Đã sửa - Kinh NIKAYA Giảng Giải - Cách Tu Của Đức Phật 2A (1)
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI
CÁCH TU CỦA ĐỨC PHẬT (2A)
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hai suy tầm: PAGEREF _Toc50101133 \h 1
II. Tính đối lập hai suy tầm: PAGEREF _Toc50101134 \h 7
I. Hai suy tầm:
Trong Trung Bộ Kinh, bài kinh số 19 kinh “Song Tầm” (tức là hai sự hướng tâm), Đức Thế Tôn chỉ dạy rất rõ pháp hành cho chúng ta.
“Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”.
Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai”.
Thế Tôn tâm sự cho chúng ta biết trước khi thành Chánh Giác, còn là Bồ-tát. Ngài phân chia tâm của Ngài ra thành hai phần. Một phần là những suy nghĩ, suy tư, suy tầm về dục, ham muốn, nóng giận, bực bội, sân hận và tổn hại, đó là phần thứ nhất (nhóm thứ nhất).
Nhóm thứ hai là phàm có suy nghĩ nào muốn rời khỏi dục, đi ra khỏi dục, thoát ra khỏi dục, xa lìa dục. Những suy nghĩ nào không có sân, không có tức giận, không có suy nghĩ tổn hại cho người khác, đó là thành nhóm thứ hai.
Nhóm thứ nhất là ác bất thiện pháp, nhóm thứ hai là thiện pháp. Ngài phân tâm ra làm hai nhóm suy nghĩ như vậy.
Bài kinh này hết sức quan trọng trong pháp hành của chúng ta.
“Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống siêng năng, tinh tấn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi có một sự suy tầm, suy nghĩ nào về dục sanh khởi lên, Ta liền biết bằng trí tuệ. Suy nghĩ về việc này khởi lên nơi Ta, những suy nghĩ về dục này đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, tiêu diệt trí tuệ, thuộc về phiền não, không đưa đến Niết-bàn, an lạc.
Chư Tỷ-kheo, khi ta suy tư như vậy, thì tâm hướng về dục này, dục biến mất”.
Ở đây Đức Phật chỉ pháp hành cho mình, đó là Như lý tác ý. Chúng ta mới thấy chỗ lợi hại, công năng vĩ đại của nhận diện ngũ uẩn. Nếu mà không biết thọ, tưởng. hành, thức, mà với một đống rối nùi trong đó thì làm sao mình biết cái nào là hành, cái nào là thọ, cái nào là tưởng. Cho nên khi đã nhận diện ngũ uẩn rồi, thì qua bước này, là bước nhận diện lậu hoặc, quét rác, tẩy rửa những cấu nhiễm, uế nhiễm, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Vì sao dùng chữ “lậu” và chữ “hoặc”? “Lậu” là mình không biết nó, nó qua mặt mình vô lượng, vô biên kiếp mình chưa từng biết nó, từ vô thỉ, sanh tử kiếp cho đến nay. Mình không biết nó, không thấy nó, nó qua mặt mình, cho nên gọi nó là “lậu”, chứ mình biết nó thì đâu còn là “lậu”. Thành ra chữ lậu nó hay sao là hay, nó vô cùng hay và thâm thúy. Một sự rỉ chảy, một sự thấm đẫm, một sự rò rỉ, nó giống như chiếc thuyền có lỗ mọt (lỗ thủng), mà mình không biết. Mình ở trên đó, mình cứ ăn, cứ chơi, cứ ngủ, cứ nói, cứ thấy bình thường. Tới chừng mình phát hiện là rồi, hết cứu. Đó mới gọi là “lậu”.
Còn “hoặc” là gì? Là mê hoặc, mê lầm, không hiểu biết. Một sự mê lầm, mê hoặc, không hiểu biết nó rò rỉ, nó lén lút, nó âm thầm qua mặt và hoạt động một cách tinh vi, xảo trá.
Hay tuyệt vời “Bốn Thánh trí về lậu hoặc”, là tối tôn, tối thượng, báu vật vĩ đại, là thành quả tối thượng của bậc Chánh Giác đã cống hiến cho thế giới. “Bốn Thánh trí về ngũ uẩn”, “Bốn Thánh trí về lậu hoặc” mà làm nên lịch sử mấy ngàn năm của Phật giáo, và từ đây, các bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian này.
Cho nên “Ta phân tâm của Ta làm hai nhóm, một nhóm ác và một nhóm thiện”. Nhóm ác là nhóm gì? Ở đây mình nói tổng quát thôi, chứ nói chi tiết ra là nhiều lắm, như: Tham, sân, si, vô minh, bản ngã, ta đây, hơn thua, đố kỵ, ganh tị, phải quấy, đúng sai, thị phi, nhân ngã, bỉ thử… và vô số cái khác nữa, nhưng ở đây nói tổng quát lại là dục, sân và hại, mình phải hiểu. Khi những cái đó nó sẽ sanh khởi lên thì Ngài làm sao? Ngài quở trách Ngài “những suy nghĩ, những cảm giác, hình bóng này đưa đến hại mình, hại người, đưa đến khổ mình, khổ người, khổ cho tất cả”. Đây là Như lý tác ý, là Chánh tư duy, là tuệ lực, là sự tự mình chỉ trích mình, tự mình dò xét mình, tự mình đi đến mình.
Đó là pháp cú Đức Phật dạy đó. “Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình” là chỗ này. Tự mình quở trách mình, tức là mình dùng Như lý tác ý, mình mắng chửi mình, la rầy cái tâm dục, cái tâm sân, cái tâm hại này (trước đây bao nhiêu lần chúng ta đã chia sẻ về Như lý tác ý rồi). Mình tác ý “ngươi dục như vậy chưa đủ hay sao? Vô lượng, vô biên kiếp, nhà ngươi lang thang giống như cô hồn vất vơ vất vưởng như vậy chưa đủ hay sao? Đam mê, ưa thích, luyến ái mệt mỏi rồi, thân tàn ma dại như vậy rồi chưa đủ hay sao? Hỡi cái tâm ngu si, mê muội kia, người tự làm hại người, làm hại mọi người như vậy còn chưa vừa lòng hay sao? Đây là phiền não, khổ đau, là đưa đến diệt mất trí tuệ, không có đến hạnh phúc, an lạc, tịch tĩnh của Niết-bàn”. Khi Ngài quở trách như vậy, thì những suy nghĩ đó biến mất.
Mình thấy đó, Ngài tu thuần thục, sức mạnh Tuệ lực của Ngài mạnh. Chúng ta nhớ, trong kinh là nói khẩu quyết thôi, Đức Phật nói vắn tắt như vậy, chứ không phải đơn giản như vậy. Mình phải hiểu rộng ra, chứ không phải nói một câu đó là nó tan đâu, mà là cả một cuộc chiến. Nhưng trong kinh không kể hết cho mình nghe, trong kinh chỉ nói khẩu quyết, định lý, mà từ trong đó mình phải vận dụng. Có những cái trong đó mình phải tác ý suốt ngày, suốt tuần, có khi cả tháng, thậm chí mình tác ý hằng năm. Chứ không phải mình nói “ủa sao theo trong kinh nói mà mình tác ý hoài, bảy ngày, một tháng, hai tháng nhập thất ra mà sao vẫn còn cái bản ngã?”, không phải. Nó được nhìn thấy, nó được giảm bớt, không phải ngay lập tức mà nó hết được.
Nhưng mà mình có sự nhìn lại, có sự tác ý thường xuyên thì nhất định nó phải đoạn giảm. Còn mình vừa buông lung, vừa phóng dật, vừa bỏ lơ qua một cái là nó trở lại. Cho nên mình tác ý như vậy thì một ngày dục tầm sẽ biến mất, những cái tâm hướng về dục đó sẽ biến mất.
