Thánh Ni Thời Đức Phật 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thánh Ni Thời Đức Phật 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ác ma quấy nhiễu người tu PAGEREF _Toc157611469 \h 1
II. Tâm nguyện và dặn dò PAGEREF _Toc157611470 \h 10
I. Ác ma quấy nhiễu người tu
Hôm nay chúng ta nghe về Tương Ưng Tỳ-kheo-Ni để chúng ta thấy được oai đức của các bậc Thánh Ni thời Đức Thế Tôn còn tại thế, đây là những tấm gương thần thánh làm động lực khích lệ mạnh mẽ cho Tăng Ni cũng như trong đạo tràng để mình biết được đời sống sinh hoạt, sự tu học, sự hành trì, sự thành tựu của các bậc Thánh đức Ni chúng thời Đức Thế Tôn còn tại thế.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
Tỳ-kheo-ni Alavikà, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỳ-kheo-ni đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly.
Ác ma muốn làm Tỳ-kheo-ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỳ-kheo-ni Alavikà và nói lên bài kệ:
Ðời không có xuất ly,
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, I. Alavikhà)
Khi Ni sư ngồi trong rừng tĩnh lặng thiền tư thì có một bài kệ vang lên, "không ai có thể đi ra khỏi cuộc đời này đâu, sống một mình nơi xa vắng để làm gì, buồn chán lắm, hãy đi tìm những thú vui để hưởng thụ, nếu không sau này sẽ hối hận". Khi vang lên bài kệ có âm thanh như vậy, "mình không giải thoát được đâu, mình tu không được đâu, ở một mình không được đâu, ở một mình buồn chán lắm nên đi tìm dục lạc đi, nếu không sau này sẽ hối hận đó". Lâu lâu trong tâm mình có những suy nghĩ này không? Lâu lâu trong tâm mình có vang lên những câu nói này không? Đó là ác ma.
"Tỳ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: 'Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?'
Tỳ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: 'Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó'.
Tỳ-kheo-ni Alavikà biết được: 'Ðấy là Ác ma', liền nói lên bài kệ:
Ở đời có xuất ly,
Nhờ trí tuệ, ta chứng.
Này Bà con phóng dật,
Biết sao được pháp ấy?
Ái dục như kiếm thương,
Ðài chém đầu các uẩn.
Ðiều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.
Ác ma biết được: 'Tỳ-kheo-ni Alavikà đã biết ta', nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, I. Alavikhà)
Qua đây chúng ta thấy được trí tuệ của con người gái chân chánh của Thế Tôn, người con gái thật sự của Đức Phật. Ở đời này có sự thoát ra nhờ trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao, ta thấy, ta biết, ta chứng tri rằng có sự thoát ra đối với ngũ uẩn này. Bà con phóng dật ở đây chính là ác ma, lúc nào mình buông lung phóng dật thì lúc đó mình đang là bà con với ma, không phải là Thánh đệ tử, lúc nào mình đang buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, buông lơi, buông xuôi, buông thả thì lúc đó mình không phải con Phật, mình không phải Thánh đệ tử mà mình đang là bà con với ma, mình sống với ma, sống với quỷ, lúc nào mình có chánh niệm tỉnh giác, có sự thu thúc chế ngự thì mình là con Phật.
Người sống trong sự buông lung phóng dật thì làm sao biết được có đạo lộ xuất ly? Làm sao thấy được con đường thoát ra? Người không thấy được ngũ uẩn, không thấy được cấu uế trong ngũ uẩn thì làm sao thấy được xuất ly đạo lộ? Dù cho có nghe, có học nhưng vẫn không thấy, còn có trí tuệ là thấy biết được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thấy biết được dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, thấy biết được dục ái, tham, sân, si, bản ngã, thấy biết được những con rắn độc, những con ma trong tâm mình thì gọi là "nhờ trí tuệ, ta chứng".
Nếu cứ chạy theo những hình tướng, âm thanh bên ngoài, những mùi vị, những sự tiếp xúc, đặt tâm theo chiều hướng đó thì làm sao biết được, làm sao thấy được, làm sao chứng được con đường thoát ra? Ái dục như gươm dao, "đài chém đầu cái uẩn" nghĩa là đoạn đầu đài, yêu thích cảnh bên ngoài, người, vật, tham đắm với sắc; thanh; hương; vị; xúc thì cái ham muốn, yêu thích, ái dục đó là đoạn đầu đài giết mình chết, chém đầu sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng không phải để giải thoát mà làm cho mình đổ máu, lệ rơi, làm cho mình khổ đau, buồn thảm hết đời này đến đời khác, sống trong cảnh chết chóc, buồn lo, trong cảnh bất an, tai họa, khổ sầu.
Các vị Thánh Ni hoặc là Thánh Tăng đều thiền quán, chứng đắc trong Thánh trí tuệ quán chiếu tận cùng, điều mà ác ma gọi là dục lạc thì các ngài thấy đó là khổ đau, không thấy có gì vui trong đó. Con gái ngoan của Đức Phật phải có trí tuệ đó, con trai hiếu thảo của bậc Điều Ngự phải có cái thấy biết đó, lấy những món trí huệ pháp khí này làm quà tết để nhìn thế gian này. Làm việc thì làm nhưng không hoan hỉ, thích thú, không tham ái, tâm mình không bị hệ phược, trói cột, dính mắc trong đó.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi Tỳ-kheo-ni Somà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.
Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỳ-kheo-ni đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày. Sau khi đi sâu vào rừng, nàng ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
Ác ma muốn làm Tỳ-kheo-ni Somà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni Somà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Somà:
Ðịa vị khó chứng đạt,
Chỉ Thánh nhân chứng đạt,
Trí nữ nhân hai ngón,
Sao hy vọng chứng đạt?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, II. Somà)
Địa vị khó chứng đạt tức là Thánh quả A-la-hán, tu khó lắm, phải là bậc trí tuệ thâm sâu. Xã hội ngày xưa xem thường người phụ nữ, xem người phụ nữ chỉ biết nội trợ, ở nhà dọn dẹp, lau chùi, phụng sự cho đàn ông, ở đây nói "trí nữ nhân hai ngón tay" ý nói trí tuệ phụ nữ chỉ có một chút thì làm sao chứng đắc được địa vị của bậc Thánh nhân. "Cô tu không được đâu, cô nghiệp chướng nặng nề lắm", lâu lâu trong tâm mình có suy nghĩ này không?
