Thiền Quán - Sự Tìm Cầu Của Bậc Thánh 4
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thiền Quán
SỰ TÌM CẦU CỦA BẬC THÁNH 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc nhở cận tết, tác ý hỷ lạc PAGEREF _Toc65767660 \h 1
II. Quán chiếu thế giới PAGEREF _Toc65767661 \h 2
III. Phạm thiên thỉnh Đức Phật thuyết pháp PAGEREF _Toc65767662 \h 4
IV. Chuyển Pháp Luân lần đầu PAGEREF _Toc65767663 \h 8
V. Tà kiến PAGEREF _Toc65767664 \h 10
VI. Nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc65767665 \h 13
I. Nhắc nhở cận tết, tác ý hỷ lạc
Chỉ còn mấy ngày nữa là tết nên cảm thọ của mọi người thế nào? Có thấy hân hoan, rạo rực, dao động, hướng ngoại không? Phải xem lại cảm thọ, nếu để những cảm thọ đó sanh khởi tăng trưởng, vận hành thì mình không khác gì người phàm, phải làm cho các cảm thọ an tịnh và lắng dịu, tuy mình vẫn làm việc nhưng phải xem lại cảm xúc trong người, có vì gần tết mà buông lung, thả lỏng, không muốn tu tập, không muốn an định không.
Sự tu tập của chúng ta chính là tu tập vào những lúc như này, ở ngoài càng động chừng nào thì mình phải càng tĩnh chừng đó vì mình rất dễ bị ngoại cảnh tác động. Vì thế bên ngoài người đời đang bận rộn, tất bật chuẩn bị tết thì mình lại lắng nghe, chiêm nghiệm và thực tập sự tìm cầu của bậc Thánh, chúng ta đi tìm đóa hoa bất tử chứ không phải đi tìm hoa mai, hoa đào sanh diệt.
Bên ngoài vẫn chưng mai, đào nhưng trong tâm hướng đến đóa hoa bất tử. Còn chạy theo mai, đào sẽ khổ đau, tàn phai, héo úa, hoại diệt. Người xuất gia không có tết, cái tết duy nhất chính là ngày Nhập Lưu, ngày thành tựu tri kiến viên mãn của bậc Thánh. Mình không có gì phải hân hoan, hồ hởi trong khi mình chưa tìm ra được vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, cho nên các sư cô đang ngồi trước mặt con là những người đi tìm con đường, quý vị đã bỏ cái vui thông thường ở phố thị để trở về núi rừng này nên con mong muốn các sư cô sẽ tìm được đóa hoa bất tử, con không muốn các cô mất thời gian, sức khỏe, chịu lạnh lẽo của núi rừng lại tìm đóa hoa thường của thế gian, trở về Linh Quy phải tìm đóa hoa bất tử.
Mọi người đã thấy được mình đang tìm thấy cái không già, không bệnh, không chết, không sầu đau, không bị ô nhiễm, đó là con đường bất tử, thế giới bất tử, chúng ta đang gõ cánh cửa của bất tử. Hãy hân hoan, hạnh phúc, vui sướng, phấn khởi trên con đường dấn thân Thánh đạo, ngoài cái này ra không có gì vui nữa, chỉ có thấy pháp mới vui, kiến pháp mới vui, chứng ngộ pháp mới là mùa xuân, là tết của người tu. Chúng ta rộn ràng đón xuân để chúng ta mau chết chứ không có gì hết, càng đón xuân nhiều chừng nào thì chúng ta càng gần nghĩa địa, gần bàn thờ, vậy thì có gì là vui?
Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt.
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)
Những ngày tại rừng thiền này là những ngày vi diệu thù thắng, là những ngày để chúng ta thấy được sự vô thường, sự sanh diệt, sự cấu nhiễm trong thân chúng ta. Cây đào ở trước giảng đường chỉ vài ngày nữa sẽ rụng hết lá trơ lại cành thì có gì vui? Thân xác này không bao lâu nữa sẽ nằm dài trên đất, bị vứt bỏ như khúc cây vô dụng cho nên sự chứng nhập pháp mới là mùa xuân thật sự.
II. Quán chiếu thế giới
Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Tại sao thế giới sẽ bị tiêu diệt, sẽ bị hoại vong nếu tâm Như Lai không thuyết pháp? Đức Thế Tôn đã nói quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, thích ái dục trong khi cái pháp ngài chứng ngộ là pháp ly dục, nếu nói pháp mà không ai hiểu thì mệt mỏi, nhọc nhằn cho ngài. Nếu Thế Tôn không nói pháp xa dục, ly dục, nhiếp phục dục và đoạn tận dục thì thế giới này sẽ bị hoại vong, tiêu diệt trong ác dục của chúng sanh.
Đức Phật ra đời và giảng pháp đã được truyền thừa 2600 năm, những đạo đức, giới luật, đâu là thiện đâu là ác, trường hợp nào được sanh lên Thiên giới trường hợp nào phải xuống địa ngục, đâu là con đường Niết-bàn giải thoát sanh tử được ngài nói đầy đủ, tường tận, viên mãn, tốt lành ban đầu, tốt lành ở giữa, tốt lành ở chặng cuối gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa tỏ tường minh bạch mà ngày nay chúng ta còn chứng kiến nhiều cảnh hãm hại, đâm chém, vợ chồng phân xác, anh em tương tàn vì vài tấc đất, mẹ giết con, con giết mẹ, bà con hãi hại nhau vì tâm tham lam, ác độc có thể tàn phá, hủy diệt sự sống của con người, điều này đã được Vua trời Sahampati thấy từ 26 thế kỉ trước.
Nếu Thế Tôn không thuyết pháp thì thế giới này sẽ hoại diệt sớm, tiêu diệt sớm, diệt vong sớm hơn nữa vì dục điên cuồng, dục ác độc, dục mãnh liệt, điên đảo của chúng sanh sẽ tự hủy diệt thế giới này. Mẹ tự tay chôn sống đứa con mới sanh ra hoặc bỏ trước cổng chùa, trước hố ga, đống rác, thậm chí lấy gối đè ngột thở hai đứa con ruột; con thì giết mẹ, giết cha vì xin tiền không cho; nhậu mà mời bia không uống là bị đâm; nhìn nhau lại bị cho là nhìn điểu rồi đâm nhau; vượt đèn đỏ bị nhắc nhở là quay xe lại rút dao đâm chết người nhắc…
Dù có sự tuyên thuyết của Đức Thế Tôn một cách đầy đủ, viên mãn, được truyền thừa mấy ngàn năm mà còn vậy, nếu không có pháp và luật này thì thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong. Nhìn vào ngay bản thân người tu vẫn bị dục hành hạ, chi phối như thế nào chứ đừng nói người không tu, chúng ta có nhìn thấy những sự tham muốn thúc giục trong cảm thọ không, có nhiếp phục nó được phần nào không?
Như vậy mới gọi là dục giới, thế giới của dục. Chúng ta phải quán chiếu dục này là kẻ giết người, là mũi tên, là hố than hừng, là đáng sợ hãi, gai nhọn, là thuốc độc… Những sự thúc giục đòi cái này, muốn cái kia, tham cái nọ cần được quán chiếu sâu sắc, ra công nhiếp phục và đoạn tận, nếu không chúng ta cũng bị tiêu diệt, bị hoại vong dưới tay của dục, nó chà đạp, đè đầu cưỡi cổ mình.
