CÁCH ĂN CƠM CỦA ĐỨC PHẬT đã chỉnh
Kinh Nikāya Giảng Giải
CÁCH ĂN CƠM CỦA ĐỨC PHẬT
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tiết độ trong ăn uống PAGEREF _Toc69796283 \h 1
II.Chánh quán thọ thực PAGEREF _Toc69796284 \h 4
III.Cách ăn của Đức Phật PAGEREF _Toc69796285 \h 8
Rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác.
Xin hỏi đại chúng, khi mình ngồi thực hành ba pháp tĩnh tâm như vậy, nghe lớp bên kia niệm Phật, lúc đó tâm mình như thế nào, có niệm theo không? Khi niệm theo, là tâm hướng ngoại, tâm mình bị âm thanh bên ngoài chi phối dẫn dắt, nếu mình an trú được trong pháp đang thực tập, thì đó mới là vững chắc. Nghe bên kia vừa xướng lên, mình đi theo hết ba câu, là tâm mình bị thanh dẫn dắt, bị ngoại cảnh dẫn dắt, không có sức tự chủ, không an trú trong cảm giác toàn thân, pháp mình đang thực tập. Khi hỏi, mình không dám đưa tay lên, là tâm không chân thật, sợ, là có cái tôi trong đó, sợ bị chê nên không dám đưa. Tâm mình rất nhạy, pháp thì không nhạy, nhưng phàm thì nhạy. Những cái thường, thế tình, thế tục, phàm tình thì rất nhạy, tuy rằng câu niệm Phật là tốt, nhưng lúc đó không phải là lúc mình niệm Phật. Lúc đó, đi theo tiếng niệm Phật là mình bị âm thanh dẫn dắt, tiếng niệm Phật mình còn đi theo như vậy, thì tiếng chê trách chắc chắn mình phải bị dao động. Có một tiếng động gì bên ngoài là mình bị dao động liền, không an trú được trong pháp toàn thân đang thực tập. Cho nên, mình phải thực tập, thực hành, phải có pháp hành.
Tiết độ trong ăn uống
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như lý giác sát thọ dụng các món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hộ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, 3. Chương Ba Pháp, II. Phẩm Người Đóng Xe, bài kinh Con Đường Không Có Lỗi Lầm)
Đây là pháp hành trong lúc thọ trai, nhưng bây giờ ít có người thực hành, và cũng ít có người biết ứng dụng như thế nào, nên phần này học kỹ, để đây là pháp hành, pháp thực hành khi mình ăn cơm.
Tiết độ trong ăn uống là mình ăn uống có chừng mực. Tiết là tiết chế, mức độ ăn uống. Thời Đức Phật, một ngày chỉ ăn một bữa, ở đây mình chỉ nói về Đức Phật tiết độ trong ăn uống, và xem thời Đức Phật ăn như thế nào. Sẵn đây chúng ta sẽ học cách, xem Đức Thế Tôn ăn cơm như thế nào. Một lát nữa nghe cách ăn cơm của Đức Phật, mình sẽ bất ngờ lắm. Xem Đức Phật ăn cơm như thế nào và nghi thức thọ trai của Linh Quy Pháp Ấn, trước giờ chúng ta chưa được nghe điều đó. "Tỳ-kheo chơn chánh, giác sát thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui sướng, vui đùa", như bây giờ thường hay nói là ăn cho vui, nhưng không phải ăn cho vui sướng. Vì sao vậy? Cái ăn này là một trong những thú dục lạc của thế gian. Mình thấy bạn bè rủ nhau đi ăn, đi hưởng thụ. Còn người tu đi vào quán, nhà hàng là hoàn toàn sai, giới luật không cho phép, chỗ đó không phải cho đầu trọc xuất hiện. Nếu có đi là vu vi, là trường hợp quá bất đắc dĩ, nói theo cách nới lỏng cho mình, chứ đúng ra là mình không thể tới chỗ đó. Đó là chỗ hưởng thụ dục. Người tu là ly tham, ly dục, mà chỗ nào cũng có mình trong đó, nên Phật tử xem thường, không tôn kính. Đó không phải chỗ xuất hiện của mình, vì đó là chỗ hưởng dục.
Mình nhìn lại hình ảnh của thế tử Tất-đạt-đa, của Bồ tát, của các vị Thánh Tăng, Tăng đoàn thời Đức Phật, và ngay cả bây giờ, các nước nguyên thủy vẫn là đầu trọc, chân trần, ôm bát đi xin ăn. Đi xin ăn! Cho nên, tu chơn chánh thật sự không đơn giản, phải để tâm rất nhiều, phải biết hổ thẹn, hổ thẹn với đầu trọc của mình, với tấm vải rách của người ta bỏ. Thái tử Tất-đạt-đa bỏ tấm hoàng bào xuống, khoác lên tấm vải của một tử thi, đó là hình ảnh cao thượng, thánh thiện của sự xả ly, xuất ly, viễn ly. Đó mới gọi là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Nếu không nhìn ra được những căn bản của sự tu hành này thì mình làm sai trật cũng không biết. Cho nên, "ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp", không phải để ăn cho vui, không phải ăn rồi cười, giỡn hớt, đùa giỡn.., cái ăn này là tội lỗi, ăn này là đang hưởng dục, đang ái, đang tham. Cái ăn như vậy, người bố thí không có phước, mà mình có tội, vì ăn trong dục, ăn trong ái, ăn trong tham, ăn trong sự buông lung phóng dật. Ăn mà không thấy những món này là mồ hôi, nước mắt và máu của người ta dâng cúng; ăn như kẻ vô văn phàm phu, ăn mà để vui đùa vui sướng, đam mê trong món ăn, thích thú, khoan khoái trong món ăn; ăn mà lựa món cho đẹp da là không đúng. Cho nên, không phải để trang sức, ví dụ, mình ăn món đó để có sức khỏe tu thì được, nhưng nếu cố tình lựa món ăn đó cho đẹp thì đó là ái nhiễm, ăn không đúng pháp. Ăn của ái nhiễm, ăn của dục ái, của tham, ăn của sự tích lũy, tăng trưởng, phát triển cái vô minh, tham ái, chấp thủ đối với sắc uẩn, đối với hình dáng, thân xác này.
Chúng ta có thấy sâu sắc không? Nếu không học thì chúng ta không thể biết được, suốt đời tu mình cũng không biết. Mình tưởng tu vậy là đã hay rồi, làm được một chút gì ở bên ngoài là tưởng ngon lắm rồi, bản ngã tăng cao lên. Cái này là phải học thuộc lòng. Mỗi ngày ăn cơm ở Linh Quy là đọc bài này, đây là nghi thức Quá đường, nhắc mình trong cái ăn, Tỳ-kheo chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn khất thực, món này do mình đi xin ăn, do xin mà được, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, ăn không có để cười giỡn, không phải để khoan khoái, thích thú, vui sướng. Khi mình học về quán đoàn thực là khủng khiếp lắm. Đức Phật ví dụ như thế nào? Hai vợ chồng có một đứa con còn rất nhỏ, đi qua một hoang mạc, tức là một sa mạc hoang vu, tới đó hết lương thực. Một sa mạc hoang vu thì đâu có gì để ăn, nếu chết thì sẽ chết hết ba người. Hai vợ chồng này đành bấm bụng, nước mắt tràn ra, đau đớn khổ sở, xẻ thịt đứa con, phơi khô làm lương khô để còn sống đi qua sa mạc. Ví dụ đó, Đức Phật nói, Tỳ-kheo khi ăn phải quán chiếu như vậy, đó là cách ăn của các bậc thánh, cách ăn của Đức Phật, cách ăn của Tỳ-kheo thời đức Phật còn tại thế. Phật dạy ăn như vậy. Hai vợ chồng ăn đứa con, đau đớn, đau khổ cỡ nào, xót xa cỡ nào.
