Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Hộ Trì Các Căn & Chánh Niệm Tỉnh Giác - Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 2

2026-03-03 00:54:43
Kinh Nikāya Giảng Giải

Hộ Trì Các Căn & Chánh Niệm Tỉnh Giác

Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh giới uẩn PAGEREF _Toc162706224 \h 1

II. Thánh hộ trì các căn PAGEREF _Toc162706225 \h 9

III. Thánh chánh niệm tỉnh giác PAGEREF _Toc162706226 \h 18

I. Thánh giới uẩn

Kính bạch chư Tăng Ni, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về bài kinh số 27 nằm trong Trung Bộ Kinh, tập I tên là Tiểu kinh Dụ dấu chân voi. Sau đây chúng ta sẽ nghe Đức Phật trình bày về Thánh giới uẩn, Thánh hộ trì các căn và Thánh chánh niệm tỉnh giác, ba phần này tuyệt đối quan trọng vì đây là đặc chất của người xuất gia, đặc tánh của người xuất gia, đặc điểm của người xuất gia, đặc hữu của người xuất gia và sự đặc biệt của người xuất gia, đây là những chất liệu, vốn có của một người tu. Người xuất gia tu đúng chánh pháp mới có những đặc điểm này.

Chúng ta thường nghe nói đến giới luật, giới bổn, giới pháp chứ chúng ta ít nghe từ Thánh giới, đặc biệt có thêm chữ uẩn nữa, chỉ có trong tạng kinh Nikāya mới có từ này. Uẩn là một tổ hợp, giới là giới pháp, Thánh là chỉ bậc Thánh, đây là tập hợp những việc, những điều, những pháp mà Đức Thế Tôn đề ra, Thánh ở đây chỉ cho Đức Thế Tôn, ngài đề ra những giới này nhằm bảo hộ, giữ gìn cho những người con của ngài, chăm sóc cho hàng tại gia và xuất gia được lớn mạnh trong đức hạnh, trong nội tâm an định và trong một trí tuệ thấu suốt về bản chất thân tâm thế giới, như vậy gọi là Thánh giới uẩn, tức là sự tập hợp các giới pháp của bậc Thánh, tổ hợp giới pháp của bậc Thánh.

Trong kinh Nikāya dùng chữ Thánh rất nhiều để phân biệt với phàm phu, đối lập của vô văn phàm phu là bậc Đa văn Thánh đệ tử, hoặc là chữ Thánh hộ trì các căn. Tại sao lại có chữ Thánh trong hộ trì các căn? Hộ là bảo hộ, trì là giữ gìn, sự bảo hộ giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của bậc Thánh thì gọi là Thánh hộ trì các căn cho nên chữ Thánh này rất quan trọng vì nó sẽ phân biệt với sự bảo hộ, giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của phàm phu. Sự giữ gìn, sự bảo hộ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là sự bảo hộ, giữ gìn của bậc đại giác, của bậc Thánh nhân chứ không phải sự bảo hộ, giữ gìn của người bình thường.

Người bình thường bảo hộ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý chỉ là mang kính mát che nắng cho mắt, đội nón bảo hiểm để bảo vệ đầu, thắt dây an toàn để bảo vệ thân, mang giày dép để bảo vệ chân, còn bậc Thánh bảo hộ rất khác, chúng ta sẽ từ từ tìm hiểu. Ngoài ra còn từ Thánh chánh niệm tỉnh giác, đó là sự chánh niệm và tỉnh giác của bậc Thánh, không phải sự tỉnh thức, chánh niệm của người bình thường mà đây là sự chánh niệm tỉnh giác của Đức Thế Tôn, của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Sự khác biệt của chánh niệm tỉnh giác của phàm phu và bậc Thánh nhân như thế nào thì đi vào bài kinh sẽ rõ, bây giờ mình cũng thực tập chánh niệm tỉnh giác rất nhiều nhưng có đúng với chánh niệm tỉnh giác của Đức Phật dạy hay không thì còn phải xét lại, nó đi vào chiều sâu của giáo pháp, đây là những pháp hành. Mình đã học biết bao lâu, có biết bao bằng cấp, học vị nhưng lại không biết pháp hành là gì thì thật đáng tiếc, mình cứ đi tìm pháp hành nhưng không ngờ pháp hành là những gì Minh Thành đã nói ở trên, giới là pháp hành, giữ gìn những điều đó là cần phải thực hành, giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là pháp hành, là một sự thực hành, sự chánh niệm tỉnh thức trong nội tâm của mình chính là pháp hành.

Cho nên điều chủ yếu là Minh Thành muốn cúng dường cho các thầy, các cô, chư Tăng Ni sinh là những phương pháp thực hành để hành trì, để rèn luyện, để tu tập chứ không phải chỉ học kiến thức, ngôn ngữ, chữ nghĩa, đến khi học xong lại không biết làm gì cả, một cơn giận nổi lên là không biết làm sao để nhiếp phục nó, một sự tham muốn sanh khởi lên là nó dẫn mình đi luôn, một cái ta, tôi, tao, mi, tớ sanh khởi lên là xâm chiếm, chi phối những cảm giác, nghĩ tưởng của mình cho nên học môn này để nhìn thấy thân tâm, từ đó có khả năng nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, do sự nỗ lực của mình đến đâu thì có kết quả đến đó, còn phàp này do Đức Phật dạy tuyệt đối chính xác, còn chúng ta làm tới đâu thì hưởng quả đến đó.

