Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm An Không Sợ Hãi 4

2026-03-03 00:54:41
TÂM AN KHÔNG SỢ HÃI 4

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bỏ độc dược uống – thoát khỏi lò sát sanh PAGEREF _Toc109746717 \h 1

II. Không thủ - vô lậu PAGEREF _Toc109746718 \h 4

III. Quá khứ - hiện tại – tương lai vô thường PAGEREF _Toc109746719 \h 9

IV. Hàng phục băng cướp PAGEREF _Toc109746720 \h 13

Bỏ độc dược uống – thoát khỏi lò sát sanh

Chúng ta tiếp tục chia sẻ về tâm an không sợ hãi và những lời dạy của tôn giả Adhimutta là bậc Thánh tăng. Càng về sau thì pháp nghĩa càng sâu sắc, các pháp quán để chúng ta suy xét sâu sắc, để tâm mình không còn sợ hãi, tâm được bình an. Có rất nhiều hình ảnh để chúng ta quán chiếu như hình ảnh: “Hữu được thấy không ngọt, Như bỏ độc dược uống.”

Hình ảnh thứ hai giống như thoát khỏi lò sát sanh, cũng là hình ảnh quán chiếu tiếp theo:

“Bờ kia đến, không thủ,

Việc làm xong, vô lậu,

Bằng lòng, thọ mạng diệt,

Như thoát lò sát sinh.”

Vòng sống chết này giống như là lò mổ. Hình ảnh tiếp theo giống như thoát khỏi ngôi nhà đang rực cháy, thoát khỏi nhà lửa:

“Pháp tánh đạt, tối thượng,

Ở đời, tuyệt sở hữu.

Như thoát ngôi nhà cháy,

Trong chết không sầu muộn.”

Các hình ảnh trên là các pháp quán. Tiếp theo nữa là hòn sắc cháy đỏ:

“Ai hiểu rõ như vậy,

Như đức Phật đã thuyết,

Không còn nắm sanh hữu,

Như hòn sắt cháy đỏ.”

Đây là các ví dụ, cũng là các pháp quán, cũng là những hình ảnh để mình như lý tác ý trong sự tu tập. Trong sự tu này có người tha thiết, chân thành, nhiệt quyết trong sự giải thoát thì họ nhìn thấy đời sống này, sự hiện hữu này thì những cảm giác sân hận, tham đắm, yêu thương, thù hằn, ganh ghét, tật đố, tranh đấu với nhau thì họ nhìn ra là thuốc độc, sân hận là thuốc độc đổ vào dòng tái sanh. Một ý niệm sanh khởi lên, cảm giác bực bội mình thấy đó là thuốc độc, một ý niệm tham muốn, dính mắc đối với cái này cái kia, người này người nọ thì mình thấy nó là thuốc độc. Một ý niệm dính mắc với cảnh này cảnh kia, căn nhà này, ngôi chùa nọ thì mình thấy được ý niệm đó là thuốc độc.

Khi mình nhìn thấy người đối diện mình sân si thì mình biết họ đang bị trúng độc thì mình không nên giận lại họ, xót thương một người đang bị đầu độc, đang bị trúng độc, đang bị nhiễm độc, đang bị chất độc bên trong phát tán ra, đang say sử, sai khiến, xâm chiếm, áp đảo, đang làm cho người đó quằn quại, đau khổ mà người đó không hay không biết, không tự chủ nên mình thấy một người sân hận với mình thì lại thấy xót thương. Mình cảm thấy những cảm giác sân hận trong nội tâm mình là chất độc, một thứ độc hại, mình không yêu thích những cảm giác bực bội, không chấp nhận những cảm xúc sân hận, không ôm ấp, nuôi dưỡng nó và mình thấy nó thật sự là độc hại, thật sự là chất độc.

Mình thấy những cảm giác ta đây, hơn thua, tranh đấu thì thấy những cảm giác đó là độc, độc hại, độc tố, là những chất độc phóng xạ từ bên trong của tham, sân si. Nên mình không chấp nhận, không chấp chứa, không nuôi dưỡng, không tăng trưởng, không ôm ấp, không phát triển những chất độc đó. Khi thấy được những điều như vậy, những cảm giác tham dục, sân hận, bản ngã đó, thấy thật sự nó là chất độc, đang phát tán làm hại mình, làm hại người, làm khổ mình làm khổ người, hành hạ mình hành hạ người, hành tội mình, hành tội người, hành xác mình hành xác người. Thấy được thật sự như vậy nên càng thấy ghê sợ, run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, kinh sợ với những cảm giác tham, sân si, bản ngã đó thì thấy đó là Chánh Kiến. Ví dụ như người ta cho mình ăn một bữa ăn ba mươi món, nhưng mình biết trong đó món nào cũng có độc hết thì mình có dám ăn không? Đều là sơn hào hải vị, đầy những món ăn quý giá, quý hiếm, mà mình biết trong đó món nào cũng có độc hết thì mình có dám ăn không? Hay là mình chỉ ăn cơm nguội với rau luộc?

Cũng vậy, khi thành tựu, thấy biết được đời sống này là đau khổ, bậc Hiền trí chọn con đường ít muốn biết đủ, chọn con đường rời xa, thoát ra, đó cũng là con đường cơm nguội và rau muống luộc nhưng được sức khỏe và bình an, không bệnh hoạn, không trúng độc, không bị chết chóc. Còn người không thành tựu thấy biết về Chánh Pháp thì họ nhìn thấy những món ngon, thấy những sắc, hương, vị, đam mê vị ngọt trong món ăn đó, màu sắc, cách bày trí đó thì sau khi ăn vào họ sẽ bị bệnh, gần như chết hoặc chết.

