Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Công Năng Chánh Pháp - Phân Biệt Ưu Hỷ Xả Thọ- Ngắm Nhìn Bộ Xương

2026-03-03 00:54:43
Pháp Đàm Nikāya

CÔNG NĂNG CỦA CHÁNH PHÁP?

PHÂN BIỆT ƯU- HỶ VÀ XẢ THỌ?

NGẮM NHÌN BỘ XƯƠNG?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Công năng của Chánh Pháp PAGEREF _Toc79224802 \h 1

II.Cốt lõi sự hành trì PAGEREF _Toc79224803 \h 3

III.Phân biệt Hỷ - Ưu – Xả thọ PAGEREF _Toc79224804 \h 4

IV.Quán chiếu bộ xương PAGEREF _Toc79224805 \h 7

V.Chia sẻ cảm nhận trong khóa tu PAGEREF _Toc79224806 \h 11

Công năng của Chánh Pháp

Chúng ta có buổi pháp đàm chia sẻ hỏi đáp xung quanh vấn đề tu học theo tinh thần kinh tạng Nikāya. Xin mời đại chúng, nhất là các vị mới đến có những điều gì chưa hiểu trong pháp học và pháp hành hãy nêu lên để quý thầy, quý cô và đại chúng soi sáng cho chúng ta. Buổi pháp đàm sẽ khác với thiền quán và giảng pháp, chúng ta chia sẻ thân thiện trong tinh thần tu học Chánh Pháp.

Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy cùng quý thầy và toàn thể đại chúng. Con có câu hỏi trăn trở đã lâu chưa biết hỏi ai, hôm nay đủ duyên lành cho con được hỏi: Trước giờ con rất ít ngồi thiền nhưng con bộc bạch các vị thầy mà theo con nghĩ là tu lâu năm rằng con thích tu thiền quán thân bất tịnh, quán pháp vô ngã vì con nghe kinh Nikāya thì con hiểu và khi con hành theo thì cảm thấy an lạc. Khi con hỏi thì các vị đó nói con không nên tu thiền vì tu thiền phải có căn cơ cao dùng cho quý thầy tu lâu năm còn chúng con là Phật tử tại gia không nên tu thiền vì tu đúng thành Phật, tu trật thành ma. Con nghe vậy cũng sợ vì con còn nông cạn chưa biết thiền là sao và tịnh là sao, con chỉ nghĩ ngày xưa Thế Tôn ngồi thiền nhập định và con là đệ tử phải đi theo đường lối đó nên con rất trăn trở không biết con đúng hay sai. Mong thầy hoan hỷ giải đáp giúp con.

***

Khi chúng ta làm cái gì cũng phải tìm hiểu cho rõ ràng, cũng như khi lái xe mà mình không tìm hiểu kĩ chân ga, đạp thắng, vào số như thế nào… tất cả thao tác không hiểu rõ thì khi lái xe chẳng những gây tai nạn cho tự thân mình mà còn có thể gây hại cho người khác. Chỉ riêng lái xe đã vậy thì tất cả những việc khác cũng vậy, huống gì việc tu học để giải thoát khỏi dòng sống chết đó, tu học để tìm được tâm bình an thanh tịnh thì càng phải tìm hiểu đầy đủ, thông suốt, rõ ràng.

Chúng ta phải xem Đức Phật tu như thế nào, học đúng theo lời dạy gốc của Đức Phật và phải hiểu cho rõ ràng mà trong kinh dùng từ "chánh kiến", tức là thấy đúng. Trong Bát Chánh Đạo đầu tiên là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Như vậy đầu tiên trong Bát Chánh Đạo là thấy đúng (chánh kiến) cho nên trong giai đoạn đầu của việc học Phật là phải thấy đúng, từ việc thấy đúng thì suy nghĩ mới đúng, lời nói hành động từ từ mới đúng. Vì thế bước đầu tiên cần tu tập chánh kiến, chánh tri kiến, thấy đúng. Muốn tu tập thấy đúng thì đầu tiên phải nghe tiếng nói về Chánh Pháp, thứ hai là Như lý tác ý, suy tư theo lời nói đúng Chánh Pháp đó thì mới sanh khởi ra được chánh kiến.