Trong tổ hợp giới pháp của bậc Thánh (Thánh giới uẩn) Đức Phật dạy:

"Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ ăn phi thời; từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ trang sức bằng vòng hoa hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức; từ bỏ dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ nhận các hạt sống; từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái; từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ nhận cừu và dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo; từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai; từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá". (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)

Mình phải cố gắng làm hết khả năng, những gì mình chưa làm được thì phải thấy hổ thẹn, phải thấy xấu hổ và trong lòng phải tha thiết, mong muốn một ngày nào đó mình sẽ làm được thì đó là tinh thần của tăng thượng giới học. Còn giờ thấy bản thân không làm được nên bỏ qua luôn, không có sự soi xét lại thì mình mất đi cơ hội tiến tu, tiến đạo, tăng thượng giới hạnh, đức hạnh, giới đức. Trong kinh ghi lại rất nhiều nhưng Minh Thành cảm thấy phần nào thiết thực trong đời sống hiện tại có liên hệ thì chúng ta sẽ triển khai, còn những phần thuộc về ngày xưa, xã hội bây giờ ít có thì nghe để biết và chiêm nghiệm thêm. "Từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, các cuộc trình diễn", mình là người xuất gia mà ngồi ở dưới xem ca múa, nhảy nhót thì không hợp, khi ngồi như vậy thì vị trí của người tu sẽ bị sa sút, vì mình không giữ được những điều này nên lòng tin của người Phật tử bị giảm thiểu, đạo hạnh, giới đức của người xuất gia không được hoàn hảo.

Những người nam nữ trên sân khấu mặc đồ, trang điểm, ca hát, nói những lời tình tứ trong khi mình là tu sĩ ngồi dưới sân khấu nhìn lên thì thật sự không phù hợp, đó không phải là hành xứ của người xuất gia, đó không phải là chỗ để mình có mặt, để mình đi đến. Đó là đi đến nơi khác để xem ca múa, còn bây giờ ở ngay trong phòng của mình, muốn xem chỉ cần có điện thoại, Ipad, laptop là có thể xem được hết, xem nhưng vậy cũng là phạm giới, vì khi xem thì mình sẽ thọ nhận những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó, những bất thiện pháp đi vào trong tâm.

Đó là dục lạc của thế gian, mình lại thọ nhận những thú vui đó vào tâm thì thọ; tưởng; hành; thức sẽ vận hành, tích tụ từ từ, chính những cái này dẫn dắt làm mình bị tiêm nhiễm lúc nào không hay, đến một ngày nào đó mình xem những thứ này lại cho rằng bình thường, xem nhạc, xem hài, thậm chí là người xuất gia lại đi xuất hiện ở chỗ thách thức danh hài, đó là trò tiêu khiển của người thế gian, người xuất gia không nên có mặt tại đó, mình đến đó thì tâm bị dao động nên làm sao hộ trì các căn.

Chính vì xem thường rồi thả lỏng các căn, cho bản thân buông thả dễ dàng cho nên sự nghiệp đạo hạnh càng ngày càng sa sút, người tu không thành tựu những đức hạnh cao đẹp của người xuất gia, từ từ người xuất gia bị thế tục hóa, bị thế tục đồng hóa, người xuất gia bị biến chất, chỉ đóng góp ở phần làm này làm kia tốt đẹp cho xã hội, còn riêng phần đức hạnh, đạo hạnh, trí tuệ và thiền định thì không thành tựu. Mình bị đồng hóa, bị thế tục hóa vì mình xem thường, không học, không thực hành, không để tâm, không lo lắng sợ hãi trong những tội lỗi nhỏ nhặt, không chấp nhận học pháp của Đức Thế Tôn, có ý niệm xem thường đó là chuyện nhỏ nên từ từ buông thả, buông lung rồi cuối cùng rơi xuống, đó là pháp thối đọa của người xuất gia.

Thối là lùi, đọa là rơi xuống, thối đọa là lùi lại và rơi xuống. Lùi lại và rơi xuống ở đâu? Lùi lại đối với thiện pháp, trở lại ác pháp, từ chỗ xuất gia nhưng lùi lại tại gia, những hoạt động của thế gian, rơi trở lại trong ngũ dục, là người xuất gia nhưng lại có hình thức của tại gia, rơi xuống vũng lầy của năm dục trưởng dưỡng, cũng từ chỗ xem thường giới hạnh, đức hạnh, những điều nhỏ nhặt mà Thế Tôn đã khuyên răng, chỉ dạy, nhắc nhở.

"Từ bỏ nhận cừu và dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo; từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái", đi tu mà vào chùa nhận con nuôi, nuôi chó, nuôi mèo, nuôi cá, nuôi chim, những điều này có rất nhiều ở hiện tại trong khi Thế Tôn đã nói trong kinh là không được, cho nên không học, không để tâm, không thực hành thì mình sẽ rơi rớt, Thánh giới bị mất, Thánh định không còn thì đương nhiên Thánh tuệ sẽ mai một nên Phật pháp từ từ biến chất và mất gốc, chỉ còn những hoạt động từ thiện xã hội bề ngoài để làm những thiện pháp công ích, còn những đặc chất, đặc tính, đặc hữu, đặc điểm, đặc biệt bị mất đi từ từ, không còn phân biệt được đâu là bậc Thánh đệ tử và đâu là vô văn phàm phu.

Bậc Thánh đệ tử nghĩa là đệ tử của Đức Phật phải có những bản chất đặc sắc riêng biệt với phàm phu, không có chung cùng với phàm phu, đó là giới đức, thiền định và Thánh trí tuệ, đây là những cái mà phàm phu không bao giờ có được. Nếu không thành tựu pháp học, không biết đó là cái gì thì làm sao thực hành, không thực hành thì làm sao đưa đến một nội tâm yên định, nội tâm không yên định mà cứ động loạn bởi năm dục trưởng dưỡng thì làm sao thành tựu trí tuệ của bậc Thánh, vì vậy tu hoài vẫn không có nền tảng, đến chết vẫn không thấy ai ngộ đạo, đắc đạo, liễu đạo, tất cả cũng chỉ vì không có nền móng, không có tâm tăng thượng, nếu như sai phạm mà có sự xấu hổ, lo lắng để nỗ lực gội rửa từ từ để thoát ra thì còn có thể cứu chữa được, đằng này không biết hổ thẹn, không có tàm quý thì hết thuốc chữa.

