Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đạo Lộ Bậc Thánh

2026-03-03 00:54:43
ĐẠO LỘ BẬC THÁNH

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Công năng thực hành ba pháp PAGEREF _Toc111631195 \h 1

II.Nhận diện dục, tham, ái PAGEREF _Toc111631196 \h 4

III.Quán bất tịnh PAGEREF _Toc111631197 \h 6

IV.Thánh trí ngũ uẩn PAGEREF _Toc111631198 \h 9

Công năng thực hành ba pháp

Được sự chỉ dạy của thượng tọa trụ trì và ban tổ chức, Minh Thành về đây chia sẽ pháp hành cho người xuất gia trong khóa tu "Xuất gia gieo duyên" lần này. Minh Thành mong muốn gửi đến tất cả các giới tử một đường lối tu tập chánh thống của Đức Thế Tôn trong kinh tạng Nikāya, đây là pháp hành cực kì quan trọng. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, không một vị xuất gia Tỳ-kheo nào mà không thực tập theo, Minh Thành mong hôm nay chúng ta vừa pháp học vừa pháp hành. Chúng ta sẽ không nghe giảng bằng cách nghe thông thường như một buổi thuyết trình, mà chúng ta nghe bằng sự thực tập chánh niệm và thiền quán, để soi rọi lại thân tâm chính mình, để sau khóa tu chúng ta thấy rõ một đạo lộ xuất ly, một con đường giải thoát thật sự mà Đức Thế Tôn đã truyền trao gần ba ngàn năm qua.

Minh Thành mời đại chúng để tay theo tư thế thiền, mắt chúng ta nhìn xuống về phía trước, và xin tất cả đại chúng tuyệt đối không nhắm mắt. Mắt nhìn xuống về phía trước và mở rộng hết mức tầm mắt ra hai bên không trụ vào một điểm. Đây Đức Thế Tôn gọi là chánh niệm trước mặt. Tiếp theo chúng ta trở về hơi thở, thở vào và biết là thở ra, thở ra và biết là đang thở ra. Cảm nhận hơi thở vào - ra. Cảm nhận ba chỗ động chuyển của hơi thở: Lồng ngực, chóp mũi và bụng. Từ ba chỗ động chuyển này mở rộng cảm giác ra cảm nhận cảm giác trên đỉnh đầu, cảm nhận cảm giác ở mặt, vai, cánh tay, bàn tay, mình, bụng, mông, chân, ống chân, bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể. Từ đỉnh đầu đến gót chân, cảm nhận cảm giác toàn thân. Toàn bộ cơ thể có cảm giác gì mình ghi nhận, cảm nhận cảm giác đó, cảm giác toàn thân. Nội tâm tỉnh giác, sáng tỏ, tỉnh táo, biết rõ chánh niệm ở trước mặt, biết rõ hơi thở, cảm nhận cảm giác toàn thân.

Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu. An tịnh, lắng dịu một cảm giác bình an, một cảm giác thanh tịnh, một cảm giác nhiệm màu trong giây phút này. Thật là hạnh phúc thay ta đã bỏ tất cả những thế sự, thế lợi, thế vật. Hạnh phúc thay! Ta đã buông xuống tất cả những phiền lụy của cuộc đời. Hạnh phúc thay ta đã vứt đi tất cả những sầu bi, khổ ưu não của thế gian, và giờ phút này ta đang ngồi đây, một dáng ngồi của bình an và tịnh lạc. Mỉm miệng lên cười nhẹ, hoan hỷ. Mỉm miệng lên cười nhẹ thật là hạnh phúc cho ta, hạnh phúc cho ta đã ra khỏi căn nhà thế tục của khổ lụy, và giờ đây ta đang ngồi trong ngôi nhà của chánh pháp, xuất ly và giải thoát.

Bình an, thật là bình an. Mỉm miệng lên cười nhẹ một cảm giác tràn ngập của sự thanh tịnh, của sự trang nghiêm, của sự hỷ lạc xuất ly, viễn ly, ly tham đối với cuộc đời này, lìa tham dục được niềm vui vắng lặng. Màu nhiệm, thật là màu nhiệm, thật là tuyệt vời cho giây phút thiêng liêng vi diệu thần thánh này. Chánh niệm mở trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, mỉm nhẹ một nụ cười hàm tiếu tịnh lạc vi diệu. Mỉm nhẹ làm cho một cảm giác hỷ lạc trào dâng lên sự vui sướng hạnh phúc trong giờ phút này, giờ phút mà ta đã ao ước, đã mong chờ suốt mấy mươi năm, và bây giờ đã trở thành hiện thực.

Đại chúng có thực tập được không? Có thấy được hỷ lạc trào dâng không? Cảm giác hoan hỷ hạnh phúc có phát sanh được không? Đó là Minh Thành giới thiệu với đại chúng ba pháp hết sức quan trọng trong khi ngồi thiền, bất cứ lúc nào đi đứng ngồi nằm chúng ta đều thực tập. Tuyệt đối khi ngồi thiền không nhắm mắt, khi mình ngồi thiền mà nhắm mắt: Thứ nhất sẽ dễ rơi vào hôn trầm mờ mịt, gục lên gục xuống, mình ngồi thiền nhưng thật sự mình đang ở trong si mê và vô minh, cho nên tuyệt đối không nhắm mắt. Thứ hai khi nhắm mắt sẽ lạc vào tưởng, tất cả những hình bóng lờ mờ hiện ra, mình sẽ đi vào tưởng uẩn, mình không có tỉnh táo, cho nên Đức Phât dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ là chánh niệm ở trước mặt, đặt niệm ở trước mặt, đây là pháp hành mà tất cả các Tỳ-kheo thời Đức Thế Tôn còn tại thế đều thực tập theo, đó là đặt niệm ở trước mặt và chánh niệm ở trước mặt, không nhắm mắt.