Tại sao Đức Phật ví dụ như vậy? Vì, ngày xưa đi khất thực, ai cho gì ăn nấy, có nhớ không? Trong đó có cá, có thịt. Trong dòng luân hồi mình đã biết, tất cả chúng sanh đều là ông bà, cha mẹ, anh em, con cháu của mình, khi làm người, khi làm thú, khi làm súc sanh, khi địa ngục, khi ngạ quỷ.., thì rõ ràng, mình ăn quyến thuộc trong quá khứ của mình. Đừng nói mình ăn chay là không có, ăn chay của mình là cũng có những sinh mạng, nhiều khi trộn canh bồ ngót, có nguyên con sâu nằm trong đó, rồi mình cắn, nhai chôm chôm, mận.., rồi kiến bò trong đó ra. Nghe mùi lạ trong miệng, lúc đó phun ra, là nhai mấy con rồi. Đó là cái mình thấy được, còn những cái mình không nhìn thấy được, vi trùng, vi khuẩn trong đó. Vậy là có sát sanh hết. Nói mình ăn chay là không sát sanh, như vậy không phải. Trong quá trình trồng cây là sát sanh biết bao nhiêu trong đó. Nhìn sâu sắc mới thấy trong cái ăn của mình có dục, tham, ái, đam mê, ưa thích, chấp trước, say đắm trong đó. Sự ăn uống, tu học chơn chánh đúng lời Đức Phật là tuyệt vời lắm!
Chánh quán thọ thực
Trong khóa tu Nikāya Minh Thành hướng dẫn, tổ chức, cả trăm người ăn mà không nghe tiếng nào khua muỗng đũa gì hết. Im phăng phắc, ăn theo tinh thần chánh quán thọ thực. Theo nghi thức chánh quán thọ thực trong khóa tu Nikāya mỗi bữa ăn cơm, mỗi lần ăn cơm thì đọc bài này. Giống như lúc nãy, lúc nào mình cũng phải thực hành ba pháp trước, cảm giác hơi thở, cảm giác cơ thể, cảm giác toàn thân; "cảm giác sự an tịnh của thân tâm, cảm giác sự an tịnh của không gian nơi này, vùng đất này, trời đất này; cảm giác dễ chịu đối với không gian này, vùng đất này, trời đất này; trong tình thương rộng lớn này, mong tất cả các loài hữu tình đều được an lạc và bình an, tìm được niềm an vui cho mình, tâm thương mình thật nhiều, thương mọi loài hữu tình trong trời đất rộng lớn này." Đó là Từ vô lượng tâm.
Chư Thiên rất ưa thích cúng dường thức ăn, thực phẩm cho một vị đại đệ tử của Đức Phật. Có ai biết là ai không? Đó là Ngài Ma-ha-ca-diếp, vì cúng dường cho Ngài là là bất khả tư nghì, vô lượng vô biên. Vì Ngài Ma-ha-ca-diếp khi ăn, Ngài trú vào tâm vô lượng, định vô lượng. Cho nên, trước khi ăn cơm, mình trú tâm từ vô lượng, trải tâm rộng lớn ra. Còn bình thường, mình không tu, khi ăn thì chỉ thấy bún riêu, hủ tíu, bánh canh, cơm bì chả, sườn.., vô nhìn thấy đó rồi xong, sắc, thọ, tưởng, hành, thức khởi lên, chỉ bao nhiêu đó thôi, tâm nhỏ hẹp. Ăn vậy người ta không có phước, ăn trong cái dục tham ái, ăn vậy phước nhỏ xíu, người cúng không có phước, người ăn có tội tham đắm. Cho nên, trú trong tâm vô lượng, tâm thương rộng lớn, rõ biết, cảm giác tâm thương rộng lớn, cảm giác thân đang ngồi.
Bây giờ bắt đầu vào điểm chính, cảm giác cổ họng, cảm nhận cái cảm giác trong cổ họng ngay lúc đó, xem lại cảm thọ dục ái trước bữa ăn này, xem bên trong có thúc giục trước bữa ăn không, xem có khoái, thích không? Trước bữa ăn nước miếng có chảy không, có dục ái trong việc chảy nước miếng này không hay nước miếng chảy đơn thuần là do tiếp xúc? Do con mắt mình nhìn thấy thức ăn, khởi lên sự rõ biết thấy thức ăn, ba pháp giao thoa hội tụ lại, sanh ra cảm giác. Lưỡi chảy nước miếng là do xúc nên chảy nước miếng thôi, còn nếu có dục, có ái trong thân tâm thì phải Như lý tác ý để diệt dục, diệt ái. Như lý tác ý là mình phải tác động tâm ý của mình, “có gì tham ái trong này, có gì thích thú trong này, ăn mấy chục năm rồi, có gì đâu, tại sao cứ tham muốn hoài, dục hoài, thích ăn hoài. Nhai, nuốt.., qua khỏi cần cổ thì nó có mùi gì, tại sao cứ tham hoài vậy?” Tác ý như vậy để mình đánh những dục ái tham ăn trước khi ăn. Trong một bữa ăn mà giống như ra trận đánh giặc, chứ không phải đơn thuần vô chỉ biết ăn. Cái ăn của phàm phu, không biết tu hành, tu tập gì hết. Ăn cơm mà giống như ra trận đánh giặc, sửa soạn, chuẩn bị cái tâm của mình, quán sát, quán chiếu, tác ý.., như vậy mới gọi là pháp hành đưa đến thánh quả, thánh đạo, thánh trí, thánh tuệ. Chứ không phải lên tụng tụng cho lẹ lẹ rồi ra ăn.. Đó chỉ là nghi thức thôi.
Phải xem ở bên trong, cảm giác nghĩ tưởng, hình bóng trong này, nhiếp phục ở bên trong. Chánh niệm tỉnh giác, quán sát thân hành trong khi ăn, tức là chánh niệm tỉnh giác quán sát hành động của mình, gọi là thân hành. Thân hành là hành động của thân, khẩu hành là lời nói của miệng, ý hành là những suy nghĩ của tâm. Có ba hành: thân hành, khẩu hành, ý hành. Chánh niệm tỉnh giác quán sát trong khi ăn là tránh tiếng muỗng đũa va chạm, tiếng múc cơm, tiếng vét cơm, tiếng để muỗng đũa xuống.., tránh tạo ra các tiếng động một cách tối đa trong khi mình ăn. Thường thường, ngay chỗ quả đường, có khi mình để rớt đũa muỗng kẻng kẻng.., điều đó nếu là giới tri thức thôi là cũng không được chứ đừng nói là người tu. Đối với giới tri thức, văn hóa, thượng lưu những điều đó không bao giờ xảy ra, trong bàn ăn của giới thượng lưu, có học vấn, người ta làm rất cẩn thận. Mình tu thì còn phải hơn như vậy nữa, đàng này vô ngồi, cúng xong là huyên thuyên. Ớn, ngao ngán..!
Tự mình lo cho mình, không nhìn ai hết, tự mình nhiếp phục thân tâm mình, đừng nhìn người ta. Kiểm soát thân hành trong khi ăn, kiểm soát tay, chân, mắt, miệng, kiểm soát việc múc thức ăn, việc đưa thức ăn vào miệng, việc nhai, khi nhai thức ăn không được nhai thô thiển, không nhai nghe tiếng, kiểm soát quai hàm khi nhai, làm chủ độ nhai. Tu là kỹ như vậy. Nhai hết muỗng cơm này rồi mới đưa muỗng cơm khác vào, không vừa nhai vừa vơ vét thức ăn. Miệng thì nhai, còn tay thì vét, múc, gắp.., điều đó biểu hiện cho dục tham. Đây là sự ăn cơm chánh niệm chánh quán thọ thực. Ngày xưa, các vị Tỳ-kheo ăn cơm như thế ở thời Đức Phật. Không vừa nhai vừa cầm sẵn muỗng thức ăn tiếp theo để đưa vào miệng, mà phải kiểm soát dục ái trong khi ăn, dừng lại việc ăn nếu thấy dục ái xuất hiện, thấy bên trong thúc giục, thấy khoái khoái là dừng lại, không ăn nữa. Như lý tác ý, diệt tận dục ái khởi sanh, sau đó mới ăn tiếp. Lúc nãy có nói Như ý tác ý rồi đó, “tham gì, mê gì, ăn mấy chục năm, có gì đâu; qua khỏi cổ là có mùi gì, ra món gì, rồi phải đi vô chỗ kín mít, lẹ lẹ bấm nước cho chảy xuống, nếu nước không có là lẹ lẹ bưng lỗ mũi chạy ra ngoài., vậy mà cứ dục, cứ ái, cứ tham, cứ ăn hoài.” Tác ý như vậy để cho cảm giác dục ái tan, lắng, sau đó mới ăn tiếp. Tập nhận diện ngũ uẩn trước khi ăn, trong khi ăn, sau khi ăn, phải biết có cảm giác gì, suy nghĩ gì, đang có hình bóng gì trong tâm. Cái này Minh Thành xin nói tổng quát, sơ qua chứ học kỹ thì nhiều lắm. Ở trên là giới thiệu cho mình thấy cách ăn của các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật, ăn đúng chánh pháp là phải ăn như vậy, ăn chánh niệm tỉnh giác là phải như vậy. Bây giờ, đến câu mình đang đọc:
Bữa ăn này được thọ nhận với chánh tư duy như sau, ta thọ dụng thức ăn này không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng "Như vậy là ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn". Như vậy, là sự biết tiết độ trong ăn uống.
