Quy y tối thượng
QUY Y TỐI THƯỢNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chia sẻ và câu hỏi của Phật tử PAGEREF _Toc76973657 \h 1
II.Sự quy y tối thượng PAGEREF _Toc76973658 \h 2
1.Quy y Phật PAGEREF _Toc76973659 \h 4
3.Quy y Hiền Thánh Tăng PAGEREF _Toc76973660 \h 11
4.Quy y Thánh Giới PAGEREF _Toc76973661 \h 12
III.Niềm tin bất động PAGEREF _Toc76973662 \h 13
Chia sẻ và câu hỏi của Phật tử
Chào quý Phật tử! Hôm nay thưởng thức trà thấy như thế nào?
Hãy phát biểu cảm nhận của mình trong giây phút hiện tại, trong khi ngoài trời đang mưa rào, gió mạnh, còn chúng ta trong nhà thì ấm áp, có Tam bảo, có bạn hiền, có một không gian thanh tịnh, trên tay thì bưng một chung trà ấm nóng, thơm và mình uống trong sự tỉnh thức chánh niệm. Mời quý Phật tử phát biểu cảm nhận, quý vị có thể chia sẽ những điều tâm đắc trong tu học, những lợi ích trong sự hành trì Phật pháp cũng như hỏi những sự thắc mắc nghi vấn trong sự học và tu. Chúng ta hãy trao đổi một cách thân thiện thoải mái, bởi vì đây là pháp đàm, trà đạo, không phải là buổi giảng thuyết. Xin mời tất cả quý vị.
Phật tử 1:
Con thì chưa quy y, nhà con thì rất sân, từ khi con bán đồ chay, tiếp xúc với nhiều Phật tử thì tâm con an. Cho con hỏi, có chị bạn ăn chay, nhưng chị ấy thấy con chưa quy y, chị ấy cũng muốn theo và chị ấy nói: “Đi bên phía chị, thì sẽ có Phật Di Lặc, biết nơi nào có Phật sinh ra và ở tại đó”. Con thì đi theo Huệ Vân, cũng học được nhiều điều hay, con đang phân vân thì chị ấy vẫn rủ con đi theo. Con thấy khi tiếp xúc với chị ấy thì tâm con không ổn, con chỉ hiểu được bao nhiêu thôi. Thật sự con chưa quy y, con chưa biết nhiều nhưng con đi với các cô, các chị ở đây thì tâm rất an, tinh thần con thoải mái, gia đạo bình an. Thầy cho con hỏi, chị ấy cũng nói là tu nhưng mà chị ấy nói, đi với nhóm chị ấy, thầy sẽ dẫn dắt tới những nơi có Phật và Phật sinh ở đó. Sau này, khi thời mạt pháp tới sẽ có giặc, khi đó tất cả đều chết, mà nhóm của chị ấy sẽ không chết mà tỏa sáng, chị ấy sẽ được cứu thoát. Thầy cho hỏi có thật sự như lời chị ấy nói không?
***
Câu hỏi của cô rất cần thiết cho những người mới bắt đầu tiếp xúc với chùa chiền. Những người đến với mình mà mình có cảm giác bất an thì chúng ta phải xem lại và cẩn thận. Vì Phật Pháp với tinh thần tự giác, tự nguyện, khi thấy giá trị lợi ích thì tự tâm mình hướng về học hỏi và hành trì, không phải đi đến kêu gọi, hứa hẹn, nhất là câu “nhóm chị không chết” là không đúng. Những người kêu gọi hứa hẹn mà không có thật thì không phải là Chánh Pháp, cho nên mình phải tìm thầy lành bạn tốt. Trước khi muốn quy y thì phải tìm hiểu tại sao mình quy y? Quy y được lợi ích gì? Quy y như thế nào? Quy y với ai? Chứ không phải nghe rủ, thấy vui thì đi theo.
Ở đây có vài vấn đề Minh Thành muốn chia sẻ với đa số quý Phật tử mới và muốn hỏi quý vị: Tại sao mình phải Quy y Tam bảo?
Phật tử 2:
Con tên là Trinh, con chưa có pháp danh và chỉ biết niệm một câu: Nam mô A Di Đà Phật, còn lại là con không biết, nhưng có niềm tin vào Phật, đó là niềm tin của con. Con đến từ Dubai và về phép được 40 ngày, cái duyên con đến đây là chị ở gần mà rủ con đi, con nói đi tu là đi liền và cỡ nào cũng đi. Theo con nghĩ khi quy y rồi thì mình có pháp danh và có Phật thì đối với những người nóng tính tâm sẽ dịu bớt đi, tập tành niệm Phật, tin tưởng vào Phật, đó là điều tốt.
Sư phụ: Có một vị nói quy y mình sẽ có được sự nương tựa vào Phật pháp, làm cho mình bớt nóng giận, bớt làm điều xấu, đó là lý do thứ nhất. Còn lý do thứ hai, tại sao quy y?
Phật tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ cùng quý thầy. Kính thưa toàn thể quý vị Phật tử, con xin trả lời câu hỏi của thầy. Quy y Tam bảo là quy y quay về nương tựa Tam bảo, quay về nương tựa ba ngôi báu là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Một người Phật tử phát nguyện Quy y Tam bảo là quay về nương tựa ba ngôi báu, thì phải giữ được trọn năm giới: giới thứ nhất không được sát sinh, giới thứ hai không được trộm cắp, giới thứ ba không được tà dâm, giới thứ tư không được nói dối, giới thứ năm không được uống rượu.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sự quy y tối thượng
Minh Thành sẽ chia sẻ lí do tại sao quý vị nên quy y? Quy y lợi ích như thế nào? Và quy y như thế nào mới là chân chánh? Đây là những điều quan trọng thiết yếu đối với người mới đi đến chùa chiền.
Quý vị thấy rằng, trong cuộc sống thì phải cần một nghề nghiệp; trong mỗi gia đình thì cần ông bà, cha mẹ; về phương diện vật chất thì cần một số vật chất căn bản cần cho sự sống. Những điều trên là về mặt vật chất, tình cảm, đời sống, bên cạnh đó, phần tâm linh cũng rất quan trọng, vì tình cảm, vật chất và tinh thần là ba khía cạnh của cuộc sống. Người thiên nặng về vật chất thì đời sống tình cảm không có, người thiên nặng về đời sống tình cảm đôi khi lại bỏ qua đời sống vật chất, còn người thiên nặng về hai khía cạnh vật chất và tình cảm thì mặt tinh thần bị thiếu hụt. Những đất nước phát triển văn minh, con người tất bật do cuộc sống vật chất, suốt ngày đi làm, chỉ nghỉ vào cuối tuần để thư giản, du lịch, đâu phải cuộc sống cứ đều đều từ năm này qua năm khác, mà đôi khi có những vấn đề xảy ra. Khi đó về tinh thần bị hụt hẫng, giống như chơi vơi trên biển không có phao, không có thuyền. Quý vị tưởng tượng cảnh tượng một con người bị lọt xuống biển, sóng to, gió lớn, biển nước mênh mông, họ trôi nổi mà không có phao, không có thuyền, không có ai vớt, thì rất khủng khiếp. Và người không có điểm tựa tinh thần về tâm linh cũng giống như người ở trên biển chơi vơi.
Ngày xưa khi nhận thức con người chưa được sâu sắc, chưa được phát triển, thì người ta nương dựa vào lửa, xem lửa là vị thần linh, cho nên người ta thờ lửa, có khi tôn thờ ngọn núi, tôn thờ gió hay nước. Trong thời Đức Phật có nhiều đạo mà người ta đi xuống nước tắm, để rửa cho sạch tội, quý vị nghĩ xem nước đâu có rửa sạch tội, nếu nước rửa sạch tội thì các con cá, cua, tôm.. đâu có tội. Cho nên ngày xưa nhận thức con người chưa phát triển, chưa sâu sắc thì người ta nương dựa vào rừng, vào núi, vào cây, vào đá, lửa, đất... Nhưng những sự nương tựa này không chấm dứt khổ đau, chỉ có sự nương tựa tối thượng tức là không có chỗ nào cao hơn, chính là nương tựa Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới. Nếu mình nương tựa với ông bà cha mẹ, thì họ cũng đâu lột vỏ sống đời với mình. Vợ chồng nương, bạn bè nương tựa với nhau – những sự nương tựa này cũng cần về mặt tình cảm, vật chất nhưng về mặt tinh thần thì những người đó cũng đau khổ giống mình, cũng đầy dẫy sự ham muốn, nóng giận, không có sáng suốt, gọi là tham, sân, si.
Như vậy, sự nương tựa với Phật là bậc giác ngộ thấu đáo cùng tột, là sự thấy biết thấu đáo gọi là Vô Thượng Giác. Nương tựa với Pháp là con đường chấm dứt khổ đau. Nương tựa với Tăng là nhưng người đi trên con đường này, thực tập phương pháp này, đã có hiệu quả, lợi ích và hướng dẫn cho mình. Cho nên, tinh thần đã có điểm tựa chân chánh, trí tuệ, điểm tựa của tình thương vô tư, vô vụ lợi, thì đó là chỗ nương tựa lớn, rất vĩ đại mà mình không thể không nương tựa trong cuộc đời. Nếu mình không có chỗ nương tựa tinh thần hoặc nương tựa ở nơi không đáng nương tựa, như nương tựa vào vị thầy tà, những đạo không đúng Chánh Pháp thì sự nương tựa đó đưa mình tới chỗ gãy đổ, sụp đổ, đổ vỡ, đưa đến khổ đau trong đêm dài tăm tối của vô minh và si mê.