Nó cứ tham muốn sắc, tham muốn âm thanh, mùi vị, tiếp xúc, nhìn ngắm, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, tham muốn những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng. Nó sẽ tiêu diệt chúng ta nếu chúng ta không nhìn ra được dục lậu, một trạng thái ngấm ngầm hoạt động một dòng cảm xúc thúc giục, đòi hỏi, ước mơ, trông mong, khát khao…
Đó là kẻ thù giấu mặt, sát thủ giấu mặt thật sự trong nội tâm chúng ta. Nó đòi hưởng thụ, rong chơi, buông lung, nó đòi được dục tham, sân hận, ta đây, chính cái này hủy diệt sự nghiệp tu hành của chúng ta, phải quán xét sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của dục. Trong mỗi buổi thiền phải mổ xẻ, phanh phui, phân tích, nghiền ngẫm sự nguy hiểm của nó, mình đã khổ, đang khổ và sẽ khổ với nó nếu mình không nhiếp phục để thoát ra. Nó là kẻ thù ác độc nhất trên đời này, Đức Thế Tôn đã nói
III. Phạm thiên thỉnh Đức Phật thuyết pháp
quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Thật khó thấy chỗ diệt tận tất cả tham ái, lìa tham ái diệt, đoạn diệt, Niết-bàn, sự dừng yên của tất cả sự vận hành tham sân si, vô minh, bản ngã trong ngũ uẩn, sự trừ bỏ tất cả chỗ dựa của tái sanh tức là tham ái.
Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!"
Rồi này các Tỳ-kheo, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.
Rồi này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỳ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Vua trời quỳ dưới chân Đức Phật, cung thỉnh Đức Phật là bậc khéo vượt qua bốn đầm lầy, bốn bộc lưu: Dục bộc lưu; hữu bộc lưu; kiến bộc lưu và vô minh bộc lựu, bậc Thiện Thệ, bậc khéo vượt qua bốn vực sâu, bốn ghềnh thác xin hãy nói Chánh Pháp. Cung thỉnh Đức Thế Tôn, bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ của tham dục, sự hiện hữu, thân kiến và của vô minh.
Này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói vậy, lại nói thêm như sau:
Hãy mở tung mở rộng,
Cánh cửa bất tử này.
Hãy để họ nghe Pháp,
Bậc Thanh tịnh Chứng Ngộ.
Như đứng trên tảng đá,
Trên đỉnh núi tột cao
Có người đứng nhìn xuống,
Ðám chúng sanh quây quần.
Cũng vậy, ôi Thiện Thệ,
Bậc Biến Nhãn cùng khắp,
Leo lên ngôi lâu đài,
Xây dựng bằng Chánh pháp
Bậc Thoát Ly sầu muộn,
Nhìn xuống đám quần sanh,
Bị sầu khổ áp bức,
Bị sanh già chi phối,
Ðứng lên vị Anh Hùng,
Bậc Chiến Thắng chiến trường.
Vị trưởng đoàn lữ khách,
Bậc Thoát Ly nợ nần.
Hãy đi khắp thế giới,
Bậc Thế Tôn Chánh Giác!
Hãy thuyết vi diệu pháp,
Người nghe sẽ thâm hiểu! (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Cúi lễ bậc tôn quý nhất trên đời, xin ngày hãy mở rộng, mở toang ra cánh cửa của bất tử, cánh cửa của cái không sanh, không già, không bệnh, không sầu, vô nhiễm. Xin Thế Tôn hãy mở rộng cánh cửa bất tử này, hãy để cho chúng sanh được nghe những lời Chánh Pháp mà bậc thanh tịnh đã chứng ngộ như người đứng trên núi cao nhìn xuống quần chúng đang quây quần.
Cũng vậy, đấng Thiện Thệ, bậc đã khéo léo vượt qua bốn bộc lưu, bốn đầm lầy, bốn khổ ách, bậc biến nhãn cùng khắp, bậc đã nhìn thấy khắp tất cả, bậc đã leo lên lâu đài của Chánh Pháp, bậc đã thoát ly tất cả sầu muộn, buồn phiền nhìn xuống đám quần sanh bị sầu khổ đè nặng, áp bức này, bị sanh già bệnh chết chi phối. Xin ngài hãy nhìn xuống đám chúng sanh đang si mê, tham sân si, vô minh và đầy rẫy chấp ngã này. Xin bậc anh hùng, bậc chiến thắng, xin vị trưởng đoàn lữ khách hãy đi khắp thế giới, xin bậc tôn quý nhất trên đời đã đạt sự thấy biết cùng tột hãy thuyết pháp vi diệu cùng tột, sẽ có người nghe thâm hiểu được.
Vua trời tha thiết, chân thành, cung kính bằng tất cả tấm lòng khẩn thỉnh.
Này các Tỳ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này các Tỳ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Có một số ít người thấy được sự nguy hiểm của tái sanh vào những thế giới khác, có những chúng sanh sợ rơi vào ba đường ác, sợ rơi vào cảnh thống khổ, đau đớn. Có những chúng sanh thấy nguy hiểm trong những hành động lỗi lầm. Họ sợ rơi vào những nẻo khổ chứ không có bất cứ một ai ngoài Đức Phật thấy sự nguy hiểm của tái sanh, sau khi Đức Phật giảng dạy thì họ mới biết, Đức Phật nói thêm cảnh giới bất tử vô sanh còn trước đó không ai biết.
Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này các Tỳ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:
Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của mình.
Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
(Ôi Phạm thiên) (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Cửa bất tử lúc nào cũng rộng mở cho những ai chịu nghe, còn chúng ta có chịu nghe không? Cần dẹp bỏ tất cả những kiến chấp, định kiến và bằng tất cả trái tim, tấm lòng để tiếp nhận trọn vẹn, đầy đủ trí huệ chứng ngộ của Đức Phật thì người đó sẽ bước vào cửa bất tử. Còn khi nghe mà lấy tư kiến cá nhân, lấy tưởng tri, thức tri thường tình để so sánh, phân biệt, đối chiếu thì không thể vào cửa bất tử được vì những thứ mình đem ra so sánh đều là cái phàm phu, vô minh, tham ái và nghiệp thì làm sao đưa đến Thánh trí huệ được?
Nhưng hiện tại mình lại học của người này người kia, đem dẫn chứng của người nọ ra chứ không lấy dẫn chứng lời Đức Phật nói trong kinh tạng Nikāya nên học hoài cũng không đi tới chỗ mình muốn đến như Đức Phật đã dạy. Lời của vị này nói, vị kia nói như vậy nhưng những vị đó có phải Chánh Đẳng Chánh Giác không? Vị đó không phải là bậc lậu tận Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải là bậc Thiện Thệ, không phải là bậc thành tựu chánh trí chánh giải thoát, không phải là người diệt tận sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ưu não, không phải là người đã chứng ngộ, chứng đắc tối thượng Niết-bàn mà mình lại học, dẫn chứng, dựa vào những người đó, lấy những cái đó làm tông chỉ, làm đích đến thì mình có đi đến tận cùng cũng chỉ bằng người đó thôi, làm sao đến gần Đức Phật được? Làm sao đến chỗ Đức Phật muốn dẫn mình đi được? Cho nên hãy bỏ tính tâm không chính xác của mình, hãy bỏ những lòng tin chưa phải là chánh tín, chánh trí, chánh kiến.