Điều này không phải dễ hiểu. "Ăn uống đúng pháp như vậy sẽ mang phước báu lớn cho những người đã cho chúng ta bữa ăn hôm nay, không làm uổng công người cho và không làm tổn giảm phước báu của tự thân mình." Sau đó mới kính mời đại chúng thọ thực trong chánh quán và chánh niệm, đó là xong nghi thức ăn cơm ở Linh Quy Pháp Ấn. Hôm nào ăn cơm cũng đọc bài như vậy, rồi sau đó ăn cơm, không có cúng, tụng gì nhiều hết, không có kêu ai hết. Nhiếp phục thân tâm của mình. "Để thân này được sống lâu, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh", mình ăn là vì để cho thân được tồn tại, ăn để thân này được sống để tu, để thành tựu phạm hạnh là hạnh cao thượng thánh thiện thanh tịnh, sạch hết tham sân si, vô minh, bản ngã.
Trong khi ăn mình nghĩ như thế nào? "Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới" là sao? Câu này có nhiều người hiểu lầm, lúc trước Minh Thành cũng hiểu lầm. Thế nào là cảm thọ cũ? Như thế nào là không cho khởi lên các cảm thọ mới? Khi mình ngồi ăn một tô bánh canh, phở, mì.., nhìn vô thấy nó thì cảm thọ cũ hiện lên. Cảm thọ về món ăn đó mà lúc trước mình đã từng cảm nhận, lúc đó sanh khởi lên, suy nghĩ, hình bóng, cảm giác, thức khởi lên, món ăn sẽ có hương vị như vậy, ngon như vậy.., có cảm giác như vậy, suy nghĩ lên, thọ tưởng hành khởi lên, vận hành lên. Lúc đó phải diệt trừ các cảm thọ cũ, là mình phải tác ý để dập tắt những cảm giác, nghĩ tưởng yêu thích của món ăn này của lúc trước trước khi ăn, chỉ vậy thôi. "Ăn để tu, chứ không phải ăn để vui sướng, trang sức cho đẹp, không phải ăn để đam mê, ăn như xẻ thịt con mình để ăn, có gì vui sướng." Phải tác ý như vậy để đánh tan những cảm giác nghĩ tưởng về món ăn này lúc trước đã từng ăn, như vậy gọi là diệt cảm thọ cũ. Trong khi ăn mà phải tu như vậy.
Còn như thế nào là diệt trừ cảm thọ mới, không để sanh khởi cảm thọ mới? Diệt trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới. Cảm thọ mới là khi ăn, cảm thọ, khi gắp thức ăn chạm vào lưỡi là thọ do thiệt xúc sanh. Khi thức ăn chạm vào lưỡi sẽ sanh ra cảm giác, đó là cảm giác mới. Nó sanh khởi như vậy mình không chấp nhận, "không có gì thích thú, khoan khoái trong này cả, chính cái ăn này mà luân hồi sanh tử, mất hết đạo nghiệp, mất hết thời gian, mất hết tâm trí.., mai mốt làm heo, bị cân ký đi bán, vì ăn mà không tu, ăn mà cứ tham ái, tham dục, ăn mà cứ vô minh thì sẽ đi vào đường súc sanh." Phải tác ý "đừng có tham ăn nữa", tác ý như vậy là không cho khởi lên các cảm thọ mới. Trong khi ăn, nếu mình không chấp nhận cái thọ dục ái, khoan khoái thích thú đó, ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn, vậy đó là tiết độ trong ăn uống.
Đó là cách ăn của Đức Phật và các bậc Hiền Thánh, của người tu theo Chánh pháp. Phải hiểu được khái quát như vậy để biết, nếu không mình cứ ăn một cách rất vô tư, miệng thì nhai chưa hết nhưng đũa đã gắp, cầm, chờ; ăn chưa hết đã gắp đưa vô tiếp. Tất cả là biểu hiện không có sự tu tập, không có sự quán chiếu quán sát. Tại sao trong này nói là phải kiểm tra rất kỹ, sự tu tập như vậy mới đưa đến lậu tận, sạch hết tất cả tham, sân, si, kiểm soát rất kỹ. Đại dịch, nếu kiểm soát không kỹ, mình bỏ sót một người từ nước ngoài về thì hậu quả thật khủng khiếp, không thể tưởng tượng. Đó gọi là lậu, lậu hoặc. Bây giờ, ở lớp này có một người, là chết hết, lây hết. Cái lậu hoặc còn siêu vi, siêu tế hơn gấp hàng vạn lần dịch bệnh. Cho nên, tu mà không có con mắt trí tuệ, tu mà không có sự quán sát, xem xét cẩn thận, tinh vi, không thể nào mình siêu phàm nhập thánh, không thể nào mình tu thành phạm hạnh. Đâu phải mình nói tu, nghĩ như vậy là được. Toàn là hình thức, bên ngoài thôi, ai sao mình vậy.., không phải. Phải tìm cho được, tu như Đức Phật như thế nào, mình làm đúng như vậy thì sẽ có Thánh đạo, Thánh quả. Chắc chắn!
Cách ăn của Đức Phật
Xin thưa với đại chúng, con tu học gần ba mươi năm, con mới biết được Đức Phật ăn như thế nào, các vị mới tu không bao lâu mà được như vậy là phước lắm. Nó nằm ở trong tạng kinh nhưng mình không được biết. Trong kinh Trung Bộ tập 2:
Khi Ngài nhận cơm, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận cơm không quá ít, không quá nhiều.
Ngài ăn đồ ăn vừa phải (với cơm), không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng ăn. Tôn giả Gotama đưa miếng cơm quanh miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân không bị nghiến nát, và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước khi ăn miếng cơm khác. (Trung Bộ Kinh – Tập 2, 91. Kinh Brahmayu)
Tức là khi nhai, nhai xong hết tất cả rồi mới đem thức ăn mới vô, nó biểu trưng cho sự không tham. Đức Phật diệt tận hết tất cả tham, sân, si, vô minh, bản ngã rồi, mỗi hành động của Ngài thể hiện là làm khuôn mẫu của Nhân Thiên sư phạm, mẫu mực của Trời và Người.
Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị.
Ở đây có hai điều mình phải để ý. Thứ nhất, "không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn"; vị đó, hương đó Ngài vẫn biết nhưng Ngài không thưởng thức, tức là Ngài không thọ, biết nhưng không thọ, nên Ngài không sanh khởi dục tham ái đối với món đồ ăn đó.
Thứ hai, "không thưởng thức lòng tham vị", điều này rất sâu sắc. Cái vị này khác, và cái tâm tham đối với vị đó, có hai trường hợp. Nghe rồi từ từ mình tập, rồi nhìn thấy chứ không phải dễ thấy. Khi mình ăn, món ăn vô rồi, vị đó mình ham thích, thích vị đó là một cái; cái tâm ưa thích vị đó là mình thích cái tâm ưa thích đó, mình thưởng thức cái tâm ưa thích đó. Đây là Thánh trí. Một tâm phàm phu thiển cận, cạn cợt, luôn luôn phóng dật thì không thể nào đi vào thánh pháp, không thể nào. Ngày xưa Đức Phật giảng pháp, mấy ngàn người ngồi im thin thít, lúc nghe có những vị chứng quả dự lưu cho tới bất lai, thậm chí là A-la-hán quả, vì nghe trong thiền định, nghe trong sự tập trung tất cả tâm ý, cho nên thành tựu được Thánh trí, khai mở pháp nhãn. Mình học sẽ thấy hay lắm.