Quy y Phật
Chính vì vậy, sự trở về nương tựa với Phật là việc làm quý báu trong kiếp người, trong cuộc đời, nếu trong đời mình không quay về nương tựa với Phật thì uổng cho một kiếp người. Tại vì trong ba ngàn đại thiên thế giới, không chỉ là trái đất mà cả thế dương hệ, trong hàng tỷ tỷ hành tinh, bốn đại a tăng tỳ kiếp, bốn a tăng tỳ kiếp, một trăm ngàn đại kiếp thì mới có một Đức Phật ra đời một lần. Kiếp không phải là mình sống và chết trong một đời người, đó chỉ là tiểu kiếp, còn kiếp trong đạo Phật là một trăm năm ra dãy Trường Sơn cầm khăn mù xoa phủi khăn một lần, phủi cho đến khi dãy Trường Sơn thành cát bụi thì tính là một kiếp. Còn a tăng kỳ là vô số trường thời, tức là thời gian dài không tính được số, nếu tính được là hàng trăm, hàng ngàn con số 0, với thời gian dài như vậy thì chỉ có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian. Bậc Chánh Đẳng Giác là vị đó không có thầy tự mình tu tập, giác ngộ thấu suốt được bản chất của nhân sinh và vũ trụ tận cùng để giác ngộ thành Phật. Với bốn đại a tăng kỳ, một trăm ngàn đại kiếp mới có một nhân vật như thế xuất hiện.
Trong kinh Đức Thế Tôn nói rằng: ‘‘Trong loài hai chân, bốn chân, nhiều chân; trong loài loài có sắc, có tưởng hay không tưởng; trong loài sanh bằng bào thai, sanh bằng trứng, sanh nơi ẩm thấp hay biến hóa,... Trong tất cả loài này thì Như Lai là tối thượng, không có một chúng sanh nào ngang bằng với Phật, so sánh được với Phật, song đối được với Phật, không có một chúng sanh nào có thể so sánh được với bậc Chánh Đẳng Giác và sự giác ngộ của Ngài”. Giáo pháp của Phật thì hơn 5.000 năm, Đức Phật Thích Ca nhập Niết-bàn hơn 2.600 năm, đã được phân nửa thời kì. Như vậy còn 2.400 năm nữa, thì không còn tên Phật Thích Ca Mâu Ni, không còn giáo pháp Tứ Đế, Bát Chánh Đạo, tất cả Tứ Niệm Xứ không còn. Lúc đó không còn ai biết giáo pháp của Phật, do giáo pháp của Phật chỉ tồn tại 5.000 năm, lúc đó xá lợi của Phật sẽ biến mất trên thế gian. Cho nên mình sanh gặp được bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện, giáo pháp còn, thì công đức phước báu của mình vô cùng, vô tận. Thế nhưng, có những người chưa từng biết Đức Phật là ai? Chưa từng biết đời sống Đức Phật như thế nào? Đức Phật đã giảng giải giáo pháp như thế nào? Chư Tăng thực hành như thế nào? Giới như thế nào? Người ta chưa từng biết, cho nên người đó có phước mà vô phước, còn mình có phước và Quy y Tam bảo, là mình đang có phước và có thêm phước.
Hiện tại quý vị ở đây đều có phước, không phải dễ dàng, do đó quý vị chưa quy y thì quy y, nhưng quy y thì phải lựa thầy, lựa bậc chân tu. Vì quy y là trở về nương tựa, mình học với bậc đại giác ngộ, học phương pháp diệt khổ, giảm khổ, học với vị Hiền Thánh Tăng chỉ cho mình hạnh phúc, chứ không có gì lỗ. Nếu không mình nghe những lời quyến rũ, tuy họ nói là đạo Phật, nhưng không phải đạo Phật chân chánh, họ mượn danh đạo Phật, mượn tên của Đạo Phật nhưng họ phục vụ cho vụ lợi, danh lợi cá nhân, làm cho mình rơi vào thầy tà bạn ác, là mình rớt xuống vực thẳm, hố sâu. Rất nguy hiểm, phải cẩn trọng.
Từ đây cho đến Minh Thành 80 tuổi, cũng chưa nói hết công đức của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Như Lai, một buổi thì không thể nói hết. Từ đây đến chết, Minh Thành đầu thai trở lai nói tiếp, rồi đầu thai tiếp tục một trăm đời ngàn kiếp nói cũng không được một sợi lông chân công đức của Đức Như Lai Chánh Đẳng Giác. Công đức của Phật rất lớn, công đức của Phật siêu việt, trí huệ của Phật siêu việt, thế và xuất thế. Tức là không phải công đức của Phật vượt hơn con người, mà con người không là gì so sánh với Đức Phật, ngay cả Trời, Thánh nhân cũng không hiểu nổi trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác. Trí huệ của Phật là tối tôn, là tối thượng, là vô thượng, mười phương thánh phàm không ai so sánh với bậc Chánh Đẳng Giác. Mỗi khi lạy dưới Đức Phật mà mình đem tâm chân thành, cung kính, là sanh ra phước báu, công đức trong hiện tại và tương lai, có duyên sau này gặp được bậc Chánh Đẳng Giác. Mình gặp được thì chắc chắn được giác ngộ, giải thoát, cho nên công đức từ bi, trí huệ của Phật là không cùng tận.
Công phu khuya tại các chùa có tụng bài kinh:
Hư không khả lượng phong khả kế,
Đại hải trung thủy khả ẩm tận.
Hư không khả lượng phong khả kế,
Vô năng thiết tận Phật công đức.
“Đại hải trung thủy khả ẩm tận” tức là có người xuống dưới biển hớp một hớp là có thể uống hết cả nước biển; “hư không khả lượng” là có thể lường được bờ vực của hư không, đo được sức gió, đo được sức ánh sáng, nhưng “vô năng thiết tận Phật công đức” tức là không có khả năng, không thể nào nói hết công đức của Đức Phật. Minh thành chia sẻ công đức của bậc Chánh Đẳng Giác để mình hiểu tại sao phải quy y với Phật. Mình đối với trí huệ của Phật như hạt cát trên sa mạc, cho nên khi trở về nương tựa với Phật giống như giọt nước vào trong đại dương, hòa tan với biển cả. Mình trở về quy y với Phật và quy y chân chánh, đúng Chánh Pháp thì giọt nước của mình vào trong biển hòa tan với biển, được trở thành Phật tử, là con của Phật, con của bậc đại giác ngộ, trong tương lai mình sẽ giác ngộ.
Quy y Chánh Pháp
Ý thứ hai là quy y Pháp. “Pháp của Đức Thế tôn là khéo thuyết, thiết thực, hiện tại đến có hiệu quả tức thời, không trải qua thời gian, người trí tự mình giác hiểu”. Pháp của Đức Phật là thiện thuyết khéo nói, khéo nói ở chặn đầu, khéo nói ở chặn giữa, khéo nói ở chặn sau cùng, gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Tức là tất cả những lời của Đức Phật nói trong Kinh Tạng Nikāya, từ lời ban đầu đến giữa và sau cùng thì lời nào cũng là toàn thiện, toàn bích, toàn mỹ vì lời đó phát xuất từ tâm đại trí huệ giác ngộ nên gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, gọi là lời khéo nói. Còn mình có tâm sân si thì không khéo nói, người ta nghe rất mệt, do mình không khéo nói.
Trong kinh tạng Đức Phật chia ra ba dạng lời nói: lời nói như phân, lời nói như hoa, lời nói như mật. Lời nói như phân là lời nói dối, sai trái; lời nói như hoa là có sao nói vậy, nói đúng sự thật; lời nói như mật là lời nói tinh hoa của hoa, là lời nói không những là sự thật mà còn từ ái, còn liên hệ đến điều thiện, điều lành đem lại lợi lạc cho mọi người, là lời nói như mật như mật ong. Quý vị tập lời nói của mình nói như mật, Phật dạy hay lợi ích nên mình phải ứng dụng.
Lời nói như mật là người đoạn tận lời nói ác, từ bỏ lời nói ác. Lời nói không có hại, tai ưa nghe, đáng yêu khả ái đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói những lời như vậy, này các Tỷ-kheo đây là hạng người nói như mật. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Ba Pháp, Phẩm Người, bài kinh Nói Như Hoa). Như vậy quý vị chịu lời nói như hoa, lời nói mật thì phải thực hành cho đúng.
Lời nói của Đức Phật là chánh ngữ, chân chánh, ái ngữ, lời nói từ ái; lời nói của sự yêu thương, chân ngữ, thật ngữ, như ngữ, lời nói chân, lời nói thật, lời nói chữ như là đúng với sự thật, gọi là như ngữ. Cho nên pháp của Đức Phật là thiết thực hiện tại đến để mà thấy. Thiết thực, hiện tại như thế nào?
Đức Phật nói rằng: ‘‘Nội tâm của bạn đang có tham thì bạn biết nội tâm của bạn đang có tham, phát hiện ra nội tâm đang có tham, cái tham này sẽ đưa đến làm hại mình hại người, làm hại cả hai, làm hại mọi người. Nội tâm của bạn đang có nóng giận, bạn phải biết nội tâm có nóng giận, cái nóng giận này hại mình, hại người và hại tất cả, mình phải biết được điều này, giảm xuống, dừng lại, tìm cách đoạn diệt, chấm dứt từ bỏ thì có lợi ích. Nội tâm đang có si mê thì phải biết đang có si mê, cái si mê này làm hại mình, hại người, hại cả hai”.
