muốn ngủ. Phải dùng minh chiếu tư duy để đối trị. Minh chiếu tư duy là suy nghĩ về ánh sáng, quán về ánh sáng. Phật dạy cho ngài Mục-kiền-liên vượt qua hôn trầm rồi đưa ngài đi từ sơ thiền lên tứ thiền và cuối cùng là ngài chứng thánh quả A-la-hán. Ngài Mục-kiền-liên tự hào nói với các vị thánh Tăng nếu có ai được đích thân Chánh Đẳng Chánh Giác hướng dẫn để vào thánh quả thì ngài là 1 trong những người đó, Đức Phật đi đến nhắc nhở từng phần rồi cuối cùng ngài vượt qua hôn trầm để chứng đắc thánh quả. Cho nên ngài mới xuất gia sau 2 tuần là chứng A-la-hán còn ngài Xá-lợi-phất chỉ cần 1 tuần để chứng A-la-hán. Còn mình xuất gia mấy trăm tuần rồi chỉ được quả ngủ, không khéo mình có được 5 quả triền cái này. Bây giờ mình tư duy và quán chiếu về ánh sáng, suy nghĩ về ánh sáng thì cái buồn ngủ chưa sanh sẽ không sanh, còn đã sanh thì chấm dứt, như vậy mình không đem thức ăn cho việc ngủ nghỉ. Trong kinh Nikāya, dùng tinh cần giới, tinh tấn giới, dõng mãnh giới để trị thùy miên. Ngoài việc quán ánh sáng thì mình làm cho mình tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, mạnh mẽ, làm cho mình phấn khởi lên để đánh đuổi cảm giác hôn trầm, lờ đờ, uể oải. Đáng cho cảm giác đó tan ra để sanh ra cảm giác phấn khởi, mạnh mẽ, sáng tỏ và mình không cho cảm giác hôn trầm ăn, vì ăn quá no, cái tâm thụ động, chán nản là những thức ăn của hôn trầm. Người hôn trầm là người thường xuyên chán nản, mệt mỏi, tâm thụ động, ăn quá no.
Trạo hối thì dùng tịch chỉ tư duy, bên tạng Nikāya dùng từ tâm tịnh chỉ. Tại sao lại bị trạo cử, xôn xao, rạo rực? Vì mình không tu chỉ. Có bệnh nào là Đức Phật cho đúng thuốc đó chứ không phải như mình bây giờ cái nào cũng đem kinh ra tụng hay chuyện gì cũng niệm Phật, bệnh nào phải dùng đúng thuốc đó để trị. Thân tâm suy nghĩ lung tung thì tu cái tâm tịnh chỉ, tịnh chỉ này tu hơi thở, niệm hơi thở là dễ nhất. Trong Thân Hành Niệm Đức Phật đã dạy niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động để tu thân tâm được tịnh chỉ. Cái thân tịnh chỉ là mình ý thức, kiểm soát thân sử dụng như thế nào thì mình rõ biết như thế đó. Đi tới rõ biết đi tới, đi lui rõ biết đi lui và chánh niệm tỉnh giác, khi ăn uống; nhai nếm; co duỗi; đắp y Tăng-già-lê đều phải rõ biết, không lúc nào không biết. Mỗi nhất cử nhất động đều có sự quán chiếu nhìn lại soi xét, an trú cái tâm trên niệm thân của Thân Hành Niệm. Trong cái tâm tu tập hơi thở, tu tập cảm giác toàn thân, xem cảm giác như thế nào để an trú cái tâm. Tâm tịnh chỉ thì trị được trạo cử, hối tiếc, lăng xăng. Hối tiếc là nói đã rồi hối hận, làm đã rồi hối hận, hay nghĩ xong rồi hối hận. Cho nên tu tập tâm tịnh chỉ sẽ có sự an tịnh và trầm mặc, cái dung nghi, phong thái được đỉnh đạc, trang nghiêm, thanh tịnh. Đó là nét đẹp của người xuất gia.
