Nhận Diện Thân Tâm 2
Tinh Hoa Nikāya – Nhận Diện Thân Tâm 2
Thích Minh Thành
Ngày 16 tháng 02 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sắc uẩn PAGEREF _Toc98865757 \h 1
II. Xúc PAGEREF _Toc98865758 \h 2
III. Niệm Thân PAGEREF _Toc98865759 \h 6
IV. Tưởng PAGEREF _Toc98865760 \h 12
I. Sắc uẩn
Kính thưa với quý thầy, chúng ta tiếp tục nhận diện về sắc uẩn.
Chúng ta thường theo thói quen nhìn: Cái chuông, đồng hồ, bàn, quạt, bảng, cánh cửa, căn nhà, ngôi chùa... nếu như mình thấy cái nào ra cái nấy như vậy thì vĩnh viễn là phàm phu. Tại vì nhìn thấy cái nào ra cái nấy là thật, mình phải có một cái nhìn xuyên thấu, phá vỡ tất cả các sắc tướng. Và mình nhìn đúng bản chất của nó chứ không phải tưởng tượng nên hồi nãy chúng ta đã nhận diện tâm, cảm thọ, sắc uẩn.
Cho nên tại sao khi chúng ta vào học kinh, nghe Pháp để hiểu, rõ tâm mình sáng nhưng khi trở ra ngoài làm việc, cuộc sống sinh hoạt thường nhật thì lúc đó Pháp đi đâu mất. Đức Phật ví dụ là “trí tuệ bắp vế” tức là khi ngồi mình để bóng, bánh trái ở trên bắp đùi khi đứng lên là rớt xuống hết, không phải trí tuệ kim cương. Cho nên thật ra mỗi ngày, chúng ta tụng Tâm Kinh Bát Nhã là để nhắc nhưng mà ngặt một cái là tụng “ro ro ro” mà không biết sắc – thọ - tưởng – hành – thức chính xác là cái gì. Mình đọc ở trên chữ nghĩa, có hiểu đi nữa là hiểu một cách trừu tượng, lờ mờ. Bây giờ, chúng ta cần hiểu một cách chính xác, nhắm vô hồng tâm là bắn trúng đích đỏ như người bắn cung, bắn trúng ngay hồng tâm.
Mình tụng “chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không” nhưng mà bây giờ Ngũ Uẩn không biết, không thấy làm sao “chiếu kiến” nó được. Cho nên bước đầu tiên của chúng ta là nhận diện chính xác về Ngũ Uẩn trước.
Xin thưa các thầy, cả một cái đại tạng kinh Nikāya là nói về Ngũ Uẩn, tại vì mình coi: Thân người, đồ vật, cảnh vật, cả trái đất này là sắc - sắc uẩn. Ở trong tâm, cảm giác, những tưởng, suy nghĩ và nhận thức là tâm. Như vậy là trời, đất này là Ngũ Uẩn, là Trí vũ trụ, ngoài Ngũ Uẩn không còn gì khác nữa. Thành ra toàn bộ những giáo pháp của Đức Phật là để giải thích về Ngũ Uẩn, tất cả các góc độ, khía cạnh phương diện về Ngũ Uẩn mà mình phải thành tựu trí tuệ đó. Khi mình không thấy được Ngũ Uẩn là sống trong vô minh, bóng đêm, tự ngã, nguyên khối tưởng, tự ngã tưởng, ảo tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng, hư tưởng, điên đảo tưởng. Khi không nhìn thấy được Ngũ Uẩn thì lúc đó trong tâm có một ý nghĩ chấp thủ cho rằng sắc – thọ - tưởng – hành – thức này là mình, của mình, tự ngã của mình, vĩnh viễn là đau khồ. Tại vì nắm chặt trong này rồi, khi mình không thấy được 5 cái này, cho rằng mình có một cái “mình” nguyên khối tưởng, có một cái “tôi” trọn vẹn. Nhưng thật sự đào sâu rồi chúng ta sẽ qua Duyên Sanh Pháp, sẽ thấy thân tâm này là một bộ máy vận hành. Những định lý của nó được Đức Phật chứng ngộ được nói trong kinh Nikāya: Sanh, vận hành, diệt, chấm dứt.
II. Xúc
Bây giờ, Minh Thành tiếp tục mời các thầy trả lời câu đố, đặc biệt lắm:
“Tại sao mình có suy nghĩ?”
Bây giờ mình tu, muốn dừng suy nghĩ mà không biết tại sao có suy nghĩ thì làm sao dừng. “Nhân duyên sinh diệt”, của hành uẩn, suy nghĩ là hành. Chữ “hành” trong mười hai Nhân Duyên là khác, gồm có thân hành, khẩu hành; chứ không phải chữ “hành uẩn” này. Chữ này là ý hành thôi.
Ở đây, Minh Thành nói là chính xác trong định lý Đức Thế Tôn phát giác, phát hiện khi ngài chứng ngộ Chánh Đẳng, Chánh Giác.
Xin thưa các thầy, những câu hỏi Minh Thành đưa ra và những câu giải đáp là nằm trong kinh Nikāya, không có bất cứ một cái nào của tự Minh Thành nói hết. Chúng ta học ở đây là thuần túy ở trong tạng kinh mà không bàn những vấn đề khác, những vấn đề của các tông phái, chỉ trở về cái nguyên chất trong lời dạy của kinh. Đó là phạm trù chia sẻ của chúng ta, chỉ đi vào lời dạy gốc ở trong kinh Nikāya.
Xin thưa với thầy, chỉ có học trong kinh Nikāya thì mới đúng 100% vì không có một ai ngoài Đức Như Lai, bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác có thể nói chính xác. Đây là sự chứng ngộ của Đức Phật. Khi đi vào trong kinh Nikāya thì con “sốc” toàn tập, tại vì những cái trước giờ mình học tưởng đâu vậy là đúng nhưng khi đi vào trong đây mới thấy có những cái chưa thấy, biết.
Cho nên học kinh Nikāya thì tâm trở nên khách quan, rộng mở, sẽ tiếp nhận được những điều trước nay mình chưa thấy, chưa biết, chưa hiểu, chưa nghe. Còn nếu như cứ khăng khăng giữ những cái biết rồi, cho đó là chuẩn mực thì sẽ không tiếp nhận được những cái mới, sâu sắc hơn những cái đang thấy, biết.
Đức Phật giải thích cho mình 35 loại trí tuệ, trong mỗi một uẩn có 7 trí mà Đức Phật chứng ngộ. Từ từ đi vào, chúng ta không thể tưởng tượng nổi sự chứng ngộ của Đức Phật, không giống như trước nay mình hiểu một cách trừu tượng chung chung. Khi Ngài ngồi yên tịnh thì như bừng lên, biết hết một lần một, không phải Đức Phật chứng ngộ từng phần ở trong năm uẩn, từng góc độ, khía cạnh, phương diện của sắc – thọ - tưởng – hành - thức. Trong kinh, danh từ chuyên môn là “Xúc tập khởi cho nên thọ - tưởng - hành tập khởi”. Đây là thật sự không biết chữ Hán, không có người hướng dẫn thì giống như đọc thần chú thôi.
Tại sao mình có suy nghĩ? Tại vì mình tiếp xúc nên mới có suy nghĩ.
Ví dụ Minh Thành bữa nay gặp được thầy Thị Giả, thầy Nghiêm Đạo. Minh Thành trở về chùa mới nhớ lại hình bóng của thầy Nghiêm Đạo, hiện ra gương mặt rất hiền từ. Minh Thành suy nghĩ thầy còn nhỏ như vậy mà tu, quý quá quý. Rồi có một cảm giác dễ chịu khi tiếp xúc với thầy, rất hiền từ, nhẹ nhàng, oai nghi. Như vậy là do gặp thầy, tức là xúc, gặp thì mới có suy nghĩ, mới có tưởng về thầy, hình bóng của thầy mới lưu lại trong tâm, mới có cái cảm giác dễ chịu về thầy. Như vậy, do tiếp xúc mà có ra suy nghĩ, tưởng, hình bóng trong tâm, cảm giác; tùy theo người dễ chịu hay khó chịu hoặc là thường thôi. Như vậy là “Xúc tập khởi nên thọ - tưởng - hành tập khởi”. Đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật chứ không phải bình thường.
Bây giờ, các thầy suy nghĩ bất cứ về một người nào, vật gì, cảnh nào, món đồ gì, bất cứ nghĩ cái gì thì cũng phải tiếp xúc. Các thầy tiếp xúc trái sầu riêng rồi mới nghĩ nó có gai, thơm, ngọt, bùi, béo, bổ. Tại vì mình nếm rồi, tiếp xúc bằng nhiều cái chứ không phải chỉ tiếp xúc bằng mắt, mà bằng lưỡi nữa. Mình ăn rồi thì biết nó thơm, ngon, ngọt, bổ, béo, bùi như thế nào. Như vậy, mình mới có suy nghĩ sầu riêng ngon lắm, mình thích ăn sầu riêng. Hình bóng sầu riêng hiện ra trong tâm của mình, cảm giác khi mà nếm vô “đã đã” thế nào đó, cảm giác thích thú có mặt. Như vậy là do tiếp xúc cho nên mới có ra nghĩ ngợi, suy tư, hình bóng trong tâm và những cảm giác.
Ví dụ, có nhiều huynh đệ tâm sự là hồi xưa còn nhỏ, nhìn thấy bóng dáng của một thầy sao trang nghiêm, thanh tịnh quá. Ở trong sử truyện là ngài Xá Lợi Phất gặp ngài Mã Thắng, rồi như vậy là Ngài hỏi đạo thành tựu được Chánh Tri Kiến. Có những người huynh đệ tu tâm sự là khi xưa nhìn thấy hình bóng chư Tăng, trong lòng thấy ấm áp, gần gũi, mến thích, cung kính. Rồi về mới nghĩ đến hình bóng đó hoài, muốn làm người tu như vậy đó, dẫn dắt từ từ thì đó là do nhìn thấy. Như vậy, cái xúc này có tới 6 xúc. Chúng ta sẽ thấy rằng ở trong Ngũ Uẩn của mình vận hành khủng khiếp lắm, không có đơn giản, không như mình nghĩ tu là đơn giản, ngồi tịnh tâm thôi. Nó có cả một bộ máy vận hành trong đó, 6 xúc này là: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.
Chúng ta mở ra trong sáu Pháp, trang 107.
Sự tiếp xúc này không phải là tự nhiên mà do duyên có con mắt của mình. Nhờ có hình sắc đó, mình khởi lên sự rõ biết, ba pháp này tạo thành sự tiếp xúc của con mắt - nhãn xúc. Khi con mắt tiếp xúc là lập tức sinh ra cảm thọ, thọ do nhãn xúc sanh; nhìn thấy một cái thôi là thích hay không thích, muốn hay không muốn, ưa hay không ưa, đẹp hay xấu, sanh khởi ra cảm thọ, suy nghĩ. Nó nhanh lắm, cực kỳ nhanh. Nếu chúng ta không có nhận diện sâu sắc trong cảm thọ, trong những tưởng hành thì lúc đó bị cuốn vào mà không biết, khi mình hay thì đã rồi. Thành ra sự tiếp xúc của mình là con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, lưỡi, thân tiếp xúc. Ngay tại bây giờ là thân chúng ta tiếp xúc, tiếp xúc bàn ghế, quần áo, mắt kính, chân tiếp xúc với gạch.
Rồi ý xúc là sự tiếp xúc ở trong tâm ý của mình.