"Mình tội nặng lắm, mình nghiệp nặng lắm, mình nghiệp chướng sâu dày lắm, phước mỏng nghiệp dày nên chắc tu gieo duyên thôi chứ làm sao đi vào các Thánh quả được", suy nghĩ này là ác ma, mình chấp nhận suy nghĩ này chính là ma, "mình phước mỏng nghiệp dày, chướng sâu huệ cạn", chướng ngại thì sâu, trí huệ thì cạn cợt, phước đức thì mỏng, ác nghiệp lại dày, tự mình có suy nghĩ, quan điểm như vậy nên mới tạo ra biết bao A-trăn kì kiếp, A-tăng kì kiếp. Những tư tưởng này sẽ diệt mất chánh pháp, không còn ai muốn tu chứng nữa hết.
Đức Phật không nói mà ngay trong chỗ ngồi bao nhiêu vị Thánh đệ tử chứng đắc Thánh đạo, Thánh quả, vậy mà chúng ta đi học ở đâu mà truyền bá tư tưởng bốn A-tăng kì, 100 ngàn đại kiếp mới chứng đắc, vậy thì không còn ai tu nữa, mang tư tưởng đó là đóng lại con mắt trí huệ của chúng sanh, đó là tư tưởng của ma. Nếu mình suy nghĩ như vậy thì mình có mong cầu chứng đắc ngay trong kiếp này không? Mình có nỗ lực hết khả năng để thấy được khổ, chứng nhập khổ, chứng nhập khổ không? Chỉ với một ý nghĩ như vậy thôi là mình đã bị loại ra khỏi dòng pháp này vì phải tu tới bao nhiêu A-tăng kì kiếp mới thành tựu cơ mà, bây giờ ai cũng nghĩ như vậy cho nên không còn Thánh đạo, Thánh quả nữa.
Trong khi pháp của Thế Tôn là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có khả năng tức thời, chỉ cần một chút vô minh thôi là mình bị đầu độc bởi những tư tưởng sai lầm, đó là tư tưởng của ma. Cho nên hết sức là nhỏ nhiệm, vi tế, sâu sắc, chỉ cần một chút thôi là sai lệch, đó là lý do con nói không được đọc những sách vở nằm ngoài Nikāya, không được nghe bất kì tư tưởng nào ở bên ngoài của người không thành tựu chánh tri kiến, những suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của họ bị phong tỏa trong vô minh đối với ngũ uẩn.
Chính họ còn mù lòa, còn quờ quạng thì làm sao chỉ cho mình thấy đường? Làm sao chỉ cho mình lối ra được? Vì vậy cần phá bỏ tư tưởng "phước mỏng nghiệp dày, chướng sâu huệ cạn" đó, cái này sẽ đúng trong một trường hợp khác để mình đừng có bản ngã, mình đừng có ta đây, đừng cho mình là hay, đừng kiêu mạn, kiêu ngạo thì đúng, còn kêu lý do đó ra để viện cớ không nỗ lực tu tập, không nhiệt tâm, không quyết tâm, không dốc lòng hành trì thì nó trở thành thuốc độc. Diệu dược hay độc dược là do con người biết sử dụng hay không biết sử dụng, biết đặt tâm đúng hướng hay không.
Nếu mình nghĩ mình nghiệp chướng sâu dày nên phải cố gắng tu nhiều hơn những người khác, mình phước mỏng nên phải làm phước nhiều hơn người khác thì đó là diệu dược, là thuốc bổ, thuốc hay. Nếu mình nghĩ mình phước mỏng huệ cạn, nghiệp sâu dày nên tu gieo duyên thôi, không giải thoát được thì đó là tà kiến, đó là viện cớ, là pháp chướng đạo, tư tưởng đó giống như tảng đá chặn trước mặt mình làm mình không đi qua được, mình có ý nghĩ đó là mình không cố gắng vượt qua cho nên cái quan trọng nhất trong tất cả cái quan trọng là thành tựu chánh kiến.
Nếu không thành tựu chánh kiến thì tu một thời gian là ngũ uẩn này rất mưu mô, một ý nghĩ nhỏ xíu thôi cũng làm mình lệch đường. Thế Tôn nói suy nghĩ này giết chết chúng sanh, chúng sanh chết trong suy nghĩ này, tư tưởng này. Một khi mình có suy nghĩ phải trải qua biết bao A-tăng kì kiếp mới giác ngộ thì mình còn nỗ lực, tận lực hết mình trong đời này nữa không? Còn dốc hết sức không? Suy nghĩ đó sẽ đóng cửa Dự Lưu, không còn cơ hội bước vào Thánh đạo, Thánh quả.
"Tỳ-kheo-ni Somà suy nghĩ: 'Ai đã nói bài kệ này? Người hay không phải người?'
Tỳ-kheo-ni Somà suy nghĩ: 'Ðây là Ác ma muốn làm cho ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ đó'.
Tỳ-kheo-ni Somà biết được : 'Ðây là Ác ma', liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Nữ tánh chướng ngại gì,
Khi tâm khéo Thiền định,
Khi trí tuệ triển khai,
Chánh quán pháp vi diệu?
Ai tự mình tìm hỏi :
'Ta, nữ nhân, nam nhân,
Hay ta là ai khác?'
Xứng nói chuyện Ác ma,
Ác ma thật cân xứng.
Ác ma biết được: 'Tỳ-kheo-ni Somà đã biết ta', nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, II. Somà)
Cái thấy biết về ngũ uẩn là không có nam nữ, thân tướng thì có nam có nữ, còn trí tuệ nếu đạt được chánh kiến thì nữ tánh không có chướng ngại, còn nếu không đạt được cái đó, định huệ mình không có, mình không có chánh quán pháp vi diệu thì nữ tánh sẽ chướng ngại. Một người có định huệ, khéo triển khai thiền quán, luôn chánh quán pháp vi diệu, luôn an trú tâm trong pháp thì nam hay nữ cũng không có gì chướng ngại, già trẻ, bé lớn, có học cao hiểu rộng cũng không là chướng ngại, miễn là có học pháp, thực hành pháp đều chứng đắc như nhau. Đây là sự bình đẳng chưa từng có trong lịch sử thế giới và lịch sử tôn giáo thế giới của Đức Như Lai, trong xã hội thời đó mà nói lên điều này là làm rung chuyển tất cả ngũ thiên trúc, vì vậy chúng ta phải lễ lạy bát kỉnh pháp, tình thương của Đức Phật là bao la.
Chính bát kỉnh pháp đó làm cho tâm an trú thiền định, triển khai trí tuệ, chánh pháp quán vi diệu, ai hiểu thì mới biết, không hiểu thì không biết được, chỉ biết nhìn theo phàm phu, nhìn theo vô minh, hơn thua, phân biệt, so sánh, không hiểu được tâm của bậc Thánh. Tâm của bậc Thánh là hiểu và thương, trí tuệ thâm sâu và đại bi. Vì lợi ích cho chúng Tỳ-kheo-Ni, vì an lạc cho chúng Tỳ-kheo-Ni, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng Tỳ-kheo-Ni mà Đức Phật đưa ra tám pháp cung kính đó, tám pháp đó là thuốc bổ, là dưỡng chất, là dinh dưỡng, là sự hỗ trợ rất lớn cho mình mau thành tựu, mình phải hiểu như vậy.