IV. Đức Phật quyết định chuyển Pháp Luân
Này các Tỳ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati tự nghĩ: "Ta đã tạo cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp", đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Tức là sự thỉnh cầu chuyển pháp luân đã thành công, Đức Phật đã đồng ý rồi.
Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên, ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?" Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: "Nay có Alara Kalama là bậc trí thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Này các Tỳ-kheo, rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Bạch Thế Tôn, Alara Kalama đã mệnh chung bảy ngày rồi". Ta nghĩ: "Thật là một thiệt hại lớn cho Alara Kalama: Nếu nghe pháp này, Alara Kalama sẽ mau thâm hiểu".
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?" Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nay có Uddaka Ramaputta-là bậc tri thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Uddaka Ramaputta. Vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này. Rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Bạch Thế Tôn Uddaka Ramaputta đã mệnh chung ngày hôm qua". Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: "Uddaka Ramaputta đã mệnh chung hôm qua". Này các Tỳ-kheo, Ta nghĩ: "Thật là một thiệt hại lớn cho Uddaka Ramaputta. Nếu nghe pháp này, Uddaka Ramaputta sẽ mau thâm hiểu". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Tuy đã thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác nhưng Thế Tôn vẫn biết ơn, báo ơn và đền ơn những vị thầy lúc trước của mình. Những việc làm của Đức Phật là mẫu mực nhân thiên, là khuôn mẫu của Trời-Người. Trong bài kinh Thánh cầu này Đức Phật đã tường thuật chi tiết cả một chặng đường, từ đi tìm đạo cho đến lúc chứng ngộ vô thượng Chánh Giác và đi hoằng pháp.
Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?" Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nhóm năm Tỳ-kheo này đã hầu hạ Ta khi Ta còn nỗ lực tinh cần, nhóm ấy thật giúp ích nhiều. Vậy ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho nhóm năm Tỳ-kheo!" Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nay nhóm năm Tỳ-kheo ở tại đâu?" Này các Tỳ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy nhóm năm Tỳ-kheo hiện ở Baranasi (Ba la nại), tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi ở tại Uruvela lâu cho đến khi mãn ý, Ta lên đường đi đến Baranasi. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Ở trên là ân, ở dưới là nghĩa. Những người có ân là thầy của ngài khi ngài còn tầm đạo, tình nghĩa là những người đã phục vụ cho ngài, đó là nhóm năm Tỳ-kheo. Ngài dùng con mắt thanh tịnh xuyên thấu tất cả chướng ngại vật để thấy nhóm năm Tỳ-kheo đang ở Ba-la-nại, vườn Lộc Uyển.
(Khai giảng Chánh Pháp)
V. Tà kiến
Này các Tỳ-kheo, một tà mạng ngoại đạo tên là Upaka, đã thấy Ta khi Ta còn đi trên con đường giữa Gaya và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, vị ấy nói với Ta:
"-- Các căn của Hiền giả thật sáng suốt. Da sắc của Hiền giả thật thanh tịnh, thật thanh khiết. Này Hiền giả, vì mục đích gì, Hiền giả xuất gia? Ai là bậc Ðạo Sư của Hiền giả? Hiền giả hoan hỷ thọ trì pháp của ai?"
(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Tà đạo ngoại mạng là những người có quan niệm không đúng về sự nuôi sống. Upaka khi thấy vóc dáng, dung sắc Thế Tôn lúc mới thành đạo nên gọi Thế Tôn là Hiền giả, Upaka đã hỏi Thế Tôn xuất gia vì mục đích gì, bậc Đạo sư là ai, thọ pháp của ai. Nghe vậy Thế Tôn trả lời:
"-- Ta, bậc Thắng tất cả,
Ta, bậc Nhất thiết Trí.
Hết thảy pháp, không nhiễm,
Hết thảy pháp, xả ly.
Ta sống chân giải thoát,
Ðoạn tận mọi khát ái.
Như vậy Ta tự giác,
Còn phải y chỉ ai?
Ta không có Ðạo Sư,
Bậc như Ta không có.
Giữa thế giới Nhơn, Thiên,
Không có ai bằng Ta.
Bậc Ứng Cúng trên đời,
Bậc Ðạo Sư vô thượng.
Tự mình Chánh Ðẳng Giác,
Ta an tịnh, thanh thoát.
Ðể chuyển bánh xe Pháp.
Ta đến thành Kàsi.
Gióng lên trống bất tử,
Trong thế giới mù lòa."
"-- Như Hiền giả đã tự xưng, Hiền giả xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận. "
"-- Như Ta, bậc Thắng giả,
Những ai chứng lậu tận,
Ác pháp, Ta nhiếp phục,
Do vậy, Ta vô địch".
(Này Upaka)
Này các Tỳ-kheo, sau khi được nói vậy, tà mạng ngoại đạo Upaka nói với Ta:
"-- Này Hiền giả, mong rằng sự việc là vậy".
Nói xong, Upaka lắc đầu rồi đi theo một ngã khác. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Gặp Phật mà không tin thì cũng không được lợi ích gì, nếu lúc đó Upaka chịu tin tưởng lắng nghe thì có thể được khai ngộ kiến pháp. Khi Bồ-tát nói rằng thầy của ngài có tín – tấn – niệm – định – tuệ, có năm nền tảng của sự tu hành thì ngài cũng có tín – tấn – niệm – định – tuệ, cho nên ngũ căn biến thành ngũ lực, điều này rất quan trọng. Ở đây chúng ta thấy rằng không có lòng tin là mất tất cả trong khi gặp được bậc Chánh Đẳng Giác mà hàng tỉ tỉ năm mới có thể gặp được một lần. Trở lại bài kệ Đức Phật nói với Upaka cũng là khải hoàn ca chiến thắng ca, là bài tuyên ngôn của bậc tối thượng Chánh Biến Tri vô thượng giác. Bài này có thể đọc mỗi khi tụng kinh trên thiền đường Linh Quy Pháp Ấn.
Trong bài kệ trên Đức Phật nói ta là bậc thắng tất cả những dục tham, vô minh, chấp ngã, chiến thắng tất cả những thân kiến, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu ái, sáu tầm, sáu tưởng, sáu tư, sáu xúc, sáu thọ là 18 giới, chiến thắng toàn thể thế giới cũng chính là chiến thắng nội tâm, ngũ uẩn, vô minh và chấp ngã. Ngài là bậc thành tựu trí huệ thấy biết tất cả, không ô nhiễm với tất cả pháp, xả ly và buông bỏ tất cả pháp. Làm thế nào để không nhiễm các pháp? Làm sao có thể lìa tất cả pháp? Nếu không quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của ngũ uẩn, dục tham, vô minh, chấp ngã đó, nếu không có cái nhìn xuyên thấu sự vô thường, trống rỗng, tan nát, hoại diệt đó thì làm sao có thể không nhiễm hết thảy pháp, xả ly hết thảy pháp như Đức Phật.
Đoạn tận khát ái là chấm dứt tất cả mọi sự khao khát, thèm muốn trên cuộc đời này, trong sắc uẩn, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức rõ biết này. Đoạn tận và chấm dứt tất cả mọi sự khao khát, thèm muốn đối với năm uẩn gọi là chân thật giải thoát. Ta là bậc xứng đáng cho nhân Thiên cúng dường, là bậc thầy dẫn đường tối cao vô thượng, tự mình chứng ngộ một sự thật toàn vẹn viên mãn tất cả mọi khía cạnh góc độ của thân tâm thế giới của đời sống ngũ uẩn, tự mình Chánh Đẳng Giác. Ta là người dẫn đường tối cao vô thượng, không thể có người dẫn đường khác để đi ra khỏi sanh tử luân hồi, xuất ly khỏi ngũ uẩn, không thể có người thứ hai thì gọi là:
Bậc Ứng Cúng trên đời,
Bậc Ðạo Sư vô thượng.