Chiêm nghiệm trong Thánh giới này có rất nhiều điều cần suy tư, không có nuôi mèo, nuôi chó, không có nuôi thú cưng, đó là thú tiêu khiển của thế gian, là dục lạc, bây giờ tu là không có thời gian rảnh rỗi vì dục, ái, tham, sân, si, bản ngã quậy mình suốt ngày, suốt đêm, trong giấc chiêm bao cũng bị quậy thì thời gian đâu lo cho chó mèo, thời gian đâu nhận con nuôi vào nuôi. Nếu tu mà không khéo là lấn sân sang lãnh vực khác rất nhiều, mình không đi vào trong hành xứ của cha ông, tổ tiên mà mình lại đi ra ngoài giới vực của bậc đạo sư, của Đức Thế Tôn, của các bậc Thánh.

"Này các Tỳ-kheo, đối với ai đi tới chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác. Do vậy, này các Tỳ-kheo, chớ có đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác, thời Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.

Này các Tỳ-kheo, chỗ nào không phải hành xứ của Tỳ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của người khác? Chính là năm dục công đức. Thế nào là năm?

Có các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Có các tiếng do tai nhận thức... Có các hương do mũi nhận thức... Có các vị do lưỡi nhận thức... Có các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỳ-kheo, đây là chỗ không phải hành xứ của Tỳ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác.

Này các Tỳ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến cảnh giới của cha mẹ mình, thời Ác ma không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.

Và này các Tỳ-kheo, chỗ nào là chỗ hành xứ của Tỳ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của cha mẹ? Chính là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; trú, quán thọ trên các thọ...; trú, quán tâm trên tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỳ-kheo, đây là chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, VI. Con Chim Ưng)

Tôn Ngộ Không vẽ vòng tròn nói rằng sư phụ ngồi trong vòng tròn đó, không được bước ra khỏi nó, yêu quái đi đến khóc lóc, dụ dỗ nên sư phụ bước ra rồi bị bắt luôn, vòng tròn đó ví dụ cho giới vực của bậc Thánh, tức là Thánh giới uẩn, bước ra khỏi vòng tròn đó rồi đi tìm những thú vui của thế gian nên bị ác ma bắt đi. Ác ma nằm trong sắc, nằm trong tiếng, trong hương vị, trong sự xúc chạm, nếu mình ra khỏi giới vực, hành xứ của người xuất gia, ra khỏi phạm trù, phạm vi của đức hạnh, giới hạnh, đạo hạnh thì mình bị ác ma bắt đi, mình bị lùi lại và rơi xuống vũng lầy của năm dục, mình không thấy được niềm vui của việc sống viễn ly, rời xa, độc cư thiền định, không thấy niềm vui của nhập thất, tỉnh tu, sống ở núi rừng mà chỉ thấy niềm vui trong sự ồn ào, náo nhiệt, tụ họp thì đây là một sự thất bại và thụt lùi. Bây giờ tu mà đi mở công ty nhưng cái tâm có nhiều lý do để biện hộ, ngụy biện, thành ra mình phải y cứ vào Thánh điển Nikāya, ai muốn tu có kết quả giống như Đức Phật và các bậc Thánh thì cứ y theo Thánh điển này mà tu tập và thực hành thì sẽ có Thánh đạo, còn người ta làm gì là việc của người ta.

Mình phải biết mình tu là vì cái gì, mình phải biết thương cha mẹ, thương Đàn-na tín thí, thương cửu huyền thất tổ và thương tự thân mình, vì mục đích, vì lý tưởng, lợi ích cho chính tự thân mình trong đời sống của chiếc áo nâu sòng này, mình phải biết làm như thế nào, tự mình phải đặt tâm đúng hướng, nếu không thì càng ngày mình càng đi xa mục đích ban đầu. Cái tâm này rất ngụy biện, xảo trá, khi nhận diện năm uẩn rồi sẽ thấy nó lươn lẹo đến mức nào, bao phủ bên ngoài là chiếc áo làm Phật sự, chiếc áo làm vì tam bảo, vì chúng sanh nhưng đào sâu vào bên trong là vì danh lợi, yêu thích và tham muốn, dục ái, tôi ta của một bản ngã.

Cho nên nhận diện ngũ uẩn giúp mình đào sâu vào bên trong để thấy rõ bản chất của tâm, bản chất của sắc; thọ; tưởng; hành; thức. "Từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo", nếu mình không nghiêm khắc với chính mình, nếu mình không có chánh kiến thấy đúng về đạo lộ, về con đường mà mình phải đi thì mình sẽ rơi rớt, những điều này có thì Đức Phật mới nói cho nên chúng ta phải chiêm nghiệm, nhìn kĩ rồi quán chiếu, suy tư sẽ thấy ra ngay, không có bất cứ một chữ nào dư thừa trong bốn bộ đại tạng kinh, phải có thì Thế Tôn mới nói.

"Vị ấy bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỳ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm". (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)

