Ngọn Đèn Linh Thiên - Tiểu Linh Đăng
Ngọn Đèn Linh Thiên - Tiểu Linh Đăng
Thích Minh Thành
Ngày 23 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trí tuệ trong giáo pháp PAGEREF _Toc121062091 \h 2
II. Hướng nội tu hành PAGEREF _Toc121062092 \h 5
I. Trí tuệ trong giáo pháp
Kính thưa tất cả các Phật tử hiền trí, quý vị là những người Phật tử thuận thành trong Phật pháp, không ngại đường xá xa xôi để trở về, viễn ly xứ này với một tâm chân thành cung kính Tam Bảo. Cũng như cúng dường, đảnh lễ, thăm viếng chư tôn đức, tăng ni.
Minh Thành xin thay mặt cho chư tăng ni tại Linh Quy Pháp Ấn có vài lời ôn nhắc lại lời dạy của Đức Phật để quý vị lấy đó làm hành trang trong bước đường tu học và phụng sự.
Câu lạc bộ Tiểu Linh Đăng, đăng là ngọn đèn, linh là linh thiêng, tiểu là nhỏ. Ý nói là ngọn đèn linh nhỏ bé.
Ngọn đèn trong Phật giáo là biểu trưng cho trí tuệ. Trí tuệ ở đây không phải là mình biết nhiều kiến thức Phật giáo, không phải đọc nhiều sách, biết nhiều nghĩa lý và mình nói thao thao là trí tuệ. Đó chỉ là kiến thức Phật học.
Trí tuệ là khi nào mình biết được thân tâm của mình là cái gì cấu tạo, thân của mình là đất, nước, gió, lửa, tứ đại, tâm của mình là thọ, tưởng, hành, thức. Tâm của mình là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, rõ biết. Tâm mình gồm có bốn nhóm, ví dụ quý vị ngồi đây, quý vị nhớ về chùa Hoằng Pháp, hình bóng nhớ về chùa Hoằng Pháp đó là tưởng, cảm giác của quý vị là thân thương, đó là thọ, suy nghĩ hôm nay có khóa tu thì suy nghĩ lầm thầm đó là hành và quý vị rõ biết hình bóng chùa Hoằng Pháp, một cảm giác thân thương, một suy nghĩ đó, quý vị biết rõ được ba cái đó thì đó là thức.
Đức Phật nói người nào nhìn ra được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là người đó nhận rõ được thân tâm của mình, lúc đó người đó mới bắt đầu có trí tuệ. Tức là mình biết được tâm của mình là cái gì, còn mình thường nói tâm tâm nhưng mình không biết tâm một cách chính xác. Ví dụ mình biết tâm là suy nghĩ, hoặc mình biết tâm là sự rõ biết, nhưng đó chỉ là hai uẩn, suy nghĩ là hành uẩn, rõ biết là thức uẩn, cảm giác là thọ uẩn, hình bóng ở trong tâm là tưởng uẩn.
Ví dụ bây giờ mình nhớ về cha mẹ của mình, thì hình ảnh cha mẹ của mình đó là tưởng, mình có một cảm giác thân thương, ấm áp đó là thọ. Mình suy nghĩ “Không biết giờ cha mẹ có khỏe không, đang làm gì?” đó là hành. Và mình rõ biết được hình bóng của cha mẹ, cảm giác thân thương và suy nghĩ về ba mẹ đó mình rõ biết được thì đó là thức. Nên chúng ta biết rõ được thì mới gọi là mình nhận diện được ngũ uẩn, bằng không thì mình tụng Tâm kinh bát nhã thuộc ro ro “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” nhưng ngũ uẩn thì mình không biết thì làm sao mình chiếu? Ai cũng thuộc Bát nhã tâm kinh ro ro nhưng khi trở ra thì mình thấy mình chỉ là một đống và mình không thấy ngũ uẩn.
Mình thấy có một cái tôi, cái ta, có một cái bản ngã nên ai khen thì mình ra sao? Giương mũi lên? Ai chê thì mình sụ mặt xuống? Như vậy là mình thấy cái thân này, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là mình, chứ mình chưa thấy nó là ngũ uẩn. Mình thấy còn có mình, còn có ta, còn có tôi, còn có bản ngã thì mình còn vô minh. Còn vô minh thì mình sẽ còn tham ái, tức là mình không biết rõ mình là cái gì thì không thấy được bản chất của tứ đại ngũ uẩn này, mình sẽ ảo tưởng về một tự ngã, về một cái tôi, về một cái ta. Mình cho rằng mình là thật, thường hằng, thường còn, thường trú nên khi nó bất thình lình tan vỡ người thân của mình hoặc tự thân của mình, mình sẽ khổ đau.
Đức Phật từng nói tất cả chúng sanh là từ vô minh là từ không thấy, không biết về ngũ uẩn, tham đắm, nắm giữ, yêu thích trong ngũ uẩn mà có khổ đau. Từ vô minh và tham ái mà có khổ đau, vô minh tức là không thấy rõ được sắc, thọ, tưởng, hành, thức; cho nó là mình.
Tham ái tức là yêu thích, nắm giữ, cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nên tôi bị ai nhìn bằng ánh mắt xem thường một chút thì tôi sân lên. Nếu tôi được ai nhìn bằng ánh mắt trìu mến thì lúc đó tôi bị chết chìm, bị chìm đắm. Nên tất cả chúng sanh đều bị chìm đắm trong tham, sân, si. Vì không thấy biết được ngũ uẩn, không thấy biết được bản chất của thân tứ đại này.
Vậy nên thấy gì đẹp thì ham, thích, khoái, hoặc có khi ở trong cái đẹp đó, hoa hồng có gai nên đâm sẽ chảy máu. Trong cái đẹp đó có vị ngọt của cái đẹp đó, có sự nguy hiểm và tác hại của cái đẹp đó. Nó có một phương pháp thoát ra khỏi, nếu mình không thành tựu được trí tuệ trong kinh tạng Nikāya thì mình sẽ không biết cách thoát ra, mình sẽ bị vị ngọt của sắc làm cho mình say mê, điên đảo.
Ví như một cảnh đẹp làm mình không còn chánh niệm, quên hết. Như có nhiều người đi lên Đà Lạt chụp hình đồi mộng mơ, Đồi thông hai mộ, nhưng cứ lo chụp nên bị trượt chân té chết. Một chút cảnh đẹp cũng có thể đưa đến sự mất mạng, vì mình không có chánh niệm tỉnh giác, mình bị vị ngọt của cảnh đẹp đó làm cho mình quên mất sự tỉnh táo, tỉnh giác. Không phải là chỉ có mình bị người ta mắng chửi thì lúc đó mới sân si mà tham cũng chết, sân cũng chết, không chết chìm cũng chết cháy, vậy chọn cái chết nào?