Tôn giả Gotama ăn đồ ăn có đầy đủ tám đức tánh, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ không lỗi lầm, sống được an ổn".
Bát đức là tám đức tánh trong khi ăn, trước giờ tụng mà mình không biết rõ tám đức tánh này:
Không phải để vui đùa là một;
Không phải để đam mê là hai;
Không phải để trang sức là ba;
Không phải để làm đẹp là bốn;
Chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng là năm;
Không để thân này bị thương hại là sáu;
Phải hỗ trợ phạm hạnh là bảy;
Suy nghĩ diệt trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, ta sống không lỗi lầm, sống được an ổn là tám.
Đó là tám đức trong khi ăn của Đức Phật và các bậc A-la-hán. Tám đức tánh, tám góc độ, tám sự tu tập tâm.
Ngài ăn xong lấy nước rửa bát, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận nước không quá ít, không quá nhiều. Ngài rửa bát không sanh tiếng động, rửa bát không xoay tròn bình bát, không có đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai tay rửa xong, bình bát cũng rửa xong, khi bình bát rửa xong, hai tay cũng rửa xong. Ngài đổ nước bình bát, không quá xa, không quá gần, không vẩy nước cùng khắp.
Hình ảnh Đức Phật hiện ra trong cái tưởng của mình khi Ngài dùng cơm, Ngài thọ thực, Ngài rửa bát.., hết sức gần gũi, phải không? Trước giờ mình đâu có từng được nghe điều này. Gần với Đức Phật, mình đang trở về rất gần với Đức Phật, rất gần.
Khi ăn xong, Ngài đặt bình bát xuống đất, không quá xa, không quá gần, không phải không nghĩ đến bình bát, cũng không quá lo cho bình bát.
Mỗi hành động, cử chỉ của Đức Phật đều mang y nghĩa ly tham, trầm tĩnh, trí tuệ.
Khi ăn xong, Ngài ngồi im lặng một lát nhưng không để quá thì giờ nói lời tùy hỷ (công đức). Ngài nói lời tùy hỷ (công đức), không chỉ trích bữa ăn ấy, không mong bữa ăn khác;
Tức là không có chê bữa ăn đó, không có chê món ăn đó ngon, dở, lạt.., không nói trong tất cả các phước, trai tăng là đệ nhất, Ngài không nói như vậy, không nói để mong người ta mời thêm bữa mới nữa.
Trái lại, Ngài với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Ngài sau khi với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Ngài đi không quá mau, không quá chậm. Ngài đi không phải (như muốn) lánh xa hội chúng ấy.
Cho nên, tu tập sẽ thấy hay lắm, mình sẽ thấy những gì chưa thấy, sẽ nghe những gì chưa nghe, sẽ hiểu những gì trước giờ mình chưa từng hiểu. Ví dụ, khi mình nghe tiếng kẻng, tiếng chuông reo, là dục ở bên trong, cảm giác thúc giục liền; bắt đầu mình bung ra, buông lung phóng dật, các căn bung ra, bàn ghế mình làm rầm rầm, nói chuyện.., tất cả những điều đó đều là ở trong vô minh phóng dật, dục, nhưng mình hoàn toàn không thấy, vì mình không thành tựu Chánh tri kiến nên không biết được, mình thấy chuyện đó là bình thường, mình không biết. Đến khi mình biết, mình thấy được dục, thấy được tham, bản ngã vô minh hoạt động thì đó là mình bắt đầu thể nhập Thánh trí, mới thấy được, mình mới là Đa văn Thánh đệ tử - đệ tử của bậc Thánh.
Tức là đệ tử của Đức Phật là những người nghe rất nhiều về tạng kinh Nikāya này, những lời dạy của Đức Phật, gọi là Đa văn thánh đệ tử. Còn chưa từng nghe những điều này, những phương pháp nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, cho dù có nghe cái gì khác thật nhiều thì cũng là vô văn phàm phu, không thấy được tham, sân, si, không thấy được ngũ uẩn, không nhiếp phục, không thấy được dục, ái, không thấy được vô minh, không thấy được sự chấp ngã của mình. Chỉ nhìn người ta rồi sân si, xét đúng sai phải quấy suốt ngày, tâm hướng ngoại, chạy theo dục, theo ái, đau khổ triền miên bất tận mà lại lấy đó làm vui, chạy đi tìm những hố than hừng, hãnh diện ở trong một đống phân, tưởng đâu đó là hay ho. Thân này là nhà máy sản xuất phân và nước tiểu, mỗi ngày nó phải đào thải những khí tanh hôi, bẩn thỉu, mà mình lại tham đắm vô đó, đau khổ trong đó, tự hào, thiêu thân trong đó. Đáng thương, đáng thương cho chính mình, thương cái tâm vô minh của mình, thương những cái dục hành hạ mình, thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này là nô lệ của tham ái tham dục, suốt cuộc đời mình làm đày tớ cho nó, làm mọi cách để cung phụng, phục vụ cho dục, rồi mình đau khổ, khóc than vì dục.
Đó là thực trạng của chúng sanh, lấy khổ làm vui, lấy dơ bẩn thối tha nhất, tanh hôi nhất để kiêu ngạo. Đó là sự đáng thương của chúng ta. Chúng ta là kẻ đáng thương nhất trên cuộc đời này chứ không phải ai khác, đáng thương nhất là chính mình, tâm vô minh của mình, bao nhiêu dòng nước mắt mình đã chảy xuống, bao nhiêu nỗi khổ chất chứa trong tâm, bao nhiêu niềm đau mình chôn giấu.. Tất là vì dục, tham ái, sân si, bản ngã. Mình không thấy, không biết những thứ đó, cứ đổ thừa tại người này người kia.. làm mình khổ, không phải. Nguyên nhân thật sự của đau khổ mà bậc Chánh Đẳng Giác chứng ngộ cho chúng ta biết chính là những cảm giác ham muốn, nóng giận, thiêu đốt, bản ngã, ta đây, đó mới chính là nguyên nhân đau khổ thật sự.
Khi tu học một cách chân chánh, nhận diện được năm uẩn, thường an trú cảm giác toàn thân, thấy biết được những suy nghĩ, những hình bóng trong tâm thì mình sẽ thấy, sẽ biết thủ phạm thật sự làm cho mình đau khổ.
Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp
Người xây dựng nhà này
Khổ thay, phải tái sanh.
Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi
Người không làm nhà nữa.
Đòn tay người bị gãy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)
Đó là bài kệ thành đạo của Đức Phật. Vô lượng vô biên kiếp sống này, đi lang thang tìm kẻ làm căn nhà ngũ uẩn, tìm hoài không gặp. Nhưng sau khi chứng ngộ dưới cội bồ đề, Ngài phá vỡ căn nhà ngũ uẩn, căn nhà của vô minh và tham ái, chấp thủ đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Phá vỡ, phá tung, phá sập hết tất cả, tâm Ngài hoàn toàn tịch tịnh, tham ái tiêu vong hết. Ngài tuyên bố chứng Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, từ đó Ngài mới "phơi bài những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho những người có mắt thấy được sắc, chỉ đường cho những người lạc hướng, và dựng lên những gì đã bị ngã đổ từ lâu". Chúng ta đang thừa hưởng những bài kinh chúng ta đang được học, chúng ta sẽ phơi bài những gì bị che kín từ vô lượng kiếp qua mà chúng ta không thấy, và bây giờ chúng ta được thấy, được biết nếu chúng ta còn duyên học tiếp.
Con xin thưa với đại chúng, đây là xương máu của con, không phải đơn giản, là cả một tấm lòng con cúng dường pháp cho đại chúng, mong đại chúng cố gắng.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.