Nghi cái là sự che đậy của tâm nghi ngờ. Dùng tư duy về pháp duyên khởi, trong tạng Pali dùng Như lý tác ý. Phải căn cứ trong tạng kinh Nikāya để nói về pháp duyên khởi. Tất cả các pháp, tức là pháp hữu vi đều do vô số điều kiện kết hợp để tạo thành. Nghĩa là bất cứ sự vật nào đều do sự hỗ tương nương dựa với nhau của các điều kiện đó mà nó thay đổi vô thường. Nghi tức là nghi ngờ, nghi ngờ về 3 đời, nghi ngờ về tự ngã của mình. Đây là điểm quan trọng mà mọi người cần phải nhớ. Sở dĩ trong 5 triền cái thì nghi cái là nghi về chính mình, nghi về bản thân mình, nghi về tự ngã của mình, không biết hồi xưa mình là cái gì, sau này mình như thế nào, hiện tại mình có mặt ở đây là sao. Mình phải nắm thật vững pháp duyên sanh, duyên khởi của ngũ uẩn, thế nào là ngũ uẩn tập khởi và thế nào là ngũ uẩn đoạn diệt. Làm sao để đoạn diệt được vô minh, tham ái và chấp thủ đối với ngũ uẩn. Nắm vững những cái này mới phá được nghi cái.
Ở đây, này Tỳ-kheo, có người nghĩ như sau: "Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như vậy! Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có các hành như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như vậy!" Như vậy, này Tỳ-kheo, có thể có sự sai khác về dục và tham trong năm thủ uẩn.
Phàm sắc gì, này Tỳ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì... Phàm tưởng gì... Phàm các hành gì... Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỳ-kheo, có định nghĩa về uẩn của các uẩn (Tương Ưng Bộ kinh, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm)
Tất cả những suy nghĩ về 3 đời đều ở trong năm uẩn cho nên mình thấy được duyên sanh pháp của 5 thủ uẩn sắc là cái gì, từ xúc sanh thọ, xúc sanh ra tưởng, xúc sanh ra tư, ra hành, và thức là từ danh sắc. Học kĩ những cái này mới phá được thân kiến hoài nghi về giới cấm thủ để hướng vào Tu-đà-hoàn và Dự lưu quả, thành tựu chánh tri kiến là phải phá được. Nếu không nắm vững được trí năm uẩn là không thể phá được cái hoài nghi và thân kiến, cho nên phải học rất kĩ về sự tập khởi năm uẩn và sự chấm dứt vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn. Muốn được như vậy thì cánh cửa quyết định tất cả pháp hành trong đạo Phật là phải nhận diện được năm uẩn trong mọi lúc mọi nơi, ít nhất là trong giờ thiền. Phải nhìn ra cảm thọ bây giờ thuộc về cảm thọ nào. Có 6 loại tưởng: sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng, 6 tưởng từ 6 trần. Cái thọ nói gọn là 3 thọ, nói rộng là 6 thọ: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, nhĩ xúc sanh, … 6 cảm giác từ 6 căn tiếp xúc. Hành cũng gọi là tư, từ gọi khác nhau nhưng nghĩa thì giống./.
ĐỐI TRỊ CỦA NĂM TRIỀN CÁI
THÍCH MINH THÀNH
Thức ăn của nghi ngờ là 3 đời, nếu nói rộng ra là sự do dự, nghi ngờ về 3 đời. Ba đời đó là quá khứ, vị lai và hiện tại. Đối với quá khứ mình do dự, vị lai mình do dự, hiện tại mình cũng do dự. Đối với sự do dự đó mình sanh khởi lên sự suy nghĩ không chân chánh, không chính xác. Cho nên cái nghi chưa khởi thì sanh khởi, cái nghi đã khởi thì làm cho nó tăng thêm lớn mạnh. Đó là thức ăn cho nghi cái. Do mình không thành tựu trí 5 uẩn nên mới nghi ngờ không biết mình là ai, mình là người như thế nào. Nếu thành tựu trí 5 uẩn thì quá khứ mình là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Hiện tại mình cũng là sắc; thọ; tưởng; hành; thức và tương lai chắc chắn cũng là sắc; thọ; tưởng; hành; thức chứ không thể ra khỏi 5 uẩn này. Cho nên khi thành tựu trí 5 uẩn này là xác quyết phá vỡ nghi triền cái, chính vì vậy nên Minh Thành luôn chia sẻ với mọi người về pháp hành 5 uẩn để làm nền tảng cho việc phá vỡ 5 triền cái này. Không có gì trong trời đất này ra khỏi 5 thủ uẩn, tất cả sắc pháp nằm trong sắc uẩn, tất cả cảm giác nằm trong thọ uẩn, tất cả những cái tưởng, suy nghĩ và nhận thức đều trong đó. Như vậy 5 cái đó bao trùm hết tất cả vũ trụ vạn vật, cho nên dù cho trạng thái, hình dáng gì của chúng sanh cũng không ra ngoài 5 uẩn. Vì thế thành tựu được trí 5 uẩn sẽ phá được cái nghi ngờ trong quá khứ mình như thế nào, bây giờ mình là cái gì, sau này chết mình ra thành cái gì. Thành tựu được trí 5 uẩn sẽ phá được hết sự do dự.