Chết chìm là ví dụ cho những cảnh sắc làm cho mình yêu thích, đam mê, đó gọi là chết chìm. Chết cháy là những con người, sự vật làm cho mình bực bội, sân hận lên thì cũng chết. Vậy chọn chết chìm hay chết cháy hay là không chết? Đó là nói về tham và sân, si là cái rất sâu sắc.
Si là tất cả chúng ta hiện tại ở đây mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, chúng ta nhận thức cảm giác và nói “Giờ tôi tỉnh táo, tôi có gì đâu si!” Nhưng không thấy ngũ uẩn, không thấy thân tứ đại này vô thường, khổ, vô ngã thì lúc đó là si mê. Bất cứ lúc nào mà mình cho rằng có mình, có cái tôi, có cái ta, tôi là bằng, là hơn người kia thì lúc đó là mình đang si mê, không thấy được sự thật. Vì Đức Phật chứng ngộ là không có cái tôi, chỉ là ngũ uẩn, chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Nhưng mình lạy Phật hoài, mình tụng kinh hoài nhưng trí tuệ mà Đức Phật muốn truyền trao cho mình có khi mình còn rất xa. Vậy nên mình phải thắp lên được tiểu linh đăng trong tim của mình, đó là ngọn đèn trí tuệ, linh thiêng ở trong tâm của mình phải được thắp lên hằng ngày, hằng giờ. Bằng cách mình phải thường xuyên nhìn lại những cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ trong tâm của mình, đó gọi là nhận diện ngũ uẩn, là phương pháp tại đây tu tập, lúc nào mình cũng xem lại mình đang suy nghĩ gì, mình đang có cảm giác, hình bóng gì trong tâm của mình, hình bóng này là thiện hay bất thiện, cảm giác này là của từ bi hay sân si, cảm giác này là một tâm rộng lớn, bao dung, độ lượng hay cảm giác này là tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhoi, nhỏ nhặt, nhỏ bé, ganh tị, đố kỵ, hơn thua.
Mình xem cảm giác của mình lớn hay nhỏ thì mình làm cho tâm của mình rộng mở ra, làm cho cảm thọ của mình ngọt ngào, từ ái, yêu thương, rộng lớn, đó gọi là tu tâm. Nếu như mình chỉ nhìn ra bên ngoài, hướng ngoại, mình cứ nhìn cái này để so đó cái này đẹp, cái kia xấu, cái này nhỏ, cái kia bự, cái này tốt, cái kia không tốt thì như vậy, mình tu đến chết mình chỉ làm được chút phước thiện ở ngoài. Mình không thấy được tâm mình, mình không thấy được tham, sân, si, bản ngã đang âm thầm xâm chiếm, điều khiển, xúi giục, dẫn dắt trong tâm của mình.
II. Hướng nội tu hành
Vậy nên kinh tạng Nikāya nhằm mục đích hướng dẫn mình hướng nội, quay ngược trở vào. Chúng sanh phàm phu, vô minh, thói quen, tập khí của chúng sanh, tập quán của chúng sanh là tập quán hướng ngoại, để nhìn ra, phân biệt người này tốt người kia xấu, người này nhỏ, người kia bự, người này đẹp, người kia không đẹp, người kia trắng, đen, cao, ốm, mập… Đó là chúng sanh phàm phu, đau khổ mãi mãi vì tâm hướng ngoại.
Đức Phật dạy trí tuệ trong kinh Nikāya phòng hộ sáu căn, thu nhiếp sáu căn, là quay trở về kiểm soát mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình và luôn luôn nhìn ngó cảm giác trong con người mình. Bất cứ lúc nào cảm giác dễ chịu, vui vui là có tham, có ái trong đó. Bất cứ lúc nào cảm giác bực bội, bức xúc, khó chịu là có sân trong đó. Cảm giác đơ đơ, trơ trơ, thường thường là có si trong đó. Chúng ta phải nhìn thấy, quán chiếu thân này là vô thường.
Như khi đọc bài thì rất thuộc, quan trọng là lúc mình gặp chuyện thì có còn nhớ không mới quan trọng. Làm sao mình phải nhớ được thân này là tạm bợ, cảnh này vô thường.
Phải nhớ: Ta rồi cũng sẽ già, ta không thoát khỏi già, ta rỗi cũng sẽ bệnh, ta không thoát khỏi bệnh, ta rồi cũng sẽ chết, ta không thoát khỏi chết. Tất cả những nghiệp nào ta làm thiện hay ác thì ta phải là người thọ lãnh, thừa hưởng nghiệp đó.
Mình phải thường nhớ để mình phải tháo gỡ những suy nghĩ, cảm giác, nhận thức theo thường tình, mê lầm của chúng sanh, mình thắp sáng lên ngọn đèn linh thiêng, trí tuệ trong tâm mình. Mình luôn nhắc mình: “Thân này là vô thường, người ta liếc liếc thì kệ người ta. Mình đừng liếc lại. Mình phải kêu tâm ơi, hiền đi tâm, nhớ hiền nha tâm, mình tu là hiền nha.”
“Người tu tâm thật là hiền,
Trong ngoài thanh tịnh nụ cười bình yên,”
Nên nhớ hiền thiện và một nụ cười bình yên, nên nhắc tâm mình “Mình tu thì phải là hiền, phải là lành, phải là thiện, phải là ngọt ngào, dễ thương nha.”
Vậy mọi người có muốn ngọt ngào, dễ thương không hay là chịu không dễ thương? Thấy cổng bên ngoài ghi là “Gặp người khó chịu thì mình chịu khó!”, ý nói gặp người khó chịu thì mình phải dễ chịu, gặp người khó thương thì mình phải dễ thương, mình gặp một người đang phừng phực, đang nóng lên thì mình phải mát mẻ, mát rượi, mình gặp một người ta đây, hơn thua, thì mình phải thực tập hạnh khiêm cung, cúi nhường. Chính ở chỗ đó mình mới khuất phục được tâm …19:01.
