Tầm Quan Trọng Của Thánh Pháp & Thiền Quán - An đánh
Tinh Hoa Nikāya
Tầm Quan Trọng Của Thánh Pháp & Thiền Quán
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tôn kính Pháp PAGEREF _Toc139875033 \h 1
II. Nhàm chán đối với năm uẩn PAGEREF _Toc139875034 \h 3
III. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc139875035 \h 4
IV. Sự nguy hiểm, đau khổ của luân hồi PAGEREF _Toc139875036 \h 7
V. Như lý tác ý PAGEREF _Toc139875037 \h 9
VI. Trình Pháp PAGEREF _Toc139875038 \h 13
I. Tôn kính Pháp
Chúng ta sẽ học bình thường như ngày bình thường, đối với con không có gì quý hơn Thánh pháp, có thể bỏ tất cả nhưng không được bỏ Thánh pháp, đến khi nào thành tựu Thánh quả cứu cánh thì Đức Phật vẫn nói là quán chiếu năm thủ uẩn là vô thường là ung nhọt, là kẻ giết người, là hố than hừng cho nên hạnh phúc của con là hạnh phúc được an trú trong pháp, vì vậy chúng ta vẫn học bình thường, có thể trừ ngày mùng 1 vì ngày đó chúng ta đón giao thừa. Con không thấy có gì vui trên cuộc đời này ngoài việc an trú trong pháp, thực hành pháp, được chia sẻ pháp, được tu tập pháp, lan tỏa pháp, mở rộng pháp, khai thị pháp, truyền bá pháp, hiển lộ pháp, ngoài mấy cái này ra không có gì vui cả, làm những điều này mà chết vẫn mãn nguyện.
Chúng ta có hạnh phúc trong pháp không? Nếu không thấy hạnh phúc trong pháp thì vẫn còn xa Đức Phật, bất cứ lúc nào cũng có thể pháp đàm suốt đêm, vẫn có thể bỏ ăn để nghe pháp, thảo luận pháp, thực hành pháp. Có rất nhiều trường hợp Đức Phật nói với các ngài Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất rằng ngài đau lưng, mỏi lưng, ngài cho xếp tấm y tăng-già-lê lại để ngài nằm xuống, ngài nói các vị tiếp tục giảng pháp cho chúng Tỳ-kheo khi họ đã vượt qua cơn buồn ngủ.
"Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:
-- Này Moggalàna, chúng Tỳ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỳ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, VI. Dục Lậu)
Qua đây chúng ta thấy được Đức Phật và các bậc Thánh tôn quý pháp đến cỡ nào. Có một hôm khi các thầy Tỳ-kheo đang pháp đàm thì Thế Tôn đi đến và đứng chờ bên ngoài rất lâu, các thầy pháp đàm xong Thế Tôn mới bước vào, Thế Tôn bảo các vị pháp đàm dài quá nên ngài đứng ngoài đợi, các thầy bảo tại sao Thế Tôn không nói thì Thế Tôn bảo ngài sợ làm gián đoạn thời gian pháp đàm, ngài tôn kính pháp. Như Lai tôn kính pháp, sợ làm gián đoạn các thầy Tỳ-kheo đang thảo luận pháp.
"Một thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nandaka đang thuyết pháp cho các Tỳ-kheo trong hội trường, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, đứng ngoài cửa hội trường, chờ đợi cho cuộc thuyết giảng chấm dứt. Biết được bài giảng đã chấm dứt, Thế Tôn đằng hắng và gõ vào then cửa. Các Tỳ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bước vào hội trường và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn bảo Tôn giả Nandaka:
- Dài thay, này Nandaka là pháp môn này, Thầy đã giảng cho các Tỳ-kheo! Lưng Ta đã mỏi khi đứng ở ngoài cửa, chờ cho buổi thuyết giảng chấm dứt.
Khi được nói vậy, Tôn giả Nandaka lấy làm bối rối bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, chúng con không biết Thế Tôn đứng ở ngoài cửa. Nếu chúng con biết Thế Tôn đứng ở ngoài cửa, thời chúng con đã không nói dài như vậy.
Thế Tôn sau khi biết tâm trạng bối rối của Tôn giả Nandaka liền nói với Tôn giả Nandaka:
- Lành thay, lành thay, này Nandaka! Thật là xứng đáng cho các thiện nam tử các Thầy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Thầy ngồi lại với nhau để nghe pháp. Này Nandaka, khi các Thầy hội họp với nhau, này Nandaka, có hai việc cần phải làm: nói pháp hay giữ yên lặng của bậc Thánh" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, (IV). Tôn Giả Nandaka)
Đó là lý do tại sao con khuyến khích chúng ta nghe pháp, pháp đàm thường xuyên, con ong cũng bay đến nghe pháp chứ đừng nói chi con người. Đến giờ ngồi thiền con cũng mở thiền quán nhiều vì tâm thức chúng sanh bây giờ rất khó để tu thiền định, nếu không mở thiền quán thì đa số ngồi thiền sẽ bị hôn trầm dù cho ngủ đủ giờ chứ đừng nói là thiếu, vì vậy có thiền quán sẽ đỡ bị hôn trầm hơn. Con muốn tự thân con cũng như các vị ở đây tu hoặc các vị về đây phải được đặt để vào pháp rất nhiều, còn ngồi yên sẽ bị vô minh, hôn trầm, tâm vu vơ, lang thang, lậu hoặc.
Vì thế cho nghe pháp, cho thiền quán, cho đọc tụng pháp bảo, pháp đàm thì lúc đó sẽ có cảm thọ, mình minh mẫn, sáng suốt lên cho nên con chú trọng thiền quán, nghe pháp, pháp đàm. Mỗi một giờ được nghe pháp, được thiền quán, đọc tụng pháp bảo, mình pháp đàm như vậy là giờ đó mình tỉnh táo, tỉnh cái hôn mê, tỉnh cái ngu si, vô minh, lậu hoặc của mình ra, đó là giờ mình phá cái bóng đêm trong tâm mình ra, sau này những khóa tu sâu thì những thời pháp, những giờ thiền quán, giờ tu sẽ nâng cao hơn nữa, nhiều hơn nữa, chỉ đổi oai nghi cho hết khó chịu là tiếp tục tu tập. Làm sao để mình an trú trong pháp liên tục không rời pháp thì lúc đó mình thành tựu thể nhập, mình cứ tác ý nhàm chán đối với sắc.
II. Nhàm chán đối với năm uẩn
"Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc... thọ... tưởng... các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, XI. Thiện Nam Tử Khổ)
Mình có tác ý nhàm chán sắc thường xuyên không? Mình có tác ý nhàm chán cái thân này thường xuyên không? Mình có tác ý nhàm chán với dục, ái, sân, với vô minh, với bản ngã thường xuyên không? Mình phải ghi ra giấy, giây phút viết ra là giây phút quý vị nhàm chán, trú trong pháp, đọc lại cũng sẽ trú trong pháp, người khác đọc cũng trú trong pháp.
Vậy nhưng kêu trình pháp lại không muốn trình, kêu viết bài không muốn viết, mai này con chết đi không còn ai kêu quý vị nữa, bên Tăng và bên cư sĩ nam là không chịu viết bài. Mình phải trú trong pháp thường xuyên, chỉ cần tâm lơ đãng một chút thôi là nó kéo mình xuống núi ngay, từ nửa vòng trái đất về đây có một này thôi mà mất chánh niệm là muốn đi xuống núi.
Vô minh của mình rất dày đặc cho nên bốn chữ "liên hệ đến mục đích" là mỗi một suy nghĩ mình phải liên hệ đến bốn chữ đó, mỗi một cảm thọ mình phải nhớ đến bốn chữ đó, có liên hệ đến mục đích đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si không, nghĩ cái này có liên hệ đến mục đích không, có dính dáng đến sự thành tựu pháp không, nói cái này có đưa đến viễn ly, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ không.
III. Khuyến tấn tu tập
Mục đích của mình lên núi để làm gì? Ngày nào cũng phải hỏi chứ đừng nghĩ ở đây quen rồi còn hỏi gì nữa. Mình về đây để làm gì? Mình cạo đầu để làm gì? Mình đắp y để làm gì? Bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ trường, bỏ lớp, bỏ hết danh lợi bên ngoài lên đây để làm cái gì? Trong giờ thiền quán phải hỏi mình như vậy, thậm chí không đợi đến giờ thiền quán mà trong mỗi bước chân cũng phải hỏi, mỗi lời nói phải hỏi "ngươi đang nói cái gì vậy? Lời nói này có liên hệ đến mục đích không? Ngươi đang làm cái gì đây?", đó là niệm thân, "ngươi đang suy nghĩ cái gì? Có liên hệ đến ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy không, có xuất ly tư duy không? Có suy nghĩ đến sự rời xa, từ bỏ, thoát ra không?", "ngươi đang suy nghĩ cái gì đây? Ngươi yêu dấu cái thân này lắm phải không?", "ngươi ham thích cái thân này lắm phải không? Ngươi say đắm cái thân này lắm phải không?".
Phải siêng năng tác ý mọi lúc mọi nơi, làm việc không lúc nào rảnh, lúc nào mệt thì mình cho an tịnh, lắng dịu, trú vào thiền chỉ, lúc nào mình khỏe là mình cầm pháp khí lên, cầm thần khí, đạo khí lên để chiến đấu ngày đêm. Con thật sự không muốn hoang phí một chút thời gian nào nữa vì đã mất thời gian quá nhiều, làm những chuyện vô ích, nói những điều phù phiếm, suy nghĩ vu vơ chỉ đưa đến sự luẩn quẩn.
Trong bài kinh "Khu rừng sừng bò" các vị Thánh Tăng mỗi người nói một cái hạnh của mình để làm chói sáng khu rừng, các vị nói các bậc Đa văn làm chói sáng khu rừng như ngài Ananda, ngài A-na-luật thì nói thiên nhãn, ngài Ca-diếp thì nói khổ hạnh, sau đó mỗi vị nói một hạnh rồi cùng nhau đi đến Đức Phật hỏi người nào nói đúng, Đức Phật nói tất cả đều nói đúng. Các vị hỏi Thế Tôn làm sao để làm chói sáng khu rừng thì Thế Tôn trả lời các thầy ngồi yên, lưng thẳng, kiết già quán chiếu đến khi nào đoạn tận các lậu hoặc.
"Khi được nói vậy, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, vị nào đã khéo trả lời (câu hỏi được đặt ra)?
-- Này Sariputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sariputta, Tỳ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: 'Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ'. Này Sariputta, hạng Tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tôn giả ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy" (Trung Bộ Kinh, 32. Ðại kinh Rừng sừng bò)
Câu nói 'Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ' làm mình nhục nhã, xấu hổ vì mình không chịu ngồi yên, không chịu quán chiếu, không đặt hết tấm lòng của mình vào chánh hạnh. Mình hoang phí, phung phí thân – miệng – ý của mình vào những chuyện phù phiếm, vô ích, vô nghĩa, thậm chí là những chuyện làm cho mình phiền não, khổ đau.
Bây giờ con thật sự không muốn làm gì nữa, chỉ muốn tu và chia sẻ pháp cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, gần đây trong phòng ở chùa Bửu Liên con để tờ giấy khai tử của hòa thượng trên đầu nằm, hôm đó làm thủ tục giấy tờ thì người ta yêu cầu đưa tờ khai tử của hòa thượng nên con để ngay đó, mỗi ngày con thức dậy đều thấy hai chữ "khai tử", suốt cả tuần lễ đều quán chiếu khai tử.
Mình chết rồi không còn tên tuổi, mặt mũi, danh vọng, lợi lạc gì trên thế gian này nữa, mình đã khai tử trên cuộc đời này rồi, mình không còn hơn thua, đúng sai với ai nữa, mình đã chết rồi. Con dự định lấy tờ giấy đó điền tên con vào đóng khung trang trọng treo trong chỗ con ở, ngày xưa con có ý định làm cái hòm trong một gian nhà, để hình con rồi ghi tiểu sử, mỗi ngày con sẽ vào đó thiền quán, mỗi ngày làm đám ma cho mình để sau này không cần ai làm đám ma cho mình, không cần ai đi hộ niệm cho mình.