Bây giờ mình bỏ đói, không cho 5 triền cái ăn. Nói rộng ra là mình làm cho nó giảm thiểu, chấm dứt, phá sập 5 triền cái này. Quán bất tịnh để trị tham dục cái, dùng những tư duy chân chánh mới làm cho tham dục chưa sanh sẽ không sanh khởi, còn tham dục đã sanh sẽ được đoạn tận. Nếu không quán bất tịnh thì chỉ thấy vị ngọt của sắc dục, chỉ thấy cái mặt đẹp mà không thấy mặt xấu, thấy cái mặt còn sống chứ không thấy cái mặt đã chết, thấy mặt hoa nở chứ không thấy mặt hoa tàn. Muốn trị tham dục thì phải nhìn cái mặt không sạch sẽ, cái mặt hôi thối, bất tịnh, cái mặt xanh bầm, đen nám, rỉ chảy bốc mùi, giòi bò lổm ngổm trong 2 tròng mắt. Mới nghe thôi đã thấy ngao ngán nên chỉ có cái này mới phá được dục tham. Dục tham bị phá là nhờ bất tịnh quán, chứ nếu không có bất tịnh quán thì không phá được triệt để dục tham. Nhiều khi mình nghĩ mình không khởi tham dục mà kêu mình quán nhưng gặp cảnh sẽ khởi, gặp đúng đối tượng sẽ khởi. Như vậy thì đâu phải không có mà tham dục ngủ ngầm, chưa thức dậy, tới khi thức dậy thì nó rất mạnh mẽ và nguy hiểm, nó sẽ đánh mình sụp đổ hoàn toàn. Trưởng lão Tăng kệ trong Tiểu Bộ kinh đã nói thời Đức Phật còn tại thế những bậc thánh Tăng, A-la-hán thành tựu thánh đạo, thánh quả toàn bộ đều nhờ bất tịnh quán.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49)).
Ngài thành tựu là do lúc đó định tướng của ngài rất vững chắc và kiên định. Pháp quán đó không phải đơn sơ, không phải quán trong vài ngày, hay vài năm mà phải gọi là thâm quán, ngài quán đến mức cực đỉnh thì đột phá.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình của những người lữ hành, cha mẹ gọi ngài là Ràjadatta (Vua ban cho), vì rằng sinh được ngài là nhờ cha mẹ cầu nguyện Vesavana, một vị thiên thần hư không. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài một lần dẫn năm trăm cỗ xe hàng hóa đến Ràjagaha (Vương Xá); tại đấy ngài tiêu tất cả tiền, tiêu một ngàn đồng cho một kỹ nữ đẹp, đến nỗi ngài hết cả tiền, không có đủ ăn, phải đi lang thang trong đói khổ. Rồi ngài đến tinh xá Trúc Lâm (Veluvana) với các cư sĩ khác, tại đấy bậc Ðạo Sư đang thuyết pháp với một thính chúng rất lớn. Rồi Rajadatta, ngồi ở phía ngoài thính chúng nghe, khởi lòng tin và xuất gia. Thực hành hạnh đầu đà, ngài sống trong một nghĩa địa.