Còn nếu người ta muốn hơn thua mà mình muốn hơn thua nữa thì sẽ đi về đâu? Chiến tranh, đau khổ, nước mắt, không đi tới đâu, còn nếu họ muốn hơn thua mà mình hạ thấp mình xuống, mình để cho hơn là họ chịu ngay. Mình thấy giống như mình thua nhưng thật sự là mình thắng, mình thắng cái tôi, cái ta, cái bản ngã của mình.
Vậy nên Đức Phật dạy:
Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng
(Kính Pháp Cú)
Thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất, thắng mình là thắng cảm giác hơn thua trong con người mình, thắng được cảm giác đúng sai trong con người mình, thắng được cảm giác phải quấy trong con người mình. Thắng được cái tôi trong con người mình bắt cái tôi của mình phải cúi xuống, hạ xuống, lạy xuống, hụp xuống, mình khuất phục được bản ngã của mình. Mình giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ được cảm thọ của mình, mình làm cho cảm thọ của mình được an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào, dễ thương, từ ái.
Nên Linh Quy Pháp Ấn như là thẩm mỹ viện của tâm linh. Trước giờ quý vị chỉ nghe thẩm mỹ viện ở ngoài là sửa mắt, sửa mũi nhưng quý vị chưa nghe thẩm mỹ viện tâm linh, nay quý vị đã tới thẩm mỹ viện tâm linh rồi. Đẹp chưa? Nên mình tu học là đi vào viện thẩm mỹ tâm linh. Làm sao con mắt mình nhìn như thế nào, có nhìn bằng mắt thương không?
Tại sao chồng hay vợ ở nhà mà mình nhìn, trừng, phùng mang, trợn mắt như vậy? Như vậy là mình tự làm cho mình khổ, người xúc chạm với ánh mắt đó người ta cũng đau. Mình không muốn khổ đau sao mình lại nhìn người bằng ánh mắt vậy? Đó lại là người thân của mình, người ân, tình nghĩa của mình, thậm chí là anh em ruột, cha mẹ, mà mình lại đi xả ra những cảm giác tiêu cực, những cảm giác nóng bức, nhiệt não, bức xúc.
Như vậy là tự mình thiêu mình, mình đốt người thân thương nhất của mình. Tự mình hành hạ mình bằng những cảm giác giống như than đỏ, than hồng, rồi mình lại cho những người chung quanh mình phải chịu đựng những cảm giác bức xúc, nhiệt não của mình như vậy. Mình thông minh quá vậy? Mình có thông minh không? Hay là vô minh?
Mình tự hỏi tâm mình “Nhà ngươi cứ sân si hoài!” khi những cảm giác bực bội lên thì mình quay vào kêu “Thôi cảm giác ơi, nghe lời, dễ thương đi, ngoan, để cho ta tu, đừng quậy ta nữa.” Mình kêu cảm giác của mình như vậy, đó gọi là giáo dục, huấn luyện cảm giác, tu tập cảm giác, đó cũng gọi là tu tâm, trị tâm, là thuật trị tâm. Đó gọi là như lý tác ý, tác động tâm lý đúng như chân lý, mình huấn luyện cảm thọ của mình, lúc nào cũng mát mẻ, giống như không khí của Bảo Lộc vậy, lúc nào cũng dễ thương, ngọt ngào, dễ mến, dạt dào là tình thương tâm rộng mở.
Như vậy gia đình có hạnh phúc không? Có bình an không? Không cần ghi tên cầu an mà cứ tu cảm giác an lạc, dạt dào, ngọt ngào, đi đến đâu là lan tỏa, giống như quạt máy, máy điều hòa nhưng mình không chịu đi làm cái đó, mình cứ cầu xin, mình không chịu làm nên xin hoài xin không được nên nghỉ, không xin nữa, không đi tu nữa nên nghỉ. Đó là mình mê tín.
Đức Phật chỉ cho mình cách quay trở lại nhận diện các cảm xúc nên quán thọ trên thọ là vậy, quay trở lại nhận diện cảm giác của mình, để xem cảm giác này làm khổ mình, khổ người hay nó làm vui cho mình, vui cho người, lợi hay là cảm giác này đưa đến hại.
Nếu cảm giác này hành hạ mình hành hạ người, làm đau khổ mình, làm đau khổ người khác thì mình xin từ bỏ cảm giác này. Mình xin giải tỏa, giải phá cảm giác này, giải phóng cảm giác này, giải thoát cảm giác này. Và mình tác ý, mình làm cho mình sanh khởi lên một cảm giác thật là dễ chịu, ngọt ngào, thật là yêu thương, dạt dào tình thương.
Chúng ta tu như vậy, đó là những pháp hành trong kinh tạng Nikāya mà mình phải tập kiểm soát thân mình, bước chân, lời nói của mình, kiểm soát ánh nhìn của mình, kiểm soát từng hành động, cử chỉ của mình, để không gây ra những lỗi lầm, tổn thương cho những người thân thương nhất trong cuộc đời của mình. Nhiều khi một lời nói vô tình, mất chánh niệm, lời nói với cái tôi, cái ta, với sự bực bội mà mình không kiểm soát được, mình làm cho cha mẹ mình khổ đau rất nhiều.
Mình làm cho chồng, con mình rất xót xa, mà mình không biết. Khi mình quay trở lại nhận diện được ngũ uẩn của mình rồi, mình đọc được những cảm giác, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm, mình sẽ thấy được hang ổ của tham, sân, si, cội nguồn của các cảm xúc, mình sẽ thấy được cái gì sẽ làm cho mình khổ đau và mình biết được thế nào làm cho mình được bình an, hạnh phúc, nó ngay ở trong con người của mình, ngay trong cảm giác, cảm thọ, suy nghĩ của mình, không có ở bên ngoài.
Chính lúc đó mình phải có một tình thương thương mình thật nhiều, vì mình là nạn nhân của vô minh, là nạn nhân của tham, sân, si, của bản ngã. Sau khi mình thấy được mình là nạn nhân của tham, sân, si rồi, thì mình nhìn những người chung quanh mình, cũng đều là nạn nhân của tham, sân, si, họ vì tham nên đau khổ, cũng giống như mình vì tham khổ đau, họ vì sân giận họ đau khổ cũng giống như mình đã từng bao nhiêu lần sân hận, khổ đau. Họ vì si mê, vì hơn thua, bản ngã nên họ sống trong nước mắt, trong sầu bi, ưu não, mình cũng giống y vậy, từ đó mình có sự cảm thông, thông cảm, mình có sự thấu hiểu. Khi mình đã cảm thông, thấu hiểu thì mình có sự bao dung, độ lượng và từ tâm đối với tất cả hữu tình chúng sanh.