Chúng ta phải biết rằng tại sao chúng ta ngồi thiền, ngồi như thế nào mới đúng và mục đích ngồi thiền để đạt được cái gì. Chúng ta phải ngồi tĩnh tâm vì chúng ta rất lăng xăng, lang thang cho nên ngồi để thân yên, tâm lắng. Khi thân yên, tâm lắng thì bắt đầu mới nhìn ra được những cái sai lầm, những tội lỗi, những ác nghiệp của mình. Như khi thực tập thiền quán, chúng ta ngồi yên tĩnh lặng và nhờ những lời Chánh Pháp để kiểm điểm lại những ngôn ngữ, hành vi trước nay và bắt đầu thấy cái đó là sai, những điều đó là ác nghiệp và khi thấy được và có tâm xấu hổ, hổ thẹn, tàm quý thì chúng ta sám hối, xin lỗi, sửa đổi. Một khi sửa đổi sẽ bớt được những tật xấu, khuyết điểm và từ từ đi đến thân, miệng, ý được trong sạch, đó là những điều căn bản nhất.

Cũng như vị sư ở thiền viện Trúc Sơn có lên đây tham dự và trước khi về thầy chào Minh Thành mà hai hàng nước mắt tuôn rơi, thầy rất xúc động và khen ngợi các vị Phật tử đã mạnh mẽ phát lồ, bày tỏ những cái sai trước mặt mọi người, sư nói điều đó rất quý báu và sự tu học này rất thù thắng, hiếm có. Như vậy, chúng ta nhờ cảnh yên tịnh, thân yên tịnh, tâm lắng dịu thì lời Chánh Pháp của Đức Phật mới ngấm vào thân tâm thì mình mới cảm nhận, cảm xúc, cảm động và chấn động thân tâm. Những buổi thiền quán là những buổi để ánh sáng của chân lý, ánh sáng của Mặt Trời trí tuệ chiếu vào những ngõ ngách sâu kín mà bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp qua chúng ta bị che lấp, có khi thấy có khi không, có khi biết có khi không, nhưng nhờ ngọn đèn trí tuệ Chánh Pháp đó soi rọi vào để chúng ta thấy được, khi thấy rồi chúng ta òa lên trong sự xúc động dạt dào. Sau khi khóc và phát lồ thì tâm nhẹ nhàng như trút được phần nào gánh nặng mà mình đã gánh quá lâu trong tâm. Chú Thiện Cần là người tập sự xuất gia ở đây, sau những buổi thiền quán chú cảm ơn Minh Thành vì chú đã trút được gánh nặng.

Cho nên, chúng ta phải biết rằng gánh nặng không có hình tướng, màu sắc, mùi vị nhưng có khả năng làm chúng ta đau khổ, mệt mỏi, nặng nề, ray rứt. Và nhờ có pháp mà chúng ta được trút xuống, buông xuống, bỏ xuống gánh nặng ấy. Đó chính là công năng của Chánh Pháp mà chúng ta thường thực tập thiền quán, xả vô lượng tâm, bi vô lượng tâm có được. Khi đã có chánh kiến, có lòng tin đúng, thấy đúng và làm đúng theo thì chúng ta sẽ có kết quả đúng.

Cốt lõi sự hành trì

Phật tử 1: Thưa thầy, con có thêm một câu hỏi mong thầy hoan hỷ giải đáp. Khi con về đây tu thì con thấy pháp tu này rất hữu hiệu, đánh thẳng tâm mình nên con muốn hành trì mà không biết hành trì bắt đầu từ đâu. Nhân dịp này con xin phép hỏi để thầy hướng dẫn để con về tu tại nhà vì khu nhà con không có pháp tu này, mong thầy hướng dẫn con tu từ căn bản để con nắm được gốc rễ để hành theo.

Quý vị là người mới vào dòng pháp thì không được thực hành liền mà phải chịu khó học trước. Muốn tu mà không muốn học, như thế là chưa biết gì thì làm sao tu. Việc học nhóm đó là căn bản cho mình tu và quý thầy sẽ biết mình cần gì để hướng dẫn cho mình. Còn những gì mình muốn và làm theo ý mình thì cái đó là dục trong khi quý thầy đang chỉ cho mình đi theo tuần tự.

Vì vậy, trước khi xuống núi quý vị phải nắm vững thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn, nếu người nào xuống núi mà không biết hai pháp này thì về nhà sẽ không biết đường tu học, dù cho có khóc sướt mướt cũng vậy. Sau khi biết thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn thì quý thầy sẽ hướng dẫn quán chiếu ba loại cảm giác để nhiếp phục tham, sân, si, đó là những pháp căn bản. Ngoài ra, mọi người phải nghe thêm căn bản trí và những bài giảng Minh Thành chia sẻ mà tựa đề có chữ “cảm giác”, song song đó mọi người phải có quyển Nghi thức tu học Nikāya. Ở đây Minh Thành và các quý thầy đang làm các nghi thức để đưa lên mạng cho ai ở xa làm theo, khi lên đây tu phải để ý, xin cuốn sách, ghi âm lại thời tụng kinh để về nhà làm theo. Vì pháp tu này rất mới mẻ, tất cả nghi thức chúng ta tu học đều từ kinh Nikāya nên mọi người phải nhiệt tâm, chịu khó để ý và lên trang web linhquyphapan.vn mở lên những bài thiền quán để thực tập theo giống như khi chúng ta còn đang ở núi. Quý vị chỉ cần mở đúng trang web của chùa là những lời dạy gốc của Đức Phật, là những bài thiền quán sâu sắc, là những nghi thức sám hối để diệt trừ bản ngã đều có đầy đủ. Mọi người chỉ cần chịu khó tu học, siêng năng lạy sám hối diệt ngã, siêng năng lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất để tập tâm hiền, từ tâm hiền, tâm từ mới đi đến diệt ngã.