Sự nhìn thấy được tất cả món ăn đó là có chất độc thì đó là sự nhìn đúng, đó gọi là Chánh Tri Kiến. Sự nhìn thấy tất cả mọi hiện hữu trên cuộc đời này là khổ đau dù cho hình thức nào thì cái nhìn đó là nhìn của người sáng mắt, bậc minh kiến, của người thấy đúng về cuộc đời này dù cho tất cả mọi hình thái của hiện hữu đều là khổ đau, đều có chất độc trong đó, tam độc bên trong.

Đó là phép quán độc dược, chất độc hại, mỗi khi nó sanh khởi trong tâm mình thì hãy quán “Đây là độc! Đây là hại! Đây là bệnh! Đây là chết! Nó đang phát tán. Hãy sớm điều trị! Hãy vào bắt chân ngồi thiền, vào đi thiền hành, vào như lý tác ý để giải độc đó, để phá độc, tẩy độc để cho cái độc đó bốc hơi, bốc khói, xì hơi, thoát hơi, bay hơi.” Như vậy sự tu của mình là giải độc, tẩy độc và điều sâu xa là tất cả chúng sanh đều trúng độc hết, trúng tam độc.

Vậy nên bài hôm trước chúng ta đọc là di hại của tam độc, khi vua Pasenadi hỏi Đức Phật. Nên mình nhìn vào tự thân mình, tham, sân si, bản ngã, nhìn vào người kia cũng là tham, sân si, bản ngã, mình thấy tất cả chúng tăng đều là những kẻ đang trúng độc nên không nên giận, hơn thua mà phải lo giải độc, lo kiếm thuốc giải. “Hữu được thấy không ngọt. Như bỏ độc dược uống” cũng giống như Minh Thành thường lấy ví dụ ly nước cam có độc.

Chúng sanh, vô văn phàm phu, hữu tình thì chỉ nhìn thấy vị ngọt mà không thấy được vị đắng, vị nguy hiểm, tác hại của sanh hữu, của dòng luân hồi, của kiếp sống, đời sống này. Đến khi sự thật bài hiện ra người đó bứt tóc, đấm ngực, tràn trề nước mắt, đau khổ, hục hẫn, ngất xỉu hay người đó đi đến chỗ tự vẫn, kết thúc cuộc sống của mình vì họ không thể chấp nhận được vị đắng của cuộc đời. Không chấp nhận được vị chua cay của cuộc đời, huống hồ họ có thể thấy được chất độc trong sanh hữu.

II. Không thủ - vô lậu

“711. Bờ kia đến, không thủ,

Việc làm xong, vô lậu,

Bằng lòng, thọ mạng diệt,

Như thoát lò sát sinh.

712. Pháp tánh đạt, tối thượng,

Ở đời, tuyệt sở hữu.

Như thoát ngôi nhà cháy,

Trong chết không sầu muộn.”

Khi nhìn thấy được như vậy thì không lo lắng, buồn rầu, khổ đau, nhìn thấy “Bờ kia đến, không thủ”, “Ở đời, tuyệt sở hữu”. Tại sao mình đến được bờ bên kia? Là vì không nắm giữ. Như câu chúng ta tụng hằng đêm trong kinh Tứ Niệm Xứ: Không tham ưu, không chấp chước bất cứ vật gì ở trên đời, đó là “Bờ kia đến, không thủ”. Khi mình phá được vô minh, chấp thủ đối với năm uẩn này thì đến bờ kia, còn nắm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này thì ở bờ này.

“Việc làm xong, vô lậu” là việc đã làm xong, không còn bị rỉ chảy, không còn những lậu hoặc, cấu nhiễm, rác bẩn. Có lúc nó đã qua mặt mình nhưng mình không biết, tất cả đều được kiểm soát, tất cả đều được thấy biết, tất cả đều được diệt tận và tẩy sạch, đó chính là “Việc làm xong, vô lậu”, đã không còn bất cứ lậu hoặc nào mà qua mặt được mình. Nó ẩn nấp, trốn nhưng bằng trí tuệ năm uẩn, mình soi chiếu, xuyên thủng, phá vỡ, không còn trong hốc, trong xó, trong kẹt tủ, kẹt bàn hay kẹt giường. Chỗ nào mà có rác bẩn nào như chuột chết, gián chết, kiến chết, rắn chết thì tất cả đều được dọn dẹp sạch sẽ, không còn sót rác nữa, đó gọi là “Việc làm xong, vô lậu”.

Giờ thì có lúc mình thấy lậu, thấy rác trước mặt nhưng lại mặc kệ, như vậy gọi là hữu lậu. Người chân tu thì chăm chăm ngày đêm nhìn vào để quét, tẩy, rửa. Hình ảnh dễ để chúng ta quán chiếu là “Bằng lòng, thọ mạng diệt. Như thoát lò sát sinh.” Cái chết đến với các Ngài thì các Ngài cũng bằng lòng, giờ nếu mình không chịu cũng phải chịu, không thể giờ chết mà lại nói “Tôi không chết!”, bệnh tới thì mình nói giờ không bệnh. Thọ mạng là mạng sống, chấm dứt. Tức dù cho tai nạn xảy ra, gặp chuyện gì cận kề với cái chết thậm chí sắp phải mất mạng thì cũng bằng lòng chấp nhận, mãn nguyện dù bất cứ giờ nào tử thần đến thì đều chấp nhận chết, bởi vì đã không còn nắm gì nữa nên chết thì không mất gì nữa.

