Thiền Quán - Giận Làm Chi 2
Tinh Hoa Nikāya
THIỀN QUÁN GIẬN LÀM CHI 2
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Vũng sình vô minh PAGEREF _Toc109926514 \h 1
II.Đạo lộ giải thoát PAGEREF _Toc109926515 \h 4
III.Buông bỏ giận sân - khơi dậy tình thương PAGEREF _Toc109926516 \h 7
Vũng sình vô minh
Chúng ta tiếp tục tìm hiểu bài "Giận làm chi".
Người đang tăm tối, vô minh
Làm sao có thể biết mình đúng sai
Làm sao người biết được mình
Khi người chìm giữa vũng sình vô minh
Hai câu này rất thấm thía, đau đớn, sâu sắc. Tất cả chúng ta đang ở trong bóng đêm mà cứ nghĩ, cứ nói, cứ làm theo cái dục, theo buông lung, si mê, nhiều khi mình nghĩ chuyện đó có gì đâu thì chính ý nghĩ đó sẽ làm sụp đổ tất cả đạo nghiệp cho nên thật khó để học đạo. Tâm chúng ta rất xem thường, không thận trọng, không cẩn thận, không tỉnh giác chánh niệm để nhìn sâu sắc sự việc, vấn đề đó. Mình thấy chuyện đó nhỏ nhặt, chuyện này bỏ qua thì chuyện kia cũng bỏ qua, chuyện nọ cũng bỏ qua rồi trở thành thói quen, khi nhìn lại thân tâm cũng sẽ bỏ qua thì làm sao thấy biết được hết các lậu hoặc, làm sao nhiếp phục cho nên nhiều khi Minh Thành phải nhắc nhở từ những chuyện nhỏ nhặt.
Tâm này còn vi tế hơn như vậy nữa, mình đang ở trong tăm tối vô minh nên không biết đúng sai, dù mình nghĩ đó là đúng nhưng là đúng của vô minh, cái đúng của tà kiến, cái đúng của tham ái chứ không phải cái đúng thật sự của chánh kiến. Chính vì vậy mình mới nhờ Đức Phật, nhờ giáo pháp, nhờ những bậc thiện tri thức, những bậc có trí tuệ chỉ trích, vạch trần những khuyết điểm, mổ xẻ những khối u trong tâm này. Nhưng bây giờ rất khó tìm người học đạo thật sự, chỉ cần chạm vào chỉ dạy một chút là sân, bị nhắc nhở là trong tâm khó chịu, ánh mắt thay đổi, cảm thọ biến đổi nên không học đạo được. Bản ngã lớn là không thể nhập được dòng pháp vì trong tâm luôn có một sự chống đối, vì thế phải dành nhiều thời gian tác ý chống lại bản ngã.
Một người mù đi đến chỗ lạ không phải chỗ quen thuộc của mình thì làm sao có thể lấy đúng món đồ được, làm sao biết món đồ đó ra sao, phải có người chỉ dẫn thì mới biết được. Ngày xưa nhà Minh Thành bị cháy, lửa cao ngút trời, anh ruột Minh Thành lúc đó hai mươi tuổi đã chạy xuống toilet nằm cuối nhà trốn ở dưới, đúng ra phải chạy ra khỏi nhà mà lại chạy vào toilet đóng cửa cố thủ trong đó, sau này có một số trường hợp cháy nhà cũng chạy vào toilet trốn. Họ nghĩ không nhìn thấy lửa tức là thoát được, đó là "người đang tăm tối vô minh, làm sao có thể biết mình đúng sai?", họ nghĩ rằng đóng cửa không thấy lửa thì thoát khỏi lửa. Cũng như tức giận, bực mình người nào mà chỉ cần không thấy mặt là không giận nữa, nhưng đó chỉ mới cắt được duyên xúc, trong khi đó, thọ, tưởng, hành vẫn còn tồn đọng trong tâm, tuy không gặp nhưng cứ nhắc lại, suy nghĩ, nói về người đó.
Cho nên, cần phải thường quán mình ở trong bóng đêm, còn Chánh pháp và bậc thiện tri thức là ánh sáng. Mỗi khi được nghe pháp, được chỉ dẫn, nhắc nhở là quán chiếu mình được ánh sáng Mặt Trời soi rọi vào thân tâm, thế nên phải khát ngưỡng, tha thiết, chân thành, cầu khẩn, khao khát những luồng ánh sáng trí huệ hào quang đó, phải quán tưởng như vậy, đó cũng là một cách quán ánh sáng. Mình chưa biết phân biệt đúng sai, cứ nghĩ đúng nhưng thật ra sai hết, đó chỉ là suy nghĩ của mình và mình chấp thủ trong suy nghĩ, trong nhận thức đó.
Chẳng hạn, đem hết lòng nấu đồ ăn nhưng người ăn lại chê dở, biết bao tâm huyết của mình thức khuya dậy sớm, đi chợ cực khổ đặt vào món ăn mà bị chê thì rất buồn bực. Trong thân tâm mình hỏi "ăn được không?" để mong muốn được tiếng khen nhưng bị nói "dở ẹc" rồi chê thậm tệ thì đương nhiên mình tức giận và mình thấy cái tức đó là đúng nhưng lát sau mọi người lại bảo là nói chơi để thử lòng mình.
Vì thế đừng tin tưởng vào cái thấy, cái nghe, cảm xúc của mình. Khi thấy có tham, sân, si, bản ngã, vô minh là phải nhiếp phục, đó là định lý giải thoát thực sự mà Đức Phật dạy. Thấy dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã là nhiếp phục, chế ngự, tác ý đánh đuổi thì mới đúng với đạo lộ của Đức Phật, ngược lại thì không đúng. Cái đúng theo Pháp gọi là người có ánh sáng, có mắt, biết mình đúng mình sai, còn không biết thì làm gì cũng sai. Đừng tin vào những gì mình cho là đúng mà hãy tin vào cái đúng của pháp, phải thấy được điều cái đúng của pháp là khổ và nguyên nhân của khổ.
"Làm sao người biết được mình, khi người chìm giữa vũng sình vô minh?", tức là làm sao có thể biết được chính bản thân họ khi chính họ đang ở trong vô minh. Hai huynh đệ lên thưa sư phụ đấu tố nhau rồi bực bội, sân hận lên, sư phụ mới nói "ngày mai lên rồi sư phụ giải quyết đúng sai", ngày mai lên sư phụ nói cả hai đều sai vì sân si là sai. Ở ngoài thế gian tranh đấu, cự cãi, ẩu đả nhau rồi người bị thương, người ở tù hoặc chết người, dù cho tòa xử cho đúng nhưng đó là đúng của thế gian, còn trong đạo Phật đều sai hết, cái sai đó nằm trong tâm sân hận, bản ngã, chấp thủ. Huynh đệ trong đạo tràng lúc đầu nói pháp rồi lúc sau cự cãi nhau, hai người sân với nhau, trong giáo pháp không dạy sân si mà giờ hai người sân lên thì cả hai đều sai chứ không có ai đúng.
Cho nên, hễ có dục ái, sân si, bản ngã là sai, còn nhiếp phục, thoát ra, xa lìa những thứ đó là đúng, lấy cái này làm chuẩn tắc tu học muôn đời, đó chính là pháp ấn, ấn định mọi thân tâm. Cứ hễ có tham, sân, si là sai, đang nói với tâm sân là sai, đang nói với tâm bản ngã là sai, điều này sẽ chấm dứt tất cả mọi hý luận, chấm dứt mọi sự tranh luận, những lời phù phiếm, vòng vo, quanh co, lẩn quẩn. Pháp của Đức Phật là đi đến tận cùng, là diệt luân hồi, chấm dứt tái sanh, không để cho mình viện cớ, ngụy biện.
Muốn nhìn thấy những điều này thì phải thoát ra khỏi vô minh tăm tối, phải đi ra khỏi vũng sình, nếu còn chìm trong đó thì cái nhìn sẽ bị nghiêng lệch. Vì thế nếu xét theo chuẩn như giáo lý của Đức Phật thì toàn thế gian chẳng có ai đúng. Chỉ khi hướng theo sự viễn ly, xuất ly mới là đúng, còn hướng đến sự ôm ấp, chất chứa, tăng trưởng, phát triển, chấp thủ là sai. Cho nên chỗ nào cũng sử dụng pháp, không bao giờ rời khỏi được pháp, thở bằng pháp, suy nghĩ trong pháp, nhìn tất cả mọi sự việc bằng pháp. Khi nhắc nhở là nhắc tâm buông lung, buông thả chứ không nhắm vào một cá nhân nào, tu như vậy mới vạch trần được tham sân.
Tham sân si ngập nội tâm
Ngất cao bản ngã, đầy tràn dục tham,
Vừa chìm trong vũng bùn vô minh vừa bị tham, sân, si ngập nội tâm, trong mỗi suy nghĩ đều theo tham, sân, si, theo bản ngã, vô minh chứ không suy nghĩ theo pháp, không thắp sáng ngọn đèn của chánh trí. Trong mọi nhất cử nhất động nếu không có pháp soi sáng là tràn ngập tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Làm lụng cực khổ cũng chỉ tham tiếng khen, được khen một tiếng thôi là hả dạ, hết thấy mệt nhọc, tất cả chỉ là hư danh mà thôi.