Những người đã có chánh kiến, đã có sự thấy biết đúng về pháp thì khi nghe những pháp đó người ta sẽ rất hoan hỉ, hạnh phúc vì những pháp đó trang điểm, làm đẹp thêm cho người tu dù cho chư Tăng ứng dụng ngược lại với chư Ni, tám pháp đó cũng ứng dụng với cả cư sĩ, không phải chỉ cung kính chư Tăng mà đối với người thấp hơn mình cũng có sự cung kính. Nói cao thấp là nói tương đối trong địa vị giả tướng bên ngoài, mình cũng lấy tám pháp đó để đối đãi chứ không chỉ riêng với quý thầy, không chỉ các cô mới ứng dụng tám pháp này mà các thầy cũng phải ứng dụng ngược lại, không phải các thầy các cô chỉ ứng dụng giữa những người xuất gia với nhau mà ứng dụng luôn cả với người cư sĩ tại gia thì mới bẻ gãy được tâm kiêu mạn của họ, mới nhiếp phục được tâm kiêu ngạo của họ, mới làm cho họ cảm thọ được, cảm động được cái pháp vi diệu của vô ngã thần thánh.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực.
Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày; sau khi đi sâu vào rừng Andha, đến ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
Ác ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì; sau khi đi đến, liền nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì:
Sao nàng như mất con,
Một mình, mặt ứa lệ.
Hay một mình vào rừng,
Ðể tìm đàn ông nào?
Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: 'Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?'
Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: Ðây là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định nên đã nói lên bài kệ đó.
Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì biết được: 'Ðây là Ác ma', liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Con hại, đã qua rồi,
Ðàn ông đã chấm dứt,
Ta không sầu, không khóc,
Ta sợ gì các Ông?
Khắp nơi hỷ, ái đoạn,
Khối mê ám nát tan,
Chiến thắng quân thần chết,
Vô lậu, ta an trú.
Ác ma biết được: 'Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì đã biết ta' nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo-Ni, III. Gotamì)
Những bài này thiền quán rất hay, phải đọc chậm rồi quán chiếu, ghi chép ra làm chủ đề quán chiếu tu học và chia sẻ cho các huynh đệ, các vị Ni chúng phải lấy chủ đề này làm pháp đàm. Đó là những bậc Thánh Ni, mình là con cháu phải thừa kế di sản Thánh vật của tổ tiên, làm món quà dâng lên cúng dường cho Đức Thế Tôn và cúng dường cho Thánh tổ Kiều-đàm-di, cúng dường cho các Thánh nữ, Thánh Ni trong ngày đầu xuân. Bây giờ các vị nữ xuất gia được nghe, được hành trì theo bài kinh này được bao nhiêu vị? Những ngày người ta đang tất bật, lăng xăng mà mình được ngồi nghe những lời của bậc Thánh, nghe lại vẻ đẹp của Thánh tổ Ni, của các vị Thánh nữ, con gái ngoan của Đức Như Lai, của bậc Điều Ngự.
Ngày xưa các vị thường ở trong rừng, thường sống an tịnh, viễn ly, con vào rừng ngủ sáng thức dậy là hạnh phúc không diễn tả nỗi, đi ra không thấy ai rất yên tịnh, không nghe tiếng xe, không nghe tiếng giành giật, không còn nghe tiếng tham, sân, si nữa, tâm lắng sâu, trí rực sáng, vì thế mình cần phải có sự yên tịnh. Vì công việc phải làm, ở Sài Gòn mà con nhớ rừng ngoài làng tu.
Mình ngồi thành thị,
Nết dụng sơn lâm
Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính,
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.
(Trích: Cư Trần Lạc Đạo Phú; Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông)
Con thấy hạnh phúc khi được ở một mình giữa đại ngàn núi rừng không có bóng người, không tiếp xúc với ai để mình thâm nhập Thánh trí huệ, mình thấm thía, mình sung sướng vì cái khổ, mình quán cái khổ mà mình sung sướng.
"Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo-Ni, X. Vajirà)
II. Tâm nguyện và dặn dò
Chừng nào mình chứng đắc được trí tuệ này mình mới ca khúc khải hoàn tối thượng trên cuộc đời này. Tất cả chỉ là khổ đau thôi, con về thăm các cô bị bệnh, tóc bạc, da nhăn, lưng còng gối mỏi, ba mươi mấy năm rồi lần này về đi chợ mua bông cúng Phật giùm cho các cô, đã vậy ra chợ còn bị công an phạt, người chở đi còn té xe làm bể mấy trái dưa hấu, ngay đó con quán thâm sâu chứ nếu thâm sâu là chứng nhập luôn rồi. Trên núi không té mà dưới đất bằng lại té, cho nên sự vô thường, sự bất trắc là bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra, ba mươi mấy năm rồi đây là những oan trái nợ đời mình chưa trả hết, các cô rất hoan hỉ, rất hạnh phúc, rất vui.
Đi chợ con thấy người ta chất biết bao nhiêu trái cây, bông hoa mà không ai mua, tội nghiệp quá nên không trả giá gì cả, nói mua vậy đó rồi người ta bán bao nhiêu thì bán, đi từ núi về quê là bông hoa, trái cây chất hàng dài bạt ngàn mà không thấy người mua, con nghĩ năm nay sẽ khó khăn cho người bán trái cây, bán bông, biết bao nhiêu công nhân thất nghiệp, người ta lo sợ cái tết, con đòi quần áo mới, vợ mua sắm trong khi tiền không có lại thêm thiếu nợ, vì vậy phải ăn tết bằng tâm thương rộng lớn chứ đừng ăn tết nhỏ hẹp trong những cái bánh tét, bánh chưng, cành mai, phải ăn tết với từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm.
Mình không có tiền nên không thể giúp mọi người, mình chỉ có pháp, ai muốn pháp thì đến mình chia sẻ chứ tự động mình đi chia cũng không được, nhìn các bà già, ông cụ 70 tuổi đi bán vé số ở ngoài đường và hát lên những nỗi niềm bi thương của cuộc đời, của kiếp người. Những bài hát này là tự chú chế lại bằng nước mắt, bằng sự thấm thía về sự thật của thế gian này. Mình phải nhìn ra những cái tâm lậu hoặc đó, nhìn bằng trí tuệ để biết đây chỉ là ý hành mà thôi, nó như khói mây, là những thứ trống rỗng, tùy theo tâm thái mà mình có những cách tác ý, có khi tác ý mãnh liệt, quyết liệt, có khi mình dùng thánh trí huệ sắc bén quất nó như khói mây, không để tâm đến nó mà quay trở lại công việc của mình, phớt lờ giống như nó không có hoặc là mình đối diện một cách nghiêm túc, sâu sắc, mình đào bứng gốc rễ. Mình thấy có những lúc mình phớt lờ, không quan tâm nó nhưng có những cái mình phải đối diện trực tiếp.