Trong dòng pháp này Đức Phật dạy mình nhiều khía cạnh, nhiều phương diện. Cũng như khi ăn cơm chúng ta ăn nhiều món chứ không ăn một món, mà lại đổi món thường xuyên, ăn cơm rồi phải uống nước, ngủ, nghỉ ngơi, làm việc… Như vậy, trong cuộc sống có rất nhiều khía cạnh, vậy mà tu chỉ muốn cái gì dễ nhất chứ không muốn tu nhiều, thế nhưng lại muốn có kết quả lớn, đó là mình đem tâm làm biếng, buông lung, chỉ muốn ngồi mát hưởng bát vàng để tu thì không có kết quả viên mãn. Còn trong kinh Nikāya Đức Phật dạy mình nhìn thẳng vào những gì làm mình khổ, thấy được bộ mặt của nó, đó là đã có kết quả ban đầu, thấy được thủ phạm làm mình khổ là dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, những cái ham muốn, sân si, không hiểu biết, những cái ta đây…. Phương pháp hành trì của mình là nhắm thẳng những thứ đó, quay về bên trong để phát giác và nhiếp phục, đoạn tận nó.

Vì thế, quan trọng là phải biết nhận diện ngũ uẩn, ngay chỗ nhìn ra ngũ uẩn để nhiếp phục chính là thiền đường, thấy ngũ uẩn là thấy Phật, cho nên ngoài nghi thức phải thường xuyên chánh niệm tỉnh giác, hộ trì căn, nhiếp phục buông lung phóng dật, kiểm soát ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác khó chịu có sân và trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si. Phải để ý, nhìn ngó, canh chừng ba loại cảm giác này, đây là ba tên trộm, ba tên cướp. Nó ăn cướp sự bình an, nó ăn cướp tình thương của mình. Khi sân nổi lên là nó cướp mất tâm từ bi, khi tham nổi lên nó cướp mất bình an, thanh tịnh của mình, khi si nổi lên nó cướp mất sáng suốt, trí tuệ của mình.

Phân biệt Hỷ - Ưu – Xả thọ

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con vẫn chưa hiểu hỷ-ưu-xả thọ, mong thầy giải thích thêm.

Có lúc Đức Phật nói hai thọ, có khi Ngài nói ba thọ, có khi Ngài nói năm cảm thọ, có khi Ngài nói sáu cảm thọ, có khi lên một trăm lẻ tám… nhưng thật ra chúng ta học để tu thì có ba cảm thọ là dễ nhất trong sự hành trì, còn ngoài ra mình học để biết thêm.

Hỷ là mừng, ưu là lo, còn hay nói là buồn, vui. Cái buồn có hai loại: cái buồn liên hệ sự tu thì cái buồn này tốt, còn buồn liên hệ đến sự đời là bất thiện. Ví dụ, chúng ta thiền quán suốt ba ngày, trong khi thiền có nêu lên những tội lỗi nên chúng ta buồn, nhưng cái buồn đó đưa đến thiện pháp tốt lành cho mình. Bởi vì, đó là buồn khi thấy mình sai phạm, buồn khi thấy mình có tội, buồn khi thấy mình tạo ra ác nghiệp nên mình buồn, ưu tư. Tuy nhiên, cái buồn đó lại thân cận với thiện pháp thì cái buồn đó nên có, nếu không có cái buồn này thì không tu được. Khi nghe nói đến địa ngục, quả báo ác, tội lỗi mà không thấy buồn thì mình không phát sanh lên được cảm thọ thiện lành, những cảm thọ sợ hãi, tàm quý, lo lắng, dày vò, đau khổ vì thấy mình xấu xa, tội lỗi, thế nên, sanh được những cảm thọ buồn khổ đó lại là thiện pháp. Khi Phật tử đến sám hối, quỳ xuống và khóc đầm đìa với quý thầy: "con thấy thời gian qua con không tinh tấn, nỗ lực mà lại làm biếng, phóng dật, có những ác bất thiện pháp khởi lên" thì cảm thọ đó là thiện pháp, có được sự ưu tư đó là tốt lành, phước báo, nếu không có được cảm thọ này thì người đó bị chai sạn cảm xúc.

