Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TẠI SAO THAM SÂN SI THÊM LỚN - VỊ NGỌT NGUY HIỂM VÀ SỰ THOÁT RA 1 - 2

2026-03-03 00:54:44
Tinh Hoa Nikāya

TẠI SAO THAM SÂN SI THÊM LỚN

VỊ NGỌT, NGUY HIỂM VÀ SỰ THOÁT RA 1, 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Sự nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si PAGEREF _Toc114421097 \h 1

II.Duyên sanh pháp PAGEREF _Toc114421098 \h 5

III. Quán năm trí tuệ PAGEREF _Toc114421099 \h 10

IV. Đạo lộ bậc Chánh giác PAGEREF _Toc114421100 \h 17

Sự nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si

Người tu chúng ta phải nhìn nhận được những cảm giác tham dục sanh khởi lên như thế nào, cảm giác nóng giận có mặt thì lúc đó ra sao. Khi có cảm giác si mê, hôn trầm, thùy miên thì chúng ta phải tập nhìn thấy, nhận diện nó. Vì trong sự tu học theo tinh thần kinh tạng Nikāya, chỗ cốt lõi là nhìn thấy được sự cấu nhiễm của tâm – đây là chỗ quan trọng nhất, là lõi của tạng kinh.

Khi Bồ Tát Tất-Đạt-Đa ngồi thiền dưới cội bồ đề, Ngài chứng được Bốn Thánh trí về Ngũ uẩn, kế đến chứng Bốn Thánh trí về Lậu hoặc và sau đó Ngài thành tựu Tam Minh. Cho nên, chúng ta đã học nhận diện năm uẩn và lần trước chính là chúng ta thực tập nhận diện về lậu hoặc. Chúng ta đang học về pháp hành theo kinh tạng Nikāya, đây là những phương pháp thực tập, thực hành rất là quan trọng cho sự tu học của chúng ta. Ngày xưa, Minh Thành học ở Sài Gòn mười năm, tốt nghiệp xong nhưng cũng không biết làm sao tu, không biết làm sao thực hành, vì quá nhiều pháp nên không biết thực hành pháp nào. Những năm sau đó, Minh Thành rất thao thức và trăn trở trong việc tìm được đạo lộ tu tập của Đức Phật, Minh Thành có nói trong lời tựa của quyển “Nghi Thức Tu Học Nikāya”, đến ngày giờ này, Minh Thành đã giải quyết được vấn đề này và bây giờ Minh Thành sẽ chia sẻ lại cho chúng ta về pháp hành, pháp thực tập. Chúng ta sẽ học tổng quát: thực tập nhận diện năm uẩn; tham, sân, si ở đâu; tại sao tham, sân, si sanh khởi; phương pháp nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si.

Ngày hôm nay, chúng ta tiếp tục tìm hiểu các tầng sâu thẳm theo lời dạy của Đức Phật về tham, sân, si. Tham, sân, si không phải chuyện đơn giản giống như mình đang nghĩ tưởng, mà tham, sân, si hết sức khủng khiếp, hết sức thâm độc, đầy tác hại và hiểm nguy, đó là tai nạn và khủng bố trên toàn cầu. Tất cả hữu tình, chúng sanh có mặt trong trái đất này và toàn bộ chúng ta đều là nạn nhân của tham, sân, si. Có thể quý thầy, quý cô nghĩ rằng chúng ta đang ngồi đây thì không có tham, sân, si, nhưng không phải, nghĩ như vậy là suy nghĩ của phàm phu, không phải là bậc Đa văn Thánh đệ tử.

Như đã học quán chiếu về cảm thọ, chúng ta biết trong lạc thọ có tham tùy miên, trong khổ thọ có sân tùy miên, trong bất khổ bất lạc thọ có si tùy miên, như vậy, ba cảm thọ đó bao trùm tất cả các cảm giác. Cho nên không có lúc nào chúng ta không có tham, sân, si, không có lúc nào chúng ta tách rời cảm thọ, lúc nào chúng ta cũng dính vào tham, sân, si. Chẳng qua, ta chỉ nhìn thấy khi chúng phát lên một cách mạnh mẽ, mãnh liệt, mà không nhìn thấy tham, sân, si trong sự sanh khởi nhỏ nhiệm, khi chúng còn là mầm mống vận hành trong ngũ uẩn. Chính vì vậy, sự tu học của chúng ta thật sự chỉ có nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, làm xong điều đó là thành tựu Thánh quả. Minh Thành sẽ dẫn chứng một loạt bài kinh cho quý thầy, quý cô nghe, có rất nhiều bài, nhưng Minh Thành chỉ nhắc đến những bài ngắn gọn.

Bài kinh “Một Tỷ Kheo Khác 1”, Tương Ưng Bộ Kinh V:

Một Tỷ-kheo đi đến và bạch với Thế Tôn:

--"Phạm hạnh, Phạm hạnh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm hạnh? Thế nào là cứu cánh Phạm hạnh?

-- Này Tỷ-kheo, con đường Thánh đạo Tám ngành này là Phạm hạnh, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Tỷ-kheo, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây là cứu cánh Phạm hạnh.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập V, Chương I. Tương Ưng Ðạo I. Phẩm Vô Minh, bài kinh Một Tỷ Kheo Khác 1)

“Phạm hạnh” là đức hạnh trong sạch của người tu, là những hành động đưa đến một đời sống cao thượng, thánh thiện, Đức Phật gọi đó là Bát Chánh Đạo. “Cứu cánh Phạm hạnh” tức là tột cùng của đời sống cao thượng, thánh thiện của người xuất gia, đó chính là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si.

Bài kinh “Một Tỷ Kheo Khác 2”, Tương Ưng Bộ Kinh V:

Một vị Tỷ-kheo đi đến và bạch với Đức Phật:

"Nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Ðồng nghĩa với gì, bạch Thế Tôn, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si?

-- Ðồng nghĩa với Niết-bàn giới là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc.

Niết-bàn giới tức là cảnh giới Niết-bàn, nhiếp phục tham, sân, si chính là cảnh giới Niết-bàn.

Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Bất tử, bất tử", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Thế nào là bất tử, bạch Thế Tôn? Thế nào là con đường đưa đến bất tử?

-- Ðoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này Tỷ-kheo, được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến bất tử, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập V, Chương I. Tương Ưng Ðạo I. Phẩm Vô Minh, bài kinh Một Tỷ Kheo Khác 2)

Bài kinh “Sa Môn Hạnh 1”, Tương Ưng Bộ Kinh V:

-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về Sa-môn hạnh và quả Sa-môn hạnh. Hãy lắng nghe.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn hạnh? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Sa-môn hạnh.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là quả Sa-môn hạnh? Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả, A-la-hán quả. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là quả Sa-môn hạnh.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập V, Chương I. Tương Ưng Ðạo, IV. Phẩm Về Hạnh, bài kinh Sa Môn Hạnh 1)

Bài kinh “Sa Môn Hạnh 2”, Tương Ưng Bộ Kinh V:

--Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về Sa-môn hạnh và mục đích Sa-môn hạnh. Hãy lắng nghe.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn hạnh? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Sa-môn hạnh.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là mục đích Sa-môn hạnh? Này các Tỷ-kheo, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Ðây gọi là mục đích Sa-môn hạnh (sàmannattho).

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập V, Chương I. Tương Ưng Ðạo, IV. Phẩm Về Hạnh, bài kinh Sa Môn Hạnh 2)

Như vậy, chúng ta thấy ở đây có năm phần: Phạm hạnh; cứu cánh Phạm hạnh; bất tử; cảnh giới Niết-bàn; mục đích của Sa-môn hạnh (đầy đủ là Sa-môn hạnh và Sa-môn quả) – tất cả những điều này hướng về một mục đích duy nhất, chính là nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si. Tham, sân, si là một đối tượng cực kỳ quan trọng trong sự tu học. Đối tượng chúng ta hướng đến không phải là Niết-bàn, Niết-bàn là ra khỏi ngũ uẩn, còn chúng ta ở trong ngũ uẩn nên không thể suy tưởng về Niết-bàn. Chỗ nào đoạn tận tham, sân, si đối với ngũ uẩn thì ngay chỗ đó mới chính là Niết-bàn. Tham, sân, si cư trú trong năm uẩn. Tức là tham, sân, si cư trú trong cảm thọ, trong hình sắc, trong cảm giác, trong nghĩ tưởng và trong nhận thức – đó chính là hang ổ, là căn cứ địa, là sào huyệt, là nơi cư trú của tham, sân, si. Tham, sân, si nằm trong ba cảm thọ và có biểu hiện trên thân.

Chúng ta phải ghi chép lại những phần quan trọng, những từ trong kinh phải nắm vững và học thuộc lòng:

Bất tịnh tướng và tịnh tướng – thức ăn cho tham;

Chướng ngại tướng và đối ngại tướng – thức ăn cho sân;

Không phấn khởi, ăn no, uể oải, lười biếng, buồn ngủ – thức ăn cho si, hôn trầm, thùy miên.

Những điều này rất quan trọng trong sự tu học và cũng để sau này chúng ta chia sẻ được chính xác. Tham, sân, si bao trùm trong cuộc sống này. Ví dụ, cả lớp học đang yên tĩnh, bỗng có tiếng xe rồ phóng nhanh bên ngoài, nếu nhìn lại cảm giác, có thể nhiều người sẽ có cảm giác khó chịu, đó chính là sân, cảm giác này rất vi tế. Khi đó, thọ do nhĩ xúc sanh, lỗ tai chỉ cần nghe âm thanh đó, tiếp xúc là sanh ra thọ khó chịu ngay lập tức, cho nên cảm giác sân sanh khởi rất nhanh và vi tế. Nếu không nhìn lại tâm, không quán thọ trên các thọ thì sẽ không biết, cứ tưởng mình không có sân. Tuy mình vẫn ngồi yên, không nói gì hết nhưng bên trong cảm thọ có sự động chuyển, đó chính là sân tùy miên. Mỗi một lần cơ thể sanh khởi lên cảm thọ khó chịu là mỗi một lần sân tùy miên theo đó mà tăng trưởng, phát triển. Mỗi một lần sanh khởi cảm giác vui thích, khoan khoái, sung sướng là mỗi một lần tham tùy miên theo đó tăng trưởng. Đây là chỗ hết sức sâu sắc, chúng ta sẽ mở rộng bằng ví dụ để nhìn thấy.

Duyên sanh pháp

Trong“Kinh Sáu Sáu”, Trung Bộ Kinh III, Đức Phật có dạy:

Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ.

Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước. Tham tùy miên của vị ấy tùy tăng.

Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Sân tùy miên của vị ấy tùy tăng.

Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy, vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng.

Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.

(Trung Bộ Kinh III, 148. Kinh Sáu Sáu)

Câu kinh này rất thâm sâu, không đơn giản để hiểu, chúng ta sẽ bắt đầu khai triển. Minh Thành sẽ lấy một ví dụ thực tế kết hợp với lời kinh cổ, đưa vào đời sống thường nhật để tất cả quý thầy cô có thể nhìn thấy một cách rõ ràng, minh bạch về giáo pháp.

Do duyên có con mắt, có người đẹp, khởi lên sự rõ biết về người đẹp đó – ba điều này cùng một lúc giao thoa với nhau, đây gọi là nhãn xúc – sự tiếp xúc của mắt. Khi tiếp xúc như vậy thì lập tức sanh khởi cảm thọ – thọ do nhãn xúc sanh. Tức là khi chúng ta nhìn thấy một người đẹp, đồ vật đẹp, cảnh đẹp, lập tức mình sanh ra cảm thọ thích, vui, tham, ưa, mến, khoái, muốn, Đức Phật nói đó là:“Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước”. Hoan hỷ là thấy ưa thích, khen ngợi, khoan khoái, thích thú, ưa muốn, tham đắm, như vậy là tham trong người theo cảm giác đó mà tăng lên thêm, cho nên: “Tham tùy miên của vị ấy tùy tăng”. Điều này hết sức sâu sắc và thâm sâu, Minh Thành học ở trường mười năm, đi hỏi đạo mấy mươi năm nhưng không ai dạy cả, mà đọc kinh này không phải dễ hiểu.