Bây giờ mình không nhớ mình chết, đến khi chết mình sẽ không chấp nhận cái chết, còn lúc nào mình cũng nhớ mình chết thì khi cái chết đến mình sẽ thản nhiên, bình an vì thế có rất nhiều khía cạnh, phương diện để mình tác ý vì tác ý như vậy thì trí huệ mới sanh, vô minh mới phá, tuệ mới sâu, tâm mới sắc bén. Người tu là phải như vậy, làm xong công việc này rồi muốn làm gì thì làm, bây giờ không có công việc nào quan trọng bằng công việc này, đó là chấm dứt tất cả lậu hoặc, không còn chấp thủ, đó là bổn phận sự của người xuất gia.
Người thợ hồ phải hoàn thành căn nhà, người thợ mộc phải làm cho xong món đồ, tài xế phải chạy đến nơi, cũng vậy, người xuất gia phải đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si mới xong công việc, việc cần làm đã làm. Bây giờ có được bao nhiêu người xuất gia có suy nghĩ như vậy?
Một người thường xuyên suy nghĩ như vậy, thường an trú trong tư duy như vậy thì người này rất trầm tư, ưu tư vì thấy lậu hoặc còn rất nhiều, tham, dục, ái còn nhiều, sân còn nhiều, vô minh còn nhiều thì làm sao người này buông lung phóng dật được, họ sẽ sống trong sự trầm tư, suy tư, tất cả thọ; tưởng; hành sẽ lắng dịu. "Thật là lo lắng thay cho ta khi tham dục còn rất nhiều, ta còn đang làm nô lệ cho chúng nó, thật là bất an thay cho ta khi sân hận còn sung mãn, hừng hực, đang còn thiêu đốt tim gan ta, thật là lo lắng khi vô minh của ta vẫn còn dày đặc", một người thường nghĩ như vậy thì không còn hơn thua với ai nữa, không còn hướng ngoại ra ngoài nữa, ngoài ra còn bảng khai tử nữa, mỗi tối vào mùng là chui vô hòm, mình phải quán chiếu như vậy.
Con lúc nào cũng thấy không còn kịp thời gian nữa, không còn bao nhiêu thời gian nữa. Vì bổn phận, vì trách nhiệm phải đi làm những thứ mình không muốn làm, cho đến lúc nào đủ duyên thì buông hết để làm những điều thật sự mình muốn làm một mình. Mấy ngày nay có biết bao tai nạn, ở Nepal rơi máy bay hơn 70 người thiệt mạng, cả nước để quốc tang, trong nước mình thì tai nạn giao thông bị thiệt mạng, bị thương rất nhiều, những ngày tết ra đường rất nguy hiểm cho nên mình được ở yên tu tập thì mình phải thấy được hạnh phúc tối thượng này.
Có khả năng gần cả tỷ người nhiễm dịch bệnh, chết sơ sơ là 60 ngàn người trong một tháng nhưng chưa chắc đây là con số chính xác, bệnh viện không còn chỗ chứa nữa, nhà xác không còn chỗ chứa nữa, lò thiêu không còn chỗ để thiêu nữa. Một người đi máy bay đang quay video lúc cười tươi thì máy bay rớt, chết tại chỗ, tai nạn kề bên mình nhưng làm sao có thể biết được, họ đã đi đến miệng, đến cửa, đến hố của tử thần, mai này mình chết cũng giống như vậy.
Phải biết thương mình thật nhiều, siêng năng làm công việc của mình thật nhiều, đừng buông trôi, buông thả, buông lung. Mỗi lần quý vị trở về đây, không biết tự thân quý vị có nhìn thấy không nhưng con thấy quý vị già đi rất nhiều, đã biến đổi rồi, biến hoại rồi. Từ nhỏ, khi con mới 5-7 tuổi con đã nhạy bén với cái già, cái bệnh, cái chết, cái nghèo, cái khổ, con nhìn thấy người thân có tóc bạc là nước mắt con muốn chảy ra, ngày xưa con nhìn mẹ có tóc bạc là con khóc, sau này học kinh Nikāya mới biết đó là điềm báo của thiên sứ, điềm báo của thần chết đã hiện ra trên mái tóc của mẹ mình.
Những Phật tử lâu lâu về thăm mà con thấy họ già đi, biến hoại là trong tim con xót xa, đau nhói, những người thân thương của mình, những người có tình có nghĩa, có ân có đức của mình sắp sửa ra đi, ngọn lửa vô thường thiêu đốt, đốt cháy họ. Đến khi con có tóc bạc, râu bạc thì hoảng hồn, kinh ngạc, con thấy không kịp thời gian nữa rồi, mình sẽ chết trước khi mình đoạn tận các lậu hoặc, mình sẽ chết khi công việc mình chưa làm xong cho nên phải nhanh lên, phải mau lên, phải lẹ lên, phải gấp lên.
Người ham tu rất khổ tâm, người có tâm sẽ hiểu cho ta. Con nhìn thấy thế gian là một đống khổ to lớn dù con đang được tấn phong giáo chỉ, dù con đang ở trong một hội chúng mà mọi người hân hoan, vỗ tay, cười reo vui mừng nhưng con chỉ thấy xót xa, nhói tim. Con thấy tất cả hội chúng này sẽ bạc đầu, sẽ già nua, sẽ nằm trong gường bệnh, sẽ chết hết, sẽ vào lò thiêu, sẽ ra nghĩa địa nằm hết.
IV. Sự nguy hiểm, đau khổ của luân hồi
Bây giờ mới thấm thía Đức Phật dạy quán ba cảm thọ, quán lạc thọ là khổ, thấy vui như vậy nhưng có khổ trong đó, có biến hoại, hoại diệt, tiêu ma trong đó cho nên nếu mình không làm việc siêng năng, không có tâm thuần thục trong sự quán chiếu thì làm sao mình quán chiếu trong lúc mình vui sướng chứ đừng nói chi trong lúc bình thường. Lúc bình thường không quán chiếu được thì lúc vui sướng làm sao quán? Phải an trú trong trí tuệ sanh diệt này, trí huệ vô thường, vô ngã, trống rỗng, hố than hừng này, kẻ sát nhân này, những gai nhọn. Thế Tôn nói trước mắt là gai, bên phải là gai, bên trái là gai, sau lưng là gai, phía trên, phía dưới toàn là gai, đi không cẩn thận đều có thể đạp gai.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: 'Mong sao tôi chớ có bị vướng gai'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, VII. Khổ Pháp)
Thật sự những gì Thế Tôn nói quá đúng, vô cùng thấm thía, gặp người này là gai độc, gặp người kia là gai nhọn, gặp người nọ chỉ toàn là tham, sân, si, dục ái, danh lợi, bản ngã, hơn thua, mưu toan, mưu ác, ích kỷ, gai góc đầy đường. Con ngồi chia sẻ pháp nhìn những ánh mắt bên dưới nhìn lên con chỉ thấy xót xa, khi nói đến tham, sân, si làm cho chúng sanh khổ là họ trừng trợn lên, bây giờ là mạt pháp rồi, không còn mấy người tu nữa, người thật sự tu bằng tất cả tấm lòng để giải thoát chỉ đếm trên đầu ngón tay. Người tha thiết, người khao khát, người chân thành, người bằng tất cả tấm lòng thật sự muốn diệt tận khổ đau đếm trên đầu ngón tay, cho nên Thế Tôn nói người thấy được khổ ít như đất dính trong đầu móng tay, người không thấy được khổ nhiều như đất trên địa cầu.
"Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỳ-kheo:
-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy lên trên đầu móng tay, hay là quả đất lớn này?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất Thế Tôn lấy lên trên đầu móng tay. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất được Thế Tôn lấy lên trên đầu ngón tay.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ít hơn là những chúng sanh được tái sanh làm người. Còn nhiều hơn là những chúng sanh bị tái sanh ra khỏi loài Người. Vì sao?
Này các Tỳ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XII- Tương Ưng Sự Thật (b), VII. Phẩm Bánh Xe Lược Thuyết, I. Người Khác)
Chúng ta phải lấy những lời này để gậm nhắm để cho sự thật về khổ này thấm vào da, vào thịt, vào xương, vào tủy não, vào tim gan này, để mình nhìn bằng cặp mắt khổ thánh trí đối với tất cả đời sống này. Con từ trong rừng về đây, bước xuống xe đi lên núi mới biết mình còn sống, con không thấy có một sinh mạng được bảo toàn, bảo an, xe chạy lấn làn vượt qua mình ào ào.
Ngày hôm qua con ngồi 8 tiếng, vừa cúng giỗ tổ xong chưa kịp ăn cơm, chỉ lấy bánh mì theo rồi lên xe ngồi 8 tiếng đi vào rừng để dựng thiền thất, không còn kịp nữa, giống như chiếc máy bay vừa rơi thiệt mang 72 người cả phi hành đoàn, chết bất đắc kì tử, chết bất ngờ, cái chết sẽ đến với mình như vậy. Làm sao để đoạn tận sân, đoạn tận tham, đoạn tận si, đoạn tận vô minh, bản ngã, lậu hoặc? Ngày nào cũng suy tư điều này, ôm ấp điều này, thai nghén điều này, chăm chăm điều này. Mình nghĩ mình sẽ hết trong khi các lậu hoặc còn đầy rẫy, trong khi những mầm móng của tai họa còn đầy ắp trong tâm, vì vô minh, bản ngã vẫn còn quá nhiều bên trong khối thịt này. Phải trầm tư, làm cái gì cũng trầm tư, đừng chỉ thấy công việc, đừng chỉ thấy con người, đừng chỉ thấy cảnh đẹp mà hãy thấy tâm cấu nhiễm.
Không lúc nào quên mình còn đang mang tâm cấu nhiễm, giống như người tài xế chạy chưa đến nơi thì họ không muốn dừng lại, người tài xế còn như vậy trong khi mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết sự nghiệp, tình cảm, tình thương, tình thân rồi mình đứng lại, đối với thiện pháp mình lùi lại, mình sống ẩn dương nương Phật cho qua ngày đoạn tháng như lục bình trôi sông, nhắc nhở thì còn nhớ, không thì mình thả trôi.
Mình buông trôi cuộc đời quý giá này, ngọn lửa hừng hực khi mới tu không còn nữa mà chỉ còn lại đống tro tàn, ý chí cường liệt, dũng mãnh, tinh cần, tinh tấn, hùng lực dần dần phai nhòa, phai nhạt, phai mờ, thậm chí tu lâu rồi không còn muốn nói đến kinh pháp nữa, không còn muốn nghe kinh pháp nữa. Đây là điều rất đau lòng, mình quay trở lại lo lắng cho mình, tại sao mình lại phản bội mình như vậy? Tại sao mình lại cô phụ chí nguyện cao thượng của mình như vậy? Tại sao mình lại tàn nhẫn với mình như vậy? Tại sao mình không thương mình? Tại sao mình lại đối xử với lý tưởng cao thượng, thánh thiện của mình tàn nhẫn như vậy?
V. Như lý tác ý
Khi nhìn quý thầy, quý cô con rất thương, con không thể nói nữa, những điều con đã đem hết tâm huyết hướng dẫn, chia sẻ từng chút một mà con thấy không làm bao nhiêu hết nên con không nói nữa. Không được quên, cũng đừng đối xử tàn nhẫn với mình, đừng cô phụ chính mình, tội nghiệp cho cha mẹ mình, tội nghiệp ông bà, cô bác của mình. Cần phải triển khai thiền quán ở khắp mọi lúc mọi nơi, thời xưa có cô cư sĩ thời Đức Phật, cô làm đồ ăn cho chồng con, khi xào thì lửa bốc lên cháy khét đồ ăn, ngay đó cô triển khai thiền quán, các pháp tàn hoại, diệt tận thì cô chứng tam quả Bất Lai tại chỗ.
"Hãy ngủ trong an lạc
Hỡi nàng thân đẫy đà,
Ðắp phủ trong tấm y,
Chính mình tự làm lấy,
Lòng tham, nàng lắng dịu,
Như ghè khô trong lò!