Đối với tham, tâm mình khởi lên tham muốn mình phải biết, khi biết thì phải dừng lại nhưng có khi dừng được, có khi không được. Nóng giận khởi lên trong nội tâm cũng phải biết, khi biết thì phải dừng lại, nhưng cũng có khi được nhưng có khi không được. Nội tâm đang có si mê thì mình có biết không? Si mê rất khó biết, si là trạng thái lờ đờ, lơ tơ mơ, lờ mờ, không tỉnh táo, sáng suốt, minh mẫn, rõ ràng, tâm co rút lại, thân trì xuống, mọi thứ chung quanh không nhận rõ. Chúng ta thường bị si rất nhiều nhất là giờ bắt đầu tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền và đó chính là khi si xuất hiện, mình phải biết.
Như vậy tham dùng gì để trị? Si dùng gì để trị? Sân làm gì để trị? Nếu không có phương pháp trị tham, sân, si thì không giải quyết được. Giống như mình phải uống đúng thuốc mới hết, nếu nhức đầu mà uống thuốc sổ là không được hay uống nhầm thuốc, do mình chưa tu học tới. Giống như bác sĩ muốn có bằng cấp phải học bảy năm, mới biết bệnh, biết thuốc thì mới chữa trị bệnh được. Tu cũng giống như vậy dùng pháp phải chính xác mới đối trị được phiền não. Thí dụ Đức Phật nói trong kinh, tu đúng pháp mới có kết quả, nếu quý vị đem cát nghiền ra dầu ăn để chiên tàu hủ thì không được; múc nước cũng không thể đốt lửa thì cũng không được đó chính là sai pháp; như cây dùi đánh vào chuông thì mới ra tiếng chuông, còn đánh vào cây hoặc gối thì không nghe được tiếng chuông, cũng giống như tu không đúng pháp, không có kết quả.
Như vậy, trở lại vấn đề, nếu nói lấy bố thí trị tham, Minh Thành thấy các cô ở đây cũng bố thí nhiều nhưng tham cũng chưa giảm hết. Còn sân thì lấy từ bi trị sân, thì sân sẽ thu nhỏ. Còn si thì lấy điều gì trị? Mỗi khi tu kinh, niệm Phật có trị được si không? Si làm mình muốn ngủ gục, hôn trầm, lờ mờ. Đối với tham thì Đức Phật có dạy tại sao mình tham? Phải biết nguyên nhân tham thì mới trị được. Tham có phải là do đua đòi, ham muốn, bám chấp, thiếu thốn không? Nhưng nhiều người giàu có cũng tham, giàu cũng muốn thêm. Cho nên nếu mình hiểu chưa đúng thì phải nghe lời Đức Phật dạy. Tại vì trí huệ Phật là Chánh Đẳng Giác thấu tột hết, tất cả nguồn gốc của phiền não là từ đâu, vận hành như thế nào, phương pháp nào để chấm dứt? Phật đã dạy hết trong Tứ Thánh Đế. Đức Phật nói tại vì mình thấy nó thật, quý nên mình mới tham, thấy đối tượng mình tham là đẹp, quý, thật. Đức Phật gọi là tịnh tướng tức là thấy đẹp, thật. Quý vị nghĩ xem mình thích cái gì là do trong lòng mình thấy đẹp, quý, thật, nếu mình thấy không có giá trị, không đẹp, là đồ giả thì mình không tham.
Tịnh tướng làm cho mình phát sanh tham. Muốn dứt tham thì Đức Phật có dạy rất rõ là “bất tịnh tướng”, là không có thật, không có đẹp, ba điều này đơn giản nhưng mình tu suốt cuộc đời cũng không được. Thế nào là bất tịnh tướng? Là có ngày đó mình nằm dài, không còn thở, có bốn người khiêng, mình bất động, lạnh cứng đơ, sau đó thì phình lên, xanh bầm, xám lại, nứt da chảy nước vàng, chảy mủ ra, giòi ăn trong cơ thể, diều hâu và quạ thì rỉa từng miếng thịt để ăn, lòi ra bộ xương, xương sọ, xương tay, xương chân, xương sườn trải qua năm tháng các khúc xương rải rác khắp nơi, nhiều năm sẽ nát thành bụi. Đức Phật dạy mình quán chiếu kết cục của thân gọi là niệm thân, thường chiêm nghiệm, quán sát thân, sự thật của thân sau cùng sẽ trở thành cái gì. Đây gọi là Cửu Tưởng Quán – chín giai đoạn của một xác chết.
Các thầy Tỷ-kheo, những người xuất gia phải quán bất tịnh tướng, là tướng không sạch sẽ, mình phải quán chiếu như vậy để mình bớt tham thân của người và bớt tham luyến vào thân của mình. Quý vị thấy tham thân của người thì cũng đau khổ, dính mắc vào thân, tham đắm vào trong thân đó chính là cái khổ nhất của con người. Trên đời biết bao nhiêu người tự vẫn, người li dị, đánh ghen, tạt a xít, giết người, hãm hại lẫn nhau cũng do ghen, ghen từ tình, mà tình là từ dục, mà dục là tham, tham từ ái, ái từ yêu, yêu từ thích, thích là do đẹp. Do không thấy được bản chất của sự thật, từ đó cuốn mình vào vòng khổ sở mãi mãi,
Như chúng ta thường thấy hình ảnh thầy Tỷ-kheo ngồi dưới gốc cây, người chết từ từ rã ra tới xương, rồi cuối cùng bộ xương trắng nát hết. Hình đó chỉ cho pháp quán bất tịnh, không chỉ người tu, mà người cư sĩ mỗi ngày đều nên luyện tập để trị tham dục, trị rất hiệu quả, chỉ có hình ảnh này mới trị được tham dục, ngoài ra không có cái nào trị được. Bố thí thì cũng không trị được tham, nhiều khi cho còn muốn có nhiều thêm, đôi khi mình cúng mà mình cầu nguyện xin phù hộ. Thành ra khi suy nghĩ sâu sắc, mình thấy rằng không phải cầu nguyện là được hay không được, mà mình có phước thì được, mà mình không có phước mà cầu đến 10-20 năm cũng không được.
Đối với sân, tại sao mình sân? Tại sao nóng giận? Giận hoài nhưng hỏi tại sao thì lại không biết. Cho nên Đức Phật nói mình si mê, không có trí huệ để thấy được các pháp vận hành trong thân tâm của mình. Mình phải nghe lời Đức Phật dạy chứ bản thân mình đoán không đúng, mình đoán trúng thì là nghe trong kinh. Đức Phật nói mình cho rằng đối tượng mình đang giận là chướng ngại tướng, mình thấy họ chướng mắt, chướng tai. Khi mình giận mình thấy người đó đi hay đứng mình cũng ghét, nói câu gì cũng ghét đó là chướng ngại tướng, là chướng tai gai mắt. Thí dụ, bình thường hai vợ chồng sống chung với nhau rất thương yêu, nhưng khi giận nhau thì không nhìn mặt nhau, giận nhiều, giận đến ly thân, ly dị nhau. Tại vì chướng tai gai mắt, chướng ngại tướng là nguyên nhân của sân.
Đức Phật dạy, muốn hết giận thì dùng từ tâm giải thoát, từ tâm là dùng tâm, tình thương của mình, do mình giận mình cũng rất đau khổ, rất mệt mỏi, nóng bức, và người bị giận cũng rất đau khổ. Tất cả đều là nạn nhân của phiền não thì mình nên bỏ qua, thương nhau chứ giận nhau chi cho tội. Mình bị cái giận hành hạ sáu chục năm rồi, không lẽ để cái giận này hành hạ mình mãi sao, rồi mình lại hành hạ người ta cho khổ hay sao, cùng hành xác cho khổ hay sao, mình phải quán chiếu điều này. Mình đi theo chướng tai gai mắt chính là tự hành hạ mình, chứ không phải tu hành, làm cho mình khổ, người khổ, làm cho mọi người cùng khổ. Do đó mình cần phải thương vì mọi đau khổ là nạn nhân của phiền não, cần tha thứ do mình cũng khổ người cũng khổ. Tu cho bớt khổ, chứ không phải tu để khổ, rủ nhau khổ.
Vợ chồng, cha mẹ, chị em, con cái, bạn bè cũng có nhân duyên, ân nợ với nhau, cũng có nghiệp với nhau nên gặp nhau để trả, nếu mình không chịu trả cho hết mà vay thêm nữa thì sao mình giải thoát. Do đó mình cần tháo gỡ gọi là giải thoát, và đem tình thương để cảm thông tha thứ gọi là từ tâm. Đầu tiên mình phải mở ra gọi là giải thoát, đừng buộc vào, sau đó mình đem tình thương để tha thứ cảm thông gọi là từ tâm giải thoát mới trị được sân.
Quý vị cần thực tập mỗi đêm, quán thương mình, thương cha mẹ, thương vợ chồng, con cháu, bà con sau khi quán được thì mình mới quán đến những người mình ghét. Mình nghĩ ra những thứ đáng ưa của họ, tại họ cũng có những điều tốt của họ, trước khi giận thì mình thấy họ rất tốt, nhưng sau khi giận thì mình không thấy người đó tốt. Lúc giận là mình không con sáng suốt, giận mất khôn, thấy tiêu cực của người đó, mình cứ thấy tiêu cực, thấy chướng ngại tướng, đối ngại tướng, chướng tai gai mắt thì giống như đổ xăng đổ dầu vào đống lửa, làm cho cháy bùng lên dẫn dến cháy người, đốt nhà.