Buồn về đời là chẳng hạn khi đang ngồi tu mà cứ nhìn xuống phố thị đông vui, lễ tết người ta đi chơi, ăn uống, gặp gỡ bạn bè cười nói, trong khi mình ngồi một mình lẻ loi trên núi lạnh lẽo rồi thấy buồn, như vậy là cái buồn này bất thiện. Lên ngồi thiền thấy buồn vì giờ này ở nhà được ngủ thoải mái, lên đây thức sớm hoặc lên nghe pháp thấy buồn vì cứ bắt nghe hoài nên vào nghe pháp mà mặt bí xị. Phải chi đau buồn vì tội lỗi, ác nghiệp mình tạo ra thì không nói còn đằng này buồn chán vì lên đây tu học cực khổ, cái buồn này là bất thiện nên phải đánh tan nó ra, không cho nó tồn tại trong tâm. Chúng ta dùng Như lý tác ý đánh đuổi nó "nhà ngươi lên đây để ngủ hả? Ngủ mấy chục năm qua chưa đủ hay sao? Muốn làm đệ tử Phật hay làm đệ tử Trư Bát Giới?", hãy tự hỏi bản thân như vậy để đánh đuổi sự buồn chán trong việc tu học, làm phát khởi hân hoan, hoan hỷ, đó là sự tu, đó là mình đang thay đổi suy nghĩ, thay đổi cảm giác. Sự tu của mình là nhìn lại, kiểm soát, điều khiển, dẫn dắt và hướng tâm đi đúng con đường thiện lành. Như vậy một nỗi buồn dẫn đến thanh tịnh, dẫn đến sự nỗ lực tinh tấn tu hành và nỗi buồn còn lại dẫn đến buông lung, thả lỏng đi theo đời, đi theo mê.

Cái mừng vui cũng vậy, nước mắt tuôn trào trong khi thiền quán nhưng lại thấy vui, đó là những giọt nước mắt của hạnh phúc mà những người bên ngoài không bao giờ nếm được hương vị đó. Có một vị trình pháp rằng khi vị đó quán tâm từ thì thấy cảm giác dâng lên tràn ngập thấm đượm toàn thân y như trong kinh diễn tả, cảm giác này dào dạt lan tỏa ra, cảm nhận được cảm giác từ bi, bi mẫn nên vị này hạnh phúc không diễn tả được, đó là hỷ của thiện pháp và tu đúng sẽ được giống như vậy. Nhiều khi lưng mỏi chân tê nhưng thấy hỷ lạc trong pháp, tức là thân khổ nhưng tâm lại lạc. Thọ thân khác với thọ tâm, có khi thân thấy mỏi mệt khi ngồi thiền nhưng tâm lại hân hoan, hỷ lạc khi ngồi quán tâm từ, tâm xả, tâm bi. Cho nên cần phân biệt cảm thọ của thân và cảm thọ của tâm, phân biệt cảm giác hoan hỷ, hạnh phúc, vui sướng trong khi tu.

Người ngoài sẽ không hiểu, nhìn vào thấy chúng ta khóc sẽ nghĩ tu khổ lắm nhưng họ không biết rằng mình là người hạnh phúc nhất trên đời. Nếu không biết tu cứ kiềm hãm cảm thọ hỷ lạc đó thì cái này không tốt, tu như vậy mình sẽ không trụ được lâu dài vì mình không cho hỷ lạc sanh khởi, lúc nào cũng u sầu dù thầy có nói hãy hoan hỷ nhưng vẫn thấy u sầu. Đó là do chưa trạch pháp, không phân biệt được hai loại cảm thọ. Cảm thọ hỷ lạc trong sự tu học phải phát huy, để trào dâng lên. Cảm thọ này giống như mình đang tắm, xà bông đó sẽ gội rửa chỗ hôi dơ, bẩn thỉu của thân, cũng vậy, cảm giác hỷ thọ này sẽ gội rửa cấu nhiễm của tâm. Đó là hỷ lạc do pháp sanh, hỷ lạc do thiền sanh, hỷ lạc do định sanh, hỷ lạc do trí huệ sanh nên phải phát triển khắp châu thân, cho nên cái hỷ đó là thiện pháp cần phát huy.