Tự mình Chánh Ðẳng Giác,
Ta an tịnh, thanh thoát.
Ta đến thành Kàsi để Gióng lên trống bất tử trong thế giới tối tăm và mù lòa này, trong bài kinh Mù lòa nói tất cả đều là mù lòa. Bậc thắng giả là bậc chiến thắng, lậu tận là sạch hết dục lậu; hữu lậu và vô minh lậu. Đức Thế Tôn còn thêm một tên gọi khác là Đấng Chiến Thắng, Bậc Chiến Thắng. Mỗi ngày chúng ta đều phải đánh giặc phiền não, chúng ta là con của Đấng Chiến Thắng mà đánh giặc cứ đại bại là sao?
VI. Nhắc nhở tu học
Hôm nay chúng ta tìm hiểu thêm một phần nữa là từ Bồ-đề đạo tràng Đức Thế Tôn đi đến vườn Lộc Uyển, một chặng đường để chúng ta thấy được sự cầu thỉnh của Phạm thiên Sahampati từ đó để nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại của dục, kèm theo đó là sự chứng ngộ tối thượng của Đấng Chiến Thắng, bậc Đại Đạo Sư. Bài kinh này rất quan trọng nên chúng ta cần đi chậm để nghiền ngẫm, thẩm thấu, suy tư, quán chiếu bài kinh, đây là sự tầm cầu của bậc Thánh.
Đối với các vị mới đến Linh Quy lần này có vị đã từng đến vài lần, có vị mới đến cho nên chúng ta phải chịu khó nắm vững các pháp căn bản tuyệt đối quan trọng là thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn. Tất cả các vị sau khi trở về từ Linh Quy đều phải nắm vững thuần thục, rõ ràng, minh bạch sự thực tập ba pháp và nhận diện năm uẩn. Bước tiếp theo là học Như lý tác ý và biết cách trị bệnh tâm, loại bệnh nào tương ứng với thuốc gì, điều này được con chia sẻ trong rất nhiều bài pháp mọi người phải chịu khó lắng nghe.
Điều khó khăn của các Tăng Ni sinh là khi lên núi học rồi trở về sống trong đạo tràng, trong một ngôi chùa mà không khéo sẽ không giữ được công phu, vì sống trong tập thể thì ai sao mình phải vậy, nếu không sẽ gây bất hòa, biệt lập. Vì thế trong sự tu không phải dễ cũng không phải khó, khó hay dễ là do sự quyết tâm, sự để tâm và cố gắng.
Như thế nào là dễ và thế nào là khó? Dễ là sự tu này không cần hình thức bên ngoài mà chỉ cần kiểm tra, kiểm soát cảm thọ chính mình, phải nhớ trong giai đoạn đầu của việc tu hành này cần nắm nhuần nhuyễn, vững chắc thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn, tiếp theo là thực tập Thân Hành Niệm, đây là những bài pháp tuyệt đối quan trọng. Bên ngoài cần giữ gìn oai nghi, nhưng chỗ sâu sắc là để ý cảm thọ của mình, mình vẫn ăn cơm, sinh hoạt chung nhưng trong khi ăn cần nhiếp phục, quán xét cảm thọ, xem có dục tham, sân, có si mê không. Kể cả lúc làm việc cũng vậy, người ta làm thì mình cũng làm nhưng khác nhau ở chỗ mình cần quay lại cảm thọ, nghĩ tưởng trong tâm, đây là chỗ dễ, chỉ cần quay lại nội tâm chứ không cần xem ở ngoài cũng không cần đi đâu, chỉ cần siêng năng nhìn lại cảm giác, nghĩ tưởng mọi lúc mọi nơi.
Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải tu tập. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Chướng ngại pháp là năm triền cái, chúng ta liên tục diệt trừ, tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp. Đang ngồi một mình nhưng sanh khởi dục tham cần phát giác ra liền và phải nhiếp phục, đánh đuổi, cái đó là chỗ dễ mà khó. Dễ là không cần làm gì bên ngoài nhưng khó là cần sự tinh tường, tinh cần nhìn lại nội tâm. Phòng ốc của bên Ni xá có sạch không? Cái áo, khăn choàng cổ có giặt hằng ngày không? Nó sạch vì ngày nào cũng lau chùi, giặt giũ, căn nhà nội tâm mình cũng vậy, chịu khó để ý quét hoài thì sẽ sạch, vì mình không lo nhà mình mà mình cứ nhìn nhà khác rồi lại rong chơi thì căn nhà sẽ cấu nhiễm.
Lúc trước mình thường để ý hành động, cử chỉ, lời nói của người hay làm mình bực mình, nhưng bây giờ mình quay lại để ý cảm thọ của mình, tìm mọi cách giải quyết cảm xúc bực bội bên trong chứ đừng để ý con người hoặc câu nói làm mình giận, để ý cảm thọ bên trong mình rồi tác ý làm cho nó an tịnh, lắng dịu, đó gọi là tu tâm. Lúc trước mình để ý con người hoặc món đồ làm mình khởi ham thích nhưng giờ mình không để ý con người, món đồ đó nữa mà quay lại để ý cảm xúc trong người, xem tại sao sanh khởi cảm giác này và tìm cách đánh đuổi để nó tan biến bằng các phương pháp quán chiếu Thân Hành Niệm, gọi là nội soi, hướng nội.
Cần lau quét, dọn dẹp căn nhà nội tâm của mình chứ đừng để ý bên ngoài vì càng để ý bên ngoài thì càng sân hận, ham muốn, tham ái. Có một người có những hành động, cử chỉ làm mình sanh khởi lên cái ta, chấp ngã thì lúc đó mình đừng nhớ tới hành động, cử chỉ, lời nói của người đó mà quay lại xem cảm giác bản ngã, cái tôi trong người, nhiếp phục, phá tan nó, làm cho nó an tịnh, lắng dịu bằng sự quán chiếu tâm hiền, lạy đức hạnh ngài Xá-lợi-phất, quán chiếu nùi giẻ, giẻ rách, quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của cái tôi, cái ta.
Cứ nhìn vào cảm giác bên trong rồi đánh gục, nhiếp phục, đoạn tận nó, đó là sự thiện xảo khéo léo, thông minh trí tuệ của một người tu dù cho có ở đâu, gặp ai, việc gì cũng chỉ lo nhìn thọ; tưởng; hành; tinh cần tinh tấn nhiếp phục, giải thoát những cảm giác tham sân si, vô minh, bản ngã đó. Đó là sự tu tập đặc biệt thù thắng vi diệu của chúng ta trong bất cứ môi trường nào, đạo tràng nào, mục đích chính của chúng ta là tẩy sạch sự cấu nhiễm trong tâm, càng nhìn ngó bên ngoài, chạy theo bên ngoài và đòi hỏi theo ý mình thì mình càng đau khổ, còn lo nhiếp phục, quán chiếu, tẩy sạch bên trong thì lần lần sẽ đi đến thanh tịnh, an tịnh, lắng dịu.
./.