“Chư Tỷ-kheo, ta như vậy, ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm”.
Chúng ta thấy không, quá rõ ràng rồi đó. “Ta tiếp tục trừ bỏ những cái đó”, chữ “tầm” ở đây là sự hướng tâm, những suy nghĩ hướng về cái đó, gọi là tầm. Thí dụ như tâm của mình hướng về người mình giận, hướng về hình bóng của người đó, suy nghĩ những về hình bóng đó. Rồi mình phân tích những lời nói, hình ảnh đó, cái đó gọi là sân tầm. Chúng ta thấy, không có một cái gì mà Đức Thế Tôn bỏ sót hết, trong tâm mình có cái gì, thì tất cả những cái đó Đức Phật đều Chánh Đẳng Chánh Giác, nhìn thấy hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ. Tất cả sự vận hành, hoạt động man trá, gian manh và xảo quyệt của các lậu hoặc trong thân ta đều được Thế Tôn soi sáng, phơi bày, vạch trần ra hết. Đó gọi là bậc Tri giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác bốn Thánh trí về ngũ uẩn, bốn Thánh trí về lậu hoặc.
Như vậy thì Ngài đi đến chỗ không còn một chút xíu nào (dù bằng hạt bụi) của tham, sân, si, bản ngã hết. Mới gọi là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu còn một chút xíu lậu hoặc mà Ngài chưa nhiếp phục, đoạn trừ, tẩy sạch, diệt tận, thì Ngài không thể gọi là bậc A-la-hán lậu tận, Chánh Đẳng Chánh Giác. Chẳng những Đức Thế Tôn như vậy, mà các bậc Thánh giả đều như vậy hết. Cho nên các bậc đó gọi là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người.
Còn mình bây giờ xưng “con là đệ tử của Phật”, ở trong chùa ăn hết cơm gạo, mà lậu hoặc không biết, ngũ uẩn cũng không hay, nhận cục thịt này làm tôi, làm của tôi. Ai đụng vô một cái là thôi, suốt ngày cái tâm suy tầm theo dục, theo ái, theo sân, mà không phát giác, không phát hiện gì hết, nhục không? Thật là nhục nhã, thật là tồi bại, hèn hạ. Thật là xấu hổ, tủi hổ cho chúng ta, sanh ra trong một thời đại mạt tận này, Chánh pháp không được nghe, gặp toàn là tà sư, tà pháp, tà nhân, tà đạo, tà kiến.
“Chư Tỷ-kheo, như vậy ta tiếp tục từ bỏ, xả ly và đoạn tận những dục tầm đó. Suy nghĩ về dục, về sân, về hại.
Trong khi ta sống không phóng dật, không buông lung, ta tinh tấn, nhiệt tâm, tinh cần, sân tầm khởi lên, hại tầm khởi lên, thì có tâm đó hướng về sự khó chịu, bực bội”.
Chúng ta biết là khủng khiếp lắm, giờ buổi sáng mình ra ngồi một chút là mình quấn khăn mấy lớp vô. Thế tử Tất-đạt-đa có khăn quấn không? Ngài nhặt tấm vải của người chết ở trong nghĩa địa. Trong bài kinh “Khiếp Đảm Và Sợ Hãi” chúng ta hãy về đọc cho kỹ, nghe cho kỹ. Ngài nói rằng nghe một tiếng động, Ngài cứ tưởng tượng là con rắn hay con mãnh thú, nửa đêm chỉ có một mình trong rừng, mà phải chịu nắng, chịu mưa, chịu bão, chịu rét, run bần bật, lạnh, đói. Nếu mà như vậy thì làm sao không có sân tầm khởi lên? Khó chịu, bực bội chứ. Những cái đó Ngài phải nhiếp phục “ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh tấn, tinh cần, sân tầm khởi lên thì ta cũng tác ý vậy. Những suy nghĩ về sân này đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí huệ, dự phần phiền não, không đưa đến Niết-bàn”.
Ngài tác ý mạnh mẽ như vậy, thì sân tầm biến mất, khó chịu, bực bội biến mất. Chúng ta thấy không, đó là một công trình vĩ đại của thái tử Tất-đạt-đa. Mình bây giờ tất cả mọi thứ dâng đến miệng như vậy, mà nhiều khi còn sân hận, còn khó chịu, còn bực bội. Mỗi khi như vậy mình cảm thấy “nhục, nhục”, ăn không hài lòng, chỗ ở cũng không hài lòng, mặc thì chê khen. Phải tác ý, phải tẩy sạch các lậu hoặc, phải để tâm thật nhiều, còn nếu không thì nhục lắm. Nhìn lên Tôn tượng của Thế Tôn thấy xấu hổ lắm, làm sao mà nhìn lên được. Mỗi bữa tối, mỗi buổi sáng, làm sao mà nhìn lên? Mặt mũi nào mà nhìn lên? Mình còn chất chứa dục tầm, sân tầm, hại tầm, những si tầm về dục, sân hận, tức giận, bực bội này, làm tổn hại người khác “nhục, nhục, nhục! Tồi bại, hèn hạ, thối tha và bẩn thỉu! Hại mình, hại người, hại cả hai, làm tổn giảm trí huệ, dự phần phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, mấy câu Như lý tác ý của Đức Phật mình phải học thuộc lòng.
Ngày xưa các Ngài dùng những từ ngữ nhẹ nhàng lắm, công đức trí huệ của Ngài gần tới viên mãn. Còn mình bây giờ nghiệp chướng nặng nề, u mê, nên mình phải dùng “đô” cho nó mạnh, chứ mình nói nhẹ như vậy thì tâm mình nó trơ trơ à. Mình phải nói câu gì đó mà cho nó gục mặt nó xuống, nói một câu gì đó mà lựa một từ nặng nhất trên thế gian này mình đập vô cái tâm u mê, dục ái, sân si, bản ngã đó. Nói làm sao phải sanh ra cảm giác, thì đó mới được, còn mình nói mà nó trơ trơ, vậy thì tác ý đó không hiệu quả.
II. Tính đối lập hai suy tầm:
Bây giờ, mình bắt đầu vào những đoạn quan trọng.
“Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối vấn đề ấy. Nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về dục tầm, vị ấy từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng về dục tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về dục tầm”.
Cái này sâu sắc vô cùng, nếu mình suy nghĩ nhiều về vấn đề gì đó, thì tâm của mình sẽ sanh khuynh hướng về vấn đề đó. Nếu mình suy nghĩ, mình cứ nghĩ, mình cứ nhớ, cứ tưởng nhiều về dục, thì mình sẽ từ bỏ ly dục. Những hình bóng đó cứ hiển hiện trong tâm hoài, những suy nghĩ đó cứ để cho nó tiếp diễn. Những cảm giác đó, hình bóng, dục, suy nghĩ đó, cứ suy nghĩ hoài về cái đó, tưởng hoài về cái đó, thì vị Tỷ-kheo này, người tu này, sẽ rời bỏ tâm ly dục, những suy nghĩ về ly dục. Người này sẽ bị nhấn chìm trong những suy nghĩ, cảm giác, tưởng, về dục. Người này sẽ bị lún xuống đầm lầy của dục (dục tưởng, dục thọ, dục hành). Những cảm giác về dục sẽ nhấn chìm người này, những hình bóng về dục sẽ bủa vây, ám ảnh người này. Những suy nghĩ về dục sẽ buộc chặt, quấn lấy, làm người này sẽ không thoát ra được dục.