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Vesàli (Tỳ-xá-ly). Vì thân hình đẫy đà, nàng được gọi là nàng đẫy đà. Nàng trở thành người vợ trung thành của một người quý tộc. Khi bậc Ðạo Sư đến Vesàli, nàng tin tưởng giáo pháp của đức Phật và trở thành một nữ cư sĩ. Khi nàng nghe Trưởng lão Ni Mahàpajàpati thuyết pháp, nàng muốn xuất gia và thưa với chồng ý nguyện của nàng. Người chồng không cho, nên nàng tiếp tục làm tròn bổn phận của nàng, suy tư đến những lời dạy dịu dàng của giáo pháp và chú tâm đến thiền quán. Rồi một ngày kia, trong khi đang ở trong bếp và nấu món ăn, một ngọn lửa mạnh bừng cháy và thiêu tất cả món ăn với những tiếng cháy xèo xèo, nàng lấy đó làm đề tài để thiền quán về tánh vô thường của sự vật, và chứng được quả Bất Lai. Rồi nàng không đeo các đồ trang sức nữa. Người chồng hỏi duyên cớ, nàng trả lời nàng không thể sống trong gia đình được nữa. Người chồng đưa nàng đến Trưởng lão Ni Mahà pajàpàti Gotami, và bằng lòng để nàng xuất gia. Mahà pajàpàti làm lễ xuất gia cho nàng và đưa nàng đến yết kiến đức Phật. Bậc Ðạo Sư giải thích về đề tài thiền quán của nàng và nói lên bài kệ này.
Khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng lập lại bài kệ này và bài kệ trở thành bài kệ của nàng" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm I. Tập Một Kệ, (I) Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Qua đây chúng ta thấy thiền quán ngày xưa mạnh đến cỡ nào, còn mình bây giờ ngay cả xuất gia mà tâm vẫn trơ trơ dù được học, được chỉ dạy thiền quán rất nhiều, ngược lại cần phải nỗ lực triển khai thiền quán. Có một vị Tỳ-kheo ngồi trên vỉa hè thì có một cô gái rất đẹp đi ngang qua, cô trang điểm, mang y phục, đeo ngọc ngà, vàng bạc rất đẹp trên người, vị thầy triển khai thiền quán chỉ thấy bộ xương khô, cái đầu lâu, sau đó ngài chứng quả Bất Lai.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai" (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49)).
Phần lớn các ngài đều triển khai thiền quán đoạn tận các lậu hoặc, còn mình làm biếng không chịu như lý tác ý, không chịu quán chiếu vì thấy mệt. Chúng ta phải triển khai thiền quán ở khắp mọi lúc mọi nơi chứ không cần đợi đến khi mở bài thiền quán rồi mới quán, khi ngồi trên xe là con thiền quán, trước khi bước lên xe, trong khi ngồi xe và sau khi bước xuống xe đều thiền quán, không thấy giây phút nào chắc chắn an ổn.
Khi mình thường xuyên tác ý mọi lúc mọi nơi, mọi việc, mọi trường hợp, hoàn cảnh thì trí tuệ mới sanh khởi, thâm nhập, thẩm thấu, tham, sân, si mới lắng dịu, vô minh mới được phá phần nào, minh mới sanh khởi lên. Phải làm việc cật lực, tận lực, siêng năng hơn nữa, phấn đấu hơn nữa, nỗ lực hơn nữa, tinh cần, tinh tấn, tinh ba, tinh anh hơn nữa trong sự thiền quán. Mình đã biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức rồi, mình đã biết thiền quán như thế nào rồi, bây giờ chỉ cần nỗ lực làm thôi, làm sao trong tết này phải có nhiều vị Nhập Lưu, tức là mình vào trong cái thấy biết đó luôn không bị mất thì gọi là Nhập Lưu.
Nhìn ở đâu cũng thấy khổ, nhìn đám cưới cũng thấy khổ, nhìn cái vui nhất của thế gian cũng thấy khổ. Khi an trú trong pháp thấy khổ liên tục thì mình sẽ vui, đây là điểm đặc biệt vì mình thấy rồi mình sẽ không bị khổ xâm chiếm, nhận chìm nữa, mình đứng ra ngoài cái khổ để mình nhìn nó. Thật hạnh phúc khi mình thấy được khổ, thấy được khổ rồi mình thoát ra, mình đứng ra ngoài nhìn cái đống khổ đó, giống như một người thoát ra khỏi căn nhà cháy đứng nhìn căn nhà đó bốc cháy, những người trong đó kêu gào thảm thiết.
Phải nỗ lực triển khai thiền quán, siêng năng như lý tác ý, siêng năng như lý giác sát, khi mình đang làm cái gì mà bực mình thì không làm nữa, bước vào ngồi thiền, chuyện đó không quan trọng, giữ tâm không bực mới quan trọng, đang làm mà buông lung phóng dật là ngưng lại không làm, vào ngồi thiền, đang ăn cơm mà thấy dục ái sanh khởi là ngừng lại không ăn, chừng nào nhiếp phục dục ái xong rồi mới ăn, "mày nghe lời tao thì cho mày ăn", "cái thân này nghe lời tao thì tao cho mày làm, mày không nghe lời không cho làm nữa", "nhà ngươi phải chịu sự kiểm soát của tao, tao là chủ chứ không phải ngươi là chủ".
Nếu đang làm mà khó chịu, bực bội thì không làm nữa, đi vào đi kinh hành, đi vào trải tâm từ, đi vào sám hối diệt ngã, để người không có sân làm, mình sân lên mà làm thì truyền chất độc vô món đồ mình làm, ăn vô trúng độc hết. Tu mà nghiêm chánh, nghiêng minh, nghiêm trang như vậy thì làm sao không tiến bộ?
Người tu mà tâm chai lỳ, trơ trơ, đơ đơ, trong cảm thọ si nhiều mà tu pháp này sẽ thay đổi nếu họ chịu nhiệt tâm, tinh cần, còn nếu không nhiệt tâm, tinh cần thì không thay đổi nhiều, người buông lung phóng dật mà tu pháp này thì người đó sẽ an tịnh, lắng dịu, thu nhiếp, chế ngự, người thụ động mà tu pháp này thì càng ngày càng sắc bén, người dao động mà tu pháp này thì càng ngày càng an tịnh, người cạn cợt mà tu pháp này thì càng ngày càng thâm sâu, người bất cẩn mà tu pháp này thì càng ngày càng cẩn trọng.
Nếu đúng thì đi đến đạo lộ như vậy, trình tự của pháp là như vậy, còn nếu tu mãi mà không thấy thay đổi là có vấn đề, một người ham vui tu pháp này thì từ từ bớt ham vui lại, không còn thích ham vui nữa, người thích dao động, ồn ào tu pháp này sẽ từ từ an tịnh, lắng dịu, người hướng ngoại tu pháp này thì tâm sẽ quay trở về nhìn vào trong, người ta đây, bản ngã tu pháp này càng ngày càng khiêm cung, cúi mình, cúi đầu, đây là hiệu quả rất nhiều trong sự tu tập này.
Mình tu như thế nào thì mình phải viết ra diễn biến như thế, còn nhiều khi tu như thế nào cũng không biết, thầy nói gì cũng bảo đúng nhưng sau đó quên hết, đó là tu trong vô minh, nói thi gật đầu, không nói thì không gật, không biết mình đang ở đâu. Vì thế viết bài tu học là để nhìn nhận lại quá trình tu học của mình, nó diễn biến như thế nào trong suốt một năm qua hoặc trong khi mình về núi cho đến giờ để minh sanh khởi, để nhìn thấy được lộ trình của tâm đang diễn biến như thế nào.
Nếu đang đi ngoài đường mà hỏi đi đâu cũng không biết thì người này không bình thường, sự tu cũng vậy, tu mà không biết đang đi tới đâu là không có trí tuệ, tu trong vô minh cho nên phải nhìn được nhiều phương diện, khía cạnh của tiêu cực lẫn tích cực, mình nhiếp phục được cái nào, được bao nhiêu phần phải viết ra, thành tự trí tuệ đối với pháp tu, đối với hành trì, lộ trình pháp hành của chính tự thân mình phải được viết ra.
VI. Trình Pháp
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể thiền đường đại chúng. Con xin được phép chia sẻ cảm thọ của mình sau khi nghe bài giảng của thầy, khi con nghe bài giảng và tác ý theo lời thầy thì cảm thọ lạc sanh khởi. Ý hành nói "những năm qua mình xuất gia nhưng mình đã quên đi chí nguyện ban đầu của mình và quên đi trách nhiệm, nghĩa vụ của một người xuất gia là phải đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Mình chỉ biết để cho những lậu hoặc xâm chiếm và chạy theo ngoại cảnh, không quán chiếu sự sanh, sự tử, sự già, bệnh, cái chết đang đến gần, mình cứ chạy theo những cái vui của ngoại cảnh".
Khi nghe thầy chia sẻ về vụ tai nạn máy bay, những cái chết về giao thông thì sự xót thương, những hình ảnh của những người thân đã ra đi, hành nói "rồi sẽ có một ngày mình cũng phải đón nhận những tai nạn, tại họa bất ngờ xảy ra, sự chết cũng sẽ xảy đến với mình và tất cả chúng sanh. Từ đó mình phải nuôi dưỡng, tăng trưởng học pháp, thực hành pháp, có ý chí thôi thúc nhất định phải cố gắng để thọ nhận đi vào dòng pháp này để trau dồi thân tâm, không hổ thẹn, không bị mang tiếng là đi xuất gia lâu nhưng tham, sân, si còn y nguyên, còn tệ hơn lúc đầu mới vô chùa".
Khi nghe thầy dạy xuất gia lâu rồi đôi khi có những vị ít nghe pháp hơn thì ý hành nói "nếu mình không tu tập đúng chánh pháp thì sau này mình cũng sẽ như vậy, tuổi đạo lớn nhưng phạm hạnh của một người xuất gia thì ngược lại", con liên tưởng đến câu Pháp Cú:
"Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, vì vô minh nên con chỉ biết trình bày như vậy. Con kính trên thầy, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể thiền đường đại chúng hoan hỉ cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Sư cô nhìn nhận được như vậy là tất tốt.
Phật tử 1: Con xin đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng trong đạo tràng Nikāya. Hôm nay nghe được bài khuyến tấn tu của sư phụ thì con cảm nhận hai điều, thứ nhất là nói về lợi ích của pháp thiền quán của Nikāya mà sư phụ truyền đạt lại, từ ngày con lên núi thì con cũng không nhớ được bao nhiêu ngày vì gần như con không nhớ ngày nữa. Lúc trước con tu thì con cũng chỉ biết lên chùa, đến thời khóa tu thì lên tụng kinh, những thời khóa đó thì tỉnh tâm, chuyên tu, không suy nghĩ chuyện khác nhưng khi xuống thời khóa thì bản thân lại phóng dật, chạy theo rất nhiều thứ và suy nghĩ không còn trú trong cái pháp của Đức Phật nữa. Từ khi lên đây con được các thầy dạy cho con pháp tu này, trước là thầy Pháp Lực, sau là thầy Pháp Tâm, thầy Pháp Nghĩa, thầy Pháp Cần là những thầy đã dạy con những bước đầu tiên trong vấn đề tu tập.
Con bắt đầu quán nhiều hơn nhưng trong bài giảng của sư phụ con chỉ thấy đúng một tâm điểm của bản thân con, đó là cái si của mình cứ bình bình, nếu không quán thì cứ bình bình, mình làm mà không có chánh niệm trong đó. Buổi chiều hôm đó con ngồi thiền thì thầy Pháp Tâm ngồi ở trên, con ngồi ở dưới, khi ngồi thì con trú tâm vào hơi thở của con thì con chỉ thấy người mình bình bình, khi nghe nhịp tim đập thì con giật mình, con hoảng sợ. Ngay đó hình ảnh thầy Pháp Tâm ngồi ở phía trên hiện lên con, con biết đó là cái tưởng của mình, ý hành nói con sau khi xả thiền phải lập tức hỏi thầy Pháp Tâm vấn đề của mình hiện hữu ở chỗ nào và mong thầy Pháp Tâm chỉ cho con.
Sau khi xả thiền con gặp thầy Pháp Tâm dưới bếp để nói vấn đề của mình thì thầy dạy con phải kiếm một đề mục để quán, khi quán thường xuyên như vậy thì cái si không còn tồn tại nữa, cái quán đó nhập vào thân mình thì mình sẽ đánh tan cái si. Con cảm ơn thầy vì con biết đánh phá cái si trong người mình như thế nào. Điều thứ hai là con cũng chia sẻ với thầy Pháp Lực về cái ăn, cái bất tịnh, buổi sáng hôm đó ăn mì gói, khi con bưng tô mì ra ngồi bàn thì con cám ơn những ai cho con thức ăn này thì tự nhiên nước miếng con miệng con ứa ra vì mùi vị của mì gói. Trong lúc đó con nhớ lại lời thầy Pháp Lực và thầy Pháp Tâm thì con bỏ đũa xuống, đậy tô mì không ăn nữa, con nói rằng "cái này mình đang thèm ăn chứ không phải do mình ăn chỉ là ăn", khi quán đến khi không chảy nước miếng nữa thì con mới bắt đầu ăn, con cảm thấy đó là điều thiết thực trong phép quán.