Mỗi một lần tiếp xúc với người mà mình cho là đẹp, đáng yêu, đáng thương, khả ái, khả ý, khả lạc, hấp dẫn, liên hệ đến dục thì tham trong người theo đó thêm lên. Cho nên tiếp xúc một lần thì thấy dễ chịu, dễ thương; tiếp xúc thêm lần thứ hai thì tham sanh, ái sanh, sự yêu thích sanh, dục sanh; tiếp xúc thêm lần thứ ba, thứ tư… cho đến khi “đầu cầu nhìn lâu cũng đẹp”. Câu này nghĩa là dưới quê có những cây cầu bằng gỗ đi xuống mé sông, lâu ngày rong rêu, nhưng đi đến chỗ đó, nhìn hoài, lâu ngày cũng thấy đẹp, đó là ái, tham, dục sanh khởi do xúc thường xuyên, nên có những cảm giác dễ chịu, thích thích. Ở đây chỉ mới nói đến người thường, người xấu, nhìn lâu cũng thành đẹp, chưa nói chi đến người đẹp, cảm giác còn dữ dội hơn, không chỉ nhìn mà còn tiếp xúc, ở gần thì “lửa gần rơm không trầy thì trụa”.

Cho nên trong sự tu cần phải hết sức cẩn thận trong xúc và thọ vì nó ghê gớm vô cùng. Điều này các thầy cô cũng học trong Mười Hai Nhân Duyên, nhưng thật ra Mười Hai Nhân Duyên không phải ở quá khứ, vị lai, hiện tại hay theo người ta giải thích, mà chúng ta phải nhìn thấy được trong đời sống hằng ngày mỗi khi tiếp xúc mắt, tai, mũi, lưỡi.

Như đã trình bày về nhãn xúc, khi con mắt tiếp xúc với người đẹp lập tức sanh khởi cảm giác ưa thích, sau đó muốn nắm giữ lâu một chút. Như vậy, do tiếp xúc sanh ra cảm giác ưa thích, muốn nắm giữ và có hình bóng người đó, món đồ đó trong tâm. Người ta có thể chết khi thiếu một người bởi vì tham tùy miên tùy tăng trong lạc thọ. Tham, dục, ái sẽ theo tăng lạc thọ, cho nên, chúng ta nhìn thấy thế gian chạy theo lạc thọ. Chúng ta ăn cũng lạc thọ; đi chơi cũng lạc thọ; được ngủ tới sáng cũng lạc thọ; được cung kính, đảnh lễ, cúng dường cũng lạc thọ; được biểu dương, vỗ tay, nhận bằng tuyên dương công đức cũng lạc thọ và tham tùy miên cũng theo đó mà tăng lên.

Xúc và thọ rất ghê gớm, chính vì vậy, chúng ta đọc trong kinh Nikāya sẽ thấy các vị Thánh tăng, các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật thường độc cư thiền tịnh, thiền tư, thiền định, tránh duyên xúc. Cho nên nhập thất chính là một cách tu. Có người nói dù ở tại thành thị nhưng tu vẫn được, nhưng đó là sai, không biết pháp, hoàn toàn không đúng tinh thần của Đức Phật. Thử ở trong chùa quê một tháng, chỉ tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền, không đi đâu hết chưa chắc ai cũng chịu nỗi. Chúng ta phải cắt duyên xúc, nếu cắt được xúc thì thọ được giảm xuống.

Thái tử Tất-Đạt-Đa sáu năm khổ hạnh hoàn toàn cắt xúc, chính điều này là sự chuẩn bị, sửa soạn phương tiện đưa Ngài đi đến chỗ diệt tận tất cả dục, tham, sân, si. Cho nên, không phải sự khổ hạnh đó hoàn toàn không có lợi ích, mà đó là sự hỗ trợ, tiền phương tiện, sửa soạn, chuẩn bị cho sự chứng ngộ. Vì vậy, tu mà cứ ở chỗ phồn hoa, đô thị, cứ gặp cảnh sắc, duyên người thì cực kỳ khó thành tựu tâm thiền định, khó chứ không phải không thể. Mỗi một lần tiếp xúc, có cảm giác ưa thích, khoan khoái thì tham sẽ theo đó tăng trưởng. Ví dụ, một người ở quê lên Sài Gòn, nhìn thấy cái gì cũng lạ lẫm, mới mẻ, ồn ào, nóng bức, khói bụi. Sau hai, ba năm ở Sài Gòn quen, người này về quê ở sẽ thấy buồn, nhớ Sài Gòn, đó chính là tham miên tùy của vị ấy tùy tăng, ái tùy tăng. Trong tâm cứ thúc giục lên Sài Gòn trở lại, đó là dục của vị ấy tùy tăng. Dù ở đó nhưng tâm không bình an, có sự thúc giục, ưa thích những gì quen thuộc, êm ái, dễ chịu.

Ví dụ, chúng ta có chiếc xe đẹp, căn phòng mình ở có vị trí thoáng, cảnh đẹp, có cây cối, hòn non bộ, khi đó tham tùy miên tùy tăng theo cảm giác dễ chịu, vui sướng đó. Mỗi khi có cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì chúng ta phải nhìn lại, quán chiếu xem trong đó có cái gì và nó nó vận hành ra làm sao. Sau đó, tác ý vô thường, tan hoại, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, tan nát, không có gì đáng ưa thích, ưa thích nó là chết, ưa thích nó là hệ lụy, ưa thích nó là những kiết sử, ưa thích nó là nô lệ cho dục, cho ái, cho tham.

“Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Sân tùy miên của vị ấy tùy tăng”.