Ác ma hỏi vị Tỳ-kheo-Ni tại sao ngồi một mình ứa lệ giống như mất con, ở đây chúng ta suy đoán là ngài đang quán thiền quán, chúng ta lâu lâu khi quán chiếu tâm từ cũng ứa lệ. Ngài ngồi một mình nước mắt đầm đìa là ngài đang quán chiếu thiền quán, trong chúng có nhiều vị chưa thọ được cái pháp, khi mình thọ được rồi mình sẽ xúc động. Các vị cư sĩ trong đạo tràng, 60-70 tuổi rồi, nuôi con cả cuộc đời, thành gia lập thất cho con rồi, cháu nội, cháu ngoại có đủ rồi, đừng để con làm hại rồi đến cháu làm hại, hãy về núi để tu tập, 60 năm cuộc đời đến đây là đủ rồi, trách nhiệm bổn phận làm mẹ, làm bà đến đây là đủ rồi, con có phước của con, cháu có phước của cháu, đừng vì con cháu mà làm ngựa trông, phải tu tâm xả.
Ngày xưa bên Ấn Độ, 50 tuổi là người ta sống đời phạm chí, sau 50 tuổi người ta sẽ làm du sĩ đi lang thang vào rừng, vào núi, đi vân du, từ giã đời sống gia đình để tu phạm hạnh, bây giờ có khả năng vẫn còn. Cố hòa thượng ở Bửu Liên nói với con ngài có tâm nguyện 60 tuổi là ngài về núi, lúc đó ngài 65 tuổi rồi vẫn chưa về núi được nên ngài buồn, cuối cùng 65 tuổi ngài ra đi. Con dự định cho mình chậm nhất là 50 tuổi là phải sống trong rừng, cách ly trần thế, thực hành và chứng ngộ thánh pháp tối thượng của Đức Phật, mình không muốn hối hận giống thầy của mình, con có suy nghĩ là phải làm sớm hơn thầy mình, trễ nhất là 50 tuổi vì 50 tuổi là mình đã nếm đủ cuộc đời, chua, cay, đắng, chát, ngọt bùi, thương đau, mồ hôi, máu và nước mắt mình cũng đã nếm đủ. Bây giờ mình chỉ đem hết mạng thừa của mình, gọi là dư mạng, nghĩa là mạng sống còn sót lại để thực hành thánh pháp, để sống với pháp, để thực chứng cái pháp.
Các vị cư sĩ không dám bỏ cái tết để lên núi tu là quá yếu, không dám bỏ gia đình để lên núi tu một tuần là yếu kém. Sau này con không còn tới lui phố thị nhiều nữa, chỉ có những khóa tu trên núi thôi, 70 tuổi rồi mà bỏ cái nhà không nổi, phải mạnh mẽ lên, phải tu tâm xả cho nhiều lên. Đám cưới, đám hỏi, thôi nôi, đầy tháng, đám giỗ đã trải qua biết bao lần rồi, bây giờ gần chết rồi mà những sợi dây đó vẫn trói cột, "con ơi, mẹ hi sinh cho con suốt cả đời rồi, mấy chục năm rồi, con thương mẹ để mẹ đi tu, con thương mẹ để mẹ được về núi, đó là sự báo hiếu lớn nhất của con đối với mẹ", tuy nhiên phần quan trọng nhất là chính tự thân mình có cắt đứt được không, có giảm bớt được tâm luyến ái với con cháu không. Phải mạnh mẽ lên, phải nâng cao tâm xả, tắt điện thoại trong khóa tu, cần thiết có công việc thì gọi về.
Vị Tỳ-kheo-Ni Kisà Gotamì rơi lệ vì cảm pháp, vì thấm pháp chứ không phải vì nhớ con, nhớ chồng, vì nhớ cháu. Đó là những đề tài để chúng ta chiêm nghiệm, quán chiếu, "Khắp nơi hỷ, ái đoạn" nghĩa là chấm dứt mọi sự yêu thích mọi chỗ, mọi nơi, sự yêu thích, ham vui không còn nữa. Mình tu một ngày trên núi còn hơn một năm mình sống lúc trước chưa biết pháp này, một ngày mình sống trên núi đúng với thánh giới, thánh định, thánh tuệ còn hơn sống cả năm trong vô minh, bản ngã, hơn thua, mình sống một ngày trên núi rừng thực hành thánh đạo còn ý nghĩa hơn sống ngàn năm không thấy pháp.
"Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)
Mình sống bảy ngày trên núi thực hành pháp tu trọn vẹn bằng tất cả tấm lòng chân thành, nhiệt huyết của mình còn hơn sống 70 năm trong vô minh, tham ái, si mê, bản ngã. Tại sao không nỗ lực lên, quyết liệt lên? Sau khóa tu này chưa chắc quý vị còn gặp con cho nên tranh thủ về tu. Sự ham thích, sự yêu thích đều chấm dứt, tâm an trú nơi vô lậu, không còn dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu nữa, phải thấy hạnh phúc, vui sướng trong khi mình được về núi, được ở trong rừng, phải thấy hạnh phúc, vui sướng khi mình được viễn ly, được rời xa những thứ ồn ào, náo nhiệt, lăng xăng, động loạn.
Mình phải mạnh mẽ lên để từ bỏ những sợi dây chồng con, cháu, anh em, mình đừng dại khờ, đừng lệ thuộc vào những ngoại cảnh bên ngoài, vào những người khác, đến khi mình đối diện với tử thần, khi mình đối mặt với sự bất trắc, bất thường, bất như ý xảy ra thì mình sẽ khổ đau, không ai giúp mình được, không ai cứu mình được, không ai chịu khổ thay mình được trừ khi nào mình thành tựu trí tuệ, thành tựu tâm xả ly đối với ngũ uẩn này. Các vị phải tu tâm xả thật nhiều, phải thành tựu được tâm xả, phải phá cho được khối mê ám nát tan, chiến thắng quân thần chết, phải tác ý hân hoan, hỷ lạc, sung sướng khi mình được trở về núi tu giống như các vị Thánh Ni khi khất thực xong đều đi vào rừng.
./.