Lúc đó mình đi đến đâu là lan tỏa tình thương, mỗi suy nghĩ của mình là xuất phát bằng tình thương, mỗi lời nói của mình là xuất phát bằng từ tâm. Mỗi hành động, cử chỉ của mình sẽ đem lại sự ngọt ngào, ấm áp cho tự thân mình và cho những người chung quanh, cha mẹ, chồng con, những người trong gia đình của mình. Thật đẹp biết bao, tu là vậy, tu là trở thành người đẹp trong Phật giáo.
Tu là phải càng ngày càng hiền, càng đẹp ra, càng ngày càng phải khiêm cung xuống, đó mới là chân tu. Nếu không đúng như vậy thì cẩn thận, có thể tu sai, phải điều chỉnh lại.
“Sông sâu tĩnh lặng
Lúa chín cúi đầu.”
Càng tu nhiều chừng nào thì bản ngã của mình bị hạ gục xuống nhiều chừng đó, mình càng chánh niệm chừng nào thì mọi hành vi, cử chỉ của mình càng trang nghiêm, thanh tịnh, thư thái, ung dung, chậm rãi chừng đó. Đó là “Sông sâu chảy chậm. Lúa chín cúi đầu.” Còn nếu chảy ào ào như vậy thì chỉ là suối nhỏ, con rạch, con kênh thôi, còn biển lớn thì không nhìn thấy nó chảy, nhưng nó vô lượng, vô biên.
Chúng ta có thấy hoan hỷ không? Vậy nên bí quyết trong sự tu tập trong kinh tạng Nikāya là quán chiếu cảm thọ, luôn luôn nhìn lại cảm giác trong con người của mình. Nên nhớ thật kĩ điều này rất quan trọng, xem trong cảm giác của mình có thúc giục không, nếu thúc giục thì nhiếp phục nó lại. Ví dụ mình đang đi mà nó cứ muốn đi nhanh, lẹ lẹ để chụp hình thì mình nhiếp phục lại “Đây là sự thúc giục.” bắt nó đi chậm lại. Nếu nó thúc giục như vậy, nó nhanh và bất cẩn thì xảy ra nguy hiểm không? Có khi suốt đời mình ân hận vì sự thúc giục, gấp gáp một chút đó.
Khi mình nói cũng vậy, mình kiểm tra lời nói nó xuất phát bằng tình thương hay đang có sự bực bội, nếu nó đang bực bội thì mình không cho nó nói. Mình kêu nó tịnh khẩu nghiệp “Tu rị, tu rị, ma-ha tu- rị” vì nói lên lúc này là sai, là trật, là có chuyện, là đổ vỡ, là ly tán, là đốt cháy, là phóng hỏa, là tự thiêu. Đừng cho nó nói, lúc đang giận là đừng cho nó nói. Quay vào kêu nó “Lắng xuống nha, dịu nha, mát nha, đừng có phựt lên nha, sẽ cháy nhà nha.”
Thầy hay nhắc là các vị đi đâu cũng nên đem theo một cái bình ghi chữ PCCC, đó chính là tâm hiền, tâm từ, nên đi đâu cũng phải cầm theo. Nên các vị mới xuất gia thì các thầy trao cho cái đãi lọc nước, đó chính là sự biểu trưng cho tâm từ. Đó là phòng hộ, cẩm nang, túi gấm, lá bùa hộ mạng của người tu, tức là tâm từ. Mà có được tâm từ, tâm thương này, thương như nãy giờ nói, thương mình, thương chúng sanh đều bị tham, sân, si làm cho đau khổ thì tâm thương đó mới bảo vệ mình được bình an trong bất cứ mọi hoàn cảnh. Mình không có tâm thương đó mà mình mang tâm sân thì tự tâm sân đó giết mình trước, đốt mình trước.
Không phải đau khổ là bên ngoài làm cho mình khổ, chính cảm thọ bức xúc, bực bội, thiêu đốt bên trong này làm cho mình khổ đau. Một khi trong này mình đã tu được cảm thọ mát dịu, hiền thiện, dễ chịu, ngọt ngào thì nguyên một hồ nước vĩ đại mười cây số vuông, một chút lửa tàn thuốc này mà rơi vào trong đó thì đủ sức làm cho cháy không? Sự kiện đó không thể xảy ra.
Cũng vậy, tu tập tâm từ giống như hồ nước mát trong xanh, sạch, còn có trồng hoa sen trong đó thì mát không? Đẹp không? Tâm mình phải như một hồ nước mát như hoa sen, quán tâm từ như vậy, đó là Ngài Xá-lợi-phất dạy những cách đoạn trừ khử sân hận, Ngài dạy pháp quán đó.
Chúng ta luôn luôn lúc nào cũng tập khiêm hạ, khiêm cung, dù đối với con mình, chồng mình cũng vậy. Không phải mình lấy quyền làm mẹ là mình nói gì phải nghe theo, mình phải có sự tôn trọng con của mình, chồng của mình, mình có sự khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã.
Năm khiêm hai khéo của đạo tràng Nikāya thì chúng ta sẽ thấy phép màu xuất hiện trong gia đình chúng ta. Những cự cãi, sân si sẽ giảm bớt, cho đến một lúc thì gia đình mình sẽ ngọt ngào, tuyệt vời.
Hôm nay vừa kết thúc khóa tu hai tuần xuất gia gieo duyên, tổng cộng các thiền sinh là bảy, tám mươi vị, xuất gia, cạo tóc là bốn mươi vị. Ở đây suốt hai tuần lễ không có một tiếng nào cãi nhau, mọi người hạnh phúc dạt dào, trào nước mắt, không muốn về. Vì được sống trong tâm hiền, tâm từ, ai cũng quán chiếu tâm hiền, tâm từ, tâm ngọt ngào, không ai cự cãi ai, dạt dào, ngọt ngào.
Minh Thành mong rằng Phật tử lên đây không phải là chỉ biết cảnh, chỉ lạy Phật, chỉ cúng dường, những pháp đó là tốt rồi, nhưng còn thêm một pháp cao thượng hơn nữa, thượng nhân pháp, của Đức Phật truyền trao, là quán chiếu cảm thọ, nhiếp phục tham, sân, si, tăng trưởng tâm hiền, tâm từ. Như vậy, quý vị đem món quà quý báu này về gia đình của quý vị thì đó là món quà tinh thần vô giá của Tam Bảo trao cho quý vị.