Chúng ta đã ví dụ về con mắt, bây giờ đến ví dụ về lỗ tai, Minh Thành sẽ lấy những ví dụ thực tế để kết hợp với lời kinh cổ xưa, đưa vào cuộc sống thường nhật để nhìn ra được các pháp đang vận hành, đang có mặt trong sinh hoạt hằng ngày của chúng ta. Ví dụ, nghe điện thoai reo, chúng ta nhấc máy, vừa nghe thì đầu dây bên kia nói trên đầu trên cổ, chỉ trích, sỉ nhục mình, lúc đó chúng ta có cảm giác bực bội, sân hận, tức tối, nhiệt não, lồng ngực nóng bừng…

Như vậy, do duyên có lỗ tai, có âm thanh, khởi lên sự rõ biết âm thanh – ba thứ này giao thoa, tiếp xúc, tạo thành nhĩ xúc, sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh. Trong Mười Hai Nhân Duyên, không có nói đến sân, nhưng chúng ta phải hiểu một điều sâu sắc, đừng tưởng rằng “Ái” trong Mười Hai Nhân Duyên chỉ là tham, mà ái này còn bao gồm cả sân. Cho rằng người khác xúc phạm, đụng chạm, xem thường, coi mình không ra gì nên mình giận, đó cũng là do chúng ta ái tự ngã. Thế nên, tham và sân chỉ là hai mặt của một bàn tay, chứ không khác nhau. Tại sao người này ghen với người kia? Đó là bởi vì có yêu. Cho nên, khi đọc kinh sách, không phải thấy một chữ nào đó thì chỉ hiểu như vậy, mà thực pháp rất khác. Đó là sự tổ hợp của tham, sân, si, tổ hợp của các cảm thọ, tổ hợp của những sự suy nghĩ, vận hành, tổ hợp của những lậu hoặc, dục, tham, ái.

Khi nghe lời nói sỉ nhục trong cuộc điện thoại thì bừng bừng lên, sân lên, nắm chặt lời nói đó, lòng thù hận hiện hữu, như vậy, “sân tùy miên tùy tăng trong khổ thọ của vị ấy”. Mỗi một lần cảm giác bực dọc, khó chịu sanh khởi lên là mỗi một lần tâm sân theo đó tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển, bành trướng, quảng đại, xâm chiếm, áp đảo, làm thành căn cứ địa, hang ổ, sào huyệt, thành lũy, thành quách ở trong cảm thọ của chúng ta. Nhìn mặt người đó hiền, dễ thương, nhưng thử đụng vào đi rồi sẽ biết, không đơn giản giản như nhìn bên ngoài, nhìn bên ngoài là chết. Đừng “nhìn mặt mà bắt hình dong” vì bên trong con người là một ổ sân, tổ sân, căn cứ địa của sân, sào huyệt của sân, tổng hành dinh của sân, khi gặp nhân, gặp duyên sẽ phát tác, biểu hiện, cảm thọ nổi loạn lên.

Lâu lâu mình cũng vậy, có lúc sân hoặc buồn khởi lên nên không thích tu, chỉ muốn đóng cửa nghỉ, nổi loạn. Cho nên, sân không phải chỉ là sự tức giận, bực bội mà có rất nhiều hình thái, tổ hợp sân, vì vậy mới gọi là sân uẩn. Đức Thế Tôn nói: “Đâm thủng, phá vỡ tham uẩn từ trước đến nay chưa từng đâm thủng, phá vỡ. Đâm thủng, phá vỡ sân uẩn từ trước đến nay chưa từng đâm thủng, phá vỡ. Đâm thủng, phá vỡ si uẩn, vô minh uẩn từ trước đến nay chưa từng đâm thủng, phá vỡ”. Chữ “uẩn” này nghĩa là một đống, một tổ hợp, một sự tập hợp, tụ tập, gom nhóm. Ba đống lớn là tập hợp của tham dục, tập hợp của sân hận, tập hợp của si mê, vô minh. Thân chúng ta là sự tổ hợp của tham, sân, si, chúng cấu kết, mưu sĩ, mưu mô, mưu tính, mưu toán, mưu toan, mưu hại ta nhưng ta không biết. Trong từng cảm giác, từng suy nghĩ, từng nhận thức, chúng ta đều bị tham, sân, si sai khiến, sai xử, áp đảo.

Quán năm trí tuệ

Trong mỗi cảm giác ưa thích, dễ chịu, thích thú, khoan khoái; hay trong cảm giác sân giận, si mê… chúng ta cần phải nhìn một cách sâu sắc bằng tuệ nhãn, bằng trí tuệ và thấy được các cảm thọ đó trong năm loại trí tuệ:

Sự tập khởi

Sự đoạn diệt

Vị ngọt

Sự nguy hiểm

Sự xuất ly.

Như vậy, chúng ta cần phải quán sự tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly đối với tham, sân, si. Tham, sân sanh khởi là do xúc, xúc sanh thọ. Cho nên xúc tập khởi nên thọ, tưởng, hành tập khởi; xúc đoạn diệt nên thọ, tưởng, hành đoạn diệt. Tức là, do tiếp xúc nên sanh ra cảm giác, do tiếp xúc nên sanh ra hình bóng trong tâm, do tiếp xúc nên sanh ra suy nghĩ, nếu không tiếp xúc thì không có cảm giác, không có hình bóng, không có suy nghĩ. Đó là sự tập khởi và sự đoạn diệt.

“Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy, vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng”.

Điều này rất sâu sắc, vi diệu, nhỏ nhiệm! Trong cuộc sống thường ngày, cảm giác sung sướng, khoan khoái và cảm giác bực bội, khó chịu rất ít, nhưng cảm giác thường thường, không khó chịu không dễ chịu, không sướng không khổ thì rất nhiều và chúng ta dễ chết ở cảm giác này. Người mới tu có khi chặn được cảm giác sân, cảm giác dục tham nhưng họ thường bị dính vào cảm giác si mê mà không hay biết. Tới giờ ăn thì lên ăn, tới giờ tụng kinh thì lên tụng kinh, tới giờ ngủ thì đi ngủ, tới giờ học thì đi học… cho rằng như vậy là tốt, không có tham, sân, si, nhưng không phải vậy. Vị ấy cảm giác một cảm thọ không dễ chịu không khó chịu nhưng vị ấy không thấy đúng như thật về năm trí tuệ. Chúng ta không biết tại sao lại có cảm giác không khó chịu không dễ chịu. Đó chính là do xúc nên sanh thọ, nhưng tại sao lại có xúc?