Trong bài khuyến tinh tấn của sư phụ con phát hiện ra được bản thân mình một điều nữa đó là khi sư phụ nói đến hai chữ thời gian, con biết rằng bản thân của mỗi người đều có khoảng thời gian nhất định không thể xin thêm nên đây là một trong những cái mà ngày hôm nay trước mặt sư phụ, trước mặt quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng con tha thiết khẩn xin sư phụ cho con được xuất gia. Đó là tâm sự của con ngày hôm nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính lễ sư phụ, con đảnh lễ quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Sáng nay con ngồi nghe pháp thì thân con mỏi, cảm thọ thân của con mỏi, tâm con đi vào hôn trầm, dù con lấy dầu xoa vào mắt và mở mắt thật to nhưng cũng bị, con nhìn đức bổn sư, con nhìn lên trần nhà cũng bị. Khi sư phụ nói tại sao mình không thương mình, tại sao mình phản bội mình thì lúc đó tỉnh ra một chút rồi lại đi vào hôn trầm, con lại nhìn đức bổn sư và lại xoa dầu vào mắt, con trợn mắt lên rồi nhìn lên trần nhà. Sư phụ nói mục đích của người tu là đoạn tận tham, sân, si, con nhìn lại thì con dính toàn bộ, ngồi trong đại chúng có sư phụ, có chánh pháp, có quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng mà thân tâm con còn như vậy thì đừng nói gì đi ra ngoài.
Sư Phụ: Cô nhìn thêm về mặt tích cực, thọ được pháp gì trong buổi sáng nay?
Phật tử 2: Khi sư phụ nói mình phản bội mình, mình không thương mình thì con thấy đúng y vậy, con chạy ra nhìn bên ngoài chứ không nhìn lại mình.
Sư Phụ: Từ nửa vòng trái đất về đây thì con cảm thọ được cái gì? Ngũ uẩn như thế nào, nhận diện từ lúc bước chân lên núi cho đến giờ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức ra sao.
Phật tử 2: Con có cảm thọ rất vui thưa sư phụ, khi ở bên Mỹ hay ở ngoài quê con thì cảm thọ hoàn toàn khác, sắc thân con thấy khỏe. Xung quanh mình các quý thầy, quý cô, ai cũng hiền thiện, nhìn các vị thấy rất an lạc.
Sư Phụ: Sáng này cô có ngồi thiền không?
Phật tử 2: Dạ không, sáng con dậy lúc 3h làm vệ sinh xong là con xuống đây, bình thường bên nước ngoài dậy là con ngồi thiền mà sao lên núi con lại không ngồi thiền.
Chú Hậu: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng. Cảm nghĩ của con sáng nay là Như Lai, Đức Thế Tôn mất đi để trở lại, trở lại rồi mất đi, cũng như chết đi để hồi sanh vô vi Niết-bàn. Hôm nay cũng là ngày giỗ của bố con, ngày 26 tháng 12, trong con cảm giác không buồn chẳng vui, tuy thế con nhận thức biết những tiếng ve kêu, âm nó trong veo, trong vắt, trong vang mà thôi, lại có tiếng dế mèn kêu cộc cạch, miệt mài, con chẳng biết mình đi theo ve hay dế nhưng tiếng ve kêu liên tục, dường như chỉ đi theo tiếng bạt ngàn ve kêu này. Con xin đọc một bài thơ, Bồ-đề vốn năm cánh hoa mọc trên dòng pháp, nở bát ngát mùi hương khắp cùng Thánh trời người để trở về với hoa.
Sư Phụ: Thật sự chúng ta được sanh ra có được sự minh mẫn, sáng suốt là rất quý báu, con rất thương chú, tuy rằng không kêu chú trình pháp nhưng con thường hướng tâm về chú. Chú không được thông minh, sáng suốt như mọi người nhưng cả một tấm lòng muốn tu học cho nên con mong rằng đại chúng thương tưởng cho chú, giúp đỡ cho chú. Thật ra mình phải biết quý vì có một tinh thần sáng suốt, minh mẫn để nhận thức pháp, đó là điều quý giá không gì bằng, không phải ai nghe pháp cũng hiểu được, không phải ai nghe nhận diện ngũ uẩn rồi cũng nhận được, không phải ai được chỉ như lý tác ý rồi làm được, có những người không làm được vì quên. Chính vì vậy khi quay lại mình thì phải càng trân quý cái thấy biết mà mình đã có được, mình đã tích tụ bao nhiêu phước lành trong quá khứ thì mình mới có được thân tướng lành lặn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, còn biết bao nhiêu người có khi ở bên cạnh mình bị khiếm khuyết. Mình phải thương họ thật nhiều, bây giờ mình không lo tu thì ngày sau mình còn khổ hơn nữa.
Hôm nay là ngày giỗ ba của chú, chú không nói ra cũng đâu ai biết, chú phải siêng năng lạy sám hối thật nhiều, quý thầy hướng dẫn cho chú lạy sám hối, trải tâm từ. Không phải con không mời trình pháp là con không để tâm tới, còn vô vàn, vô số những cảnh khổ của thế gian này mà mình chưa thấy, chưa hiểu, chưa cảm thọ được hết vì nếu cảm thọ được thì mình không còn như vầy nữa. Nếu có gặp những thống khổ, tai họa thì phải nhớ rằng những thống khổ, tai họa này không phải mới chịu một lần mà vô thỉ, vô lượng, vô số lần đã trải qua. Cho nên mỗi một con người, mỗi một hoàn cảnh, mỗi một cảnh khổ đều phải quay lại phản chiếu lại mình, rằng những cảnh đó mình đã từng chịu đựng, mình đã từng mắc phải, mình đã từng kinh qua.
Trong lời trình pháp của chú là cả một tâm thương, chính vì vậy phải tu trí tuệ để phá cái si mê, càng ngày chúng ta sống với cái si rất nhiều, 70-80% sống trong si mê và vô minh nếu chúng ta không tác ý, không như lý giác sát ngũ uẩn. Những cái sân không có nhiều, lâu lâu mới khởi vì đâu ai giận từ sáng đến chiều, cái tham dục cũng vậy nhưng cái si mê xâm chiếm gần như toàn bộ đời sống chúng ta, đó là nền tảng, cái tham sân chỉ là những cái phát ra bên ngoài còn si là cái nền phía dưới. Nếu chúng ta không phá nền móng đó thì nó sẽ xây cất lên, muốn phá nền móng của si, của vô minh tùy miên thì chúng ta phải tác ý, thiền quán, nếu chúng ta cứ để như vậy sẽ ở trong si và vô minh tùy miên. Còn vấn đề chống đối với cơn buồn ngủ là khác, cái này thô lắm rồi còn ở đây nói cấp độ sâu sắc hơn, nghĩa là không cần đợi đến khi buồn ngủ mà mình thức sờ sờ ra nhưng vẫn sống trong si mê, vô minh.
Nếu mình nói tôi đi ăn cơm mà mình thấy rõ ràng có hình ảnh về tự ngã của mình, mình không thấy ngũ uẩn, không thấy tứ đại, không thấy duyên sanh pháp, không thấy sắc tập khởi, không thấy thứ ăn tập khởi do sắc tập khởi, mình không tác ý, không nhìn nhận các pháp thì lúc đó là sống trong vô minh. Khi nào nhớ pháp thì mới có minh, quên pháp là vô minh, giống như đem đèn sáng vào trong bóng tối cho người có mắt có thể thấy sắc, lúc nào có pháp Đức Phật, có sự nhớ nghĩ về pháp, có sự nhìn nhận về pháp thì lúc đó có minh, lúc nào mất cái đó rồi là sống trong vô minh, đó là cấp độ sâu sắc để chúng ta nhìn nhận về vô minh. Thức ăn của vô minh là năm triền cái, chẳng những mình vô minh mà mình còn nuôi lớn vô minh, thức ăn của mình là bảy giác chi, giác chi đầu tiên là phải nhớ pháp, chỉ cần quên pháp thì ngay đó sống với vô minh, si mê, hôn mê, ngu mê, với đam mê, say mê. Nó vi tế đến như vậy cho nên chúng sanh vô văn phàm phu đến khi nào tỉnh nếu không thuần thục pháp bậc chân nhân, không tu học pháp bậc chân nhân, không quán sát tự ngã cho nên sự tác động tâm ý là rất quan trọng, sau khi quán sát thì phải tác ý. Những ngày trong thất con tác ý khoảng chục tiếng trong một ngày, mở bài lên tự mình chửi mình, chửi cái vô minh của mình, chửi cái tham dục, bản ngã của mình, nghe chửi suốt 2 tháng, chửi ngày chửi đêm thì mới rung chuyển trong chấp thủ phần nào thôi chứ chưa hết, còn bỏ qua là nó vẫn y nguyên.
"Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Do nhơn những kiết sử nào ta có thể lấy của không cho, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta lấy của không cho, không những ta tự trách mắng ta vì duyên lấy của không cho, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên lấy của không cho; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên lấy của không cho" (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Ta tự trách mắng ta tức là mắng chửi, đó là như lý tác ý quở trách tâm, rầy la tâm, biết bao vị nghiên cứu kinh tạng Nikāya không nhìn thấy điều này vì không phải dễ, cho nên cái pháp như lý tác ý rất thần diệu. Phải siêng năng như lý tác ý mới phá được vô minh tùy miên, si tùy miên, cái tâm trơ trơ vô cảm đối với pháp, đối với sự thật, càng tác ý mạnh chừng nào thì sức mạnh của trí tuệ càng lớn chừng đó, càng mau thể nhập vào chánh tri kiến chừng đó. Hai cái nhân của chánh tri kiến là nghe Thánh pháp thật nhiều và như lý tác ý, hai cái này là điều kiện để thành tựu chánh tri kiến, điều kiện để Nhập Lưu, điều kiện để đi vào sống với sự thật. Mình có nghe nhưng không tác ý hoặc là tác ý sơ sài cho nên không thể nhập vào chánh tri kiến, sau khi nghe phải suy tư quán sát, như lý tư duy.
Hôm nay chú nghe đến chữ "thời gian" rồi chú phát tâm xin xuất gia là do chú nghe tiếng rồi suy tư, thiện pháp sanh ra, tăng thượng pháp sanh, chú theo đại chúng từng bước. Ở đây xuất gia rất khó, phải công quả rồi sau đó là tập sự, qua 2 bước mới được xuất gia, có các chú ở đây lâu xin xuất gia con chưa cho thế là chạy ra chùa khác mới mấy bửa là được xuất gia, bây giờ đăng lên mạng cạo đầu cho đệ tử, tức là chú đó chẳng những xuất gia mà chú nhận đệ tử luôn, con thấy rất thương. Có một số vị mới xuất gia không bao lâu, mới được mấy tháng là nhắn tin điện thoại về bắt lỗi, xưng với con là "sư", lúc chưa xuất gia thì xưng "con", bây giờ mới xuất gia cạo đầu thì xưng là "sư", con chỉ nói "dạ, sư dạy con đi".