Quý vị có thấy mình cũng có chạm dây chập mạch, và giật đến người khác, điện mà gặp chất dẫn điện thì lan rất nhanh, dẫn đến chết người, giống như cái sân mà gặp chất dẫn điện thì đốt hết cha mẹ, vợ chồng, anh chị em. Nhiều khi vì lòng tham tiền bạc, tình cảm mà đốt cháy, hủy hoại hết, sau đó vào tù, hối hận cũng không kịp. Do đó lúc tham sân thì hãy bình tĩnh, ngồi hít thở sâu bình tĩnh vào để tâm lắng dịu rồi từ từ, lúc bình tĩnh hãy giải quyết sự việc.
Bồ Tát Tịch Thiên có dạy, khi mà nổi giận giống như cây đứng yên, nếu cây yếu gió thổi làm cây ngã sẽ mất gốc, còn cây lớn mà gió thổi cũng vẫn đứng yên. Do đó khi tu mà tham, sân, si nổi lên mình phải chánh niệm tỉnh giác, phải bình tĩnh. Nếu không bình tĩnh mà đi theo tiếng gọi của con tim, là tình cảm thì sẽ xảy ra chuyện hỏng hết. Ví dụ có gia đình mà gặp người ta cười có duyên về nhớ hoài, rất nguy hiểm. Lúc đó mình phải ngồi lại quán bộ xương là giòi ăn, xác chết đừng có tham. Mình phải quán chiếu để từ bỏ, phải dứt được, phải cắt được liền thì tham hết, nhưng mình để lại suy nghĩ, thì tham từ từ tăng trưởng phát triển lên. Cho nên Đức Phật dạy rất hay, mình cần ứng dụng để thấy được giá trị, nếu không ứng dụng sẽ không thấy được lợi ích. Nếu cứ lạy cúng cầu xin thì chỉ là mê tín, chỉ mới đứng ngoài cổng chùa chưa vào chánh điện.
Khi chúng ta nhận thức được tham, sân, si là đã có trí huệ. Khi tu, không phải nhìn người ta mà là phải luôn luôn nhìn lại để thấy tham, sân, si của mình. Thấy được thì phải nhiếp phục, biết cách nhiếp phục, biết cách chuyển hóa thì mới được an lạc. Tu không phải là được mà tu là huấn luyện thân và tâm, làm chủ thân tâm, không phải yêu cầu để Phật cho một điều gì hết, vì Phật không cho được, nếu Phật cho được thì Ra-hầu-la, Ma Ha Ma Xà Ba Đề, Da-du-đà-là – những người thân của Phật đã không đi xuất gia. Phật chỉ phương pháp đoạn tận tham, sân, si, pháp này chỉ cho mình đi đến chỗ tối thượng, chấm dứt khổ đau, đó chính là vô thượng pháp bảo cho quý vị quy y.
Phá si mê thì phải dùng sự tinh tấn dũng mãnh, hùng dũng, đại hùng, đại lực, không yếu đuối, nhu nhược, yếu hèn, nhút nhát. Phải thấy tinh thần bất khuất của Đức Phật. Đức Phật là một thái tử nhưng bỏ đi và ngồi dưới gốc cây, lấy tấm vải trong nghĩa địa quấn lên mình, còn bao nhiêu bỏ hết quần là, áo lụa đó là tinh thần đại hùng, đại lực, tin tấn. Còn tu mới được chút ít mà than buồn ngủ, than đau, than mỏi, nhức lưng, do đó mình phải dùng sự tinh tấn, tinh cần, nỗ lực để trị cái giải đãi, lười biếng, si mê làm cho phấn chấn lên, tinh cần giới, dũng mãnh giới, tinh tấn giới.
Quý vị có biết tại sao nước Mỹ giàu không? Tại sao nước Mỹ đi đầu thế giới không? Chỉ có hai chữ là ‘‘Tự tân”, là luôn luôn làm cho mình thành mới mẽ. Mình tu học thì không chấp nhận trong hiện tại, đừng nghĩ tu bao nhiêu cũng được, cũng khá, mà mình phải luôn làm cho mình mạnh mẽ lên, làm cho mới mẽ, làm cho mình tinh tấn bước lên.
Thí dụ quý vị đi làm một tháng được 5-7 triệu, vẫn muốn mình được tăng lương 10 triệu, nếu được tăng lên 50 triệu mà khả năng mình làm được thì mình cũng chịu, do đó tại sao đi tu tăng lên mà mình sợ. Cho nên tinh tấn lên để phá si mê, đó là giá trị của pháp rất tuyệt vời, để phá tham, sân, si để thành tựu giới định huệ, chấm dứt khổ đau.
Quy y Hiền Thánh Tăng
Còn Tăng là bốn đôi tám bậc Hiền Thánh Tăng của Đức Phật, là những người hiểu giá trị, hiểu được sự tôn kính của Đức Phật, hiểu được giá trị quý báu của Chánh Pháp. Đó là những người hy sinh cả cuộc đời để làm việc tu tập cho được, chuyên tâm thực hiện tu tập. Thấy được đạo lý đó, giá trị đó, lợi ích đó, nhận thức rất sâu sắc, có ý chí mạnh mẽ, mãnh liệt vứt bỏ hết mọi tất cả để đi nhất hướng một con đường, đó là Hiền Thánh Tăng. Đó là những bậc đáng được tôn trọng, cung kính, đáng chắp tay, đáng cúng dường, đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng ở trên đời đó là Quy y Tăng. Cho nên Phật Pháp Tăng là ba báu vật trên thế gian này, mình phải trở về nương tựa, không còn chỗ nào nương tựa mà tối thượng hơn, mà mình không nương tựa là uổng cho một kiếp người.
Quy y Thánh Giới
Cuối cùng quan trọng là giới, có những người không dám quy y là do không thọ được năm giới, sợ không giữ được năm giới. Minh Thành nói giữ được năm giới thì thọ làm chi nữa, giữ giới không được thì mình mới thọ, thọ giới để mà giữ giới. Giống như nói biết chữ thì mới đi học thì không đúng. Tại vì mình không giữ giới được, cho nên mình mới thọ giới để từ từ giữ giới, mà giữ giới thì đem lại lợi ích cho mình, cho gia đình và xã hội, cho những người thân thương, những điều giới đó là Vô Thượng Thánh Giới. Bậc đại giác mới thấy đây là những điều kiện giúp cho mình có cuộc sống bình an và hạnh phúc, do đó quý vị muốn bình an thì phải quy y.
Trong đêm 30 Tết, quý vị hay đi mười chùa để cầu an, ghi tên cầu an, nhưng không phải lạy và ghi tên cầu an là được, mà giữ giới mới làm cho mình bình an, Vô Thượng Thánh Giới là điều kiện của sự bình an. Nếu không giữ giới là mình luôn luôn bất an. Thí dụ, thấy đồ của người khác đẹp, thì lấy đem đi giấu, mình lường gạt, nói dối người khác thì tâm mình sẽ không an, giết người thì làm sao tâm an. Tất cả những giới đó là để bảo vệ bình an, hạnh phúc cho mình. Có những người mới quy y thực tập giữ giới cho rằng rất khó, đó là không phải, mà mình phải muốn làm những điều đó. Cho nên Đức Phật nói, làm những điều này sẽ được những điều này, mà mình muốn ăn trái mà không muốn trồng cây thì không được, không trồng cây thì cũng phải bỏ tiền ra muốn, cái gì cũng có cái giá của nó, và cái giá của sự bình an là Thánh Giới.
Từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong các dục tức là tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ uống rượu. Nhưng không phải khi mình thọ giới là mình bỏ được hết một lần, mà phải bỏ từ từ, ví dụ lúc trước là tám thì bỏ còn năm, từ từ nghe giới cho đến khi bỏ được hết, thì lúc đó mình sẽ được bình an, hạnh phúc ngay trong cuộc đời này. Quý vị biết rằng đời đời, kiếp kiếp sẽ qua lại hưởng phước lạc trong cõi Người, cõi Trời do năm giới này. Năm giới bảo vệ sự tốt lành cho mình trong bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Nếu mình không giữ giới, không thọ giới thì mình nghĩ tôi đâu có thọ giới mà giữ, mình cho phép mình buông lung phóng vật, sẽ đưa mình đến vực sâu của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cho nên năm giới này là Vô Thượng Thánh Giới.
Niềm tin bất động
Vì vậy. khi mình có niềm tin bất động đối với Phật, niềm tin không còn dao động đối với Pháp, niềm tin vững chắc đối với Tăng, và niềm tin tôn kính vô cùng cực đối với điều kiện bình an và hạnh phúc, đó là Giới Pháp là chúng ta có đầy đủ điều kiện bước vào vòng trí huệ của Đức Như Lai.
Bốn điều nên nhớ: Niềm tin đối với Phật, Pháp, Tăng, Thánh Giới, đây là bốn điều vô thượng, tối thượng trên tất cả trên thế gian này. Quý vị bám chặt vào bốn điều này thì trong hiện tại sẽ bình an hạnh phúc, còn trong tương lai được hưởng phước trong cõi Trời, cõi Người, sanh ra ở những nơi hạnh phúc, không sanh ra những nơi nghèo khổ, nơi ổ chuột, người khuyết tật, hoặc những nơi không có cơm ăn nước uống. Người nào không ăn chay, không giữ giới, làm phước thì sẽ sanh vào những nơi khốn khổ. Còn quý vị giữ giới, làm phước là quý vị sẽ có tư lương, có vốn, có vé, có tiền. Cho nên, phước và giới rất quan trọng, hai điều này giúp quý vị an lạc trong hiện tại và tương lai.