Đức Phật nói do có thân này nên mới có xúc, gồm sáu xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Sáu sự tiếp xúc này có nền tảng nơi thân, nhưng thân này là vô thường, do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, thân này sẽ tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Nếu không tác ý, không thấy được nguồn cơn sanh diệt của các cảm thọ, không thấy vị ngọt của các cảm thọ thì “phàm lạc gì, hỷ gì sanh khởi từ các cảm thọ, đó là vị ngọt của các cảm thọ”.

Ví dụ như chúng ta được ăn một món ngon, lưỡi tiếp xúc với món ăn và sanh ra cảm thọ, đó chính là vị ngọt. Mỗi khi tiếp xúc, có khởi lên cảm giác thích thú, khoan khoái, dễ chịu thì đó chính là vị ngọt. Các cảm thọ luôn biến đổi, vô thường, đó chính là sự nguy hiểm. Không có cảm giác nào còn hoài, vì nó là vô thường, biến đổi, đi đến chỗ chấm dứt, sanh ra và hoại diệt. Chúng ta không thể tìm được cảm giác nào sướng hoài, vì cảm giác luôn sanh diệt, từ xúc sanh ra cảm giác, cho nên, cảm giác này nằm trong quy luật của duyên sanh, vô thường, vô ngã, trống rỗng. Chúng ta cứ thấy vị ngọt mà không thấy được sự nguy hiểm và tác hại của nó nên mình sẽ đau khổ, vì không như thật tri kiến, không thấy biết như thật về các cảm thọ. Chúng ta không thấy vị ngọt và sự nguy hiểm của cảm thọ, trong khi vị ngọt thì ít mà sự nguy hiểm và tác hại thì rất nhiều. Hút thuốc cũng có vị ngọt, chạy xe phân khối lớn cũng có vị ngọt, nam nữ cũng có vị ngọt.

“Này các Tỷ-kheo, do vì có vị ngọt nên chúng sanh mới ưa thích, nhưng do vì có sự nguy hiểm và tác hại cho nên chúng sanh mới nhàm chán, đưa đến sự xuất ly”. Đức Phật không phủ nhận sự vui sướng trong cuộc đời này, điều này rất khó, khi Ngài chưa xuất gia, lúc còn là thái tử, tất cả các vị ngọt Ngài đều nếm trải và Ngài thấy trong đó là sự nguy hại, nói đầy đủ là nguy hiểm và tác hại. Tại vì có sự nguy hại nên chúng sanh có sự nhàm chán, do có sự nhàm chán nên đưa tới sự xuất ly và nhờ xuất ly cho nên có sự giải thoát. Đức Phật dạy rất rõ ràng, không phải cái gì cũng toàn là khổ, mà Đức Phật nói cũng có vị ngọt, nhưng vị ngọt hết sức ngắn ngủi, mong manh, nhỏ bé, nhưng sự nguy hiểm và tác hại của nó thì vô lượng, vô biên, vô cùng, vô tận. Chỉ cần một ánh mắt nhìn thôi là buộc nhau năm chục năm, chỉ cần một cái gật đầu là suốt đời làm người hầu.

Có Phật tử ở bên Mỹ, điện thoại về cho Minh Thành, nói: “Thầy ơi, con xin má đi tu hoài mà má không cho, cho nên con ở tù ba mươi mấy năm rồi. Có chồng, có con, không đi tu được nên ở tù. Ngày xưa biết vậy là con đi tu, giống như mấy thầy mấy cô sung sướng vô cùng, an lạc vô cùng”. Quý thầy, quý cô không sanh con nữa, như vậy là đạt được 50% không còn sanh tử, chữ “tử” – “con” phát âm đồng nghĩa với chữ “tử” – “chết” trong tiếng Hán. “Sanh tử” – “sống chết”, chữ “tử” cũng có nghĩa là con, thoát sanh tử, cũng là không sanh con. Qua đó, chúng ta thấy sự nguy hại của vị ngọt là vô cùng lớn. Mấy cô không đi tu thì giờ này đâu có ngồi đây, mà có thể có năm đứa con, tay bồng tay bế, đứa thì khóc, đứa thì bệnh, đứa thì phải lo đi học, sáng đưa, trưa rước, như vậy là hết cả ngày. Không chỉ bao nhiêu đó, có khi chồng sỉn say về đánh đập, suốt ngày vợ chồng cãi nhau, đánh nhau, một tháng có 30 ngày thì cãi hết 29 ngày, đó chính là sự nguy hiểm và tác hại, còn lúc mới quen thì chỉ thấy vị ngọt, tưởng tượng, ảo tưởng.

Khuyên đừng đem dạ tưởng mơ,

Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây.

Rút gươm huệ dứt dây tham ái,

Kíp tìm thầy cầu phái quy y.

Kiên trì ngũ giới tam quy,

Mở lòng từ nhẫn, sân si phải chừa.

(Kệ Hồi Tâm – Hòa Thượng Huệ Đăng)

Nếu không có sự nhàm chán thì không đưa đến sự xuất ly. Trong sự tu học, phải quán thật mạnh, thật sung mãn về sự nguy hại, như vậy sẽ đưa chúng ta đến nhàm chán và xuất ly. Khi chán rồi thì ít muốn, không muốn có chồng có con, không muốn có vợ có con, vì không muốn nên nhàm chán, xuất ly, ra khỏi. Trong sự tu hành, sự xuất ly ra khỏi tham, sân, si cũng giống như vậy. Chúng ta phải quán nguy hại của tham, sân, si cho thật sung mãn, từ đó dần dần xuất ly ra khỏi tham, sân, si. Còn ai thấy tham, sân, si không có gì nguy hiểm, tham, sân, si chỉ bình thường thì sẽ không thể nào xuất ly khỏi tham, sân, si được.