Đạo lộ giải thoát
Ta nhờ duyên phước sâu dày
Nên nghe thấy được những lời Thánh nhân
Con đường giải thoát lộ dần
Nội tâm lộ rõ, tham sân vạch trần
Chúng ta được ở đây tu học bình yên là nhờ duyên phước rất sâu dày chứ không phải duyên phước bình thường. Được nghe pháp, được thực tập dòng chánh pháp này là nhờ duyên phước rất thâm hậu. Giữa thế giới hôn mê, giữa thời buổi ngập tràn ác bất thiện, đầy rẫy tham, sân, si nhưng vì nhờ duyên phước rất sâu dày mà mình gặp được Thánh pháp nên phải trân trọng duyên phước, phước báo đó, trân quý thiện căn, tuệ căn của mình. Pháp của Đức Phật không phải dễ được nghe, không phải dễ được hiểu, không phải dễ được chấp nhận, không phải dễ được thực hành. Trong kinh Đức Phật nói có người nghe nhưng không hiểu, hiểu nhưng không thực hành, có thực hành không nhưng trọn vẹn.
"- Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn? Nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên; Nghe ít, điều đã được nghe được khởi lên; Nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên; Nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người được nghe ít về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, không biết nghĩa, không biết pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người được nghe ít về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp đúng pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người được nghe nhiều về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe nhiều này, không biết nghĩa, không biết pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là người nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người nghe nhiều, điều đã được nghe được khởi lên?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người được nghe nhiều về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe nhiều này, biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là người nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên.
Này các Tỳ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (VI) Học Hỏi Ít)
Chỉ có lời của bậc Thánh nhân mới chỉ ra những cấu nhiễm và những phương pháp tẩy sạch cấu nhiễm, nếu không phải lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì có học bao lâu cũng không thấy được hết. Trước khi học vào kinh Nikāya mình thấy rất ít cấu nhiễm của tâm. Khi nghe thấy được những lời Thánh nhân, thực hành theo nhận diện năm uẩn, để ý lại những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ của tâm thì "con đường giải thoát lộ dần, nội tâm lộ rõ, tham sân vạch trần", khi học đúng đường thì đạo lộ giải thoát sẽ dần hiện ra, không phải như ngày xưa không biết giải thoát là gì vì mình học bao la, mênh mông vạn vật nhưng không biết cuối cùng là tu cái gì.
Bản thân Minh Thành học tám năm cao đẳng Phật học ở trường Phật học của chùa Vĩnh Nghiêm, đến ngày thi tốt nghiệp các huynh đệ lại hỏi “bây giờ tu làm sao”. Học tám năm ra không biết tu như thế nào là do không có đạo lộ tu tập, chung chung là tụng niệm, cầu xin, không thấy rõ được nội tâm, thân tâm. Cả một bài kinh dài trong Tăng Chi Bộ mà Đức Phật chỉ xưng tán Thân Hành Niệm mà Thân Hành Niệm chính là soi rọi lại thân tâm chính mình. Cho nên nếu không gặp được đạo lộ của Đức Phật, không có cái thấy đúng của chánh kiến thì mình sẽ không hiểu được chính xác thân tâm, cũng không biết được con đường thoát ra. Hoặc nhìn thấy rất mông lung, không nắm chắc trong tay, mình có tụng niệm, nói, giảng bao năm nhưng hỏi về con đường giải thoát là mình không có sự tự tin.
Trong khi trong kinh Nikāya ghi rất rõ con đường thoát ra, thước đo là nhiếp phục tham, sân, si, vô minh và bản ngã, cánh cửa đi vào là nhận diện ngũ uẩn, công phu là tẩy sạch những cấu uế đó. Tẩy sạch vừa vừa là bậc hiền trí, mới thấy ra cấu uế là pháp nhãn tịnh mở được con mắt trí, sạch hết là xong việc. "Nội tâm lộ rõ, tham sân vạch trần", tức là những hình bóng, cảm giác được lộ rõ, những suy nghĩ ác bất thiện pháp lộ rõ; dục ái, tham sân được vạch trần; phơi bày bộ mặt đê hèn, ác độc của bản ngã, của cái tôi, cái ta này. Chúng ta phải vạch mặt được tham, sân, si, nhìn ra bộ mặt thật sự của nó là sự xấu ác, bất thiện, uế nhiễm, dơ hôi. Trước giờ chúng ta đã nhìn lầm, nhìn sai, ngộ nhận, ảo tưởng bản chất thật sự của tham ái, sân hận, si ám, vô minh ở đời này. Sau khi vạch trần phải thấy chán chê, ê chề, não nề, gớm ghê, bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp vừa qua chúng ta không nhìn thấy thật sự bộ mặt của nó, chúng ta bị sai khiến, làm nô lệ cung phụng cho nó, làm tùy tùng của nó. Từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng ta bị những cảm giác thúc giục bên trong xỏ mũi, bị những cảm giác bốc cháy bên trong thiêu đốt, bị những cảm giác yêu thương tham ái nhận chìm.
"Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh".
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 153)
"Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong".
(Kinh Pháp Cú 11 Phẩm Già, kệ 154)
Những lời này chính là Đức Thế Tôn vạch trần tham ái, đi tìm tác giả căn nhà ngũ uẩn bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp nhưng không gặp nhưng đến nay ngài đã thấy, tâm ngài đạt tịch diệt, tham ái thảy tiêu vong tức là tất cả tham ái đều tiêu diệt. Đó là lý do tại sao ăn cơm phải chánh quán thọ thực, lúc trước ăn chỉ thấy ngon dở, thích hay không thích, còn giờ ăn phải kiểm tra tham ái trong khi ăn nghĩa là đang vạch trần tham ái trong khi ăn. Khi đi phải đi chậm, niệm oai nghi, hành động, khi nói phải nói chậm, nói trong chánh niệm tỉnh giác là để nhìn thấy tham ái, xem trong bước đi có sự thúc giục không. Cho nên toàn bộ giáo pháp là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với năm dục trưởng dưỡng và ngũ uẩn, gốc rễ hình thành nên năm uẩn chính là tham ái, từ tham ái mới có sân, tất cả cái giận đều xuất phát từ tham ái, không có tham ái là không có giận.
Buông bỏ giận sân - khơi dậy tình thương
Người còn lặn hụp trong vòng trầm luân
Người còn chìm giữa tối tăm
Vậy thì ta lại giận sân làm gì…
Người còn sanh tử li bì,
Khi thì địa ngục, khi thì súc sanh
Khi thì ngạ quỷ vất vơ
Ta thì dần thoát khỏi đau khổ này
Đây là phép tác ý, quán chiếu, mình đang đang trên con đường Thánh đạo, đang thấy biết nội tâm, đang vạch trần tham sân để đi ra khỏi tử sanh trong khi người khác đang lặn hụp trong trầm luân, bị chìm giữa tối tăm thì ta giận sân để làm gì. Người ta còn lặn hụp, chìm đắm trong tăm tối thì mình giận sân người ta để làm gì? Người ta chẳng thấy biết thân tâm họ, họ không thấy biết ngũ uẩn, không thấy biết cảm thọ đang chi phối, dẫn dắt, áp đảo, đang thiêu đốt, hủy hoại họ nên ta sân giận họ làm gì? Họ đáng thương lắm, họ đau khổ mà chẳng biết nguyên nhân vì sao cho nên hãy thương chứ đừng giận họ. Đây là sự tác ý của tác giả và cũng là sự tác ý cho chính mình là những người đang đi trên con đường này, ta dần đi ra khỏi ba đường ác đạo vậy thì còn hờn giận làm chi.
Vậy còn hờn giận làm chi
Thôi thì buông xả giận hờn ngay đi
Thôi tâm hãy xót thương người
Thương người bất hạnh, không gần Thánh nhân
Thương người tăm tối, vô minh
Thương người chìm đắm vũng sình dục tham
Thương người danh lợi tham lam
Thương người ngã mạn, chẳng ai ưa người
Thương người cứ mãi hơn thua,
Chẳng hề hay biết tử sanh mịt mù…
Buông cái giận được rồi mới thương, đầu tiên phải thấy được đau khổ, kế đó phải tìm ra nguyên nhân của đau khổ là vô minh và tham ái, tiếp theo muốn chấm dứt khổ, không muốn tiếp tục vô minh, tham ái là dập tắt, buông bỏ những thứ này. Những người kia đang chìm đắm trong đau khổ, còn ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cũng vì tham, sân, si, bản ngã, mình không muốn những thứ này thì phải buông bỏ sân hận, tham ái này. Ở đây không nhắc đến chữ Tứ Thánh Đế nào cả nhưng Tứ Thánh Đế đang trong đó. Tứ Thánh Đế được vận dụng trong tất cả mọi trường hợp, mọi lúc mọi nơi, mọi ánh nhìn, mọi suy nghĩ, mọi sự tác ý tu tập.