Vị ấy bằng lòng với tấm y đơn sơ để che thân, vị ấy bằng lòng với đồ ăn có được từ sự đi xin để nuôi bụng. Chúng ta phải nhớ mãi không quên hai chữ ít muốn biết đủ, nếu quên sẽ mất chất của người tu, đó là đặc chất, là bản chất, là tính chất, là chất liệu, đặc tánh của người tu. Đây là đề tài thiền quán suốt cuộc đời của người xuất gia, chứ không phải ở sơ cấp vào học bài thiểu dục tri túc là xong, từ cái ăn, cái ở đến mọi tiện nghi vật chất phải bằng lòng. Bằng lòng với tấm y được người ta cho, bằng lòng với chiếc áo nâu sòng này, bằng lòng với tấm y này, không đòi hỏi, không trông chờ, không hi vọng, không ước ao, không tưởng tượng phải có thêm cái gì nữa, vì đó là tham, ưa thích món đồ là ái, thúc giục trong tâm để đòi hỏi là dục, phải nhận diện ra được những cảm xúc đó và mình ý thức một cách sâu sắc "đời sống của ta lệ thuộc vào người khác, chúng ta đã hủy hoại hình sắc này, hủy hoại mái tóc này, chúng ta đã thay đổi màu áo. Đời sống chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào sự bố thí của người khác, chúng ta là những kẻ ăn xin không hơn không kém". Đức Thế Tôn đã nói nếu ở thế gian có kẻ la mắng một người khác "ngươi là kẻ ăn xin, ngươi chìa tay từ ngã tư đường này đến ngã tư đường khác, ngươi là kẻ hèn hạ nhất đời này", khi người ta mắng chửi một ai thì người ta sẽ dùng những lời nói thậm tệ nhất, các ông hãy ghi nhớ các ông là những kẻ ăn xin.

"-- Này các Tỳ-kheo, đây là nghề sinh sống hèn hạ nhất, tức là nghề khất thực. Ðây là một lời nguyền rủa trong đời, này các Tỳ-kheo, khi nói: 'Ông, kẻ khất thực với bát trên bàn tay, Ông đi chỗ này, chỗ kia và đấy là nghề sinh sống'. Này các Tỳ-kheo, điều mà các thiện gia nam tử chấp nhận là những vị sống vì lý tưởng mục đích, duyên với lý tưởng mục đích; không phải vì ma cưỡng ép, không phải vì trộm cướp cưỡng ép, không phải vì thiếu nợ, không phải vì sợ hãi, không phải vì không có nguồn sinh sống, mà với ý nghĩ: 'Ta bị chìm đắm trong sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị chìm đắm trong đau khổ, bị đoanh vây bởi đau khổ. Rất có thể, sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này được tìm ra'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, VIII. Người Khất Thực)

Mình phải từ bỏ tâm ngạo mạn, tâm ta đây, tâm kêu ngạo, kiêu căng và luôn thực tập đời sống ít muốn biết đủ và khiêm hạ, không phải cạo đầu, được thọ đại giới, được đắp y rồi cho mình là thầy, điều này rất nguy hiểm.

"Hà nãi tài đăng giới phẩm,

Tiện ngôn ngã thị Tỳ-kheo".

(Quy Sơn Cảnh Sách)

Câu trên có nghĩa là "Tại sao vừa được giới phẩm lại tùy tiện cho mình là bậc Tỳ-kheo?", cho nên khi thọ giới đó rồi mặc áo của người ăn xin, mặc áo của một người hành khất, mặc áo của một người xả bỏ địa vị thế gian để đưa mình đến chỗ thấp kém nhất trên cuộc đời này, đó là sự từ bỏ, sự xả ly những vị trí trên cuộc đời này để an bần lạc đạo, an với nghèo và vui với đạo.

Người xuất gia chúng ta càng đơn giản chừng nào, càng ít muốn biết đủ chừng nào thì càng biểu lộ nét đẹp của một người tu, còn càng lòe loẹt sang trọng lại càng không ra một người tu, không có chất của một người tu, mà phải là đơn giản, đơn sơ, đơn độc, cô độc, đứng một mình, đi một mình, ngồi một mình, an trú vào pháp, vào giới đức mà bậc Thánh truyền trao cho mình, đó là tính chất đặc biệt của người xuất gia, một đời sống thanh cao, cao thượng, thánh thiện, đó gọi là Thánh giới uẩn.

"Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm", người xuất gia thực tập được những điều đã nói ở trên thì trong tâm họ có cảm thọ rất an vui, an lạc, rất bình an, người này nhìn lại giới thấy mình không sai phạm, không bị bể vụn, không bị đâm cắt, không bị nứt chảy, giới nguyên vẹn nên vị này có nội tâm lạc thọ, có cảm xúc an yên, chính cái vui đó dẫn vào nội tâm an định của các tầng thiền. Đó cũng là lý do mình không ngồi thiền được, khi có quá nhiều sai phạm mà vào ngồi thì có biết bao suy nghĩ, cảm xúc, hình ảnh quậy phá mình làm tâm không yên được nên không thể đi vào các tầng thiền, các ác và bất thiện pháp xâm chiếm thân, miệng, ý, tích tụ trong các cảm thọ, nghĩ tưởng.

II. Thánh hộ trì các căn

Sau đây chúng ta bước qua phần Thánh hộ trì các căn, phần này tuyệt đối quan trọng nên cần học thuộc lòng, đây là bản chất của người xuất gia vì vậy nếu không hiểu, không học thuộc lòng, không thực tập thì mình không phải là một người xuất gia chân chánh của Đức Phật.

"Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi và các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục". (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)

Sự bảo hộ, hộ trì các căn của bậc Thánh là như thế nào? Khi con mắt thấy sắc thì vị này không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Tướng chung là tổng quát, tướng riêng là chi tiết, ví dụ không nhìn một người thấy tổng quát là người đó cao, trắng thì đó là tướng chung, tướng riêng là con mắt ra sao, tóc ra sao, miệng ra sao… Khi con mắt thấy một món đồ, cảnh vật hay con người thì vị này không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng của sắc mà con mắt nhìn thấy.

Chỉ riêng điều này thôi thì từ ngày xuất gia đến giờ mình có làm được không? Mình nhìn chằm chằm người ta rồi phân tích từng đặc điểm thân thể người ta thì tướng chung lẫn tướng riêng mình đều nắm giữ, cái đó là không có sự hộ trì mắt. Hộ trì, giữ gìn con mắt nghĩa là nhìn thấy và biết nhưng không nắm giữ hình tướng đó, không để ý những chi tiết trên hình tướng đó, tức là nhìn phớt qua chứ không nhìn kĩ, không để ý, đó là bước thứ nhất.