Quý vị nhớ khi đặt niệm ở trước mặt thì chúng ta không trú vào một điểm, vì trú vào một điểm là lúc sau mình tưởng ra tùm lum hình ảnh, vì thế tầm nhìn mở rộng ra hai bên hết mức thì nhãn thức, cái sự rõ biết các sắc của mình được tinh minh, sáng tỏ, rộng mở cho nên lúc đó mới tỉnh táo. Thiền là phải tỉnh táo chứ không có si mê. Đại đa số mọi người lên thiền là nhắm mắt lại, hít vào thở ra là gục đầu luôn. Cho nên ngồi thiền hoài mà không khai mở trí huệ là lý do vậy. Vì thế Minh Thành chia sẻ ba pháp này đến đại chúng, thứ nhất là chánh niệm trước mặt, cái thấy của mình được sáng tỏ, rộng mở. Mình nhìn trú vào một điểm tấm thảm hoặc nền gạch là ra đủ thứ mèo, bò, chuột hoặc mặt người tùm lum, mình nhìn trú vào một điểm sẽ tưởng ra đủ thứ nên không được trú vào một điểm, mà tầm nhìn phải rộng mở hết mức. Nếu chỉ trở về hơi thở thì tâm rất nhỏ hẹp, vì pháp hơi thở này rất nhỏ nên không thể xuyên thủng khối vô minh uẩn to lớn được. Cho nên, đừng chỉ thở vô thở ra vì như vậy thì tâm mình chỉ trú vào hơi thở, thọ trong hơi thở, cảm giác về hơi thở, tưởng về hơi thở… tâm chỉ xoay quanh một chút xíu như vậy thì không làm gì được.

Cho nên đầu tiên Minh Thành nói chánh niệm trước mặt, thứ hai là trở về hơi thở thì mình vẫn biết thở vào hay thở ra trong sự tỉnh giác và rõ biết, không chỉ dừng lại chỗ hơi thở không mà phải từ hơi thở cảm nhận chỗ động chuyển của hơi thở trên thân. Động chuyển của hơi thở có ba nơi rõ rệt. Lỗ mũi: là phong đại, khi gió đi vào đi ra thì có sự động chuyển ở chóp mũi, động chuyển ở lồng ngực, và động chuyển ở bụng. Đây là ba nơi động chuyển mình thấy rõ nhất. Sự biểu hiện của động chuyển hơi thở hiện ra trên thân mình thì mình phải cảm nhận rõ, đây là chánh niệm chứ không phải chỉ biết hơi thở không, phải thấy được sự động chuyển trong hơi thở, sự động chuyển trên thân, mình phải biết rõ sự động chuyển đó và khi đó mình cảm nhận cảm giác toàn thân, điều này cực kì quan trọng.

Tại sao Đức Phật dạy mình phải luôn luôn cảm nhận cảm giác toàn thân? Chỗ này hết sức sâu sắc, và Minh Thành cũng có chia sẽ nhiều lần là do thói quen của mình là hướng ngoại, tìm kiếm bên ngoài, mình nhìn bên ngoài, nhìn người ta đúng sai, hay dở, phải quấy, hơn thua rồi phiền não, sầu bi, đau khổ. Vì thế Đức Phật dạy mình đầu tiên là không hướng ngoại nữa mà phải nội soi thân tâm mình, hai chữ nội soi đáng giá ngàn vàng, phải nội soi trong tâm mình, mình tu là trị bệnh trong tâm mình. Xin thưa với đại chúng, mình nói tâm mình bị bệnh tham sân si nhưng mà nói thì đơn giản mà quý vị có biết một người thật sự thành tựu trí huệ, thấy được tham sân si thật sự là thánh quả Tu-đà-hoàn. Quý vị sẽ bất ngờ, mình tưởng thánh quả là trên mây, ngồi trên tòa sen bằng xi măng rồi sau lưng pha đèn led chiếu. Không phải như vậy, thánh quả là bậc nhìn thấy rõ ràng, tường tận, thấu triệt, đầy đủ tất cả những sự cấu bẩn, ô nhiễm bên trong thân và tâm của chính mình, đây mới chính là bậc thánh. Hiện tại bây giờ mình không thấy được điều này.

Quý vị có biết tham sân si ở đâu không? Trong bài kinh "Cội rễ của sự vật", Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật nói "Tất cả pháp hội tụ trong cảm giác". Như vậy, nếu mình muốn nhìn được tất cả sự cấu nhiễm, phiền não là nhìn vào cảm giác. Nếu không quay lại cảm giác là không biết gì hết, tất cả những gì mình nói đều trong si tưởng, chứ không thấy được thật sự mặt mũi tham sân si như thế nào. Mọi người có biết bản mặt tham sân si không? Điều này tuyệt diệu lắm.

Tại sao Đức Phật dạy phải luôn luôn thực tập cảm giác toàn thân? Tại vì từ bên trong cảm giác sẽ nhìn thấy được con người thật sự, cái tâm thật sự, nội tại thật sự. Ví dụ nhỏ, trưa nay có cúng trai Tăng, dọn lên mười món mà toàn món mình thích, nhưng ông thầy tụng kinh quá dài làm đồ ăn nguội hết, trong khi món này ăn nóng mới ngon. Ông thầy vừa tụng dài vừa đáp từ dài, nói lâu thì quý vị thấy cảm giác mình như thế nào? Tham sân có sanh khởi không?