Trong mọi sự việc, đầu tiên phải hiểu, cảm thông, tha thứ cho họ rồi mới buông cảm giác giận xuống sau đó mới thương, lúc nào cũng có trình tự. "Thôi tâm hãy xót thương người, thương người bất hạnh không gần Thánh nhân", cái bất hạnh lớn nhất trong tất cả bất hạnh là không được gặp các bậc chánh kiến, bậc chân nhân, bậc Thánh nhân chứ không phải là những bất hạnh về cơm áo gạo tiền. “Hạnh” là may mắn, là hạnh phúc, “bất” là không, “bất hạnh” là chẳng may, không may mắn, không hạnh phúc. Và điều không may mắn lớn nhất trong tất cả sự không may mắn là không gặp bậc hiền trí, bậc chánh kiến, bậc Thánh nhân. Vì không gặp được nên không được nghe pháp, mà không nghe pháp thì không thấy thân tâm nên không nhiếp phục được nguyên nhân của khổ nằm bên trong nội tâm.
Điều may mắn nhất trong tất cả may mắn là được gặp, được thân cận, gần gũi bậc chánh kiến, bậc hiền trí, bậc chân nhân, bậc Thánh nhân, được nghe, được hướng dẫn, chỉ điểm, thực tập tu hành. Đó là hạnh phúc nhất, phước báo nhất, công đức nhất. Có làm vua của Trái Đất cũng không bằng người gặp được bậc chánh kiến, bậc chân nhân, Thánh nhân. Phải nhìn thấy vô minh mới tu được, phải thấy bản thân đang vô minh và những chúng sanh xung quanh đang ở trong bóng đêm, ngày đêm bị bao phủ trong tăm tối, mắt mở miệng nói nhưng lại ở trong vô minh, ở trong bóng đêm cho nên Thế Tôn mới nói tất cả đều bị mù lòa. Nếu không nhận thức được mình vô minh thì không thể đi ra khỏi vô minh, không biết mình bị bệnh thì làm sao có thể đi tìm thầy trị bệnh.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Nhiếp phục tham dục, bản ngã
"Thương người danh lợi tham lam, thương người ngã mạn chẳng ai ưa người, bản ngã lớn quá không ai thích, không ai muốn gần nên sống đơn độc, lẻ loi. "Thương người chìm đắm vũng sình dục tham", dục tham là vũng sình sẽ nhận chìm chúng ta lún sâu trong đó, chỉ có gặp bậc chân nhân, hiền trí chỉ cho pháp thoát ra vũng lầy đó, nếu không là vĩnh viễn và mãi mãi không có ngày thoát ra. Những hình ảnh tăm tối vô minh, hình ảnh vũng sình dục tham là những hình ảnh để quán chiếu, mình sẽ chết ngộp, chết dơ, chết tức tưởi trong đầm lầy dục tham đó. "Thương người danh lợi tham lam", có biết bao người chết vì danh lợi, không riêng gì người đời mà ngay cả người tu cũng chết vì danh lợi, trong Tương Ưng lợi đắc cung kính Thế Tôn nói rất mạnh mẽ, danh lợi cắt vào da khứa vào thịt, vào xương tủy, nó là lưỡi câu, là miếng mồi, là sấm sét, là con dao khiến mình không thể tu được.
"-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Người câu cá, này các Tỳ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỳ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Như vậy, khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Lưỡi Câu)
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: 'Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có Tỳ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.
Vị ấy đi đến ngôi vườn (tịnh xá) và giữa chúng Tỳ-kheo khoe khoang như sau: 'Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỳ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh'.
Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỳ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỳ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Trùng Phẩn)
"Lợi đắc, cung kính, danh vọng, này các Tỳ-kheo, cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, III. Phẩm Thứ Ba, VIII. Da)
Vào tu đã đặt tâm sai hướng theo danh lợi thì làm sao tu? Tu để được cái này cái kia, để làm cái này làm cái nọ cho nên để thoát ra khỏi danh lợi là cả một công trình tu tập. Phải phá thân kiến mới thoát ra khỏi danh lợi, hễ còn bản ngã là còn bị danh lợi buộc chặt cho đến chết, nó sẽ làm chết sinh mạng của trí tuệ, là pháp thân huệ mạng của người tu. Gặp được chánh pháp cũng không chịu tu mà đòi cái này cái kia ở ngoài, biết nhận thức đây là chánh pháp, là con đường của Đức Phật nhưng danh lợi cản đường, muốn mình chạy đi tìm những cái khác, không thể quyết liệt tu 100% giải thoát mà bị dẫn theo lối mòn, đi theo số đông, người ta được như vậy thì mình cũng phải được vậy, đó chính là danh lợi.
Trong chúng ai mà có bản ngã lớn sẽ bị người khác tránh né, không muốn gần, nói ra bất cứ cái gì cũng muốn dạy đời người ta, lúc nào cũng cho là mình hay, mình giỏi hơn người, đi tới đâu cũng vênh váo. Bản ngã này một là lộ ra hay là ngầm trong tâm chứ đừng nghĩ không nói là không có bản ngã, nó âm thầm trong tâm nhưng cao ngút trời, không phải nói hay im là có hay không có bản ngã mà phải nhìn thấy được nếu nó ngầm trong tâm để nhiếp phục. Lúc mới vào chùa rất dễ thương nhưng ở một thời gian là thương không dễ, nếu không thực hành đúng chánh pháp sẽ có bản ngã ở một hình thái khác, nó ngấm ngầm trong tâm và chúng ta lại nuôi dưỡng bản ngã, đây là cái khổ đau nhất.
Vì vậy, phải cố gắng tu học để cho bản ngã này bị suy kiệt, diệt tận. Chúng ta phải học sám hối diệt ngã thật cẩn thận, không để bản ngã này ngấm sâu vào trong thân tâm, ở ngoài thì giả bộ hiền ngoan nhưng bên trong rất khủng khiếp. Cho nên phải cực kì cẩn thận vì nó có thể giết mình chết bất cứ lúc nào. Bản ngã là thứ thâm độc nhất hành tinh này, không thể Nhập Lưu được, không thể nhập pháp được vì nó ngấm ngầm chống đối vì thế cần nhiếp phục và diệt tận nó.
Khơi dậy tình thương
Câu nào cũng có chữ "thương người", đó là đang trải tâm từ, "chẳng hề hay biết tử sanh mịt mù" là cái nhìn của bậc đại trí tuệ, họ không nhìn những cái nhỏ nhặt trước mắt mà nhìn tận cùng kết thúc của cuộc đời này là cái chết trong mù mịt, mình chẳng hề hay biết khi chết đi là trước mắt mù mịt, mông lung, tối tăm không biết về đâu. Cái nhìn của phàm phu là hôm nay ăn cái gì, mai ăn cái gì, mốt đi đâu, làm gì, còn cái nhìn của bậc đại trí tuệ là khi chết đi là trước mắt tăm tối, mù mịt. Những người nhiễm dịch bệnh khi chết rồi đi về đâu? Trước đó khi còn sống họ đâu có lo khi chết đi sẽ về đâu mà sẽ lo lời lỗ, lo tiền bạc, cho nên thương cái nhìn cạn cợt, thiển cận trước mắt.
Thương người, ta chúc cho người
Một ngày nào đó duyên lành dẫn đưa
Cho người được thấy, được nghe
Những lời đưa đến thoát rời vô minh,
Mong người ráng giữ tâm mình
Để đừng chuốc lấy tội tình khổ đau…
Thương người nên chúc cho người một ngày nào đó sẽ có đủ duyên lành đưa họ được thấy, được nghe những giáo pháp thoát khỏi vô minh này. Hằng ngày chúng ta chia sẻ pháp cũng vì thương người, thương mình. Các bậc Thánh A-la-hán cũng từng trùng tuyên Thánh điển, đọc lại kinh là vì thương mình thương người, muốn đưa những lời làm cho mọi người thoát khỏi vô minh. Ít nhất trong lúc đang ngồi đọc kinh, mình và người chịu khó lắng nghe pháp, thực tập thiền quán sẽ thoát khỏi vô minh, đó chính là tâm từ, từ bi. Phải cố gắng giữ tâm trong pháp, đừng để chuốc lấy những tội tình khổ đau, tham, sân, si, vô minh và bản ngã sẽ chuốc lấy tội tình khổ đau.
Tâm thương, cảm giác ngọt ngào
Tâm thương dễ chịu biết bao trong lòng
Tâm thương dễ chịu làm sao,
Ngọt như mật ong, sữa thơm. Ngày xưa mình nghe ngọt ngào thấy lạ vì tại sao tâm lại ngọt ngào nhưng bây giờ lại rất thấm thía, tâm ngọt ngào như mía lao. Giữa tâm thương và tâm giận thì tất nhiên tâm thương sẽ dễ chịu hơn nhiều cho nên cần thực tập tâm thương, nuôi dưỡng và tác ý tâm thương thật nhiều, nếu có giận ai thì cứ xả tâm giận đó khởi tâm thương lên, thương họ, thương mình, thương hữu tình chúng sanh.
Nhờ vào trí tuệ, nhờ vào từ bi
Mà tâm xả bỏ sân si
Chẳng còn hờn giận lại đầy tình thương
Nhờ vào sự thấu hiểu, nhờ vào sự xót thương mà tâm xả bỏ si mê, sân hận, chẳng còn sân giận lại đầy tràn, sung mãn, trùm khắp là một tình thương dạt dào, cảm giác ngọt ngào, tâm thương dễ chịu biết bao trong lòng. Tâm thương đầy mát mẻ, thanh lương, ngọt ngào, tâm thương thật tuyệt vời, hạnh phúc, bình an. Hằng ngày cần trải tâm thương đến chúng sanh vạn loại hữu tình đang chịu khổ, trải tâm thương đến những cơn giận của chính mình, trải tâm thương đến những lúc khởi bản ngã của chính mình, trải tâm thương đến những si ám, vô minh, dục ái trong lòng mình. Thật tội nghiệp cho ngươi, thương thật là thương, thương mình, thương hữu tình chúng sanh, thương những người hay kiếm chuyện gây sự với mình, thương những người hành hạ gây khổ cho mình, thương những người mưu mô, rắp tâm hại mình, thương thật là thương cho họ.