Bước thứ hai là những nguyên nhân gì khiến cho con mắt không được chế ngự, nghĩa là mắt thấy sắc đẹp nên khởi lên tham ái, yêu thích, muốn nhìn thêm nữa, muốn được tiếp xúc, muốn người đó ở lại lâu hơn hoặc là thấy đồ đẹp là thích, đó là những nguyên nhân khiến con mắt không được chế ngự. Khi nhìn như vậy nghĩa là mình thọ cái sắc đó vào tâm, hình bóng của món đồ, con người đó được cất giữ trong tâm, thế là sắc tưởng được an trú trong tâm. Khi thấy cái gì làm khó chịu, bức xúc, giận thì gọi là ưu bi, đó là những pháp ác bất thiện, tham, sân, si, bản ngã sanh khởi như vậy thì vị ấy lập tức chế ngự đó, con mắt nhìn xuống ngay, không tiếp tục nhìn con người đó, cảnh vật hay món đồ đó, thâu nhiếp con mắt lại, chỉ riêng phần bảo hộ, giữ gìn con mắt cũng là cả một công trình tu tập công phu.

Các vị Tỳ-kheo ngày xưa tu như vầy nên mới dễ dàng đi vào thiền định, các ngài không để ý nhìn bất kì ai, thâu nhiếp sáu căn để nhìn vào nội tâm nhận diện ngũ uẩn, tâm các ngài hướng nội chứ không hướng ngoại nhưng hướng nội được là nhờ sự hộ trì, phòng hộ, giữ gìn, bảo vệ con mắt. Đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm cũng giống như vậy, phải biết phòng hộ khi tai nghe tiếng ngọt ngào, êm ái, dễ thương thì vị này lập tức trở về an trú cảm giác toàn thân, chánh niệm tỉnh giác, không để sự yêu thích lời nói sanh khởi lên hoặc là nghe tiếng nói làm bực mình, tức giận thì vị này lập tức quay lại an trú cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, không chạy theo âm thanh đó nữa.

Nếu có người đến mời mình đi tụng đám hoặc đi công việc gì đó mà lên xe tài xế mở nhạc trữ tình, lời ca ướt át, nỉ non, tình ái thì mình nghe rồi có hộ trì nổi tai không hay là mình bị tiếng nhạc cuốn mình đi, trong suy nghĩ mình hiện ra người ca sĩ đang hát bài đó, mình có cảm xúc, thế là mình bị cuốn đi như thác lũ tràn về cuốn trôi mọi thứ, mình không thường thực tập sự hộ trì, giữ gìn, bảo hộ lỗ tai với tiếng nên vừa nghe là bị cuốn theo lời hát đó, còn nếu mình thường thực tập là mình sẽ nói tài xế tắt nhạc giùm.

Khi bước lên xe mà tài xế mở nhạc trữ tình ướt át, da diết là mình thích thì cấp độ này là không được, cấp độ thứ hai là không thích nên mình nói các thầy, các cô nghe nhạc này không được nên chú tắt giùm, cấp độ thứ ba là nghe nhưng nhiếp phục cảm thọ, hộ trì căn của mình vì có những hoàn cảnh không thể nói người ta tắt nhạc được, lúc này phải tự mình tu thôi. Trong một cuộc gọi điện thoại, một tin nhắn cũng phải khéo hộ trì căn, trong khi giao tiếp, khi nói chuyện, khi nghe cũng phải thâu nhiếp, bảo vệ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình, nếu không mình sẽ khổ dài dài, mình sẽ bị lửa đốt hoặc là bị nước cuốn trôi, lửa là ví dụ cho cảm thọ sân, nước là ví dụ cho cảm thọ tham ái, nếu không chết cháy thì cũng bị chết chìm, đó là tham và sân, chỉ cần nghe, thấy, tiếp xúc thôi là tham và sân khởi lên ngay.

Đức Phật phải rất thương chúng sanh mới dạy cho chúng ta cách hộ trì các căn, chỉ cần chúng ta thực hành rồi sẽ thấy sự màu nhiệm của nó. Hôm qua các loại xe cơ giới chạy ầm ầm để cải tạo con đường làm mình có cảm giác khó chịu, lúc đó Minh Thành tác ý, quán chiếu "con mắt này không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình. Lỗ tai này này không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình. Các tiếng này không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình. Những sự tiếp xúc của tai này là vô thường, vô ngã, trống rỗng, những cảm thọ sanh khởi này là duyên sanh, là vô thường, vô ngã, trống rỗng, không có cái gì ở đây là của mình, không có đất nào của mình, không có chùa nào của mình. Sắc này là vô thường, những cảm thọ này là vô thường, là khổ, là vô ngã, những suy nghĩ, hình bóng này là trống rỗng, là duyên sanh. Lúc trước không có nhưng giờ nghe tiếng nên sanh khởi lên thì sự sanh khởi này là rỗng không, là sự đau khổ. Khi mình chấp nhận có tôi và của tôi trong này rồi mình sân hận, bực bội, khó chịu. Sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là vô thường, khổ, vô ngã, không có gì là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Âm thanh này là vô thường, trống rỗng, tai này là vô thường, trống rỗng, sự tiếp xúc của tai là duyên sanh, trống rỗng, những cảm thọ sanh khởi từ sự tiếp xúc của tôi là vô ngã, trống rỗng. Tất cả các pháp này là tiêu tan, hoại diệt, đổ vỡ, là món đồ gốm dễ bể nát. Đây không phải là chỗ của mình, mình sẽ thoát ra khỏi chỗ này, viễn ly, xuất ly, thoát ly, mình chuẩn bị đi xa rồi nên những món đồ này không phải của mình, mình đi ra khỏi căn trần thức, xứ, giới, uẩn, mình đi ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình đi ra khỏi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này, mình ra khỏi những cảm xúc này".