Nhận diện dục, tham, ái

Mở rộng hơn, chúng ta phải phân biệt được dục, tham và ái khác nhau. Dục khác, ái khác và tham khác, điều này không phải nói lý thuyết, Minh Thành sẽ giới thiệu cho tất cả quý Phật tử thực tập nhận diện năm uẩn, và nhìn ra được các cảm giác trong sự tu tập, từ đó nhiếp phục được các phiền não.

Bình thường nghe chữ dục thì mọi người cứ tưởng là dục giữa nam nữ, nhưng dục còn rộng lớn hơn nữa. Dục là sự thúc giục, thúc đẩy, bức xúc. Khi ăn, trong nội tâm có sự thúc giục gắp đồ ăn lẹ lẹ, thúc giục nhanh nhanh để ăn, đó cũng chính là dục. Ai thấy được điều này là bắt đầu bước vào trí huệ của bậc thánh, đây là thánh trí của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya. Trước giờ do không để ý nên mình không thấy, cho nên chúng ta là phàm phu, không đi vào trí huệ của bậc thánh. Bởi lẽ, chúng ta chỉ lo nhìn đồ ăn, không nhìn lại cảm giác. Tu là con mắt nhìn đồ ăn nhưng tâm phải để ý, canh chừng, xem có cảm giác gì đang xuất hiện bên trong, đó là bậc Đa văn Thánh đệ tử, là bậc trí huệ, có sự quán chiếu thọ trên các thọ trong Tứ Niệm Xứ. Như vậy, khi nhìn thấy cảm giác thúc giục bên trong thì đây là dục.

Khi mình gắp món mình thích để vào miệng thì mình có khoái không? Đó là ái - là sự khoan khoái, thích thú. Hơn nữa mình còn muốn gắp thêm, miệng nhai chưa xong nhưng gắp đũa thứ hai, rồi múc sẵn muỗng nữa, chờ nhai xong là đưa tiếp vào miệng, đây là tham. Đó chính là Thánh trí của năm uẩn được Đức Phật dạy trong tạng kinh Nikāya rất sâu sắc.

Mọi người phải phân biệt cho kĩ, giữa dục, ái và tham là khác nhau. Dục là sự thúc giục. Ví dụ đang ngồi học, trong tâm thúc giục mệt quá, đi tìm nước uống, mình phải thấy được bộ mặt của nó, tuyệt đối không đi theo, phải ngồi lại nghe pháp, đây gọi là pháp lệnh. Pháp lệnh trong tâm khi ra một lệnh đúng chánh pháp thì gọi là như lý tác ý. Một sự tác ý mạnh mẽ, nhiếp phục những sự thúc giúc trong tâm. Chẳng hạn như ngồi thiền mới hơi ngứa một chút là bị thúc giục trong tâm kêu phải gãi, mình phải thấy được điều đó, nhiếp phục nó, phải ngồi yên bất động. Đó là mình đã chiến thắng được dục, là cuộc nội chiến trong tâm để chiến thắng các cảm giác. Nếu không thì bị ngứa, muốn gãi là gãi liền, đó là một kẻ bại trận trên bồ đoàn. Đừng tưởng mình ngồi một tiếng hay tiếng rưỡi là hay, nếu ngồi thiền nhưng ngồi theo dục, theo tham, theo ái là bại trận dài dài trong cảm giác.

Minh Thành nói những ví dụ nhỏ nhưng quý vị phải hiểu ra nhiều khía cạnh khác. Trong bất cứ chuyện gì, nếu chúng ta đi theo dục, tham, ái thì mình sẽ bị trói buộc, sẽ bị điều khiển, sai khiến và trở thành một con rối, một hình nộm, một người máy. Toàn bộ cuộc đời mình, tất cả chúng sanh trong tam giới là những người nộm, mà sợi dây bên trong thúc giục là dục tham ái, nó bắt mình phải chạy tìm kiếm, truy tầm mòn mỏi, chạy đến già bạc đầu mà tham dục vẫn chưa dừng lại, đây là khổ. Khổ là tất cả chúng sanh trong tam giới không nhìn thấy được bộ mặt thật sự của tham dục đang điều khiển bên trong mà mình không thấy.

Khi Đức Thế Tôn vừa thành đạo, Ngài đã nói:

Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng không gặp

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay, phải tái sanh.

(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già)

Kèo cột đã tan rã rồi, đã mục nát sụp đổ, ta đã phát hiện, ta đã thấy được bản mặt ngươi rồi, tham ái hãy tiêu vong đi. Đó là sự chứng ngộ của Đức Phật để nhìn thấy được thật sự một tên thủ phạm thâm sâu, âm thầm phía sau bức màn đã giựt dây cho những hình nộm, những con rối đó. Tất cả chúng ta đang ngồi đây là những nạn nhân rất thâm sâu của dục tham ái, và chúng ta đã rơi bao nhiêu dòng nước mắt. Bao nhiêu dòng lệ trong kiếp sống luân hồi này. Bao nhiêu những sự khổ đau, hoạn nạn, chúng ta đã từng trải qua bao nhiêu dòng nước mắt đã rơi, chúng ta khóc vì ông bà chết, ba mẹ chết, cô bác anh chị em chết, chồng chết, vợ chết, con chết, những người thân yêu nhất chết, chúng ta đã trải qua không biết bao nhiêu những nổi thống khổ vô thỉ.