“Tâm sanh khuynh hướng về dục”, cái tầm này quan trọng lắm, là sự hướng tầm, cái tầm này nó rất là vi tế. Giống như tầm tứ là để mình hướng tâm sơ thiền ly dục, thì cái này là tầm tứ hướng tâm về dục. Cái tâm này nghiêng về hướng đó, si tầm hướng đó, muốn tìm kiếm cái đó, nghĩ về hướng đó, tưởng về hướng đó, si về hướng đó, hướng về hướng đó, thì nó là tầm.
Khi nó ở trong đó luôn, không đi ra, nó bám chặt vào những cái đó, nó gọi là tứ. Mình thấy con bươm bướm, nó bay hướng về bông hoa, thì đó là tầm. Còn khi nó đậu vào nhụy hoa để hút mật, thì đó gọi là tứ.
Thì tâm mình cũng vậy, cái tâm mình hướng vào vấn đề nào, thì là tầm. Nó hướng về dục, gọi là dục tầm. Tâm mình nó hướng qua vấn đề sân, nó nhớ hình ảnh, dáng vẻ của người đó, câu nói, dáng vẻ, cử chỉ như vậy đó, nhận thức trong này nó sanh hình ảnh, suy nghĩ cảm giác. Khi mới bắt đầu hướng về, thì gọi là tầm, nhưng nó trú vô trong đó, để nó vận hành các pháp ở trong đó, thì là tứ và cái đó gọi là sân tầm. Trong lúc đó mình không phát hiện gì hết, mình là một với nó luôn, mình nhảy vô trong đó, mình ở trong đó, rồi nó thiêu, nó đốt, nó cháy. Xong rồi mình nói, mình nghĩ, mình làm, rồi mình bung ra. Lậu hoặc nó đang xâm chiếm, nó đang điều khiển, nó đang chi phối hoàn toàn, mình là nô lệ cho dục, cho sân, cho hại.
Rồi bản ngã cũng vậy, mình gọi là ngã tầm. Cái tâm nó nghiêng về cái tôi, và mình suy nghĩ theo chiều cái tôi “người đó nói câu đó xúc phạm mình, hành động như vậy là khinh thường mình đó!”. Tâm mình bắt đầu nói về cái đó, gọi là tầm, rồi khi bắt đầu nó ở trong đó, để nói phân tích “khinh khi tôi như thế này, thế kia, là coi thường ”, nó làm đủ thứ kiểu trong đó hết, ở trong đó nó phân tích này nọ, cái đó là tứ.
Những người tu tinh vi, sắc sảo, bén nhạy, sắc bén là tầm mới vừa sanh khởi, là người ta chặn ngay, thoát ra liền, chứ không để tứ nó diễn ra. Chúng ta thấy cái thiền định, công phu, trí tuệ và sự Định tuệ, Niệm định tuệ là nó sâu sắc, bén nhạy như vậy. Tức là tâm mình mới vừa hướng về hướng nào, là mình chặn liền, thoát ra liền. Còn khi mà nó vô tứ rồi là nó biểu hiện ra ngôn ngữ, ý hành trong này. Còn khi nó tứ rồi xác định là nó ở trong chỗ đó, thì bắt đầu ý hành nó sanh khởi, khẩu hành sanh khởi, thân hành sanh khởi, nghiệp sanh khởi, quả báo lãnh đủ.
Chúng ta thấy không? Trong bài kinh, Đức Phật tiết lộ bí kíp Chánh Giác của Ngài trong bài kinh “Song Tầm” này. Có khi mình đệ tử Phật suốt đời mà mình chưa nghe được bài tin này. Cho nên phải nghe, phải học, phải chiêm nghiệm, phải thực tập. Những câu này thầy có gạch dưới đó “suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề đó”. Người bác sĩ lúc nào họ cũng nghĩ đến trị bệnh, nghĩ đến thuốc men, nghĩ đến đi cứu người. Thì họ suy nghĩ nhiều về thuốc men, về những phương pháp trị bệnh, họ đi đến đâu họ cũng nói chuyện thuốc, sức khỏe. Những người thợ mộc họ lúc nào cũng suy nghĩ về gỗ, về cây này, cây kia. Họ nhìn cây nào họ cũng nghĩ “ờ cây gỗ này tốt lắm, làm ra cái gì đây? Cái bàn, cái ghế, cái tủ hay tượng Phật hay cái gì đó”, vì tâm họ nghĩ về khuynh hướng đó nhiều. Còn người mà thích xe, thì đi đâu họ cũng nói về xe thôi. Đó là “suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thì tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy”.
Rồi người tu mà lúc nào cũng suy tư, hướng về vấn đề “làm sao ra khỏi dục?”, thì người này có nói gì, thì cũng nói về Bất Tịnh, nói về Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, nói về Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, nói những cái để đi ly dục, ly tham, ly ái. Mình nghe người đó nói chuyện, thì mình biết tâm của người đó hướng về cái gì, khuynh hướng của người đó là cái gì, chỉ cần nghe thôi là mình biết. Họ nói tới, nói lui nó lại quay lại chỗ đó. Họ nói qua, nói lại, họ nói một hồi cũng quay lại chỗ đó, là tâm của họ khuynh hướng cái đó.
Mình coi thử trong tâm của mình hướng là hướng gì? Cứ gặp là nói xấu người này, nói xấu người nọ, gặp là cứ hờn trách, trách móc. Chứ gặp không thấy nói pháp ly tham, pháp giải thoát, tăng thượng giới định tuệ, mà gặp là sổ ra. Chừng nào học kinh thì lúc đó mới nói kinh, còn lúc không học là“ôi cha! nó bốc mùi”, còn hơn là hũ mắm, cái đó là nhục, là xấu hổ lắm, hũ mắm di động, mắm cá (dưới miền Tây có mắm gì hôi nhất? Mắm cá lóc hả?). Đó, đi đến đâu bốc mùi đến đó.
Còn người lúc nào cũng hướng về tâm từ, thì đi đến đâu là nó tỏa ra hương thơm, thấy chưa? Nhớ học thuộc câu này “Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Khi tâm đã nặng về dục tâm, thì vị ấy từ bỏ ly dục tầm”.
“Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư quán sát nhiều về sân, về hại, thì cũng vậy. Giống như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu, khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm roi đánh các con bò bên này, đánh bên kia, chế ngự chúng ngăn chận chúng. Tại sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì người mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa đến sự chết, sự tù tội, sự đánh đập hay sự trách móc.
Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta đã thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, sự uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp”.
Thấy không? Đức Phật phân ra hai nhóm là thiện và bất thiện rất rõ. Ngài tuyên dương cái thiện “ta thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp”. Ở đây nói gọn, chứ nói ra là nhiều lắm, như: sự an lạc, hạnh phúc, hỷ lạc, thanh tịnh, giải thoát, lợi ích, viễn ly các thiện pháp, lợi ích tốt lành “Ta thấy điều đó”. Rồi Ngài đưa ví dụ như thế nào? Khi mà sắp đến mùa thu hoạch thì mục đồng chăn bò, cầm roi đánh bên này, đánh bên kia, chế ngự, ngăn chận nó Tại vì con bò nó thấy lúa của người ta là nó nhào vô ăn lúa, ăn mạ. Nó ăn như vậy thì người mục đồng bị đánh đập, bị trách móc, hay là tù tội, rồi có khi chết nữa.
Chúng ta thấy, rất dễ nói qua nói lại một vài câu; lấn một, hai tấc đất; một, hai cây cà phê, cũng có thể xảy ra mất mạng như thường. Cho nên ở đây, vì mục đồng sợ bị trách móc, bị đánh đập, bị tù tội hay là sợ chết. Nên mục đồng phải cầm roi đánh những con bò, đánh bên này, đánh bên kia, ngăn chận nó.