Thánh Ni Thời Đức Phật 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ác ma quấy nhiễu người tu PAGEREF _Toc157611469 \h 1
II. Tâm nguyện và dặn dò PAGEREF _Toc157611470 \h 10
I. Ác ma quấy nhiễu người tu
Hôm nay chúng ta nghe về Tương Ưng Tỳ-kheo-Ni để chúng ta thấy được oai đức của các bậc Thánh Ni thời Đức Thế Tôn còn tại thế, đây là những tấm gương thần thánh làm động lực khích lệ mạnh mẽ cho Tăng Ni cũng như trong đạo tràng để mình biết được đời sống sinh hoạt, sự tu học, sự hành trì, sự thành tựu của các bậc Thánh đức Ni chúng thời Đức Thế Tôn còn tại thế.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
Tỳ-kheo-ni Alavikà, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỳ-kheo-ni đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly.
Ác ma muốn làm Tỳ-kheo-ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỳ-kheo-ni Alavikà và nói lên bài kệ:
Ðời không có xuất ly,
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, I. Alavikhà)
Khi Ni sư ngồi trong rừng tĩnh lặng thiền tư thì có một bài kệ vang lên, "không ai có thể đi ra khỏi cuộc đời này đâu, sống một mình nơi xa vắng để làm gì, buồn chán lắm, hãy đi tìm những thú vui để hưởng thụ, nếu không sau này sẽ hối hận". Khi vang lên bài kệ có âm thanh như vậy, "mình không giải thoát được đâu, mình tu không được đâu, ở một mình không được đâu, ở một mình buồn chán lắm nên đi tìm dục lạc đi, nếu không sau này sẽ hối hận đó". Lâu lâu trong tâm mình có những suy nghĩ này không? Lâu lâu trong tâm mình có vang lên những câu nói này không? Đó là ác ma.
"Tỳ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: 'Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?'
Tỳ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: 'Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó'.
Tỳ-kheo-ni Alavikà biết được: 'Ðấy là Ác ma', liền nói lên bài kệ:
Ở đời có xuất ly,
Nhờ trí tuệ, ta chứng.
Này Bà con phóng dật,
Biết sao được pháp ấy?
Ái dục như kiếm thương,
Ðài chém đầu các uẩn.
Ðiều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.
Ác ma biết được: 'Tỳ-kheo-ni Alavikà đã biết ta', nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, I. Alavikhà)
Qua đây chúng ta thấy được trí tuệ của con người gái chân chánh của Thế Tôn, người con gái thật sự của Đức Phật. Ở đời này có sự thoát ra nhờ trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao, ta thấy, ta biết, ta chứng tri rằng có sự thoát ra đối với ngũ uẩn này. Bà con phóng dật ở đây chính là ác ma, lúc nào mình buông lung phóng dật thì lúc đó mình đang là bà con với ma, không phải là Thánh đệ tử, lúc nào mình đang buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, buông lơi, buông xuôi, buông thả thì lúc đó mình không phải con Phật, mình không phải Thánh đệ tử mà mình đang là bà con với ma, mình sống với ma, sống với quỷ, lúc nào mình có chánh niệm tỉnh giác, có sự thu thúc chế ngự thì mình là con Phật.
Người sống trong sự buông lung phóng dật thì làm sao biết được có đạo lộ xuất ly? Làm sao thấy được con đường thoát ra? Người không thấy được ngũ uẩn, không thấy được cấu uế trong ngũ uẩn thì làm sao thấy được xuất ly đạo lộ? Dù cho có nghe, có học nhưng vẫn không thấy, còn có trí tuệ là thấy biết được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, thấy biết được dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, thấy biết được dục ái, tham, sân, si, bản ngã, thấy biết được những con rắn độc, những con ma trong tâm mình thì gọi là "nhờ trí tuệ, ta chứng".
Nếu cứ chạy theo những hình tướng, âm thanh bên ngoài, những mùi vị, những sự tiếp xúc, đặt tâm theo chiều hướng đó thì làm sao biết được, làm sao thấy được, làm sao chứng được con đường thoát ra? Ái dục như gươm dao, "đài chém đầu cái uẩn" nghĩa là đoạn đầu đài, yêu thích cảnh bên ngoài, người, vật, tham đắm với sắc; thanh; hương; vị; xúc thì cái ham muốn, yêu thích, ái dục đó là đoạn đầu đài giết mình chết, chém đầu sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng không phải để giải thoát mà làm cho mình đổ máu, lệ rơi, làm cho mình khổ đau, buồn thảm hết đời này đến đời khác, sống trong cảnh chết chóc, buồn lo, trong cảnh bất an, tai họa, khổ sầu.
Các vị Thánh Ni hoặc là Thánh Tăng đều thiền quán, chứng đắc trong Thánh trí tuệ quán chiếu tận cùng, điều mà ác ma gọi là dục lạc thì các ngài thấy đó là khổ đau, không thấy có gì vui trong đó. Con gái ngoan của Đức Phật phải có trí tuệ đó, con trai hiếu thảo của bậc Điều Ngự phải có cái thấy biết đó, lấy những món trí huệ pháp khí này làm quà tết để nhìn thế gian này. Làm việc thì làm nhưng không hoan hỉ, thích thú, không tham ái, tâm mình không bị hệ phược, trói cột, dính mắc trong đó.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi Tỳ-kheo-ni Somà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.
Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỳ-kheo-ni đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày. Sau khi đi sâu vào rừng, nàng ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
Ác ma muốn làm Tỳ-kheo-ni Somà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni Somà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Somà:
Ðịa vị khó chứng đạt,
Chỉ Thánh nhân chứng đạt,
Trí nữ nhân hai ngón,
Sao hy vọng chứng đạt?" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, II. Somà)
Địa vị khó chứng đạt tức là Thánh quả A-la-hán, tu khó lắm, phải là bậc trí tuệ thâm sâu. Xã hội ngày xưa xem thường người phụ nữ, xem người phụ nữ chỉ biết nội trợ, ở nhà dọn dẹp, lau chùi, phụng sự cho đàn ông, ở đây nói "trí nữ nhân hai ngón tay" ý nói trí tuệ phụ nữ chỉ có một chút thì làm sao chứng đắc được địa vị của bậc Thánh nhân. "Cô tu không được đâu, cô nghiệp chướng nặng nề lắm", lâu lâu trong tâm mình có suy nghĩ này không?