Ngoài ra, cái hỷ thích đi chỗ này chỗ kia, sáu mươi tuổi rồi mà không ở nhà được, phải đi chỗ này chơi đi chỗ kia chơi, tìm thú vui trong món ăn thì cái vui này là bất thiện. Song song với đó là tìm thú vui trong việc nói chuyện phiếm hoặc không có người kế bên để nói thì gọi điện thoại nói hết chuyện này đến chuyện khác, cho nên mình cũng phải tu với cái điện thoại rất nhiều. Có rất nhiều dục, ái, tham trong việc nói chuyện cho nên phải giảm bớt, cần biết cái gì cần thiết thì nói, không cần thiết thì không nói, để dành thời gian tu học.

Cái xả cũng liên hệ đến sự tu và thế tục. Buông bỏ những cái tham muốn không tốt, xả bỏ những cái nóng giận, bực bội, thù hằn, xả bỏ những cái vô minh, ngu muội, si ám, xả bỏ những cái ta, tôi, bản ngã thì xả bỏ này là thiện. Ngược lại xả bỏ giờ ngồi thiền, ở nhà là cho phép mình xả thiền, cho phép mình làm biếng, không nghe pháp thì cái xả này là bất thiện. Khi nhìn vào thân – thọ – tâm – pháp để kiểm tra oai nghi, cử chỉ, hành động thì đột nhiên hôm đó mình buông lung; còn khi không kiểm tra nữa, xả hơi nghỉ ngơi thì cái xả này là bất thiện, mình phải rầy la "ngươi muốn buông lung, đắm chìm phải không? Đang trôi trong đại dương mênh mông vô tận của sống chết mà dám buông cái phao của Thánh pháp hả?", để quay trở về pháp, an trú trong pháp, áp đặt mình vào pháp. Lúc nào buông lung, thấy "sao cái gì cũng khổ hết vậy?", muốn xả Khổ Thánh Trí để đi chơi thì mình phải khéo léo lèo lái quay trở về "bỏ cái phao này ra là ngươi chết chìm trầm luân, sa đọa".

Ba cảm thọ hỷ, ưu, xả này là thiện pháp nhưng cũng có bất thiện pháp cho nên mình cần trạch pháp giác chi trong Thất Giác Chi. Đầu tiên là Niệm Giác Chi nghĩa là phải có chánh niệm tỉnh giác nhìn vào thân thể, cảm giác, nội tâm và xem các pháp vận hành như thế nào. Khi chánh niệm nhìn thấy thì mình sẽ có trí huệ giãn trạch biện biệt, phân biệt rõ ràng cái nào thiện cái nào bất thiện, nếu là bất thiện thì giảm bớt, đánh đuổi, diệt trừ, còn thiện thì phát huy, tăng trưởng, làm cho lớn mạnh quảng đại. Muốn làm như vậy phải sanh khởi lên tinh tấn, có tinh tấn trong thiện pháp thì có hoan hỷ – Hỷ Giác Chi sanh khởi. Khi hoan hỷ thì tâm được nhẹ nhàng, khi nhẹ nhàng sẽ có định, khi định được sẽ nhìn thấy mọi ngõ ngách, góc kẹt, các chỗ vi tế của lậu hoặc thì lúc đó sẽ xả bỏ, xả vô lượng tâm chính là Xả Giác Chi. Trong sự tu học, chúng ta không được rời xa Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, pháp này có trong pháp kia, các pháp liên kết nhất quán với nhau, tương trợ lẫn nhau. Dùng hết tất cả biện pháp để đánh phá tham, sân, si, vô minh, bản ngã mà đánh còn thua, vậy mà chỉ muốn tu đơn giản không làm gì hết thì làm sao đánh nổi? Vì thế trong sự tu phải có tinh thần cầu học chân thành, tha thiết và tinh tấn.

Quán chiếu bộ xương

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Đây là lần đầu tiên con lên đây, trước đây con được một người bạn chia sẻ một bài pháp của thầy và trước khi có khóa tu con được một người bạn chia sẻ thông tin có khóa tu nên con tham dự. Con lên đây là một sự bứt phá vì gia đình không đồng ý nên con lên đây với tâm trạng buồn, phiền não. Con có gọi điện về gia đình nhưng không ai nghe máy nên con sanh ra tâm giận hờn, tâm khó chịu và con tức ngực. Khi nghe các cô chia sẻ thì con thấy nhẹ lòng và con bớt khó chịu, những ngày về sau khi thực hành tâm hiền và tâm xả thì con cảm giác được dỡ bỏ gánh nặng khỏi người, con vui ra mặt vì cảm nhận được sự nhẹ nhàng. Khi các thầy nói con đưa tay lên trời và buông xả thì con cảm nhận tâm xả theo đó đi ra lúc nào không hay, đến khi xong rồi thì con thấy nhẹ nhõm và vui. Từ đó con suy nghĩ lại, khi thầy giảng về bản ngã thì con xem xét lại bản ngã của mình tới đâu, giận hờn của mình ở góc độ nào, con vượt qua được và con đã gọi về nhà và người thân nói chuyện với con bình thường. Đó là điều rất vui mừng nên sáng nay con thấy nhẹ lòng, con xin trình với thầy là như vậy.