CÁCH ĂN CƠM CỦA ĐỨC PHẬT
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tiết độ trong ăn uống PAGEREF _Toc69796283 \h 1
II.Chánh quán thọ thực PAGEREF _Toc69796284 \h 4
III.Cách ăn của Đức Phật PAGEREF _Toc69796285 \h 8
Rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác.
Xin hỏi đại chúng, khi mình ngồi thực hành ba pháp tĩnh tâm như vậy, nghe lớp bên kia niệm Phật, lúc đó tâm mình như thế nào, có niệm theo không? Khi niệm theo, là tâm hướng ngoại, tâm mình bị âm thanh bên ngoài chi phối dẫn dắt, nếu mình an trú được trong pháp đang thực tập, thì đó mới là vững chắc. Nghe bên kia vừa xướng lên, mình đi theo hết ba câu, là tâm mình bị thanh dẫn dắt, bị ngoại cảnh dẫn dắt, không có sức tự chủ, không an trú trong cảm giác toàn thân, pháp mình đang thực tập. Khi hỏi, mình không dám đưa tay lên, là tâm không chân thật, sợ, là có cái tôi trong đó, sợ bị chê nên không dám đưa. Tâm mình rất nhạy, pháp thì không nhạy, nhưng phàm thì nhạy. Những cái thường, thế tình, thế tục, phàm tình thì rất nhạy, tuy rằng câu niệm Phật là tốt, nhưng lúc đó không phải là lúc mình niệm Phật. Lúc đó, đi theo tiếng niệm Phật là mình bị âm thanh dẫn dắt, tiếng niệm Phật mình còn đi theo như vậy, thì tiếng chê trách chắc chắn mình phải bị dao động. Có một tiếng động gì bên ngoài là mình bị dao động liền, không an trú được trong pháp toàn thân đang thực tập. Cho nên, mình phải thực tập, thực hành, phải có pháp hành.
Tiết độ trong ăn uống
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như lý giác sát thọ dụng các món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hộ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ, và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, 3. Chương Ba Pháp, II. Phẩm Người Đóng Xe, bài kinh Con Đường Không Có Lỗi Lầm)
Đây là pháp hành trong lúc thọ trai, nhưng bây giờ ít có người thực hành, và cũng ít có người biết ứng dụng như thế nào, nên phần này học kỹ, để đây là pháp hành, pháp thực hành khi mình ăn cơm.
Tiết độ trong ăn uống là mình ăn uống có chừng mực. Tiết là tiết chế, mức độ ăn uống. Thời Đức Phật, một ngày chỉ ăn một bữa, ở đây mình chỉ nói về Đức Phật tiết độ trong ăn uống, và xem thời Đức Phật ăn như thế nào. Sẵn đây chúng ta sẽ học cách, xem Đức Thế Tôn ăn cơm như thế nào. Một lát nữa nghe cách ăn cơm của Đức Phật, mình sẽ bất ngờ lắm. Xem Đức Phật ăn cơm như thế nào và nghi thức thọ trai của Linh Quy Pháp Ấn, trước giờ chúng ta chưa được nghe điều đó. "Tỳ-kheo chơn chánh, giác sát thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui sướng, vui đùa", như bây giờ thường hay nói là ăn cho vui, nhưng không phải ăn cho vui sướng. Vì sao vậy? Cái ăn này là một trong những thú dục lạc của thế gian. Mình thấy bạn bè rủ nhau đi ăn, đi hưởng thụ. Còn người tu đi vào quán, nhà hàng là hoàn toàn sai, giới luật không cho phép, chỗ đó không phải cho đầu trọc xuất hiện. Nếu có đi là vu vi, là trường hợp quá bất đắc dĩ, nói theo cách nới lỏng cho mình, chứ đúng ra là mình không thể tới chỗ đó. Đó là chỗ hưởng thụ dục. Người tu là ly tham, ly dục, mà chỗ nào cũng có mình trong đó, nên Phật tử xem thường, không tôn kính. Đó không phải chỗ xuất hiện của mình, vì đó là chỗ hưởng dục.
Mình nhìn lại hình ảnh của thế tử Tất-đạt-đa, của Bồ tát, của các vị Thánh Tăng, Tăng đoàn thời Đức Phật, và ngay cả bây giờ, các nước nguyên thủy vẫn là đầu trọc, chân trần, ôm bát đi xin ăn. Đi xin ăn! Cho nên, tu chơn chánh thật sự không đơn giản, phải để tâm rất nhiều, phải biết hổ thẹn, hổ thẹn với đầu trọc của mình, với tấm vải rách của người ta bỏ. Thái tử Tất-đạt-đa bỏ tấm hoàng bào xuống, khoác lên tấm vải của một tử thi, đó là hình ảnh cao thượng, thánh thiện của sự xả ly, xuất ly, viễn ly. Đó mới gọi là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Nếu không nhìn ra được những căn bản của sự tu hành này thì mình làm sai trật cũng không biết. Cho nên, "ăn không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp", không phải để ăn cho vui, không phải ăn rồi cười, giỡn hớt, đùa giỡn.., cái ăn này là tội lỗi, ăn này là đang hưởng dục, đang ái, đang tham. Cái ăn như vậy, người bố thí không có phước, mà mình có tội, vì ăn trong dục, ăn trong ái, ăn trong tham, ăn trong sự buông lung phóng dật. Ăn mà không thấy những món này là mồ hôi, nước mắt và máu của người ta dâng cúng; ăn như kẻ vô văn phàm phu, ăn mà để vui đùa vui sướng, đam mê trong món ăn, thích thú, khoan khoái trong món ăn; ăn mà lựa món cho đẹp da là không đúng. Cho nên, không phải để trang sức, ví dụ, mình ăn món đó để có sức khỏe tu thì được, nhưng nếu cố tình lựa món ăn đó cho đẹp thì đó là ái nhiễm, ăn không đúng pháp. Ăn của ái nhiễm, ăn của dục ái, của tham, ăn của sự tích lũy, tăng trưởng, phát triển cái vô minh, tham ái, chấp thủ đối với sắc uẩn, đối với hình dáng, thân xác này.
Chúng ta có thấy sâu sắc không? Nếu không học thì chúng ta không thể biết được, suốt đời tu mình cũng không biết. Mình tưởng tu vậy là đã hay rồi, làm được một chút gì ở bên ngoài là tưởng ngon lắm rồi, bản ngã tăng cao lên. Cái này là phải học thuộc lòng. Mỗi ngày ăn cơm ở Linh Quy là đọc bài này, đây là nghi thức Quá đường, nhắc mình trong cái ăn, Tỳ-kheo chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn khất thực, món này do mình đi xin ăn, do xin mà được, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, ăn không có để cười giỡn, không phải để khoan khoái, thích thú, vui sướng. Khi mình học về quán đoàn thực là khủng khiếp lắm. Đức Phật ví dụ như thế nào? Hai vợ chồng có một đứa con còn rất nhỏ, đi qua một hoang mạc, tức là một sa mạc hoang vu, tới đó hết lương thực. Một sa mạc hoang vu thì đâu có gì để ăn, nếu chết thì sẽ chết hết ba người. Hai vợ chồng này đành bấm bụng, nước mắt tràn ra, đau đớn khổ sở, xẻ thịt đứa con, phơi khô làm lương khô để còn sống đi qua sa mạc. Ví dụ đó, Đức Phật nói, Tỳ-kheo khi ăn phải quán chiếu như vậy, đó là cách ăn của các bậc thánh, cách ăn của Đức Phật, cách ăn của Tỳ-kheo thời đức Phật còn tại thế. Phật dạy ăn như vậy. Hai vợ chồng ăn đứa con, đau đớn, đau khổ cỡ nào, xót xa cỡ nào.