Thiền Quán
SỰ TÌM CẦU CỦA BẬC THÁNH 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhắc nhở cận tết, tác ý hỷ lạc PAGEREF _Toc65767660 \h 1
II. Quán chiếu thế giới PAGEREF _Toc65767661 \h 2
III. Phạm thiên thỉnh Đức Phật thuyết pháp PAGEREF _Toc65767662 \h 4
IV. Chuyển Pháp Luân lần đầu PAGEREF _Toc65767663 \h 8
V. Tà kiến PAGEREF _Toc65767664 \h 10
VI. Nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc65767665 \h 13
I. Nhắc nhở cận tết, tác ý hỷ lạc
Chỉ còn mấy ngày nữa là tết nên cảm thọ của mọi người thế nào? Có thấy hân hoan, rạo rực, dao động, hướng ngoại không? Phải xem lại cảm thọ, nếu để những cảm thọ đó sanh khởi tăng trưởng, vận hành thì mình không khác gì người phàm, phải làm cho các cảm thọ an tịnh và lắng dịu, tuy mình vẫn làm việc nhưng phải xem lại cảm xúc trong người, có vì gần tết mà buông lung, thả lỏng, không muốn tu tập, không muốn an định không.
Sự tu tập của chúng ta chính là tu tập vào những lúc như này, ở ngoài càng động chừng nào thì mình phải càng tĩnh chừng đó vì mình rất dễ bị ngoại cảnh tác động. Vì thế bên ngoài người đời đang bận rộn, tất bật chuẩn bị tết thì mình lại lắng nghe, chiêm nghiệm và thực tập sự tìm cầu của bậc Thánh, chúng ta đi tìm đóa hoa bất tử chứ không phải đi tìm hoa mai, hoa đào sanh diệt.
Bên ngoài vẫn chưng mai, đào nhưng trong tâm hướng đến đóa hoa bất tử. Còn chạy theo mai, đào sẽ khổ đau, tàn phai, héo úa, hoại diệt. Người xuất gia không có tết, cái tết duy nhất chính là ngày Nhập Lưu, ngày thành tựu tri kiến viên mãn của bậc Thánh. Mình không có gì phải hân hoan, hồ hởi trong khi mình chưa tìm ra được vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, cho nên các sư cô đang ngồi trước mặt con là những người đi tìm con đường, quý vị đã bỏ cái vui thông thường ở phố thị để trở về núi rừng này nên con mong muốn các sư cô sẽ tìm được đóa hoa bất tử, con không muốn các cô mất thời gian, sức khỏe, chịu lạnh lẽo của núi rừng lại tìm đóa hoa thường của thế gian, trở về Linh Quy phải tìm đóa hoa bất tử.
Mọi người đã thấy được mình đang tìm thấy cái không già, không bệnh, không chết, không sầu đau, không bị ô nhiễm, đó là con đường bất tử, thế giới bất tử, chúng ta đang gõ cánh cửa của bất tử. Hãy hân hoan, hạnh phúc, vui sướng, phấn khởi trên con đường dấn thân Thánh đạo, ngoài cái này ra không có gì vui nữa, chỉ có thấy pháp mới vui, kiến pháp mới vui, chứng ngộ pháp mới là mùa xuân, là tết của người tu. Chúng ta rộn ràng đón xuân để chúng ta mau chết chứ không có gì hết, càng đón xuân nhiều chừng nào thì chúng ta càng gần nghĩa địa, gần bàn thờ, vậy thì có gì là vui?
Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt.
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)
Những ngày tại rừng thiền này là những ngày vi diệu thù thắng, là những ngày để chúng ta thấy được sự vô thường, sự sanh diệt, sự cấu nhiễm trong thân chúng ta. Cây đào ở trước giảng đường chỉ vài ngày nữa sẽ rụng hết lá trơ lại cành thì có gì vui? Thân xác này không bao lâu nữa sẽ nằm dài trên đất, bị vứt bỏ như khúc cây vô dụng cho nên sự chứng nhập pháp mới là mùa xuân thật sự.
II. Quán chiếu thế giới
Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Tại sao thế giới sẽ bị tiêu diệt, sẽ bị hoại vong nếu tâm Như Lai không thuyết pháp? Đức Thế Tôn đã nói quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, thích ái dục trong khi cái pháp ngài chứng ngộ là pháp ly dục, nếu nói pháp mà không ai hiểu thì mệt mỏi, nhọc nhằn cho ngài. Nếu Thế Tôn không nói pháp xa dục, ly dục, nhiếp phục dục và đoạn tận dục thì thế giới này sẽ bị hoại vong, tiêu diệt trong ác dục của chúng sanh.
Đức Phật ra đời và giảng pháp đã được truyền thừa 2600 năm, những đạo đức, giới luật, đâu là thiện đâu là ác, trường hợp nào được sanh lên Thiên giới trường hợp nào phải xuống địa ngục, đâu là con đường Niết-bàn giải thoát sanh tử được ngài nói đầy đủ, tường tận, viên mãn, tốt lành ban đầu, tốt lành ở giữa, tốt lành ở chặng cuối gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa tỏ tường minh bạch mà ngày nay chúng ta còn chứng kiến nhiều cảnh hãm hại, đâm chém, vợ chồng phân xác, anh em tương tàn vì vài tấc đất, mẹ giết con, con giết mẹ, bà con hãi hại nhau vì tâm tham lam, ác độc có thể tàn phá, hủy diệt sự sống của con người, điều này đã được Vua trời Sahampati thấy từ 26 thế kỉ trước.
Nếu Thế Tôn không thuyết pháp thì thế giới này sẽ hoại diệt sớm, tiêu diệt sớm, diệt vong sớm hơn nữa vì dục điên cuồng, dục ác độc, dục mãnh liệt, điên đảo của chúng sanh sẽ tự hủy diệt thế giới này. Mẹ tự tay chôn sống đứa con mới sanh ra hoặc bỏ trước cổng chùa, trước hố ga, đống rác, thậm chí lấy gối đè ngột thở hai đứa con ruột; con thì giết mẹ, giết cha vì xin tiền không cho; nhậu mà mời bia không uống là bị đâm; nhìn nhau lại bị cho là nhìn điểu rồi đâm nhau; vượt đèn đỏ bị nhắc nhở là quay xe lại rút dao đâm chết người nhắc…
Dù có sự tuyên thuyết của Đức Thế Tôn một cách đầy đủ, viên mãn, được truyền thừa mấy ngàn năm mà còn vậy, nếu không có pháp và luật này thì thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong. Nhìn vào ngay bản thân người tu vẫn bị dục hành hạ, chi phối như thế nào chứ đừng nói người không tu, chúng ta có nhìn thấy những sự tham muốn thúc giục trong cảm thọ không, có nhiếp phục nó được phần nào không?
Như vậy mới gọi là dục giới, thế giới của dục. Chúng ta phải quán chiếu dục này là kẻ giết người, là mũi tên, là hố than hừng, là đáng sợ hãi, gai nhọn, là thuốc độc… Những sự thúc giục đòi cái này, muốn cái kia, tham cái nọ cần được quán chiếu sâu sắc, ra công nhiếp phục và đoạn tận, nếu không chúng ta cũng bị tiêu diệt, bị hoại vong dưới tay của dục, nó chà đạp, đè đầu cưỡi cổ mình.