"Này các Tỳ-kheo là sự luân hồi, điểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô minh chê đậy, bị khát ái trói buộc, phải lưu chuyển, luân hồi". "Này các Tỳ-kheo có thể đến một lúc nào đó biển lớn đi đến khô cạn, hoàn toàn khô kiệt không còn hiện hữu, các ngọn núi băng hoại, hoại diệt, đại địa này sụp đổ không còn hiện hữu mặt đất này nữa. Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt đau khổ đối với chúng sanh, bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc phải lưu chuyển trong vòng luân hồi này". (Tương Ưng Bộ Kinh, tập 3, Chương 22: Tương Ưng Uẩn, V.Phẩm Hoa, VIII.Dây Thằng)

Đức Phật ví dụ một con chó bị buộc trong sợi dây và sợi dây đó bị buộc vào cột trụ vững chắc, con chó chạy lòng vòng xung quanh cây cột này, cũng vậy này các Tỳ-kheo kẻ vô văn phàm phu không tu tập pháp của bậc thánh thì cho rằng đống thịt mấy chục kí lô này, đống sắc uẩn này là tôi, là của tôi. Kẻ vô văn phàm phu không nghe chánh pháp cho rằng tất cả cảm giác bên trong tâm là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Những hình bóng bên trong nội tâm là tưởng uẩn thì cho đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Những suy nghĩ, nói lầm thầm suốt ngày thì cho đó là tôi, là tự ngã của tôi. Nhận thức, cái rõ biết thì kẻ vô văn phàm phu cho là tôi, là của tôi. Người ấy sẽ chạy lòng vòng, chạy theo xung quanh sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy vòng tròn xung quanh ngũ uẩn cho nên người ấy "không giải thoát khỏi ngũ uẩn, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: “Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau”. Cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: “Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỳ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh”. (Tương Ưng Bộ Kinh, tập 3, Chương 22: Tương Ưng Uẩn, V.Phẩm Hoa, VIII.Dây Thằng)

Quán bất tịnh

Do tâm nhiễm ô chạy theo cái đống thịt mấy chục kí lô, cái bong bóng da này, cái đống thịt bầy nhầy này chỉ cần một cái rầm là nằm bất động, máu chảy ra, mỡ tràn ra, thịt bầy nhầy ra, não văng ra, một đống xương. Chúng ta đã đau khổ bao nhiêu lần với đống thịt này. Chúng ta đã rơi bao nhiêu dòng lệ với bong bóng da này. Chúng ta đã chịu đựng bao nhiêu thống khổ hoạn nạn, lo lắng, sợ hãi vì tấm thân vô thường, giả dối này rồi. Chúng ta đã bao nhiêu suy tư lo lắng, hoảng sợ vì đống thịt này rồi. Chúng ta đã khổ vì sắc uẩn này, chúng ta đang khổ vì sắc uẩn này, và chúng ta sẽ tiếp tục khổ dài dài vì tấm thân vô thường này nếu không thành tựu thánh trí. Bản chất sự thật của tấm thân đầy ô trược bất tịnh không sạch sẽ bại hoại tiêu vong này "Này các tỳ-kheo thân này do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành vô thường, tan nát, bại hoại, đừng có tin cậy vào thân này, đừng ỷ lại vào thân này, đừng bám víu vào thân này. Trước sau gì cũng rã rời, cũng tan nát". Đang ngồi đây là ba trăm bộ xương di động, và một sự dối lừa kinh khiếp là cái dục tham ái che mờ, vô minh nó che mờ không thấy rõ đây là tứ đại, là đất nước gió lửa hợp hành, nó bị mê, nó bị mờ, nó bị ám muội và nó lọt vào trong mê hồn trận, một ngày kia nó bàng hoàng, hoảng sợ khi nó nằm trên gường bệnh hấp hối.

Cho nên Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải thành tựu trí huệ về sắc uẩn nếu không chúng ta sẽ bị dối lừa kinh khiếp. Chúng ta vỗ ngực xưng tên đây là tôi, là của tôi, và bị say đắm vào trong cục thịt mấy chục kí này. Một ngày kia nó từ bỏ chúng ta thì hỡi ơi bao nhiêu những ác nghiệp, bao nhiêu những cảm giác, suy tưởng, thọ thưởng hành thức lôi đầu mình đi vào trong tái sanh, trong những chỗ khổ sở, tăm tối, si mê. Chúng ta hoàn toàn không biết gì khi mình nhắm mắt ra đi. Vậy mà bây giờ mình không lo, không sợ, không biết quán chiếu sâu sắc, không biết tu tập theo lời dạy của Đức Phật. Đức Thế Tôn đã dạy niệm ba mươi hai thể trược, niệm tử và chín giai đoạn của một xác chết, đó là trí huệ của bậc thánh để giúp chúng ta mở mắt ra, sáng mắt ra để thành tựu pháp nhãn.