Chúc quý vị an lạc, tinh tấn.
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.
Thích Minh Thành
Ngày 23 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trí tuệ trong giáo pháp PAGEREF _Toc121062091 \h 2
II. Hướng nội tu hành PAGEREF _Toc121062092 \h 5
I. Trí tuệ trong giáo pháp
Kính thưa tất cả các Phật tử hiền trí, quý vị là những người Phật tử thuận thành trong Phật pháp, không ngại đường xá xa xôi để trở về, viễn ly xứ này với một tâm chân thành cung kính Tam Bảo. Cũng như cúng dường, đảnh lễ, thăm viếng chư tôn đức, tăng ni.
Minh Thành xin thay mặt cho chư tăng ni tại Linh Quy Pháp Ấn có vài lời ôn nhắc lại lời dạy của Đức Phật để quý vị lấy đó làm hành trang trong bước đường tu học và phụng sự.
Câu lạc bộ Tiểu Linh Đăng, đăng là ngọn đèn, linh là linh thiêng, tiểu là nhỏ. Ý nói là ngọn đèn linh nhỏ bé.
Ngọn đèn trong Phật giáo là biểu trưng cho trí tuệ. Trí tuệ ở đây không phải là mình biết nhiều kiến thức Phật giáo, không phải đọc nhiều sách, biết nhiều nghĩa lý và mình nói thao thao là trí tuệ. Đó chỉ là kiến thức Phật học.
Trí tuệ là khi nào mình biết được thân tâm của mình là cái gì cấu tạo, thân của mình là đất, nước, gió, lửa, tứ đại, tâm của mình là thọ, tưởng, hành, thức. Tâm của mình là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, rõ biết. Tâm mình gồm có bốn nhóm, ví dụ quý vị ngồi đây, quý vị nhớ về chùa Hoằng Pháp, hình bóng nhớ về chùa Hoằng Pháp đó là tưởng, cảm giác của quý vị là thân thương, đó là thọ, suy nghĩ hôm nay có khóa tu thì suy nghĩ lầm thầm đó là hành và quý vị rõ biết hình bóng chùa Hoằng Pháp, một cảm giác thân thương, một suy nghĩ đó, quý vị biết rõ được ba cái đó thì đó là thức.
Đức Phật nói người nào nhìn ra được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là người đó nhận rõ được thân tâm của mình, lúc đó người đó mới bắt đầu có trí tuệ. Tức là mình biết được tâm của mình là cái gì, còn mình thường nói tâm tâm nhưng mình không biết tâm một cách chính xác. Ví dụ mình biết tâm là suy nghĩ, hoặc mình biết tâm là sự rõ biết, nhưng đó chỉ là hai uẩn, suy nghĩ là hành uẩn, rõ biết là thức uẩn, cảm giác là thọ uẩn, hình bóng ở trong tâm là tưởng uẩn.
Ví dụ bây giờ mình nhớ về cha mẹ của mình, thì hình ảnh cha mẹ của mình đó là tưởng, mình có một cảm giác thân thương, ấm áp đó là thọ. Mình suy nghĩ “Không biết giờ cha mẹ có khỏe không, đang làm gì?” đó là hành. Và mình rõ biết được hình bóng của cha mẹ, cảm giác thân thương và suy nghĩ về ba mẹ đó mình rõ biết được thì đó là thức. Nên chúng ta biết rõ được thì mới gọi là mình nhận diện được ngũ uẩn, bằng không thì mình tụng Tâm kinh bát nhã thuộc ro ro “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” nhưng ngũ uẩn thì mình không biết thì làm sao mình chiếu? Ai cũng thuộc Bát nhã tâm kinh ro ro nhưng khi trở ra thì mình thấy mình chỉ là một đống và mình không thấy ngũ uẩn.
Mình thấy có một cái tôi, cái ta, có một cái bản ngã nên ai khen thì mình ra sao? Giương mũi lên? Ai chê thì mình sụ mặt xuống? Như vậy là mình thấy cái thân này, những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là mình, chứ mình chưa thấy nó là ngũ uẩn. Mình thấy còn có mình, còn có ta, còn có tôi, còn có bản ngã thì mình còn vô minh. Còn vô minh thì mình sẽ còn tham ái, tức là mình không biết rõ mình là cái gì thì không thấy được bản chất của tứ đại ngũ uẩn này, mình sẽ ảo tưởng về một tự ngã, về một cái tôi, về một cái ta. Mình cho rằng mình là thật, thường hằng, thường còn, thường trú nên khi nó bất thình lình tan vỡ người thân của mình hoặc tự thân của mình, mình sẽ khổ đau.
Đức Phật từng nói tất cả chúng sanh là từ vô minh là từ không thấy, không biết về ngũ uẩn, tham đắm, nắm giữ, yêu thích trong ngũ uẩn mà có khổ đau. Từ vô minh và tham ái mà có khổ đau, vô minh tức là không thấy rõ được sắc, thọ, tưởng, hành, thức; cho nó là mình.
Tham ái tức là yêu thích, nắm giữ, cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, nên tôi bị ai nhìn bằng ánh mắt xem thường một chút thì tôi sân lên. Nếu tôi được ai nhìn bằng ánh mắt trìu mến thì lúc đó tôi bị chết chìm, bị chìm đắm. Nên tất cả chúng sanh đều bị chìm đắm trong tham, sân, si. Vì không thấy biết được ngũ uẩn, không thấy biết được bản chất của thân tứ đại này.
Vậy nên thấy gì đẹp thì ham, thích, khoái, hoặc có khi ở trong cái đẹp đó, hoa hồng có gai nên đâm sẽ chảy máu. Trong cái đẹp đó có vị ngọt của cái đẹp đó, có sự nguy hiểm và tác hại của cái đẹp đó. Nó có một phương pháp thoát ra khỏi, nếu mình không thành tựu được trí tuệ trong kinh tạng Nikāya thì mình sẽ không biết cách thoát ra, mình sẽ bị vị ngọt của sắc làm cho mình say mê, điên đảo.
Ví như một cảnh đẹp làm mình không còn chánh niệm, quên hết. Như có nhiều người đi lên Đà Lạt chụp hình đồi mộng mơ, Đồi thông hai mộ, nhưng cứ lo chụp nên bị trượt chân té chết. Một chút cảnh đẹp cũng có thể đưa đến sự mất mạng, vì mình không có chánh niệm tỉnh giác, mình bị vị ngọt của cảnh đẹp đó làm cho mình quên mất sự tỉnh táo, tỉnh giác. Không phải là chỉ có mình bị người ta mắng chửi thì lúc đó mới sân si mà tham cũng chết, sân cũng chết, không chết chìm cũng chết cháy, vậy chọn cái chết nào?