Trở lại vấn đề “Tại sao mình có suy nghĩ” vì mình có tiếp xúc với cảnh vật, đồ vật, con người đó thì có suy nghĩ. Trong cái suy nghĩ của mình có nhiều dạng suy nghĩ, không phải Đức Phật phân loại suy nghĩ. Không phải suy nghĩ nào cũng giống như suy nghĩ nào. Minh Thành muốn chúng ta đi chầm chậm cho thiệt là chắc, nắm vững chắc những cái thấy, biết, trí tuệ căn bản này. Bởi vì nhận diện Ngũ Uẩn giống như cánh cửa, nếu không đi qua thì không thể nào đi vào trong đây ngồi được.
Tất cả sự tu hành, nếu không nhận diện ra 5 uẩn thì không chạm tới sự thật của thân tâm, đa số là ở trên tưởng tượng. Thành ra, khi mình nhìn ra được cảm thọ, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, rồi bắt đầu chúng ta sẽ thấy tâm của mình ghê gớm lắm. Chúng ta sẽ đọc kinh “sống” chính ở trong tâm. Chúng ta thực tập nhận diện 5 uẩn rồi sẽ thấy tâm hoạt động như thế nào. Bây giờ mình tập sẽ luôn luôn coi là đang có cảm thọ gì, dễ chịu hay khó chịu. Lúc ra chơi, cảm thọ thấy dễ chịu hay khó chịu? Dễ chịu nên muốn ra lẹ hơn một chút, giờ xả Thiền gần tới 5 phút cuối, nhất là mấy vị mới mà ngồi chưa quen. Bây giờ, chúng ta ngồi 1 tiếng 45 phút mà gần tới 1 tiếng 40 phút, lúc đó khi bắt đầu nghe chuông, trong cảm thọ này mình coi nó vận hành làm sao, thích thú phải không. Mình sẽ thấy được cái cảm giác, ý hành, cái suy nghĩ, hình bóng trong tâm hoạt động. Tập thường xuyên, nhìn lại cảm giác bên trong đang nghĩ gì, có hình bóng gì trong này. Quay trở lại kiểm soát tâm mình, nhận diện các thọ - tưởng - hành, nhận diện thân này, coi nó đi như thế nào và bắt nó đi như thế nào, không cho đi theo kiểu nó muốn, đi trong thúc giục thì bắt đi chậm lại. Nó đứng lên trong cái thô, tháo thì bắt nó đứng trong thong dong.
III. Niệm Thân
Khi chúng ta bắt đầu qua tới phần “niệm thân” thì sẽ thấy Đức Phật dạy 6 khía cạnh tu tập về thân, tại vì sắc uẩn này làm cho mình khổ não lắm.
Thành ra Đức Thế Tôn dạy mình tu, muốn nhiếp phục, tu tập được thì không phải đơn giản một Pháp mà mình có thể trị được. Sắc thủ uẩn này nặng nề, thâm căn cố đế ngàn đời muôn kiếp cho nên tu là Đức Phật đưa ra 6 phương diện, 6 khía cạnh, 6 thần kiếm, 6 trí tuệ để có thể nhiếp phục được thân này: Niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm 32 thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi, niệm Tứ đại.
Thông thường, người ta thực tập Thiền dễ dừng lại ở 3 cái này: Niệm hơi thở vào ra, niệm oai nghi, niệm hành động nhẹ nhàng, đi đứng nghiêm trang oai nghi. Ba cái sau là ít có thực hiện nhưng mà nó phá thân kiến. Tại vì cái sắc của chúng ta là sắc thủ uẩn, có chữ “thủ” ngay chính giữa, cái tâm vô minh nắm giữ ở trong tổ hợp hình hài sắc chất này, nắm chặt, nắm cứng, nắm chắc không có buông ra, cho nên gọi là sắc thủ uẩn - là sự nắm chặt vào trong tổ hợp của hình hài sắc chất này. Đó là nguyên nhân của đau khổ.
Bây giờ mình nói đơn giản, có người đến nói mình này kia một hai câu phê phán, chẳng hạn như mới lần đầu tiên gặp đi lại nói mình: “Nhìn ông mặt thấy ác quá”, lúc đó mình sao? Đây là xúc phạm tới xác thân, xem thường, nói xấu, khinh khi. Chúng ta thấy không, chúng ta bám chặt vô sắc thủ uẩn này. Cho nên ba phần quán chiếu: Niệm tứ đại, niệm 32 thể trược, niệm chín giai đoạn một tử thi là hết sức quan trọng. Nếu không tu tập cái này là không phá được thân kiến - kiến chấp về thân. Nếu không có thực tập quán chiếu về Tứ đại, 32 thể trược, chín giai đoạn của một tử thi thì mình không có thể phá được tham tùy miên, dục, ái.
Sau này, chúng ta đi vào rồi sẽ thấy Đức Phật dạy, tham, sân, si dùng cái gì để trị, làm sao để thành tựu Chánh Tri Kiến. Tham, dục là bệnh nặng nhất của chúng sanh, cũng là quan ải khó nhất của người tu đối với sắc dục. Để mình tu cho an ổn thì phải có phương pháp để nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận; còn nếu để hoài bình thường như vậy là không có cách nào phá được, nhiếp phục, đoạn tận, diệt tận nó. Nếu mình không có nhiếp phục, đoạn tận, diệt tận thì không có thể nào ly dục, ly ác bất thiện pháp, mà đi vào được sơ Thiền - trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
Cho nên trong sự tu theo tinh thần kinh Nikāya là phải quán bất tịnh, mới phá được kiến chấp về thân này. Nhiều khi học thì nói “bàn Thiền, tọa Thánh mà đối cảnh như ngu, tuy ở cửa không chưa thành vô ngã”.
Khi nói thì nghe nó “đã”, tới thực tế đời sống thì cái thân “chình ình” một đống, cái bản ngã to đùng, ai chạm tới một chút là sân si. Cái tôi, cái ta, cái mình, cái tự ngã chứ không thấy đây là một đống đất, nước, gió, lửa. Cho nên sự quán về Tứ đại là hằng ngày, hằng giờ và an trú thường xuyên và liên tục. Quán nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều chục năm cho đến chứng ngộ. Từ từ, chúng ta đi vào Trung Bộ Kinh thì sẽ thấy cách Đức Phật dạy.
Cho đến thực chứng, tức là khi nhìn vào cái thân này mình chỉ thấy nó là Tứ đại, một đống gan, ruột, máu, mủ, phân, nước tiểu, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, tỳ, phế, thận, mỡ, đàm, dãi, chất nhờn trong khớp xương...Trong đây là một đống bầy nhầy, nhơ nhớp, bất tịnh. Mình ngồi xuống quán chiếu, nhổ hết hơn ba mươi cái răng để xuống máu chảy ra, rứt mười móng tay, mười móng chân để một đống, cạo hết tất cả lông trên cơ thể để một đống. Sau đó, rạch một đường từ trên xuống lột da mặt ra, máu và đầu lâu hiện ra, tiếp tục rọc xuống nữa banh ra là một bộ đồ lòng, phèo, phổi, ruột, gan nhơ nhớp, trong này không có ai, không một bản ngã nào, không có một cái tôi, cái ta. Lột lớp da máu chảy, mỡ lòi ra, thịt, xương bày ra. Trong đây chỉ là đất, nước, gió, lửa, những thứ nhơ nhớp, bất tịnh, hôi thúi, mang vác một tấm thân đầy dãy những tham dục, khao khát và thèm muốn, đòi hỏi, đầy những cái ham muốn, sự đòi hỏi, sự thúc giục. Một ánh nhìn thôi có thể chửi nhau, đánh nhau, đâm nhau, giết nhau hoặc lời nói thôi có thể đổ vỡ hết tất cả, huynh đệ tương tàn, mẹ con chia cắt, vợ chồng phân ly. Vì bản ngã, cái tôi, cái ta ở trong vô minh, chấp thủ này mà làm dựng lên những vở tuồng khổ đau, bất hạnh, đầy nước mắt và máu trên toàn thế giới.
Nhìn sâu, quán sâu sắc vào trong và lột trần ra hết tất cả, phơi bày ra hết những gì bị che kín từ vô lượng kiếp cho đến nay, được Đức Thế Tôn phơi bày, vạch trần, khai thị, hiển lộ, minh thị, tuyên thuyết, hiển thị, phơi bày, trình bày để chúng ta nhìn thấy một đống đất, nước, gió, lửa này; chất chứa hàng ngày do cha mẹ sanh, do Tứ đại tác thành, cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Không có cái gì là tôi, của tôi trong đây. Bất thình lình ngã đập đầu xuống, tai biến mạch máu não trở thành người thực vật, chỉ cần tiếp xúc một tiếng ho là có thể chết, có thể trở thành một đống tro. Ai ở trong đây? Không có ai trong đây, thân trống rỗng, chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương phủ ngoài một lớp da trơn láng che hết muôn vàn thứ nhớp nhơ. Nhìn sâu vào bản chất của thân xác này, mọi sắc tướng xung quanh. Đó là mình quán chiếu về Tứ đại và 32 thể trược.
“Chín giai đoạn một tử thi là gì?” Là cái thân này “lấy hơi lên” và những hơi thở khó khăn sau cùng, trút hơi tàn nó nằm xuống, bất động, giống như khúc cây. Một ngày, hai ngày, năm, bảy ngày là trương phình lên, xanh nám lại, nứt nẻ, rỉ chảy ra những chất tanh hôi không ai chịu nổi, phân hủy rồi bắt đầu sanh ra những con giòi bò lúc nhúc, trong các bộ phận mềm sanh ra trước, bò lúc nhúc ăn trong đó. Từ hai khóe mắt tuôn ra những con giòi, ăn dần dần ăn hết, ruồi nhặng ăn, những con: Kên kên, diều hâu, quạ bay xuống ăn. Những con chó rừng táp, ngoạm giật ra những sớ thịt, giòi ăn, chim ăn, chó ăn, côn trùng ăn. Cái thân này trở thành một bữa tiệc lớn cho những loài thú vật, dần dần còn vương lại chút xíu da thịt, dần dần da thịt cũng tan biến, cuối cùng còn vương vấn lại những sợi gân, dần dần nắng mưa, gió táp rã hết còn lại bộ xương trắng màu vỏ ốc. Bộ xương này theo năm tháng, nắng mưa rã ra, rời rạc kia là xương sọ, đó là xương mông, rải rác xương ống chân, xương bàn chân, đây là xương cánh tay. Cuối cùng từ từ những cái xương này cũng rã, nát ra trở thành bột tan biến thành cát bụi, gió thổi vào hư không. Cuối cùng thân này là trống rỗng, trống không, cát bụi, hư không. Không có ai trong này, là vô ngã. Chỉ là Tứ đại, 32 thể trược, một nắm tro tàn.
Thường xuyên an trú trong cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ đó thì mình mới có thể nhàm chán những dục vọng đối với thân xác của người, cũng như đối với thân xác của chính mình. Nó làm cho sanh khởi những cảm giác nhàm chán, gớm ghiếc, ê chề, gớm ghê, chán chê; nó đưa ra sự ly tham, yểm ly, chán lìa, hướng đến sự từ bỏ, không có yêu thích, thích thú trong những dục vọng, những hành vi của dục vọng. Nó nhàm chán, ngao ngán, từ bỏ hướng đến ly tham, xuất ly, viễn ly, xã ly đối với thân xác, dục vọng, ái dục, dâm dục, đối với những thèm khát, khao khát, thèm muốn, khát ái, để được hạ nhiệt, giảm nhiệt, đoạn giảm. Rồi tâm mình dần dần sẽ đi đến chỗ an tịnh, lắng dịu. Đối với các dục vọng, không còn ưa, thích, không còn trông, mong, tưởng, khoái, thèm, khát, muốn, đòi, tìm, kiếm, truy tầm nữa và tâm an yên.