Chỉ khi nào học đúng chánh pháp mới nhiếp phục, chế ngự được bản ngã, điều này rất quan trọng trong sự tu của mình cho nên tình thương của mình bao la, phải thương thật rộng lớn, thương thật nhiều. Nếu mình hướng dẫn không đúng chánh pháp thì không thể nhiếp phục, chế ngự bản ngã ác độc này, có khi những chiếc áo này lại làm cho cái tôi tăng trưởng, lại hại mình chứ không phải là thương, chính vì vậy ở đây xuất gia rất khó. Có những vị mới xuất gia mấy tháng thôi về đây gọi con là "chúng sanh", con trải tâm từ, được học pháp với con ở đây mà còn vậy. Mình là chúng sanh đúng rồi, thậm chí mình còn tệ hơn cả chúng sanh, mình là nùi giẻ rách, họ gọi vậy là đúng rồi nên con chắp tay "dạ, con nghe lời". Vì thế không phải là người khổ tâm thì không biết được nỗi khổ tâm của người có tâm, con không hiểu các vị đó sẽ tu học như thế nào, con rất thương.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Tầm Quan Trọng Của Thánh Pháp & Thiền Quán
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tôn kính Pháp PAGEREF _Toc139875033 \h 1
II. Nhàm chán đối với năm uẩn PAGEREF _Toc139875034 \h 3
III. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc139875035 \h 4
IV. Sự nguy hiểm, đau khổ của luân hồi PAGEREF _Toc139875036 \h 7
V. Như lý tác ý PAGEREF _Toc139875037 \h 9
VI. Trình Pháp PAGEREF _Toc139875038 \h 13
I. Tôn kính Pháp
Chúng ta sẽ học bình thường như ngày bình thường, đối với con không có gì quý hơn Thánh pháp, có thể bỏ tất cả nhưng không được bỏ Thánh pháp, đến khi nào thành tựu Thánh quả cứu cánh thì Đức Phật vẫn nói là quán chiếu năm thủ uẩn là vô thường là ung nhọt, là kẻ giết người, là hố than hừng cho nên hạnh phúc của con là hạnh phúc được an trú trong pháp, vì vậy chúng ta vẫn học bình thường, có thể trừ ngày mùng 1 vì ngày đó chúng ta đón giao thừa. Con không thấy có gì vui trên cuộc đời này ngoài việc an trú trong pháp, thực hành pháp, được chia sẻ pháp, được tu tập pháp, lan tỏa pháp, mở rộng pháp, khai thị pháp, truyền bá pháp, hiển lộ pháp, ngoài mấy cái này ra không có gì vui cả, làm những điều này mà chết vẫn mãn nguyện.
Chúng ta có hạnh phúc trong pháp không? Nếu không thấy hạnh phúc trong pháp thì vẫn còn xa Đức Phật, bất cứ lúc nào cũng có thể pháp đàm suốt đêm, vẫn có thể bỏ ăn để nghe pháp, thảo luận pháp, thực hành pháp. Có rất nhiều trường hợp Đức Phật nói với các ngài Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất rằng ngài đau lưng, mỏi lưng, ngài cho xếp tấm y tăng-già-lê lại để ngài nằm xuống, ngài nói các vị tiếp tục giảng pháp cho chúng Tỳ-kheo khi họ đã vượt qua cơn buồn ngủ.
"Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:
-- Này Moggalàna, chúng Tỳ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỳ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, VI. Dục Lậu)
Qua đây chúng ta thấy được Đức Phật và các bậc Thánh tôn quý pháp đến cỡ nào. Có một hôm khi các thầy Tỳ-kheo đang pháp đàm thì Thế Tôn đi đến và đứng chờ bên ngoài rất lâu, các thầy pháp đàm xong Thế Tôn mới bước vào, Thế Tôn bảo các vị pháp đàm dài quá nên ngài đứng ngoài đợi, các thầy bảo tại sao Thế Tôn không nói thì Thế Tôn bảo ngài sợ làm gián đoạn thời gian pháp đàm, ngài tôn kính pháp. Như Lai tôn kính pháp, sợ làm gián đoạn các thầy Tỳ-kheo đang thảo luận pháp.
"Một thời Thế Tôn trú ở Sàvathi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nandaka đang thuyết pháp cho các Tỳ-kheo trong hội trường, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, đứng ngoài cửa hội trường, chờ đợi cho cuộc thuyết giảng chấm dứt. Biết được bài giảng đã chấm dứt, Thế Tôn đằng hắng và gõ vào then cửa. Các Tỳ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bước vào hội trường và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn bảo Tôn giả Nandaka:
- Dài thay, này Nandaka là pháp môn này, Thầy đã giảng cho các Tỳ-kheo! Lưng Ta đã mỏi khi đứng ở ngoài cửa, chờ cho buổi thuyết giảng chấm dứt.
Khi được nói vậy, Tôn giả Nandaka lấy làm bối rối bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, chúng con không biết Thế Tôn đứng ở ngoài cửa. Nếu chúng con biết Thế Tôn đứng ở ngoài cửa, thời chúng con đã không nói dài như vậy.
Thế Tôn sau khi biết tâm trạng bối rối của Tôn giả Nandaka liền nói với Tôn giả Nandaka:
- Lành thay, lành thay, này Nandaka! Thật là xứng đáng cho các thiện nam tử các Thầy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Thầy ngồi lại với nhau để nghe pháp. Này Nandaka, khi các Thầy hội họp với nhau, này Nandaka, có hai việc cần phải làm: nói pháp hay giữ yên lặng của bậc Thánh" (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, (IV). Tôn Giả Nandaka)
Đó là lý do tại sao con khuyến khích chúng ta nghe pháp, pháp đàm thường xuyên, con ong cũng bay đến nghe pháp chứ đừng nói chi con người. Đến giờ ngồi thiền con cũng mở thiền quán nhiều vì tâm thức chúng sanh bây giờ rất khó để tu thiền định, nếu không mở thiền quán thì đa số ngồi thiền sẽ bị hôn trầm dù cho ngủ đủ giờ chứ đừng nói là thiếu, vì vậy có thiền quán sẽ đỡ bị hôn trầm hơn. Con muốn tự thân con cũng như các vị ở đây tu hoặc các vị về đây phải được đặt để vào pháp rất nhiều, còn ngồi yên sẽ bị vô minh, hôn trầm, tâm vu vơ, lang thang, lậu hoặc.
Vì thế cho nghe pháp, cho thiền quán, cho đọc tụng pháp bảo, pháp đàm thì lúc đó sẽ có cảm thọ, mình minh mẫn, sáng suốt lên cho nên con chú trọng thiền quán, nghe pháp, pháp đàm. Mỗi một giờ được nghe pháp, được thiền quán, đọc tụng pháp bảo, mình pháp đàm như vậy là giờ đó mình tỉnh táo, tỉnh cái hôn mê, tỉnh cái ngu si, vô minh, lậu hoặc của mình ra, đó là giờ mình phá cái bóng đêm trong tâm mình ra, sau này những khóa tu sâu thì những thời pháp, những giờ thiền quán, giờ tu sẽ nâng cao hơn nữa, nhiều hơn nữa, chỉ đổi oai nghi cho hết khó chịu là tiếp tục tu tập. Làm sao để mình an trú trong pháp liên tục không rời pháp thì lúc đó mình thành tựu thể nhập, mình cứ tác ý nhàm chán đối với sắc.
II. Nhàm chán đối với năm uẩn
"Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc... thọ... tưởng... các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, XI. Thiện Nam Tử Khổ)
Mình có tác ý nhàm chán sắc thường xuyên không? Mình có tác ý nhàm chán cái thân này thường xuyên không? Mình có tác ý nhàm chán với dục, ái, sân, với vô minh, với bản ngã thường xuyên không? Mình phải ghi ra giấy, giây phút viết ra là giây phút quý vị nhàm chán, trú trong pháp, đọc lại cũng sẽ trú trong pháp, người khác đọc cũng trú trong pháp.
Vậy nhưng kêu trình pháp lại không muốn trình, kêu viết bài không muốn viết, mai này con chết đi không còn ai kêu quý vị nữa, bên Tăng và bên cư sĩ nam là không chịu viết bài. Mình phải trú trong pháp thường xuyên, chỉ cần tâm lơ đãng một chút thôi là nó kéo mình xuống núi ngay, từ nửa vòng trái đất về đây có một này thôi mà mất chánh niệm là muốn đi xuống núi.
Vô minh của mình rất dày đặc cho nên bốn chữ "liên hệ đến mục đích" là mỗi một suy nghĩ mình phải liên hệ đến bốn chữ đó, mỗi một cảm thọ mình phải nhớ đến bốn chữ đó, có liên hệ đến mục đích đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si không, nghĩ cái này có liên hệ đến mục đích không, có dính dáng đến sự thành tựu pháp không, nói cái này có đưa đến viễn ly, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ không.
III. Khuyến tấn tu tập
Mục đích của mình lên núi để làm gì? Ngày nào cũng phải hỏi chứ đừng nghĩ ở đây quen rồi còn hỏi gì nữa. Mình về đây để làm gì? Mình cạo đầu để làm gì? Mình đắp y để làm gì? Bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ trường, bỏ lớp, bỏ hết danh lợi bên ngoài lên đây để làm cái gì? Trong giờ thiền quán phải hỏi mình như vậy, thậm chí không đợi đến giờ thiền quán mà trong mỗi bước chân cũng phải hỏi, mỗi lời nói phải hỏi "ngươi đang nói cái gì vậy? Lời nói này có liên hệ đến mục đích không? Ngươi đang làm cái gì đây?", đó là niệm thân, "ngươi đang suy nghĩ cái gì? Có liên hệ đến ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy không, có xuất ly tư duy không? Có suy nghĩ đến sự rời xa, từ bỏ, thoát ra không?", "ngươi đang suy nghĩ cái gì đây? Ngươi yêu dấu cái thân này lắm phải không?", "ngươi ham thích cái thân này lắm phải không? Ngươi say đắm cái thân này lắm phải không?".
Phải siêng năng tác ý mọi lúc mọi nơi, làm việc không lúc nào rảnh, lúc nào mệt thì mình cho an tịnh, lắng dịu, trú vào thiền chỉ, lúc nào mình khỏe là mình cầm pháp khí lên, cầm thần khí, đạo khí lên để chiến đấu ngày đêm. Con thật sự không muốn hoang phí một chút thời gian nào nữa vì đã mất thời gian quá nhiều, làm những chuyện vô ích, nói những điều phù phiếm, suy nghĩ vu vơ chỉ đưa đến sự luẩn quẩn.
Trong bài kinh "Khu rừng sừng bò" các vị Thánh Tăng mỗi người nói một cái hạnh của mình để làm chói sáng khu rừng, các vị nói các bậc Đa văn làm chói sáng khu rừng như ngài Ananda, ngài A-na-luật thì nói thiên nhãn, ngài Ca-diếp thì nói khổ hạnh, sau đó mỗi vị nói một hạnh rồi cùng nhau đi đến Đức Phật hỏi người nào nói đúng, Đức Phật nói tất cả đều nói đúng. Các vị hỏi Thế Tôn làm sao để làm chói sáng khu rừng thì Thế Tôn trả lời các thầy ngồi yên, lưng thẳng, kiết già quán chiếu đến khi nào đoạn tận các lậu hoặc.
"Khi được nói vậy, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, vị nào đã khéo trả lời (câu hỏi được đặt ra)?
-- Này Sariputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sariputta, Tỳ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: 'Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ'. Này Sariputta, hạng Tỳ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tôn giả ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy" (Trung Bộ Kinh, 32. Ðại kinh Rừng sừng bò)
Câu nói 'Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ' làm mình nhục nhã, xấu hổ vì mình không chịu ngồi yên, không chịu quán chiếu, không đặt hết tấm lòng của mình vào chánh hạnh. Mình hoang phí, phung phí thân – miệng – ý của mình vào những chuyện phù phiếm, vô ích, vô nghĩa, thậm chí là những chuyện làm cho mình phiền não, khổ đau.
Bây giờ con thật sự không muốn làm gì nữa, chỉ muốn tu và chia sẻ pháp cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, gần đây trong phòng ở chùa Bửu Liên con để tờ giấy khai tử của hòa thượng trên đầu nằm, hôm đó làm thủ tục giấy tờ thì người ta yêu cầu đưa tờ khai tử của hòa thượng nên con để ngay đó, mỗi ngày con thức dậy đều thấy hai chữ "khai tử", suốt cả tuần lễ đều quán chiếu khai tử.
Mình chết rồi không còn tên tuổi, mặt mũi, danh vọng, lợi lạc gì trên thế gian này nữa, mình đã khai tử trên cuộc đời này rồi, mình không còn hơn thua, đúng sai với ai nữa, mình đã chết rồi. Con dự định lấy tờ giấy đó điền tên con vào đóng khung trang trọng treo trong chỗ con ở, ngày xưa con có ý định làm cái hòm trong một gian nhà, để hình con rồi ghi tiểu sử, mỗi ngày con sẽ vào đó thiền quán, mỗi ngày làm đám ma cho mình để sau này không cần ai làm đám ma cho mình, không cần ai đi hộ niệm cho mình.
Bây giờ mình không nhớ mình chết, đến khi chết mình sẽ không chấp nhận cái chết, còn lúc nào mình cũng nhớ mình chết thì khi cái chết đến mình sẽ thản nhiên, bình an vì thế có rất nhiều khía cạnh, phương diện để mình tác ý vì tác ý như vậy thì trí huệ mới sanh, vô minh mới phá, tuệ mới sâu, tâm mới sắc bén. Người tu là phải như vậy, làm xong công việc này rồi muốn làm gì thì làm, bây giờ không có công việc nào quan trọng bằng công việc này, đó là chấm dứt tất cả lậu hoặc, không còn chấp thủ, đó là bổn phận sự của người xuất gia.