Chết chìm là ví dụ cho những cảnh sắc làm cho mình yêu thích, đam mê, đó gọi là chết chìm. Chết cháy là những con người, sự vật làm cho mình bực bội, sân hận lên thì cũng chết. Vậy chọn chết chìm hay chết cháy hay là không chết? Đó là nói về tham và sân, si là cái rất sâu sắc.
Si là tất cả chúng ta hiện tại ở đây mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, chúng ta nhận thức cảm giác và nói “Giờ tôi tỉnh táo, tôi có gì đâu si!” Nhưng không thấy ngũ uẩn, không thấy thân tứ đại này vô thường, khổ, vô ngã thì lúc đó là si mê. Bất cứ lúc nào mà mình cho rằng có mình, có cái tôi, có cái ta, tôi là bằng, là hơn người kia thì lúc đó là mình đang si mê, không thấy được sự thật. Vì Đức Phật chứng ngộ là không có cái tôi, chỉ là ngũ uẩn, chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Nhưng mình lạy Phật hoài, mình tụng kinh hoài nhưng trí tuệ mà Đức Phật muốn truyền trao cho mình có khi mình còn rất xa. Vậy nên mình phải thắp lên được tiểu linh đăng trong tim của mình, đó là ngọn đèn trí tuệ, linh thiêng ở trong tâm của mình phải được thắp lên hằng ngày, hằng giờ. Bằng cách mình phải thường xuyên nhìn lại những cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ trong tâm của mình, đó gọi là nhận diện ngũ uẩn, là phương pháp tại đây tu tập, lúc nào mình cũng xem lại mình đang suy nghĩ gì, mình đang có cảm giác, hình bóng gì trong tâm của mình, hình bóng này là thiện hay bất thiện, cảm giác này là của từ bi hay sân si, cảm giác này là một tâm rộng lớn, bao dung, độ lượng hay cảm giác này là tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhoi, nhỏ nhặt, nhỏ bé, ganh tị, đố kỵ, hơn thua.
Mình xem cảm giác của mình lớn hay nhỏ thì mình làm cho tâm của mình rộng mở ra, làm cho cảm thọ của mình ngọt ngào, từ ái, yêu thương, rộng lớn, đó gọi là tu tâm. Nếu như mình chỉ nhìn ra bên ngoài, hướng ngoại, mình cứ nhìn cái này để so đó cái này đẹp, cái kia xấu, cái này nhỏ, cái kia bự, cái này tốt, cái kia không tốt thì như vậy, mình tu đến chết mình chỉ làm được chút phước thiện ở ngoài. Mình không thấy được tâm mình, mình không thấy được tham, sân, si, bản ngã đang âm thầm xâm chiếm, điều khiển, xúi giục, dẫn dắt trong tâm của mình.
II. Hướng nội tu hành
Vậy nên kinh tạng Nikāya nhằm mục đích hướng dẫn mình hướng nội, quay ngược trở vào. Chúng sanh phàm phu, vô minh, thói quen, tập khí của chúng sanh, tập quán của chúng sanh là tập quán hướng ngoại, để nhìn ra, phân biệt người này tốt người kia xấu, người này nhỏ, người kia bự, người này đẹp, người kia không đẹp, người kia trắng, đen, cao, ốm, mập… Đó là chúng sanh phàm phu, đau khổ mãi mãi vì tâm hướng ngoại.
Đức Phật dạy trí tuệ trong kinh Nikāya phòng hộ sáu căn, thu nhiếp sáu căn, là quay trở về kiểm soát mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình và luôn luôn nhìn ngó cảm giác trong con người mình. Bất cứ lúc nào cảm giác dễ chịu, vui vui là có tham, có ái trong đó. Bất cứ lúc nào cảm giác bực bội, bức xúc, khó chịu là có sân trong đó. Cảm giác đơ đơ, trơ trơ, thường thường là có si trong đó. Chúng ta phải nhìn thấy, quán chiếu thân này là vô thường.
Như khi đọc bài thì rất thuộc, quan trọng là lúc mình gặp chuyện thì có còn nhớ không mới quan trọng. Làm sao mình phải nhớ được thân này là tạm bợ, cảnh này vô thường.
Phải nhớ: Ta rồi cũng sẽ già, ta không thoát khỏi già, ta rỗi cũng sẽ bệnh, ta không thoát khỏi bệnh, ta rồi cũng sẽ chết, ta không thoát khỏi chết. Tất cả những nghiệp nào ta làm thiện hay ác thì ta phải là người thọ lãnh, thừa hưởng nghiệp đó.
Mình phải thường nhớ để mình phải tháo gỡ những suy nghĩ, cảm giác, nhận thức theo thường tình, mê lầm của chúng sanh, mình thắp sáng lên ngọn đèn linh thiêng, trí tuệ trong tâm mình. Mình luôn nhắc mình: “Thân này là vô thường, người ta liếc liếc thì kệ người ta. Mình đừng liếc lại. Mình phải kêu tâm ơi, hiền đi tâm, nhớ hiền nha tâm, mình tu là hiền nha.”
“Người tu tâm thật là hiền,
Trong ngoài thanh tịnh nụ cười bình yên,”
Nên nhớ hiền thiện và một nụ cười bình yên, nên nhắc tâm mình “Mình tu thì phải là hiền, phải là lành, phải là thiện, phải là ngọt ngào, dễ thương nha.”
Vậy mọi người có muốn ngọt ngào, dễ thương không hay là chịu không dễ thương? Thấy cổng bên ngoài ghi là “Gặp người khó chịu thì mình chịu khó!”, ý nói gặp người khó chịu thì mình phải dễ chịu, gặp người khó thương thì mình phải dễ thương, mình gặp một người đang phừng phực, đang nóng lên thì mình phải mát mẻ, mát rượi, mình gặp một người ta đây, hơn thua, thì mình phải thực tập hạnh khiêm cung, cúi nhường. Chính ở chỗ đó mình mới khuất phục được tâm …19:01.
Còn nếu người ta muốn hơn thua mà mình muốn hơn thua nữa thì sẽ đi về đâu? Chiến tranh, đau khổ, nước mắt, không đi tới đâu, còn nếu họ muốn hơn thua mà mình hạ thấp mình xuống, mình để cho hơn là họ chịu ngay. Mình thấy giống như mình thua nhưng thật sự là mình thắng, mình thắng cái tôi, cái ta, cái bản ngã của mình.