"Mình tội nặng lắm, mình nghiệp nặng lắm, mình nghiệp chướng sâu dày lắm, phước mỏng nghiệp dày nên chắc tu gieo duyên thôi chứ làm sao đi vào các Thánh quả được", suy nghĩ này là ác ma, mình chấp nhận suy nghĩ này chính là ma, "mình phước mỏng nghiệp dày, chướng sâu huệ cạn", chướng ngại thì sâu, trí huệ thì cạn cợt, phước đức thì mỏng, ác nghiệp lại dày, tự mình có suy nghĩ, quan điểm như vậy nên mới tạo ra biết bao A-trăn kì kiếp, A-tăng kì kiếp. Những tư tưởng này sẽ diệt mất chánh pháp, không còn ai muốn tu chứng nữa hết.
Đức Phật không nói mà ngay trong chỗ ngồi bao nhiêu vị Thánh đệ tử chứng đắc Thánh đạo, Thánh quả, vậy mà chúng ta đi học ở đâu mà truyền bá tư tưởng bốn A-tăng kì, 100 ngàn đại kiếp mới chứng đắc, vậy thì không còn ai tu nữa, mang tư tưởng đó là đóng lại con mắt trí huệ của chúng sanh, đó là tư tưởng của ma. Nếu mình suy nghĩ như vậy thì mình có mong cầu chứng đắc ngay trong kiếp này không? Mình có nỗ lực hết khả năng để thấy được khổ, chứng nhập khổ, chứng nhập khổ không? Chỉ với một ý nghĩ như vậy thôi là mình đã bị loại ra khỏi dòng pháp này vì phải tu tới bao nhiêu A-tăng kì kiếp mới thành tựu cơ mà, bây giờ ai cũng nghĩ như vậy cho nên không còn Thánh đạo, Thánh quả nữa.
Trong khi pháp của Thế Tôn là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có khả năng tức thời, chỉ cần một chút vô minh thôi là mình bị đầu độc bởi những tư tưởng sai lầm, đó là tư tưởng của ma. Cho nên hết sức là nhỏ nhiệm, vi tế, sâu sắc, chỉ cần một chút thôi là sai lệch, đó là lý do con nói không được đọc những sách vở nằm ngoài Nikāya, không được nghe bất kì tư tưởng nào ở bên ngoài của người không thành tựu chánh tri kiến, những suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của họ bị phong tỏa trong vô minh đối với ngũ uẩn.
Chính họ còn mù lòa, còn quờ quạng thì làm sao chỉ cho mình thấy đường? Làm sao chỉ cho mình lối ra được? Vì vậy cần phá bỏ tư tưởng "phước mỏng nghiệp dày, chướng sâu huệ cạn" đó, cái này sẽ đúng trong một trường hợp khác để mình đừng có bản ngã, mình đừng có ta đây, đừng cho mình là hay, đừng kiêu mạn, kiêu ngạo thì đúng, còn kêu lý do đó ra để viện cớ không nỗ lực tu tập, không nhiệt tâm, không quyết tâm, không dốc lòng hành trì thì nó trở thành thuốc độc. Diệu dược hay độc dược là do con người biết sử dụng hay không biết sử dụng, biết đặt tâm đúng hướng hay không.
Nếu mình nghĩ mình nghiệp chướng sâu dày nên phải cố gắng tu nhiều hơn những người khác, mình phước mỏng nên phải làm phước nhiều hơn người khác thì đó là diệu dược, là thuốc bổ, thuốc hay. Nếu mình nghĩ mình phước mỏng huệ cạn, nghiệp sâu dày nên tu gieo duyên thôi, không giải thoát được thì đó là tà kiến, đó là viện cớ, là pháp chướng đạo, tư tưởng đó giống như tảng đá chặn trước mặt mình làm mình không đi qua được, mình có ý nghĩ đó là mình không cố gắng vượt qua cho nên cái quan trọng nhất trong tất cả cái quan trọng là thành tựu chánh kiến.
Nếu không thành tựu chánh kiến thì tu một thời gian là ngũ uẩn này rất mưu mô, một ý nghĩ nhỏ xíu thôi cũng làm mình lệch đường. Thế Tôn nói suy nghĩ này giết chết chúng sanh, chúng sanh chết trong suy nghĩ này, tư tưởng này. Một khi mình có suy nghĩ phải trải qua biết bao A-tăng kì kiếp mới giác ngộ thì mình còn nỗ lực, tận lực hết mình trong đời này nữa không? Còn dốc hết sức không? Suy nghĩ đó sẽ đóng cửa Dự Lưu, không còn cơ hội bước vào Thánh đạo, Thánh quả.
"Tỳ-kheo-ni Somà suy nghĩ: 'Ai đã nói bài kệ này? Người hay không phải người?'
Tỳ-kheo-ni Somà suy nghĩ: 'Ðây là Ác ma muốn làm cho ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ đó'.
Tỳ-kheo-ni Somà biết được : 'Ðây là Ác ma', liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Nữ tánh chướng ngại gì,
Khi tâm khéo Thiền định,
Khi trí tuệ triển khai,
Chánh quán pháp vi diệu?
Ai tự mình tìm hỏi :
'Ta, nữ nhân, nam nhân,
Hay ta là ai khác?'
Xứng nói chuyện Ác ma,
Ác ma thật cân xứng.
Ác ma biết được: 'Tỳ-kheo-ni Somà đã biết ta', nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, II. Somà)
Cái thấy biết về ngũ uẩn là không có nam nữ, thân tướng thì có nam có nữ, còn trí tuệ nếu đạt được chánh kiến thì nữ tánh không có chướng ngại, còn nếu không đạt được cái đó, định huệ mình không có, mình không có chánh quán pháp vi diệu thì nữ tánh sẽ chướng ngại. Một người có định huệ, khéo triển khai thiền quán, luôn chánh quán pháp vi diệu, luôn an trú tâm trong pháp thì nam hay nữ cũng không có gì chướng ngại, già trẻ, bé lớn, có học cao hiểu rộng cũng không là chướng ngại, miễn là có học pháp, thực hành pháp đều chứng đắc như nhau. Đây là sự bình đẳng chưa từng có trong lịch sử thế giới và lịch sử tôn giáo thế giới của Đức Như Lai, trong xã hội thời đó mà nói lên điều này là làm rung chuyển tất cả ngũ thiên trúc, vì vậy chúng ta phải lễ lạy bát kỉnh pháp, tình thương của Đức Phật là bao la.
Chính bát kỉnh pháp đó làm cho tâm an trú thiền định, triển khai trí tuệ, chánh pháp quán vi diệu, ai hiểu thì mới biết, không hiểu thì không biết được, chỉ biết nhìn theo phàm phu, nhìn theo vô minh, hơn thua, phân biệt, so sánh, không hiểu được tâm của bậc Thánh. Tâm của bậc Thánh là hiểu và thương, trí tuệ thâm sâu và đại bi. Vì lợi ích cho chúng Tỳ-kheo-Ni, vì an lạc cho chúng Tỳ-kheo-Ni, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng Tỳ-kheo-Ni mà Đức Phật đưa ra tám pháp cung kính đó, tám pháp đó là thuốc bổ, là dưỡng chất, là dinh dưỡng, là sự hỗ trợ rất lớn cho mình mau thành tựu, mình phải hiểu như vậy.