Người thợ hồ phải hoàn thành căn nhà, người thợ mộc phải làm cho xong món đồ, tài xế phải chạy đến nơi, cũng vậy, người xuất gia phải đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si mới xong công việc, việc cần làm đã làm. Bây giờ có được bao nhiêu người xuất gia có suy nghĩ như vậy?
Một người thường xuyên suy nghĩ như vậy, thường an trú trong tư duy như vậy thì người này rất trầm tư, ưu tư vì thấy lậu hoặc còn rất nhiều, tham, dục, ái còn nhiều, sân còn nhiều, vô minh còn nhiều thì làm sao người này buông lung phóng dật được, họ sẽ sống trong sự trầm tư, suy tư, tất cả thọ; tưởng; hành sẽ lắng dịu. "Thật là lo lắng thay cho ta khi tham dục còn rất nhiều, ta còn đang làm nô lệ cho chúng nó, thật là bất an thay cho ta khi sân hận còn sung mãn, hừng hực, đang còn thiêu đốt tim gan ta, thật là lo lắng khi vô minh của ta vẫn còn dày đặc", một người thường nghĩ như vậy thì không còn hơn thua với ai nữa, không còn hướng ngoại ra ngoài nữa, ngoài ra còn bảng khai tử nữa, mỗi tối vào mùng là chui vô hòm, mình phải quán chiếu như vậy.
Con lúc nào cũng thấy không còn kịp thời gian nữa, không còn bao nhiêu thời gian nữa. Vì bổn phận, vì trách nhiệm phải đi làm những thứ mình không muốn làm, cho đến lúc nào đủ duyên thì buông hết để làm những điều thật sự mình muốn làm một mình. Mấy ngày nay có biết bao tai nạn, ở Nepal rơi máy bay hơn 70 người thiệt mạng, cả nước để quốc tang, trong nước mình thì tai nạn giao thông bị thiệt mạng, bị thương rất nhiều, những ngày tết ra đường rất nguy hiểm cho nên mình được ở yên tu tập thì mình phải thấy được hạnh phúc tối thượng này.
Có khả năng gần cả tỷ người nhiễm dịch bệnh, chết sơ sơ là 60 ngàn người trong một tháng nhưng chưa chắc đây là con số chính xác, bệnh viện không còn chỗ chứa nữa, nhà xác không còn chỗ chứa nữa, lò thiêu không còn chỗ để thiêu nữa. Một người đi máy bay đang quay video lúc cười tươi thì máy bay rớt, chết tại chỗ, tai nạn kề bên mình nhưng làm sao có thể biết được, họ đã đi đến miệng, đến cửa, đến hố của tử thần, mai này mình chết cũng giống như vậy.
Phải biết thương mình thật nhiều, siêng năng làm công việc của mình thật nhiều, đừng buông trôi, buông thả, buông lung. Mỗi lần quý vị trở về đây, không biết tự thân quý vị có nhìn thấy không nhưng con thấy quý vị già đi rất nhiều, đã biến đổi rồi, biến hoại rồi. Từ nhỏ, khi con mới 5-7 tuổi con đã nhạy bén với cái già, cái bệnh, cái chết, cái nghèo, cái khổ, con nhìn thấy người thân có tóc bạc là nước mắt con muốn chảy ra, ngày xưa con nhìn mẹ có tóc bạc là con khóc, sau này học kinh Nikāya mới biết đó là điềm báo của thiên sứ, điềm báo của thần chết đã hiện ra trên mái tóc của mẹ mình.
Những Phật tử lâu lâu về thăm mà con thấy họ già đi, biến hoại là trong tim con xót xa, đau nhói, những người thân thương của mình, những người có tình có nghĩa, có ân có đức của mình sắp sửa ra đi, ngọn lửa vô thường thiêu đốt, đốt cháy họ. Đến khi con có tóc bạc, râu bạc thì hoảng hồn, kinh ngạc, con thấy không kịp thời gian nữa rồi, mình sẽ chết trước khi mình đoạn tận các lậu hoặc, mình sẽ chết khi công việc mình chưa làm xong cho nên phải nhanh lên, phải mau lên, phải lẹ lên, phải gấp lên.
Người ham tu rất khổ tâm, người có tâm sẽ hiểu cho ta. Con nhìn thấy thế gian là một đống khổ to lớn dù con đang được tấn phong giáo chỉ, dù con đang ở trong một hội chúng mà mọi người hân hoan, vỗ tay, cười reo vui mừng nhưng con chỉ thấy xót xa, nhói tim. Con thấy tất cả hội chúng này sẽ bạc đầu, sẽ già nua, sẽ nằm trong gường bệnh, sẽ chết hết, sẽ vào lò thiêu, sẽ ra nghĩa địa nằm hết.
IV. Sự nguy hiểm, đau khổ của luân hồi
Bây giờ mới thấm thía Đức Phật dạy quán ba cảm thọ, quán lạc thọ là khổ, thấy vui như vậy nhưng có khổ trong đó, có biến hoại, hoại diệt, tiêu ma trong đó cho nên nếu mình không làm việc siêng năng, không có tâm thuần thục trong sự quán chiếu thì làm sao mình quán chiếu trong lúc mình vui sướng chứ đừng nói chi trong lúc bình thường. Lúc bình thường không quán chiếu được thì lúc vui sướng làm sao quán? Phải an trú trong trí tuệ sanh diệt này, trí huệ vô thường, vô ngã, trống rỗng, hố than hừng này, kẻ sát nhân này, những gai nhọn. Thế Tôn nói trước mắt là gai, bên phải là gai, bên trái là gai, sau lưng là gai, phía trên, phía dưới toàn là gai, đi không cẩn thận đều có thể đạp gai.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: 'Mong sao tôi chớ có bị vướng gai'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, VII. Khổ Pháp)
Thật sự những gì Thế Tôn nói quá đúng, vô cùng thấm thía, gặp người này là gai độc, gặp người kia là gai nhọn, gặp người nọ chỉ toàn là tham, sân, si, dục ái, danh lợi, bản ngã, hơn thua, mưu toan, mưu ác, ích kỷ, gai góc đầy đường. Con ngồi chia sẻ pháp nhìn những ánh mắt bên dưới nhìn lên con chỉ thấy xót xa, khi nói đến tham, sân, si làm cho chúng sanh khổ là họ trừng trợn lên, bây giờ là mạt pháp rồi, không còn mấy người tu nữa, người thật sự tu bằng tất cả tấm lòng để giải thoát chỉ đếm trên đầu ngón tay. Người tha thiết, người khao khát, người chân thành, người bằng tất cả tấm lòng thật sự muốn diệt tận khổ đau đếm trên đầu ngón tay, cho nên Thế Tôn nói người thấy được khổ ít như đất dính trong đầu móng tay, người không thấy được khổ nhiều như đất trên địa cầu.
"Rồi Thế Tôn lấy lên một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỳ-kheo:
-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy lên trên đầu móng tay, hay là quả đất lớn này?
-- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất Thế Tôn lấy lên trên đầu móng tay. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất được Thế Tôn lấy lên trên đầu ngón tay.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ít hơn là những chúng sanh được tái sanh làm người. Còn nhiều hơn là những chúng sanh bị tái sanh ra khỏi loài Người. Vì sao?
Này các Tỳ-kheo, vì không thấy bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'". (Tương Ưng Bộ, tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XII- Tương Ưng Sự Thật (b), VII. Phẩm Bánh Xe Lược Thuyết, I. Người Khác)
Chúng ta phải lấy những lời này để gậm nhắm để cho sự thật về khổ này thấm vào da, vào thịt, vào xương, vào tủy não, vào tim gan này, để mình nhìn bằng cặp mắt khổ thánh trí đối với tất cả đời sống này. Con từ trong rừng về đây, bước xuống xe đi lên núi mới biết mình còn sống, con không thấy có một sinh mạng được bảo toàn, bảo an, xe chạy lấn làn vượt qua mình ào ào.
Ngày hôm qua con ngồi 8 tiếng, vừa cúng giỗ tổ xong chưa kịp ăn cơm, chỉ lấy bánh mì theo rồi lên xe ngồi 8 tiếng đi vào rừng để dựng thiền thất, không còn kịp nữa, giống như chiếc máy bay vừa rơi thiệt mang 72 người cả phi hành đoàn, chết bất đắc kì tử, chết bất ngờ, cái chết sẽ đến với mình như vậy. Làm sao để đoạn tận sân, đoạn tận tham, đoạn tận si, đoạn tận vô minh, bản ngã, lậu hoặc? Ngày nào cũng suy tư điều này, ôm ấp điều này, thai nghén điều này, chăm chăm điều này. Mình nghĩ mình sẽ hết trong khi các lậu hoặc còn đầy rẫy, trong khi những mầm móng của tai họa còn đầy ắp trong tâm, vì vô minh, bản ngã vẫn còn quá nhiều bên trong khối thịt này. Phải trầm tư, làm cái gì cũng trầm tư, đừng chỉ thấy công việc, đừng chỉ thấy con người, đừng chỉ thấy cảnh đẹp mà hãy thấy tâm cấu nhiễm.
Không lúc nào quên mình còn đang mang tâm cấu nhiễm, giống như người tài xế chạy chưa đến nơi thì họ không muốn dừng lại, người tài xế còn như vậy trong khi mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết sự nghiệp, tình cảm, tình thương, tình thân rồi mình đứng lại, đối với thiện pháp mình lùi lại, mình sống ẩn dương nương Phật cho qua ngày đoạn tháng như lục bình trôi sông, nhắc nhở thì còn nhớ, không thì mình thả trôi.
Mình buông trôi cuộc đời quý giá này, ngọn lửa hừng hực khi mới tu không còn nữa mà chỉ còn lại đống tro tàn, ý chí cường liệt, dũng mãnh, tinh cần, tinh tấn, hùng lực dần dần phai nhòa, phai nhạt, phai mờ, thậm chí tu lâu rồi không còn muốn nói đến kinh pháp nữa, không còn muốn nghe kinh pháp nữa. Đây là điều rất đau lòng, mình quay trở lại lo lắng cho mình, tại sao mình lại phản bội mình như vậy? Tại sao mình lại cô phụ chí nguyện cao thượng của mình như vậy? Tại sao mình lại tàn nhẫn với mình như vậy? Tại sao mình không thương mình? Tại sao mình lại đối xử với lý tưởng cao thượng, thánh thiện của mình tàn nhẫn như vậy?
V. Như lý tác ý
Khi nhìn quý thầy, quý cô con rất thương, con không thể nói nữa, những điều con đã đem hết tâm huyết hướng dẫn, chia sẻ từng chút một mà con thấy không làm bao nhiêu hết nên con không nói nữa. Không được quên, cũng đừng đối xử tàn nhẫn với mình, đừng cô phụ chính mình, tội nghiệp cho cha mẹ mình, tội nghiệp ông bà, cô bác của mình. Cần phải triển khai thiền quán ở khắp mọi lúc mọi nơi, thời xưa có cô cư sĩ thời Đức Phật, cô làm đồ ăn cho chồng con, khi xào thì lửa bốc lên cháy khét đồ ăn, ngay đó cô triển khai thiền quán, các pháp tàn hoại, diệt tận thì cô chứng tam quả Bất Lai tại chỗ.
"Hãy ngủ trong an lạc
Hỡi nàng thân đẫy đà,
Ðắp phủ trong tấm y,
Chính mình tự làm lấy,
Lòng tham, nàng lắng dịu,
Như ghè khô trong lò!