Cám ơn Trí tuệ, Từ bi
Đã làm lắng dịu sân si trong lòng
Tràn ngập tình thương, sung mãn tình thương, bao la tình thương, dào dạt khắp hư không giới là tình thương của ta, mênh mông vô tận là tình thương của ta, hạnh phúc, an lạc, dễ chịu là tình thương của ta. Những từ ngữ mà chúng ta nói ở trên là những khía cạnh, góc độ, những yếu tố, đặc tính của tâm thương, những chất liệu, phương diện của cảm giác từ bi. Ngọt ngào, dào dạt, thấm đượm, thanh lương, tịnh lạc, mát mẻ… là những chất liệu, khía cạnh, góc độ của tâm thương, tâm từ rộng lớn, bao la, chan hòa, vô cùng vô tận, vô biên, vô bến bờ. Khi tác ý phải tác ý nhiều khía cạnh thì mình mới trú được trong cảm thọ dài lâu, còn mình chỉ tác ý "tình thương là từ bi ban vui cứu khổ", vậy là hết thì cảm thọ không khởi được, phải nói đúng chất liệu thì cảm thọ mới sanh cũng như gọi đúng tên mới có người lên tiếng chứ gọi sai tên thì làm sao có người đáp, tức là trong tâm có cảm thọ thì kêu lên mới có, phải có thì mới khơi dậy được.
"Ta khơi dậy trong ta từ tâm và tình thương. Tình thương sống trong ta, từ tâm sống trong ta".
Sau khi gọi thì nó hiện hữu "tình thương sống trong ta, từ tâm sống trong ta", phải biết thì kêu mới có chứ kêu đại lên thì làm sao có cho nên để hướng dẫn thiền quán không phải chuyện dễ dàng, soạn ra bài hướng dẫn là cả một công phu và người tu tập phải có sự thành tựu. Trong căn nhà chỉ có ghế tre, kêu lấy ghế tre thì có chứ kêu lấy ghế sa lông thì làm sao có, tâm mình cũng vậy, những chất liệu này có trong cảm thọ thì kêu lên mới sanh khởi, hiện hữu, đó là sự khéo léo thiện xảo trong sự thực tập thiền quán trải tâm từ cũng như trong sự hướng dẫn, chia sẻ pháp.
Chỉ có tâm từ mới hóa giải tâm sân nên bài thiền quán tên "Giận làm chi" có tâm từ, có Tứ Thánh Đế để nhiếp phục chấp thủ, vô minh, tham ái. Người thành tựu chánh kiến khi nói pháp gì ra thì pháp đó đều viên mãn, còn mình không thành tựu chánh kiến thì nói cái gì chỉ có cái đó, ví dụ nói về nhẫn là cứ kêu ráng nhẫn, ráng nhịn nhưng cố mãi vẫn không làm được vì không chỉ đơn giản như vậy, nó phải có những pháp khác hỗ trợ.
Cũng vậy, để nhiếp phục cơn giận thì phải tìm ra nguyên nhân, lý do, nguồn gốc của cơn giận, cơn giận đó ở đâu, sanh khởi như thế nào, nó áp đảo mình ra sao, cái nguy hiểm và tác hại của nó như thế nào, nhiếp phục, tác ý, hóa giải, tẩy sạch ra sao, trải tâm từ, khởi tình thương ra sao… nó có từng chặng đường, có từng quy trình pháp vận hành để hóa giải cơn sân. Chúng ta phải nhìn thấy cơn giận, xả bỏ tâm sân, kêu lên tâm thương thì tâm thương mới sanh khởi lên được, nếu không xả bỏ cơn sân thì không thể thương được. Có thương cũng chỉ là thương gượng ép mà thôi rồi vài ngày sau cũng giận lại vì cơn sân còn trong tâm. Đó là thương giả tạo, thương diễn tuồng chứ không có thương thật, gọi là bằng mặt mà không bằng lòng, thấy gần nhau nhưng thật chất là xa nhau ngàn dặm.
"Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng".
(Tục ngữ)
Tạm Dịch: "Có duyên nghìn dặm xa còn gặp
Không duyên trước mặt vẫn cách lòng".
Có duyên với nhau thì dù cách xa nghìn dặm cũng có thể gặp nhau, không có duyên với nhau thì đối diện cũng cảm thấy xa cách. "Cảm ơn trí tuệ từ bi đã làm lắng dịu sân si trong lòng", Minh Thành có nói phải cảm ơn những ý nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện. Hôm nay gặp chuyện đúng ra phải giận lên nhưng mình nhiếp phục, hóa giải, trải tâm từ được thì tối đó ngồi thiền phải cảm ơn tâm từ giúp cho mình nhiếp phục, mình hỷ lạc cảm ơn để nhớ ơn nó, từ đó mình nuôi dưỡng, tưới tẳm, tăng trưởng, phát triển, làm cho sung mãn cái pháp đó lên. Ngược lại nếu có nhiếp phục được cơn sân cũng trơ ra không cảm xúc thì pháp đó không lớn mạnh thêm được vì thế cần tác ý để thiện pháp tăng trưởng thêm nữa, điều này rất quan trọng.
Sau mỗi thời pháp, mỗi giờ thiền quán, tụng kinh phải tác ý cảm ơn thiện pháp, cảm ơn Đức Phật, cảm ơn bài kinh Đức Phật nói, cảm ơn sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang thực hành được những pháp lành, cảm ơn tam bảo Phật – Pháp – Tăng, cảm ơn những cảm thọ, suy nghĩ, cái tưởng thiện pháp, cảm ơn tấm thân vô thường bất tịnh chịu lên ngồi tu học, cảm ơn trí tuệ đã đánh bạt tâm si mê, ngu muội trong giờ phút này, mặc dù chỉ mới lắng dịu chứ chưa diệt tận nhưng cũng phải cảm ơn. Trong những lúc ngồi thiền, nghe pháp, tụng kinh là những lúc tham, sân, si lắng dịu, nằm yên nhưng nếu ngồi mà tâm buông thả, rong chơi là không có lắng dịu. Vì tâm vẫn còn ngu muội, dại khờ nên rất cần được dạy dỗ, huấn luyện, cần phải khai trí mở tâm, đây là tâm hoang vu, rừng rú chưa được khai hoang nên cần phải được khai mở, huấn luyện.
Chúng ta cần cảm ơn các thiện pháp, cảm ơn sự hiểu biết sâu sắc này, cảm ơn tâm thương bao la, ngọt ngào, dễ chịu này đã làm lắng dịu được sân si trong lòng, cảm ơn Đức Thế Tôn, cảm ơn giáo pháp, cảm ơn chúng Tăng, cảm ơn các bậc thiện tri thức, cảm ơn huynh đệ, các bậc đồng phạm hạnh, cảm ơn những cảm thọ, những suy nghĩ, hình bóng, sự nhận thức này, cảm ơn thân này chịu thương, chịu khó hành trì pháp. Các Phật tử cảm ơn tam bảo, cảm ơn thiện pháp, cảm ơn quý thầy, quý cô chịu khó ngồi đây cho mình những bài pháp, cảm ơn chú quay phim, dựng phim, cảm ơn căn nhà này, chiếc ghế này, ngọn đèn này, không gian này, khí hậu này, cảm ơn ngọn núi này, bầu trời này, cảm ơn sự chịu khó lắng nghe của chính mình, cảm ơn sự siêng năng thức khuya dậy sớm của chính mình, cảm ơn sự để tâm của mình vào pháp. Cảm ơn tất cả, cảm niệm ân đức của tam bảo, của giáo pháp.
Khi tác ý như vậy là diệt hết những sự bất lạc, những sự buồn chán, lạnh lẽo khi tu trên núi. Có rất nhiều pháp khi tác ý sẽ thấy phấn khởi, hân hoan, khi biết tác ý thì ở chỗ nào, hoàn cảnh nào cũng thấy an lạc. Cảm ơn khi mình biết sợ không ra ngoài tiếp xúc để không nhiễm bệnh, cảm ơn sự cẩn thận của mình vì ngoài kia có biết bao người nhiễm, có biết bao người chết.
Cuối cùng, hãy mỉm cười, hân hoan, thích thú, tán thưởng chính mình trong việc tu tập thiện pháp, mình mở tiệc tâm linh khi nhiếp phục được bản ngã, nhiếp phục được cơn sân, nhiếp phục sự buông lung phóng dật.
Dễ chịu thay, dễ chịu thay,
Ngọt ngào thay, tấm lòng đầy tình thương...
./.
THIỀN QUÁN GIẬN LÀM CHI 2
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Vũng sình vô minh PAGEREF _Toc109926514 \h 1
II.Đạo lộ giải thoát PAGEREF _Toc109926515 \h 4
III.Buông bỏ giận sân - khơi dậy tình thương PAGEREF _Toc109926516 \h 7
Vũng sình vô minh
Chúng ta tiếp tục tìm hiểu bài "Giận làm chi".