Thì cũng vậy, người tu là chăn cái tâm của mình như chăn dắt con bò hoang, trâu hoang ở trong tâm của mình. Nó gặp lúa mạ là nó nhào vô, nó xơi bất kể, nó có biết gì đâu, nó nhào vô. Vì nó ngu si, si mê, hễ gặp những đối tượng sắc, thanh, hương, vị, xúc, là nhào vô, không biết tu là gì, rồi nó sẽ bị trách móc, bị đánh đập, bị tù tội, cho đến bị mất mạng, nó chết, nó không biết chăn cái tâm. Thì cũng vậy, người tu là người phải biết chăn giữ, kiểm soát, phòng hộ, bảo vệ tâm của mình, ngăn chận, chế ngự tâm mình. Chứ không phải tu là cứ để nó như vậy thôi, để nó tự nhiên đi, cái này hoàn toàn không phải giáo pháp của Đức Phật. Có những người quan niệm tu là cứ để tự nhiên, tự nó sanh ra rồi nó diệt, vậy thì còn tu cái gì nữa?
Dốc hết sức lực, mình ngày đêm tinh tấn, nỗ lực tu tập, mà dục nó còn quậy, nó xâm chiếm, nó phá, nó hoành hành, nó đốt cháy mình, bản ngã nó còn trùm phủ mình. Mà bây giờ mình nói tu mà mình cứ để tự nhiên, tự nó sanh rồi nó diệt, vậy Thánh đạo, Thánh quả không còn, không có Dục Như Ý Túc, không có Tinh Tấn Như Ý Túc, không có Tâm Như Ý Túc, không có Tư Duy Như Ý Túc, không có Tứ Chánh Cần gì nữa hết. Nỗ lực diệt tất cả các ác pháp, nỗ lực làm sanh các thiện pháp, thì như vậy Bát Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc của Đức Phật sụp đổ hết. Vậy mà vẫn có những người đề xướng tu kiểu như vậy, cái sân nó khởi lên “thôi cứ để như vậy đi, nhìn nó thôi là tự động nó diệt, cứ để mặc kệ nó”, rồi dục cũng vậy nữa, nó sanh rồi nó sẽ diệt. Thành ra hết sức nguy hiểm.
“Chư Tỷ-kheo cũng vậy, ta thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, uế nhiễm của các pháp bất thiện”. Đức Phật dùng những từ để cho mình sanh cảm thọ lên, thấy được sự nguy hiểm, tác hại, sự hạ liệt (tức là sự hèn hạ, thấp kém, nhục nhã, tồi bại) của các ác pháp. Mình phải chửi mình như vậy. Khi sanh khởi sân, sanh khởi dục, sanh khởi bản ngã lên “mày có tồi bại hay không? Mày đi vô mày nhìn gương đi, cái đầu trọc của mày đó, mày nhìn đi, cái bát mày ăn xin đây nè, mày ngã mạn với ai? Mày lên mặt, lên mày với ai? Hỡi cái đồ thối tha, không biết xấu hổ”. Mình dùng những từ cho nó mạnh lên, thì nó mới sanh khởi những cảm giác đó, nó mới gục đầu, nó mới cúi đầu, nó mới hạ thấp cái đầu nó xuống. Tất cả gần như đều cần Như lý tác ý hết.
“Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta thấy sự hạ liệt, sự uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp”. Cho nên “công thưởng tội trừng”, mình phải Như lý tác ý, mình tu mà mình được cái gì là mình cho nó thưởng, mình tác ý cho nó hân hoan, cho nó phấn khởi, cho nó hỷ lạc lên, vui lên. Nếu mình thấy các ác pháp nó sanh khởi, là mình mạ lậy, mắng nhiếc, chửi rủa nó, trong tâm của mình, mình xử nó “công thưởng tội trừng”. Chứ không phải trơ trơ vậy hoài, tu ba hỏi lại cũng “không thấy gì hết”, bảy năm tu gặp lại cũng “không thấy gì hết”, mười lăm năm gặp lại nói “tu có biết gì đâu, không biết cái gì hết trơn”, không nhìn thấy được tâm mình, không nhìn thấy được lâu hoặc.
Bây giờ mình nói đến phương diện thứ hai.
(Mình ở thêm chút nữa, lâu lâu phơi nắng một bữa, tốt, không sao đâu. Ở nước ngoài người ta đi phơi nắng, trong nhà riết bị bệnh. Lúc này mình phải tác ý như vậy nè “phơi nắng tốt, không sao”, đừng ngồi đó sợ đen)
“Chư Tỷ-kheo, trong khi ta sống không có phóng dật, tinh tấn, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi dục tầm sanh khởi, những suy nghĩ xa lìa dục khởi lên, ta liền biết bằng trí tuệ”. Cho nên buổi tối mình xem Quán Bất Tịnh, những hình ảnh mình nhìn đó, Như lý tác ý đó, là ly dục tầm khởi lên. Như Đức Phật nói: “khi mà khởi lên như vậy, này các Tỷ-kheo, ta liền biết bằng trí tuệ như vầy: Cái suy nghĩ lìa dục này khởi lên nơi ta”. Tức là trong tâm nó sanh khởi lên những suy nghĩ muốn nhàm chán, muốn xa lìa cái dục sanh khởi lên là Ngài biết ngay lập tức bằng trí huệ, Ngài biết Ngài có ý hành đó, suy nghĩ đó, Ngài suy nghĩ tiếp tục: “những sự suy nghĩ ly dục này không đưa đến hại mình, hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần phiền não, đưa đến Niết-bàn”.
Cho nên những suy nghĩ ly dục là phát triển mạnh nó lên, suy nghĩ nhàm chán đống thịt, máu, tanh hôi này. Càng suy nghĩ nhiều chừng nào thì càng tốt, không sao. Nhưng mà nếu khi căng thẳng thì mình Chỉ, mình phải biết cân bằng Chỉ Quán, nhưng quán phải nhiều, giờ cái tâm u mê của mình nó nặng lắm, nên cái Quán nhiều lên, để nó tẩy rửa cái tà kiến về ngũ uẩn, cái kiến chấp, cái thân kiến, cái pháp Quán là nó tẩy cái đó. Rồi nó dùng cái “Chỉ, Định, Huệ cân bằng”, “Chỉ, Quán song vận” song song vận hành. Lúc nào thấy tâm của mình dao động quá, thì mình Chỉ. Lúc nào mình thấy nó ù lì quá mình khởi Quán. Mình phải biết mình là một người thợ khéo ở trong tâm thức của mình, mình điều chỉnh, điều hòa, làm sao để cho nó cân bằng, lúc đó cần cái gì, mình phải biết.
“Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm Ta suy tư, quán sát về ly dục tầm (những suy nghĩ về ly dục) không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban ngày Ta suy tư, quán sát về ly dục tầm, không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi”.
Tức là Ngài nói Ngài quán sát về sự lìa dục, Ngài không cảm thấy sợ hãi, tức là Ngài bình an. Sự lợi lạc, lợi ích của quan sát ly dục là sự bình, Ngài không có sợ hãi.
“Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm, ban ngày, Ta suy tư, quán sát về ly dục tầm, không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi”.
Từ trong câu này cho thấy được Ngài quán rất nhiều, ban ngày Ngài quán, ban đêm Ngài quán, ngày đêm Ngài quán, tác ý, suy tư, quán chiếu, làm sao để cho ra khỏi dục.
“Và Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động; khi tâm bị dao động thì tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động”.
Ngài điều hòa, quân bình Chỉ Quán. Khi Ngài quán như vầy, Ngài cảm thấy Ngài quán sát lâu “thân Ta có thể mệt mỏi”, thân mệt thì tâm bị dao động, mà tâm dao động thì không được định tĩnh. Như vậy thì “Ta tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh” tức là Ngài không “Quán” nữa, mà Ngài “Chỉ”.