Cầu chúc cho quý vị có được niềm tin sâu sắc đối với Tam bảo, có được niềm tôn trọng sâu sắc đối với Thánh Giới, luôn luôn tưới tẩm hạt giống tôn trọng và hướng về Phật Pháp Tăng.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chia sẻ và câu hỏi của Phật tử PAGEREF _Toc76973657 \h 1
II.Sự quy y tối thượng PAGEREF _Toc76973658 \h 2
1.Quy y Phật PAGEREF _Toc76973659 \h 4
3.Quy y Hiền Thánh Tăng PAGEREF _Toc76973660 \h 11
4.Quy y Thánh Giới PAGEREF _Toc76973661 \h 12
III.Niềm tin bất động PAGEREF _Toc76973662 \h 13
Chia sẻ và câu hỏi của Phật tử
Chào quý Phật tử! Hôm nay thưởng thức trà thấy như thế nào?
Hãy phát biểu cảm nhận của mình trong giây phút hiện tại, trong khi ngoài trời đang mưa rào, gió mạnh, còn chúng ta trong nhà thì ấm áp, có Tam bảo, có bạn hiền, có một không gian thanh tịnh, trên tay thì bưng một chung trà ấm nóng, thơm và mình uống trong sự tỉnh thức chánh niệm. Mời quý Phật tử phát biểu cảm nhận, quý vị có thể chia sẽ những điều tâm đắc trong tu học, những lợi ích trong sự hành trì Phật pháp cũng như hỏi những sự thắc mắc nghi vấn trong sự học và tu. Chúng ta hãy trao đổi một cách thân thiện thoải mái, bởi vì đây là pháp đàm, trà đạo, không phải là buổi giảng thuyết. Xin mời tất cả quý vị.
Phật tử 1:
Con thì chưa quy y, nhà con thì rất sân, từ khi con bán đồ chay, tiếp xúc với nhiều Phật tử thì tâm con an. Cho con hỏi, có chị bạn ăn chay, nhưng chị ấy thấy con chưa quy y, chị ấy cũng muốn theo và chị ấy nói: “Đi bên phía chị, thì sẽ có Phật Di Lặc, biết nơi nào có Phật sinh ra và ở tại đó”. Con thì đi theo Huệ Vân, cũng học được nhiều điều hay, con đang phân vân thì chị ấy vẫn rủ con đi theo. Con thấy khi tiếp xúc với chị ấy thì tâm con không ổn, con chỉ hiểu được bao nhiêu thôi. Thật sự con chưa quy y, con chưa biết nhiều nhưng con đi với các cô, các chị ở đây thì tâm rất an, tinh thần con thoải mái, gia đạo bình an. Thầy cho con hỏi, chị ấy cũng nói là tu nhưng mà chị ấy nói, đi với nhóm chị ấy, thầy sẽ dẫn dắt tới những nơi có Phật và Phật sinh ở đó. Sau này, khi thời mạt pháp tới sẽ có giặc, khi đó tất cả đều chết, mà nhóm của chị ấy sẽ không chết mà tỏa sáng, chị ấy sẽ được cứu thoát. Thầy cho hỏi có thật sự như lời chị ấy nói không?
***
Câu hỏi của cô rất cần thiết cho những người mới bắt đầu tiếp xúc với chùa chiền. Những người đến với mình mà mình có cảm giác bất an thì chúng ta phải xem lại và cẩn thận. Vì Phật Pháp với tinh thần tự giác, tự nguyện, khi thấy giá trị lợi ích thì tự tâm mình hướng về học hỏi và hành trì, không phải đi đến kêu gọi, hứa hẹn, nhất là câu “nhóm chị không chết” là không đúng. Những người kêu gọi hứa hẹn mà không có thật thì không phải là Chánh Pháp, cho nên mình phải tìm thầy lành bạn tốt. Trước khi muốn quy y thì phải tìm hiểu tại sao mình quy y? Quy y được lợi ích gì? Quy y như thế nào? Quy y với ai? Chứ không phải nghe rủ, thấy vui thì đi theo.
Ở đây có vài vấn đề Minh Thành muốn chia sẻ với đa số quý Phật tử mới và muốn hỏi quý vị: Tại sao mình phải Quy y Tam bảo?
Phật tử 2:
Con tên là Trinh, con chưa có pháp danh và chỉ biết niệm một câu: Nam mô A Di Đà Phật, còn lại là con không biết, nhưng có niềm tin vào Phật, đó là niềm tin của con. Con đến từ Dubai và về phép được 40 ngày, cái duyên con đến đây là chị ở gần mà rủ con đi, con nói đi tu là đi liền và cỡ nào cũng đi. Theo con nghĩ khi quy y rồi thì mình có pháp danh và có Phật thì đối với những người nóng tính tâm sẽ dịu bớt đi, tập tành niệm Phật, tin tưởng vào Phật, đó là điều tốt.
Sư phụ: Có một vị nói quy y mình sẽ có được sự nương tựa vào Phật pháp, làm cho mình bớt nóng giận, bớt làm điều xấu, đó là lý do thứ nhất. Còn lý do thứ hai, tại sao quy y?
Phật tử 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên sư phụ cùng quý thầy. Kính thưa toàn thể quý vị Phật tử, con xin trả lời câu hỏi của thầy. Quy y Tam bảo là quy y quay về nương tựa Tam bảo, quay về nương tựa ba ngôi báu là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Một người Phật tử phát nguyện Quy y Tam bảo là quay về nương tựa ba ngôi báu, thì phải giữ được trọn năm giới: giới thứ nhất không được sát sinh, giới thứ hai không được trộm cắp, giới thứ ba không được tà dâm, giới thứ tư không được nói dối, giới thứ năm không được uống rượu.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sự quy y tối thượng
Minh Thành sẽ chia sẻ lí do tại sao quý vị nên quy y? Quy y lợi ích như thế nào? Và quy y như thế nào mới là chân chánh? Đây là những điều quan trọng thiết yếu đối với người mới đi đến chùa chiền.
Quý vị thấy rằng, trong cuộc sống thì phải cần một nghề nghiệp; trong mỗi gia đình thì cần ông bà, cha mẹ; về phương diện vật chất thì cần một số vật chất căn bản cần cho sự sống. Những điều trên là về mặt vật chất, tình cảm, đời sống, bên cạnh đó, phần tâm linh cũng rất quan trọng, vì tình cảm, vật chất và tinh thần là ba khía cạnh của cuộc sống. Người thiên nặng về vật chất thì đời sống tình cảm không có, người thiên nặng về đời sống tình cảm đôi khi lại bỏ qua đời sống vật chất, còn người thiên nặng về hai khía cạnh vật chất và tình cảm thì mặt tinh thần bị thiếu hụt. Những đất nước phát triển văn minh, con người tất bật do cuộc sống vật chất, suốt ngày đi làm, chỉ nghỉ vào cuối tuần để thư giản, du lịch, đâu phải cuộc sống cứ đều đều từ năm này qua năm khác, mà đôi khi có những vấn đề xảy ra. Khi đó về tinh thần bị hụt hẫng, giống như chơi vơi trên biển không có phao, không có thuyền. Quý vị tưởng tượng cảnh tượng một con người bị lọt xuống biển, sóng to, gió lớn, biển nước mênh mông, họ trôi nổi mà không có phao, không có thuyền, không có ai vớt, thì rất khủng khiếp. Và người không có điểm tựa tinh thần về tâm linh cũng giống như người ở trên biển chơi vơi.
Ngày xưa khi nhận thức con người chưa được sâu sắc, chưa được phát triển, thì người ta nương dựa vào lửa, xem lửa là vị thần linh, cho nên người ta thờ lửa, có khi tôn thờ ngọn núi, tôn thờ gió hay nước. Trong thời Đức Phật có nhiều đạo mà người ta đi xuống nước tắm, để rửa cho sạch tội, quý vị nghĩ xem nước đâu có rửa sạch tội, nếu nước rửa sạch tội thì các con cá, cua, tôm.. đâu có tội. Cho nên ngày xưa nhận thức con người chưa phát triển, chưa sâu sắc thì người ta nương dựa vào rừng, vào núi, vào cây, vào đá, lửa, đất... Nhưng những sự nương tựa này không chấm dứt khổ đau, chỉ có sự nương tựa tối thượng tức là không có chỗ nào cao hơn, chính là nương tựa Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới. Nếu mình nương tựa với ông bà cha mẹ, thì họ cũng đâu lột vỏ sống đời với mình. Vợ chồng nương, bạn bè nương tựa với nhau – những sự nương tựa này cũng cần về mặt tình cảm, vật chất nhưng về mặt tinh thần thì những người đó cũng đau khổ giống mình, cũng đầy dẫy sự ham muốn, nóng giận, không có sáng suốt, gọi là tham, sân, si.
Như vậy, sự nương tựa với Phật là bậc giác ngộ thấu đáo cùng tột, là sự thấy biết thấu đáo gọi là Vô Thượng Giác. Nương tựa với Pháp là con đường chấm dứt khổ đau. Nương tựa với Tăng là nhưng người đi trên con đường này, thực tập phương pháp này, đã có hiệu quả, lợi ích và hướng dẫn cho mình. Cho nên, tinh thần đã có điểm tựa chân chánh, trí tuệ, điểm tựa của tình thương vô tư, vô vụ lợi, thì đó là chỗ nương tựa lớn, rất vĩ đại mà mình không thể không nương tựa trong cuộc đời. Nếu mình không có chỗ nương tựa tinh thần hoặc nương tựa ở nơi không đáng nương tựa, như nương tựa vào vị thầy tà, những đạo không đúng Chánh Pháp thì sự nương tựa đó đưa mình tới chỗ gãy đổ, sụp đổ, đổ vỡ, đưa đến khổ đau trong đêm dài tăm tối của vô minh và si mê.