Người đang tăm tối, vô minh
Làm sao có thể biết mình đúng sai
Làm sao người biết được mình
Khi người chìm giữa vũng sình vô minh
Hai câu này rất thấm thía, đau đớn, sâu sắc. Tất cả chúng ta đang ở trong bóng đêm mà cứ nghĩ, cứ nói, cứ làm theo cái dục, theo buông lung, si mê, nhiều khi mình nghĩ chuyện đó có gì đâu thì chính ý nghĩ đó sẽ làm sụp đổ tất cả đạo nghiệp cho nên thật khó để học đạo. Tâm chúng ta rất xem thường, không thận trọng, không cẩn thận, không tỉnh giác chánh niệm để nhìn sâu sắc sự việc, vấn đề đó. Mình thấy chuyện đó nhỏ nhặt, chuyện này bỏ qua thì chuyện kia cũng bỏ qua, chuyện nọ cũng bỏ qua rồi trở thành thói quen, khi nhìn lại thân tâm cũng sẽ bỏ qua thì làm sao thấy biết được hết các lậu hoặc, làm sao nhiếp phục cho nên nhiều khi Minh Thành phải nhắc nhở từ những chuyện nhỏ nhặt.
Tâm này còn vi tế hơn như vậy nữa, mình đang ở trong tăm tối vô minh nên không biết đúng sai, dù mình nghĩ đó là đúng nhưng là đúng của vô minh, cái đúng của tà kiến, cái đúng của tham ái chứ không phải cái đúng thật sự của chánh kiến. Chính vì vậy mình mới nhờ Đức Phật, nhờ giáo pháp, nhờ những bậc thiện tri thức, những bậc có trí tuệ chỉ trích, vạch trần những khuyết điểm, mổ xẻ những khối u trong tâm này. Nhưng bây giờ rất khó tìm người học đạo thật sự, chỉ cần chạm vào chỉ dạy một chút là sân, bị nhắc nhở là trong tâm khó chịu, ánh mắt thay đổi, cảm thọ biến đổi nên không học đạo được. Bản ngã lớn là không thể nhập được dòng pháp vì trong tâm luôn có một sự chống đối, vì thế phải dành nhiều thời gian tác ý chống lại bản ngã.
Một người mù đi đến chỗ lạ không phải chỗ quen thuộc của mình thì làm sao có thể lấy đúng món đồ được, làm sao biết món đồ đó ra sao, phải có người chỉ dẫn thì mới biết được. Ngày xưa nhà Minh Thành bị cháy, lửa cao ngút trời, anh ruột Minh Thành lúc đó hai mươi tuổi đã chạy xuống toilet nằm cuối nhà trốn ở dưới, đúng ra phải chạy ra khỏi nhà mà lại chạy vào toilet đóng cửa cố thủ trong đó, sau này có một số trường hợp cháy nhà cũng chạy vào toilet trốn. Họ nghĩ không nhìn thấy lửa tức là thoát được, đó là "người đang tăm tối vô minh, làm sao có thể biết mình đúng sai?", họ nghĩ rằng đóng cửa không thấy lửa thì thoát khỏi lửa. Cũng như tức giận, bực mình người nào mà chỉ cần không thấy mặt là không giận nữa, nhưng đó chỉ mới cắt được duyên xúc, trong khi đó, thọ, tưởng, hành vẫn còn tồn đọng trong tâm, tuy không gặp nhưng cứ nhắc lại, suy nghĩ, nói về người đó.
Cho nên, cần phải thường quán mình ở trong bóng đêm, còn Chánh pháp và bậc thiện tri thức là ánh sáng. Mỗi khi được nghe pháp, được chỉ dẫn, nhắc nhở là quán chiếu mình được ánh sáng Mặt Trời soi rọi vào thân tâm, thế nên phải khát ngưỡng, tha thiết, chân thành, cầu khẩn, khao khát những luồng ánh sáng trí huệ hào quang đó, phải quán tưởng như vậy, đó cũng là một cách quán ánh sáng. Mình chưa biết phân biệt đúng sai, cứ nghĩ đúng nhưng thật ra sai hết, đó chỉ là suy nghĩ của mình và mình chấp thủ trong suy nghĩ, trong nhận thức đó.
Chẳng hạn, đem hết lòng nấu đồ ăn nhưng người ăn lại chê dở, biết bao tâm huyết của mình thức khuya dậy sớm, đi chợ cực khổ đặt vào món ăn mà bị chê thì rất buồn bực. Trong thân tâm mình hỏi "ăn được không?" để mong muốn được tiếng khen nhưng bị nói "dở ẹc" rồi chê thậm tệ thì đương nhiên mình tức giận và mình thấy cái tức đó là đúng nhưng lát sau mọi người lại bảo là nói chơi để thử lòng mình.
Vì thế đừng tin tưởng vào cái thấy, cái nghe, cảm xúc của mình. Khi thấy có tham, sân, si, bản ngã, vô minh là phải nhiếp phục, đó là định lý giải thoát thực sự mà Đức Phật dạy. Thấy dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã là nhiếp phục, chế ngự, tác ý đánh đuổi thì mới đúng với đạo lộ của Đức Phật, ngược lại thì không đúng. Cái đúng theo Pháp gọi là người có ánh sáng, có mắt, biết mình đúng mình sai, còn không biết thì làm gì cũng sai. Đừng tin vào những gì mình cho là đúng mà hãy tin vào cái đúng của pháp, phải thấy được điều cái đúng của pháp là khổ và nguyên nhân của khổ.
"Làm sao người biết được mình, khi người chìm giữa vũng sình vô minh?", tức là làm sao có thể biết được chính bản thân họ khi chính họ đang ở trong vô minh. Hai huynh đệ lên thưa sư phụ đấu tố nhau rồi bực bội, sân hận lên, sư phụ mới nói "ngày mai lên rồi sư phụ giải quyết đúng sai", ngày mai lên sư phụ nói cả hai đều sai vì sân si là sai. Ở ngoài thế gian tranh đấu, cự cãi, ẩu đả nhau rồi người bị thương, người ở tù hoặc chết người, dù cho tòa xử cho đúng nhưng đó là đúng của thế gian, còn trong đạo Phật đều sai hết, cái sai đó nằm trong tâm sân hận, bản ngã, chấp thủ. Huynh đệ trong đạo tràng lúc đầu nói pháp rồi lúc sau cự cãi nhau, hai người sân với nhau, trong giáo pháp không dạy sân si mà giờ hai người sân lên thì cả hai đều sai chứ không có ai đúng.
Cho nên, hễ có dục ái, sân si, bản ngã là sai, còn nhiếp phục, thoát ra, xa lìa những thứ đó là đúng, lấy cái này làm chuẩn tắc tu học muôn đời, đó chính là pháp ấn, ấn định mọi thân tâm. Cứ hễ có tham, sân, si là sai, đang nói với tâm sân là sai, đang nói với tâm bản ngã là sai, điều này sẽ chấm dứt tất cả mọi hý luận, chấm dứt mọi sự tranh luận, những lời phù phiếm, vòng vo, quanh co, lẩn quẩn. Pháp của Đức Phật là đi đến tận cùng, là diệt luân hồi, chấm dứt tái sanh, không để cho mình viện cớ, ngụy biện.
Muốn nhìn thấy những điều này thì phải thoát ra khỏi vô minh tăm tối, phải đi ra khỏi vũng sình, nếu còn chìm trong đó thì cái nhìn sẽ bị nghiêng lệch. Vì thế nếu xét theo chuẩn như giáo lý của Đức Phật thì toàn thế gian chẳng có ai đúng. Chỉ khi hướng theo sự viễn ly, xuất ly mới là đúng, còn hướng đến sự ôm ấp, chất chứa, tăng trưởng, phát triển, chấp thủ là sai. Cho nên chỗ nào cũng sử dụng pháp, không bao giờ rời khỏi được pháp, thở bằng pháp, suy nghĩ trong pháp, nhìn tất cả mọi sự việc bằng pháp. Khi nhắc nhở là nhắc tâm buông lung, buông thả chứ không nhắm vào một cá nhân nào, tu như vậy mới vạch trần được tham sân.
Tham sân si ngập nội tâm
Ngất cao bản ngã, đầy tràn dục tham,
Vừa chìm trong vũng bùn vô minh vừa bị tham, sân, si ngập nội tâm, trong mỗi suy nghĩ đều theo tham, sân, si, theo bản ngã, vô minh chứ không suy nghĩ theo pháp, không thắp sáng ngọn đèn của chánh trí. Trong mọi nhất cử nhất động nếu không có pháp soi sáng là tràn ngập tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Làm lụng cực khổ cũng chỉ tham tiếng khen, được khen một tiếng thôi là hả dạ, hết thấy mệt nhọc, tất cả chỉ là hư danh mà thôi.