CÁCH TU CỦA ĐỨC PHẬT (2A)
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hai suy tầm: PAGEREF _Toc50101133 \h 1
II. Tính đối lập hai suy tầm: PAGEREF _Toc50101134 \h 7
I. Hai suy tầm:
Trong Trung Bộ Kinh, bài kinh số 19 kinh “Song Tầm” (tức là hai sự hướng tâm), Đức Thế Tôn chỉ dạy rất rõ pháp hành cho chúng ta.
“Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”.
Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai”.
Thế Tôn tâm sự cho chúng ta biết trước khi thành Chánh Giác, còn là Bồ-tát. Ngài phân chia tâm của Ngài ra thành hai phần. Một phần là những suy nghĩ, suy tư, suy tầm về dục, ham muốn, nóng giận, bực bội, sân hận và tổn hại, đó là phần thứ nhất (nhóm thứ nhất).
Nhóm thứ hai là phàm có suy nghĩ nào muốn rời khỏi dục, đi ra khỏi dục, thoát ra khỏi dục, xa lìa dục. Những suy nghĩ nào không có sân, không có tức giận, không có suy nghĩ tổn hại cho người khác, đó là thành nhóm thứ hai.
Nhóm thứ nhất là ác bất thiện pháp, nhóm thứ hai là thiện pháp. Ngài phân tâm ra làm hai nhóm suy nghĩ như vậy.
Bài kinh này hết sức quan trọng trong pháp hành của chúng ta.
“Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống siêng năng, tinh tấn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi có một sự suy tầm, suy nghĩ nào về dục sanh khởi lên, Ta liền biết bằng trí tuệ. Suy nghĩ về việc này khởi lên nơi Ta, những suy nghĩ về dục này đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, tiêu diệt trí tuệ, thuộc về phiền não, không đưa đến Niết-bàn, an lạc.
Chư Tỷ-kheo, khi ta suy tư như vậy, thì tâm hướng về dục này, dục biến mất”.
Ở đây Đức Phật chỉ pháp hành cho mình, đó là Như lý tác ý. Chúng ta mới thấy chỗ lợi hại, công năng vĩ đại của nhận diện ngũ uẩn. Nếu mà không biết thọ, tưởng. hành, thức, mà với một đống rối nùi trong đó thì làm sao mình biết cái nào là hành, cái nào là thọ, cái nào là tưởng. Cho nên khi đã nhận diện ngũ uẩn rồi, thì qua bước này, là bước nhận diện lậu hoặc, quét rác, tẩy rửa những cấu nhiễm, uế nhiễm, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
Vì sao dùng chữ “lậu” và chữ “hoặc”? “Lậu” là mình không biết nó, nó qua mặt mình vô lượng, vô biên kiếp mình chưa từng biết nó, từ vô thỉ, sanh tử kiếp cho đến nay. Mình không biết nó, không thấy nó, nó qua mặt mình, cho nên gọi nó là “lậu”, chứ mình biết nó thì đâu còn là “lậu”. Thành ra chữ lậu nó hay sao là hay, nó vô cùng hay và thâm thúy. Một sự rỉ chảy, một sự thấm đẫm, một sự rò rỉ, nó giống như chiếc thuyền có lỗ mọt (lỗ thủng), mà mình không biết. Mình ở trên đó, mình cứ ăn, cứ chơi, cứ ngủ, cứ nói, cứ thấy bình thường. Tới chừng mình phát hiện là rồi, hết cứu. Đó mới gọi là “lậu”.
Còn “hoặc” là gì? Là mê hoặc, mê lầm, không hiểu biết. Một sự mê lầm, mê hoặc, không hiểu biết nó rò rỉ, nó lén lút, nó âm thầm qua mặt và hoạt động một cách tinh vi, xảo trá.
Hay tuyệt vời “Bốn Thánh trí về lậu hoặc”, là tối tôn, tối thượng, báu vật vĩ đại, là thành quả tối thượng của bậc Chánh Giác đã cống hiến cho thế giới. “Bốn Thánh trí về ngũ uẩn”, “Bốn Thánh trí về lậu hoặc” mà làm nên lịch sử mấy ngàn năm của Phật giáo, và từ đây, các bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian này.
Cho nên “Ta phân tâm của Ta làm hai nhóm, một nhóm ác và một nhóm thiện”. Nhóm ác là nhóm gì? Ở đây mình nói tổng quát thôi, chứ nói chi tiết ra là nhiều lắm, như: Tham, sân, si, vô minh, bản ngã, ta đây, hơn thua, đố kỵ, ganh tị, phải quấy, đúng sai, thị phi, nhân ngã, bỉ thử… và vô số cái khác nữa, nhưng ở đây nói tổng quát lại là dục, sân và hại, mình phải hiểu. Khi những cái đó nó sẽ sanh khởi lên thì Ngài làm sao? Ngài quở trách Ngài “những suy nghĩ, những cảm giác, hình bóng này đưa đến hại mình, hại người, đưa đến khổ mình, khổ người, khổ cho tất cả”. Đây là Như lý tác ý, là Chánh tư duy, là tuệ lực, là sự tự mình chỉ trích mình, tự mình dò xét mình, tự mình đi đến mình.
Đó là pháp cú Đức Phật dạy đó. “Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình” là chỗ này. Tự mình quở trách mình, tức là mình dùng Như lý tác ý, mình mắng chửi mình, la rầy cái tâm dục, cái tâm sân, cái tâm hại này (trước đây bao nhiêu lần chúng ta đã chia sẻ về Như lý tác ý rồi). Mình tác ý “ngươi dục như vậy chưa đủ hay sao? Vô lượng, vô biên kiếp, nhà ngươi lang thang giống như cô hồn vất vơ vất vưởng như vậy chưa đủ hay sao? Đam mê, ưa thích, luyến ái mệt mỏi rồi, thân tàn ma dại như vậy rồi chưa đủ hay sao? Hỡi cái tâm ngu si, mê muội kia, người tự làm hại người, làm hại mọi người như vậy còn chưa vừa lòng hay sao? Đây là phiền não, khổ đau, là đưa đến diệt mất trí tuệ, không có đến hạnh phúc, an lạc, tịch tĩnh của Niết-bàn”. Khi Ngài quở trách như vậy, thì những suy nghĩ đó biến mất.
Mình thấy đó, Ngài tu thuần thục, sức mạnh Tuệ lực của Ngài mạnh. Chúng ta nhớ, trong kinh là nói khẩu quyết thôi, Đức Phật nói vắn tắt như vậy, chứ không phải đơn giản như vậy. Mình phải hiểu rộng ra, chứ không phải nói một câu đó là nó tan đâu, mà là cả một cuộc chiến. Nhưng trong kinh không kể hết cho mình nghe, trong kinh chỉ nói khẩu quyết, định lý, mà từ trong đó mình phải vận dụng. Có những cái trong đó mình phải tác ý suốt ngày, suốt tuần, có khi cả tháng, thậm chí mình tác ý hằng năm. Chứ không phải mình nói “ủa sao theo trong kinh nói mà mình tác ý hoài, bảy ngày, một tháng, hai tháng nhập thất ra mà sao vẫn còn cái bản ngã?”, không phải. Nó được nhìn thấy, nó được giảm bớt, không phải ngay lập tức mà nó hết được.
Nhưng mà mình có sự nhìn lại, có sự tác ý thường xuyên thì nhất định nó phải đoạn giảm. Còn mình vừa buông lung, vừa phóng dật, vừa bỏ lơ qua một cái là nó trở lại. Cho nên mình tác ý như vậy thì một ngày dục tầm sẽ biến mất, những cái tâm hướng về dục đó sẽ biến mất.