Ngoài ra con ngồi thiền trước bộ xương, hôm đó con rất buồn ngủ, con nhìn trừng vào bộ xương và con tự nhủ coi chừng bộ xương này là mình nên phải mở mắt to ra, không được ngủ nữa và con cứ nhìn trừng trừng thế là cơn buồn ngủ từ từ biến mất. Khoảng nửa tiếng đầu con ngồi bình yên nhưng thời gian sau vừa đau chân vừa buồn ngủ nên con cứ nhìn thẳng vào bộ xương, thế là con vượt qua được mọi thứ để kết thúc trọn vẹn buổi ngồi thiền. Lần thứ hai là trong giờ nghe pháp con lại bị hôn trầm, con không biết cách nào vượt qua nên tai thì nghe mà tay thì nhéo vào đùi thật đau đến hết buổi giảng pháp thì thôi, xin thầy khai sáng thêm cho con để vượt qua hôn trầm. Con xin tri ân thầy.

***

Cô làm rất tốt, nhờ sự tu tập mà cô giải tỏa được tâm hờn giận đối với người thân trong gia đình, cô nghĩ là sẽ không gọi nhưng nhờ thực tập tâm hiền, tâm từ, tâm xả nên cô gọi điện kết nối giải hòa với người nhà. Sự tu học rất thiết thực chứ không phải cái gì xa xôi không nắm được, không phải đợi sau khi chết mới có kết quả, mà có kết quả ngay trong chỗ mình tháo gỡ những sự thắt gút trong nội tâm, thay vì cứ cố chấp, giữ chặt, khăng khăng là thế nhưng bây giờ được mở ra, tháo ra, buông xuống. Đó là Chánh Pháp thiết thực hiện tại, ngay trong giây phút tu tập mình thấy được sự chuyển biến của nội tâm.

Nếu tu đúng theo lời Đức Phật dạy rất rõ ràng, kết quả tu học được mình thấy được, biết được, nắm bắt được. Như vậy, sau khóa tu cần cởi mở tâm với người mình ghét, xin lỗi người mình lầm lỗi mà do trước nay vì bản ngã nên mình không xin lỗi được. Tu như vậy người thân sẽ thương mến, quý trọng mình và họ thấy mình trở thành một con người tốt hơn, đó là sự màu nhiệm của Phật pháp, đó là thần thông, là thành quả, là hiệu quả, là sự lợi lạc, là giá trị, công năng, tác dụng của Chánh Pháp. Mình tu để trở thành người hiền lành, dễ thương, biết cảm thông, tha thứ, nhúng nhường, ngược lại không biết tu thì dữ dằn, bản ngã, cố chấp, hơn thua, nhỏ hẹp, nhỏ mọn và làm khổ mình khổ người. Nếu mình ôm cơn giận đó thêm một tháng nữa thì làm sao khỏe nổi, nó làm mình ăn không ngon ngủ không yên, cộc cằn, gay gắt, người mình giận cũng khổ rồi cơn giận này lây lan cho mọi người thì đó là làm khổ mình khổ người, là không biết tu, đó là sự thiết thực hiện tại của Chánh Pháp. Mình cứ nhắm ngay dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã để đánh đuổi thì nó sẽ giảm bớt cho đến diệt tận, như vậy sẽ được nhẹ nhàng, thảnh thơi, thư thới.

Điểm tiếp theo là nhìn thấy bộ xương để tác ý mai này nó là chính mình, phải nhớ vô thường, nhớ sự tan rã, hoại diệt của đời sống này, đang ngồi đây là năm sáu chục bộ xương được phủ lớp da bên ngoài. Sau khi lớp da này bị phân hủy sẽ lộ ra bộ xương trắng màu vỏ ốc, bộ xương là khung sườn, lớp da bên ngoài là vôi, lớp thịt bên trong là hồ để xây lên căn nhà tứ đại. Còn bên trong là những cảm giác tham muốn, tham lam, tham ái, tham dục, bên trong là những cảm giác sân hận, bức xúc, nóng bức. Bên trong căn nhà đó là những cảm giác u ám, si mê, ám muội, vô minh không nhìn thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy những cảm giác, không thấy những nguyên nhân làm đau khổ vì bị mù. Con mắt này bị mù nên chỉ thấy những thứ dục, tham, sân hận, ta đây mà không nhìn thấy nguyên nhân của sự thống khổ đã bị lớp vô minh, si ám bao phủ, che đậy.