Nếu mình còn nắm cái này cái kia thì lại nói “Chết rồi, mình đi như vậy thì không đem được theo!” còn đây là không muốn nắm gì nữa nên “Bờ kia đến, không thủ”, không nắm giữ gì nữa. “Bằng lòng, thọ mạng diệt. Như thoát lò sát sinh” đây là pháp quán, khi mình chết thì mình sẽ không bao giờ chết nữa, chết một lần để đạt tới cảnh giới bất tử, nên quán cái chết giống như thoát lò sát sanh. Giờ nếu người ta chuẩn bị đem mình đi cắt cổ, nhổ lông, chiên xào, nấu nướng mà giờ mình được thoát khỏi lò sát sanh đó, như con heo, con bò, con chó, con gà được thoát ra thì tâm thái của nó ra sao? Là sự mừng vui vì được thoát khỏi sự đâm, giết, mổ, chặt, cắt.

Cũng vậy, đối với người thấy được sự sanh hữu trong đời sống này, thể xác này, là sự sống chết, tiếp nối mãi như vậy thì chết lần này là không bao giờ chết nữa, như vậy gọi là chết để rồi không bao giờ chết nữa, chết để đạt tới bất tử, nên giống như là thoát lò sát sanh. Khi mình gần chết thì mình nên quán chiếu như vậy, mình chết để không bao giờ chết nữa, tác ý như vậy thì mình không sợ, chết lần này rồi không bao giờ chết nữa, nếu có chết nữa thì cũng chết bảy lần là tối đa, hoặc chỉ hai, ba lần thôi và không còn sống chết nữa, chết lần này để rồi không bao giờ chết nữa.

“712. Pháp tánh đạt, tối thượng,

Ở đời, tuyệt sở hữu.

Như thoát ngôi nhà cháy,

Trong chết không sầu muộn.”

Pháp tánh là bản tánh của các pháp, là sự thật của tất cả sự vật, là tất cả sự vật chỉ là năm uẩn, sự thật của năm uẩn là vô thường, là khổ, là vô ngã, là trống rỗng. Khi thấy biết, quán chiếu, thấu hiểu, thể nhập, chứng đắc được như vậy gọi là “pháp tánh đạt tối thượng” – đạt được bản tánh của các pháp cùng cực, cao tột trên hết. “Ở đời, tuyệt sở hữu” là sống ở đời không có gì cả, tuyệt sở hữu là sống trên đời dứt những cái mình có, không có gì là của mình. Vậy nên bài chúng ta nhắc tới nhắc lui mãi là bí kíp cho mẹ có câu cuối là “Niệm ngũ uẩn này không phải ta”, đó là tuyệt sở hữu. Người chuẩn bị lâm chung chỉ cần niệm câu này thôi là tuyệt đối không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chỉ cần nhớ niệm “Niệm ngũ uẩn này không phải ta”.

“Ở đời, tuyệt sở hữu” là sống ở trên đời dứt hết tất cả mọi cái có, thấy là không có gì là của mình, tất cả chỉ là tứ đại, ngũ uẩn. Thấy được như vậy như “Như thoát ngôi nhà cháy. Trong chết không sầu muộn.” là khi nhà đang cháy rừng rực, phừng phực như vậy nhưng mình chạy ra được thì rất vui, không sầu muộn gì, buồn khổ gì vì mình chạy ra khỏi nhà cháy, chạy khỏi nhà lửa.

Vậy nên cái chết đang xảy ra, đang đối diện với cái chết mà người này không lo lắng, không sầu muộn vì giống như thoát khỏi ngôi nhà đang cháy. Là sắc đang cháy, cảm giác đang bốc cháy, những hình bóng trong tâm đang bốc cháy, rực lửa, là những suy nghĩ đang bốc cháy, là những suy nghĩ đòi hỏi, ham muốn, thèm thuồng, khao khát, tìm kiếm thì những suy nghĩ đó bốc cháy. Nhận thức, rõ biết sáu rõ biết này đang bốc cháy, ngũ uẩn đang bốc cháy, tứ đại đang bốc cháy, những cảm thọ đau khổ, vui sướng đang bốc cháy, những cảm thọ không khổ không vui đang bốc cháy. Bốc cháy với ngọn lửa vô minh và tham ái.

Người tu là để dập tắt, thoát ra khỏi sự bốc cháy đó, chạy xa, lìa xa, thoát ra, xuất ly ra, như vậy gọi là nhất hướng nhàm chán, từ bỏ ly tham, đoạn tận, chấm dứt. Như giải thoát khỏi căn nhà lửa như câu “Như thoát ngôi nhà cháy. Trong chết không sầu muộn.” Thoát khỏi, chạy ra được khỏi căn nhà cháy thì có gì để đau buồn? Khi mình quán như vậy thì khi đối diện với cái chết thì mình mỉm cười thôi. Giờ mình thoát ra khỏi căn nhà cháy, rời xa, chạy ra, viễn ly, xuất ly, thoát ly, chạy ra khỏi nhà lửa. Đây là hình ảnh và cũng là pháp quán chạy ra khỏi nhà lửa. Vì không lo lắng, không còn sợ hãi vì đã ra khỏi nhà lửa.

“713. Phàm có vật tụ họp,

Ðược sanh hữu chỗ nào,

Tuyệt đường mọi xuất ly,

Ðại ẩn sĩ nói vậy.”