Quy y Phật
Chính vì vậy, sự trở về nương tựa với Phật là việc làm quý báu trong kiếp người, trong cuộc đời, nếu trong đời mình không quay về nương tựa với Phật thì uổng cho một kiếp người. Tại vì trong ba ngàn đại thiên thế giới, không chỉ là trái đất mà cả thế dương hệ, trong hàng tỷ tỷ hành tinh, bốn đại a tăng tỳ kiếp, bốn a tăng tỳ kiếp, một trăm ngàn đại kiếp thì mới có một Đức Phật ra đời một lần. Kiếp không phải là mình sống và chết trong một đời người, đó chỉ là tiểu kiếp, còn kiếp trong đạo Phật là một trăm năm ra dãy Trường Sơn cầm khăn mù xoa phủi khăn một lần, phủi cho đến khi dãy Trường Sơn thành cát bụi thì tính là một kiếp. Còn a tăng kỳ là vô số trường thời, tức là thời gian dài không tính được số, nếu tính được là hàng trăm, hàng ngàn con số 0, với thời gian dài như vậy thì chỉ có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian. Bậc Chánh Đẳng Giác là vị đó không có thầy tự mình tu tập, giác ngộ thấu suốt được bản chất của nhân sinh và vũ trụ tận cùng để giác ngộ thành Phật. Với bốn đại a tăng kỳ, một trăm ngàn đại kiếp mới có một nhân vật như thế xuất hiện.
Trong kinh Đức Thế Tôn nói rằng: ‘‘Trong loài hai chân, bốn chân, nhiều chân; trong loài loài có sắc, có tưởng hay không tưởng; trong loài sanh bằng bào thai, sanh bằng trứng, sanh nơi ẩm thấp hay biến hóa,... Trong tất cả loài này thì Như Lai là tối thượng, không có một chúng sanh nào ngang bằng với Phật, so sánh được với Phật, song đối được với Phật, không có một chúng sanh nào có thể so sánh được với bậc Chánh Đẳng Giác và sự giác ngộ của Ngài”. Giáo pháp của Phật thì hơn 5.000 năm, Đức Phật Thích Ca nhập Niết-bàn hơn 2.600 năm, đã được phân nửa thời kì. Như vậy còn 2.400 năm nữa, thì không còn tên Phật Thích Ca Mâu Ni, không còn giáo pháp Tứ Đế, Bát Chánh Đạo, tất cả Tứ Niệm Xứ không còn. Lúc đó không còn ai biết giáo pháp của Phật, do giáo pháp của Phật chỉ tồn tại 5.000 năm, lúc đó xá lợi của Phật sẽ biến mất trên thế gian. Cho nên mình sanh gặp được bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện, giáo pháp còn, thì công đức phước báu của mình vô cùng, vô tận. Thế nhưng, có những người chưa từng biết Đức Phật là ai? Chưa từng biết đời sống Đức Phật như thế nào? Đức Phật đã giảng giải giáo pháp như thế nào? Chư Tăng thực hành như thế nào? Giới như thế nào? Người ta chưa từng biết, cho nên người đó có phước mà vô phước, còn mình có phước và Quy y Tam bảo, là mình đang có phước và có thêm phước.
Hiện tại quý vị ở đây đều có phước, không phải dễ dàng, do đó quý vị chưa quy y thì quy y, nhưng quy y thì phải lựa thầy, lựa bậc chân tu. Vì quy y là trở về nương tựa, mình học với bậc đại giác ngộ, học phương pháp diệt khổ, giảm khổ, học với vị Hiền Thánh Tăng chỉ cho mình hạnh phúc, chứ không có gì lỗ. Nếu không mình nghe những lời quyến rũ, tuy họ nói là đạo Phật, nhưng không phải đạo Phật chân chánh, họ mượn danh đạo Phật, mượn tên của Đạo Phật nhưng họ phục vụ cho vụ lợi, danh lợi cá nhân, làm cho mình rơi vào thầy tà bạn ác, là mình rớt xuống vực thẳm, hố sâu. Rất nguy hiểm, phải cẩn trọng.
Từ đây cho đến Minh Thành 80 tuổi, cũng chưa nói hết công đức của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Như Lai, một buổi thì không thể nói hết. Từ đây đến chết, Minh Thành đầu thai trở lai nói tiếp, rồi đầu thai tiếp tục một trăm đời ngàn kiếp nói cũng không được một sợi lông chân công đức của Đức Như Lai Chánh Đẳng Giác. Công đức của Phật rất lớn, công đức của Phật siêu việt, trí huệ của Phật siêu việt, thế và xuất thế. Tức là không phải công đức của Phật vượt hơn con người, mà con người không là gì so sánh với Đức Phật, ngay cả Trời, Thánh nhân cũng không hiểu nổi trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác. Trí huệ của Phật là tối tôn, là tối thượng, là vô thượng, mười phương thánh phàm không ai so sánh với bậc Chánh Đẳng Giác. Mỗi khi lạy dưới Đức Phật mà mình đem tâm chân thành, cung kính, là sanh ra phước báu, công đức trong hiện tại và tương lai, có duyên sau này gặp được bậc Chánh Đẳng Giác. Mình gặp được thì chắc chắn được giác ngộ, giải thoát, cho nên công đức từ bi, trí huệ của Phật là không cùng tận.
Công phu khuya tại các chùa có tụng bài kinh:
Hư không khả lượng phong khả kế,
Đại hải trung thủy khả ẩm tận.
Hư không khả lượng phong khả kế,
Vô năng thiết tận Phật công đức.
“Đại hải trung thủy khả ẩm tận” tức là có người xuống dưới biển hớp một hớp là có thể uống hết cả nước biển; “hư không khả lượng” là có thể lường được bờ vực của hư không, đo được sức gió, đo được sức ánh sáng, nhưng “vô năng thiết tận Phật công đức” tức là không có khả năng, không thể nào nói hết công đức của Đức Phật. Minh thành chia sẻ công đức của bậc Chánh Đẳng Giác để mình hiểu tại sao phải quy y với Phật. Mình đối với trí huệ của Phật như hạt cát trên sa mạc, cho nên khi trở về nương tựa với Phật giống như giọt nước vào trong đại dương, hòa tan với biển cả. Mình trở về quy y với Phật và quy y chân chánh, đúng Chánh Pháp thì giọt nước của mình vào trong biển hòa tan với biển, được trở thành Phật tử, là con của Phật, con của bậc đại giác ngộ, trong tương lai mình sẽ giác ngộ.
Quy y Chánh Pháp
Ý thứ hai là quy y Pháp. “Pháp của Đức Thế tôn là khéo thuyết, thiết thực, hiện tại đến có hiệu quả tức thời, không trải qua thời gian, người trí tự mình giác hiểu”. Pháp của Đức Phật là thiện thuyết khéo nói, khéo nói ở chặn đầu, khéo nói ở chặn giữa, khéo nói ở chặn sau cùng, gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Tức là tất cả những lời của Đức Phật nói trong Kinh Tạng Nikāya, từ lời ban đầu đến giữa và sau cùng thì lời nào cũng là toàn thiện, toàn bích, toàn mỹ vì lời đó phát xuất từ tâm đại trí huệ giác ngộ nên gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, gọi là lời khéo nói. Còn mình có tâm sân si thì không khéo nói, người ta nghe rất mệt, do mình không khéo nói.
Trong kinh tạng Đức Phật chia ra ba dạng lời nói: lời nói như phân, lời nói như hoa, lời nói như mật. Lời nói như phân là lời nói dối, sai trái; lời nói như hoa là có sao nói vậy, nói đúng sự thật; lời nói như mật là lời nói tinh hoa của hoa, là lời nói không những là sự thật mà còn từ ái, còn liên hệ đến điều thiện, điều lành đem lại lợi lạc cho mọi người, là lời nói như mật như mật ong. Quý vị tập lời nói của mình nói như mật, Phật dạy hay lợi ích nên mình phải ứng dụng.
Lời nói như mật là người đoạn tận lời nói ác, từ bỏ lời nói ác. Lời nói không có hại, tai ưa nghe, đáng yêu khả ái đi thẳng đến tâm, lễ độ, được nhiều người ưa thích, được nhiều người thích ý, người ấy nói những lời như vậy, này các Tỷ-kheo đây là hạng người nói như mật. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Ba Pháp, Phẩm Người, bài kinh Nói Như Hoa). Như vậy quý vị chịu lời nói như hoa, lời nói mật thì phải thực hành cho đúng.
Lời nói của Đức Phật là chánh ngữ, chân chánh, ái ngữ, lời nói từ ái; lời nói của sự yêu thương, chân ngữ, thật ngữ, như ngữ, lời nói chân, lời nói thật, lời nói chữ như là đúng với sự thật, gọi là như ngữ. Cho nên pháp của Đức Phật là thiết thực hiện tại đến để mà thấy. Thiết thực, hiện tại như thế nào?
Đức Phật nói rằng: ‘‘Nội tâm của bạn đang có tham thì bạn biết nội tâm của bạn đang có tham, phát hiện ra nội tâm đang có tham, cái tham này sẽ đưa đến làm hại mình hại người, làm hại cả hai, làm hại mọi người. Nội tâm của bạn đang có nóng giận, bạn phải biết nội tâm có nóng giận, cái nóng giận này hại mình, hại người và hại tất cả, mình phải biết được điều này, giảm xuống, dừng lại, tìm cách đoạn diệt, chấm dứt từ bỏ thì có lợi ích. Nội tâm đang có si mê thì phải biết đang có si mê, cái si mê này làm hại mình, hại người, hại cả hai”.