“Chư Tỷ-kheo, ta như vậy, ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm”.
Chúng ta thấy không, quá rõ ràng rồi đó. “Ta tiếp tục trừ bỏ những cái đó”, chữ “tầm” ở đây là sự hướng tâm, những suy nghĩ hướng về cái đó, gọi là tầm. Thí dụ như tâm của mình hướng về người mình giận, hướng về hình bóng của người đó, suy nghĩ những về hình bóng đó. Rồi mình phân tích những lời nói, hình ảnh đó, cái đó gọi là sân tầm. Chúng ta thấy, không có một cái gì mà Đức Thế Tôn bỏ sót hết, trong tâm mình có cái gì, thì tất cả những cái đó Đức Phật đều Chánh Đẳng Chánh Giác, nhìn thấy hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ. Tất cả sự vận hành, hoạt động man trá, gian manh và xảo quyệt của các lậu hoặc trong thân ta đều được Thế Tôn soi sáng, phơi bày, vạch trần ra hết. Đó gọi là bậc Tri giả, bậc Kiến giả, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác bốn Thánh trí về ngũ uẩn, bốn Thánh trí về lậu hoặc.
Như vậy thì Ngài đi đến chỗ không còn một chút xíu nào (dù bằng hạt bụi) của tham, sân, si, bản ngã hết. Mới gọi là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu còn một chút xíu lậu hoặc mà Ngài chưa nhiếp phục, đoạn trừ, tẩy sạch, diệt tận, thì Ngài không thể gọi là bậc A-la-hán lậu tận, Chánh Đẳng Chánh Giác. Chẳng những Đức Thế Tôn như vậy, mà các bậc Thánh giả đều như vậy hết. Cho nên các bậc đó gọi là bậc tối thượng giữa chư thiên và loài người.
Còn mình bây giờ xưng “con là đệ tử của Phật”, ở trong chùa ăn hết cơm gạo, mà lậu hoặc không biết, ngũ uẩn cũng không hay, nhận cục thịt này làm tôi, làm của tôi. Ai đụng vô một cái là thôi, suốt ngày cái tâm suy tầm theo dục, theo ái, theo sân, mà không phát giác, không phát hiện gì hết, nhục không? Thật là nhục nhã, thật là tồi bại, hèn hạ. Thật là xấu hổ, tủi hổ cho chúng ta, sanh ra trong một thời đại mạt tận này, Chánh pháp không được nghe, gặp toàn là tà sư, tà pháp, tà nhân, tà đạo, tà kiến.
“Chư Tỷ-kheo, như vậy ta tiếp tục từ bỏ, xả ly và đoạn tận những dục tầm đó. Suy nghĩ về dục, về sân, về hại.
Trong khi ta sống không phóng dật, không buông lung, ta tinh tấn, nhiệt tâm, tinh cần, sân tầm khởi lên, hại tầm khởi lên, thì có tâm đó hướng về sự khó chịu, bực bội”.
Chúng ta biết là khủng khiếp lắm, giờ buổi sáng mình ra ngồi một chút là mình quấn khăn mấy lớp vô. Thế tử Tất-đạt-đa có khăn quấn không? Ngài nhặt tấm vải của người chết ở trong nghĩa địa. Trong bài kinh “Khiếp Đảm Và Sợ Hãi” chúng ta hãy về đọc cho kỹ, nghe cho kỹ. Ngài nói rằng nghe một tiếng động, Ngài cứ tưởng tượng là con rắn hay con mãnh thú, nửa đêm chỉ có một mình trong rừng, mà phải chịu nắng, chịu mưa, chịu bão, chịu rét, run bần bật, lạnh, đói. Nếu mà như vậy thì làm sao không có sân tầm khởi lên? Khó chịu, bực bội chứ. Những cái đó Ngài phải nhiếp phục “ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh tấn, tinh cần, sân tầm khởi lên thì ta cũng tác ý vậy. Những suy nghĩ về sân này đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí huệ, dự phần phiền não, không đưa đến Niết-bàn”.
Ngài tác ý mạnh mẽ như vậy, thì sân tầm biến mất, khó chịu, bực bội biến mất. Chúng ta thấy không, đó là một công trình vĩ đại của thái tử Tất-đạt-đa. Mình bây giờ tất cả mọi thứ dâng đến miệng như vậy, mà nhiều khi còn sân hận, còn khó chịu, còn bực bội. Mỗi khi như vậy mình cảm thấy “nhục, nhục”, ăn không hài lòng, chỗ ở cũng không hài lòng, mặc thì chê khen. Phải tác ý, phải tẩy sạch các lậu hoặc, phải để tâm thật nhiều, còn nếu không thì nhục lắm. Nhìn lên Tôn tượng của Thế Tôn thấy xấu hổ lắm, làm sao mà nhìn lên được. Mỗi bữa tối, mỗi buổi sáng, làm sao mà nhìn lên? Mặt mũi nào mà nhìn lên? Mình còn chất chứa dục tầm, sân tầm, hại tầm, những si tầm về dục, sân hận, tức giận, bực bội này, làm tổn hại người khác “nhục, nhục, nhục! Tồi bại, hèn hạ, thối tha và bẩn thỉu! Hại mình, hại người, hại cả hai, làm tổn giảm trí huệ, dự phần phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, mấy câu Như lý tác ý của Đức Phật mình phải học thuộc lòng.
Ngày xưa các Ngài dùng những từ ngữ nhẹ nhàng lắm, công đức trí huệ của Ngài gần tới viên mãn. Còn mình bây giờ nghiệp chướng nặng nề, u mê, nên mình phải dùng “đô” cho nó mạnh, chứ mình nói nhẹ như vậy thì tâm mình nó trơ trơ à. Mình phải nói câu gì đó mà cho nó gục mặt nó xuống, nói một câu gì đó mà lựa một từ nặng nhất trên thế gian này mình đập vô cái tâm u mê, dục ái, sân si, bản ngã đó. Nói làm sao phải sanh ra cảm giác, thì đó mới được, còn mình nói mà nó trơ trơ, vậy thì tác ý đó không hiệu quả.
II. Tính đối lập hai suy tầm:
Bây giờ, mình bắt đầu vào những đoạn quan trọng.
“Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối vấn đề ấy. Nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về dục tầm, vị ấy từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng về dục tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về dục tầm”.
Cái này sâu sắc vô cùng, nếu mình suy nghĩ nhiều về vấn đề gì đó, thì tâm của mình sẽ sanh khuynh hướng về vấn đề đó. Nếu mình suy nghĩ, mình cứ nghĩ, mình cứ nhớ, cứ tưởng nhiều về dục, thì mình sẽ từ bỏ ly dục. Những hình bóng đó cứ hiển hiện trong tâm hoài, những suy nghĩ đó cứ để cho nó tiếp diễn. Những cảm giác đó, hình bóng, dục, suy nghĩ đó, cứ suy nghĩ hoài về cái đó, tưởng hoài về cái đó, thì vị Tỷ-kheo này, người tu này, sẽ rời bỏ tâm ly dục, những suy nghĩ về ly dục. Người này sẽ bị nhấn chìm trong những suy nghĩ, cảm giác, tưởng, về dục. Người này sẽ bị lún xuống đầm lầy của dục (dục tưởng, dục thọ, dục hành). Những cảm giác về dục sẽ nhấn chìm người này, những hình bóng về dục sẽ bủa vây, ám ảnh người này. Những suy nghĩ về dục sẽ buộc chặt, quấn lấy, làm người này sẽ không thoát ra được dục.