Chúng ta nên lấy ý, là làm sao để mình thoát ra khỏi sự sanh hữu, mọi sự sanh hữu, tích tụ, tích tập, tập hợp, mình phải thoát ra tất cả, như thoát ra khỏi căn nhà rực lửa, thoát ra khỏi căn nhà nổ bình gas, nổ cả dàn hàng trăm, hàng ngàn, hàng nhiều ngàn, hàng triệu, hàng nhiều triệu, hàng trăm triệu, hàng tỉ bình gas đang nổ. Đó là những bình gas đang nổ, sẽ nổ và bao nhiêu triệu người đã nổ vì đó.

Đang nổ là bao nhiêu người trong bệnh viện, những người ở ngoài là sẽ nổ, sẽ bốc cháy bởi ngọn lửa của bệnh tật, của sầu bi, khổ, ưu não, lo lắng, bất an, sợ hãi. “Giờ nếu mình thoát ra khỏi nhà lửa đó, thì mình đi đến chỗ bình an!”, “Tại sao phải lo lắng? Tại sao phải sợ hãi?” mình nên quán như vậy nếu thật sự mình đối diện với bệnh, cái chết. Quán từ bỏ, quán viễn ly, quán ly tham, quán thoát ra, chảy ra, vượt ra khỏi căn nhà lửa đó, quán như vậy sẽ không còn thấy sợ hãi, dù cho đối diện cái chết thì cũng không sợ hãi, vẫn được tâm bình an nhờ quán chiếu, tác ý này về tri kiến của bậc Thánh.

“714. Ai hiểu rõ như vậy,

Như đức Phật đã thuyết,

Không còn nắm sanh hữu,

Như hòn sắt cháy đỏ.”

Trên cũng là một pháp quán cho chúng ta, hình ảnh ví dụ là hòn sắt cháy đỏ. Chỉ người mù, người điên hay người không nhận thức được mới cầm, nắm, bốc, chụp hòn sắt cháy đỏ đó. Nhưng đối với người thấy đường, người có nhận thức, hiểu biết thì sẽ không nắm vào hòn sắt cháy đỏ đó. “Ai hiểu rõ như vậy” tức là ai thật sự hiểu rõ như vậy, như bên trên đã nói, là hiểu được năm uẩn là gánh nặng, là bệnh hoạn, là đắng cay, thuốc độc, là lò sát sanh, lò mổ, lò giết, là ngôi nhà rực lửa, ngôi nhà đang cháy.

“Ai hiểu rõ như vậy. Như đức Phật đã thuyết” thì người này không còn nắm giữ sanh hữu, sự hiện hữu trong dòng sanh tử luân hồi này, đó là sanh hữu. Người đó không mong muốn, tiếp tục, tái diễn, tái lập, tái hợp, tái tạo, tái ngộ với những bệnh hoạn, ghẻ lở, ung nhọt, phèo phổi, ruột gan, máu mủ, xương da. Người đó hoàn toàn không muốn tái thiết, tái lập, tái tục (tiếp tục lần nữa) vì biết được nó là hòn sắt cháy đỏ, đụng vào là phỏng tay, cháy tay, bị thương bàn tay. Không còn nắm sanh hữu nữa, thả ra, bỏ ra, buông xuống, bỏ xuống, xả xuống, quăng liệng…Đó cũng là ý nghĩa của mười bài Xả vô lượng tâm.

Vì chúng ta cứ nghĩ đó là đẹp đầy, là quý nên đụng vào, nếu biết là hòn sắt đang nung đỏ thì làm sao lại đụng vào, vậy nên hãy nhìn đời sống này như hòn sắt cháy đỏ. Hãy nhìn những danh lợi trên cuộc đời này, những lòe loẹt trong thế giới này như hòn sắt cháy đỏ. Hãy nhìn những sự tranh giành, khẩu trang, cạnh tranh, chiến tranh, hơn thua nhau như hòn sắt cháy đỏ, như đống lửa, như hố than hừng, như căn nhà rực cháy.

Đến lúc mình chết và thấy là mình đang cháy đỏ thì không nắm làm gì nữa, buông ra, thì tâm của mình nhả ra, khạc ra, ói ra, nhổ ra, buông ra, bỏ ra, quăng liệng ra… Khi đó thì tâm mình xả ly, thoát ra, tâm mình được bung ra, mở ra, thoát ra, thoát khỏi kiếp cá chậu chim lồng, thoát khỏi sự tù túng, ngục tù, của dục ái, tham, sân si, vô minh và bản ngã.

Ngay ở ý niệm từ bỏ được như vậy thì phải vào Thánh đệ tử thiên, vào hàng Thánh đệ tử, dù cho không sanh Chư Thiên, sanh ở thế gian này là Chánh Kiến, thành tựu không mất ở đời sau. Ngay lúc cận tử nghiệp quán chiếu những pháp quán này thì đây là bí kíp của Chánh Pháp, cũng là trí tuệ tối thượng của bậc Thánh, A-la-hán, cũng là cốt lõi, trái tim của Thánh giáo, để mình quán trong những khi mình khổ, bệnh đau, trong những lúc nguy cấp, những lúc mình đối diện với cái chết. Vậy nên:

“714. Ai hiểu rõ như vậy,

Như đức Phật đã thuyết,

Không còn nắm sanh hữu,

Như hòn sắt cháy đỏ.”

III. Quá khứ - hiện tại – tương lai vô thường

Phần tiếp theo:

“715. Quá khứ ta không có,

Tương lai, hiện tại không,

Các hành không thực hữu,

Ở đây, than khóc gì?”