Đối với tham, tâm mình khởi lên tham muốn mình phải biết, khi biết thì phải dừng lại nhưng có khi dừng được, có khi không được. Nóng giận khởi lên trong nội tâm cũng phải biết, khi biết thì phải dừng lại, nhưng cũng có khi được nhưng có khi không được. Nội tâm đang có si mê thì mình có biết không? Si mê rất khó biết, si là trạng thái lờ đờ, lơ tơ mơ, lờ mờ, không tỉnh táo, sáng suốt, minh mẫn, rõ ràng, tâm co rút lại, thân trì xuống, mọi thứ chung quanh không nhận rõ. Chúng ta thường bị si rất nhiều nhất là giờ bắt đầu tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền và đó chính là khi si xuất hiện, mình phải biết.
Như vậy tham dùng gì để trị? Si dùng gì để trị? Sân làm gì để trị? Nếu không có phương pháp trị tham, sân, si thì không giải quyết được. Giống như mình phải uống đúng thuốc mới hết, nếu nhức đầu mà uống thuốc sổ là không được hay uống nhầm thuốc, do mình chưa tu học tới. Giống như bác sĩ muốn có bằng cấp phải học bảy năm, mới biết bệnh, biết thuốc thì mới chữa trị bệnh được. Tu cũng giống như vậy dùng pháp phải chính xác mới đối trị được phiền não. Thí dụ Đức Phật nói trong kinh, tu đúng pháp mới có kết quả, nếu quý vị đem cát nghiền ra dầu ăn để chiên tàu hủ thì không được; múc nước cũng không thể đốt lửa thì cũng không được đó chính là sai pháp; như cây dùi đánh vào chuông thì mới ra tiếng chuông, còn đánh vào cây hoặc gối thì không nghe được tiếng chuông, cũng giống như tu không đúng pháp, không có kết quả.
Như vậy, trở lại vấn đề, nếu nói lấy bố thí trị tham, Minh Thành thấy các cô ở đây cũng bố thí nhiều nhưng tham cũng chưa giảm hết. Còn sân thì lấy từ bi trị sân, thì sân sẽ thu nhỏ. Còn si thì lấy điều gì trị? Mỗi khi tu kinh, niệm Phật có trị được si không? Si làm mình muốn ngủ gục, hôn trầm, lờ mờ. Đối với tham thì Đức Phật có dạy tại sao mình tham? Phải biết nguyên nhân tham thì mới trị được. Tham có phải là do đua đòi, ham muốn, bám chấp, thiếu thốn không? Nhưng nhiều người giàu có cũng tham, giàu cũng muốn thêm. Cho nên nếu mình hiểu chưa đúng thì phải nghe lời Đức Phật dạy. Tại vì trí huệ Phật là Chánh Đẳng Giác thấu tột hết, tất cả nguồn gốc của phiền não là từ đâu, vận hành như thế nào, phương pháp nào để chấm dứt? Phật đã dạy hết trong Tứ Thánh Đế. Đức Phật nói tại vì mình thấy nó thật, quý nên mình mới tham, thấy đối tượng mình tham là đẹp, quý, thật. Đức Phật gọi là tịnh tướng tức là thấy đẹp, thật. Quý vị nghĩ xem mình thích cái gì là do trong lòng mình thấy đẹp, quý, thật, nếu mình thấy không có giá trị, không đẹp, là đồ giả thì mình không tham.
Tịnh tướng làm cho mình phát sanh tham. Muốn dứt tham thì Đức Phật có dạy rất rõ là “bất tịnh tướng”, là không có thật, không có đẹp, ba điều này đơn giản nhưng mình tu suốt cuộc đời cũng không được. Thế nào là bất tịnh tướng? Là có ngày đó mình nằm dài, không còn thở, có bốn người khiêng, mình bất động, lạnh cứng đơ, sau đó thì phình lên, xanh bầm, xám lại, nứt da chảy nước vàng, chảy mủ ra, giòi ăn trong cơ thể, diều hâu và quạ thì rỉa từng miếng thịt để ăn, lòi ra bộ xương, xương sọ, xương tay, xương chân, xương sườn trải qua năm tháng các khúc xương rải rác khắp nơi, nhiều năm sẽ nát thành bụi. Đức Phật dạy mình quán chiếu kết cục của thân gọi là niệm thân, thường chiêm nghiệm, quán sát thân, sự thật của thân sau cùng sẽ trở thành cái gì. Đây gọi là Cửu Tưởng Quán – chín giai đoạn của một xác chết.
Các thầy Tỷ-kheo, những người xuất gia phải quán bất tịnh tướng, là tướng không sạch sẽ, mình phải quán chiếu như vậy để mình bớt tham thân của người và bớt tham luyến vào thân của mình. Quý vị thấy tham thân của người thì cũng đau khổ, dính mắc vào thân, tham đắm vào trong thân đó chính là cái khổ nhất của con người. Trên đời biết bao nhiêu người tự vẫn, người li dị, đánh ghen, tạt a xít, giết người, hãm hại lẫn nhau cũng do ghen, ghen từ tình, mà tình là từ dục, mà dục là tham, tham từ ái, ái từ yêu, yêu từ thích, thích là do đẹp. Do không thấy được bản chất của sự thật, từ đó cuốn mình vào vòng khổ sở mãi mãi,
Như chúng ta thường thấy hình ảnh thầy Tỷ-kheo ngồi dưới gốc cây, người chết từ từ rã ra tới xương, rồi cuối cùng bộ xương trắng nát hết. Hình đó chỉ cho pháp quán bất tịnh, không chỉ người tu, mà người cư sĩ mỗi ngày đều nên luyện tập để trị tham dục, trị rất hiệu quả, chỉ có hình ảnh này mới trị được tham dục, ngoài ra không có cái nào trị được. Bố thí thì cũng không trị được tham, nhiều khi cho còn muốn có nhiều thêm, đôi khi mình cúng mà mình cầu nguyện xin phù hộ. Thành ra khi suy nghĩ sâu sắc, mình thấy rằng không phải cầu nguyện là được hay không được, mà mình có phước thì được, mà mình không có phước mà cầu đến 10-20 năm cũng không được.
Đối với sân, tại sao mình sân? Tại sao nóng giận? Giận hoài nhưng hỏi tại sao thì lại không biết. Cho nên Đức Phật nói mình si mê, không có trí huệ để thấy được các pháp vận hành trong thân tâm của mình. Mình phải nghe lời Đức Phật dạy chứ bản thân mình đoán không đúng, mình đoán trúng thì là nghe trong kinh. Đức Phật nói mình cho rằng đối tượng mình đang giận là chướng ngại tướng, mình thấy họ chướng mắt, chướng tai. Khi mình giận mình thấy người đó đi hay đứng mình cũng ghét, nói câu gì cũng ghét đó là chướng ngại tướng, là chướng tai gai mắt. Thí dụ, bình thường hai vợ chồng sống chung với nhau rất thương yêu, nhưng khi giận nhau thì không nhìn mặt nhau, giận nhiều, giận đến ly thân, ly dị nhau. Tại vì chướng tai gai mắt, chướng ngại tướng là nguyên nhân của sân.
Đức Phật dạy, muốn hết giận thì dùng từ tâm giải thoát, từ tâm là dùng tâm, tình thương của mình, do mình giận mình cũng rất đau khổ, rất mệt mỏi, nóng bức, và người bị giận cũng rất đau khổ. Tất cả đều là nạn nhân của phiền não thì mình nên bỏ qua, thương nhau chứ giận nhau chi cho tội. Mình bị cái giận hành hạ sáu chục năm rồi, không lẽ để cái giận này hành hạ mình mãi sao, rồi mình lại hành hạ người ta cho khổ hay sao, cùng hành xác cho khổ hay sao, mình phải quán chiếu điều này. Mình đi theo chướng tai gai mắt chính là tự hành hạ mình, chứ không phải tu hành, làm cho mình khổ, người khổ, làm cho mọi người cùng khổ. Do đó mình cần phải thương vì mọi đau khổ là nạn nhân của phiền não, cần tha thứ do mình cũng khổ người cũng khổ. Tu cho bớt khổ, chứ không phải tu để khổ, rủ nhau khổ.
Vợ chồng, cha mẹ, chị em, con cái, bạn bè cũng có nhân duyên, ân nợ với nhau, cũng có nghiệp với nhau nên gặp nhau để trả, nếu mình không chịu trả cho hết mà vay thêm nữa thì sao mình giải thoát. Do đó mình cần tháo gỡ gọi là giải thoát, và đem tình thương để cảm thông tha thứ gọi là từ tâm. Đầu tiên mình phải mở ra gọi là giải thoát, đừng buộc vào, sau đó mình đem tình thương để tha thứ cảm thông gọi là từ tâm giải thoát mới trị được sân.
Quý vị cần thực tập mỗi đêm, quán thương mình, thương cha mẹ, thương vợ chồng, con cháu, bà con sau khi quán được thì mình mới quán đến những người mình ghét. Mình nghĩ ra những thứ đáng ưa của họ, tại họ cũng có những điều tốt của họ, trước khi giận thì mình thấy họ rất tốt, nhưng sau khi giận thì mình không thấy người đó tốt. Lúc giận là mình không con sáng suốt, giận mất khôn, thấy tiêu cực của người đó, mình cứ thấy tiêu cực, thấy chướng ngại tướng, đối ngại tướng, chướng tai gai mắt thì giống như đổ xăng đổ dầu vào đống lửa, làm cho cháy bùng lên dẫn dến cháy người, đốt nhà.