Đạo lộ giải thoát
Ta nhờ duyên phước sâu dày
Nên nghe thấy được những lời Thánh nhân
Con đường giải thoát lộ dần
Nội tâm lộ rõ, tham sân vạch trần
Chúng ta được ở đây tu học bình yên là nhờ duyên phước rất sâu dày chứ không phải duyên phước bình thường. Được nghe pháp, được thực tập dòng chánh pháp này là nhờ duyên phước rất thâm hậu. Giữa thế giới hôn mê, giữa thời buổi ngập tràn ác bất thiện, đầy rẫy tham, sân, si nhưng vì nhờ duyên phước rất sâu dày mà mình gặp được Thánh pháp nên phải trân trọng duyên phước, phước báo đó, trân quý thiện căn, tuệ căn của mình. Pháp của Đức Phật không phải dễ được nghe, không phải dễ được hiểu, không phải dễ được chấp nhận, không phải dễ được thực hành. Trong kinh Đức Phật nói có người nghe nhưng không hiểu, hiểu nhưng không thực hành, có thực hành không nhưng trọn vẹn.
"- Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn? Nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên; Nghe ít, điều đã được nghe được khởi lên; Nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên; Nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người được nghe ít về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, không biết nghĩa, không biết pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe không khởi lên.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người được nghe ít về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe ít ỏi này, biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp đúng pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là người nghe ít, điều đã được nghe có khởi lên.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người được nghe nhiều về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe nhiều này, không biết nghĩa, không biết pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là người nghe nhiều, điều đã được nghe không khởi lên.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là người nghe nhiều, điều đã được nghe được khởi lên?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người được nghe nhiều về kinh: ứng tụng, ký thuyết, các Bài kệ, Cảm hứng ngữ, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu, Phương quảng. Người ấy, với điều đã được nghe nhiều này, biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp, tùy pháp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là người nghe nhiều, điều đã được nghe có khởi lên.
Này các Tỳ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (VI) Học Hỏi Ít)
Chỉ có lời của bậc Thánh nhân mới chỉ ra những cấu nhiễm và những phương pháp tẩy sạch cấu nhiễm, nếu không phải lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì có học bao lâu cũng không thấy được hết. Trước khi học vào kinh Nikāya mình thấy rất ít cấu nhiễm của tâm. Khi nghe thấy được những lời Thánh nhân, thực hành theo nhận diện năm uẩn, để ý lại những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ của tâm thì "con đường giải thoát lộ dần, nội tâm lộ rõ, tham sân vạch trần", khi học đúng đường thì đạo lộ giải thoát sẽ dần hiện ra, không phải như ngày xưa không biết giải thoát là gì vì mình học bao la, mênh mông vạn vật nhưng không biết cuối cùng là tu cái gì.
Bản thân Minh Thành học tám năm cao đẳng Phật học ở trường Phật học của chùa Vĩnh Nghiêm, đến ngày thi tốt nghiệp các huynh đệ lại hỏi “bây giờ tu làm sao”. Học tám năm ra không biết tu như thế nào là do không có đạo lộ tu tập, chung chung là tụng niệm, cầu xin, không thấy rõ được nội tâm, thân tâm. Cả một bài kinh dài trong Tăng Chi Bộ mà Đức Phật chỉ xưng tán Thân Hành Niệm mà Thân Hành Niệm chính là soi rọi lại thân tâm chính mình. Cho nên nếu không gặp được đạo lộ của Đức Phật, không có cái thấy đúng của chánh kiến thì mình sẽ không hiểu được chính xác thân tâm, cũng không biết được con đường thoát ra. Hoặc nhìn thấy rất mông lung, không nắm chắc trong tay, mình có tụng niệm, nói, giảng bao năm nhưng hỏi về con đường giải thoát là mình không có sự tự tin.
Trong khi trong kinh Nikāya ghi rất rõ con đường thoát ra, thước đo là nhiếp phục tham, sân, si, vô minh và bản ngã, cánh cửa đi vào là nhận diện ngũ uẩn, công phu là tẩy sạch những cấu uế đó. Tẩy sạch vừa vừa là bậc hiền trí, mới thấy ra cấu uế là pháp nhãn tịnh mở được con mắt trí, sạch hết là xong việc. "Nội tâm lộ rõ, tham sân vạch trần", tức là những hình bóng, cảm giác được lộ rõ, những suy nghĩ ác bất thiện pháp lộ rõ; dục ái, tham sân được vạch trần; phơi bày bộ mặt đê hèn, ác độc của bản ngã, của cái tôi, cái ta này. Chúng ta phải vạch mặt được tham, sân, si, nhìn ra bộ mặt thật sự của nó là sự xấu ác, bất thiện, uế nhiễm, dơ hôi. Trước giờ chúng ta đã nhìn lầm, nhìn sai, ngộ nhận, ảo tưởng bản chất thật sự của tham ái, sân hận, si ám, vô minh ở đời này. Sau khi vạch trần phải thấy chán chê, ê chề, não nề, gớm ghê, bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp vừa qua chúng ta không nhìn thấy thật sự bộ mặt của nó, chúng ta bị sai khiến, làm nô lệ cung phụng cho nó, làm tùy tùng của nó. Từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng ta bị những cảm giác thúc giục bên trong xỏ mũi, bị những cảm giác bốc cháy bên trong thiêu đốt, bị những cảm giác yêu thương tham ái nhận chìm.
"Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh".
(Kinh Pháp Cú 11, Phẩm Già, kệ 153)
"Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong".
(Kinh Pháp Cú 11 Phẩm Già, kệ 154)
Những lời này chính là Đức Thế Tôn vạch trần tham ái, đi tìm tác giả căn nhà ngũ uẩn bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp nhưng không gặp nhưng đến nay ngài đã thấy, tâm ngài đạt tịch diệt, tham ái thảy tiêu vong tức là tất cả tham ái đều tiêu diệt. Đó là lý do tại sao ăn cơm phải chánh quán thọ thực, lúc trước ăn chỉ thấy ngon dở, thích hay không thích, còn giờ ăn phải kiểm tra tham ái trong khi ăn nghĩa là đang vạch trần tham ái trong khi ăn. Khi đi phải đi chậm, niệm oai nghi, hành động, khi nói phải nói chậm, nói trong chánh niệm tỉnh giác là để nhìn thấy tham ái, xem trong bước đi có sự thúc giục không. Cho nên toàn bộ giáo pháp là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với năm dục trưởng dưỡng và ngũ uẩn, gốc rễ hình thành nên năm uẩn chính là tham ái, từ tham ái mới có sân, tất cả cái giận đều xuất phát từ tham ái, không có tham ái là không có giận.
Buông bỏ giận sân - khơi dậy tình thương
Người còn lặn hụp trong vòng trầm luân
Người còn chìm giữa tối tăm
Vậy thì ta lại giận sân làm gì…
Người còn sanh tử li bì,
Khi thì địa ngục, khi thì súc sanh
Khi thì ngạ quỷ vất vơ
Ta thì dần thoát khỏi đau khổ này
Đây là phép tác ý, quán chiếu, mình đang đang trên con đường Thánh đạo, đang thấy biết nội tâm, đang vạch trần tham sân để đi ra khỏi tử sanh trong khi người khác đang lặn hụp trong trầm luân, bị chìm giữa tối tăm thì ta giận sân để làm gì. Người ta còn lặn hụp, chìm đắm trong tăm tối thì mình giận sân người ta để làm gì? Người ta chẳng thấy biết thân tâm họ, họ không thấy biết ngũ uẩn, không thấy biết cảm thọ đang chi phối, dẫn dắt, áp đảo, đang thiêu đốt, hủy hoại họ nên ta sân giận họ làm gì? Họ đáng thương lắm, họ đau khổ mà chẳng biết nguyên nhân vì sao cho nên hãy thương chứ đừng giận họ. Đây là sự tác ý của tác giả và cũng là sự tác ý cho chính mình là những người đang đi trên con đường này, ta dần đi ra khỏi ba đường ác đạo vậy thì còn hờn giận làm chi.
Vậy còn hờn giận làm chi
Thôi thì buông xả giận hờn ngay đi
Thôi tâm hãy xót thương người
Thương người bất hạnh, không gần Thánh nhân
Thương người tăm tối, vô minh
Thương người chìm đắm vũng sình dục tham
Thương người danh lợi tham lam
Thương người ngã mạn, chẳng ai ưa người
Thương người cứ mãi hơn thua,
Chẳng hề hay biết tử sanh mịt mù…
Buông cái giận được rồi mới thương, đầu tiên phải thấy được đau khổ, kế đó phải tìm ra nguyên nhân của đau khổ là vô minh và tham ái, tiếp theo muốn chấm dứt khổ, không muốn tiếp tục vô minh, tham ái là dập tắt, buông bỏ những thứ này. Những người kia đang chìm đắm trong đau khổ, còn ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cũng vì tham, sân, si, bản ngã, mình không muốn những thứ này thì phải buông bỏ sân hận, tham ái này. Ở đây không nhắc đến chữ Tứ Thánh Đế nào cả nhưng Tứ Thánh Đế đang trong đó. Tứ Thánh Đế được vận dụng trong tất cả mọi trường hợp, mọi lúc mọi nơi, mọi ánh nhìn, mọi suy nghĩ, mọi sự tác ý tu tập.