“Các hành không thực hữu” là các hành không có thật, không có gì than khóc. “Quá khứ ta không có” là vị này nhìn lại những sắc tưởng trong quá khứ, những thọ, hành thức trong quá khứ, biết nó là ngũ uẩn, không có tôi, không có của tôi trong đó nên nói “Quá khứ ta không có”.

Mỗi khi hình bóng của mình hiện về cảnh lúc mình còn nhỏ, hiện ảnh lúc trước mình đã làm gì đó, mình phải biết đó là ngũ uẩn, không có tôi, của tôi trong đó. Mình thoát ra khỏi ý niệm tôi và của tôi trong sắc tưởng quá khứ đó, trong những cảm giác mình đã trải qua đó, những hình bóng, suy nghĩ đó mình thấy đó là hình bóng của quá khứ không có cái tôi, của tôi trong đó, đó gọi là “Quá khứ ta không có”.

Mình không thể sống với hình bóng trong quá khứ thôi, ngồi đây nhưng cứ nhớ về lúc trước mình như vậy giờ mình không sống được như vậy thì mình lại tiếc hoài như vậy thì lúc đó, mình đã có ta trong quá khứ, chỉ sống với ảo ảnh, thân kiến trong quá khứ. Mình có một tội lỗi nào đó và mình cứ ngồi nhớ nó mãi, rồi cứu trách, cứ buồn mãi mà không nỗ lực, cố gắng trong hiện tại thì như vậy mình đã sống với những cái đã chết, sắc tưởng của quá khứ mà bỏ quên thực tại.

Vậy nên đừng chìm đắm trong những cái đã qua, quá khứ đã đi qua, trở thành dĩ vãng, chỉ là những thứ đã chết, chỉ còn là những kỉ niệm. Ngay ở hiện tại bây giờ chúng ta đang sống như thế nào? Hiện giờ mình có chánh niệm tỉnh giác không, có nhìn thấy năm uẩn không? Sự tu của mình rất quan trọng ngay trong những khoảnh khắc này, không thể nói “Để tuần sau, năm sau tôi đi lên rừng, tôi vô núi, tôi kiếm hang động nào đó!” mà ngay ở hiện tại mình không tu, mình cứ hứa hẹn, ảo tưởng, cuối cùng thì mình bị tâm thức của mình gạt, như ảo thuật gia.

Ngay ở hiện tại thì mình lãng quên trong khi mình không có ngày mai, không có ngày hôm qua, chỉ có ở ngay khoảnh khắc hiện giờ. Sự tu của mình chỉ tu trong khoảnh khắc thôi, không tu nhiều, tu trong khoảnh khắc hiện giờ. Phải tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục ngay trong khoảnh khắc hiện giờ là mình tu trong tất cả thời gian, không phải là mình tu với những cái đã chết. Mình ngồi tu mà tiếc nuối các chuyện lúc trước nhưng ngay ở hiện tại thì mình lãng quên, mình cứ sống với những cái ảo tưởng, những điều đã đi qua, đã là dĩ vãng, những cái đã chết.

Vậy nên sự tu của mình là ngay đây, hiện giờ, không trải qua thời gian, chánh niệm tỉnh giác luôn là ở ngay đây, hiện giờ. Nhiều người nói chánh niệm tỉnh giác là không phải tu, tu là khi lên ngồi thiền mới tu, không phải như vậy, bất cứ ở đâu và làm cái gì, ngay lúc đó mình có chánh niệm tỉnh giác, nhìn thấy năm uẩn, không bị tham, sân si, vô minh, bản ngã dẫn dắt, chi phối, mình nhìn thấy nó, nhiếp phục nó, thoát ra khỏi nó thì ngay lúc đó là tu, nên là tu ngay đây, hiện giờ không trải qua thời gian.

Khi mình nhớ lại quá khứ và xem nó cũng là ngũ uẩn, không có ai trong đó, tác ý như vậy, để thoát chấp thủ, trong ngũ uẩn quá khứ. Giờ thì “tương lai, hiện tại không”, quá khứ đã qua nhưng tương lai tại sao lại không? Vì tương lai cũng là ngũ uẩn mà ngũ uẩn cũng là vô ngã, dù cho nó có nghĩ, có tính cái gì, có làm nên được cái gì đi nữa thì cũng là trong tham, sân si, vô minh, bản ngã thôi, cũng là sầu bi, khổ, ưu não, cũng là trống rỗng, tương lai của nó cũng là ngũ uẩn trống không, cũng là cát bụi và khói mây, hư không…Vậy nên tương lai là không.

Đối với hiện tại, chỉ ra uẩn nào là mình, là sanh diệt liên tục, nói như vậy nhưng rồi lại khác, lại thay đổi. Chúng ta thấy từ sáng đến giờ có bao nhiêu cảm thọ sanh diệt, bao nhiêu những hình bóng trong tâm mình, bao nhiêu suy nghĩ, vậy nên hiện tại cũng là ngũ uẩn vô thường, sanh diệt, không có mình, không của mình, hiện tại vô ngã, vô ngã sở, trống không, không thấy nó đi, đứng, ngồi, nằm mà tất cả là pháp duyên sanh, pháp vô thường, pháp bại hoại, pháp hoại diệt, tan biến, hủy hoại.

Vậy nên “Quá khứ ta không có. Tương lai, hiện tại không”, tất cả đều là ngũ uẩn, không có tôi, của tôi trong đó. Sự vận hành ngũ uẩn đều không có thật.