Mời tất cả đại chúng ngồi tư thế thiền định và chúng ta sẽ quán chiếu, khai triển thiền quán ngay giờ phút linh thiêng này. Vì là thiền quán nên Minh Thành mời đại chúng nhắm mắt lại để chúng ta thiền quán, đây là trường hợp đặc biệt. Quý vị ngồi để quán chiếu theo Đức Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ. Hãy tưởng tượng ra cảnh chính tấm thân này nằm trên gường bệnh, thở những hơi thở sau cùng, thoi thóp, khó khăn, chật vật, khổ sở. Lấy hơi lên và cuối cùng tắt thở, toàn thân bất động, lạnh ngắt, xanh rờn. Một ngày, hai ngày, ba bốn năm bảy ngày là bắt đầu bốc mùi hôi khủng khiếp, nứt nẻ máu mủ chảy ra, mỡ chảy ra, thịt lòi ra, ruột tuôn ra. Giòi ăn hết, bò lồm cồm nheo nhóc, ăn hết nội tạng phèo phổi, ruột non ruột già, tim gan tùy phết thận. Giòi bò lúc nhúc ăn hết hai con ngươi. Giòi tuôn ra ống chân ăn hết bắp chân. Đầy một tấm thân là giòi, hôi thối kinh khiếp, đau đớn. Thân giòi đó là chiến tích hơn thua ganh tị, bản ngã cống cao suốt bảy mươi năm, hơn thua ganh tị tranh đấu, sân hận, si mê cuối cùng là một tấm thân giòi, máu. Đau đớn thay cho tâm mê vô minh tham dục này. Đau đớn thay cho bãn ngã ngu si tật đố này. Đau đớn thay cho cả một cuộc đời si mê và lầm lạc để rồi cuối cùng là một bộ xương tàn nằm đó bất động. Tỉnh đi, hãy tỉnh đi cái tâm mê muội, si ám, muôn ngàn kiếp hãy tỉnh đi. Lần lần nhiều tháng, cả năm, xương rã ra, kia là đầu lâu, nọ là xương sườn, rải rác là xương ống tay, ống chân, xương bàn chân, rải rác là những khớp xương. Hai năm, ba năm mòn mòn tan hoại lần lần, cái đầu lâu, cái sọ tan nát, cuối cùng trở thành cát bụi. Vậy đó mà đam mê, vậy đó mà hơn thua, ganh tị, nhân ngã, cống cao tật đố, vậy đó mà dối lừa, gian manh, xảo quyệt tạo ra bao nhiêu ác nghiệt để đi trong luân hồi địa ngục ác thú và đọa xứ. Thương, thật là thương cho một cái tâm mê muội, si ám này. Hãy tỉnh đi cái tâm mê ơi, tỉnh đi. Bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp si mê vậy là vừa đủ rồi, tham ái như vậy là vừa đủ rồi, sân hận bản ngã tới đây là vừa đủ rồi, hãy nhàm chán đi, hãy xa lìa, hãy từ bỏ, chấm dứt cái vòng luân hồi sanh tử này, hãy cắt bỏ hết, hãy đoạn tiệt cái tâm vô minh và tham ái đối với đống thịt này, những cảm giác nghĩ tưởng này, hãy tháo gỡ, vượt thoát ra để ta có một đời sống bình an tịch tịnh thanh lương của Niết bàn tối thượng.

Ngao ngán cho cái tham dục này, khiếp sợ cái tham dục này, tai nạn khổ nạn là cái tham dục này. Kẻ thù chính là tham dục, sân hận si mê đố kị này. Hôm nay ta đã thấy được bộ mặt của ngươi rồi, từ nay ngươi không còn lừa gạt, lừa phỉnh ta nữa, ta sẽ quyết tâm luôn luôn nhìn lại những cảm giác và nghĩ tưởng, ta không cho mi qua mặt ta lừa gạt ta, ta sẽ quyết tâm đánh đuổi ngươi, không cho ngươi tồn tại trong ta nữa, ta sẽ nhiếp phục đoạn tận ngươi bằng ba mươi hai thể trược. Hãy quán chiếu cho sâu sắc ba mươi hai thể trược này. Hãy dùng dao ngồi lại quán chiếu rọc ra một đường: Ruột lòi ra một đống, tim gan phổi lá lách dạ dày, máu mỡ, mủ, màng ruột. Một đống đồ lòng trong đây mà bị gạt bảy mươi năm.

Trời ơi! Tại sao lại đam mê khốn khổ như vậy. Bị một đống đồ lòng này làm cho sầu bi khổ ưu não bảy tỉ năm trong vòng luân hồi ngàn ngàn vạn vạn kiếp, nước mắt nhiều hơn bốn biển, cho tới ngày hôm nay dục vọng còn đầy, còn chạy theo tìm kiếm dài dài, còn đau khổ nữa sao? Thôi, tới đây là vừa đủ rồi, vừa đủ để cho các vị nhàm chán, vừa đủ để các vị từ bỏ, ly tham rồi, vừa đủ để chúng ta chấm dứt vòng luân hồi thống khổ này rồi. Chào biệt luân hồi, vĩnh biệt luân hồi. Chúng ta hãy dõng dạc tuyên bố "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa" (Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Nhân Duyên, bài kinh 70).

Như vậy là Minh Thành đã dẫn tâm quý vị vào thiền quán chánh thống của Đức Phật đã dạy trong tạng kinh Nikāya. Tất cả các vị xuất gia ngày xưa ngày nào cũng quán chiếu như vậy nên mới có đủ tuệ lực để đánh vỡ dục, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, thể nhập vào thánh trí của Đức Phật và thành tựu bốn thánh quả. Hôm nay Minh Thành giới thiệu đến quý vị thánh đạo, là con đường của bậc đại thánh đã đi. Chúng ta đi con đường này thì chắc chắn nhất định sẽ đến thánh quả.