Do công phu Thiền quán về Tứ đại, 32 thể trược và chín đoạn của một tử thi, đánh phá vào trong cảm thọ khát ái, dục ái, tham dục, ái dục, dâm dục. Đây là công phu tuyệt đối quan trọng của các vị tỷ - kheo thời Đức Phật, rất là nhiều những vị quán Pháp này mà chứng ngộ diệt tận dục ái, khát ái, thành tựu cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia. Thành ra, những Pháp đó là đánh phá thẳng vào trong bám chấp, cứng chắc vào tổ họp hình hài, xương da, thịt, máu này.
Và sự quán chiếu này phải được thường xuyên, liên tục nhắc nhở, bứng tận gốc rễ ở bên trong nội tâm của mình là cảm thọ khao khát, ưa thích, thèm muốn. Trong đó, mình nhìn thấy ở ngoài giống như là ly rồi đó nhưng mà bên trong có ly không? Sự quán chiếu này đi thẳng vào trong, đào bới cây cổ thụ ngàn năm trong tâm, bứng tận gốc rễ, còn nếu để đó nhìn thấy giống như an an ổn ổn nhưng đụng chuyện rồi xong vài bữa, nghe ông kia “ra đời” rồi. Hôm nay, tay bồng tay bế, chạy lại chào sư ông, lâu không gặp tóc mọc dài ra dẫn thêm một bà và ba bốn đứa.
Thời Đức Phật còn tại thế, pháp quán này là phương pháp thực tập hằng ngày của tất cả các vị tỷ-kheo, giống như bây giờ ngồi thiền, tụng kinh hằng ngày, là pháp hành trì thường nhật theo thời khóa biểu của các tỷ-kheo thời Đức Phật còn tại thế.
Hồi nãy giờ, chúng ta nói một chút để đưa tâm mình vào Thiền quán, lúc mình nghe thọ, tưởng, hành vận hành thấy ớn không? Đống tim, gan, máu, thịt, xương, phân, nước tiểu, giòi... có mấy thầy nghe mặt nhăn, chính những cái đó là Thánh Trí Tuệ. Chính những cảm thọ nhàm chán, nhờm gớm, thấy ớn thì mỗi lần sanh được cảm thọ đó là Thiện pháp, Thánh pháp, Thánh trí tuệ. Tại vì, nhìn thử trong cuộc đời tu của mình trong hằng ngày được mấy lần có được những cảm giác đó, ít lắm, rất là ít, cực kỳ ít. Trừ khi mình chứng kiến cảnh tai nạn giao thông mà bầy nhầy một đống văng tàu hủ, bánh lọt ra tùm lum. Lúc đó, mình mới thấy khủng khiếp, kinh hãi và bị ám ảnh. Còn thật sự người tu ngày nào cũng quán như vậy hết, mới đưa đến sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ, viễn ly tất cả các dục, không có ưa thích, thèm muốn, khao khát, tìm tòi nữa.
Chúng ta mới thấy là cái ái của mình nặng, dày lắm. Bây giờ chúng ta lại trước gương nhìn mặt mình, lúc đó có suy nghĩ, cảm giác như thế nào. Chính mình nhìn thấy cũng yêu thích hình dáng này của mình, dù cho xấu đau, xấu đớn chứ không phải là đẹp. Đó là vô minh, tự ngã, ái thủ, yêu thích và nắm giữ hình hài, hình dáng, hình tướng, hình thể, hình sắc, đó là sắc uẩn. Và chính những yêu thích, nắm giữ đó, cái tự cho là tôi, của tôi ở trong hình hài này nên mình không giải thoát được. Mình yêu thích hình hài này thì mình sẽ yêu thích hình hài kia, yêu thích hình hài kia thì có hình hài khác, thêm mấy hình hài nhỏ nữa. Và tiếp tục ở trong một vòng lẩn quẩn của sầu, bi, khổ, ưu, não, nước mắt đau khổ và sanh tử tiếp nối, cho đến khi nào không còn yêu thích hình hài, hình sắc này nữa. Mình thấy cái này là một thứ bất tịnh, nhơ uế, ổ chứa nhóm bệnh hoạn, ổ vi trùng, vi khuẩn, vi rút. Không còn khoan khoái, yêu thích. Nhìn vào gương mình thấy đây là Tứ đại, bất tịnh. Tác ý như vậy đó, đây là thứ vô thường. Chính cái này cứ khởi dục, tham muốn, tìm cầu hoài thì lúc đó mình mới gỡ ra được chữ “thủ” ở trong sắc thủ uẩn, mới dần dần gỡ ra được chữ “ái”, chữ “vô minh”.
Đó là Minh Thành giới thiệu tổng quát sơ lược để nhận diện sắc uẩn. Phải nhận diện hình hài này, hình hài đầy bất an, lo lắng, bệnh tật và sợ hãi. Chúng ta ngồi đây thấy bình an nhưng ở ngoài kia, năm sáu triệu người đã ra đi. Mấy trăm triệu người nhiễm bệnh, trong nước mình mấy chục ngàn người đã chết, hơn hai triệu rưỡi người là con số báo cáo, còn không có báo cáo thì còn nhiều hơn gấp ba lần. Và bất cứ hình hài nào, bất cứ lúc nào cũng có thể ra đi bất thình lình, đột ngột. Nhưng mà khổ nổi trong cảm giác, suy nghĩ, nghĩ tưởng của mình là mình như vậy hoài, dễ gì chết, bảy chục tuổi mới chết thì suy nghĩ như vậy là vô minh.
Bây giờ lên ngồi học, mình nghĩ ngày mai cũng học y như vậy, suy nghĩ đó là vô minh, chưa chắc. Tất cả Pháp này biến động, đang vận hành, Đức Thế Tôn gọi là các hành, tức là sắc - thọ - tưởng – hành - thức luôn luôn ở trong trạng thái vận hành, dịch chuyển, thuyên lưu, biến diệt. Nhưng mình nhìn thấy là nó như vậy hoài, chừng nào chết rồi lúc đó khóc, lúc gặp tai nạn mới thấy là khổ, bình thường mình không thấy nó đang vận hành.
Cho nên chúng ta học những Thánh Trí Tuệ của Đức Phật để giải phá hết những chấp thủ, mê lầm. Những sự ngộ nhận về thân xác này sẽ được phá vỡ, phá nát, phá tung, phá sập, phá đổ. Một khi Thánh Trí Tuệ rực sáng trong tâm thì tất cả những hôn ám, si mê sẽ bị xóa sạch. Mà cái này phải được thường xuyên tác ý, an trú và quán chiếu nhắc nhở tâm, chứ còn nói vậy rồi một hồi trở ra quên, phải nhắc hoài, quán hoài, chiêm nghiệm, cho nên mới gọi là Chánh tư duy.
Sau khi thấy đúng rồi thì phải nghĩ đúng, không phải tu là không nghĩ gì hết. Hồi xưa là nghĩ sai bây giờ là nghĩ đúng, nghĩ đúng này “khế hợp” với sự thật của Đức Phật chứng ngộ. Sau khi nghĩ đúng này được vận hành cho tới một lúc thuần thục, chính nhập sự thật thì sẽ đi vào Thánh Chánh Định, lúc đó nó không nghĩ nữa. Đó là Chánh định của bậc Thánh. Còn nếu mới vô mình muốn ngồi yên lặng, đừng suy nghĩ gì hết thì tạm yên; rồi trở ra nó cũng vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã y như cũ. Tại vì mình chưa có phá vỡ được tà kiến, cái nhìn sai lầm về thân tâm này.
IV. Tưởng
Như vậy, chúng ta đã nhận diện tổng quát về sắc uẩn. Bây giờ, chúng ta tiếp tục giải thích định nghĩa 2.
Chúng ta đã tìm hiểu định nghĩa về sắc, thọ. Bây giờ chúng ta nói về tưởng, “bóng dáng thô tế trong tâm là tưởng”. Hồi nãy, chúng ta đã nhìn nhận về 3 cảm thọ, để thấy được tham - sân - si trú ẩn trong đó.
Qua tới tưởng, hình dáng, hình bóng, hình tướng ở trong tâm là tưởng. Với tưởng này thì Đức Phật phân ra làm 6 loại, tất cả những hình bóng trong tâm có 6 loại. Chúng ta cùng nhau đọc 6 tưởng: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
Tại vì thời gian chúng ta không có nhiều, cho nên mỗi lần Minh Thành gặp các huynh đệ thì sẽ cố gắng để chia sẻ thật chậm, thật kỹ nhưng mà đầy đủ.
“Thế nào gọi là sắc tưởng?”.
Bây giờ, Minh Thành đứng đây, quý thầy nhìn thấy hình dáng này. Một hồi Minh Thành đi về Linh Quy Pháp Ấn, đến tối nay hay ngày mai, quý thầy nhớ lại thì hình bóng của Minh Thành ở trong tâm của quý thầy, đó gọi là sắc tưởng. Ví dụ, mình nhìn thấy cây tùng có dáng thác đổ hay con phụng hoàng đẹp quá, người thích kiểng để ý nhìn thấy rồi trở vô. Bữa sau hay tuần sau, mình nhớ lại dáng cây tùng thác đổ, thế phụng hoàng thì hình bóng của cây tùng đó là sắc tưởng.
Mình đi lên Thiền viện Trúc Lâm, ra hồ Xuân Hương, đi một vòng thấy cái hồ rộng lớn như vậy có khi được uống sữa đậu nành nóng chẳng hạn, hay ăn củ khoai lang nướng. Rồi bây giờ mình nhớ lại hình ảnh hồ Xuân Hương rộng như vậy, có Thiền viện Trúc Lâm đẹp như vậy, bao nhiêu những đóa hoa, thành phố hoa, thành phố mộng mơ... Đó là sắc tưởng. Chữ “tưởng” là hồi tưởng lại hình bóng đó gọi là sắc tưởng. Chúng ta thấy Đức Phật chứng ngộ tuyệt diệu lắm, Đức Phật phân loại những tư tưởng, chúng ta thấy dễ sợ không. Mình tưởng cái gì mà còn không biết nữa. Đức Phật phân loại tất cả những hình dáng làm 6 dạng, 6 lĩnh vực, 6 phạm trù, 6 giới mức.
Dạng thứ hai là hồi tưởng lại âm thanh, chẳng hạn như mình đang ngồi Thiền, bỗng nhiên mình hồi tưởng lại hồi xưa đi học, có người nào đó nói với mình. Hoặc là hồi tưởng lại âm thanh làm cho mình tức giận, hoặc là hồi tưởng lại âm thanh mà làm cho mình mến thương, nhớ nhung. Mình hồi tưởng lại âm thanh của người đó nói, câu nói, giọng nói lúc đó, lời nói lúc đó, tiếng nói đó, giọng ngọt ngào, êm ái, trìu mến, dễ thương như vậy. Đó là thanh tưởng. Hồi tưởng lại âm thanh, chất giọng, lời nói. Tự nhiên đang ở trong thất, tăng đường, tự nhiên ngồi nhớ lại ngày hôm qua ông này nói một câu tức ghê. Mình nhớ cái câu của ông sư đệ, sư huynh ngày hôm qua nói. Mình khó chịu nhớ lại câu nói đó, câu đó là cái gì. Chúng ta thấy không? Mình hồi tưởng lại âm thanh đó gọi là thanh tưởng.