Tại sao Đức Phật ví dụ như vậy? Vì, ngày xưa đi khất thực, ai cho gì ăn nấy, có nhớ không? Trong đó có cá, có thịt. Trong dòng luân hồi mình đã biết, tất cả chúng sanh đều là ông bà, cha mẹ, anh em, con cháu của mình, khi làm người, khi làm thú, khi làm súc sanh, khi địa ngục, khi ngạ quỷ.., thì rõ ràng, mình ăn quyến thuộc trong quá khứ của mình. Đừng nói mình ăn chay là không có, ăn chay của mình là cũng có những sinh mạng, nhiều khi trộn canh bồ ngót, có nguyên con sâu nằm trong đó, rồi mình cắn, nhai chôm chôm, mận.., rồi kiến bò trong đó ra. Nghe mùi lạ trong miệng, lúc đó phun ra, là nhai mấy con rồi. Đó là cái mình thấy được, còn những cái mình không nhìn thấy được, vi trùng, vi khuẩn trong đó. Vậy là có sát sanh hết. Nói mình ăn chay là không sát sanh, như vậy không phải. Trong quá trình trồng cây là sát sanh biết bao nhiêu trong đó. Nhìn sâu sắc mới thấy trong cái ăn của mình có dục, tham, ái, đam mê, ưa thích, chấp trước, say đắm trong đó. Sự ăn uống, tu học chơn chánh đúng lời Đức Phật là tuyệt vời lắm!
Chánh quán thọ thực
Trong khóa tu Nikāya Minh Thành hướng dẫn, tổ chức, cả trăm người ăn mà không nghe tiếng nào khua muỗng đũa gì hết. Im phăng phắc, ăn theo tinh thần chánh quán thọ thực. Theo nghi thức chánh quán thọ thực trong khóa tu Nikāya mỗi bữa ăn cơm, mỗi lần ăn cơm thì đọc bài này. Giống như lúc nãy, lúc nào mình cũng phải thực hành ba pháp trước, cảm giác hơi thở, cảm giác cơ thể, cảm giác toàn thân; "cảm giác sự an tịnh của thân tâm, cảm giác sự an tịnh của không gian nơi này, vùng đất này, trời đất này; cảm giác dễ chịu đối với không gian này, vùng đất này, trời đất này; trong tình thương rộng lớn này, mong tất cả các loài hữu tình đều được an lạc và bình an, tìm được niềm an vui cho mình, tâm thương mình thật nhiều, thương mọi loài hữu tình trong trời đất rộng lớn này." Đó là Từ vô lượng tâm.
Chư Thiên rất ưa thích cúng dường thức ăn, thực phẩm cho một vị đại đệ tử của Đức Phật. Có ai biết là ai không? Đó là Ngài Ma-ha-ca-diếp, vì cúng dường cho Ngài là là bất khả tư nghì, vô lượng vô biên. Vì Ngài Ma-ha-ca-diếp khi ăn, Ngài trú vào tâm vô lượng, định vô lượng. Cho nên, trước khi ăn cơm, mình trú tâm từ vô lượng, trải tâm rộng lớn ra. Còn bình thường, mình không tu, khi ăn thì chỉ thấy bún riêu, hủ tíu, bánh canh, cơm bì chả, sườn.., vô nhìn thấy đó rồi xong, sắc, thọ, tưởng, hành, thức khởi lên, chỉ bao nhiêu đó thôi, tâm nhỏ hẹp. Ăn vậy người ta không có phước, ăn trong cái dục tham ái, ăn vậy phước nhỏ xíu, người cúng không có phước, người ăn có tội tham đắm. Cho nên, trú trong tâm vô lượng, tâm thương rộng lớn, rõ biết, cảm giác tâm thương rộng lớn, cảm giác thân đang ngồi.
Bây giờ bắt đầu vào điểm chính, cảm giác cổ họng, cảm nhận cái cảm giác trong cổ họng ngay lúc đó, xem lại cảm thọ dục ái trước bữa ăn này, xem bên trong có thúc giục trước bữa ăn không, xem có khoái, thích không? Trước bữa ăn nước miếng có chảy không, có dục ái trong việc chảy nước miếng này không hay nước miếng chảy đơn thuần là do tiếp xúc? Do con mắt mình nhìn thấy thức ăn, khởi lên sự rõ biết thấy thức ăn, ba pháp giao thoa hội tụ lại, sanh ra cảm giác. Lưỡi chảy nước miếng là do xúc nên chảy nước miếng thôi, còn nếu có dục, có ái trong thân tâm thì phải Như lý tác ý để diệt dục, diệt ái. Như lý tác ý là mình phải tác động tâm ý của mình, “có gì tham ái trong này, có gì thích thú trong này, ăn mấy chục năm rồi, có gì đâu, tại sao cứ tham muốn hoài, dục hoài, thích ăn hoài. Nhai, nuốt.., qua khỏi cần cổ thì nó có mùi gì, tại sao cứ tham hoài vậy?” Tác ý như vậy để mình đánh những dục ái tham ăn trước khi ăn. Trong một bữa ăn mà giống như ra trận đánh giặc, chứ không phải đơn thuần vô chỉ biết ăn. Cái ăn của phàm phu, không biết tu hành, tu tập gì hết. Ăn cơm mà giống như ra trận đánh giặc, sửa soạn, chuẩn bị cái tâm của mình, quán sát, quán chiếu, tác ý.., như vậy mới gọi là pháp hành đưa đến thánh quả, thánh đạo, thánh trí, thánh tuệ. Chứ không phải lên tụng tụng cho lẹ lẹ rồi ra ăn.. Đó chỉ là nghi thức thôi.
Phải xem ở bên trong, cảm giác nghĩ tưởng, hình bóng trong này, nhiếp phục ở bên trong. Chánh niệm tỉnh giác, quán sát thân hành trong khi ăn, tức là chánh niệm tỉnh giác quán sát hành động của mình, gọi là thân hành. Thân hành là hành động của thân, khẩu hành là lời nói của miệng, ý hành là những suy nghĩ của tâm. Có ba hành: thân hành, khẩu hành, ý hành. Chánh niệm tỉnh giác quán sát trong khi ăn là tránh tiếng muỗng đũa va chạm, tiếng múc cơm, tiếng vét cơm, tiếng để muỗng đũa xuống.., tránh tạo ra các tiếng động một cách tối đa trong khi mình ăn. Thường thường, ngay chỗ quả đường, có khi mình để rớt đũa muỗng kẻng kẻng.., điều đó nếu là giới tri thức thôi là cũng không được chứ đừng nói là người tu. Đối với giới tri thức, văn hóa, thượng lưu những điều đó không bao giờ xảy ra, trong bàn ăn của giới thượng lưu, có học vấn, người ta làm rất cẩn thận. Mình tu thì còn phải hơn như vậy nữa, đàng này vô ngồi, cúng xong là huyên thuyên. Ớn, ngao ngán..!
Tự mình lo cho mình, không nhìn ai hết, tự mình nhiếp phục thân tâm mình, đừng nhìn người ta. Kiểm soát thân hành trong khi ăn, kiểm soát tay, chân, mắt, miệng, kiểm soát việc múc thức ăn, việc đưa thức ăn vào miệng, việc nhai, khi nhai thức ăn không được nhai thô thiển, không nhai nghe tiếng, kiểm soát quai hàm khi nhai, làm chủ độ nhai. Tu là kỹ như vậy. Nhai hết muỗng cơm này rồi mới đưa muỗng cơm khác vào, không vừa nhai vừa vơ vét thức ăn. Miệng thì nhai, còn tay thì vét, múc, gắp.., điều đó biểu hiện cho dục tham. Đây là sự ăn cơm chánh niệm chánh quán thọ thực. Ngày xưa, các vị Tỳ-kheo ăn cơm như thế ở thời Đức Phật. Không vừa nhai vừa cầm sẵn muỗng thức ăn tiếp theo để đưa vào miệng, mà phải kiểm soát dục ái trong khi ăn, dừng lại việc ăn nếu thấy dục ái xuất hiện, thấy bên trong thúc giục, thấy khoái khoái là dừng lại, không ăn nữa. Như lý tác ý, diệt tận dục ái khởi sanh, sau đó mới ăn tiếp. Lúc nãy có nói Như ý tác ý rồi đó, “tham gì, mê gì, ăn mấy chục năm, có gì đâu; qua khỏi cổ là có mùi gì, ra món gì, rồi phải đi vô chỗ kín mít, lẹ lẹ bấm nước cho chảy xuống, nếu nước không có là lẹ lẹ bưng lỗ mũi chạy ra ngoài., vậy mà cứ dục, cứ ái, cứ tham, cứ ăn hoài.” Tác ý như vậy để cho cảm giác dục ái tan, lắng, sau đó mới ăn tiếp. Tập nhận diện ngũ uẩn trước khi ăn, trong khi ăn, sau khi ăn, phải biết có cảm giác gì, suy nghĩ gì, đang có hình bóng gì trong tâm. Cái này Minh Thành xin nói tổng quát, sơ qua chứ học kỹ thì nhiều lắm. Ở trên là giới thiệu cho mình thấy cách ăn của các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật, ăn đúng chánh pháp là phải ăn như vậy, ăn chánh niệm tỉnh giác là phải như vậy. Bây giờ, đến câu mình đang đọc:
Bữa ăn này được thọ nhận với chánh tư duy như sau, ta thọ dụng thức ăn này không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mà chỉ để thân này được an trú, được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng "Như vậy là ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn". Như vậy, là sự biết tiết độ trong ăn uống.