Sau khi tác ý như vậy tất cả cảm thọ bức xúc tan biến như viên thuốc sủi, mình mỉm cười rồi đi thiền hành. Chỉ cần nghe tiếng làm khó chịu thì phải vận dụng tư duy quán chiếu các pháp, nếu không khi cảm thọ khó chịu, bức xúc đó sanh khởi lên mình thọ nhận, chấp nhận thì mình tăng trưởng, nuôi dưỡng để phát ra ngôn ngữ, hành động, không khéo xảy ra tranh cãi, ẩu đả hoặc thậm chí mất mạng, người thế gian đều như vậy vì họ không biết thực hành sự hộ trì các căn của bậc Thánh cho nên trong sự tu thì hộ trì các căn là việc tuyệt đối quan trọng.

"Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...

... Lưỡi... Thân...

Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Có sáu xúc này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc... Tai... Mũi...

Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)

Nếu ai biết bảo vệ, phòng hộ, giữ gìn sáu xúc xứ này thì người đó được bình an, bớt khổ đau, còn nếu ai cứ nghe ngóng, chạy theo mùi vị, các sự xúc chạm người đó bất an, lo lắng, khổ sầu cho nên Thánh hộ trì các căn rất quan trọng, nếu tu mà không có cái này thì không thể hết khổ. Cái khổ không chỉ nằm ở tiếng bên ngoài, đó chỉ là một cái duyên thôi, do có tai, có sự rõ biết âm thanh, sự giao thoa của ba pháp này là nhĩ xúc, sự tiếp xúc của tai sanh ra cảm thọ nhưng nếu mình nhiếp phục được cảm thọ trong tâm thì tiếng bên ngoài không là gì cả.

Nếu không biết cách nhiếp phục đúng cách thì dù có làm gì đi nữa cũng là tránh né, khỏa lấp, lãng quên thôi, khi nào nhớ lại thì khổ, vì vậy khi thấy chính xác các khía cạnh, góc độ, phương diện của sự vận hành các pháp rồi mình trừ diệt tận gốc trong cảm thọ thì sự tu mới đi đến chỗ rốt ráo, mới đạt được tâm an tịnh, nếu không biết hang ổ, sào huyệt của nó là cảm thọ thì tu mãi cũng không thành công, không nhìn thấy tham, sân, si ở đâu thì làm sao nhiếp phục được nó, làm sao chế ngự, đoạn tận. Minh Thành đã chia sẻ từ đầu là phải an trú cảm giác toàn thân để nhìn ra các cảm thọ thúc giục, ham muốn, khó chịu, bản ngã, kiêu căng và đó chính là hang ổ của nó nên mình cần ruồng tận hang ổ, đập tan sào huyệt. Hang ổ của nó nằm trong cảm thọ, cảm xúc, cảm giác vì Đức Phật đã nói tất cả pháp hội tụ ở cảm thọ.

"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)

Bây giờ không nhận diện cảm giác, không an trú cảm giác toàn thân, không nhìn thấy, không quán chiếu, không để ý cảm thọ thì không thể thấy được hang ổ của tham, sân, si, lậu hoặc, vô minh, tham ái, chấp thủ. Như vậy bên ngoài là hộ trì căn để nhìn rõ vào bên trong để thấy sự vận hành, hoạt động của nó, từ đó có các phương pháp từ bỏ, tẩy sạch, đoạn tận, đánh tan hang ổ của nó. Nếu bây giờ cứ hướng ra ngoài mắt nhìn sắc, mũi ngửi mùi, tai chạy theo tiếng, lưỡi nếm vị, thân tiếp xúc, ý bên trong duyên với hình bóng, suy tư, nghĩ ngợi thì làm sao mình thấy được thực pháp đang diễn ra trong tâm.

"Trời đất nấu nung vạn tượng thành,

Xưa nay không mống cũng không manh.

Chỉ sai hữu niệm quên vô niệm,

Liền trái không sanh nhận có sanh.

Mũi đắm các hương, lưỡi tham vị,

Mắt mờ chúng sắc, tiếng mê tai.

Lang thang làm khách phong trần mãi,

Ngày cách quê hương muôn dặm trình".

(Núi Thứ Nhất – Trần Thái Tông)

Tâm của mình là cái tâm lang thang, nghe cái gì là chạy ra xem, thấy cái gì là dính mắt vào đó, mùi vị cũng bị dính mắc, chuyện người thì sáng còn chuyện mình thì quáng (gà) vì vậy hộ trì các căn để đi ngược lại, tức là việc mình thì sáng, việc người ta đừng thấy.

"Sự đời thà khuất đôi tròng thịt

Lòng đạo xin tròn một tấm gương"

(Nguyễn Đình Chiểu)

Thà là mù không còn nhìn thấy thế gian gì nữa vì chỉ toàn tham, sân, si, bản ngã, danh lợi, lọc lừa, dối trá, vô tình vô nghĩa nhưng lại sáng tâm linh, ngọn đèn tâm sáng tỏ, trong sạch, lòng đạo tròn một tấm gương. Thấy để tham, sân, si thì thấy làm gì? Nghe để hơn thua, tranh đấu thì nghe làm chi? Mình tác ý với con mắt "mày mù đi vì thấy rồi cứ tham lam, ưa thích, luyến ái, mày điếc đi vì nghe mà cứ hơn thua". Ở bên ngoài thì thâu nhiếp các căn, bắt đầu nhìn vào tâm để phát giác rác bẩn, bề bộn ra sao rồi quét dọn, chùi rửa, làm cho căn nhà nội tâm thanh lương, mát mẻ thì đó là Niết-bàn, còn giờ trong tâm là một mớ hỗn độn, một đống xà bần, có biết bao rác bẩn hôi thối, bẩn thỉu thì làm sao mát mẻ, thanh lương được, sự tu của mình là làm sạch căn nhà nội tâm. Cho nên hộ trì các căn rất quan trọng, ngược lại là thả lỏng các căn, tức là buông lung, buông thả con mắt, muốn nhìn gì là nhìn, buông thả tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không kiểm soát những cử chi, oai nghi, tế hạnh.