Rồi một nhà lữ hành khác cũng tiêu hết một ngàn đồng cho người kỳ nữ, nhưng trên tay người này có một chiếc nhẫn rất có giá trị và người kỹ nữ thèm muốn lấy chiếc nhẫn. Nàng cho người đánh cắp. Nhưng người hầu hạ của người lữ hành tin cho cảnh sát biết, đến lục soát nhà nàng giết nàng và quăng thân nàng trong nghĩa địa.
Trưỏng lão Rajadatta, đang đi tìm một đối tượng để quán tưởng, thấy được thi hài của người kỹ nữ. Ngài tập trung tư tưởng, nhưng các phần thi hài nàng chưa bị chó hay chó rừng ăn, làm ngài dao động và chi phối ngài. Ngài lấy làm ảo não buồn phiền, lánh xa đi một lúc rồi lại bắt đầu tự mình khích lệ, tu thiền, phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương V. Phẩm Năm Kệ, (CXCVIII) Ràjadatta (Thera. 37)).
Qua 2 câu chuyện này thì mình thấy chứng A-la-hán sao nhẹ nhàng, dễ dàng quá nhưng thật ra muốn chứng được A-la-hán như các vị trên phải quán hàng chục năm trở lên.
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài tái sanh trong một gia đình giàu có và đặt tên là Candana, ngài sống một đời sống gia đình cho đến khi ngài được nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp. Và chứng quả Dự Lưu. Khi ngài sanh được một người con, ngài xuất gia, chọn lựa một đề tài thiền quán và sống ở trong rừng. Ði đến Sàvatthi để yết kiến bậc Ðạo Sư, ngài ở trong một bãi tha ma, vợ ngài nghe tin ngài đến, liền trang điểm, đem con theo, nghĩ rằng: 'Với nhan sắc nàng có thể khiến ngài từ bỏ xuất gia'. Ngài thấy nàng từ xa đi đến nghĩ cách để thoát khỏi bị nàng cám dỗ, phát triển thiền quán và chứng được sáu thắng trí. Ngài thuyết giảng cho nàng, khiến nàng qui y và thọ các giới. Rồi ngài trở lui ở chỗ cũ của ngài (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương IV – Phẩm Bốn Kệ, (CXCIV) Candana (Thera. 35))
Trên đây cho chúng ta thấy sức mạnh khủng khiếp của việc quán bất tịnh. Có 1 trường hợp khác:
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một người trong hội đồng thành phố giàu có, ở Ràjagaha (Vương Xá) và được đặt tên là Samudda. Vì ngài rất đẹp trai nên được gọi là Sundara-Samudda, khi ngài còn trẻ, ngài thấy được uy nghi đức Phật, khi có cuộc lễ đón rước đức Phật đến Ràjagaha, với lòng tin và với thiên tánh tự nhiên, ngài xuất gia. Ðược giao cho một đề tài thiền quán, ngài đi từ Ràjagaha đến Sàvatthi, ở với một người bạn và tu tập thiền quán. Mẹ ngài ở Vương Xá, thấy các người con của các đại biểu hội đồng thành phố khác với những người vợ trang sức thật lộng lẫy vui chơi trong những ngày lễ, bà mẹ buồn, nhớ con và khóc; một kỹ nữ thấy vậy liền dỗ bà và tự nguyện đi đến Sàvatthi để đem con bà về. Bà mẹ hứa rằng, nếu con bà chịu cưới nàng, bà sẽ cho nàng làm chủ gia đình và tặng nhiều tặng phẩm. Với một số tùy tùng, nàng đi đến Sàvatthi và dừng lại ngôi nhà ngài thường hay đến hằng ngày để khất thực; nàng hết sức săn sóc cho ngài. Nàng ăn mặc lộng lẫy và mang dép vàng; một hôm nàng để đôi dép nàng tại ngưỡng cửa, đảnh lễ ngài với hai tay chấp lại, khi ngài đi qua với cử chỉ muốn cám dỗ ngài. Và ngài một tư tưởng thế tục thoáng qua, ngài cương quyết nỗ lực cuối cùng đứng tại đấy thiền định, thiền quán và chứng được sáu thắng trí (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VII- Phẩm Bảy Kệ, (CCXXIV) Sundara-Samudda (Thera. 49)).