Nó cứ tham muốn sắc, tham muốn âm thanh, mùi vị, tiếp xúc, nhìn ngắm, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, tham muốn những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng. Nó sẽ tiêu diệt chúng ta nếu chúng ta không nhìn ra được dục lậu, một trạng thái ngấm ngầm hoạt động một dòng cảm xúc thúc giục, đòi hỏi, ước mơ, trông mong, khát khao…
Đó là kẻ thù giấu mặt, sát thủ giấu mặt thật sự trong nội tâm chúng ta. Nó đòi hưởng thụ, rong chơi, buông lung, nó đòi được dục tham, sân hận, ta đây, chính cái này hủy diệt sự nghiệp tu hành của chúng ta, phải quán xét sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của dục. Trong mỗi buổi thiền phải mổ xẻ, phanh phui, phân tích, nghiền ngẫm sự nguy hiểm của nó, mình đã khổ, đang khổ và sẽ khổ với nó nếu mình không nhiếp phục để thoát ra. Nó là kẻ thù ác độc nhất trên đời này, Đức Thế Tôn đã nói
III. Phạm thiên thỉnh Đức Phật thuyết pháp
quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Thật khó thấy chỗ diệt tận tất cả tham ái, lìa tham ái diệt, đoạn diệt, Niết-bàn, sự dừng yên của tất cả sự vận hành tham sân si, vô minh, bản ngã trong ngũ uẩn, sự trừ bỏ tất cả chỗ dựa của tái sanh tức là tham ái.
Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!"
Rồi này các Tỳ-kheo, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.
Rồi này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỳ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Vua trời quỳ dưới chân Đức Phật, cung thỉnh Đức Phật là bậc khéo vượt qua bốn đầm lầy, bốn bộc lưu: Dục bộc lưu; hữu bộc lưu; kiến bộc lưu và vô minh bộc lựu, bậc Thiện Thệ, bậc khéo vượt qua bốn vực sâu, bốn ghềnh thác xin hãy nói Chánh Pháp. Cung thỉnh Đức Thế Tôn, bậc khéo vượt qua bốn dòng thác lũ của tham dục, sự hiện hữu, thân kiến và của vô minh.
Này các Tỳ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói vậy, lại nói thêm như sau:
Hãy mở tung mở rộng,
Cánh cửa bất tử này.
Hãy để họ nghe Pháp,
Bậc Thanh tịnh Chứng Ngộ.
Như đứng trên tảng đá,
Trên đỉnh núi tột cao
Có người đứng nhìn xuống,
Ðám chúng sanh quây quần.
Cũng vậy, ôi Thiện Thệ,
Bậc Biến Nhãn cùng khắp,
Leo lên ngôi lâu đài,
Xây dựng bằng Chánh pháp
Bậc Thoát Ly sầu muộn,
Nhìn xuống đám quần sanh,
Bị sầu khổ áp bức,
Bị sanh già chi phối,
Ðứng lên vị Anh Hùng,
Bậc Chiến Thắng chiến trường.
Vị trưởng đoàn lữ khách,
Bậc Thoát Ly nợ nần.
Hãy đi khắp thế giới,
Bậc Thế Tôn Chánh Giác!
Hãy thuyết vi diệu pháp,
Người nghe sẽ thâm hiểu! (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Cúi lễ bậc tôn quý nhất trên đời, xin ngày hãy mở rộng, mở toang ra cánh cửa của bất tử, cánh cửa của cái không sanh, không già, không bệnh, không sầu, vô nhiễm. Xin Thế Tôn hãy mở rộng cánh cửa bất tử này, hãy để cho chúng sanh được nghe những lời Chánh Pháp mà bậc thanh tịnh đã chứng ngộ như người đứng trên núi cao nhìn xuống quần chúng đang quây quần.
Cũng vậy, đấng Thiện Thệ, bậc đã khéo léo vượt qua bốn bộc lưu, bốn đầm lầy, bốn khổ ách, bậc biến nhãn cùng khắp, bậc đã nhìn thấy khắp tất cả, bậc đã leo lên lâu đài của Chánh Pháp, bậc đã thoát ly tất cả sầu muộn, buồn phiền nhìn xuống đám quần sanh bị sầu khổ đè nặng, áp bức này, bị sanh già bệnh chết chi phối. Xin ngài hãy nhìn xuống đám chúng sanh đang si mê, tham sân si, vô minh và đầy rẫy chấp ngã này. Xin bậc anh hùng, bậc chiến thắng, xin vị trưởng đoàn lữ khách hãy đi khắp thế giới, xin bậc tôn quý nhất trên đời đã đạt sự thấy biết cùng tột hãy thuyết pháp vi diệu cùng tột, sẽ có người nghe thâm hiểu được.
Vua trời tha thiết, chân thành, cung kính bằng tất cả tấm lòng khẩn thỉnh.
Này các Tỳ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này các Tỳ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Có một số ít người thấy được sự nguy hiểm của tái sanh vào những thế giới khác, có những chúng sanh sợ rơi vào ba đường ác, sợ rơi vào cảnh thống khổ, đau đớn. Có những chúng sanh thấy nguy hiểm trong những hành động lỗi lầm. Họ sợ rơi vào những nẻo khổ chứ không có bất cứ một ai ngoài Đức Phật thấy sự nguy hiểm của tái sanh, sau khi Đức Phật giảng dạy thì họ mới biết, Đức Phật nói thêm cảnh giới bất tử vô sanh còn trước đó không ai biết.
Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này các Tỳ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:
Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của mình.
Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
(Ôi Phạm thiên) (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Cửa bất tử lúc nào cũng rộng mở cho những ai chịu nghe, còn chúng ta có chịu nghe không? Cần dẹp bỏ tất cả những kiến chấp, định kiến và bằng tất cả trái tim, tấm lòng để tiếp nhận trọn vẹn, đầy đủ trí huệ chứng ngộ của Đức Phật thì người đó sẽ bước vào cửa bất tử. Còn khi nghe mà lấy tư kiến cá nhân, lấy tưởng tri, thức tri thường tình để so sánh, phân biệt, đối chiếu thì không thể vào cửa bất tử được vì những thứ mình đem ra so sánh đều là cái phàm phu, vô minh, tham ái và nghiệp thì làm sao đưa đến Thánh trí huệ được?
Nhưng hiện tại mình lại học của người này người kia, đem dẫn chứng của người nọ ra chứ không lấy dẫn chứng lời Đức Phật nói trong kinh tạng Nikāya nên học hoài cũng không đi tới chỗ mình muốn đến như Đức Phật đã dạy. Lời của vị này nói, vị kia nói như vậy nhưng những vị đó có phải Chánh Đẳng Chánh Giác không? Vị đó không phải là bậc lậu tận Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải là bậc Thiện Thệ, không phải là bậc thành tựu chánh trí chánh giải thoát, không phải là người diệt tận sanh già bệnh chết, sầu bi khổ ưu não, không phải là người đã chứng ngộ, chứng đắc tối thượng Niết-bàn mà mình lại học, dẫn chứng, dựa vào những người đó, lấy những cái đó làm tông chỉ, làm đích đến thì mình có đi đến tận cùng cũng chỉ bằng người đó thôi, làm sao đến gần Đức Phật được? Làm sao đến chỗ Đức Phật muốn dẫn mình đi được? Cho nên hãy bỏ tính tâm không chính xác của mình, hãy bỏ những lòng tin chưa phải là chánh tín, chánh trí, chánh kiến.