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình ở Vesàli (Tỳ-xá-ly). Vì thân hình đẫy đà, nàng được gọi là nàng đẫy đà. Nàng trở thành người vợ trung thành của một người quý tộc. Khi bậc Ðạo Sư đến Vesàli, nàng tin tưởng giáo pháp của đức Phật và trở thành một nữ cư sĩ. Khi nàng nghe Trưởng lão Ni Mahàpajàpati thuyết pháp, nàng muốn xuất gia và thưa với chồng ý nguyện của nàng. Người chồng không cho, nên nàng tiếp tục làm tròn bổn phận của nàng, suy tư đến những lời dạy dịu dàng của giáo pháp và chú tâm đến thiền quán. Rồi một ngày kia, trong khi đang ở trong bếp và nấu món ăn, một ngọn lửa mạnh bừng cháy và thiêu tất cả món ăn với những tiếng cháy xèo xèo, nàng lấy đó làm đề tài để thiền quán về tánh vô thường của sự vật, và chứng được quả Bất Lai. Rồi nàng không đeo các đồ trang sức nữa. Người chồng hỏi duyên cớ, nàng trả lời nàng không thể sống trong gia đình được nữa. Người chồng đưa nàng đến Trưởng lão Ni Mahà pajàpàti Gotami, và bằng lòng để nàng xuất gia. Mahà pajàpàti làm lễ xuất gia cho nàng và đưa nàng đến yết kiến đức Phật. Bậc Ðạo Sư giải thích về đề tài thiền quán của nàng và nói lên bài kệ này.
Khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng lập lại bài kệ này và bài kệ trở thành bài kệ của nàng" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Ni Kệ, Phẩm I. Tập Một Kệ, (I) Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên)
Qua đây chúng ta thấy thiền quán ngày xưa mạnh đến cỡ nào, còn mình bây giờ ngay cả xuất gia mà tâm vẫn trơ trơ dù được học, được chỉ dạy thiền quán rất nhiều, ngược lại cần phải nỗ lực triển khai thiền quán. Có một vị Tỳ-kheo ngồi trên vỉa hè thì có một cô gái rất đẹp đi ngang qua, cô trang điểm, mang y phục, đeo ngọc ngà, vàng bạc rất đẹp trên người, vị thầy triển khai thiền quán chỉ thấy bộ xương khô, cái đầu lâu, sau đó ngài chứng quả Bất Lai.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão, lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán và trở thành một vị Bất Lai" (Tiểu Bộ, Tập III – Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương VI. Phẩm Sáu Kệ, (CCXXV) Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49)).
Phần lớn các ngài đều triển khai thiền quán đoạn tận các lậu hoặc, còn mình làm biếng không chịu như lý tác ý, không chịu quán chiếu vì thấy mệt. Chúng ta phải triển khai thiền quán ở khắp mọi lúc mọi nơi chứ không cần đợi đến khi mở bài thiền quán rồi mới quán, khi ngồi trên xe là con thiền quán, trước khi bước lên xe, trong khi ngồi xe và sau khi bước xuống xe đều thiền quán, không thấy giây phút nào chắc chắn an ổn.
Khi mình thường xuyên tác ý mọi lúc mọi nơi, mọi việc, mọi trường hợp, hoàn cảnh thì trí tuệ mới sanh khởi, thâm nhập, thẩm thấu, tham, sân, si mới lắng dịu, vô minh mới được phá phần nào, minh mới sanh khởi lên. Phải làm việc cật lực, tận lực, siêng năng hơn nữa, phấn đấu hơn nữa, nỗ lực hơn nữa, tinh cần, tinh tấn, tinh ba, tinh anh hơn nữa trong sự thiền quán. Mình đã biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức rồi, mình đã biết thiền quán như thế nào rồi, bây giờ chỉ cần nỗ lực làm thôi, làm sao trong tết này phải có nhiều vị Nhập Lưu, tức là mình vào trong cái thấy biết đó luôn không bị mất thì gọi là Nhập Lưu.
Nhìn ở đâu cũng thấy khổ, nhìn đám cưới cũng thấy khổ, nhìn cái vui nhất của thế gian cũng thấy khổ. Khi an trú trong pháp thấy khổ liên tục thì mình sẽ vui, đây là điểm đặc biệt vì mình thấy rồi mình sẽ không bị khổ xâm chiếm, nhận chìm nữa, mình đứng ra ngoài cái khổ để mình nhìn nó. Thật hạnh phúc khi mình thấy được khổ, thấy được khổ rồi mình thoát ra, mình đứng ra ngoài nhìn cái đống khổ đó, giống như một người thoát ra khỏi căn nhà cháy đứng nhìn căn nhà đó bốc cháy, những người trong đó kêu gào thảm thiết.
Phải nỗ lực triển khai thiền quán, siêng năng như lý tác ý, siêng năng như lý giác sát, khi mình đang làm cái gì mà bực mình thì không làm nữa, bước vào ngồi thiền, chuyện đó không quan trọng, giữ tâm không bực mới quan trọng, đang làm mà buông lung phóng dật là ngưng lại không làm, vào ngồi thiền, đang ăn cơm mà thấy dục ái sanh khởi là ngừng lại không ăn, chừng nào nhiếp phục dục ái xong rồi mới ăn, "mày nghe lời tao thì cho mày ăn", "cái thân này nghe lời tao thì tao cho mày làm, mày không nghe lời không cho làm nữa", "nhà ngươi phải chịu sự kiểm soát của tao, tao là chủ chứ không phải ngươi là chủ".
Nếu đang làm mà khó chịu, bực bội thì không làm nữa, đi vào đi kinh hành, đi vào trải tâm từ, đi vào sám hối diệt ngã, để người không có sân làm, mình sân lên mà làm thì truyền chất độc vô món đồ mình làm, ăn vô trúng độc hết. Tu mà nghiêm chánh, nghiêng minh, nghiêm trang như vậy thì làm sao không tiến bộ?
Người tu mà tâm chai lỳ, trơ trơ, đơ đơ, trong cảm thọ si nhiều mà tu pháp này sẽ thay đổi nếu họ chịu nhiệt tâm, tinh cần, còn nếu không nhiệt tâm, tinh cần thì không thay đổi nhiều, người buông lung phóng dật mà tu pháp này thì người đó sẽ an tịnh, lắng dịu, thu nhiếp, chế ngự, người thụ động mà tu pháp này thì càng ngày càng sắc bén, người dao động mà tu pháp này thì càng ngày càng an tịnh, người cạn cợt mà tu pháp này thì càng ngày càng thâm sâu, người bất cẩn mà tu pháp này thì càng ngày càng cẩn trọng.
Nếu đúng thì đi đến đạo lộ như vậy, trình tự của pháp là như vậy, còn nếu tu mãi mà không thấy thay đổi là có vấn đề, một người ham vui tu pháp này thì từ từ bớt ham vui lại, không còn thích ham vui nữa, người thích dao động, ồn ào tu pháp này sẽ từ từ an tịnh, lắng dịu, người hướng ngoại tu pháp này thì tâm sẽ quay trở về nhìn vào trong, người ta đây, bản ngã tu pháp này càng ngày càng khiêm cung, cúi mình, cúi đầu, đây là hiệu quả rất nhiều trong sự tu tập này.
Mình tu như thế nào thì mình phải viết ra diễn biến như thế, còn nhiều khi tu như thế nào cũng không biết, thầy nói gì cũng bảo đúng nhưng sau đó quên hết, đó là tu trong vô minh, nói thi gật đầu, không nói thì không gật, không biết mình đang ở đâu. Vì thế viết bài tu học là để nhìn nhận lại quá trình tu học của mình, nó diễn biến như thế nào trong suốt một năm qua hoặc trong khi mình về núi cho đến giờ để minh sanh khởi, để nhìn thấy được lộ trình của tâm đang diễn biến như thế nào.
Nếu đang đi ngoài đường mà hỏi đi đâu cũng không biết thì người này không bình thường, sự tu cũng vậy, tu mà không biết đang đi tới đâu là không có trí tuệ, tu trong vô minh cho nên phải nhìn được nhiều phương diện, khía cạnh của tiêu cực lẫn tích cực, mình nhiếp phục được cái nào, được bao nhiêu phần phải viết ra, thành tự trí tuệ đối với pháp tu, đối với hành trì, lộ trình pháp hành của chính tự thân mình phải được viết ra.
VI. Trình Pháp
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể thiền đường đại chúng. Con xin được phép chia sẻ cảm thọ của mình sau khi nghe bài giảng của thầy, khi con nghe bài giảng và tác ý theo lời thầy thì cảm thọ lạc sanh khởi. Ý hành nói "những năm qua mình xuất gia nhưng mình đã quên đi chí nguyện ban đầu của mình và quên đi trách nhiệm, nghĩa vụ của một người xuất gia là phải đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Mình chỉ biết để cho những lậu hoặc xâm chiếm và chạy theo ngoại cảnh, không quán chiếu sự sanh, sự tử, sự già, bệnh, cái chết đang đến gần, mình cứ chạy theo những cái vui của ngoại cảnh".
Khi nghe thầy chia sẻ về vụ tai nạn máy bay, những cái chết về giao thông thì sự xót thương, những hình ảnh của những người thân đã ra đi, hành nói "rồi sẽ có một ngày mình cũng phải đón nhận những tai nạn, tại họa bất ngờ xảy ra, sự chết cũng sẽ xảy đến với mình và tất cả chúng sanh. Từ đó mình phải nuôi dưỡng, tăng trưởng học pháp, thực hành pháp, có ý chí thôi thúc nhất định phải cố gắng để thọ nhận đi vào dòng pháp này để trau dồi thân tâm, không hổ thẹn, không bị mang tiếng là đi xuất gia lâu nhưng tham, sân, si còn y nguyên, còn tệ hơn lúc đầu mới vô chùa".
Khi nghe thầy dạy xuất gia lâu rồi đôi khi có những vị ít nghe pháp hơn thì ý hành nói "nếu mình không tu tập đúng chánh pháp thì sau này mình cũng sẽ như vậy, tuổi đạo lớn nhưng phạm hạnh của một người xuất gia thì ngược lại", con liên tưởng đến câu Pháp Cú:
"Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, vì vô minh nên con chỉ biết trình bày như vậy. Con kính trên thầy, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể thiền đường đại chúng hoan hỉ cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Sư cô nhìn nhận được như vậy là tất tốt.
Phật tử 1: Con xin đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng trong đạo tràng Nikāya. Hôm nay nghe được bài khuyến tấn tu của sư phụ thì con cảm nhận hai điều, thứ nhất là nói về lợi ích của pháp thiền quán của Nikāya mà sư phụ truyền đạt lại, từ ngày con lên núi thì con cũng không nhớ được bao nhiêu ngày vì gần như con không nhớ ngày nữa. Lúc trước con tu thì con cũng chỉ biết lên chùa, đến thời khóa tu thì lên tụng kinh, những thời khóa đó thì tỉnh tâm, chuyên tu, không suy nghĩ chuyện khác nhưng khi xuống thời khóa thì bản thân lại phóng dật, chạy theo rất nhiều thứ và suy nghĩ không còn trú trong cái pháp của Đức Phật nữa. Từ khi lên đây con được các thầy dạy cho con pháp tu này, trước là thầy Pháp Lực, sau là thầy Pháp Tâm, thầy Pháp Nghĩa, thầy Pháp Cần là những thầy đã dạy con những bước đầu tiên trong vấn đề tu tập.
Con bắt đầu quán nhiều hơn nhưng trong bài giảng của sư phụ con chỉ thấy đúng một tâm điểm của bản thân con, đó là cái si của mình cứ bình bình, nếu không quán thì cứ bình bình, mình làm mà không có chánh niệm trong đó. Buổi chiều hôm đó con ngồi thiền thì thầy Pháp Tâm ngồi ở trên, con ngồi ở dưới, khi ngồi thì con trú tâm vào hơi thở của con thì con chỉ thấy người mình bình bình, khi nghe nhịp tim đập thì con giật mình, con hoảng sợ. Ngay đó hình ảnh thầy Pháp Tâm ngồi ở phía trên hiện lên con, con biết đó là cái tưởng của mình, ý hành nói con sau khi xả thiền phải lập tức hỏi thầy Pháp Tâm vấn đề của mình hiện hữu ở chỗ nào và mong thầy Pháp Tâm chỉ cho con.
Sau khi xả thiền con gặp thầy Pháp Tâm dưới bếp để nói vấn đề của mình thì thầy dạy con phải kiếm một đề mục để quán, khi quán thường xuyên như vậy thì cái si không còn tồn tại nữa, cái quán đó nhập vào thân mình thì mình sẽ đánh tan cái si. Con cảm ơn thầy vì con biết đánh phá cái si trong người mình như thế nào. Điều thứ hai là con cũng chia sẻ với thầy Pháp Lực về cái ăn, cái bất tịnh, buổi sáng hôm đó ăn mì gói, khi con bưng tô mì ra ngồi bàn thì con cám ơn những ai cho con thức ăn này thì tự nhiên nước miếng con miệng con ứa ra vì mùi vị của mì gói. Trong lúc đó con nhớ lại lời thầy Pháp Lực và thầy Pháp Tâm thì con bỏ đũa xuống, đậy tô mì không ăn nữa, con nói rằng "cái này mình đang thèm ăn chứ không phải do mình ăn chỉ là ăn", khi quán đến khi không chảy nước miếng nữa thì con mới bắt đầu ăn, con cảm thấy đó là điều thiết thực trong phép quán.