Trưa nay, ăn chè có ngon không quý thầy? Là hương tưởng, vị tưởng đó. Rồi đủ các món hết vậy đó. Bây giờ, mình hồi tưởng lại cái mùi, mùi hương lúc đó, cái vị lúc mình nếm vô lưỡi. Đó gọi là hương tưởng, vị tưởng. Nhớ lại cái mùi, cái vị lưỡi mình nếm vô.
Cái này là nếm đồ ăn, những cái khác còn nguy hiểm hơn, những cái đó tưởng của mình xúc vô rồi là ăn vào trong đầu suốt đời không quên, ghê gớm lắm, thành ra người ta chết vì mấy cái này. Thật ra thì món đồ đó không sao hết, con người mà gặp nhìn một chút, bắt tay hay là đụng chạm nhưng mà trở về mấy cái này mới hoạt động khủng khiếp. Trở về tưởng này, mình chuyên môn quán chiếu của vọng tưởng này đó, ghê lắm. Chẳng những tưởng lại ngay lúc đó mà tưởng tượng thêm mấy cái khác, tưởng tượng mai mốt, sau này nó sẽ ra sao. Cho nên Đức Phật mới gọi là phàm có tưởng quá khứ, tưởng vị lai, tưởng hiện tại, tưởng xa, tưởng gần, tưởng thô, tưởng tế, tưởng thắng, tưởng liệt. Tất cả phải quán chiếu những tưởng này là vô thường, trống rỗng, trống không. Còn nếu không, mấy cái tưởng này quậy mình nhiều, giờ ngồi thiền nó quấy phá, quậy mình, dẫn dắt mình, dụ dỗ. Thấy ngồi yên đó mà ở trong đang hoạt động, đừng có tưởng ngồi im ru là ngon, ngồi im ru mà trong đó có cái gì đang vận hành theo chiều hướng nào.
Bây giờ, hương tưởng, vị tưởng và xúc tưởng, xúc tưởng này ghê lắm. Hồi tưởng lại sự tiếp xúc mà có 6 xúc, hồi tưởng lại sự đụng chạm, đơn giản thôi, xúc một chút xíu mà có thể làm tóc mọc dài ra. Cầm món đồ đưa, lỡ chạm tay mà có khi tóc mọc dài ra, khủng khiếp như vậy mà lúc tiếp xúc có chút xíu thôi. Nhưng mà xúc tưởng này mới dẫn dắt, lôi kéo, dụ dỗ, thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than mà qua tới cái hành này.
Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng và pháp tưởng.
Bây giờ, mình phải giải quyết chữ “pháp”, nó rất quan trọng. Để quý thầy ngồi thiền, để thấy rõ tâm mình. Hồi xưa, Minh Thành học 28 năm mà không hiểu được chữ “pháp”.
“Pháp là gì?”
Vào niệm Duyên Sanh Pháp, trang 108. Đức Phật định nghĩa trong Tương Ưng Bộ Kinh, sắc thấy rồi, âm thanh nghe rồi, mùi ngửi rồi, vị thì lưỡi nếm rồi, xúc thì tiếp xúc, đụng chạm thân rồi. Còn bây giờ, Pháp là gì?
Bây giờ, mình nhận diện pháp trần. Pháp chính là thọ - tưởng – hành. Trong các chữ: Sắc, hương, vị, xúc, pháp thì pháp là thọ - tưởng - hành. Bây giờ, Minh Thành sẽ giải thích đơn sơ để kỳ sau chúng ta bước vào Duyên Sanh Pháp thì sẽ thấy được sự phức tạp của nội tâm này.
Hồi nãy, chúng ta đang nói tới là mình hồi tưởng lại. Ví dụ, cầm món đồ lại cúng dường cho thầy, đưa cái tay nhận mà vô tình quẹt trúng, chạm thì cái đó là xúc. Khi mình quay trở về, ngồi thiền ở trong phòng một mình, khuôn mặt của cô gái đó hiện ra, cảm thọ về cái tay chạm lúc đó hiện ra, suy nghĩ về hình bóng người đó, suy nghĩ cảm giác đó. Lúc đó, đó là pháp trần; là hình bóng của người đó, cảm thọ ngay lúc đó và những suy nghĩ, mình hồi tưởng lại, nhớ nghĩ lại.
Lúc gặp có chút xíu thôi nhưng cảm giác nghĩ tưởng cứ dây dưa, muốn gặp trở lại lần nữa. Cho nên thức ăn của mình mới có Xúc thực, muốn được tiếp xúc, rồi có Tư niệm thực. Nhớ nghĩ về cái đó là tâm mình vận hành. Đó là pháp trần, là thọ - tưởng – hành.
Tất cả mọi thứ không đi ra ngoài Ngũ Uẩn, nó bao trùm hết. Khi mình thấy được Ngũ Uẩn rồi thì thấy được hết thân tâm của mình, hình bóng đó. Tình cảm gia đình cũng vậy, đi tu mà hình bóng mẹ, ba, chị, em, dì, bà nội nhớ hoài vậy đó. Cứ hồi tưởng lại, suy nghĩ về những cảm giác thân thương của gia đình, rồi vài bữa thế nào cũng cuốn đãi đi về nhà chứ tu gì được. Đó là Pháp vận hành.
Làm sao để mà mình phá được những cái này? Phải dùng trí tuệ 5 uẩn chiếu, phá mấy cái này. Mình phải biết, đọc lên:
- “Hình bóng trong tâm là tưởng”, mày chỉ là tưởng thôi, hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm tao đi, mày là ma trơi, quỷ ám, tan biến hoàn toàn khỏi tâm tao đi, đi chỗ khác chơi. Để cho anh tu, đừng có quậy”.
Mình tác ý như vậy đó, mình đánh đuổi nó ra, những thứ này là ảo ảnh, vọng tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng, ảo tưởng, giả tưởng, điên đảo tưởng, vô minh tưởng.
- “Tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, tan biến, diệt tận, thành mây, khói, hư không đi, đừng có ở trong đây, để cho ta tu”.
Mình tác ý trong tâm, đó là tác động tâm ý. Cái này hết sức quan trọng, trong kinh Nikāya, tất cả pháp hành là trong chữ: “Như lý tác ý” - như lý là đúng như chân lý, tác ý là tác động tâm ý đúng như chân lý. Tác động tâm ý là tự mình phải dạy dỗ, giáo dục, dẫn dắt, định hướng cho tâm mình. Chứ không phải nó khởi lên, đi theo nó luôn. Mình thấy nó là ác bất thiện pháp là phải xử lý ngay tại chỗ, triệt hạ liền, diệt tận ngay tại chỗ. Đức Phật dùng hình ảnh giống như chặt cây Tha-la không cho mọc trở lại trong tương lai. Đức Phật ví dụ khiếp lắm, chặt cành, bẻ lá, đào bới gốc rễ, bằm ra thành từng miếng nhỏ. Xong rồi, đốt thành tro bụi, đổ xuống biển xuống sông, cho gió mười phương tám hướng thổi bay trở thành hư không, cho nó không bao giờ sanh trở lại trong tương lai được nữa.
Đó là ví dụ pháp hành của Đức Phật, khủng khiếp lắm, cho nên nó mới đi đến chỗ diệt tận hoàn toàn tham – sân – si, vô minh và bản ngã, không còn mầm mống để sanh trở lại trong tương lai; thì mới đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Còn nếu những hình bóng sanh khởi, rồi mình cứ để đó, vài bữa nó khởi lên nữa, xong rồi kiếm chuyện gì làm để đó, vài bữa nó khởi nữa, nó đâu có chịu nằm yên ở đó.
Bây giờ, mình phải quán chiếu, tác ý, quay vào diệt tận nó, giáo dục, định hướng tâm mình không đi theo mấy cái này. Cảm thọ này chỉ là vô thường, chạy theo những cảm giác này là hư ảo. Cảm giác một chút thì mình quán chiếu vô là rồi. Vợ ốm, con đau, chạy xe ôm không có tiền mua gạo, xong rồi nhậu vô bệnh viện. Bao nhiêu những chuyện mình quán chiếu, phá những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ này để mình thoát ra. Đó là công phu quán chiếu, công phu tác ý. Đây gọi là Chánh Tư Duy, cũng còn gọi là Thánh Tư Duy – Sự suy nghĩ của bậc Thánh.
Suy nghĩ của bậc Thánh là suy nghĩ ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, nói chung là lìa tham - sân - si, bản ngã là suy nghĩ của bậc Thánh. Bất cứ suy nghĩ cái gì để cho mình lìa cái tham thì suy nghĩ đó là suy nghĩ chân chánh, Chánh Tư Duy, suy nghĩ của bậc Thánh. Chứ không phải là mình không có suy nghĩ, dùng suy nghĩ này đuổi suy nghĩ kia. Bây giờ, rác một đống rồi mình ngồi yên làm sao sạch, phải lấy chổi quét. Trong bóng tối như vậy, ngồi im ru làm sao bóng tối tan biến, phải mở đèn lên, phải đốt lửa lên, không phải tu là thụ động, ngồi im như vậy mà phải dùng pháp đối trị diệt tận nó. Mình thấy trong đó, manh nha một cái dục là mình đánh tới tấp, tả tơi, tan tành, banh xác nó ra. Những cảm giác, nghĩ tưởng đó sanh khởi là mình đập tới tấp, lấy cái bộ xương ra đập nó, lấy 32 thể trược đập nó, lấy mấy con giòi đập nó.
Minh Thành đi qua thăm Thiền viện Mahasi rất nổi tiếng của Myanmar, treo ngay trước cửa là một bộ xương của đệ nhất Hoa hậu Myanmar. Cô này phát nguyện cúng dường để cho mọi người giác ngộ cái vẻ đẹp yêu kiều ngày xưa mà được cả nước tung hô, bây giờ chỉ là một bộ xương khô, để cho ta thức tỉnh. Có Hòa thượng Luật Sư chụp hình bộ xương đem treo ngay ở trong Luật viện, còn ở trong Thiền đường Linh Quy Pháp Ấn để nguyên một bộ xương. Có nhiều người không biết là bộ xương làm bằng nhựa thôi mà giống lắm.
Những cái đó là hết sức quan trọng, nhắc nhở mình. Đó là một pháp tu, Đức Phật gọi là cốt tưởng - sự quán chiếu về bộ xương: “Này các tỷ-kheo, có một pháp môn mà đem lại lợi ích, đem lại an lạc, đem lại hạnh phúc, quả báo lớn, công đức lớn, lợi ích lớn cho các thầy, đó là cốt tưởng. Các thầy hãy tu tập về cốt tưởng, tu tập cốt tưởng sẽ đem lại lợi ích, an lạc, hạnh phúc dài lâu trong hiện tại và tương lai cho tất cả các thầy. Này, các tỷ-kheo, đó là cốt tưởng”.
Vậy thì bữa nay, trước khi chào quý thầy con về núi thì chỉ gởi lại lời là: Mấy thầy nhớ bộ xương là được. Nhớ bộ xương khô, không phải đợi chết mới là bộ xương, đang ngồi đây là bảy mươi mấy bộ xương đang di động. Nhớ bộ xương này đừng có giận bộ xương kia, tha thứ cho bộ xương kia, hoan hỉ, hòa ái, hòa kính với các bộ xương với nhau để mình đi đến chỗ hoàn toàn giải thoát, giác ngộ.
Kính chúc tất cả quý thầy đầu năm mới có nhiều sự tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thượng tuệ, tăng thượng Tri kiến của bậc Thánh.