IV. Đức Phật quyết định chuyển Pháp Luân
Này các Tỳ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati tự nghĩ: "Ta đã tạo cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp", đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Tức là sự thỉnh cầu chuyển pháp luân đã thành công, Đức Phật đã đồng ý rồi.
Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên, ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?" Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: "Nay có Alara Kalama là bậc trí thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Này các Tỳ-kheo, rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Bạch Thế Tôn, Alara Kalama đã mệnh chung bảy ngày rồi". Ta nghĩ: "Thật là một thiệt hại lớn cho Alara Kalama: Nếu nghe pháp này, Alara Kalama sẽ mau thâm hiểu".
Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?" Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nay có Uddaka Ramaputta-là bậc tri thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Uddaka Ramaputta. Vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này. Rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: "Bạch Thế Tôn Uddaka Ramaputta đã mệnh chung ngày hôm qua". Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: "Uddaka Ramaputta đã mệnh chung hôm qua". Này các Tỳ-kheo, Ta nghĩ: "Thật là một thiệt hại lớn cho Uddaka Ramaputta. Nếu nghe pháp này, Uddaka Ramaputta sẽ mau thâm hiểu". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Tuy đã thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác nhưng Thế Tôn vẫn biết ơn, báo ơn và đền ơn những vị thầy lúc trước của mình. Những việc làm của Đức Phật là mẫu mực nhân thiên, là khuôn mẫu của Trời-Người. Trong bài kinh Thánh cầu này Đức Phật đã tường thuật chi tiết cả một chặng đường, từ đi tìm đạo cho đến lúc chứng ngộ vô thượng Chánh Giác và đi hoằng pháp.
Này các Tỳ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: "Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?" Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nhóm năm Tỳ-kheo này đã hầu hạ Ta khi Ta còn nỗ lực tinh cần, nhóm ấy thật giúp ích nhiều. Vậy ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho nhóm năm Tỳ-kheo!" Rồi này các Tỳ-kheo, Ta lại nghĩ: "Nay nhóm năm Tỳ-kheo ở tại đâu?" Này các Tỳ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy nhóm năm Tỳ-kheo hiện ở Baranasi (Ba la nại), tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi ở tại Uruvela lâu cho đến khi mãn ý, Ta lên đường đi đến Baranasi. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Ở trên là ân, ở dưới là nghĩa. Những người có ân là thầy của ngài khi ngài còn tầm đạo, tình nghĩa là những người đã phục vụ cho ngài, đó là nhóm năm Tỳ-kheo. Ngài dùng con mắt thanh tịnh xuyên thấu tất cả chướng ngại vật để thấy nhóm năm Tỳ-kheo đang ở Ba-la-nại, vườn Lộc Uyển.
(Khai giảng Chánh Pháp)
V. Tà kiến
Này các Tỳ-kheo, một tà mạng ngoại đạo tên là Upaka, đã thấy Ta khi Ta còn đi trên con đường giữa Gaya và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, vị ấy nói với Ta:
"-- Các căn của Hiền giả thật sáng suốt. Da sắc của Hiền giả thật thanh tịnh, thật thanh khiết. Này Hiền giả, vì mục đích gì, Hiền giả xuất gia? Ai là bậc Ðạo Sư của Hiền giả? Hiền giả hoan hỷ thọ trì pháp của ai?"
(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Tà đạo ngoại mạng là những người có quan niệm không đúng về sự nuôi sống. Upaka khi thấy vóc dáng, dung sắc Thế Tôn lúc mới thành đạo nên gọi Thế Tôn là Hiền giả, Upaka đã hỏi Thế Tôn xuất gia vì mục đích gì, bậc Đạo sư là ai, thọ pháp của ai. Nghe vậy Thế Tôn trả lời:
"-- Ta, bậc Thắng tất cả,
Ta, bậc Nhất thiết Trí.
Hết thảy pháp, không nhiễm,
Hết thảy pháp, xả ly.
Ta sống chân giải thoát,
Ðoạn tận mọi khát ái.
Như vậy Ta tự giác,
Còn phải y chỉ ai?
Ta không có Ðạo Sư,
Bậc như Ta không có.
Giữa thế giới Nhơn, Thiên,
Không có ai bằng Ta.
Bậc Ứng Cúng trên đời,
Bậc Ðạo Sư vô thượng.
Tự mình Chánh Ðẳng Giác,
Ta an tịnh, thanh thoát.
Ðể chuyển bánh xe Pháp.
Ta đến thành Kàsi.
Gióng lên trống bất tử,
Trong thế giới mù lòa."
"-- Như Hiền giả đã tự xưng, Hiền giả xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận. "
"-- Như Ta, bậc Thắng giả,
Những ai chứng lậu tận,
Ác pháp, Ta nhiếp phục,
Do vậy, Ta vô địch".
(Này Upaka)
Này các Tỳ-kheo, sau khi được nói vậy, tà mạng ngoại đạo Upaka nói với Ta:
"-- Này Hiền giả, mong rằng sự việc là vậy".
Nói xong, Upaka lắc đầu rồi đi theo một ngã khác. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu).
Gặp Phật mà không tin thì cũng không được lợi ích gì, nếu lúc đó Upaka chịu tin tưởng lắng nghe thì có thể được khai ngộ kiến pháp. Khi Bồ-tát nói rằng thầy của ngài có tín – tấn – niệm – định – tuệ, có năm nền tảng của sự tu hành thì ngài cũng có tín – tấn – niệm – định – tuệ, cho nên ngũ căn biến thành ngũ lực, điều này rất quan trọng. Ở đây chúng ta thấy rằng không có lòng tin là mất tất cả trong khi gặp được bậc Chánh Đẳng Giác mà hàng tỉ tỉ năm mới có thể gặp được một lần. Trở lại bài kệ Đức Phật nói với Upaka cũng là khải hoàn ca chiến thắng ca, là bài tuyên ngôn của bậc tối thượng Chánh Biến Tri vô thượng giác. Bài này có thể đọc mỗi khi tụng kinh trên thiền đường Linh Quy Pháp Ấn.
Trong bài kệ trên Đức Phật nói ta là bậc thắng tất cả những dục tham, vô minh, chấp ngã, chiến thắng tất cả những thân kiến, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu ái, sáu tầm, sáu tưởng, sáu tư, sáu xúc, sáu thọ là 18 giới, chiến thắng toàn thể thế giới cũng chính là chiến thắng nội tâm, ngũ uẩn, vô minh và chấp ngã. Ngài là bậc thành tựu trí huệ thấy biết tất cả, không ô nhiễm với tất cả pháp, xả ly và buông bỏ tất cả pháp. Làm thế nào để không nhiễm các pháp? Làm sao có thể lìa tất cả pháp? Nếu không quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của ngũ uẩn, dục tham, vô minh, chấp ngã đó, nếu không có cái nhìn xuyên thấu sự vô thường, trống rỗng, tan nát, hoại diệt đó thì làm sao có thể không nhiễm hết thảy pháp, xả ly hết thảy pháp như Đức Phật.
Đoạn tận khát ái là chấm dứt tất cả mọi sự khao khát, thèm muốn trên cuộc đời này, trong sắc uẩn, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức rõ biết này. Đoạn tận và chấm dứt tất cả mọi sự khao khát, thèm muốn đối với năm uẩn gọi là chân thật giải thoát. Ta là bậc xứng đáng cho nhân Thiên cúng dường, là bậc thầy dẫn đường tối cao vô thượng, tự mình chứng ngộ một sự thật toàn vẹn viên mãn tất cả mọi khía cạnh góc độ của thân tâm thế giới của đời sống ngũ uẩn, tự mình Chánh Đẳng Giác. Ta là người dẫn đường tối cao vô thượng, không thể có người dẫn đường khác để đi ra khỏi sanh tử luân hồi, xuất ly khỏi ngũ uẩn, không thể có người thứ hai thì gọi là:
Bậc Ứng Cúng trên đời,
Bậc Ðạo Sư vô thượng.