Những người đã có chánh kiến, đã có sự thấy biết đúng về pháp thì khi nghe những pháp đó người ta sẽ rất hoan hỉ, hạnh phúc vì những pháp đó trang điểm, làm đẹp thêm cho người tu dù cho chư Tăng ứng dụng ngược lại với chư Ni, tám pháp đó cũng ứng dụng với cả cư sĩ, không phải chỉ cung kính chư Tăng mà đối với người thấp hơn mình cũng có sự cung kính. Nói cao thấp là nói tương đối trong địa vị giả tướng bên ngoài, mình cũng lấy tám pháp đó để đối đãi chứ không chỉ riêng với quý thầy, không chỉ các cô mới ứng dụng tám pháp này mà các thầy cũng phải ứng dụng ngược lại, không phải các thầy các cô chỉ ứng dụng giữa những người xuất gia với nhau mà ứng dụng luôn cả với người cư sĩ tại gia thì mới bẻ gãy được tâm kiêu mạn của họ, mới nhiếp phục được tâm kiêu ngạo của họ, mới làm cho họ cảm thọ được, cảm động được cái pháp vi diệu của vô ngã thần thánh.
"Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực.
Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày; sau khi đi sâu vào rừng Andha, đến ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
Ác ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì; sau khi đi đến, liền nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì:
Sao nàng như mất con,
Một mình, mặt ứa lệ.
Hay một mình vào rừng,
Ðể tìm đàn ông nào?
Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: 'Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không phải người?'
Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: Ðây là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định nên đã nói lên bài kệ đó.
Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì biết được: 'Ðây là Ác ma', liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Con hại, đã qua rồi,
Ðàn ông đã chấm dứt,
Ta không sầu, không khóc,
Ta sợ gì các Ông?
Khắp nơi hỷ, ái đoạn,
Khối mê ám nát tan,
Chiến thắng quân thần chết,
Vô lậu, ta an trú.
Ác ma biết được: 'Tỳ-kheo-ni Kisà Gotamì đã biết ta' nên buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo-Ni, III. Gotamì)
Những bài này thiền quán rất hay, phải đọc chậm rồi quán chiếu, ghi chép ra làm chủ đề quán chiếu tu học và chia sẻ cho các huynh đệ, các vị Ni chúng phải lấy chủ đề này làm pháp đàm. Đó là những bậc Thánh Ni, mình là con cháu phải thừa kế di sản Thánh vật của tổ tiên, làm món quà dâng lên cúng dường cho Đức Thế Tôn và cúng dường cho Thánh tổ Kiều-đàm-di, cúng dường cho các Thánh nữ, Thánh Ni trong ngày đầu xuân. Bây giờ các vị nữ xuất gia được nghe, được hành trì theo bài kinh này được bao nhiêu vị? Những ngày người ta đang tất bật, lăng xăng mà mình được ngồi nghe những lời của bậc Thánh, nghe lại vẻ đẹp của Thánh tổ Ni, của các vị Thánh nữ, con gái ngoan của Đức Như Lai, của bậc Điều Ngự.
Ngày xưa các vị thường ở trong rừng, thường sống an tịnh, viễn ly, con vào rừng ngủ sáng thức dậy là hạnh phúc không diễn tả nỗi, đi ra không thấy ai rất yên tịnh, không nghe tiếng xe, không nghe tiếng giành giật, không còn nghe tiếng tham, sân, si nữa, tâm lắng sâu, trí rực sáng, vì thế mình cần phải có sự yên tịnh. Vì công việc phải làm, ở Sài Gòn mà con nhớ rừng ngoài làng tu.
Mình ngồi thành thị,
Nết dụng sơn lâm
Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính,
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.
(Trích: Cư Trần Lạc Đạo Phú; Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông)
Con thấy hạnh phúc khi được ở một mình giữa đại ngàn núi rừng không có bóng người, không tiếp xúc với ai để mình thâm nhập Thánh trí huệ, mình thấm thía, mình sung sướng vì cái khổ, mình quán cái khổ mà mình sung sướng.
"Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỳ-kheo-Ni, X. Vajirà)
II. Tâm nguyện và dặn dò
Chừng nào mình chứng đắc được trí tuệ này mình mới ca khúc khải hoàn tối thượng trên cuộc đời này. Tất cả chỉ là khổ đau thôi, con về thăm các cô bị bệnh, tóc bạc, da nhăn, lưng còng gối mỏi, ba mươi mấy năm rồi lần này về đi chợ mua bông cúng Phật giùm cho các cô, đã vậy ra chợ còn bị công an phạt, người chở đi còn té xe làm bể mấy trái dưa hấu, ngay đó con quán thâm sâu chứ nếu thâm sâu là chứng nhập luôn rồi. Trên núi không té mà dưới đất bằng lại té, cho nên sự vô thường, sự bất trắc là bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra, ba mươi mấy năm rồi đây là những oan trái nợ đời mình chưa trả hết, các cô rất hoan hỉ, rất hạnh phúc, rất vui.
Đi chợ con thấy người ta chất biết bao nhiêu trái cây, bông hoa mà không ai mua, tội nghiệp quá nên không trả giá gì cả, nói mua vậy đó rồi người ta bán bao nhiêu thì bán, đi từ núi về quê là bông hoa, trái cây chất hàng dài bạt ngàn mà không thấy người mua, con nghĩ năm nay sẽ khó khăn cho người bán trái cây, bán bông, biết bao nhiêu công nhân thất nghiệp, người ta lo sợ cái tết, con đòi quần áo mới, vợ mua sắm trong khi tiền không có lại thêm thiếu nợ, vì vậy phải ăn tết bằng tâm thương rộng lớn chứ đừng ăn tết nhỏ hẹp trong những cái bánh tét, bánh chưng, cành mai, phải ăn tết với từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm.