Thích Minh Thành
Ngày 16 tháng 02 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sắc uẩn PAGEREF _Toc98865757 \h 1
II. Xúc PAGEREF _Toc98865758 \h 2
III. Niệm Thân PAGEREF _Toc98865759 \h 6
IV. Tưởng PAGEREF _Toc98865760 \h 12
I. Sắc uẩn
Kính thưa với quý thầy, chúng ta tiếp tục nhận diện về sắc uẩn.
Chúng ta thường theo thói quen nhìn: Cái chuông, đồng hồ, bàn, quạt, bảng, cánh cửa, căn nhà, ngôi chùa... nếu như mình thấy cái nào ra cái nấy như vậy thì vĩnh viễn là phàm phu. Tại vì nhìn thấy cái nào ra cái nấy là thật, mình phải có một cái nhìn xuyên thấu, phá vỡ tất cả các sắc tướng. Và mình nhìn đúng bản chất của nó chứ không phải tưởng tượng nên hồi nãy chúng ta đã nhận diện tâm, cảm thọ, sắc uẩn.
Cho nên tại sao khi chúng ta vào học kinh, nghe Pháp để hiểu, rõ tâm mình sáng nhưng khi trở ra ngoài làm việc, cuộc sống sinh hoạt thường nhật thì lúc đó Pháp đi đâu mất. Đức Phật ví dụ là “trí tuệ bắp vế” tức là khi ngồi mình để bóng, bánh trái ở trên bắp đùi khi đứng lên là rớt xuống hết, không phải trí tuệ kim cương. Cho nên thật ra mỗi ngày, chúng ta tụng Tâm Kinh Bát Nhã là để nhắc nhưng mà ngặt một cái là tụng “ro ro ro” mà không biết sắc – thọ - tưởng – hành – thức chính xác là cái gì. Mình đọc ở trên chữ nghĩa, có hiểu đi nữa là hiểu một cách trừu tượng, lờ mờ. Bây giờ, chúng ta cần hiểu một cách chính xác, nhắm vô hồng tâm là bắn trúng đích đỏ như người bắn cung, bắn trúng ngay hồng tâm.
Mình tụng “chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không” nhưng mà bây giờ Ngũ Uẩn không biết, không thấy làm sao “chiếu kiến” nó được. Cho nên bước đầu tiên của chúng ta là nhận diện chính xác về Ngũ Uẩn trước.
Xin thưa các thầy, cả một cái đại tạng kinh Nikāya là nói về Ngũ Uẩn, tại vì mình coi: Thân người, đồ vật, cảnh vật, cả trái đất này là sắc - sắc uẩn. Ở trong tâm, cảm giác, những tưởng, suy nghĩ và nhận thức là tâm. Như vậy là trời, đất này là Ngũ Uẩn, là Trí vũ trụ, ngoài Ngũ Uẩn không còn gì khác nữa. Thành ra toàn bộ những giáo pháp của Đức Phật là để giải thích về Ngũ Uẩn, tất cả các góc độ, khía cạnh phương diện về Ngũ Uẩn mà mình phải thành tựu trí tuệ đó. Khi mình không thấy được Ngũ Uẩn là sống trong vô minh, bóng đêm, tự ngã, nguyên khối tưởng, tự ngã tưởng, ảo tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng, hư tưởng, điên đảo tưởng. Khi không nhìn thấy được Ngũ Uẩn thì lúc đó trong tâm có một ý nghĩ chấp thủ cho rằng sắc – thọ - tưởng – hành – thức này là mình, của mình, tự ngã của mình, vĩnh viễn là đau khồ. Tại vì nắm chặt trong này rồi, khi mình không thấy được 5 cái này, cho rằng mình có một cái “mình” nguyên khối tưởng, có một cái “tôi” trọn vẹn. Nhưng thật sự đào sâu rồi chúng ta sẽ qua Duyên Sanh Pháp, sẽ thấy thân tâm này là một bộ máy vận hành. Những định lý của nó được Đức Phật chứng ngộ được nói trong kinh Nikāya: Sanh, vận hành, diệt, chấm dứt.
II. Xúc
Bây giờ, Minh Thành tiếp tục mời các thầy trả lời câu đố, đặc biệt lắm:
“Tại sao mình có suy nghĩ?”
Bây giờ mình tu, muốn dừng suy nghĩ mà không biết tại sao có suy nghĩ thì làm sao dừng. “Nhân duyên sinh diệt”, của hành uẩn, suy nghĩ là hành. Chữ “hành” trong mười hai Nhân Duyên là khác, gồm có thân hành, khẩu hành; chứ không phải chữ “hành uẩn” này. Chữ này là ý hành thôi.
Ở đây, Minh Thành nói là chính xác trong định lý Đức Thế Tôn phát giác, phát hiện khi ngài chứng ngộ Chánh Đẳng, Chánh Giác.
Xin thưa các thầy, những câu hỏi Minh Thành đưa ra và những câu giải đáp là nằm trong kinh Nikāya, không có bất cứ một cái nào của tự Minh Thành nói hết. Chúng ta học ở đây là thuần túy ở trong tạng kinh mà không bàn những vấn đề khác, những vấn đề của các tông phái, chỉ trở về cái nguyên chất trong lời dạy của kinh. Đó là phạm trù chia sẻ của chúng ta, chỉ đi vào lời dạy gốc ở trong kinh Nikāya.
Xin thưa với thầy, chỉ có học trong kinh Nikāya thì mới đúng 100% vì không có một ai ngoài Đức Như Lai, bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác có thể nói chính xác. Đây là sự chứng ngộ của Đức Phật. Khi đi vào trong kinh Nikāya thì con “sốc” toàn tập, tại vì những cái trước giờ mình học tưởng đâu vậy là đúng nhưng khi đi vào trong đây mới thấy có những cái chưa thấy, biết.
Cho nên học kinh Nikāya thì tâm trở nên khách quan, rộng mở, sẽ tiếp nhận được những điều trước nay mình chưa thấy, chưa biết, chưa hiểu, chưa nghe. Còn nếu như cứ khăng khăng giữ những cái biết rồi, cho đó là chuẩn mực thì sẽ không tiếp nhận được những cái mới, sâu sắc hơn những cái đang thấy, biết.
Đức Phật giải thích cho mình 35 loại trí tuệ, trong mỗi một uẩn có 7 trí mà Đức Phật chứng ngộ. Từ từ đi vào, chúng ta không thể tưởng tượng nổi sự chứng ngộ của Đức Phật, không giống như trước nay mình hiểu một cách trừu tượng chung chung. Khi Ngài ngồi yên tịnh thì như bừng lên, biết hết một lần một, không phải Đức Phật chứng ngộ từng phần ở trong năm uẩn, từng góc độ, khía cạnh, phương diện của sắc – thọ - tưởng – hành - thức. Trong kinh, danh từ chuyên môn là “Xúc tập khởi cho nên thọ - tưởng - hành tập khởi”. Đây là thật sự không biết chữ Hán, không có người hướng dẫn thì giống như đọc thần chú thôi.
Tại sao mình có suy nghĩ? Tại vì mình tiếp xúc nên mới có suy nghĩ.
Ví dụ Minh Thành bữa nay gặp được thầy Thị Giả, thầy Nghiêm Đạo. Minh Thành trở về chùa mới nhớ lại hình bóng của thầy Nghiêm Đạo, hiện ra gương mặt rất hiền từ. Minh Thành suy nghĩ thầy còn nhỏ như vậy mà tu, quý quá quý. Rồi có một cảm giác dễ chịu khi tiếp xúc với thầy, rất hiền từ, nhẹ nhàng, oai nghi. Như vậy là do gặp thầy, tức là xúc, gặp thì mới có suy nghĩ, mới có tưởng về thầy, hình bóng của thầy mới lưu lại trong tâm, mới có cái cảm giác dễ chịu về thầy. Như vậy, do tiếp xúc mà có ra suy nghĩ, tưởng, hình bóng trong tâm, cảm giác; tùy theo người dễ chịu hay khó chịu hoặc là thường thôi. Như vậy là “Xúc tập khởi nên thọ - tưởng - hành tập khởi”. Đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật chứ không phải bình thường.
Bây giờ, các thầy suy nghĩ bất cứ về một người nào, vật gì, cảnh nào, món đồ gì, bất cứ nghĩ cái gì thì cũng phải tiếp xúc. Các thầy tiếp xúc trái sầu riêng rồi mới nghĩ nó có gai, thơm, ngọt, bùi, béo, bổ. Tại vì mình nếm rồi, tiếp xúc bằng nhiều cái chứ không phải chỉ tiếp xúc bằng mắt, mà bằng lưỡi nữa. Mình ăn rồi thì biết nó thơm, ngon, ngọt, bổ, béo, bùi như thế nào. Như vậy, mình mới có suy nghĩ sầu riêng ngon lắm, mình thích ăn sầu riêng. Hình bóng sầu riêng hiện ra trong tâm của mình, cảm giác khi mà nếm vô “đã đã” thế nào đó, cảm giác thích thú có mặt. Như vậy là do tiếp xúc cho nên mới có ra nghĩ ngợi, suy tư, hình bóng trong tâm và những cảm giác.
Ví dụ, có nhiều huynh đệ tâm sự là hồi xưa còn nhỏ, nhìn thấy bóng dáng của một thầy sao trang nghiêm, thanh tịnh quá. Ở trong sử truyện là ngài Xá Lợi Phất gặp ngài Mã Thắng, rồi như vậy là Ngài hỏi đạo thành tựu được Chánh Tri Kiến. Có những người huynh đệ tu tâm sự là khi xưa nhìn thấy hình bóng chư Tăng, trong lòng thấy ấm áp, gần gũi, mến thích, cung kính. Rồi về mới nghĩ đến hình bóng đó hoài, muốn làm người tu như vậy đó, dẫn dắt từ từ thì đó là do nhìn thấy. Như vậy, cái xúc này có tới 6 xúc. Chúng ta sẽ thấy rằng ở trong Ngũ Uẩn của mình vận hành khủng khiếp lắm, không có đơn giản, không như mình nghĩ tu là đơn giản, ngồi tịnh tâm thôi. Nó có cả một bộ máy vận hành trong đó, 6 xúc này là: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.
Chúng ta mở ra trong sáu Pháp, trang 107.
Sự tiếp xúc này không phải là tự nhiên mà do duyên có con mắt của mình. Nhờ có hình sắc đó, mình khởi lên sự rõ biết, ba pháp này tạo thành sự tiếp xúc của con mắt - nhãn xúc. Khi con mắt tiếp xúc là lập tức sinh ra cảm thọ, thọ do nhãn xúc sanh; nhìn thấy một cái thôi là thích hay không thích, muốn hay không muốn, ưa hay không ưa, đẹp hay xấu, sanh khởi ra cảm thọ, suy nghĩ. Nó nhanh lắm, cực kỳ nhanh. Nếu chúng ta không có nhận diện sâu sắc trong cảm thọ, trong những tưởng hành thì lúc đó bị cuốn vào mà không biết, khi mình hay thì đã rồi. Thành ra sự tiếp xúc của mình là con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, lưỡi, thân tiếp xúc. Ngay tại bây giờ là thân chúng ta tiếp xúc, tiếp xúc bàn ghế, quần áo, mắt kính, chân tiếp xúc với gạch.
Rồi ý xúc là sự tiếp xúc ở trong tâm ý của mình.