Ví dụ giờ mình nhớ lại hôm qua vừa ăn được một cái lẩu có rau, nấm, tàu hủ, mì căn rất ngon. Vậy mình nhớ lại lẩu đó giờ ở đâu? Đó chỉ là sắc tưởng của quá khứ, ăn vào rồi lại xả ra. Sáng mình ngồi lạnh nhưng giờ cái lạnh đó ở đâu? Giờ thì thọ đó đã mất, bay thành mây khói, trống rỗng. Lẩu rau hay cảm thọ lạnh ngoài trời là trống rỗng. Hay khi ngồi nhớ lại chuyện buồn nào đó thì cũng trống rỗng, trống không. Tất cả đã trở thành những hình bóng lờ mờ, chập chờn, đi qua, những suy nghĩ rồi cũng trôi qua, những cảm giác rồi cũng tan biến, những hình bóng rồi cũng thành mây khói, gió sương, rồi ngày mai, tuần sau, năm sau, nhiều năm sau, mười năm sau, thì nó cũng trở thành quá khứ.

Như thầy Pháp An đã hơn bảy mươi tuổi, nhớ lại hơn bảy mươi năm qua thì cũng là không, trống không

“715. Quá khứ ta không có,

Tương lai, hiện tại không,

Các hành không thực hữu,

Ở đây, than khóc gì?”

Đều là trống rỗng nên than khóc làm gì, không có gì nữa mà than khổ, than buồn, chỉ có giây phút hiện tại chánh niệm tỉnh giác, soi sáng, chiếu soi năm uẩn thì đó mới là bất tử, thấy được tính chất vô thường, khổ não, trống không của nó, không bị nó dẫn dắt, lôi cuốn, áp đảo, xâm chiếm trí tuệ chiếu sáng, bừng sáng, chói sáng, rực sáng đó là an ổn, bất động, tối thượng, vô thường, chí thượng. Trí tuệ nhìn thấy được năm uẩn này là khói sương, bong bóng, bọt nước, ảo ảnh, hư không, bản chất cuộc đời là trống rỗng, trống không, cảnh mộng, dễ dàng tan biến vào hư không. Đó gọi là “Quá khứ ta không có. Tương lai, hiện tại không”. Chữ không là trống rỗng, không phải không có bong bóng mà là trong bong bóng trống rỗng, không phải là không có ngũ uẩn mà là trong ngũ uẩn trống không, không phải không có thành phố mà thành phố trống rỗng. Những nhà xếp bằng giấy tiền vàng mã là “Tương lai, hiện tại không”.

Nếu lát nữa mọi người về thất ngủ thì những chuyện ở đây bây giờ chỉ là dĩ vãng, trống không, thành khói mây nhưng những hình bóng của pháp bảo còn lưu lại đó là thiền pháp. Thiện hay ác rồi cũng trống không, nhưng thiện có quả ngọt, ác có quả đắng, mọi thứ đều vô thường, tan hoại nhưng nghiệp, quả báo ác, khổ không tan nên đây gọi là quá khứ không, hiện tại, vị lai không, các hành đều không có thật để không có gì để khóc than. Ta phá thân kiến trong ba thời, kiến chấp về thân ở ngày xưa, hiện nay và mai sau.

Nếu nói ở đây là không thiện không ác, không nghiệp, không quả là không phải, nên đứng ở một phương diện, góc độ phá thân kiến, chấp thủ trong ba thời, là không thật. Ví dụ như mình nằm chiêm bao, thấy mình trúng số độc đắc ba mươi tỉ thì mừng vui, thích thú, khoan khoái không? Hoặc nếu mình nằm chiêm bao mà thấy bị tai nạn xe, đứt cả nửa người thì có thấy khổ, đau đớn, quằn quại không? Đều là chiêm bao nhưng mình chọn chiêm bao nào, muốn được trúng số hay bị tai nạn xe?

Cũng như vậy, dù là chiêm bao nhưng cũng có cảm thọ khổ và vui. Chính vì vậy nên phải chọn thiện nghiệp tuy là những gì rồi cũng sẽ trôi qua. Ví như hai người đánh nhau rồi quay video lại và mình giảng pháp rồi quay lên thì cả hai cũng khác nhau. Thiện và ác, lành và dữ, tội và phước, trắng và đen minh bạch rõ ràng không sai khác, đừng nói gì cũng không không nên khỏi tu, khỏi làm gì nữa mà không này là phá những cái chấp có để mình sầu bi, khổ, ưu não nên:

“715. Quá khứ ta không có,

Tương lai, hiện tại không,

Các hành không thực hữu,

Ở đây, than khóc gì?”

Đây là đối với người tỉnh mộng. Khi nãy là đối với người nằm mộng, thì có mộng thiện và mộng ác, mộng vui và mộng khổ, thì người ta chọn mộng vui. Đối với người đã tỉnh mộng thì tất cả đó cũng chỉ là mộng, đây là sự thức tỉnh của bậc Đại giác. Vậy giờ mình muốn nằm mộng tiếp tục để lãnh tiền trúng số hay mình muốn tỉnh mộng? Nằm mộng thì đến lúc thức dậy thì cũng chỉ là tay không, tay trắng, đây là chỗ của phép quán thâm sâu của tuệ giác, để làm cho tâm được giải thoát bình an, lúc cận tử nghiệp tới. Hãy nhớ kĩ điều này.

“Các hành không thực hữu,

Ở đây, than khóc gì?”