Cười gì, hân hoan gì,

Khi đời mãi bị thiêu?

Bị tối tăm bao trùm,

Sao không tìm ngọn đèn?

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)

Tất cả đều bị mù, cái thân này sống trong mù lòa, tâm thức của chúng ta là một tâm thức mù lòa. Nếu không có ngọn đèn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện thì chúng ta mãi mãi vô lượng vô biên kiếp chìm đắm trong biển máu và nước mắt, biển dục vọng, dục ái, dục nhiệt não.

"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?

Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa) 

Trục quay của hành tinh này là dục, nó điều hành thống trị cả hành tinh này. Tất cả chúng sanh trong đó có mình được sanh ra từ dục, sanh ra để đi tìm dục và có những con người chết vì dục, cho nên thế giới của chúng ta gọi là dục giới, thế giới do dục thống trị. Còn giáo pháp của Đức Phật là ly tham, nhiếp phục dục, thoát ra khỏi dục, xuất ly khỏi dục, chặn đứng tất cả tham dục, tham ái, đó là con đường bất tử, con đường để ra khỏi thế giới quay cuồng đau khổ trong dục vọng, thế giới bị thiêu hủy trong dục. Số người chết vì dịch bệnh rất nhiều nhưng người ta vẫn đi chơi, vẫn gặp gỡ thì đó có phải cái dục nó giết người ta không? Có phải tham muốn giết người ta không? Chính từ cảm giác thúc giục bên trong giết người chứ không có ai ở bên ngoài giết người. Không phải tủ vàng trong tiệm vàng giết người mà chính cảm giác tham lam muốn lấy vàng mới chính là kẻ giết người, mới đưa vào cảnh tù tội, chết chóc.

Chúng ta thật sự rất đáng thương vì đều là nạn nhân của dục tham, dục ái, dục si mê, dục điên đảo, dục hành hạ, giày vò, chà đạp, đay nghiến, đè đầu cưỡi cổ mình. Bộ xương đó là con đường đưa mình ra khỏi dục, tham, ái. Trên bàn thờ bà Năm là hủ tro cốt nằm trên đó, những lần trước quý vị về đây vẫn còn là một con người, là mẹ của Minh Thành nhưng bây giờ lại biến thành hủ tro cốt, con người đó bây giờ ở đâu? Con mắt đó bây giờ ở đâu? Thân xác đó bây giờ ở đâu? Lỗ mũi, đôi vai, cánh tay đó bây giờ ở đâu? Nó đã biến đổi và hoại diệt, lụn tàn và tan rã. Tất cả chúng ta ở đây đều sẽ tan biến thành khói mây nếu từ bây giờ chúng ta không nỗ lực, tinh tấn, không lấy hình ảnh bộ xương đó để thúc giục, khuyến tấn mình thì một mai sẽ từ giã cõi đời này trong nước mắt, trong tiếc nuối, trong oán hận và khổ đau. Quán chiếu như vậy buồn ngủ sẽ tiêu tan, sự si ám sẽ tiêu tan và ngọn đèn của Thánh pháp, của trí tuệ, tinh tấn, chánh niệm sẽ được thắp sáng lên.

Mọi người chạy xuôi chạy ngược đều do dục điều khiển, chạy xe lạng lách, phóng nhanh vượt ẩu là do cảm giác thúc giục bên trong. Cho nên trong sự tu học thì cảm thọ tuyệt đối quan trọng vì “tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”. Muốn biết tham, sân, si, bản ngã, vô minh như thế nào chỉ cần nhìn vào cảm thọ sẽ thấy hang ổ, sào huyệt của nó ở trong đó. Tham, sân, si làm ổ, làm tổ trong cảm thọ, cảm giác. Cảm thọ là cái kho của tâm, từ trong đó nó thúc đẩy, thúc giục cho những cái tưởng, cái hành và dẫn dắt chúng ta đi theo. Vì thế sự tu là nhiếp phục các cảm thọ, làm chủ cảm xúc rồi mình sẽ thấy được bình an kì diệu.