Trong mọi sự việc, đầu tiên phải hiểu, cảm thông, tha thứ cho họ rồi mới buông cảm giác giận xuống sau đó mới thương, lúc nào cũng có trình tự. "Thôi tâm hãy xót thương người, thương người bất hạnh không gần Thánh nhân", cái bất hạnh lớn nhất trong tất cả bất hạnh là không được gặp các bậc chánh kiến, bậc chân nhân, bậc Thánh nhân chứ không phải là những bất hạnh về cơm áo gạo tiền. “Hạnh” là may mắn, là hạnh phúc, “bất” là không, “bất hạnh” là chẳng may, không may mắn, không hạnh phúc. Và điều không may mắn lớn nhất trong tất cả sự không may mắn là không gặp bậc hiền trí, bậc chánh kiến, bậc Thánh nhân. Vì không gặp được nên không được nghe pháp, mà không nghe pháp thì không thấy thân tâm nên không nhiếp phục được nguyên nhân của khổ nằm bên trong nội tâm.
Điều may mắn nhất trong tất cả may mắn là được gặp, được thân cận, gần gũi bậc chánh kiến, bậc hiền trí, bậc chân nhân, bậc Thánh nhân, được nghe, được hướng dẫn, chỉ điểm, thực tập tu hành. Đó là hạnh phúc nhất, phước báo nhất, công đức nhất. Có làm vua của Trái Đất cũng không bằng người gặp được bậc chánh kiến, bậc chân nhân, Thánh nhân. Phải nhìn thấy vô minh mới tu được, phải thấy bản thân đang vô minh và những chúng sanh xung quanh đang ở trong bóng đêm, ngày đêm bị bao phủ trong tăm tối, mắt mở miệng nói nhưng lại ở trong vô minh, ở trong bóng đêm cho nên Thế Tôn mới nói tất cả đều bị mù lòa. Nếu không nhận thức được mình vô minh thì không thể đi ra khỏi vô minh, không biết mình bị bệnh thì làm sao có thể đi tìm thầy trị bệnh.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Nhiếp phục tham dục, bản ngã
"Thương người danh lợi tham lam, thương người ngã mạn chẳng ai ưa người, bản ngã lớn quá không ai thích, không ai muốn gần nên sống đơn độc, lẻ loi. "Thương người chìm đắm vũng sình dục tham", dục tham là vũng sình sẽ nhận chìm chúng ta lún sâu trong đó, chỉ có gặp bậc chân nhân, hiền trí chỉ cho pháp thoát ra vũng lầy đó, nếu không là vĩnh viễn và mãi mãi không có ngày thoát ra. Những hình ảnh tăm tối vô minh, hình ảnh vũng sình dục tham là những hình ảnh để quán chiếu, mình sẽ chết ngộp, chết dơ, chết tức tưởi trong đầm lầy dục tham đó. "Thương người danh lợi tham lam", có biết bao người chết vì danh lợi, không riêng gì người đời mà ngay cả người tu cũng chết vì danh lợi, trong Tương Ưng lợi đắc cung kính Thế Tôn nói rất mạnh mẽ, danh lợi cắt vào da khứa vào thịt, vào xương tủy, nó là lưỡi câu, là miếng mồi, là sấm sét, là con dao khiến mình không thể tu được.
"-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Người câu cá, này các Tỳ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỳ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Như vậy, khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Lưỡi Câu)
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: 'Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này'.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có Tỳ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.
Vị ấy đi đến ngôi vườn (tịnh xá) và giữa chúng Tỳ-kheo khoe khoang như sau: 'Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỳ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh'.
Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỳ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỳ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Trùng Phẩn)
"Lợi đắc, cung kính, danh vọng, này các Tỳ-kheo, cắt đứt da ngoài. Sau khi cắt đứt da ngoài, chúng cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, III. Phẩm Thứ Ba, VIII. Da)
Vào tu đã đặt tâm sai hướng theo danh lợi thì làm sao tu? Tu để được cái này cái kia, để làm cái này làm cái nọ cho nên để thoát ra khỏi danh lợi là cả một công trình tu tập. Phải phá thân kiến mới thoát ra khỏi danh lợi, hễ còn bản ngã là còn bị danh lợi buộc chặt cho đến chết, nó sẽ làm chết sinh mạng của trí tuệ, là pháp thân huệ mạng của người tu. Gặp được chánh pháp cũng không chịu tu mà đòi cái này cái kia ở ngoài, biết nhận thức đây là chánh pháp, là con đường của Đức Phật nhưng danh lợi cản đường, muốn mình chạy đi tìm những cái khác, không thể quyết liệt tu 100% giải thoát mà bị dẫn theo lối mòn, đi theo số đông, người ta được như vậy thì mình cũng phải được vậy, đó chính là danh lợi.
Trong chúng ai mà có bản ngã lớn sẽ bị người khác tránh né, không muốn gần, nói ra bất cứ cái gì cũng muốn dạy đời người ta, lúc nào cũng cho là mình hay, mình giỏi hơn người, đi tới đâu cũng vênh váo. Bản ngã này một là lộ ra hay là ngầm trong tâm chứ đừng nghĩ không nói là không có bản ngã, nó âm thầm trong tâm nhưng cao ngút trời, không phải nói hay im là có hay không có bản ngã mà phải nhìn thấy được nếu nó ngầm trong tâm để nhiếp phục. Lúc mới vào chùa rất dễ thương nhưng ở một thời gian là thương không dễ, nếu không thực hành đúng chánh pháp sẽ có bản ngã ở một hình thái khác, nó ngấm ngầm trong tâm và chúng ta lại nuôi dưỡng bản ngã, đây là cái khổ đau nhất.
Vì vậy, phải cố gắng tu học để cho bản ngã này bị suy kiệt, diệt tận. Chúng ta phải học sám hối diệt ngã thật cẩn thận, không để bản ngã này ngấm sâu vào trong thân tâm, ở ngoài thì giả bộ hiền ngoan nhưng bên trong rất khủng khiếp. Cho nên phải cực kì cẩn thận vì nó có thể giết mình chết bất cứ lúc nào. Bản ngã là thứ thâm độc nhất hành tinh này, không thể Nhập Lưu được, không thể nhập pháp được vì nó ngấm ngầm chống đối vì thế cần nhiếp phục và diệt tận nó.
Khơi dậy tình thương
Câu nào cũng có chữ "thương người", đó là đang trải tâm từ, "chẳng hề hay biết tử sanh mịt mù" là cái nhìn của bậc đại trí tuệ, họ không nhìn những cái nhỏ nhặt trước mắt mà nhìn tận cùng kết thúc của cuộc đời này là cái chết trong mù mịt, mình chẳng hề hay biết khi chết đi là trước mắt mù mịt, mông lung, tối tăm không biết về đâu. Cái nhìn của phàm phu là hôm nay ăn cái gì, mai ăn cái gì, mốt đi đâu, làm gì, còn cái nhìn của bậc đại trí tuệ là khi chết đi là trước mắt tăm tối, mù mịt. Những người nhiễm dịch bệnh khi chết rồi đi về đâu? Trước đó khi còn sống họ đâu có lo khi chết đi sẽ về đâu mà sẽ lo lời lỗ, lo tiền bạc, cho nên thương cái nhìn cạn cợt, thiển cận trước mắt.
Thương người, ta chúc cho người
Một ngày nào đó duyên lành dẫn đưa
Cho người được thấy, được nghe
Những lời đưa đến thoát rời vô minh,
Mong người ráng giữ tâm mình
Để đừng chuốc lấy tội tình khổ đau…
Thương người nên chúc cho người một ngày nào đó sẽ có đủ duyên lành đưa họ được thấy, được nghe những giáo pháp thoát khỏi vô minh này. Hằng ngày chúng ta chia sẻ pháp cũng vì thương người, thương mình. Các bậc Thánh A-la-hán cũng từng trùng tuyên Thánh điển, đọc lại kinh là vì thương mình thương người, muốn đưa những lời làm cho mọi người thoát khỏi vô minh. Ít nhất trong lúc đang ngồi đọc kinh, mình và người chịu khó lắng nghe pháp, thực tập thiền quán sẽ thoát khỏi vô minh, đó chính là tâm từ, từ bi. Phải cố gắng giữ tâm trong pháp, đừng để chuốc lấy những tội tình khổ đau, tham, sân, si, vô minh và bản ngã sẽ chuốc lấy tội tình khổ đau.
Tâm thương, cảm giác ngọt ngào
Tâm thương dễ chịu biết bao trong lòng
Tâm thương dễ chịu làm sao,
Ngọt như mật ong, sữa thơm. Ngày xưa mình nghe ngọt ngào thấy lạ vì tại sao tâm lại ngọt ngào nhưng bây giờ lại rất thấm thía, tâm ngọt ngào như mía lao. Giữa tâm thương và tâm giận thì tất nhiên tâm thương sẽ dễ chịu hơn nhiều cho nên cần thực tập tâm thương, nuôi dưỡng và tác ý tâm thương thật nhiều, nếu có giận ai thì cứ xả tâm giận đó khởi tâm thương lên, thương họ, thương mình, thương hữu tình chúng sanh.