Trở lại vấn đề “Tại sao mình có suy nghĩ” vì mình có tiếp xúc với cảnh vật, đồ vật, con người đó thì có suy nghĩ. Trong cái suy nghĩ của mình có nhiều dạng suy nghĩ, không phải Đức Phật phân loại suy nghĩ. Không phải suy nghĩ nào cũng giống như suy nghĩ nào. Minh Thành muốn chúng ta đi chầm chậm cho thiệt là chắc, nắm vững chắc những cái thấy, biết, trí tuệ căn bản này. Bởi vì nhận diện Ngũ Uẩn giống như cánh cửa, nếu không đi qua thì không thể nào đi vào trong đây ngồi được.
Tất cả sự tu hành, nếu không nhận diện ra 5 uẩn thì không chạm tới sự thật của thân tâm, đa số là ở trên tưởng tượng. Thành ra, khi mình nhìn ra được cảm thọ, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, rồi bắt đầu chúng ta sẽ thấy tâm của mình ghê gớm lắm. Chúng ta sẽ đọc kinh “sống” chính ở trong tâm. Chúng ta thực tập nhận diện 5 uẩn rồi sẽ thấy tâm hoạt động như thế nào. Bây giờ mình tập sẽ luôn luôn coi là đang có cảm thọ gì, dễ chịu hay khó chịu. Lúc ra chơi, cảm thọ thấy dễ chịu hay khó chịu? Dễ chịu nên muốn ra lẹ hơn một chút, giờ xả Thiền gần tới 5 phút cuối, nhất là mấy vị mới mà ngồi chưa quen. Bây giờ, chúng ta ngồi 1 tiếng 45 phút mà gần tới 1 tiếng 40 phút, lúc đó khi bắt đầu nghe chuông, trong cảm thọ này mình coi nó vận hành làm sao, thích thú phải không. Mình sẽ thấy được cái cảm giác, ý hành, cái suy nghĩ, hình bóng trong tâm hoạt động. Tập thường xuyên, nhìn lại cảm giác bên trong đang nghĩ gì, có hình bóng gì trong này. Quay trở lại kiểm soát tâm mình, nhận diện các thọ - tưởng - hành, nhận diện thân này, coi nó đi như thế nào và bắt nó đi như thế nào, không cho đi theo kiểu nó muốn, đi trong thúc giục thì bắt đi chậm lại. Nó đứng lên trong cái thô, tháo thì bắt nó đứng trong thong dong.
III. Niệm Thân
Khi chúng ta bắt đầu qua tới phần “niệm thân” thì sẽ thấy Đức Phật dạy 6 khía cạnh tu tập về thân, tại vì sắc uẩn này làm cho mình khổ não lắm.
Thành ra Đức Thế Tôn dạy mình tu, muốn nhiếp phục, tu tập được thì không phải đơn giản một Pháp mà mình có thể trị được. Sắc thủ uẩn này nặng nề, thâm căn cố đế ngàn đời muôn kiếp cho nên tu là Đức Phật đưa ra 6 phương diện, 6 khía cạnh, 6 thần kiếm, 6 trí tuệ để có thể nhiếp phục được thân này: Niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm 32 thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi, niệm Tứ đại.
Thông thường, người ta thực tập Thiền dễ dừng lại ở 3 cái này: Niệm hơi thở vào ra, niệm oai nghi, niệm hành động nhẹ nhàng, đi đứng nghiêm trang oai nghi. Ba cái sau là ít có thực hiện nhưng mà nó phá thân kiến. Tại vì cái sắc của chúng ta là sắc thủ uẩn, có chữ “thủ” ngay chính giữa, cái tâm vô minh nắm giữ ở trong tổ hợp hình hài sắc chất này, nắm chặt, nắm cứng, nắm chắc không có buông ra, cho nên gọi là sắc thủ uẩn - là sự nắm chặt vào trong tổ hợp của hình hài sắc chất này. Đó là nguyên nhân của đau khổ.
Bây giờ mình nói đơn giản, có người đến nói mình này kia một hai câu phê phán, chẳng hạn như mới lần đầu tiên gặp đi lại nói mình: “Nhìn ông mặt thấy ác quá”, lúc đó mình sao? Đây là xúc phạm tới xác thân, xem thường, nói xấu, khinh khi. Chúng ta thấy không, chúng ta bám chặt vô sắc thủ uẩn này. Cho nên ba phần quán chiếu: Niệm tứ đại, niệm 32 thể trược, niệm chín giai đoạn một tử thi là hết sức quan trọng. Nếu không tu tập cái này là không phá được thân kiến - kiến chấp về thân. Nếu không có thực tập quán chiếu về Tứ đại, 32 thể trược, chín giai đoạn của một tử thi thì mình không có thể phá được tham tùy miên, dục, ái.
Sau này, chúng ta đi vào rồi sẽ thấy Đức Phật dạy, tham, sân, si dùng cái gì để trị, làm sao để thành tựu Chánh Tri Kiến. Tham, dục là bệnh nặng nhất của chúng sanh, cũng là quan ải khó nhất của người tu đối với sắc dục. Để mình tu cho an ổn thì phải có phương pháp để nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận; còn nếu để hoài bình thường như vậy là không có cách nào phá được, nhiếp phục, đoạn tận, diệt tận nó. Nếu mình không có nhiếp phục, đoạn tận, diệt tận thì không có thể nào ly dục, ly ác bất thiện pháp, mà đi vào được sơ Thiền - trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
Cho nên trong sự tu theo tinh thần kinh Nikāya là phải quán bất tịnh, mới phá được kiến chấp về thân này. Nhiều khi học thì nói “bàn Thiền, tọa Thánh mà đối cảnh như ngu, tuy ở cửa không chưa thành vô ngã”.
Khi nói thì nghe nó “đã”, tới thực tế đời sống thì cái thân “chình ình” một đống, cái bản ngã to đùng, ai chạm tới một chút là sân si. Cái tôi, cái ta, cái mình, cái tự ngã chứ không thấy đây là một đống đất, nước, gió, lửa. Cho nên sự quán về Tứ đại là hằng ngày, hằng giờ và an trú thường xuyên và liên tục. Quán nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều chục năm cho đến chứng ngộ. Từ từ, chúng ta đi vào Trung Bộ Kinh thì sẽ thấy cách Đức Phật dạy.
Cho đến thực chứng, tức là khi nhìn vào cái thân này mình chỉ thấy nó là Tứ đại, một đống gan, ruột, máu, mủ, phân, nước tiểu, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, dạ dày, ruột non, ruột già, tim, tỳ, phế, thận, mỡ, đàm, dãi, chất nhờn trong khớp xương...Trong đây là một đống bầy nhầy, nhơ nhớp, bất tịnh. Mình ngồi xuống quán chiếu, nhổ hết hơn ba mươi cái răng để xuống máu chảy ra, rứt mười móng tay, mười móng chân để một đống, cạo hết tất cả lông trên cơ thể để một đống. Sau đó, rạch một đường từ trên xuống lột da mặt ra, máu và đầu lâu hiện ra, tiếp tục rọc xuống nữa banh ra là một bộ đồ lòng, phèo, phổi, ruột, gan nhơ nhớp, trong này không có ai, không một bản ngã nào, không có một cái tôi, cái ta. Lột lớp da máu chảy, mỡ lòi ra, thịt, xương bày ra. Trong đây chỉ là đất, nước, gió, lửa, những thứ nhơ nhớp, bất tịnh, hôi thúi, mang vác một tấm thân đầy dãy những tham dục, khao khát và thèm muốn, đòi hỏi, đầy những cái ham muốn, sự đòi hỏi, sự thúc giục. Một ánh nhìn thôi có thể chửi nhau, đánh nhau, đâm nhau, giết nhau hoặc lời nói thôi có thể đổ vỡ hết tất cả, huynh đệ tương tàn, mẹ con chia cắt, vợ chồng phân ly. Vì bản ngã, cái tôi, cái ta ở trong vô minh, chấp thủ này mà làm dựng lên những vở tuồng khổ đau, bất hạnh, đầy nước mắt và máu trên toàn thế giới.
Nhìn sâu, quán sâu sắc vào trong và lột trần ra hết tất cả, phơi bày ra hết những gì bị che kín từ vô lượng kiếp cho đến nay, được Đức Thế Tôn phơi bày, vạch trần, khai thị, hiển lộ, minh thị, tuyên thuyết, hiển thị, phơi bày, trình bày để chúng ta nhìn thấy một đống đất, nước, gió, lửa này; chất chứa hàng ngày do cha mẹ sanh, do Tứ đại tác thành, cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Không có cái gì là tôi, của tôi trong đây. Bất thình lình ngã đập đầu xuống, tai biến mạch máu não trở thành người thực vật, chỉ cần tiếp xúc một tiếng ho là có thể chết, có thể trở thành một đống tro. Ai ở trong đây? Không có ai trong đây, thân trống rỗng, chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương phủ ngoài một lớp da trơn láng che hết muôn vàn thứ nhớp nhơ. Nhìn sâu vào bản chất của thân xác này, mọi sắc tướng xung quanh. Đó là mình quán chiếu về Tứ đại và 32 thể trược.
“Chín giai đoạn một tử thi là gì?” Là cái thân này “lấy hơi lên” và những hơi thở khó khăn sau cùng, trút hơi tàn nó nằm xuống, bất động, giống như khúc cây. Một ngày, hai ngày, năm, bảy ngày là trương phình lên, xanh nám lại, nứt nẻ, rỉ chảy ra những chất tanh hôi không ai chịu nổi, phân hủy rồi bắt đầu sanh ra những con giòi bò lúc nhúc, trong các bộ phận mềm sanh ra trước, bò lúc nhúc ăn trong đó. Từ hai khóe mắt tuôn ra những con giòi, ăn dần dần ăn hết, ruồi nhặng ăn, những con: Kên kên, diều hâu, quạ bay xuống ăn. Những con chó rừng táp, ngoạm giật ra những sớ thịt, giòi ăn, chim ăn, chó ăn, côn trùng ăn. Cái thân này trở thành một bữa tiệc lớn cho những loài thú vật, dần dần còn vương lại chút xíu da thịt, dần dần da thịt cũng tan biến, cuối cùng còn vương vấn lại những sợi gân, dần dần nắng mưa, gió táp rã hết còn lại bộ xương trắng màu vỏ ốc. Bộ xương này theo năm tháng, nắng mưa rã ra, rời rạc kia là xương sọ, đó là xương mông, rải rác xương ống chân, xương bàn chân, đây là xương cánh tay. Cuối cùng từ từ những cái xương này cũng rã, nát ra trở thành bột tan biến thành cát bụi, gió thổi vào hư không. Cuối cùng thân này là trống rỗng, trống không, cát bụi, hư không. Không có ai trong này, là vô ngã. Chỉ là Tứ đại, 32 thể trược, một nắm tro tàn.
Thường xuyên an trú trong cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ đó thì mình mới có thể nhàm chán những dục vọng đối với thân xác của người, cũng như đối với thân xác của chính mình. Nó làm cho sanh khởi những cảm giác nhàm chán, gớm ghiếc, ê chề, gớm ghê, chán chê; nó đưa ra sự ly tham, yểm ly, chán lìa, hướng đến sự từ bỏ, không có yêu thích, thích thú trong những dục vọng, những hành vi của dục vọng. Nó nhàm chán, ngao ngán, từ bỏ hướng đến ly tham, xuất ly, viễn ly, xã ly đối với thân xác, dục vọng, ái dục, dâm dục, đối với những thèm khát, khao khát, thèm muốn, khát ái, để được hạ nhiệt, giảm nhiệt, đoạn giảm. Rồi tâm mình dần dần sẽ đi đến chỗ an tịnh, lắng dịu. Đối với các dục vọng, không còn ưa, thích, không còn trông, mong, tưởng, khoái, thèm, khát, muốn, đòi, tìm, kiếm, truy tầm nữa và tâm an yên.