Điều này không phải dễ hiểu. "Ăn uống đúng pháp như vậy sẽ mang phước báu lớn cho những người đã cho chúng ta bữa ăn hôm nay, không làm uổng công người cho và không làm tổn giảm phước báu của tự thân mình." Sau đó mới kính mời đại chúng thọ thực trong chánh quán và chánh niệm, đó là xong nghi thức ăn cơm ở Linh Quy Pháp Ấn. Hôm nào ăn cơm cũng đọc bài như vậy, rồi sau đó ăn cơm, không có cúng, tụng gì nhiều hết, không có kêu ai hết. Nhiếp phục thân tâm của mình. "Để thân này được sống lâu, được bảo dưỡng, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh", mình ăn là vì để cho thân được tồn tại, ăn để thân này được sống để tu, để thành tựu phạm hạnh là hạnh cao thượng thánh thiện thanh tịnh, sạch hết tham sân si, vô minh, bản ngã.
Trong khi ăn mình nghĩ như thế nào? "Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới" là sao? Câu này có nhiều người hiểu lầm, lúc trước Minh Thành cũng hiểu lầm. Thế nào là cảm thọ cũ? Như thế nào là không cho khởi lên các cảm thọ mới? Khi mình ngồi ăn một tô bánh canh, phở, mì.., nhìn vô thấy nó thì cảm thọ cũ hiện lên. Cảm thọ về món ăn đó mà lúc trước mình đã từng cảm nhận, lúc đó sanh khởi lên, suy nghĩ, hình bóng, cảm giác, thức khởi lên, món ăn sẽ có hương vị như vậy, ngon như vậy.., có cảm giác như vậy, suy nghĩ lên, thọ tưởng hành khởi lên, vận hành lên. Lúc đó phải diệt trừ các cảm thọ cũ, là mình phải tác ý để dập tắt những cảm giác, nghĩ tưởng yêu thích của món ăn này của lúc trước trước khi ăn, chỉ vậy thôi. "Ăn để tu, chứ không phải ăn để vui sướng, trang sức cho đẹp, không phải ăn để đam mê, ăn như xẻ thịt con mình để ăn, có gì vui sướng." Phải tác ý như vậy để đánh tan những cảm giác nghĩ tưởng về món ăn này lúc trước đã từng ăn, như vậy gọi là diệt cảm thọ cũ. Trong khi ăn mà phải tu như vậy.
Còn như thế nào là diệt trừ cảm thọ mới, không để sanh khởi cảm thọ mới? Diệt trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới. Cảm thọ mới là khi ăn, cảm thọ, khi gắp thức ăn chạm vào lưỡi là thọ do thiệt xúc sanh. Khi thức ăn chạm vào lưỡi sẽ sanh ra cảm giác, đó là cảm giác mới. Nó sanh khởi như vậy mình không chấp nhận, "không có gì thích thú, khoan khoái trong này cả, chính cái ăn này mà luân hồi sanh tử, mất hết đạo nghiệp, mất hết thời gian, mất hết tâm trí.., mai mốt làm heo, bị cân ký đi bán, vì ăn mà không tu, ăn mà cứ tham ái, tham dục, ăn mà cứ vô minh thì sẽ đi vào đường súc sanh." Phải tác ý "đừng có tham ăn nữa", tác ý như vậy là không cho khởi lên các cảm thọ mới. Trong khi ăn, nếu mình không chấp nhận cái thọ dục ái, khoan khoái thích thú đó, ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn, vậy đó là tiết độ trong ăn uống.
Đó là cách ăn của Đức Phật và các bậc Hiền Thánh, của người tu theo Chánh pháp. Phải hiểu được khái quát như vậy để biết, nếu không mình cứ ăn một cách rất vô tư, miệng thì nhai chưa hết nhưng đũa đã gắp, cầm, chờ; ăn chưa hết đã gắp đưa vô tiếp. Tất cả là biểu hiện không có sự tu tập, không có sự quán chiếu quán sát. Tại sao trong này nói là phải kiểm tra rất kỹ, sự tu tập như vậy mới đưa đến lậu tận, sạch hết tất cả tham, sân, si, kiểm soát rất kỹ. Đại dịch, nếu kiểm soát không kỹ, mình bỏ sót một người từ nước ngoài về thì hậu quả thật khủng khiếp, không thể tưởng tượng. Đó gọi là lậu, lậu hoặc. Bây giờ, ở lớp này có một người, là chết hết, lây hết. Cái lậu hoặc còn siêu vi, siêu tế hơn gấp hàng vạn lần dịch bệnh. Cho nên, tu mà không có con mắt trí tuệ, tu mà không có sự quán sát, xem xét cẩn thận, tinh vi, không thể nào mình siêu phàm nhập thánh, không thể nào mình tu thành phạm hạnh. Đâu phải mình nói tu, nghĩ như vậy là được. Toàn là hình thức, bên ngoài thôi, ai sao mình vậy.., không phải. Phải tìm cho được, tu như Đức Phật như thế nào, mình làm đúng như vậy thì sẽ có Thánh đạo, Thánh quả. Chắc chắn!
Cách ăn của Đức Phật
Xin thưa với đại chúng, con tu học gần ba mươi năm, con mới biết được Đức Phật ăn như thế nào, các vị mới tu không bao lâu mà được như vậy là phước lắm. Nó nằm ở trong tạng kinh nhưng mình không được biết. Trong kinh Trung Bộ tập 2:
Khi Ngài nhận cơm, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận cơm không quá ít, không quá nhiều.
Ngài ăn đồ ăn vừa phải (với cơm), không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng ăn. Tôn giả Gotama đưa miếng cơm quanh miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân không bị nghiến nát, và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước khi ăn miếng cơm khác. (Trung Bộ Kinh – Tập 2, 91. Kinh Brahmayu)
Tức là khi nhai, nhai xong hết tất cả rồi mới đem thức ăn mới vô, nó biểu trưng cho sự không tham. Đức Phật diệt tận hết tất cả tham, sân, si, vô minh, bản ngã rồi, mỗi hành động của Ngài thể hiện là làm khuôn mẫu của Nhân Thiên sư phạm, mẫu mực của Trời và Người.
Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị.
Ở đây có hai điều mình phải để ý. Thứ nhất, "không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn"; vị đó, hương đó Ngài vẫn biết nhưng Ngài không thưởng thức, tức là Ngài không thọ, biết nhưng không thọ, nên Ngài không sanh khởi dục tham ái đối với món đồ ăn đó.
Thứ hai, "không thưởng thức lòng tham vị", điều này rất sâu sắc. Cái vị này khác, và cái tâm tham đối với vị đó, có hai trường hợp. Nghe rồi từ từ mình tập, rồi nhìn thấy chứ không phải dễ thấy. Khi mình ăn, món ăn vô rồi, vị đó mình ham thích, thích vị đó là một cái; cái tâm ưa thích vị đó là mình thích cái tâm ưa thích đó, mình thưởng thức cái tâm ưa thích đó. Đây là Thánh trí. Một tâm phàm phu thiển cận, cạn cợt, luôn luôn phóng dật thì không thể nào đi vào thánh pháp, không thể nào. Ngày xưa Đức Phật giảng pháp, mấy ngàn người ngồi im thin thít, lúc nghe có những vị chứng quả dự lưu cho tới bất lai, thậm chí là A-la-hán quả, vì nghe trong thiền định, nghe trong sự tập trung tất cả tâm ý, cho nên thành tựu được Thánh trí, khai mở pháp nhãn. Mình học sẽ thấy hay lắm.