Nhờ vào trí tuệ, nhờ vào từ bi
Mà tâm xả bỏ sân si
Chẳng còn hờn giận lại đầy tình thương
Nhờ vào sự thấu hiểu, nhờ vào sự xót thương mà tâm xả bỏ si mê, sân hận, chẳng còn sân giận lại đầy tràn, sung mãn, trùm khắp là một tình thương dạt dào, cảm giác ngọt ngào, tâm thương dễ chịu biết bao trong lòng. Tâm thương đầy mát mẻ, thanh lương, ngọt ngào, tâm thương thật tuyệt vời, hạnh phúc, bình an. Hằng ngày cần trải tâm thương đến chúng sanh vạn loại hữu tình đang chịu khổ, trải tâm thương đến những cơn giận của chính mình, trải tâm thương đến những lúc khởi bản ngã của chính mình, trải tâm thương đến những si ám, vô minh, dục ái trong lòng mình. Thật tội nghiệp cho ngươi, thương thật là thương, thương mình, thương hữu tình chúng sanh, thương những người hay kiếm chuyện gây sự với mình, thương những người hành hạ gây khổ cho mình, thương những người mưu mô, rắp tâm hại mình, thương thật là thương cho họ.
Cám ơn Trí tuệ, Từ bi
Đã làm lắng dịu sân si trong lòng
Tràn ngập tình thương, sung mãn tình thương, bao la tình thương, dào dạt khắp hư không giới là tình thương của ta, mênh mông vô tận là tình thương của ta, hạnh phúc, an lạc, dễ chịu là tình thương của ta. Những từ ngữ mà chúng ta nói ở trên là những khía cạnh, góc độ, những yếu tố, đặc tính của tâm thương, những chất liệu, phương diện của cảm giác từ bi. Ngọt ngào, dào dạt, thấm đượm, thanh lương, tịnh lạc, mát mẻ… là những chất liệu, khía cạnh, góc độ của tâm thương, tâm từ rộng lớn, bao la, chan hòa, vô cùng vô tận, vô biên, vô bến bờ. Khi tác ý phải tác ý nhiều khía cạnh thì mình mới trú được trong cảm thọ dài lâu, còn mình chỉ tác ý "tình thương là từ bi ban vui cứu khổ", vậy là hết thì cảm thọ không khởi được, phải nói đúng chất liệu thì cảm thọ mới sanh cũng như gọi đúng tên mới có người lên tiếng chứ gọi sai tên thì làm sao có người đáp, tức là trong tâm có cảm thọ thì kêu lên mới có, phải có thì mới khơi dậy được.
"Ta khơi dậy trong ta từ tâm và tình thương. Tình thương sống trong ta, từ tâm sống trong ta".
Sau khi gọi thì nó hiện hữu "tình thương sống trong ta, từ tâm sống trong ta", phải biết thì kêu mới có chứ kêu đại lên thì làm sao có cho nên để hướng dẫn thiền quán không phải chuyện dễ dàng, soạn ra bài hướng dẫn là cả một công phu và người tu tập phải có sự thành tựu. Trong căn nhà chỉ có ghế tre, kêu lấy ghế tre thì có chứ kêu lấy ghế sa lông thì làm sao có, tâm mình cũng vậy, những chất liệu này có trong cảm thọ thì kêu lên mới sanh khởi, hiện hữu, đó là sự khéo léo thiện xảo trong sự thực tập thiền quán trải tâm từ cũng như trong sự hướng dẫn, chia sẻ pháp.
Chỉ có tâm từ mới hóa giải tâm sân nên bài thiền quán tên "Giận làm chi" có tâm từ, có Tứ Thánh Đế để nhiếp phục chấp thủ, vô minh, tham ái. Người thành tựu chánh kiến khi nói pháp gì ra thì pháp đó đều viên mãn, còn mình không thành tựu chánh kiến thì nói cái gì chỉ có cái đó, ví dụ nói về nhẫn là cứ kêu ráng nhẫn, ráng nhịn nhưng cố mãi vẫn không làm được vì không chỉ đơn giản như vậy, nó phải có những pháp khác hỗ trợ.
Cũng vậy, để nhiếp phục cơn giận thì phải tìm ra nguyên nhân, lý do, nguồn gốc của cơn giận, cơn giận đó ở đâu, sanh khởi như thế nào, nó áp đảo mình ra sao, cái nguy hiểm và tác hại của nó như thế nào, nhiếp phục, tác ý, hóa giải, tẩy sạch ra sao, trải tâm từ, khởi tình thương ra sao… nó có từng chặng đường, có từng quy trình pháp vận hành để hóa giải cơn sân. Chúng ta phải nhìn thấy cơn giận, xả bỏ tâm sân, kêu lên tâm thương thì tâm thương mới sanh khởi lên được, nếu không xả bỏ cơn sân thì không thể thương được. Có thương cũng chỉ là thương gượng ép mà thôi rồi vài ngày sau cũng giận lại vì cơn sân còn trong tâm. Đó là thương giả tạo, thương diễn tuồng chứ không có thương thật, gọi là bằng mặt mà không bằng lòng, thấy gần nhau nhưng thật chất là xa nhau ngàn dặm.
"Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng".
(Tục ngữ)
Tạm Dịch: "Có duyên nghìn dặm xa còn gặp
Không duyên trước mặt vẫn cách lòng".
Có duyên với nhau thì dù cách xa nghìn dặm cũng có thể gặp nhau, không có duyên với nhau thì đối diện cũng cảm thấy xa cách. "Cảm ơn trí tuệ từ bi đã làm lắng dịu sân si trong lòng", Minh Thành có nói phải cảm ơn những ý nghĩ thiện, lời nói thiện, hành động thiện. Hôm nay gặp chuyện đúng ra phải giận lên nhưng mình nhiếp phục, hóa giải, trải tâm từ được thì tối đó ngồi thiền phải cảm ơn tâm từ giúp cho mình nhiếp phục, mình hỷ lạc cảm ơn để nhớ ơn nó, từ đó mình nuôi dưỡng, tưới tẳm, tăng trưởng, phát triển, làm cho sung mãn cái pháp đó lên. Ngược lại nếu có nhiếp phục được cơn sân cũng trơ ra không cảm xúc thì pháp đó không lớn mạnh thêm được vì thế cần tác ý để thiện pháp tăng trưởng thêm nữa, điều này rất quan trọng.
Sau mỗi thời pháp, mỗi giờ thiền quán, tụng kinh phải tác ý cảm ơn thiện pháp, cảm ơn Đức Phật, cảm ơn bài kinh Đức Phật nói, cảm ơn sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang thực hành được những pháp lành, cảm ơn tam bảo Phật – Pháp – Tăng, cảm ơn những cảm thọ, suy nghĩ, cái tưởng thiện pháp, cảm ơn tấm thân vô thường bất tịnh chịu lên ngồi tu học, cảm ơn trí tuệ đã đánh bạt tâm si mê, ngu muội trong giờ phút này, mặc dù chỉ mới lắng dịu chứ chưa diệt tận nhưng cũng phải cảm ơn. Trong những lúc ngồi thiền, nghe pháp, tụng kinh là những lúc tham, sân, si lắng dịu, nằm yên nhưng nếu ngồi mà tâm buông thả, rong chơi là không có lắng dịu. Vì tâm vẫn còn ngu muội, dại khờ nên rất cần được dạy dỗ, huấn luyện, cần phải khai trí mở tâm, đây là tâm hoang vu, rừng rú chưa được khai hoang nên cần phải được khai mở, huấn luyện.
Chúng ta cần cảm ơn các thiện pháp, cảm ơn sự hiểu biết sâu sắc này, cảm ơn tâm thương bao la, ngọt ngào, dễ chịu này đã làm lắng dịu được sân si trong lòng, cảm ơn Đức Thế Tôn, cảm ơn giáo pháp, cảm ơn chúng Tăng, cảm ơn các bậc thiện tri thức, cảm ơn huynh đệ, các bậc đồng phạm hạnh, cảm ơn những cảm thọ, những suy nghĩ, hình bóng, sự nhận thức này, cảm ơn thân này chịu thương, chịu khó hành trì pháp. Các Phật tử cảm ơn tam bảo, cảm ơn thiện pháp, cảm ơn quý thầy, quý cô chịu khó ngồi đây cho mình những bài pháp, cảm ơn chú quay phim, dựng phim, cảm ơn căn nhà này, chiếc ghế này, ngọn đèn này, không gian này, khí hậu này, cảm ơn ngọn núi này, bầu trời này, cảm ơn sự chịu khó lắng nghe của chính mình, cảm ơn sự siêng năng thức khuya dậy sớm của chính mình, cảm ơn sự để tâm của mình vào pháp. Cảm ơn tất cả, cảm niệm ân đức của tam bảo, của giáo pháp.
Khi tác ý như vậy là diệt hết những sự bất lạc, những sự buồn chán, lạnh lẽo khi tu trên núi. Có rất nhiều pháp khi tác ý sẽ thấy phấn khởi, hân hoan, khi biết tác ý thì ở chỗ nào, hoàn cảnh nào cũng thấy an lạc. Cảm ơn khi mình biết sợ không ra ngoài tiếp xúc để không nhiễm bệnh, cảm ơn sự cẩn thận của mình vì ngoài kia có biết bao người nhiễm, có biết bao người chết.
Cuối cùng, hãy mỉm cười, hân hoan, thích thú, tán thưởng chính mình trong việc tu tập thiện pháp, mình mở tiệc tâm linh khi nhiếp phục được bản ngã, nhiếp phục được cơn sân, nhiếp phục sự buông lung phóng dật.
Dễ chịu thay, dễ chịu thay,
Ngọt ngào thay, tấm lòng đầy tình thương...
./.