Trong bài khuyến tinh tấn của sư phụ con phát hiện ra được bản thân mình một điều nữa đó là khi sư phụ nói đến hai chữ thời gian, con biết rằng bản thân của mỗi người đều có khoảng thời gian nhất định không thể xin thêm nên đây là một trong những cái mà ngày hôm nay trước mặt sư phụ, trước mặt quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng con tha thiết khẩn xin sư phụ cho con được xuất gia. Đó là tâm sự của con ngày hôm nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính lễ sư phụ, con đảnh lễ quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Sáng nay con ngồi nghe pháp thì thân con mỏi, cảm thọ thân của con mỏi, tâm con đi vào hôn trầm, dù con lấy dầu xoa vào mắt và mở mắt thật to nhưng cũng bị, con nhìn đức bổn sư, con nhìn lên trần nhà cũng bị. Khi sư phụ nói tại sao mình không thương mình, tại sao mình phản bội mình thì lúc đó tỉnh ra một chút rồi lại đi vào hôn trầm, con lại nhìn đức bổn sư và lại xoa dầu vào mắt, con trợn mắt lên rồi nhìn lên trần nhà. Sư phụ nói mục đích của người tu là đoạn tận tham, sân, si, con nhìn lại thì con dính toàn bộ, ngồi trong đại chúng có sư phụ, có chánh pháp, có quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng mà thân tâm con còn như vậy thì đừng nói gì đi ra ngoài.
Sư Phụ: Cô nhìn thêm về mặt tích cực, thọ được pháp gì trong buổi sáng nay?
Phật tử 2: Khi sư phụ nói mình phản bội mình, mình không thương mình thì con thấy đúng y vậy, con chạy ra nhìn bên ngoài chứ không nhìn lại mình.
Sư Phụ: Từ nửa vòng trái đất về đây thì con cảm thọ được cái gì? Ngũ uẩn như thế nào, nhận diện từ lúc bước chân lên núi cho đến giờ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức ra sao.
Phật tử 2: Con có cảm thọ rất vui thưa sư phụ, khi ở bên Mỹ hay ở ngoài quê con thì cảm thọ hoàn toàn khác, sắc thân con thấy khỏe. Xung quanh mình các quý thầy, quý cô, ai cũng hiền thiện, nhìn các vị thấy rất an lạc.
Sư Phụ: Sáng này cô có ngồi thiền không?
Phật tử 2: Dạ không, sáng con dậy lúc 3h làm vệ sinh xong là con xuống đây, bình thường bên nước ngoài dậy là con ngồi thiền mà sao lên núi con lại không ngồi thiền.
Chú Hậu: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng. Cảm nghĩ của con sáng nay là Như Lai, Đức Thế Tôn mất đi để trở lại, trở lại rồi mất đi, cũng như chết đi để hồi sanh vô vi Niết-bàn. Hôm nay cũng là ngày giỗ của bố con, ngày 26 tháng 12, trong con cảm giác không buồn chẳng vui, tuy thế con nhận thức biết những tiếng ve kêu, âm nó trong veo, trong vắt, trong vang mà thôi, lại có tiếng dế mèn kêu cộc cạch, miệt mài, con chẳng biết mình đi theo ve hay dế nhưng tiếng ve kêu liên tục, dường như chỉ đi theo tiếng bạt ngàn ve kêu này. Con xin đọc một bài thơ, Bồ-đề vốn năm cánh hoa mọc trên dòng pháp, nở bát ngát mùi hương khắp cùng Thánh trời người để trở về với hoa.
Sư Phụ: Thật sự chúng ta được sanh ra có được sự minh mẫn, sáng suốt là rất quý báu, con rất thương chú, tuy rằng không kêu chú trình pháp nhưng con thường hướng tâm về chú. Chú không được thông minh, sáng suốt như mọi người nhưng cả một tấm lòng muốn tu học cho nên con mong rằng đại chúng thương tưởng cho chú, giúp đỡ cho chú. Thật ra mình phải biết quý vì có một tinh thần sáng suốt, minh mẫn để nhận thức pháp, đó là điều quý giá không gì bằng, không phải ai nghe pháp cũng hiểu được, không phải ai nghe nhận diện ngũ uẩn rồi cũng nhận được, không phải ai được chỉ như lý tác ý rồi làm được, có những người không làm được vì quên. Chính vì vậy khi quay lại mình thì phải càng trân quý cái thấy biết mà mình đã có được, mình đã tích tụ bao nhiêu phước lành trong quá khứ thì mình mới có được thân tướng lành lặn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, còn biết bao nhiêu người có khi ở bên cạnh mình bị khiếm khuyết. Mình phải thương họ thật nhiều, bây giờ mình không lo tu thì ngày sau mình còn khổ hơn nữa.
Hôm nay là ngày giỗ ba của chú, chú không nói ra cũng đâu ai biết, chú phải siêng năng lạy sám hối thật nhiều, quý thầy hướng dẫn cho chú lạy sám hối, trải tâm từ. Không phải con không mời trình pháp là con không để tâm tới, còn vô vàn, vô số những cảnh khổ của thế gian này mà mình chưa thấy, chưa hiểu, chưa cảm thọ được hết vì nếu cảm thọ được thì mình không còn như vầy nữa. Nếu có gặp những thống khổ, tai họa thì phải nhớ rằng những thống khổ, tai họa này không phải mới chịu một lần mà vô thỉ, vô lượng, vô số lần đã trải qua. Cho nên mỗi một con người, mỗi một hoàn cảnh, mỗi một cảnh khổ đều phải quay lại phản chiếu lại mình, rằng những cảnh đó mình đã từng chịu đựng, mình đã từng mắc phải, mình đã từng kinh qua.
Trong lời trình pháp của chú là cả một tâm thương, chính vì vậy phải tu trí tuệ để phá cái si mê, càng ngày chúng ta sống với cái si rất nhiều, 70-80% sống trong si mê và vô minh nếu chúng ta không tác ý, không như lý giác sát ngũ uẩn. Những cái sân không có nhiều, lâu lâu mới khởi vì đâu ai giận từ sáng đến chiều, cái tham dục cũng vậy nhưng cái si mê xâm chiếm gần như toàn bộ đời sống chúng ta, đó là nền tảng, cái tham sân chỉ là những cái phát ra bên ngoài còn si là cái nền phía dưới. Nếu chúng ta không phá nền móng đó thì nó sẽ xây cất lên, muốn phá nền móng của si, của vô minh tùy miên thì chúng ta phải tác ý, thiền quán, nếu chúng ta cứ để như vậy sẽ ở trong si và vô minh tùy miên. Còn vấn đề chống đối với cơn buồn ngủ là khác, cái này thô lắm rồi còn ở đây nói cấp độ sâu sắc hơn, nghĩa là không cần đợi đến khi buồn ngủ mà mình thức sờ sờ ra nhưng vẫn sống trong si mê, vô minh.
Nếu mình nói tôi đi ăn cơm mà mình thấy rõ ràng có hình ảnh về tự ngã của mình, mình không thấy ngũ uẩn, không thấy tứ đại, không thấy duyên sanh pháp, không thấy sắc tập khởi, không thấy thứ ăn tập khởi do sắc tập khởi, mình không tác ý, không nhìn nhận các pháp thì lúc đó là sống trong vô minh. Khi nào nhớ pháp thì mới có minh, quên pháp là vô minh, giống như đem đèn sáng vào trong bóng tối cho người có mắt có thể thấy sắc, lúc nào có pháp Đức Phật, có sự nhớ nghĩ về pháp, có sự nhìn nhận về pháp thì lúc đó có minh, lúc nào mất cái đó rồi là sống trong vô minh, đó là cấp độ sâu sắc để chúng ta nhìn nhận về vô minh. Thức ăn của vô minh là năm triền cái, chẳng những mình vô minh mà mình còn nuôi lớn vô minh, thức ăn của mình là bảy giác chi, giác chi đầu tiên là phải nhớ pháp, chỉ cần quên pháp thì ngay đó sống với vô minh, si mê, hôn mê, ngu mê, với đam mê, say mê. Nó vi tế đến như vậy cho nên chúng sanh vô văn phàm phu đến khi nào tỉnh nếu không thuần thục pháp bậc chân nhân, không tu học pháp bậc chân nhân, không quán sát tự ngã cho nên sự tác động tâm ý là rất quan trọng, sau khi quán sát thì phải tác ý. Những ngày trong thất con tác ý khoảng chục tiếng trong một ngày, mở bài lên tự mình chửi mình, chửi cái vô minh của mình, chửi cái tham dục, bản ngã của mình, nghe chửi suốt 2 tháng, chửi ngày chửi đêm thì mới rung chuyển trong chấp thủ phần nào thôi chứ chưa hết, còn bỏ qua là nó vẫn y nguyên.
"Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Do nhơn những kiết sử nào ta có thể lấy của không cho, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta lấy của không cho, không những ta tự trách mắng ta vì duyên lấy của không cho, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên lấy của không cho; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên lấy của không cho" (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Ta tự trách mắng ta tức là mắng chửi, đó là như lý tác ý quở trách tâm, rầy la tâm, biết bao vị nghiên cứu kinh tạng Nikāya không nhìn thấy điều này vì không phải dễ, cho nên cái pháp như lý tác ý rất thần diệu. Phải siêng năng như lý tác ý mới phá được vô minh tùy miên, si tùy miên, cái tâm trơ trơ vô cảm đối với pháp, đối với sự thật, càng tác ý mạnh chừng nào thì sức mạnh của trí tuệ càng lớn chừng đó, càng mau thể nhập vào chánh tri kiến chừng đó. Hai cái nhân của chánh tri kiến là nghe Thánh pháp thật nhiều và như lý tác ý, hai cái này là điều kiện để thành tựu chánh tri kiến, điều kiện để Nhập Lưu, điều kiện để đi vào sống với sự thật. Mình có nghe nhưng không tác ý hoặc là tác ý sơ sài cho nên không thể nhập vào chánh tri kiến, sau khi nghe phải suy tư quán sát, như lý tư duy.
Hôm nay chú nghe đến chữ "thời gian" rồi chú phát tâm xin xuất gia là do chú nghe tiếng rồi suy tư, thiện pháp sanh ra, tăng thượng pháp sanh, chú theo đại chúng từng bước. Ở đây xuất gia rất khó, phải công quả rồi sau đó là tập sự, qua 2 bước mới được xuất gia, có các chú ở đây lâu xin xuất gia con chưa cho thế là chạy ra chùa khác mới mấy bửa là được xuất gia, bây giờ đăng lên mạng cạo đầu cho đệ tử, tức là chú đó chẳng những xuất gia mà chú nhận đệ tử luôn, con thấy rất thương. Có một số vị mới xuất gia không bao lâu, mới được mấy tháng là nhắn tin điện thoại về bắt lỗi, xưng với con là "sư", lúc chưa xuất gia thì xưng "con", bây giờ mới xuất gia cạo đầu thì xưng là "sư", con chỉ nói "dạ, sư dạy con đi".
Chỉ khi nào học đúng chánh pháp mới nhiếp phục, chế ngự được bản ngã, điều này rất quan trọng trong sự tu của mình cho nên tình thương của mình bao la, phải thương thật rộng lớn, thương thật nhiều. Nếu mình hướng dẫn không đúng chánh pháp thì không thể nhiếp phục, chế ngự bản ngã ác độc này, có khi những chiếc áo này lại làm cho cái tôi tăng trưởng, lại hại mình chứ không phải là thương, chính vì vậy ở đây xuất gia rất khó. Có những vị mới xuất gia mấy tháng thôi về đây gọi con là "chúng sanh", con trải tâm từ, được học pháp với con ở đây mà còn vậy. Mình là chúng sanh đúng rồi, thậm chí mình còn tệ hơn cả chúng sanh, mình là nùi giẻ rách, họ gọi vậy là đúng rồi nên con chắp tay "dạ, con nghe lời". Vì thế không phải là người khổ tâm thì không biết được nỗi khổ tâm của người có tâm, con không hiểu các vị đó sẽ tu học như thế nào, con rất thương.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.