Tôn giả Gotama ăn đồ ăn có đầy đủ tám đức tánh, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ không lỗi lầm, sống được an ổn".
Bát đức là tám đức tánh trong khi ăn, trước giờ tụng mà mình không biết rõ tám đức tánh này:
Không phải để vui đùa là một;
Không phải để đam mê là hai;
Không phải để trang sức là ba;
Không phải để làm đẹp là bốn;
Chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng là năm;
Không để thân này bị thương hại là sáu;
Phải hỗ trợ phạm hạnh là bảy;
Suy nghĩ diệt trừ cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, ta sống không lỗi lầm, sống được an ổn là tám.
Đó là tám đức trong khi ăn của Đức Phật và các bậc A-la-hán. Tám đức tánh, tám góc độ, tám sự tu tập tâm.
Ngài ăn xong lấy nước rửa bát, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận nước không quá ít, không quá nhiều. Ngài rửa bát không sanh tiếng động, rửa bát không xoay tròn bình bát, không có đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai tay rửa xong, bình bát cũng rửa xong, khi bình bát rửa xong, hai tay cũng rửa xong. Ngài đổ nước bình bát, không quá xa, không quá gần, không vẩy nước cùng khắp.
Hình ảnh Đức Phật hiện ra trong cái tưởng của mình khi Ngài dùng cơm, Ngài thọ thực, Ngài rửa bát.., hết sức gần gũi, phải không? Trước giờ mình đâu có từng được nghe điều này. Gần với Đức Phật, mình đang trở về rất gần với Đức Phật, rất gần.
Khi ăn xong, Ngài đặt bình bát xuống đất, không quá xa, không quá gần, không phải không nghĩ đến bình bát, cũng không quá lo cho bình bát.
Mỗi hành động, cử chỉ của Đức Phật đều mang y nghĩa ly tham, trầm tĩnh, trí tuệ.
Khi ăn xong, Ngài ngồi im lặng một lát nhưng không để quá thì giờ nói lời tùy hỷ (công đức). Ngài nói lời tùy hỷ (công đức), không chỉ trích bữa ăn ấy, không mong bữa ăn khác;
Tức là không có chê bữa ăn đó, không có chê món ăn đó ngon, dở, lạt.., không nói trong tất cả các phước, trai tăng là đệ nhất, Ngài không nói như vậy, không nói để mong người ta mời thêm bữa mới nữa.
Trái lại, Ngài với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Ngài sau khi với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Ngài đi không quá mau, không quá chậm. Ngài đi không phải (như muốn) lánh xa hội chúng ấy.
Cho nên, tu tập sẽ thấy hay lắm, mình sẽ thấy những gì chưa thấy, sẽ nghe những gì chưa nghe, sẽ hiểu những gì trước giờ mình chưa từng hiểu. Ví dụ, khi mình nghe tiếng kẻng, tiếng chuông reo, là dục ở bên trong, cảm giác thúc giục liền; bắt đầu mình bung ra, buông lung phóng dật, các căn bung ra, bàn ghế mình làm rầm rầm, nói chuyện.., tất cả những điều đó đều là ở trong vô minh phóng dật, dục, nhưng mình hoàn toàn không thấy, vì mình không thành tựu Chánh tri kiến nên không biết được, mình thấy chuyện đó là bình thường, mình không biết. Đến khi mình biết, mình thấy được dục, thấy được tham, bản ngã vô minh hoạt động thì đó là mình bắt đầu thể nhập Thánh trí, mới thấy được, mình mới là Đa văn Thánh đệ tử - đệ tử của bậc Thánh.
Tức là đệ tử của Đức Phật là những người nghe rất nhiều về tạng kinh Nikāya này, những lời dạy của Đức Phật, gọi là Đa văn thánh đệ tử. Còn chưa từng nghe những điều này, những phương pháp nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, cho dù có nghe cái gì khác thật nhiều thì cũng là vô văn phàm phu, không thấy được tham, sân, si, không thấy được ngũ uẩn, không nhiếp phục, không thấy được dục, ái, không thấy được vô minh, không thấy được sự chấp ngã của mình. Chỉ nhìn người ta rồi sân si, xét đúng sai phải quấy suốt ngày, tâm hướng ngoại, chạy theo dục, theo ái, đau khổ triền miên bất tận mà lại lấy đó làm vui, chạy đi tìm những hố than hừng, hãnh diện ở trong một đống phân, tưởng đâu đó là hay ho. Thân này là nhà máy sản xuất phân và nước tiểu, mỗi ngày nó phải đào thải những khí tanh hôi, bẩn thỉu, mà mình lại tham đắm vô đó, đau khổ trong đó, tự hào, thiêu thân trong đó. Đáng thương, đáng thương cho chính mình, thương cái tâm vô minh của mình, thương những cái dục hành hạ mình, thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này là nô lệ của tham ái tham dục, suốt cuộc đời mình làm đày tớ cho nó, làm mọi cách để cung phụng, phục vụ cho dục, rồi mình đau khổ, khóc than vì dục.
Đó là thực trạng của chúng sanh, lấy khổ làm vui, lấy dơ bẩn thối tha nhất, tanh hôi nhất để kiêu ngạo. Đó là sự đáng thương của chúng ta. Chúng ta là kẻ đáng thương nhất trên cuộc đời này chứ không phải ai khác, đáng thương nhất là chính mình, tâm vô minh của mình, bao nhiêu dòng nước mắt mình đã chảy xuống, bao nhiêu nỗi khổ chất chứa trong tâm, bao nhiêu niềm đau mình chôn giấu.. Tất là vì dục, tham ái, sân si, bản ngã. Mình không thấy, không biết những thứ đó, cứ đổ thừa tại người này người kia.. làm mình khổ, không phải. Nguyên nhân thật sự của đau khổ mà bậc Chánh Đẳng Giác chứng ngộ cho chúng ta biết chính là những cảm giác ham muốn, nóng giận, thiêu đốt, bản ngã, ta đây, đó mới chính là nguyên nhân đau khổ thật sự.
Khi tu học một cách chân chánh, nhận diện được năm uẩn, thường an trú cảm giác toàn thân, thấy biết được những suy nghĩ, những hình bóng trong tâm thì mình sẽ thấy, sẽ biết thủ phạm thật sự làm cho mình đau khổ.
Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp
Người xây dựng nhà này
Khổ thay, phải tái sanh.
Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi
Người không làm nhà nữa.
Đòn tay người bị gãy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)
Đó là bài kệ thành đạo của Đức Phật. Vô lượng vô biên kiếp sống này, đi lang thang tìm kẻ làm căn nhà ngũ uẩn, tìm hoài không gặp. Nhưng sau khi chứng ngộ dưới cội bồ đề, Ngài phá vỡ căn nhà ngũ uẩn, căn nhà của vô minh và tham ái, chấp thủ đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Phá vỡ, phá tung, phá sập hết tất cả, tâm Ngài hoàn toàn tịch tịnh, tham ái tiêu vong hết. Ngài tuyên bố chứng Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, từ đó Ngài mới "phơi bài những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho những người có mắt thấy được sắc, chỉ đường cho những người lạc hướng, và dựng lên những gì đã bị ngã đổ từ lâu". Chúng ta đang thừa hưởng những bài kinh chúng ta đang được học, chúng ta sẽ phơi bài những gì bị che kín từ vô lượng kiếp qua mà chúng ta không thấy, và bây giờ chúng ta được thấy, được biết nếu chúng ta còn duyên học tiếp.
Con xin thưa với đại chúng, đây là xương máu của con, không phải đơn giản, là cả một tấm lòng con cúng dường pháp cho đại chúng, mong đại chúng cố gắng.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.