Khủng khiếp như vậy đó! Ngày xưa phương quán bất tịnh là pháp quán thường xuyên được các vị thánh Tăng sử dụng, ngày nào cũng thực tập quán chiếu. Bây giờ có khi mình tu suốt đời cũng chưa ngồi lại để quán bất tịnh, mọi người hãy ứng dụng thử rồi sẽ thấy kết quả.
Đối trị của sân nhuế, sân hận, bực tức, nổi giận là từ bi tư duy. Tức là suy nghĩ là lòng từ, về tâm từ, tình thương mọi người. Suy nghĩ này được tư duy thì cái sân hận chưa sanh sẽ không khởi, cái sân hận đã sanh sẽ được làm cho chấm dứt, nghĩa là không đưa thức ăn cho sân, không nuôi dưỡng cơn giận. Tạng kinh Pali dùng từ tâm giải thoát, còn ở đây dùng từ tâm tư duy. Đức Phật nói sân hận sanh khởi do chướng ngại tướng, tức là mình nuôi dưỡng sân hận. Còn từ tâm tư duy là mình diệt sân hận. Khi một đối tượng, một lời nói hay hành động làm mình bực bội thì mình đừng suy nghĩ về cái xấu, cái dở, cái ghét của người đó mà hãy nghĩ về cái đáng thương của người đó. Nghĩ rằng mình là tai nạn của sân, mình là kẻ nô lệ cho sân hận, mình là đầy tớ cho sân hận và chính sân hận là thủ phạm, là cái thứ làm khổ mình không biết bao nhiêu lần rồi. Giờ đây mình là kẻ tai nạn của sân hận và người bị mình sân hận cũng là nạn nhân của lòng bực tức, nhiệt não. Trong khi mới giận lên đã bị đốt, bây giờ mình đã bị đốt nóng rồi mình đem lửa đốt người kia nữa thì cùng nhau bị cháy. Điều này là sự nguy hiểm và tác hại của sân hận. Thôi! Hãy thương đi! Thương cho cái tâm nóng giận này! Thương cho cái tâm bực tức này! Thương cho cái tâm ngu si, hơn thua, chấp ngã, hiếu thắng! Tội nghiệp quá! Nó đốt mình không biết bao nhiêu năm rồi mà giờ mình lại đem cái này đi đốt người khác nữa. Thôi! Tội nghiệp quá đi! Trải tâm từ ra đi! Tha thứ đi! Dập tắt đi, làm cho mát lạnh, thanh lương đi! Làm cho nó an tịnh tịch tịnh đi! Mình tư duy những tâm từ đó, mình trải tâm từ để tháo gỡ cái tâm buộc vào sân hận thì gọi là từ tâm giải thoát. Đức Phật đã nói vị Tỳ-kheo chỉ cần tu tâm từ, quán tâm từ, trải tâm từ trong thời gian khảy móng tay thì người này xứng đáng nhận thực phẩm cúng dường và ai cúng dường cho người tu tâm từ này thì phước đức vô lượng. Thành ra người nào tu tâm từ gương mặt sẽ hiện lên sự hiền thiện. Hòa Thượng thượng Trí hạ Quảng tu tâm từ mấy chục năm nay, nói về phương diện đóng góp cho Phật giáo Ngài xây chùa khắp nơi, làm những việc khó làm cho nên phước đức của ngài cực kì lớn, hoặc là Hòa Thượng Làng Mai, Hòa Thượng Trúc Lâm đi đến đâu được ngưỡng mộ tới đó, đi tới đâu là xây thiền viện, Đại Tòng Lâm. Đây là những tấm gương trước mắt, cho nên khi thực tập tâm từ là phước đức sẽ tăng trưởng, nhất là những người mình cảm thấy khó chịu thì phải trải tâm từ cho người đó nhiều hơn. Vì nếu mình không trải tâm từ thì những cái nghiệp của mình có thể tăng trưởng, phát triển làm chướng ngại trong con đường đạo của mình. Thành ra trong đời tu tốt nhất là không thù, không ghét, không giận ai, dùng tâm từ xóa hết, trang trải tận cùng để được mát mẻ thanh lương, đó cũng là lý do khi tụng cái gì rồi cuối cùng cũng là Nam mô thanh lương địa Bồ Tát. Niệm như vậy là đang hướng tới tâm từ, thanh lương là mát mẻ, trong kinh Nikāya dùng từ mát lạnh tịch tịnh, người tu lúc nào cũng mát mẻ, chứ người tu mà mặt hầm hầm là không được rồi. Cái này để mình đối trị tâm sân hận, Đức Phật dạy phải tu tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa, phải vững chắc như thành trì thì mới có tác dụng chứ không phải chỉ nói trên miệng. Phải là ngày nào cũng thực tập tâm từ, nhất là những khi mình khó chịu, bực bội thì phải trải tâm từ nhiều hơn lúc bình thường. Phải làm sao khi nhìn ai cũng không có người nào đáng ghét, không có người nào đáng giận và càng không có người thù.