Ý là cái rất sâu sắc, để ý vào trong tâm có những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ. Nếu để ý trong tâm thấy có hình bóng sanh khởi rồi yêu thích hình bóng đó, muốn nắm giữ hình bóng đó thì đang có vấn đề, mình phải làm sao để chế ngự và đánh tan hình bóng ham thích đó, không để hình bóng tồn tại, an trú, xâm chiếm, ám ảnh trong tâm. Ngoài đời nguòi ta dùng từ "ý trung nhân" là hình bóng đó ám ảnh trong tâm dù cho người đó có chết rồi nhưng hình bóng vẫn còn chứ đừng nói người đó còn sống, nếu sanh khởi sự lưu luyến, luyến ái với hình bóng đó thì phải tìm cách giải phá hình bóng đó, đối với cảm giác, suy nghĩ cũng vậy. Nếu có suy nghĩ sân hận, hình bóng làm mình sân hận, có cảm giác sân hận, nghĩa là thọ; tưởng; hành đều sân thì lúc đó cũng phải tìm cách hóa giải.

Chúng ta dùng bất tịnh để trị tham dục, dùng tâm từ hóa giải sân hận, đối với những hình bóng bình thường, suy nghĩ, cảm thọ đều đều thì phải quán chiếu những thứ này là vô thường để phá vỡ trạng thái đơ đơ, làm cho tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết tu tập, đó chính là hộ trì ý căn. Khi hộ trì căn không chỉ hộ trì bên ngoài là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân mà còn phải hộ trì cả bên trong là ý, khi mình ở một mình, ngồi thiền một mình nhưng hình bóng hiện ra, cảm thọ sanh khởi, những dòng suy nghĩ huyên thuyên, trong có tham, sân, ái, dục, hộ trì căn là để ý vào trong nhận diện ngũ uẩn xem hiện giờ có cảm giác gì, hình bóng gì, suy nghĩ gì, giữ cho nội tâm được lắng dịu, trong sạch thì mới gọi là Thánh hộ trì các căn, còn giờ trong tâm sanh khởi lên là dẫn dắt mình đi theo nó, không hộ trì tâm ý gì cả, như vậy gọi là không biết tu tâm, không biết chế ngự, bảo vệ, phòng hộ tâm, không biết quán tâm, không biết xét tâm. Đó chính là quán tâm trên tâm trong Tứ Niệm Xứ, ba mươi bảy phẩm trợ đạo nhất quán, liên kết với nhau, nó hỗ trợ, tác thành, làm cho viên mãn, trọn vẹn cho nhau để phá dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, tất cả các phiền não, lậu hoặc.

Những thứ cấu nhiễm ngủ ngầm trong tâm bị Thánh trí tuệ ngũ uẩn, Thánh trí huệ lậu hoặc giải phá, giải phóng hết tất cả, vì vậy đầu tiên là phải giữ giới, kế đó là giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, khi con mắt tiếp xúc với sắc là không nắm giữ tướng chung và không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân nào sanh khởi ra tham, sân, si phải chế ngự, nhiếp phục những nguyên nhân đó, thực hành sự giữ gìn con mắt, khi lỗ tai nghe tiếng mà sanh khởi ra tham, sân, si thì phải nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch trong cảm thọ đó, khi mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị sanh khởi ra khó chịu hoặc đam mê, thích thú thì phải chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận, khi thân tiếp xúc, đụng chạm sanh khởi ra dục, ái, tham, bản ngã thì cũng phải nhiếp phục, chế ngự.

Làm sao để biết được sự sanh khởi nếu mình không để ý, làm sao mình có thể để ý nếu không hướng nội, nhìn vào tâm, cho nên sự tu này rất bài bản, có thứ lớp trình tự, đầu tiên là giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, phòng hộ trước các sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp bên ngoài, sau đó đi vào trong tâm nhìn ra các cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ, đi sâu hơn nữa là nhìn ra những sự thúc giục, ham muốn, ưa thích, nắm giữ, nhìn ra những cảm giác thiêu đốt, nóng bức, muốn phá hoại, đạp đổ, ta đây, vênh váo, khi nhìn ra thì bắt đầu chế ngự, tẩy sạch, đoạn tận.

Pháp hành rất minh bạch, rõ ràng, trong sáng, nếu từ đầu không giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý thì làm sao có thể nhìn thấy được những thọ; tưởng; hành bên trong, nếu không nhìn ra những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong thì làm sao biết đang có tham, sân, si hay bản ngã, nếu không biết không thấy về các lậu hoặc, phiền não như vậy thì làm sao nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch nó được, nếu không nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch thì nó còn vĩnh viễn, tu hoài như mà nó cứ còn hoài, vô lượng vô biên kiếp cứ phàm phu, bản ngã, vô minh hoài.

Ví dụ đơn giản nhất là không biết phòng hộ, không biết giữ gìn, không biết bảo hộ cái thân trong mùa dịch này thì chúng ta bị nhiễm dịch bệnh, ngay trong thời gian này pháp hộ trì phải thành tựu, không hộ trì rồi đi ra tiếp xúc thì bị nhiễm dịch bệnh, thậm chí mình có thể chết hoặc là đau khổ gần như chết rồi biết bao người khác cũng khổ vì mình vì bị lây bệnh, đó là do không thực hành sự hộ trì, giữ gìn, mà không thực hành sự hộ trì, giữ gìn là do trong tâm có sự thúc giục muốn đi ra ngoài, muốn gặp gỡ, muốn giao lưu dẫn dắt chúng ta hướng ngoại, giống như con khỉ nhảy hết cành này qua cành kia, hết bụi cây này qua bụi cây nọ.