Như vậy, chúng ta đã thấy được ba cảm thọ mà tham, sân, si theo đó tăng trưởng, phát triển: trong cảm giác vui sướng thì tham, ái, dục tăng; trong cảm giác khó chịu thì sân theo đó tăng trưởng, phát triển, lớn mạnh; trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu, không vui không khổ, vô minh tùy theo đó tăng trưởng. Cảm giác không dễ chịu không khó chịu ghê gớm lắm, chúng ta thường xuyên ở trong cảm giác này, hàng ngày sống trong vô minh, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi thế. Tại sao? Thứ nhất, chúng ta không biết cảm thọ là cảm thọ, cứ thấy bình thường, không thấy có cái gì vui hay khổ, không thấy có cái gì dễ chịu hay khó chịu, không biết rằng lúc đó chính là đang có cảm thọ bất khổ bất lạc hiện hữu trong thân tâm. Như vậy, đầu tiên là do chúng ta không nhận diện được cảm thọ, không phân loại được cảm thọ. Trong cảm thọ bất khổ bất lạc không thấy được thọ, tưởng, hành, thức vận hành như thế nào, mà lúc đó suy nghĩ rằng mình đang ở trong cảm giác an ổn, được bình an.

Mùa mưa ta ở đây

Đông, hạ cũng ở đây,

Người ngu tâm tưởng vậy,

Không tự giác hiểm nguy.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Đạo)

Chính bản thân đang bị điều gì mà mình còn không tự biết thì làm sao cảm giác bất khổ bất lạc thọ này là an ổn được. Có thể cơ thể mình đang trúng độc, xung quanh thì dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt, sóng thần, vừa mới đây lại có thêm dịch bệnh lạ ở Ấn Độ, gần 300 người tự nhiên sùi bọt mép, có người chết, bác sĩ nói mấy chục năm qua chưa từng thấy trường hợp lạ như vậy, xét nghiệm tất cả nhưng cũng chưa biết nguyên nhân. Dịch bệnh này chồng lên dịch bệnh kia, lũ này chồng lên lũ nọ, lụt này tấn công vào lụt kia, như vậy thì làm gì có được cảm giác bình an?

Nhưng chính vô minh làm cho chúng ta cảm thấy bình an, bình thường, an ổn, không cần phải lo lắng, sợ hãi. Vô minh làm chúng ta không thấy được những hiểm họa, tai họa, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan đang rình rập bất cứ nơi đâu: ra đường cũng có nguy hiểm; tập thể dục tại mái hiên cũng nguy hiểm; ngủ trong nhà cũng nguy hiểm; coi phim rồi có thể chết luôn trên giường; xe tải đụng vào làm hàng loạt ngôi nhà bị sập. Vì vậy, nơi nào cũng có hiểm họa và tai nạn đang rình rập chúng ta. Những sự vô thường, tan tóc, bất an, bất ổn, bất thường nơi nào cũng có nhưng chúng ta không thấy, cứ tưởng đó là thường nên vô minh.

Vô thường nhưng tưởng là thường, khổ nhưng tưởng là vui, bất tịnh nhưng tưởng là tịnh, vô ngã nhưng tưởng là ngã – đó chính là tứ đảo, tức là bốn sự điên đảo, đảo lộn, lộn ngược, nhìn sai, trật. Không nhìn thấy sắc này là duyên sanh, duyên hợp; không nhìn thấy những cảm giác là tai họa, chỉ cần một cảm giác sân sanh khởi là đốt cháy nhà, cháy chùa, cháy xưởng, cháy tình nghĩa huynh đệ, anh em, cháy mẹ con, cháy bạn bè, cháy cô bác, chú dì, thầy trò.

Cho nên, chúng ta phải quán chiếu sự nguy hiểm, cảnh giác hiểm nguy trong cảm giác đều đều, để tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, tinh cần giới, dũng mãnh giới. Cần phải có ước muốn sắc bén, nỗ lực tu tập thiện pháp, công đức, Thánh Pháp để xuất ly, viễn ly, xả ly, như vậy mới phá được vô minh tùy miên, nếu không sẽ không phá được. Bây giờ cứ nghĩ mình được an an ổn ổn, rảnh rảnh rang rang, nhàn nhàn hạ hạ, đều đều như vậy thì vô minh tùy miên theo đó tăng trưởng, sự si ám tăng trong cảm giác không khổ không vui. Cho nên, không có lúc nào là an ổn, dù mình đang ngồi trong lớp học như bây giờ nhưng cũng tưởng là an, chỉ cần một người ho mạnh thôi là có thể lây dịch bệnh cho cả lớp. Chưa bao giờ trên cuộc đời này khủng khiếp như bây giờ, chỉ một cái ho thôi là tối về không ngủ được, chỉ ho một tiếng là trên trăm ngàn sinh viên học sinh nghỉ học.

Chỉ có vô minh và si ám mới nghĩ mình đang an ổn, suy nghĩ như vậy là không đúng sự thật, suy nghĩ như vậy là trái ngược với lời Đức Phật dạy, Đức Phật gọi là Phi Như Lý Tác Ý. Còn những suy nghĩ đúng với chân lý, đúng với sự thật, đúng lời Phật dạy, đúng với trí tuệ đúng với Chánh Tri Kiến của bậc Thánh thì suy nghĩ đó gọi là Như Lý Tác Ý. Tức là tự mình tác động tâm ý, tự mình suy nghĩ và làm cho mình phấn khởi, nỗ lực, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác. Còn cứ ngồi bình thường, học cho xong rồi về, không tác ý, ngồi trơ trơ, mê mê, một là vọng tưởng, hai là hôn trầm, trở về ngồi tu hai chục năm, chẳng những minh không sanh khởi mà vô minh tùy miên thêm tăng trưởng.

Cho nên, dù ngồi yên bình thường, nhưng phải biết rằng hiện tại hơn 60 triệu ca nhiễm dịch Covid-19, chết gần 2 triệu người, riêng ở Mỹ, khoảng 2.000 người chết mỗi ngày. Dù mười năm sau cũng không khôi phục lại kinh tế, biết bao người tan nhà nát cửa, biết bao đứa trẻ mất cha, mất mẹ, vợ mất chồng, ông mất bà, bà mất cháu, anh mất em, biết bao cảnh tan thương dâu bể, nước mắt đầy mặt, bứt tóc, đấm ngực kêu trời, biết bao cảnh khổ trên cuộc đời, còn mình cứ ngồi đây vọng tưởng hoài. Chúng ta phải tác ý làm cho bản thân phấn khởi, hân hoan, phải thấu triệt sự thật đang diễn ra trên thế gian này, khi biết được như vậy là xuất ly ra khỏi vô minh tùy miên. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nếu không tác động tâm ý thì pháp không sanh. Cho nên, phải tác động tâm ý giống như chân lý thì trí tuệ mới sanh khởi, như thật tri kiến mới sanh khởi, Thánh tri kiến mới khởi động.

Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, khôn đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.

(Trung Bộ Kinh III, 148. Kinh Sáu Sáu)

Cứ mê đắm trong những cảm giác dễ chịu thì tham tăng theo đó, cứ chất chứa những cảm giác khó chịu thì sân tăng theo đó, cứ ở trong những cảm giác không khó chịu không dễ chịu thì vô minh tăng theo đó. Khi đó, việc phá được vô minh, thành tựu minh, đánh sập, đoạn tận, chấm dứt hoàn toàn tất cả đau khổ là sự kiện không thể xảy ra. Ngược lại, ở trong một cảm giác vui thích, khoan khoái, phải luôn chánh niêm tỉnh giác, Như Lý Tác Ý, thấy được sự nguy hiểm, tác hại của cảm thọ để nó không trói buộc mình. Còn nếu cứ hoan hỷ, ưa thích, tham đắm, mình sẽ bị cảm giác thích thú này trói cột, hệ lụy, ràng buộc, mình sẽ làm tôi tớ, nô lệ cho cảm giác này. Cho nên, phải thoát ra, không muốn ở trong cảm thọ đó, quán xuất ly, viễn ly, xả ly khỏi lạc thọ. Đối với cảm giác sân cũng vậy, chúng ta phải quán xuất ly, viễn ly, xả ly khỏi nó. Còn với cảm giác không khổ không lạc, đều đều, mình phải quán về sự nguy hiểm, tai họa.

Chúng ta không được ưa thích, hoan hỷ, hân hoan, thích thú, khoan khoái, đam mê ở trong ba loại cảm giác này, mà mình muốn thoát ra khỏi nó, muốn nhìn thấy bản chất vô thường, đau khổ, trống rỗng, sanh diệt, tan hoại của các cảm giác, đó là chúng ta thể nhập được Thánh trí huệ ly tham, Thánh trí giác ngộ, Niết-bàn. Trí tuệ của Đức Phật thật sự là một mỏ kim cương vĩ đại, cả địa cầu này không bằng một phần ngàn lời Đức Phật nói trong kinh tạng Nikāya. Kim cương chỉ làm tăng thêm dục, tham, ái, sầu, bi, khổ, ưu, não chứ không giải quyết được vấn đề khổ, chỉ có những lời chân chánh từ bậc Chánh Đẳng Giác mới giúp cho chúng sanh ly tham, giải thoát, chấm dứt khổ đau.

Đạo lộ bậc Chánh giác

Chúng ta sẽ tìm hiểu một bài kinh nổi tiếng, kinh“Bhaddiya”, Tăng Chi Bộ Kinh II để thấy được giá trị của sự nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si quý báu đến nhường nào.

Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli tại Mahàvana trong ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Licchavi Bhaddiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Licchavi Bhaddiya bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: "Là một nhà huyễn thuật, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo".

Thời đó, những lời của Đức Phật giảng quá chân chính, quá chính xác, đó là những chân lý tuyệt đối, cho nên những đạo khác bỏ đạo đang tu để đi theo Đức Phật. Lúc ấy, Bhaddiya mới bạch Thế Tôn rằng vị này nghe người khác nói Đức Phật là nhà huyễn thuật, có bùa, dụ dỗ người khác bỏ đạo của họ để theo Phật.

Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: "Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư, biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo", những người ấy, bạch Thế Tôn, có phải nói đúng ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật. Có phải họ trả lời về pháp hợp với chánh pháp? Và ai là vị đồng pháp, theo đồng một quan điểm, không có lý do để chỉ trích? Bạch Thế Tôn, chúng con không muốn xuyên tạc Thế Tôn".

Nghĩa là: “Người ta đồn Thế Tôn là người có bùa phép, lôi kéo, dụ dỗ đệ tử của những đạo khác. Người ta nói như vậy có đúng không, xin Thế Tôn nói cho con được rõ, để con không nghĩ sai về Thế Tôn”.

Bài kinh này nổi tiểng toàn thế giới, các nhà khoa học, thuyết học, bác học đều lạy dưới chân của tượng Phật khi nghe Đức Phật trả lời:

Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo sư của mình.

Có hai điều chúng ta rất khó thực hiện.

Một là “chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng”, điều này khó vô cùng. Cứ thấy chữ “tôi nghe như vậy” thì nói đó là kinh của Phật, cứ thấy chữ “như thị ngã văn” thì đã cho rằng đó là do Phật nói nhưng chưa chắc. Có người không phải Phật nhưng họ sáng tác và để chữ “như thị ngã văn”, như vậy là người đọc tin theo. Bây giờ cứ nghe đâu là kinh thì tin, cho đó là của Phật, điều này hết sức sai lầm. Chúng ta ở đây tương lai sẽ là những vị giảng sư, pháp sư, trụ trì, Như Lai sứ giả, việc nhìn nhận kinh sách hết sức quan trọng, không được dễ dàng tin.

Hai là “chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo sư của mình”. Dầu cho người đó là người thầy, là bổn sư của mình thì cũng phải xét lại, không phải là thầy thì nói điều gì ra cũng đúng. Nếu là bậc Dự Lưu Thánh quả, bậc quyết định tánh, bậc minh kiến, bậc đắc pháp nhãn tịnh thì được, còn nếu là bậc chưa thành tựu chánh kiến thì vẫn nói sai như thường, đây là chỗ để so sánh.

Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: "Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này là bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh và khổ đau", thời này Bhaddiya, Ông hãy từ bỏ chúng!

Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya! Lòng tham khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.

- Người này có tham, này Bhaddiya, bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, giết loài hữu tình, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?