Thùy miên cái là sự che đậy của hôn trầm, làm biếng, thụ động rồi muốn ngủ. Phải dùng minh chiếu tư duy để đối trị. Minh chiếu tư duy là suy nghĩ về ánh sáng, quán về ánh sáng. Phật dạy cho ngài Mục-kiền-liên vượt qua hôn trầm rồi đưa ngài đi từ sơ thiền lên tứ thiền và cuối cùng là ngài chứng thánh quả A-la-hán. Ngài Mục-kiền-liên tự hào nói với các vị thánh Tăng nếu có ai được đích thân Chánh Đẳng Chánh Giác hướng dẫn để vào thánh quả thì ngài là 1 trong những người đó, Đức Phật đi đến nhắc nhở từng phần rồi cuối cùng ngài vượt qua hôn trầm để chứng đắc thánh quả. Cho nên ngài mới xuất gia sau 2 tuần là chứng A-la-hán còn ngài Xá-lợi-phất chỉ cần 1 tuần để chứng A-la-hán. Còn mình xuất gia mấy trăm tuần rồi chỉ được quả ngủ, không khéo mình có được 5 quả triền cái này. Bây giờ mình tư duy và quán chiếu về ánh sáng, suy nghĩ về ánh sáng thì cái buồn ngủ chưa sanh sẽ không sanh, còn đã sanh thì chấm dứt, như vậy mình không đem thức ăn cho việc ngủ nghỉ. Trong kinh Nikāya, dùng tinh cần giới, tinh tấn giới, dõng mãnh giới để trị thùy miên. Ngoài việc quán ánh sáng thì mình làm cho mình tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, mạnh mẽ, làm cho mình phấn khởi lên để đánh đuổi cảm giác hôn trầm, lờ đờ, uể oải. Đáng cho cảm giác đó tan ra để sanh ra cảm giác phấn khởi, mạnh mẽ, sáng tỏ và mình không cho cảm giác hôn trầm ăn, vì ăn quá no, cái tâm thụ động, chán nản là những thức ăn của hôn trầm. Người hôn trầm là người thường xuyên chán nản, mệt mỏi, tâm thụ động, ăn quá no.
Trạo hối thì dùng tịch chỉ tư duy, bên tạng Nikāya dùng từ tâm tịnh chỉ. Tại sao lại bị trạo cử, xôn xao, rạo rực? Vì mình không tu chỉ. Có bệnh nào là Đức Phật cho đúng thuốc đó chứ không phải như mình bây giờ cái nào cũng đem kinh ra tụng hay chuyện gì cũng niệm Phật, bệnh nào phải dùng đúng thuốc đó để trị. Thân tâm suy nghĩ lung tung thì tu cái tâm tịnh chỉ, tịnh chỉ này tu hơi thở, niệm hơi thở là dễ nhất. Trong Thân Hành Niệm Đức Phật đã dạy niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động để tu thân tâm được tịnh chỉ. Cái thân tịnh chỉ là mình ý thức, kiểm soát thân sử dụng như thế nào thì mình rõ biết như thế đó. Đi tới rõ biết đi tới, đi lui rõ biết đi lui và chánh niệm tỉnh giác, khi ăn uống; nhai nếm; co duỗi; đắp y Tăng-già-lê đều phải rõ biết, không lúc nào không biết. Mỗi nhất cử nhất động đều có sự quán chiếu nhìn lại soi xét, an trú cái tâm trên niệm thân của Thân Hành Niệm. Trong cái tâm tu tập hơi thở, tu tập cảm giác toàn thân, xem cảm giác như thế nào để an trú cái tâm. Tâm tịnh chỉ thì trị được trạo cử, hối tiếc, lăng xăng. Hối tiếc là nói đã rồi hối hận, làm đã rồi hối hận, hay nghĩ xong rồi hối hận. Cho nên tu tập tâm tịnh chỉ sẽ có sự an tịnh và trầm mặc, cái dung nghi, phong thái được đỉnh đạc, trang nghiêm, thanh tịnh. Đó là nét đẹp của người xuất gia.