Thánh trí ngũ uẩn

Minh Thành suốt ba mươi năm không ngừng nghỉ đem cả sinh mạng của mình đi cầu pháp trong khắp cả trong ngoài nước, và toàn thế giới. Cuối cùng tìm ra được Thánh đạo thật sự của Đức Phật và hôm nay là một món quà bằng tất cả trái tim của Minh Thành để gửi tặng đến cho khóa tu này. Minh Thành mong muốn tất cả đại chúng hãy cố gắng bám sát vào tạng kinh Nikāya, đây là lời gốc của Đức Phật, thật sự là thánh trí của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Và hiện tại ở Linh Quy Pháp Ấn thì tất cả thời khóa tu học thuần nhất là Nikāya, sau ba mươi năm tìm kiếm và giờ phút này chúng ta ngồi đây đang thật là hạnh phúc kì diệu, thiêng liêng và thần thánh trong giây phút này. Pháp này tuyệt diệu lắm, là pháp chánh thống của bậc Chánh Đẳng Giác, có công năng đập phá vỡ hết tất cả khối vô minh uẩn to lớn; tham sân si sẽ bị thánh trí này nhiếp phục hết tất cả. Trí huệ này sẽ phá vỡ hết tất cả vô minh và chấp thủ đối với năm uẩn.

Cốt lõi của sự tu tập cũng như Minh Thành đã giới thiệu với đại chúng và giới tử là thực hành ba pháp, đây là pháp rất quan trọng, cần phải nắm vững. Nhờ cảm giác toàn thân liên tục thì sẽ phát hiện ra cảm giác tham sân si và bản ngã, những cấu nhiễm bên trong nội tâm mình. Bên cạnh đó, là sự thực tập nhận diện năm uẩn, khi hiểu được năm uẩn, quý vị sẽ thấy được tầm quan trọng trong việc nhận diện năm uẩn. Tất cả chúng ta bị sự dối lừa khủng khiếp, không phải ai ở bên ngoài gạt mà bị chính sắc thân này lừa gạt, chúng ta bị cảm giác bên trong lừa gạt, chúng ta bị những nghĩ tưởng- tức là tưởng uẩn và hành uẩn lừa gạt, chúng ta bị thức lừa gạt. Toàn bộ chúng ta ở trong một đêm tối, không thấy được sự thật chính bản thân mình là gì, mình nhận lầm năm uẩn cho là mình, là của mình, từ đó xảy ra bao nhiêu chuyện về sau.

Những vấn đề quyết định trong sự tu học là chánh tri kiến, là thấy đúng - tức là thánh tri kiến, là sự thấy biết của bậc thánh. Tất cả sự tu tập không căn cứ vào chánh kiến thì tất cả sự tu học đó là sai lầm trong hữu lậu và hữu vi trong luân hồi, mà chánh tri kiến là thấy được mình là năm uẩn, năm uẩn không có là tôi, là của tôi. Thấy đúng được bản chất của năm uẩn thì lúc đó mới có chánh tri kiến. Nếu chỉ đọc kinh là xong thì mình không thấy được ngũ uẩn, tu như vậy là thất bại.

Đức Phật định nghĩa trong tạng kinh Nikāya về pháp như sau: "Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không có trở qua thời gian, có khả năng hướng thượng được người trí tự mình giác hiểu" (Tương Ưng Bộ, tập V.Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu). Đến để mà thấy nghĩa là phải thấy được năm uẩn vận hành như thế nào, sanh khởi làm sao, hoại diệt ra sao. Muốn thấy được những cái này là phải học thâm sâu.

Như vậy, Minh Thành mới chỉ trình bày cho quý vị một loại trí huệ về sắc uẩn. Tổng cộng có ba mươi lăm loại trí huệ, sắc uẩn có bảy trí, mỗi một uẩn: thọ; tưởng; hành; thức là có bảy trí. Tổng cộng là ba mươi lăm loại trí huệ để phá hết chấp thủ trong năm uẩn. Minh Thành chỉ mới trình bày một phần về trí tuệ sắc uẩn, để phá cái chấp về sắc mà đã phải công phu như vậy. Nếu chúng ta tu quyết liệt, nắm vững được bấy nhiêu đó thì cũng thành tựu chánh tri kiến, là đã có thể hướng Dự lưu và Nhập lưu. Trước hết, phải phá vỡ thân kiến, tức là cái nhìn sai lầm về thân này, như vậy thì chánh tri kiến là thấy được thân tâm này là ngũ uẩn không phải là mình. Cho nên, việc hết sức quan trọng là phải nhận diện được năm uẩn.

Đầu tiên phải thấy sắc này do tứ đại tạo thành. Thọ uẩn là cảm giác, nói gọn thì có ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu; cảm giác khó chịu; cảm giác không dễ chịu và không khó chịu. Ba loại cảm giác này bao trùm hết tất cả cảm giác, trong kinh Đức Phật gọi là: lạc thọ; khổ thọ; bất khổ bất lạc thọ. Nhưng Minh Thành sẽ không dùng những từ chuyên môn trong kinh làm quý vị khó hiểu mà sẽ dùng những từ bình dân dễ hiểu để quý vị có thể trực tiếp thể nhập trí huệ Đức Phật truyền trao. Trong cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì tham đã ở trong đó. Phải nhìn cảm giác mới thấy nên mới gọi là "đến để mà thấy", còn hồi xưa mình nói tham tham là chỉ nói trên suy tưởng, tưởng tượng, không có đúng. Còn ở đây là thấy ngay khi nó sanh khởi lên như thế nào, nó vận hành ra sao, nó chấm dứt thế nào thì mình thấy được hết, ngay trong cảm giác.