“Tâm sanh khuynh hướng về dục”, cái tầm này quan trọng lắm, là sự hướng tầm, cái tầm này nó rất là vi tế. Giống như tầm tứ là để mình hướng tâm sơ thiền ly dục, thì cái này là tầm tứ hướng tâm về dục. Cái tâm này nghiêng về hướng đó, si tầm hướng đó, muốn tìm kiếm cái đó, nghĩ về hướng đó, tưởng về hướng đó, si về hướng đó, hướng về hướng đó, thì nó là tầm.
Khi nó ở trong đó luôn, không đi ra, nó bám chặt vào những cái đó, nó gọi là tứ. Mình thấy con bươm bướm, nó bay hướng về bông hoa, thì đó là tầm. Còn khi nó đậu vào nhụy hoa để hút mật, thì đó gọi là tứ.
Thì tâm mình cũng vậy, cái tâm mình hướng vào vấn đề nào, thì là tầm. Nó hướng về dục, gọi là dục tầm. Tâm mình nó hướng qua vấn đề sân, nó nhớ hình ảnh, dáng vẻ của người đó, câu nói, dáng vẻ, cử chỉ như vậy đó, nhận thức trong này nó sanh hình ảnh, suy nghĩ cảm giác. Khi mới bắt đầu hướng về, thì gọi là tầm, nhưng nó trú vô trong đó, để nó vận hành các pháp ở trong đó, thì là tứ và cái đó gọi là sân tầm. Trong lúc đó mình không phát hiện gì hết, mình là một với nó luôn, mình nhảy vô trong đó, mình ở trong đó, rồi nó thiêu, nó đốt, nó cháy. Xong rồi mình nói, mình nghĩ, mình làm, rồi mình bung ra. Lậu hoặc nó đang xâm chiếm, nó đang điều khiển, nó đang chi phối hoàn toàn, mình là nô lệ cho dục, cho sân, cho hại.
Rồi bản ngã cũng vậy, mình gọi là ngã tầm. Cái tâm nó nghiêng về cái tôi, và mình suy nghĩ theo chiều cái tôi “người đó nói câu đó xúc phạm mình, hành động như vậy là khinh thường mình đó!”. Tâm mình bắt đầu nói về cái đó, gọi là tầm, rồi khi bắt đầu nó ở trong đó, để nói phân tích “khinh khi tôi như thế này, thế kia, là coi thường ”, nó làm đủ thứ kiểu trong đó hết, ở trong đó nó phân tích này nọ, cái đó là tứ.
Những người tu tinh vi, sắc sảo, bén nhạy, sắc bén là tầm mới vừa sanh khởi, là người ta chặn ngay, thoát ra liền, chứ không để tứ nó diễn ra. Chúng ta thấy cái thiền định, công phu, trí tuệ và sự Định tuệ, Niệm định tuệ là nó sâu sắc, bén nhạy như vậy. Tức là tâm mình mới vừa hướng về hướng nào, là mình chặn liền, thoát ra liền. Còn khi mà nó vô tứ rồi là nó biểu hiện ra ngôn ngữ, ý hành trong này. Còn khi nó tứ rồi xác định là nó ở trong chỗ đó, thì bắt đầu ý hành nó sanh khởi, khẩu hành sanh khởi, thân hành sanh khởi, nghiệp sanh khởi, quả báo lãnh đủ.
Chúng ta thấy không? Trong bài kinh, Đức Phật tiết lộ bí kíp Chánh Giác của Ngài trong bài kinh “Song Tầm” này. Có khi mình đệ tử Phật suốt đời mà mình chưa nghe được bài tin này. Cho nên phải nghe, phải học, phải chiêm nghiệm, phải thực tập. Những câu này thầy có gạch dưới đó “suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề đó”. Người bác sĩ lúc nào họ cũng nghĩ đến trị bệnh, nghĩ đến thuốc men, nghĩ đến đi cứu người. Thì họ suy nghĩ nhiều về thuốc men, về những phương pháp trị bệnh, họ đi đến đâu họ cũng nói chuyện thuốc, sức khỏe. Những người thợ mộc họ lúc nào cũng suy nghĩ về gỗ, về cây này, cây kia. Họ nhìn cây nào họ cũng nghĩ “ờ cây gỗ này tốt lắm, làm ra cái gì đây? Cái bàn, cái ghế, cái tủ hay tượng Phật hay cái gì đó”, vì tâm họ nghĩ về khuynh hướng đó nhiều. Còn người mà thích xe, thì đi đâu họ cũng nói về xe thôi. Đó là “suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thì tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy”.
Rồi người tu mà lúc nào cũng suy tư, hướng về vấn đề “làm sao ra khỏi dục?”, thì người này có nói gì, thì cũng nói về Bất Tịnh, nói về Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, nói về Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi, nói những cái để đi ly dục, ly tham, ly ái. Mình nghe người đó nói chuyện, thì mình biết tâm của người đó hướng về cái gì, khuynh hướng của người đó là cái gì, chỉ cần nghe thôi là mình biết. Họ nói tới, nói lui nó lại quay lại chỗ đó. Họ nói qua, nói lại, họ nói một hồi cũng quay lại chỗ đó, là tâm của họ khuynh hướng cái đó.
Mình coi thử trong tâm của mình hướng là hướng gì? Cứ gặp là nói xấu người này, nói xấu người nọ, gặp là cứ hờn trách, trách móc. Chứ gặp không thấy nói pháp ly tham, pháp giải thoát, tăng thượng giới định tuệ, mà gặp là sổ ra. Chừng nào học kinh thì lúc đó mới nói kinh, còn lúc không học là“ôi cha! nó bốc mùi”, còn hơn là hũ mắm, cái đó là nhục, là xấu hổ lắm, hũ mắm di động, mắm cá (dưới miền Tây có mắm gì hôi nhất? Mắm cá lóc hả?). Đó, đi đến đâu bốc mùi đến đó.
Còn người lúc nào cũng hướng về tâm từ, thì đi đến đâu là nó tỏa ra hương thơm, thấy chưa? Nhớ học thuộc câu này “Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Khi tâm đã nặng về dục tâm, thì vị ấy từ bỏ ly dục tầm”.
“Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư quán sát nhiều về sân, về hại, thì cũng vậy. Giống như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu, khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm roi đánh các con bò bên này, đánh bên kia, chế ngự chúng ngăn chận chúng. Tại sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì người mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa đến sự chết, sự tù tội, sự đánh đập hay sự trách móc.
Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta đã thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, sự uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp”.
Thấy không? Đức Phật phân ra hai nhóm là thiện và bất thiện rất rõ. Ngài tuyên dương cái thiện “ta thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp”. Ở đây nói gọn, chứ nói ra là nhiều lắm, như: sự an lạc, hạnh phúc, hỷ lạc, thanh tịnh, giải thoát, lợi ích, viễn ly các thiện pháp, lợi ích tốt lành “Ta thấy điều đó”. Rồi Ngài đưa ví dụ như thế nào? Khi mà sắp đến mùa thu hoạch thì mục đồng chăn bò, cầm roi đánh bên này, đánh bên kia, chế ngự, ngăn chận nó Tại vì con bò nó thấy lúa của người ta là nó nhào vô ăn lúa, ăn mạ. Nó ăn như vậy thì người mục đồng bị đánh đập, bị trách móc, hay là tù tội, rồi có khi chết nữa.
Chúng ta thấy, rất dễ nói qua nói lại một vài câu; lấn một, hai tấc đất; một, hai cây cà phê, cũng có thể xảy ra mất mạng như thường. Cho nên ở đây, vì mục đồng sợ bị trách móc, bị đánh đập, bị tù tội hay là sợ chết. Nên mục đồng phải cầm roi đánh những con bò, đánh bên này, đánh bên kia, ngăn chận nó.