Vậy nên Đức Phật dạy:
Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng
(Kính Pháp Cú)
Thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất, thắng mình là thắng cảm giác hơn thua trong con người mình, thắng được cảm giác đúng sai trong con người mình, thắng được cảm giác phải quấy trong con người mình. Thắng được cái tôi trong con người mình bắt cái tôi của mình phải cúi xuống, hạ xuống, lạy xuống, hụp xuống, mình khuất phục được bản ngã của mình. Mình giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ được cảm thọ của mình, mình làm cho cảm thọ của mình được an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào, dễ thương, từ ái.
Nên Linh Quy Pháp Ấn như là thẩm mỹ viện của tâm linh. Trước giờ quý vị chỉ nghe thẩm mỹ viện ở ngoài là sửa mắt, sửa mũi nhưng quý vị chưa nghe thẩm mỹ viện tâm linh, nay quý vị đã tới thẩm mỹ viện tâm linh rồi. Đẹp chưa? Nên mình tu học là đi vào viện thẩm mỹ tâm linh. Làm sao con mắt mình nhìn như thế nào, có nhìn bằng mắt thương không?
Tại sao chồng hay vợ ở nhà mà mình nhìn, trừng, phùng mang, trợn mắt như vậy? Như vậy là mình tự làm cho mình khổ, người xúc chạm với ánh mắt đó người ta cũng đau. Mình không muốn khổ đau sao mình lại nhìn người bằng ánh mắt vậy? Đó lại là người thân của mình, người ân, tình nghĩa của mình, thậm chí là anh em ruột, cha mẹ, mà mình lại đi xả ra những cảm giác tiêu cực, những cảm giác nóng bức, nhiệt não, bức xúc.
Như vậy là tự mình thiêu mình, mình đốt người thân thương nhất của mình. Tự mình hành hạ mình bằng những cảm giác giống như than đỏ, than hồng, rồi mình lại cho những người chung quanh mình phải chịu đựng những cảm giác bức xúc, nhiệt não của mình như vậy. Mình thông minh quá vậy? Mình có thông minh không? Hay là vô minh?
Mình tự hỏi tâm mình “Nhà ngươi cứ sân si hoài!” khi những cảm giác bực bội lên thì mình quay vào kêu “Thôi cảm giác ơi, nghe lời, dễ thương đi, ngoan, để cho ta tu, đừng quậy ta nữa.” Mình kêu cảm giác của mình như vậy, đó gọi là giáo dục, huấn luyện cảm giác, tu tập cảm giác, đó cũng gọi là tu tâm, trị tâm, là thuật trị tâm. Đó gọi là như lý tác ý, tác động tâm lý đúng như chân lý, mình huấn luyện cảm thọ của mình, lúc nào cũng mát mẻ, giống như không khí của Bảo Lộc vậy, lúc nào cũng dễ thương, ngọt ngào, dễ mến, dạt dào là tình thương tâm rộng mở.
Như vậy gia đình có hạnh phúc không? Có bình an không? Không cần ghi tên cầu an mà cứ tu cảm giác an lạc, dạt dào, ngọt ngào, đi đến đâu là lan tỏa, giống như quạt máy, máy điều hòa nhưng mình không chịu đi làm cái đó, mình cứ cầu xin, mình không chịu làm nên xin hoài xin không được nên nghỉ, không xin nữa, không đi tu nữa nên nghỉ. Đó là mình mê tín.
Đức Phật chỉ cho mình cách quay trở lại nhận diện các cảm xúc nên quán thọ trên thọ là vậy, quay trở lại nhận diện cảm giác của mình, để xem cảm giác này làm khổ mình, khổ người hay nó làm vui cho mình, vui cho người, lợi hay là cảm giác này đưa đến hại.
Nếu cảm giác này hành hạ mình hành hạ người, làm đau khổ mình, làm đau khổ người khác thì mình xin từ bỏ cảm giác này. Mình xin giải tỏa, giải phá cảm giác này, giải phóng cảm giác này, giải thoát cảm giác này. Và mình tác ý, mình làm cho mình sanh khởi lên một cảm giác thật là dễ chịu, ngọt ngào, thật là yêu thương, dạt dào tình thương.
Chúng ta tu như vậy, đó là những pháp hành trong kinh tạng Nikāya mà mình phải tập kiểm soát thân mình, bước chân, lời nói của mình, kiểm soát ánh nhìn của mình, kiểm soát từng hành động, cử chỉ của mình, để không gây ra những lỗi lầm, tổn thương cho những người thân thương nhất trong cuộc đời của mình. Nhiều khi một lời nói vô tình, mất chánh niệm, lời nói với cái tôi, cái ta, với sự bực bội mà mình không kiểm soát được, mình làm cho cha mẹ mình khổ đau rất nhiều.
Mình làm cho chồng, con mình rất xót xa, mà mình không biết. Khi mình quay trở lại nhận diện được ngũ uẩn của mình rồi, mình đọc được những cảm giác, những suy nghĩ, hình bóng trong tâm, mình sẽ thấy được hang ổ của tham, sân, si, cội nguồn của các cảm xúc, mình sẽ thấy được cái gì sẽ làm cho mình khổ đau và mình biết được thế nào làm cho mình được bình an, hạnh phúc, nó ngay ở trong con người của mình, ngay trong cảm giác, cảm thọ, suy nghĩ của mình, không có ở bên ngoài.
Chính lúc đó mình phải có một tình thương thương mình thật nhiều, vì mình là nạn nhân của vô minh, là nạn nhân của tham, sân, si, của bản ngã. Sau khi mình thấy được mình là nạn nhân của tham, sân, si rồi, thì mình nhìn những người chung quanh mình, cũng đều là nạn nhân của tham, sân, si, họ vì tham nên đau khổ, cũng giống như mình vì tham khổ đau, họ vì sân giận họ đau khổ cũng giống như mình đã từng bao nhiêu lần sân hận, khổ đau. Họ vì si mê, vì hơn thua, bản ngã nên họ sống trong nước mắt, trong sầu bi, ưu não, mình cũng giống y vậy, từ đó mình có sự cảm thông, thông cảm, mình có sự thấu hiểu. Khi mình đã cảm thông, thấu hiểu thì mình có sự bao dung, độ lượng và từ tâm đối với tất cả hữu tình chúng sanh.