Quý vị có thấy mình cũng có chạm dây chập mạch, và giật đến người khác, điện mà gặp chất dẫn điện thì lan rất nhanh, dẫn đến chết người, giống như cái sân mà gặp chất dẫn điện thì đốt hết cha mẹ, vợ chồng, anh chị em. Nhiều khi vì lòng tham tiền bạc, tình cảm mà đốt cháy, hủy hoại hết, sau đó vào tù, hối hận cũng không kịp. Do đó lúc tham sân thì hãy bình tĩnh, ngồi hít thở sâu bình tĩnh vào để tâm lắng dịu rồi từ từ, lúc bình tĩnh hãy giải quyết sự việc.
Bồ Tát Tịch Thiên có dạy, khi mà nổi giận giống như cây đứng yên, nếu cây yếu gió thổi làm cây ngã sẽ mất gốc, còn cây lớn mà gió thổi cũng vẫn đứng yên. Do đó khi tu mà tham, sân, si nổi lên mình phải chánh niệm tỉnh giác, phải bình tĩnh. Nếu không bình tĩnh mà đi theo tiếng gọi của con tim, là tình cảm thì sẽ xảy ra chuyện hỏng hết. Ví dụ có gia đình mà gặp người ta cười có duyên về nhớ hoài, rất nguy hiểm. Lúc đó mình phải ngồi lại quán bộ xương là giòi ăn, xác chết đừng có tham. Mình phải quán chiếu để từ bỏ, phải dứt được, phải cắt được liền thì tham hết, nhưng mình để lại suy nghĩ, thì tham từ từ tăng trưởng phát triển lên. Cho nên Đức Phật dạy rất hay, mình cần ứng dụng để thấy được giá trị, nếu không ứng dụng sẽ không thấy được lợi ích. Nếu cứ lạy cúng cầu xin thì chỉ là mê tín, chỉ mới đứng ngoài cổng chùa chưa vào chánh điện.
Khi chúng ta nhận thức được tham, sân, si là đã có trí huệ. Khi tu, không phải nhìn người ta mà là phải luôn luôn nhìn lại để thấy tham, sân, si của mình. Thấy được thì phải nhiếp phục, biết cách nhiếp phục, biết cách chuyển hóa thì mới được an lạc. Tu không phải là được mà tu là huấn luyện thân và tâm, làm chủ thân tâm, không phải yêu cầu để Phật cho một điều gì hết, vì Phật không cho được, nếu Phật cho được thì Ra-hầu-la, Ma Ha Ma Xà Ba Đề, Da-du-đà-là – những người thân của Phật đã không đi xuất gia. Phật chỉ phương pháp đoạn tận tham, sân, si, pháp này chỉ cho mình đi đến chỗ tối thượng, chấm dứt khổ đau, đó chính là vô thượng pháp bảo cho quý vị quy y.
Phá si mê thì phải dùng sự tinh tấn dũng mãnh, hùng dũng, đại hùng, đại lực, không yếu đuối, nhu nhược, yếu hèn, nhút nhát. Phải thấy tinh thần bất khuất của Đức Phật. Đức Phật là một thái tử nhưng bỏ đi và ngồi dưới gốc cây, lấy tấm vải trong nghĩa địa quấn lên mình, còn bao nhiêu bỏ hết quần là, áo lụa đó là tinh thần đại hùng, đại lực, tin tấn. Còn tu mới được chút ít mà than buồn ngủ, than đau, than mỏi, nhức lưng, do đó mình phải dùng sự tinh tấn, tinh cần, nỗ lực để trị cái giải đãi, lười biếng, si mê làm cho phấn chấn lên, tinh cần giới, dũng mãnh giới, tinh tấn giới.
Quý vị có biết tại sao nước Mỹ giàu không? Tại sao nước Mỹ đi đầu thế giới không? Chỉ có hai chữ là ‘‘Tự tân”, là luôn luôn làm cho mình thành mới mẽ. Mình tu học thì không chấp nhận trong hiện tại, đừng nghĩ tu bao nhiêu cũng được, cũng khá, mà mình phải luôn làm cho mình mạnh mẽ lên, làm cho mới mẽ, làm cho mình tinh tấn bước lên.
Thí dụ quý vị đi làm một tháng được 5-7 triệu, vẫn muốn mình được tăng lương 10 triệu, nếu được tăng lên 50 triệu mà khả năng mình làm được thì mình cũng chịu, do đó tại sao đi tu tăng lên mà mình sợ. Cho nên tinh tấn lên để phá si mê, đó là giá trị của pháp rất tuyệt vời, để phá tham, sân, si để thành tựu giới định huệ, chấm dứt khổ đau.
Quy y Hiền Thánh Tăng
Còn Tăng là bốn đôi tám bậc Hiền Thánh Tăng của Đức Phật, là những người hiểu giá trị, hiểu được sự tôn kính của Đức Phật, hiểu được giá trị quý báu của Chánh Pháp. Đó là những người hy sinh cả cuộc đời để làm việc tu tập cho được, chuyên tâm thực hiện tu tập. Thấy được đạo lý đó, giá trị đó, lợi ích đó, nhận thức rất sâu sắc, có ý chí mạnh mẽ, mãnh liệt vứt bỏ hết mọi tất cả để đi nhất hướng một con đường, đó là Hiền Thánh Tăng. Đó là những bậc đáng được tôn trọng, cung kính, đáng chắp tay, đáng cúng dường, đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng ở trên đời đó là Quy y Tăng. Cho nên Phật Pháp Tăng là ba báu vật trên thế gian này, mình phải trở về nương tựa, không còn chỗ nào nương tựa mà tối thượng hơn, mà mình không nương tựa là uổng cho một kiếp người.
Quy y Thánh Giới
Cuối cùng quan trọng là giới, có những người không dám quy y là do không thọ được năm giới, sợ không giữ được năm giới. Minh Thành nói giữ được năm giới thì thọ làm chi nữa, giữ giới không được thì mình mới thọ, thọ giới để mà giữ giới. Giống như nói biết chữ thì mới đi học thì không đúng. Tại vì mình không giữ giới được, cho nên mình mới thọ giới để từ từ giữ giới, mà giữ giới thì đem lại lợi ích cho mình, cho gia đình và xã hội, cho những người thân thương, những điều giới đó là Vô Thượng Thánh Giới. Bậc đại giác mới thấy đây là những điều kiện giúp cho mình có cuộc sống bình an và hạnh phúc, do đó quý vị muốn bình an thì phải quy y.
Trong đêm 30 Tết, quý vị hay đi mười chùa để cầu an, ghi tên cầu an, nhưng không phải lạy và ghi tên cầu an là được, mà giữ giới mới làm cho mình bình an, Vô Thượng Thánh Giới là điều kiện của sự bình an. Nếu không giữ giới là mình luôn luôn bất an. Thí dụ, thấy đồ của người khác đẹp, thì lấy đem đi giấu, mình lường gạt, nói dối người khác thì tâm mình sẽ không an, giết người thì làm sao tâm an. Tất cả những giới đó là để bảo vệ bình an, hạnh phúc cho mình. Có những người mới quy y thực tập giữ giới cho rằng rất khó, đó là không phải, mà mình phải muốn làm những điều đó. Cho nên Đức Phật nói, làm những điều này sẽ được những điều này, mà mình muốn ăn trái mà không muốn trồng cây thì không được, không trồng cây thì cũng phải bỏ tiền ra muốn, cái gì cũng có cái giá của nó, và cái giá của sự bình an là Thánh Giới.
Từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh trong các dục tức là tà dâm, từ bỏ nói dối, từ bỏ uống rượu. Nhưng không phải khi mình thọ giới là mình bỏ được hết một lần, mà phải bỏ từ từ, ví dụ lúc trước là tám thì bỏ còn năm, từ từ nghe giới cho đến khi bỏ được hết, thì lúc đó mình sẽ được bình an, hạnh phúc ngay trong cuộc đời này. Quý vị biết rằng đời đời, kiếp kiếp sẽ qua lại hưởng phước lạc trong cõi Người, cõi Trời do năm giới này. Năm giới bảo vệ sự tốt lành cho mình trong bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Nếu mình không giữ giới, không thọ giới thì mình nghĩ tôi đâu có thọ giới mà giữ, mình cho phép mình buông lung phóng vật, sẽ đưa mình đến vực sâu của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cho nên năm giới này là Vô Thượng Thánh Giới.
Niềm tin bất động
Vì vậy. khi mình có niềm tin bất động đối với Phật, niềm tin không còn dao động đối với Pháp, niềm tin vững chắc đối với Tăng, và niềm tin tôn kính vô cùng cực đối với điều kiện bình an và hạnh phúc, đó là Giới Pháp là chúng ta có đầy đủ điều kiện bước vào vòng trí huệ của Đức Như Lai.
Bốn điều nên nhớ: Niềm tin đối với Phật, Pháp, Tăng, Thánh Giới, đây là bốn điều vô thượng, tối thượng trên tất cả trên thế gian này. Quý vị bám chặt vào bốn điều này thì trong hiện tại sẽ bình an hạnh phúc, còn trong tương lai được hưởng phước trong cõi Trời, cõi Người, sanh ra ở những nơi hạnh phúc, không sanh ra những nơi nghèo khổ, nơi ổ chuột, người khuyết tật, hoặc những nơi không có cơm ăn nước uống. Người nào không ăn chay, không giữ giới, làm phước thì sẽ sanh vào những nơi khốn khổ. Còn quý vị giữ giới, làm phước là quý vị sẽ có tư lương, có vốn, có vé, có tiền. Cho nên, phước và giới rất quan trọng, hai điều này giúp quý vị an lạc trong hiện tại và tương lai.
Cầu chúc cho quý vị có được niềm tin sâu sắc đối với Tam bảo, có được niềm tôn trọng sâu sắc đối với Thánh Giới, luôn luôn tưới tẩm hạt giống tôn trọng và hướng về Phật Pháp Tăng.
./.