Thì cũng vậy, người tu là chăn cái tâm của mình như chăn dắt con bò hoang, trâu hoang ở trong tâm của mình. Nó gặp lúa mạ là nó nhào vô, nó xơi bất kể, nó có biết gì đâu, nó nhào vô. Vì nó ngu si, si mê, hễ gặp những đối tượng sắc, thanh, hương, vị, xúc, là nhào vô, không biết tu là gì, rồi nó sẽ bị trách móc, bị đánh đập, bị tù tội, cho đến bị mất mạng, nó chết, nó không biết chăn cái tâm. Thì cũng vậy, người tu là người phải biết chăn giữ, kiểm soát, phòng hộ, bảo vệ tâm của mình, ngăn chận, chế ngự tâm mình. Chứ không phải tu là cứ để nó như vậy thôi, để nó tự nhiên đi, cái này hoàn toàn không phải giáo pháp của Đức Phật. Có những người quan niệm tu là cứ để tự nhiên, tự nó sanh ra rồi nó diệt, vậy thì còn tu cái gì nữa?
Dốc hết sức lực, mình ngày đêm tinh tấn, nỗ lực tu tập, mà dục nó còn quậy, nó xâm chiếm, nó phá, nó hoành hành, nó đốt cháy mình, bản ngã nó còn trùm phủ mình. Mà bây giờ mình nói tu mà mình cứ để tự nhiên, tự nó sanh rồi nó diệt, vậy Thánh đạo, Thánh quả không còn, không có Dục Như Ý Túc, không có Tinh Tấn Như Ý Túc, không có Tâm Như Ý Túc, không có Tư Duy Như Ý Túc, không có Tứ Chánh Cần gì nữa hết. Nỗ lực diệt tất cả các ác pháp, nỗ lực làm sanh các thiện pháp, thì như vậy Bát Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc của Đức Phật sụp đổ hết. Vậy mà vẫn có những người đề xướng tu kiểu như vậy, cái sân nó khởi lên “thôi cứ để như vậy đi, nhìn nó thôi là tự động nó diệt, cứ để mặc kệ nó”, rồi dục cũng vậy nữa, nó sanh rồi nó sẽ diệt. Thành ra hết sức nguy hiểm.
“Chư Tỷ-kheo cũng vậy, ta thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, uế nhiễm của các pháp bất thiện”. Đức Phật dùng những từ để cho mình sanh cảm thọ lên, thấy được sự nguy hiểm, tác hại, sự hạ liệt (tức là sự hèn hạ, thấp kém, nhục nhã, tồi bại) của các ác pháp. Mình phải chửi mình như vậy. Khi sanh khởi sân, sanh khởi dục, sanh khởi bản ngã lên “mày có tồi bại hay không? Mày đi vô mày nhìn gương đi, cái đầu trọc của mày đó, mày nhìn đi, cái bát mày ăn xin đây nè, mày ngã mạn với ai? Mày lên mặt, lên mày với ai? Hỡi cái đồ thối tha, không biết xấu hổ”. Mình dùng những từ cho nó mạnh lên, thì nó mới sanh khởi những cảm giác đó, nó mới gục đầu, nó mới cúi đầu, nó mới hạ thấp cái đầu nó xuống. Tất cả gần như đều cần Như lý tác ý hết.
“Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta thấy sự hạ liệt, sự uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp”. Cho nên “công thưởng tội trừng”, mình phải Như lý tác ý, mình tu mà mình được cái gì là mình cho nó thưởng, mình tác ý cho nó hân hoan, cho nó phấn khởi, cho nó hỷ lạc lên, vui lên. Nếu mình thấy các ác pháp nó sanh khởi, là mình mạ lậy, mắng nhiếc, chửi rủa nó, trong tâm của mình, mình xử nó “công thưởng tội trừng”. Chứ không phải trơ trơ vậy hoài, tu ba hỏi lại cũng “không thấy gì hết”, bảy năm tu gặp lại cũng “không thấy gì hết”, mười lăm năm gặp lại nói “tu có biết gì đâu, không biết cái gì hết trơn”, không nhìn thấy được tâm mình, không nhìn thấy được lâu hoặc.
Bây giờ mình nói đến phương diện thứ hai.
(Mình ở thêm chút nữa, lâu lâu phơi nắng một bữa, tốt, không sao đâu. Ở nước ngoài người ta đi phơi nắng, trong nhà riết bị bệnh. Lúc này mình phải tác ý như vậy nè “phơi nắng tốt, không sao”, đừng ngồi đó sợ đen)
“Chư Tỷ-kheo, trong khi ta sống không có phóng dật, tinh tấn, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi dục tầm sanh khởi, những suy nghĩ xa lìa dục khởi lên, ta liền biết bằng trí tuệ”. Cho nên buổi tối mình xem Quán Bất Tịnh, những hình ảnh mình nhìn đó, Như lý tác ý đó, là ly dục tầm khởi lên. Như Đức Phật nói: “khi mà khởi lên như vậy, này các Tỷ-kheo, ta liền biết bằng trí tuệ như vầy: Cái suy nghĩ lìa dục này khởi lên nơi ta”. Tức là trong tâm nó sanh khởi lên những suy nghĩ muốn nhàm chán, muốn xa lìa cái dục sanh khởi lên là Ngài biết ngay lập tức bằng trí huệ, Ngài biết Ngài có ý hành đó, suy nghĩ đó, Ngài suy nghĩ tiếp tục: “những sự suy nghĩ ly dục này không đưa đến hại mình, hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần phiền não, đưa đến Niết-bàn”.
Cho nên những suy nghĩ ly dục là phát triển mạnh nó lên, suy nghĩ nhàm chán đống thịt, máu, tanh hôi này. Càng suy nghĩ nhiều chừng nào thì càng tốt, không sao. Nhưng mà nếu khi căng thẳng thì mình Chỉ, mình phải biết cân bằng Chỉ Quán, nhưng quán phải nhiều, giờ cái tâm u mê của mình nó nặng lắm, nên cái Quán nhiều lên, để nó tẩy rửa cái tà kiến về ngũ uẩn, cái kiến chấp, cái thân kiến, cái pháp Quán là nó tẩy cái đó. Rồi nó dùng cái “Chỉ, Định, Huệ cân bằng”, “Chỉ, Quán song vận” song song vận hành. Lúc nào thấy tâm của mình dao động quá, thì mình Chỉ. Lúc nào mình thấy nó ù lì quá mình khởi Quán. Mình phải biết mình là một người thợ khéo ở trong tâm thức của mình, mình điều chỉnh, điều hòa, làm sao để cho nó cân bằng, lúc đó cần cái gì, mình phải biết.
“Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm Ta suy tư, quán sát về ly dục tầm (những suy nghĩ về ly dục) không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban ngày Ta suy tư, quán sát về ly dục tầm, không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi”.
Tức là Ngài nói Ngài quán sát về sự lìa dục, Ngài không cảm thấy sợ hãi, tức là Ngài bình an. Sự lợi lạc, lợi ích của quan sát ly dục là sự bình, Ngài không có sợ hãi.
“Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm, ban ngày, Ta suy tư, quán sát về ly dục tầm, không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi”.
Từ trong câu này cho thấy được Ngài quán rất nhiều, ban ngày Ngài quán, ban đêm Ngài quán, ngày đêm Ngài quán, tác ý, suy tư, quán chiếu, làm sao để cho ra khỏi dục.
“Và Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động; khi tâm bị dao động thì tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động”.
Ngài điều hòa, quân bình Chỉ Quán. Khi Ngài quán như vầy, Ngài cảm thấy Ngài quán sát lâu “thân Ta có thể mệt mỏi”, thân mệt thì tâm bị dao động, mà tâm dao động thì không được định tĩnh. Như vậy thì “Ta tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh” tức là Ngài không “Quán” nữa, mà Ngài “Chỉ”.