Do công phu Thiền quán về Tứ đại, 32 thể trược và chín đoạn của một tử thi, đánh phá vào trong cảm thọ khát ái, dục ái, tham dục, ái dục, dâm dục. Đây là công phu tuyệt đối quan trọng của các vị tỷ - kheo thời Đức Phật, rất là nhiều những vị quán Pháp này mà chứng ngộ diệt tận dục ái, khát ái, thành tựu cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia. Thành ra, những Pháp đó là đánh phá thẳng vào trong bám chấp, cứng chắc vào tổ họp hình hài, xương da, thịt, máu này.
Và sự quán chiếu này phải được thường xuyên, liên tục nhắc nhở, bứng tận gốc rễ ở bên trong nội tâm của mình là cảm thọ khao khát, ưa thích, thèm muốn. Trong đó, mình nhìn thấy ở ngoài giống như là ly rồi đó nhưng mà bên trong có ly không? Sự quán chiếu này đi thẳng vào trong, đào bới cây cổ thụ ngàn năm trong tâm, bứng tận gốc rễ, còn nếu để đó nhìn thấy giống như an an ổn ổn nhưng đụng chuyện rồi xong vài bữa, nghe ông kia “ra đời” rồi. Hôm nay, tay bồng tay bế, chạy lại chào sư ông, lâu không gặp tóc mọc dài ra dẫn thêm một bà và ba bốn đứa.
Thời Đức Phật còn tại thế, pháp quán này là phương pháp thực tập hằng ngày của tất cả các vị tỷ-kheo, giống như bây giờ ngồi thiền, tụng kinh hằng ngày, là pháp hành trì thường nhật theo thời khóa biểu của các tỷ-kheo thời Đức Phật còn tại thế.
Hồi nãy giờ, chúng ta nói một chút để đưa tâm mình vào Thiền quán, lúc mình nghe thọ, tưởng, hành vận hành thấy ớn không? Đống tim, gan, máu, thịt, xương, phân, nước tiểu, giòi... có mấy thầy nghe mặt nhăn, chính những cái đó là Thánh Trí Tuệ. Chính những cảm thọ nhàm chán, nhờm gớm, thấy ớn thì mỗi lần sanh được cảm thọ đó là Thiện pháp, Thánh pháp, Thánh trí tuệ. Tại vì, nhìn thử trong cuộc đời tu của mình trong hằng ngày được mấy lần có được những cảm giác đó, ít lắm, rất là ít, cực kỳ ít. Trừ khi mình chứng kiến cảnh tai nạn giao thông mà bầy nhầy một đống văng tàu hủ, bánh lọt ra tùm lum. Lúc đó, mình mới thấy khủng khiếp, kinh hãi và bị ám ảnh. Còn thật sự người tu ngày nào cũng quán như vậy hết, mới đưa đến sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ, viễn ly tất cả các dục, không có ưa thích, thèm muốn, khao khát, tìm tòi nữa.
Chúng ta mới thấy là cái ái của mình nặng, dày lắm. Bây giờ chúng ta lại trước gương nhìn mặt mình, lúc đó có suy nghĩ, cảm giác như thế nào. Chính mình nhìn thấy cũng yêu thích hình dáng này của mình, dù cho xấu đau, xấu đớn chứ không phải là đẹp. Đó là vô minh, tự ngã, ái thủ, yêu thích và nắm giữ hình hài, hình dáng, hình tướng, hình thể, hình sắc, đó là sắc uẩn. Và chính những yêu thích, nắm giữ đó, cái tự cho là tôi, của tôi ở trong hình hài này nên mình không giải thoát được. Mình yêu thích hình hài này thì mình sẽ yêu thích hình hài kia, yêu thích hình hài kia thì có hình hài khác, thêm mấy hình hài nhỏ nữa. Và tiếp tục ở trong một vòng lẩn quẩn của sầu, bi, khổ, ưu, não, nước mắt đau khổ và sanh tử tiếp nối, cho đến khi nào không còn yêu thích hình hài, hình sắc này nữa. Mình thấy cái này là một thứ bất tịnh, nhơ uế, ổ chứa nhóm bệnh hoạn, ổ vi trùng, vi khuẩn, vi rút. Không còn khoan khoái, yêu thích. Nhìn vào gương mình thấy đây là Tứ đại, bất tịnh. Tác ý như vậy đó, đây là thứ vô thường. Chính cái này cứ khởi dục, tham muốn, tìm cầu hoài thì lúc đó mình mới gỡ ra được chữ “thủ” ở trong sắc thủ uẩn, mới dần dần gỡ ra được chữ “ái”, chữ “vô minh”.
Đó là Minh Thành giới thiệu tổng quát sơ lược để nhận diện sắc uẩn. Phải nhận diện hình hài này, hình hài đầy bất an, lo lắng, bệnh tật và sợ hãi. Chúng ta ngồi đây thấy bình an nhưng ở ngoài kia, năm sáu triệu người đã ra đi. Mấy trăm triệu người nhiễm bệnh, trong nước mình mấy chục ngàn người đã chết, hơn hai triệu rưỡi người là con số báo cáo, còn không có báo cáo thì còn nhiều hơn gấp ba lần. Và bất cứ hình hài nào, bất cứ lúc nào cũng có thể ra đi bất thình lình, đột ngột. Nhưng mà khổ nổi trong cảm giác, suy nghĩ, nghĩ tưởng của mình là mình như vậy hoài, dễ gì chết, bảy chục tuổi mới chết thì suy nghĩ như vậy là vô minh.
Bây giờ lên ngồi học, mình nghĩ ngày mai cũng học y như vậy, suy nghĩ đó là vô minh, chưa chắc. Tất cả Pháp này biến động, đang vận hành, Đức Thế Tôn gọi là các hành, tức là sắc - thọ - tưởng – hành - thức luôn luôn ở trong trạng thái vận hành, dịch chuyển, thuyên lưu, biến diệt. Nhưng mình nhìn thấy là nó như vậy hoài, chừng nào chết rồi lúc đó khóc, lúc gặp tai nạn mới thấy là khổ, bình thường mình không thấy nó đang vận hành.
Cho nên chúng ta học những Thánh Trí Tuệ của Đức Phật để giải phá hết những chấp thủ, mê lầm. Những sự ngộ nhận về thân xác này sẽ được phá vỡ, phá nát, phá tung, phá sập, phá đổ. Một khi Thánh Trí Tuệ rực sáng trong tâm thì tất cả những hôn ám, si mê sẽ bị xóa sạch. Mà cái này phải được thường xuyên tác ý, an trú và quán chiếu nhắc nhở tâm, chứ còn nói vậy rồi một hồi trở ra quên, phải nhắc hoài, quán hoài, chiêm nghiệm, cho nên mới gọi là Chánh tư duy.
Sau khi thấy đúng rồi thì phải nghĩ đúng, không phải tu là không nghĩ gì hết. Hồi xưa là nghĩ sai bây giờ là nghĩ đúng, nghĩ đúng này “khế hợp” với sự thật của Đức Phật chứng ngộ. Sau khi nghĩ đúng này được vận hành cho tới một lúc thuần thục, chính nhập sự thật thì sẽ đi vào Thánh Chánh Định, lúc đó nó không nghĩ nữa. Đó là Chánh định của bậc Thánh. Còn nếu mới vô mình muốn ngồi yên lặng, đừng suy nghĩ gì hết thì tạm yên; rồi trở ra nó cũng vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã y như cũ. Tại vì mình chưa có phá vỡ được tà kiến, cái nhìn sai lầm về thân tâm này.
IV. Tưởng
Như vậy, chúng ta đã nhận diện tổng quát về sắc uẩn. Bây giờ, chúng ta tiếp tục giải thích định nghĩa 2.
Chúng ta đã tìm hiểu định nghĩa về sắc, thọ. Bây giờ chúng ta nói về tưởng, “bóng dáng thô tế trong tâm là tưởng”. Hồi nãy, chúng ta đã nhìn nhận về 3 cảm thọ, để thấy được tham - sân - si trú ẩn trong đó.
Qua tới tưởng, hình dáng, hình bóng, hình tướng ở trong tâm là tưởng. Với tưởng này thì Đức Phật phân ra làm 6 loại, tất cả những hình bóng trong tâm có 6 loại. Chúng ta cùng nhau đọc 6 tưởng: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
Tại vì thời gian chúng ta không có nhiều, cho nên mỗi lần Minh Thành gặp các huynh đệ thì sẽ cố gắng để chia sẻ thật chậm, thật kỹ nhưng mà đầy đủ.
“Thế nào gọi là sắc tưởng?”.
Bây giờ, Minh Thành đứng đây, quý thầy nhìn thấy hình dáng này. Một hồi Minh Thành đi về Linh Quy Pháp Ấn, đến tối nay hay ngày mai, quý thầy nhớ lại thì hình bóng của Minh Thành ở trong tâm của quý thầy, đó gọi là sắc tưởng. Ví dụ, mình nhìn thấy cây tùng có dáng thác đổ hay con phụng hoàng đẹp quá, người thích kiểng để ý nhìn thấy rồi trở vô. Bữa sau hay tuần sau, mình nhớ lại dáng cây tùng thác đổ, thế phụng hoàng thì hình bóng của cây tùng đó là sắc tưởng.
Mình đi lên Thiền viện Trúc Lâm, ra hồ Xuân Hương, đi một vòng thấy cái hồ rộng lớn như vậy có khi được uống sữa đậu nành nóng chẳng hạn, hay ăn củ khoai lang nướng. Rồi bây giờ mình nhớ lại hình ảnh hồ Xuân Hương rộng như vậy, có Thiền viện Trúc Lâm đẹp như vậy, bao nhiêu những đóa hoa, thành phố hoa, thành phố mộng mơ... Đó là sắc tưởng. Chữ “tưởng” là hồi tưởng lại hình bóng đó gọi là sắc tưởng. Chúng ta thấy Đức Phật chứng ngộ tuyệt diệu lắm, Đức Phật phân loại những tư tưởng, chúng ta thấy dễ sợ không. Mình tưởng cái gì mà còn không biết nữa. Đức Phật phân loại tất cả những hình dáng làm 6 dạng, 6 lĩnh vực, 6 phạm trù, 6 giới mức.
Dạng thứ hai là hồi tưởng lại âm thanh, chẳng hạn như mình đang ngồi Thiền, bỗng nhiên mình hồi tưởng lại hồi xưa đi học, có người nào đó nói với mình. Hoặc là hồi tưởng lại âm thanh làm cho mình tức giận, hoặc là hồi tưởng lại âm thanh mà làm cho mình mến thương, nhớ nhung. Mình hồi tưởng lại âm thanh của người đó nói, câu nói, giọng nói lúc đó, lời nói lúc đó, tiếng nói đó, giọng ngọt ngào, êm ái, trìu mến, dễ thương như vậy. Đó là thanh tưởng. Hồi tưởng lại âm thanh, chất giọng, lời nói. Tự nhiên đang ở trong thất, tăng đường, tự nhiên ngồi nhớ lại ngày hôm qua ông này nói một câu tức ghê. Mình nhớ cái câu của ông sư đệ, sư huynh ngày hôm qua nói. Mình khó chịu nhớ lại câu nói đó, câu đó là cái gì. Chúng ta thấy không? Mình hồi tưởng lại âm thanh đó gọi là thanh tưởng.