Ví dụ khi thấy món đồ gì mới, thì mình phải thấy trong tâm mình đang rục rịch, như khi nấu nồi nước bắt đầu nổi lên tim bọt là mình đã thấy được rồi, đó gọi là bắt đầu thành tựu tuệ giác. Còn khi mình đợi hai người đánh lộn mới gọi là sân thì cái đó khỏi tu cũng biết. Cho nên sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và đa văn thánh đệ tử là sự thấy được ngũ uẩn tập khởi như thế nào, nó tụ hợp lại sanh khởi ra làm sao là người đó thấy biết, khi nó vận hành trong nội tâm mình như thế nào là mình thấy, mình biết và khi nó chấm dứt như thế nào là mình thấy biết. Cái đó gọi là trí huệ của đa văn thánh đệ tử, gọi là chánh tri kiến. Còn xảy chuyện đã rồi mình mới thấy thì chuyện đó khỏi cần tu, tu làm gì. Khi mình thường nhìn lại cảm giác, thì cái dễ chịu khoan khoái vừa nhóm lên là mình thấy được liền, đánh đuổi nó. Khi nãy Minh Thành dùng những từ, những câu mạnh mẽ đó gọi là pháp lệnh, là như lý tác ý, là tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ để đánh đuổi tham sân si, bản ngã. Mình phải dùng những câu đó, gọi là như lý tác ý- là sự tác ý đúng chân lý, đúng chánh pháp, là sự tác động tâm ý một cách mạnh mẽ còn gọi là tuệ lực của trí tuệ, còn gọi là chánh tư duy. Những cảm giác nhỏ mới khởi lên thì mình phải đánh đuổi nó, dập tắt nó, đây gọi là bậc sát tặc. Mình tu mà mình không sát tặc, ngược lại còn bị tặc sát thì mới chết. Giặc khởi lên thấy dễ thương quá là đi theo luôn, chết chưa? Tại vì nó khởi lên mà mình đâu có biết, vì mình không nhận diện được thọ là thọ, không phải là mình. Cảm thọ là cảm thọ, là pháp duyên sanh vô thường, cảm thọ này không phải là tôi, không phải là của tôi thì mình mới nhiếp phục được nó. Còn mình nhận nó là tôi thì làm sao mình nhiếp phục. Đó là mình đã nhận giặc làm con, ăn cướp ăn trộm lại mà nói con, anh em thân, là xong. Lâu lâu mình có giống vậy không? Có đi theo cái tham dục, tham ái không?

Trong ba loại cảm giác, mình thấy cảm giác khó chịu, bưc bội, sân nằm trong đó. Khi mình nhìn sâu bằng sự quán chiếu rất là hay, sẽ thấy được hết tất cả tên tuổi, mặt mũi, tánh tình của các loại phiền não. Lúc trước mình học là mình tưởng tượng thôi. Nhiều người lại nói với thầy con hết tham sân si rồi, là thầy kêu về đi khỏi học, lý do là đâu có biết gì mà nói hết tham sân si. Cho nên điều này hết sức thâm sâu. Cái cảm giác không dễ chịu không khó chịu, là đơ đơ mờ mờ, đó là si, là buồn ngủ, là biếng nhác thụ động, là lề mề rề rề. Phải đánh đuổi nó, diệt tận nó, không cho nó cư trú trong nội tâm mình. Đây là mình đang đánh đuổi tham sân si, đây mới gọi là người chiến sĩ, dũng sĩ, mới là tu sĩ. Còn không thấy thì làm sao mình đánh đuổi nó được, làm sao mình chiến thắng nó được, làm sao mình nhiếp phục và đoạn tận nó được. Cho nên trước nay mình tu là mình chưa thành tựu được cái trí huệ đúng như lời Đức Phật dạy.

Tưởng uẩn là quý vị phải nhận thức được những hình bóng bên trong nội tâm. Ví vụ mình nhớ lại ba mẹ mình ở nhà, khi nhớ lại ba mẹ thì có hình bóng trong nội tâm hiện lên thì hình bóng đó là tưởng uẩn. Nhớ kĩ cái hình bóng thô, tế trong nội tâm là tưởng uẩn. Ví dụ chút nữa xuống ăn cơm có tàu hủ chiên xả ớt, bánh hỏi, cơm bì, thì cái hình bóng của món ăn hiện ra trong nội tâm mình đó là tưởng uẩn. Khi mọi người nghe câu nó đó có thọ không, cái lưỡi có ướt không? Thì đây là thọ uẩn, là cảm giác, tiếp theo là hình ảnh món ăn hiện ra, rồi suy nghĩ “mấy món này ngon”, đây chính là hành uẩn - là lời nói lầm thầm đi theo hình ảnh đó. Ví dụ mình nhớ ba mẹ thì mình nói không biết ba mẹ giờ này làm gì, khỏe không, thì lời nói lầm thầm đó là hành uẩn. Cần phân biệt: Tưởng là hình bóng trong nội tâm; hành là lời nói lầm thầm, là những suy nghĩ. Khi quý vị nghe nói có cơm bì, tàu hủ chiên xả ớt, canh chua… thì quý vị có cảm giác, có hình bóng hiện ra, có suy nghĩ lát nữa mình ăn món đó, thì quý vị có biết mình đang có cảm giác, nghĩ tưởng như vậy không? Đây gọi là thức uẩn. Cái thức nó biết được cảm giác và những nghĩ tưởng, gọi là thức uẩn. Cái này rất quan trọng, nếu mình không nắm vững được năm uẩn là mình đi ra khỏi con đường là trở lại như bình thường, mà mình phải luôn luôn nhìn lại sắc thọ tưởng hành thức đang như thế nào.