Lúc đó mình đi đến đâu là lan tỏa tình thương, mỗi suy nghĩ của mình là xuất phát bằng tình thương, mỗi lời nói của mình là xuất phát bằng từ tâm. Mỗi hành động, cử chỉ của mình sẽ đem lại sự ngọt ngào, ấm áp cho tự thân mình và cho những người chung quanh, cha mẹ, chồng con, những người trong gia đình của mình. Thật đẹp biết bao, tu là vậy, tu là trở thành người đẹp trong Phật giáo.
Tu là phải càng ngày càng hiền, càng đẹp ra, càng ngày càng phải khiêm cung xuống, đó mới là chân tu. Nếu không đúng như vậy thì cẩn thận, có thể tu sai, phải điều chỉnh lại.
“Sông sâu tĩnh lặng
Lúa chín cúi đầu.”
Càng tu nhiều chừng nào thì bản ngã của mình bị hạ gục xuống nhiều chừng đó, mình càng chánh niệm chừng nào thì mọi hành vi, cử chỉ của mình càng trang nghiêm, thanh tịnh, thư thái, ung dung, chậm rãi chừng đó. Đó là “Sông sâu chảy chậm. Lúa chín cúi đầu.” Còn nếu chảy ào ào như vậy thì chỉ là suối nhỏ, con rạch, con kênh thôi, còn biển lớn thì không nhìn thấy nó chảy, nhưng nó vô lượng, vô biên.
Chúng ta có thấy hoan hỷ không? Vậy nên bí quyết trong sự tu tập trong kinh tạng Nikāya là quán chiếu cảm thọ, luôn luôn nhìn lại cảm giác trong con người của mình. Nên nhớ thật kĩ điều này rất quan trọng, xem trong cảm giác của mình có thúc giục không, nếu thúc giục thì nhiếp phục nó lại. Ví dụ mình đang đi mà nó cứ muốn đi nhanh, lẹ lẹ để chụp hình thì mình nhiếp phục lại “Đây là sự thúc giục.” bắt nó đi chậm lại. Nếu nó thúc giục như vậy, nó nhanh và bất cẩn thì xảy ra nguy hiểm không? Có khi suốt đời mình ân hận vì sự thúc giục, gấp gáp một chút đó.
Khi mình nói cũng vậy, mình kiểm tra lời nói nó xuất phát bằng tình thương hay đang có sự bực bội, nếu nó đang bực bội thì mình không cho nó nói. Mình kêu nó tịnh khẩu nghiệp “Tu rị, tu rị, ma-ha tu- rị” vì nói lên lúc này là sai, là trật, là có chuyện, là đổ vỡ, là ly tán, là đốt cháy, là phóng hỏa, là tự thiêu. Đừng cho nó nói, lúc đang giận là đừng cho nó nói. Quay vào kêu nó “Lắng xuống nha, dịu nha, mát nha, đừng có phựt lên nha, sẽ cháy nhà nha.”
Thầy hay nhắc là các vị đi đâu cũng nên đem theo một cái bình ghi chữ PCCC, đó chính là tâm hiền, tâm từ, nên đi đâu cũng phải cầm theo. Nên các vị mới xuất gia thì các thầy trao cho cái đãi lọc nước, đó chính là sự biểu trưng cho tâm từ. Đó là phòng hộ, cẩm nang, túi gấm, lá bùa hộ mạng của người tu, tức là tâm từ. Mà có được tâm từ, tâm thương này, thương như nãy giờ nói, thương mình, thương chúng sanh đều bị tham, sân, si làm cho đau khổ thì tâm thương đó mới bảo vệ mình được bình an trong bất cứ mọi hoàn cảnh. Mình không có tâm thương đó mà mình mang tâm sân thì tự tâm sân đó giết mình trước, đốt mình trước.
Không phải đau khổ là bên ngoài làm cho mình khổ, chính cảm thọ bức xúc, bực bội, thiêu đốt bên trong này làm cho mình khổ đau. Một khi trong này mình đã tu được cảm thọ mát dịu, hiền thiện, dễ chịu, ngọt ngào thì nguyên một hồ nước vĩ đại mười cây số vuông, một chút lửa tàn thuốc này mà rơi vào trong đó thì đủ sức làm cho cháy không? Sự kiện đó không thể xảy ra.
Cũng vậy, tu tập tâm từ giống như hồ nước mát trong xanh, sạch, còn có trồng hoa sen trong đó thì mát không? Đẹp không? Tâm mình phải như một hồ nước mát như hoa sen, quán tâm từ như vậy, đó là Ngài Xá-lợi-phất dạy những cách đoạn trừ khử sân hận, Ngài dạy pháp quán đó.
Chúng ta luôn luôn lúc nào cũng tập khiêm hạ, khiêm cung, dù đối với con mình, chồng mình cũng vậy. Không phải mình lấy quyền làm mẹ là mình nói gì phải nghe theo, mình phải có sự tôn trọng con của mình, chồng của mình, mình có sự khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã.
Năm khiêm hai khéo của đạo tràng Nikāya thì chúng ta sẽ thấy phép màu xuất hiện trong gia đình chúng ta. Những cự cãi, sân si sẽ giảm bớt, cho đến một lúc thì gia đình mình sẽ ngọt ngào, tuyệt vời.
Hôm nay vừa kết thúc khóa tu hai tuần xuất gia gieo duyên, tổng cộng các thiền sinh là bảy, tám mươi vị, xuất gia, cạo tóc là bốn mươi vị. Ở đây suốt hai tuần lễ không có một tiếng nào cãi nhau, mọi người hạnh phúc dạt dào, trào nước mắt, không muốn về. Vì được sống trong tâm hiền, tâm từ, ai cũng quán chiếu tâm hiền, tâm từ, tâm ngọt ngào, không ai cự cãi ai, dạt dào, ngọt ngào.
Minh Thành mong rằng Phật tử lên đây không phải là chỉ biết cảnh, chỉ lạy Phật, chỉ cúng dường, những pháp đó là tốt rồi, nhưng còn thêm một pháp cao thượng hơn nữa, thượng nhân pháp, của Đức Phật truyền trao, là quán chiếu cảm thọ, nhiếp phục tham, sân, si, tăng trưởng tâm hiền, tâm từ. Như vậy, quý vị đem món quà quý báu này về gia đình của quý vị thì đó là món quà tinh thần vô giá của Tam Bảo trao cho quý vị.
Chúc quý vị an lạc, tinh tấn.
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.