Chia sẻ cảm nhận trong khóa tu

Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch thầy, kính bạch quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Thật sự mấy ngày nay con dẫn đoàn về núi tu học thì con rất ngạc nhiên và hoan hỷ vô cùng. Vì quý Phật tử cũng không được tiếp cận nhiều với Chánh Pháp mà chỉ tu theo sự hướng dẫn tụng niệm lễ lạy rất nhiều nhưng về núi mới hai ngày đã bộc lộ ra hết tất cả những cặn bã trong tâm, bộc lộ ra hết những gì mà quý Phật tử đã che đậy, âm thầm giữ trọn những cảm thọ khổ đau. Bây giờ về đây được thầy chỉ dạy, truyền trao Chánh Pháp đã tác động mạnh đến cảm thọ của quý Phật tử nên mọi người sẵn sàng quỳ trước thầy, trước đại chúng nói ra những gì lỗi sai của mình chất chứa trong thời gian qua. Con thấy rất hạnh phúc và ấm áp vì mình làm được điều lợi lạc cho mọi người khi dẫn mọi người về đây. Trước đây con cũng không tìm được Chánh Pháp, con tu cũng nằm trong đau khổ nhưng may mắn con được tiếp cận học hỏi từ nơi thầy thì con mới thoát ra được. Khi đã thoát ra con mới nhìn lại thì thấy thương cho con, thương cho quý huynh đệ, hôm nay các huynh đệ về đây thổ lộ như vậy con thấy rất ấm áp cũng như tình nghĩa của một người anh đi trước hướng dẫn, dìu dắt, chỉ dạy cho các em đi sau để tu hành được đúng Chánh Pháp.

Con mong quý Phật tử khi về đây cũng cảm nhận được ít nhiều lợi lạc của Chánh Pháp, sự nhẹ nhàng nơi thân tâm của mình. Con mong quý vị khi về nhà hãy cố gắng tinh tấn nhiều hơn nữa để sau mỗi ngày lòng tin của mình, chánh tín đối với Đức Phật, đối với chư Tăng được vững vàng và cố gắng giữ giới luật cho tốt để sau này có thể hướng thượng về đạo đức, phẩm chất, nhân cách của một người cư sĩ tại gia để xứng với hàng bốn đôi tám chúng của Đức Phật. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và kính thưa quý thiện hữu tri thức trong đạo tràng Nikāya. Cho con nhận diện lại cảm thọ mà từ sáng đến giờ cảm thọ vẫn còn dâng trào trong con, sáng nay thầy đã cho chúng con ngồi tọa thiền trong một không gian và thời gian yên bình, thanh tịnh không thể tả, con cảm nhận được tiếng côn trùng, hương hoa của cây cỏ thiên nhiên và con được thẩm thấu lời pháp nhũ của thầy như những dòng sữa ngọt chảy vào thân tâm con, như những giọt sương thẩm thấu trên thân con buổi sáng. Những lời pháp nhũ ấy đã đánh thức con nhận diện được ngũ uẩn và sự vận hành của ngũ uẩn, vì vô minh, ngu si, khát ái cho nên con bị vị ngọt của dục lạc ngũ trần dẫn dắt con đi trong nhiều đời nhiều kiếp. Con tri ân thầy, con tri ân tất cả quý thầy và quý đạo tràng đã sách tấn cho con trên bước đường tu học. Trong niềm xúc động này con kính dâng lên thầy những vần thơ:

Con đã về và con đã xuống núi

Con đã về bên Phật Thích-ca

Từ một đồi khóa tu con xuống núi

Trong tim in khắc sâu hình bóng

Uy nghiêm vời vợi của người cha

Con trở về đây với Đạo sư

Con được chở che bóng mây tường

Lời thầy đã dạy cho con ấy

Tinh cần tu tập thoát tử sinh

Con trở về bên hàng thiên trúc

Trong con tỏa sáng bóng Kỳ Viên

Con ở phương xa nhớ Đạo sư

Đạo hạnh uy nghiêm của đức từ

Con kính vô biên hương thanh giáo

Kì vĩ đơn sơ một bậc thầy

Thầy, thầy ơi! Nếu sau này con không được gặp lại

Hình bóng thầy vẫn mãi mãi trong tim con

Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng

Nghĩa ân sư muôn kiếp khó đáp đền.

Con tri ân thầy vì ngày mai đây thầy phải đi làm Phật sự của thầy còn con không biết mình có đủ nhân duyên để quay lại gặp thầy không, có thể ngày mốt con xuống núi và hành trang con mang theo là những lời dạy của thầy, trong mỗi hoàn cảnh suốt quãng đời còn lại dù ở nơi đâu con vẫn xứng đáng đạo tràng Nikāya là người tu, là người học trò của thầy. Con sẽ nhắc nhở trong tâm con hai chữ "mình là người tu", "người tu". Con cũng không quên gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất đến các anh, các chú, các chị ở nhà trù đã chăm lo cho chúng con từng miếng ăn để đảm bảo sức khỏe trong bảy ngày tu học. Con chân thành cảm ơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

./.