Trong ba loại cảm thọ thì dục tham giống Trư Bát Giới, cảm thọ bản ngã giống con rắn độc, cảm thọ hướng ngoại phóng ra ngoài, thích tiếp xúc, thích chạy nhảy thì giống khỉ vượn. Chạm vào bản ngã, cái tôi, cái ta là phun nọc độc ra như con rắn độc, sừng sộ lên, dục tham thì thích ăn, thích chơi, thích hưởng thụ như Trư Bát Giới, tâm hướng ngoại giống khỉ vượn vì cứ chạy nhảy, đi hết chỗ nào đến chỗ nọ. Cho nên sự hộ trì căn rất quan trọng, giúp cho mình nhìn thấy rõ nội tâm, trạng thái của nó đang như thế nào, mình cứ tưởng mình tu khá lắm nhưng khi nhận diện năm uẩn, hộ trì căn, nhìn vào các cảm thọ mới thấy hỡi ơi vì nội tâm có quá nhiều rác bẩn, cấu uế nên cần có một sự nỗ lực để hành trì.

III. Thánh chánh niệm tỉnh giác

"Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, y bát đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.

Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)

Tất cả mọi hành động đều tỉnh giác chánh niệm, đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác, phần này chính là niệm oai nghi và hành động. Khi đi phải biết mình đang đi, khi tới lui biết mình đang tới lui, khi đứng, ngồi nằm, co tay, duỗi tay phải rõ biết việc mình đang làm, biết từng cử chỉ hành động một cách rõ ràng chứ không phải làm không kiểm soát, làm trong lãng quên, lúc mang y, ôm bát, nhai, nuốt, đại tiểu tiện đều có một sự tỉnh thức, rõ biết, sáng tỏ, thân thể sử dụng như thế nào phải biết thân thể sử dụng như thế đó.

Khi ngồi thiền cần khép mắt hờ chứ không có mở to mắt hoặc nhắm hết mắt vì khi khép hờ mắt sẽ có sự nhìn lại tấm thân, khi nhìn lại thì rõ biết mình đang ngồi, còn khi mở mắt ra thấy núi non, chim hót, mây bay, người này người kia đang làm việc, vậy là hướng ngoại ra ngoài không hộ trì căn được, còn khi khép mắt lại bớt mới thực tập được sự chánh niệm và tỉnh giác. Đức Phật dạy chánh niệm là rõ biết oai nghi ở bên ngoài, đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, co duỗi, đắp y, ôm bát, đại tiểu tiện, còn tỉnh giác thì Đức Phật giải thích sâu sắc hơn là rõ biết thọ; tưởng; hành bên trong.

"-- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cần phải trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi đi tới, khi đi lui, đều tỉnh giác; khi nhìn tới, khi nhìn lui, đều tỉnh giác; khi co cánh tay, duỗi cánh tay, đều tỉnh giác; khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát, đều tỉnh giác; khi ăn uống, nhai nếm, đều tỉnh giác; khi đi tiểu tiện, đại tiện, đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác.

Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hãy chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, II. Chánh Niệm) 

Những cử chỉ hành vi bên ngoài của thân thì gọi là chánh niệm nhưng tỉnh giác là nhận rõ được cảm thọ, hình bóng và suy tư của ý hành bên trong, vì thế khi học kinh Nikāya rồi thì pháp nghĩa rực sáng rõ ràng chứ không có mơ hồ, ngày xưa mình học chánh niệm tỉnh giác rất chung chung còn giờ Đức Phật dạy rất rõ.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác.

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt ... rõ biết khi các tưởng ... rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.

Này các Tỳ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (XI). Tôn Giả Nanda)

Đi, đứng, ngồi, nằm, nói, thức, ngủ, yên lặng hay là co duỗi, cúi ngước, đắp y, ôm bát, đại tiểu tiện đều rõ biết việc mình đang làm thì đó là chánh niệm ở phía bên ngoài. Tỉnh giác là bên trong, nghĩa là thấy rõ được thọ; tưởng; hành sanh khởi, an trú và chấm dứt, khi có một cảm thọ khó chịu sanh khởi thì mình phải biết, đó là tỉnh giác, cảm thọ khó chịu đó đang có mặt thì mình biết đang có cảm giác khó chịu trong tâm, khi cảm giác khó chịu tan biến thì mình biết cảm giác khó chịu đó biến mất, thì đó là tỉnh giác mà Đức Phật dạy.

Khi có hình bóng sanh khởi thì mình phải biết, hình bóng đó an trú, đang có mặt thì mình biết nó đang có mặt, hình bóng đó tan biến thì mình biết hình bóng đó biến mất, có sự yêu thích trong hình bóng đó hay không mình cũng biết, nếu có cảm thọ ham thích, khoan khoái hoặc là sân thì mình biết là có, nếu không có thì mình cũng biết là không có. Sau khi đã biết thì dùng như lý tác ý để đánh đuổi những ác bất thiện pháp đó ra khỏi tâm chứ không phải biết rồi là thôi, bình thường bây giờ chỉ biết rồi để đó, mình biết trong phòng có rắn độc thì cũng mặc kệ đi ngủ hay là đánh đuổi nó? Tất nhiên là phải đuổi nó ra, cũng giống vậy, tham sân si, bản ngã là con rắn độc cho nên phải đuổi ra, như vậy gọi là chánh niệm và tỉnh giác.

Hôm nay chúng ta tìm hiểu thêm Thánh hộ trì các căn và Thánh chánh niệm tỉnh giác, lần sau chúng ta sẽ thấy Đức Phật dạy từ bỏ năm triền cái, những bài kinh này là pháp hành tuyệt đối quan trọng, đó là đặc chất của người xuất gia, cần học thuộc để ứng dụng, đây là bí kíp, là của báu, là gia tài của Đức Thế Tôn để lại.

Kính chúc các thầy cô an lành, chánh niệm trong Thánh pháp vi diệu tối thượng này.

./.