Trưa nay, ăn chè có ngon không quý thầy? Là hương tưởng, vị tưởng đó. Rồi đủ các món hết vậy đó. Bây giờ, mình hồi tưởng lại cái mùi, mùi hương lúc đó, cái vị lúc mình nếm vô lưỡi. Đó gọi là hương tưởng, vị tưởng. Nhớ lại cái mùi, cái vị lưỡi mình nếm vô.
Cái này là nếm đồ ăn, những cái khác còn nguy hiểm hơn, những cái đó tưởng của mình xúc vô rồi là ăn vào trong đầu suốt đời không quên, ghê gớm lắm, thành ra người ta chết vì mấy cái này. Thật ra thì món đồ đó không sao hết, con người mà gặp nhìn một chút, bắt tay hay là đụng chạm nhưng mà trở về mấy cái này mới hoạt động khủng khiếp. Trở về tưởng này, mình chuyên môn quán chiếu của vọng tưởng này đó, ghê lắm. Chẳng những tưởng lại ngay lúc đó mà tưởng tượng thêm mấy cái khác, tưởng tượng mai mốt, sau này nó sẽ ra sao. Cho nên Đức Phật mới gọi là phàm có tưởng quá khứ, tưởng vị lai, tưởng hiện tại, tưởng xa, tưởng gần, tưởng thô, tưởng tế, tưởng thắng, tưởng liệt. Tất cả phải quán chiếu những tưởng này là vô thường, trống rỗng, trống không. Còn nếu không, mấy cái tưởng này quậy mình nhiều, giờ ngồi thiền nó quấy phá, quậy mình, dẫn dắt mình, dụ dỗ. Thấy ngồi yên đó mà ở trong đang hoạt động, đừng có tưởng ngồi im ru là ngon, ngồi im ru mà trong đó có cái gì đang vận hành theo chiều hướng nào.
Bây giờ, hương tưởng, vị tưởng và xúc tưởng, xúc tưởng này ghê lắm. Hồi tưởng lại sự tiếp xúc mà có 6 xúc, hồi tưởng lại sự đụng chạm, đơn giản thôi, xúc một chút xíu mà có thể làm tóc mọc dài ra. Cầm món đồ đưa, lỡ chạm tay mà có khi tóc mọc dài ra, khủng khiếp như vậy mà lúc tiếp xúc có chút xíu thôi. Nhưng mà xúc tưởng này mới dẫn dắt, lôi kéo, dụ dỗ, thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than mà qua tới cái hành này.
Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng và pháp tưởng.
Bây giờ, mình phải giải quyết chữ “pháp”, nó rất quan trọng. Để quý thầy ngồi thiền, để thấy rõ tâm mình. Hồi xưa, Minh Thành học 28 năm mà không hiểu được chữ “pháp”.
“Pháp là gì?”
Vào niệm Duyên Sanh Pháp, trang 108. Đức Phật định nghĩa trong Tương Ưng Bộ Kinh, sắc thấy rồi, âm thanh nghe rồi, mùi ngửi rồi, vị thì lưỡi nếm rồi, xúc thì tiếp xúc, đụng chạm thân rồi. Còn bây giờ, Pháp là gì?
Bây giờ, mình nhận diện pháp trần. Pháp chính là thọ - tưởng – hành. Trong các chữ: Sắc, hương, vị, xúc, pháp thì pháp là thọ - tưởng - hành. Bây giờ, Minh Thành sẽ giải thích đơn sơ để kỳ sau chúng ta bước vào Duyên Sanh Pháp thì sẽ thấy được sự phức tạp của nội tâm này.
Hồi nãy, chúng ta đang nói tới là mình hồi tưởng lại. Ví dụ, cầm món đồ lại cúng dường cho thầy, đưa cái tay nhận mà vô tình quẹt trúng, chạm thì cái đó là xúc. Khi mình quay trở về, ngồi thiền ở trong phòng một mình, khuôn mặt của cô gái đó hiện ra, cảm thọ về cái tay chạm lúc đó hiện ra, suy nghĩ về hình bóng người đó, suy nghĩ cảm giác đó. Lúc đó, đó là pháp trần; là hình bóng của người đó, cảm thọ ngay lúc đó và những suy nghĩ, mình hồi tưởng lại, nhớ nghĩ lại.
Lúc gặp có chút xíu thôi nhưng cảm giác nghĩ tưởng cứ dây dưa, muốn gặp trở lại lần nữa. Cho nên thức ăn của mình mới có Xúc thực, muốn được tiếp xúc, rồi có Tư niệm thực. Nhớ nghĩ về cái đó là tâm mình vận hành. Đó là pháp trần, là thọ - tưởng – hành.
Tất cả mọi thứ không đi ra ngoài Ngũ Uẩn, nó bao trùm hết. Khi mình thấy được Ngũ Uẩn rồi thì thấy được hết thân tâm của mình, hình bóng đó. Tình cảm gia đình cũng vậy, đi tu mà hình bóng mẹ, ba, chị, em, dì, bà nội nhớ hoài vậy đó. Cứ hồi tưởng lại, suy nghĩ về những cảm giác thân thương của gia đình, rồi vài bữa thế nào cũng cuốn đãi đi về nhà chứ tu gì được. Đó là Pháp vận hành.
Làm sao để mà mình phá được những cái này? Phải dùng trí tuệ 5 uẩn chiếu, phá mấy cái này. Mình phải biết, đọc lên:
- “Hình bóng trong tâm là tưởng”, mày chỉ là tưởng thôi, hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm tao đi, mày là ma trơi, quỷ ám, tan biến hoàn toàn khỏi tâm tao đi, đi chỗ khác chơi. Để cho anh tu, đừng có quậy”.
Mình tác ý như vậy đó, mình đánh đuổi nó ra, những thứ này là ảo ảnh, vọng tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng, ảo tưởng, giả tưởng, điên đảo tưởng, vô minh tưởng.
- “Tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, tan biến, diệt tận, thành mây, khói, hư không đi, đừng có ở trong đây, để cho ta tu”.
Mình tác ý trong tâm, đó là tác động tâm ý. Cái này hết sức quan trọng, trong kinh Nikāya, tất cả pháp hành là trong chữ: “Như lý tác ý” - như lý là đúng như chân lý, tác ý là tác động tâm ý đúng như chân lý. Tác động tâm ý là tự mình phải dạy dỗ, giáo dục, dẫn dắt, định hướng cho tâm mình. Chứ không phải nó khởi lên, đi theo nó luôn. Mình thấy nó là ác bất thiện pháp là phải xử lý ngay tại chỗ, triệt hạ liền, diệt tận ngay tại chỗ. Đức Phật dùng hình ảnh giống như chặt cây Tha-la không cho mọc trở lại trong tương lai. Đức Phật ví dụ khiếp lắm, chặt cành, bẻ lá, đào bới gốc rễ, bằm ra thành từng miếng nhỏ. Xong rồi, đốt thành tro bụi, đổ xuống biển xuống sông, cho gió mười phương tám hướng thổi bay trở thành hư không, cho nó không bao giờ sanh trở lại trong tương lai được nữa.
Đó là ví dụ pháp hành của Đức Phật, khủng khiếp lắm, cho nên nó mới đi đến chỗ diệt tận hoàn toàn tham – sân – si, vô minh và bản ngã, không còn mầm mống để sanh trở lại trong tương lai; thì mới đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Còn nếu những hình bóng sanh khởi, rồi mình cứ để đó, vài bữa nó khởi lên nữa, xong rồi kiếm chuyện gì làm để đó, vài bữa nó khởi nữa, nó đâu có chịu nằm yên ở đó.
Bây giờ, mình phải quán chiếu, tác ý, quay vào diệt tận nó, giáo dục, định hướng tâm mình không đi theo mấy cái này. Cảm thọ này chỉ là vô thường, chạy theo những cảm giác này là hư ảo. Cảm giác một chút thì mình quán chiếu vô là rồi. Vợ ốm, con đau, chạy xe ôm không có tiền mua gạo, xong rồi nhậu vô bệnh viện. Bao nhiêu những chuyện mình quán chiếu, phá những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ này để mình thoát ra. Đó là công phu quán chiếu, công phu tác ý. Đây gọi là Chánh Tư Duy, cũng còn gọi là Thánh Tư Duy – Sự suy nghĩ của bậc Thánh.
Suy nghĩ của bậc Thánh là suy nghĩ ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, nói chung là lìa tham - sân - si, bản ngã là suy nghĩ của bậc Thánh. Bất cứ suy nghĩ cái gì để cho mình lìa cái tham thì suy nghĩ đó là suy nghĩ chân chánh, Chánh Tư Duy, suy nghĩ của bậc Thánh. Chứ không phải là mình không có suy nghĩ, dùng suy nghĩ này đuổi suy nghĩ kia. Bây giờ, rác một đống rồi mình ngồi yên làm sao sạch, phải lấy chổi quét. Trong bóng tối như vậy, ngồi im ru làm sao bóng tối tan biến, phải mở đèn lên, phải đốt lửa lên, không phải tu là thụ động, ngồi im như vậy mà phải dùng pháp đối trị diệt tận nó. Mình thấy trong đó, manh nha một cái dục là mình đánh tới tấp, tả tơi, tan tành, banh xác nó ra. Những cảm giác, nghĩ tưởng đó sanh khởi là mình đập tới tấp, lấy cái bộ xương ra đập nó, lấy 32 thể trược đập nó, lấy mấy con giòi đập nó.
Minh Thành đi qua thăm Thiền viện Mahasi rất nổi tiếng của Myanmar, treo ngay trước cửa là một bộ xương của đệ nhất Hoa hậu Myanmar. Cô này phát nguyện cúng dường để cho mọi người giác ngộ cái vẻ đẹp yêu kiều ngày xưa mà được cả nước tung hô, bây giờ chỉ là một bộ xương khô, để cho ta thức tỉnh. Có Hòa thượng Luật Sư chụp hình bộ xương đem treo ngay ở trong Luật viện, còn ở trong Thiền đường Linh Quy Pháp Ấn để nguyên một bộ xương. Có nhiều người không biết là bộ xương làm bằng nhựa thôi mà giống lắm.
Những cái đó là hết sức quan trọng, nhắc nhở mình. Đó là một pháp tu, Đức Phật gọi là cốt tưởng - sự quán chiếu về bộ xương: “Này các tỷ-kheo, có một pháp môn mà đem lại lợi ích, đem lại an lạc, đem lại hạnh phúc, quả báo lớn, công đức lớn, lợi ích lớn cho các thầy, đó là cốt tưởng. Các thầy hãy tu tập về cốt tưởng, tu tập cốt tưởng sẽ đem lại lợi ích, an lạc, hạnh phúc dài lâu trong hiện tại và tương lai cho tất cả các thầy. Này, các tỷ-kheo, đó là cốt tưởng”.
Vậy thì bữa nay, trước khi chào quý thầy con về núi thì chỉ gởi lại lời là: Mấy thầy nhớ bộ xương là được. Nhớ bộ xương khô, không phải đợi chết mới là bộ xương, đang ngồi đây là bảy mươi mấy bộ xương đang di động. Nhớ bộ xương này đừng có giận bộ xương kia, tha thứ cho bộ xương kia, hoan hỉ, hòa ái, hòa kính với các bộ xương với nhau để mình đi đến chỗ hoàn toàn giải thoát, giác ngộ.
Kính chúc tất cả quý thầy đầu năm mới có nhiều sự tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thượng tuệ, tăng thượng Tri kiến của bậc Thánh.