Nghi cái là sự che đậy của tâm nghi ngờ. Dùng tư duy về pháp duyên khởi, trong tạng Pali dùng Như lý tác ý. Phải căn cứ trong tạng kinh Nikāya để nói về pháp duyên khởi. Tất cả các pháp, tức là pháp hữu vi đều do vô số điều kiện kết hợp để tạo thành. Nghĩa là bất cứ sự vật nào đều do sự hỗ tương nương dựa với nhau của các điều kiện đó mà nó thay đổi vô thường. Nghi tức là nghi ngờ, nghi ngờ về 3 đời, nghi ngờ về tự ngã của mình. Đây là điểm quan trọng mà mọi người cần phải nhớ. Sở dĩ trong 5 triền cái thì nghi cái là nghi về chính mình, nghi về bản thân mình, nghi về tự ngã của mình, không biết hồi xưa mình là cái gì, sau này mình như thế nào, hiện tại mình có mặt ở đây là sao. Mình phải nắm thật vững pháp duyên sanh, duyên khởi của ngũ uẩn, thế nào là ngũ uẩn tập khởi và thế nào là ngũ uẩn đoạn diệt. Làm sao để đoạn diệt được vô minh, tham ái và chấp thủ đối với ngũ uẩn. Nắm vững những cái này mới phá được nghi cái.
Ở đây, này Tỳ-kheo, có người nghĩ như sau: "Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có sắc như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thọ như vậy! Mong rằng trong tương lai, ta sẽ có tưởng như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có các hành như vậy! Mong rằng trong tương lai ta sẽ có thức như vậy!" Như vậy, này Tỳ-kheo, có thể có sự sai khác về dục và tham trong năm thủ uẩn.
Phàm sắc gì, này Tỳ-kheo, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. Phàm thọ gì... Phàm tưởng gì... Phàm các hành gì... Phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; đây gọi là thức uẩn. Dưới hình thức như vậy, này Tỳ-kheo, có định nghĩa về uẩn của các uẩn (Tương Ưng Bộ kinh, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm)
Tất cả những suy nghĩ về 3 đời đều ở trong năm uẩn cho nên mình thấy được duyên sanh pháp của 5 thủ uẩn sắc là cái gì, từ xúc sanh thọ, xúc sanh ra tưởng, xúc sanh ra tư, ra hành, và thức là từ danh sắc. Học kĩ những cái này mới phá được thân kiến hoài nghi về giới cấm thủ để hướng vào Tu-đà-hoàn và Dự lưu quả, thành tựu chánh tri kiến là phải phá được. Nếu không nắm vững được trí năm uẩn là không thể phá được cái hoài nghi và thân kiến, cho nên phải học rất kĩ về sự tập khởi năm uẩn và sự chấm dứt vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn. Muốn được như vậy thì cánh cửa quyết định tất cả pháp hành trong đạo Phật là phải nhận diện được năm uẩn trong mọi lúc mọi nơi, ít nhất là trong giờ thiền. Phải nhìn ra cảm thọ bây giờ thuộc về cảm thọ nào. Có 6 loại tưởng: sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng, 6 tưởng từ 6 trần. Cái thọ nói gọn là 3 thọ, nói rộng là 6 thọ: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, nhĩ xúc sanh, … 6 cảm giác từ 6 căn tiếp xúc. Hành cũng gọi là tư, từ gọi khác nhau nhưng nghĩa thì giống./.