Mình không có tiền nên không thể giúp mọi người, mình chỉ có pháp, ai muốn pháp thì đến mình chia sẻ chứ tự động mình đi chia cũng không được, nhìn các bà già, ông cụ 70 tuổi đi bán vé số ở ngoài đường và hát lên những nỗi niềm bi thương của cuộc đời, của kiếp người. Những bài hát này là tự chú chế lại bằng nước mắt, bằng sự thấm thía về sự thật của thế gian này. Mình phải nhìn ra những cái tâm lậu hoặc đó, nhìn bằng trí tuệ để biết đây chỉ là ý hành mà thôi, nó như khói mây, là những thứ trống rỗng, tùy theo tâm thái mà mình có những cách tác ý, có khi tác ý mãnh liệt, quyết liệt, có khi mình dùng thánh trí huệ sắc bén quất nó như khói mây, không để tâm đến nó mà quay trở lại công việc của mình, phớt lờ giống như nó không có hoặc là mình đối diện một cách nghiêm túc, sâu sắc, mình đào bứng gốc rễ. Mình thấy có những lúc mình phớt lờ, không quan tâm nó nhưng có những cái mình phải đối diện trực tiếp.
Ác ma hỏi vị Tỳ-kheo-Ni tại sao ngồi một mình ứa lệ giống như mất con, ở đây chúng ta suy đoán là ngài đang quán thiền quán, chúng ta lâu lâu khi quán chiếu tâm từ cũng ứa lệ. Ngài ngồi một mình nước mắt đầm đìa là ngài đang quán chiếu thiền quán, trong chúng có nhiều vị chưa thọ được cái pháp, khi mình thọ được rồi mình sẽ xúc động. Các vị cư sĩ trong đạo tràng, 60-70 tuổi rồi, nuôi con cả cuộc đời, thành gia lập thất cho con rồi, cháu nội, cháu ngoại có đủ rồi, đừng để con làm hại rồi đến cháu làm hại, hãy về núi để tu tập, 60 năm cuộc đời đến đây là đủ rồi, trách nhiệm bổn phận làm mẹ, làm bà đến đây là đủ rồi, con có phước của con, cháu có phước của cháu, đừng vì con cháu mà làm ngựa trông, phải tu tâm xả.
Ngày xưa bên Ấn Độ, 50 tuổi là người ta sống đời phạm chí, sau 50 tuổi người ta sẽ làm du sĩ đi lang thang vào rừng, vào núi, đi vân du, từ giã đời sống gia đình để tu phạm hạnh, bây giờ có khả năng vẫn còn. Cố hòa thượng ở Bửu Liên nói với con ngài có tâm nguyện 60 tuổi là ngài về núi, lúc đó ngài 65 tuổi rồi vẫn chưa về núi được nên ngài buồn, cuối cùng 65 tuổi ngài ra đi. Con dự định cho mình chậm nhất là 50 tuổi là phải sống trong rừng, cách ly trần thế, thực hành và chứng ngộ thánh pháp tối thượng của Đức Phật, mình không muốn hối hận giống thầy của mình, con có suy nghĩ là phải làm sớm hơn thầy mình, trễ nhất là 50 tuổi vì 50 tuổi là mình đã nếm đủ cuộc đời, chua, cay, đắng, chát, ngọt bùi, thương đau, mồ hôi, máu và nước mắt mình cũng đã nếm đủ. Bây giờ mình chỉ đem hết mạng thừa của mình, gọi là dư mạng, nghĩa là mạng sống còn sót lại để thực hành thánh pháp, để sống với pháp, để thực chứng cái pháp.
Các vị cư sĩ không dám bỏ cái tết để lên núi tu là quá yếu, không dám bỏ gia đình để lên núi tu một tuần là yếu kém. Sau này con không còn tới lui phố thị nhiều nữa, chỉ có những khóa tu trên núi thôi, 70 tuổi rồi mà bỏ cái nhà không nổi, phải mạnh mẽ lên, phải tu tâm xả cho nhiều lên. Đám cưới, đám hỏi, thôi nôi, đầy tháng, đám giỗ đã trải qua biết bao lần rồi, bây giờ gần chết rồi mà những sợi dây đó vẫn trói cột, "con ơi, mẹ hi sinh cho con suốt cả đời rồi, mấy chục năm rồi, con thương mẹ để mẹ đi tu, con thương mẹ để mẹ được về núi, đó là sự báo hiếu lớn nhất của con đối với mẹ", tuy nhiên phần quan trọng nhất là chính tự thân mình có cắt đứt được không, có giảm bớt được tâm luyến ái với con cháu không. Phải mạnh mẽ lên, phải nâng cao tâm xả, tắt điện thoại trong khóa tu, cần thiết có công việc thì gọi về.
Vị Tỳ-kheo-Ni Kisà Gotamì rơi lệ vì cảm pháp, vì thấm pháp chứ không phải vì nhớ con, nhớ chồng, vì nhớ cháu. Đó là những đề tài để chúng ta chiêm nghiệm, quán chiếu, "Khắp nơi hỷ, ái đoạn" nghĩa là chấm dứt mọi sự yêu thích mọi chỗ, mọi nơi, sự yêu thích, ham vui không còn nữa. Mình tu một ngày trên núi còn hơn một năm mình sống lúc trước chưa biết pháp này, một ngày mình sống trên núi đúng với thánh giới, thánh định, thánh tuệ còn hơn sống cả năm trong vô minh, bản ngã, hơn thua, mình sống một ngày trên núi rừng thực hành thánh đạo còn ý nghĩa hơn sống ngàn năm không thấy pháp.
"Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)
Mình sống bảy ngày trên núi thực hành pháp tu trọn vẹn bằng tất cả tấm lòng chân thành, nhiệt huyết của mình còn hơn sống 70 năm trong vô minh, tham ái, si mê, bản ngã. Tại sao không nỗ lực lên, quyết liệt lên? Sau khóa tu này chưa chắc quý vị còn gặp con cho nên tranh thủ về tu. Sự ham thích, sự yêu thích đều chấm dứt, tâm an trú nơi vô lậu, không còn dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu nữa, phải thấy hạnh phúc, vui sướng trong khi mình được về núi, được ở trong rừng, phải thấy hạnh phúc, vui sướng khi mình được viễn ly, được rời xa những thứ ồn ào, náo nhiệt, lăng xăng, động loạn.
Mình phải mạnh mẽ lên để từ bỏ những sợi dây chồng con, cháu, anh em, mình đừng dại khờ, đừng lệ thuộc vào những ngoại cảnh bên ngoài, vào những người khác, đến khi mình đối diện với tử thần, khi mình đối mặt với sự bất trắc, bất thường, bất như ý xảy ra thì mình sẽ khổ đau, không ai giúp mình được, không ai cứu mình được, không ai chịu khổ thay mình được trừ khi nào mình thành tựu trí tuệ, thành tựu tâm xả ly đối với ngũ uẩn này. Các vị phải tu tâm xả thật nhiều, phải thành tựu được tâm xả, phải phá cho được khối mê ám nát tan, chiến thắng quân thần chết, phải tác ý hân hoan, hỷ lạc, sung sướng khi mình được trở về núi tu giống như các vị Thánh Ni khi khất thực xong đều đi vào rừng.
./.