Khi mình ăn xoài người ta cho, thì cảm giác ngon, sau đó trong nội tâm mình tưởng hình bóng những trái xoài như giống vầy ở ngoài chợ. Hành uẩn nói "đi ra đó mua", và cái thức nó biết có cảm giác, có cái tưởng, cái suy nghĩ như vậy. Minh Thành nói sâu hơn nữa: Trong đó là sự thúc giục đi mua vì ngon.

Đại chúng nhớ là luôn luôn nhìn lại cảm giác và nghĩ tưởng, thường trực bất cứ giờ phút nào cũng nhìn lại cảm giác và những nghĩ tưởng trong tâm. Khi nhìn lại cảm giác sẽ thấy có gì trong tâm. Những suy nghĩ, tưởng có tham sân si không, nếu có là mình tẩy sạch, chuyển hóa, nhiếp phục và diệt tận nó. Mình thường thấy năm uẩn thì từ từ mình loại bỏ cách nhìn sai lầm "đây là một cái tôi trọn vẹn, một cái bản ngã thuần nhất". Tại vì mình chỉ thấy đây là một đống sắc, đây là một đống cảm giác, đây là một đống những suy nghĩ, lời nói lầm thầm và cái này thay đổi liên tục. Cái này là năm đống chứ không phải một cái mình. Mình thường nhìn lại là mình thành tựu chánh tri kiến, mình phá vỡ cách nhìn sai lạc cho rằng có một cái tôi trọn vẹn. Thứ hai là trong năm uẩn đó mình sẽ phát hiện ra những rác bẩn, cấu nhiễm bên trong mà nào giờ mình chưa từng thấy, một khi đã thấy thì mình phải dọn dẹp, lau chùi. Dọn sạch hết là chứng A-la-hán quả. Toàn bộ sự tu hành chỉ có bấy nhiêu, mà mình học lung tung từ trời mây xuống sông ngòi, tứ hải, học riết không biết giờ tu sao.

Để làm sáng tỏ vấn đề này, Minh Thành đưa một ví dụ để đại chúng nhớ rõ, nắm được tinh thần tu học của kinh Nikāya. Có một người mù bốn chục năm, sống trong căn nhà âm u, dơ bẩn. Từ khi sanh ra đã mù lòa, một hôm họ gặp được thần y, cho họ thần dược, trị cho họ sáng được mắt. Khi con mắt sáng ra điều đầu tiên họ nhìn thấy trong nhà họ là rác dơ, ôi thôi là dơ từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, bốn chục năm không dọn dẹp dơ khủng khiếp. Người này nhìn thấy rác thì nói rác dơ quá, mà ngồi hoài như vậy rồi có sạch không? Người này phải quét rác, dọn rác.

Khi sáng con mắt lên là Tu-đà-hoàn, thánh quả thứ nhất pháp nhãn sanh, minh sanh, trí sanh, quan sanh, là thành tựu chánh tri kiến, lúc đó pháp nhãn sanh. Gọi là bậc thành tựu thể nhập trí huệ- gọi là nhập lưu bậc thánh. Đây là sơ quả Tu-đà-hoàn, là người thường trực nhìn lại thấy năm uẩn, không thấy tôi nữa, thì người đó là bậc từ hướng Dự lưu cho đến Nhập lưu. Sau khi đã sáng được con mắt pháp- tức là sơ quả rồi, thì hốt những rác thô dơ bẩn thì đó là Nhị quả (Tư-đà-hàm). Hốt rác rồi quét, lau chùi, thậm chí là tẩy những rác vi tế đóng lâu ngày bên trong là thánh quả thứ ba trong tứ thánh quả (A-na-hàm). Khi lâu sạch sẽ hoàn toàn căn nhà "nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm", không còn một chút mùi hôi, hoàn toàn thanh tịnh trong sạch là thánh quả tối cao A-la-hán.

Đó là toàn bộ đạo lộ tu tập chánh tông của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya, không có nhiều vấn đề giống như mình bây giờ, toàn bộ sự tu hành là quay trở lại để nhìn ra sự mê lầm, ngộ nhận về tự tâm, tự thân của mình. Và mình nhìn thấy được mình đã sai từ xưa tới giờ, mình đã thấy rõ năm uẩn là năm uẩn thì lúc đó là thành tựu chánh tri kiến. Sau đó mình phát hiện ra rác dơ bẩn phải dọn, lau chùi sạch sẽ, cuối cùng là Phạm hạnh đã thành. Đó là công trình vĩ đại của một bậc xuất gia, đó là sự nghiệp vĩ đại của người tu hành, đó là kỉ lục siêu việt của tâm linh, đó là xác lập kỉ lục của một bậc thánh. Đây là đạo lộ ba ngàn năm mà chúng ta đã lãng quên, đây là con đường của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi, đang đi và sẽ đi, tất cả các bậc thánh Tăng đã đi, đang đi và sẽ đi. Chúng ta bắt đầu bước lên con đường quang minh vĩ đại này. Vui không quý vị, hân hoan không, phấn khởi không. Chúng ta tu tập như vậy, thực tập thêm bốn tâm vô lượng nữa mà nói đơn giản là từ vô lượng tâm để chúng ta mở rộng tình thương của mình ra đến tất cả mọi người.

./.