Tất cả sự vận hành của năm uẩn còn đâu, trở về ngày hôm qua lại có được không? Tất cả đã qua rồi là mất, sanh rồi là diệt, vậy thì có gì để than khóc, sợ hãi?

IV. Hàng phục băng cướp

“716. Thanh tịnh pháp sanh khởi,

Thanh tịnh hành tiếp tục,

Bậc thấy được như thật,

Không sợ hãi, thưa ngài.”

“Thanh tịnh pháp sanh khởi” chúng ta nên hiểu hai cấp độ đã nói. Một là lành thiện, không làm ác vì người ta biết như mây khói, nên người ta cố gắng, cực khổ, khó khăn, tinh cần, tinh tấn để tu các thiện pháp. Mức độ thứ hai là đạt đến cứu cánh phạm hạnh, tức là mượn thiện pháp đó để đạt đến chỗ chí thiện qua bờ kia, không dừng lại ở thiện pháp. Tức là thấy được như vậy, thấy là trống không nhưng thanh tịnh pháp sanh khởi. Những pháp thanh tịnh là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực đều là các pháp thanh tịnh, trí tuệ về năm uẩn gọi là pháp thanh tịnh. Tiếp tục nhận diện năm uẩn, tẩy sạch các cảm thọ tham, sân si, đó gọi là thanh tịnh hành tiếp tục, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, nỗ lực, hành trì, không dừng lại. Pháp thanh tịnh sanh khởi, hành thanh tịnh tiếp tục, kiên trì, không phải chỉ sanh khởi rồi lại vuột mất, mà là tiếp tục duy trì, giữ gìn, thọ trì, tinh cần, tinh tấn hành trì.

“Bậc thấy được như thật,

Không sợ hãi, thưa ngài.”

Vị Sa-di này nói với người tướng cướp là những bậc đã thấy được như vậy thì không còn sợ hãi nữa, gọi người tướng cướp là “ngài” dù Ngài ấy đã là bậc Thánh tăng.

“717. Với tuệ, thấy thế giới,

Giống như cỏ, thân cây,

Không có tánh ngã sở,

Không sầu muộn, không ngã.”

Với trí tuệ nhìn thấy thế giới, nhìn thấy cuộc đời này giống như cỏ cây, vừa thấy sanh lại úa tàn, hoại diệt, mới thấy tươi lại rồi héo ngay, thấy sống đó lại chết đó. “Không có tánh ngã sở” là không có gì là của ta thật sự nên không buồn lo.

718. Ta nhàm chán thân sắc,

Không ham có sanh hữu,

Khi thân này hoại diệt,

Sẽ không có thân khác.

Ý nói: ta nhàm chán thân xác này, ta không ham thích đối với sự sanh hữu, hiện hữu, trong dòng sanh tử này, ta đều không ham thích và “Khi thân này hoại diệt. Sẽ không có thân khác”. Thân này tan hoại rồi thì hết những thân ung nhọt, ung bứu, ung hạch, ung thư, hết những đời sống của máu, của nước mắt, của đau khổ, của tham, sân si.

“719. Với thân ta, ngươi làm,

Hãy làm như ý muốn,

Ta không vì duyên ấy,

Sẽ khởi lên sân, ái.”

Tức là thân đó người tướng cướp muốn làm gì Ngài thì cứ làm, Ngài sẽ không khởi lên tức giận, hay yêu thích, “Thân này ông muốn làm gì thì làm, làm theo ý muốn của ông. Dù cho có làm gì thì ta cũng không khởi lên giận hay thích, ưa hay ghét, sân hận hay tham ái.” Chúng ta thấy Ngài là bậc Thánh tăng mới là Sa-di nhưng đã tuyên bố dõng dạc như vậy.

720. Kẻ ấy nghe nói vậy,

Hy hữu, lông dựng ngược,

Quăng bỏ cả đao kiếm,

Thanh niên nói với ta.

Tên tướng cướp hoảng hồn, kinh hãi, bất ngờ, lông tóc dựng ngược, quăng đao kiếm xuống và thưa với Ngài:

“721. Tôn giả hành hạnh gì,

Ai Ðạo Sư Tôn giả,

Ngài theo lời ai dạy,

Ðược tánh không sầu não?”

Người tướng cướp buông đao kiếm, phóng hạ đồ đao, lông tóc dựng ngược, “nổi da gà”. Đối với một người trẻ tuổi bị kề dao lên cổ mà tâm thản nhiên bất động và nói lên bài thi kệ, pháp ngữ thâm sâu, trí tuệ của bậc Thánh thì làm cho tên tướng cướp lông tóc dựng ngược, cảm thấy hiếm có, chưa từng thấy và hỏi Ngài ấy tu gì, tu môn gì, tu theo pháp gì, ai là đạo sư của Ngài ấy.

Tên tướng cướp còn kêu là “Ngài”, tức bậc đáng tôn kính, hỏi “Ai là sư phụ của Ngài, ai là thầy hướng dẫn Ngài tu học? Ngài theo lời ai dạy mà được tâm tánh không lo lắng, không sợ hãi như vậy? Ngài được ai dạy mà có tâm không lo lắng, bất động trong lúc nguy cấp, hoảng loạn, trong lúc đáng lẽ phải hốt hoảng, kinh hoàng, sắp sửa phải mất mạng mà Ngài vẫn bình thản, an nhiên, không sợ hãi, vô sở quý. Sư phụ Ngài là ai? Dạy những gì? Ngài tu pháp gì? Ngài hãy chỉ con với!”