Tự mình Chánh Ðẳng Giác,
Ta an tịnh, thanh thoát.
Ta đến thành Kàsi để Gióng lên trống bất tử trong thế giới tối tăm và mù lòa này, trong bài kinh Mù lòa nói tất cả đều là mù lòa. Bậc thắng giả là bậc chiến thắng, lậu tận là sạch hết dục lậu; hữu lậu và vô minh lậu. Đức Thế Tôn còn thêm một tên gọi khác là Đấng Chiến Thắng, Bậc Chiến Thắng. Mỗi ngày chúng ta đều phải đánh giặc phiền não, chúng ta là con của Đấng Chiến Thắng mà đánh giặc cứ đại bại là sao?
VI. Nhắc nhở tu học
Hôm nay chúng ta tìm hiểu thêm một phần nữa là từ Bồ-đề đạo tràng Đức Thế Tôn đi đến vườn Lộc Uyển, một chặng đường để chúng ta thấy được sự cầu thỉnh của Phạm thiên Sahampati từ đó để nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại của dục, kèm theo đó là sự chứng ngộ tối thượng của Đấng Chiến Thắng, bậc Đại Đạo Sư. Bài kinh này rất quan trọng nên chúng ta cần đi chậm để nghiền ngẫm, thẩm thấu, suy tư, quán chiếu bài kinh, đây là sự tầm cầu của bậc Thánh.
Đối với các vị mới đến Linh Quy lần này có vị đã từng đến vài lần, có vị mới đến cho nên chúng ta phải chịu khó nắm vững các pháp căn bản tuyệt đối quan trọng là thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn. Tất cả các vị sau khi trở về từ Linh Quy đều phải nắm vững thuần thục, rõ ràng, minh bạch sự thực tập ba pháp và nhận diện năm uẩn. Bước tiếp theo là học Như lý tác ý và biết cách trị bệnh tâm, loại bệnh nào tương ứng với thuốc gì, điều này được con chia sẻ trong rất nhiều bài pháp mọi người phải chịu khó lắng nghe.
Điều khó khăn của các Tăng Ni sinh là khi lên núi học rồi trở về sống trong đạo tràng, trong một ngôi chùa mà không khéo sẽ không giữ được công phu, vì sống trong tập thể thì ai sao mình phải vậy, nếu không sẽ gây bất hòa, biệt lập. Vì thế trong sự tu không phải dễ cũng không phải khó, khó hay dễ là do sự quyết tâm, sự để tâm và cố gắng.
Như thế nào là dễ và thế nào là khó? Dễ là sự tu này không cần hình thức bên ngoài mà chỉ cần kiểm tra, kiểm soát cảm thọ chính mình, phải nhớ trong giai đoạn đầu của việc tu hành này cần nắm nhuần nhuyễn, vững chắc thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn, tiếp theo là thực tập Thân Hành Niệm, đây là những bài pháp tuyệt đối quan trọng. Bên ngoài cần giữ gìn oai nghi, nhưng chỗ sâu sắc là để ý cảm thọ của mình, mình vẫn ăn cơm, sinh hoạt chung nhưng trong khi ăn cần nhiếp phục, quán xét cảm thọ, xem có dục tham, sân, có si mê không. Kể cả lúc làm việc cũng vậy, người ta làm thì mình cũng làm nhưng khác nhau ở chỗ mình cần quay lại cảm thọ, nghĩ tưởng trong tâm, đây là chỗ dễ, chỉ cần quay lại nội tâm chứ không cần xem ở ngoài cũng không cần đi đâu, chỉ cần siêng năng nhìn lại cảm giác, nghĩ tưởng mọi lúc mọi nơi.
Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải tu tập. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Chướng ngại pháp là năm triền cái, chúng ta liên tục diệt trừ, tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp. Đang ngồi một mình nhưng sanh khởi dục tham cần phát giác ra liền và phải nhiếp phục, đánh đuổi, cái đó là chỗ dễ mà khó. Dễ là không cần làm gì bên ngoài nhưng khó là cần sự tinh tường, tinh cần nhìn lại nội tâm. Phòng ốc của bên Ni xá có sạch không? Cái áo, khăn choàng cổ có giặt hằng ngày không? Nó sạch vì ngày nào cũng lau chùi, giặt giũ, căn nhà nội tâm mình cũng vậy, chịu khó để ý quét hoài thì sẽ sạch, vì mình không lo nhà mình mà mình cứ nhìn nhà khác rồi lại rong chơi thì căn nhà sẽ cấu nhiễm.
Lúc trước mình thường để ý hành động, cử chỉ, lời nói của người hay làm mình bực mình, nhưng bây giờ mình quay lại để ý cảm thọ của mình, tìm mọi cách giải quyết cảm xúc bực bội bên trong chứ đừng để ý con người hoặc câu nói làm mình giận, để ý cảm thọ bên trong mình rồi tác ý làm cho nó an tịnh, lắng dịu, đó gọi là tu tâm. Lúc trước mình để ý con người hoặc món đồ làm mình khởi ham thích nhưng giờ mình không để ý con người, món đồ đó nữa mà quay lại để ý cảm xúc trong người, xem tại sao sanh khởi cảm giác này và tìm cách đánh đuổi để nó tan biến bằng các phương pháp quán chiếu Thân Hành Niệm, gọi là nội soi, hướng nội.
Cần lau quét, dọn dẹp căn nhà nội tâm của mình chứ đừng để ý bên ngoài vì càng để ý bên ngoài thì càng sân hận, ham muốn, tham ái. Có một người có những hành động, cử chỉ làm mình sanh khởi lên cái ta, chấp ngã thì lúc đó mình đừng nhớ tới hành động, cử chỉ, lời nói của người đó mà quay lại xem cảm giác bản ngã, cái tôi trong người, nhiếp phục, phá tan nó, làm cho nó an tịnh, lắng dịu bằng sự quán chiếu tâm hiền, lạy đức hạnh ngài Xá-lợi-phất, quán chiếu nùi giẻ, giẻ rách, quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của cái tôi, cái ta.
Cứ nhìn vào cảm giác bên trong rồi đánh gục, nhiếp phục, đoạn tận nó, đó là sự thiện xảo khéo léo, thông minh trí tuệ của một người tu dù cho có ở đâu, gặp ai, việc gì cũng chỉ lo nhìn thọ; tưởng; hành; tinh cần tinh tấn nhiếp phục, giải thoát những cảm giác tham sân si, vô minh, bản ngã đó. Đó là sự tu tập đặc biệt thù thắng vi diệu của chúng ta trong bất cứ môi trường nào, đạo tràng nào, mục đích chính của chúng ta là tẩy sạch sự cấu nhiễm trong tâm, càng nhìn ngó bên ngoài, chạy theo bên ngoài và đòi hỏi theo ý mình thì mình càng đau khổ, còn lo nhiếp phục, quán chiếu, tẩy sạch bên trong thì lần lần sẽ đi đến thanh tịnh, an tịnh, lắng dịu.
./.