“Adhimutta:

722. Bậc toàn trí, toàn kiến,

Thắng giả, giáo sư ta,

Ðại từ bi Ðạo Sư,

Y vương toàn thế giới.”

Ý nói: Thầy ta là bậc có trí tuệ hoàn toàn viên mãn, thấy biết một cách tận cùng, trọn vẹn, tất cả thân tâm và thế giới. Thắng giả là bậc vượt hơn tất cả, bậc siêu thắng, thù thắng, bậc vượt lên trên thì vị ấy là “giáo sư ta”, là thầy dạy. “Ðại từ bi Ðạo Sư. Y vương toàn thế giới” ý nói: vị thầy dẫn đường cho ta tu hành là một bậc đại từ đại bi, có tình thương bao la, vô tận, là vị vua thầy thuốc trị bệnh cho toàn thể thế giới này. Bậc đạo sư của ta có một tình thương bao la, mênh mông, vô tận, bậc đạo sư của ta là vị vua của tất cả thầy thuốc trị tâm bệnh cho tất cả chúng sanh trên toàn thể thế giới

“723. Pháp này vị ấy giảng,

Ðưa đến đạt vô thượng,

Theo lời dạy vị ấy,

Ðược tánh không sầu não.”

Ý muốn nói: pháp này vị ấy giảng cho ta thì đạt đến chỗ mà không còn một pháp nào cao hơn thế nữa, gọi là “đưa đến đạt vô thượng”. Ta nhờ tu theo lời dạy của thầy ta thì ta đã tu được tâm không lo lắng, sợ hãi, tâm bất động, an nhiên, tự tại, đối diện với cái chết thì ta không lo, không sợ, vô sở quý, rống lên tiếng rống của sư tử, tiếng gầm của sư tử, khi đối diện với cái chết cũng gầm, rống lên tiếng rống của sư tử.

“724. Kẻ cướp nghe đại sĩ,

Khéo thuyết giảng như vậy,

Chúng liền quăng vất bỏ,

Ðao gươm và vũ khí,

Một số bỏ nghề chúng,

Một số xin xuất gia.”

Một số tên cướp đã quăng bỏ kiếm, không làm ăn cướp nữa, quay đầu làm người lương thiện, một số xin Ngài đi theo tu vì được thấy một bài học sống động, thiết thực, người thật, việc thật.

“725. Sau khi chúng xuất gia,

Trong giáo pháp Thiện Thệ,

Họ tu tập Giác Chi,

Năm lực, thành bậc trí.

Tâm hân hoan, ý mãn,

Các căn cảm xúc được,

Niết-bàn đạo, vô vi.”

(Bài kinh Adhimutta – Tiểu Bộ Kinh tập 3)

Sau khi xuất gia thì họ tu tập Thất Giác Chi, Ngũ lực, đây là cách nói gọn trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ Niệm Xứ. Các vị này tu tập một thời gian thì “Tâm hân hoan, ý mãn” là giờ đã quyết định tánh, không còn do dự, nghi ngờ đối với diệu pháp. Khi chúng ta tu học thì cần phải đi đến nơi đó, là tâm đã không còn do dự đối với Thánh pháp, tịnh tính bất động, xác quyết. Khi tới đó thì “Các căn cảm xúc được. Niết-bàn đạo, vô vi” là tự thân tâm của họ cảm nhận, cảm thọ được, cảm xúc được đạo lộ của Niết-bàn, cảnh giới của vô vi, đã dập tắt hết tất cả mọi tham, sân si, sầu bi, ưu não của hữu lậu, hữu vi, “phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật”.

Họ đã buông dao xuống ngay tại chỗ và giác ngộ vì nhờ một vị Sa-di, Thánh tăng, có một tinh thần bất khuất, không sợ hãi, vô sở quý, ở trước mặt tướng cướp dõng dạc gầm lên tiếng gầm của sư tử, những tên ăn cướp, đại ca hay thủ lĩnh đều rụng rời tay chân, đao kiếm quăng xuống, lông tóc dựng ngược, trước giờ chưa từng thấy người thầy nào như vậy và hỏi “Ông tu theo ai? Thầy ông dạy gì? Ông chỉ tôi với!”

Vị Sa-di này ý trả lời: “Sư phụ của ta là bậc thấy biết thấu suốt, tận cùng thân tâm, thế giới ngũ uẩn, có một tình thương bao la, rộng lớn, là bậc thầy tâm linh, trị bệnh cho tất cả chúng sanh khổ đau trên toàn thế giới. Pháp của người ấy giảng thì không có con đường nào vượt hơn được nữa. Ta học pháp ấy nên ta được tâm không lo lắng và sợ hãi, tâm không sợ, tâm tự tại, an nhiên, tâm bình an, tâm bất động, tâm vững chắc!”

Vì vậy một số tên cướp hoàn lương, một số thì xuất gia, xin đi tu theo vị thầy trẻ tuổi đó và cuối cùng thành tựu Chánh Trí, Niết-bàn đạo, vô vi. Tâm được hân hoan, mãn ý.

Vậy mọi người có thấy tâm mình hân hoan, mãn ý như vậy không? Có muốn tìm một pháp nào khác nữa không?

“Tâm hân hoan, ý mãn,

Các căn cảm xúc được,

Niết-bàn đạo, vô vi.”

Như vậy thì chúng ta đã học xong bài kinh này.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính chúng ta. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho chúng ta, lòng yêu thương tự thân chúng ta và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.

Kính chúc quý vị có giấc ngủ an lành trong Chánh Pháp.