- Thưa có, bạch Thế Tôn.

- Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, lòng sân … lòng si … lòng hung bạo khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?

- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.

- Người có lòng hung bạo, này Bhaddiya, bị hung bạo chinh phục, tâm mất tự chủ, giết loài hữu tình, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?

- Thưa có, bạch Thế Tôn.

- Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, các pháp này là thiện hay bất thiện?

- Là bất thiện, bạch Thế Tôn.

- Có tội hay không có tội?

- Có tội, bạch Thế Tôn.

- Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?

- Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.

- Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đem lại bất hạnh đau khổ không, hay ở đây là như thế nào?

- Được thực hiện, được chấp nhận, chúng đem lại bất hạnh đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.

- Như vậy, này Bhaddiya, điều ta vừa nói với các Ông: "chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo sư của mình. Nhưng này Bhaddiya, khi nào tự mình ông biết rõ như sau: "Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này là bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh và khổ đau", thời này Bhaddiya, Ông hãy từ bỏ chúng!". Như vậy, đã được nói lên, chính do duyên này được nói lên như vậy.

Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya! Không tham khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?

- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.

- Người này không tham, này Bhaddiya, không bị tham chinh phục, tâm không mất tự chủ, không giết loài hữu tình, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, không khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?

- Thưa có, bạch Thế Tôn.

Ông nghĩ như thế nào, này Bhaddiya, không sân … không si … không hung bạo khi khởi lên trong một nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?

- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.

Này Bhaddiya, tất cả những bậc Chân nhân tịch tịnh ở đời, khích lệ đệ tử như sau: "Hãy đến, này bạn! Hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham! Do sống nhiếp phục tham, bạn sẽ không làm nghiệp do tham sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục sân! Hãy sồng nhiếp phục sân! Do sống nhiếp phục sân, bạn sẽ không làm nghiệp do sân sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục si! Hãy sống nhiếp phục si! Do sống nhiếp phục si, bạn sẽ không làm nghiệp do si sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy sống nhiếp phục hung bạo! Do sống nhiếp phục hung bạo, bạn sẽ không làm nghiệp do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý!".

Khi được nói như vậy, Bhaddiya người Licchavi bạch Thế Tôn:

- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

Sau cuộc đối thoại này, Bhaddiya sụp xuống, lạy tán thán Đức Phật, xin làm đệ tử, nhưng không phải xin là Đức Phật nhận, chúng ta sẽ thấy cách mà bậc Chánh Đẳng Giác ứng xử là như thế nào. Lúc đầu, Bhaddiya nói là nghe đồn người ta nói Đức Phật có bùa phép, là huyễn thuật sư, đi dẫn dụ những đạo khác đi theo Phật. Sau khi Đức Phật trả lời xong hết những câu hỏi, người này tâm phục khẩu phục, quỳ xuống lạy dưới chân Phật xin làm đệ tử. Để làm sáng tỏ vấn đề lúc đầu, Đức Phật mới hỏi:

- Này Bhaddiya, Ta có nói với Ông như sau: "Hãy đến, này Bhaddiya; hãy đến làm đệ tử của Ta, này Bhaddiya! Ta sẽ là Đạo sư (của Ông)" không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Như vậy, này Bhaddiya, những Sa-môn, Bà-la-môn nói như sau, tuyên bố như sau, những vị ấy là không thiện, trống không, nói láo, xuyên tạc với điều không thật: "Là một nhà huyễn thuật, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo!".

Những người nói Đức Phật là nhà huyễn thuật là nói sai, không tốt lành, là trống rỗng, là nói láo, xuyên tạc sự thật, Đức Phật không phải như vậy. Chính Bhaddiya đến hỏi Đức Phật, vấn nạn Đức Phật, sau khi Phật trả lời thì người này tâm phục khẩu phục, cảm nhận chân lý và tự người này quy ngưỡng, xin làm đệ tử, như vậy có phải Đức Phật dùng bùa phép không? Chính vì vậy, những người nói Đức Phật dùng bùa phép là nói sai sự thật, nói láo, xuyên tạc Ngài.

- Bạch Thế Tôn, hiền thiện là huyễn thuật dụ dỗ này. Bạch Thế Tôn, hiền lành là huyễn thuật dụ dỗ này. Con mong rằng, bạch Thế Tôn, các bà con huyết thống thân ái của con được huyễn thuật dụ dỗ này dụ dỗ. Như vậy, những bà con huyết thống của con tất cả được hạnh phúc an lạc lâu dài!

Tức là Bhaddiya nói nếu được huyễn thuật, được bùa phép của Đức Thế Tôn dụ dỗ thì bà con, cô bác, chú dì, cậu mợ của người này được hạnh phúc, dài lâu.

Bạch Thế Tôn, nếu tất cả những người Sát-đế-lỵ được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài! Bạch Thế Tôn, nếu tất cả người Bà-la-môn … tất cả người Phệ xá … tất cả Thủ đà được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, tất cả các Thủ đà ấy được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!

- Như vậy là phải, này Bhaddiya! Như vậy là phải, này Bhaddiya! Này Bhadiya, nếu tất cả những người Sát-đế-lỵ được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài! Này Bhàddiya, nếu cả người Bà-la-môn … tất cả người Phệ xá … tất cả mọi người Thủ đà được cám dỗ (với sự dụ dỗ này) để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả các Thủ đà được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài! Này Bhaddiya, nếu thế giới cùng với chư Thiên, Màra, Phạm thiên, với quần chúng Sa-môn, Bàla-môn, chư Thiên và loài Người được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy chúng được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!

Này Bhaddiya, nếu các cây sala to lớn này được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, như vậy tất cả cây sala to lớn này được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài nếu chúng có thể suy nghĩ được, còn nói gì với con người! (Tăng Chi Bộ Kinh II, 4. Chương Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, bài kinh Bhaddiya)

Bài kinh này tái hiện lại cuộc đối thoại giữa Đức Phật và một người ngoại đạo không phải đạo Phật. Trong bài kinh này, Đức Phật nói rằng chúng ta đừng vội tin, đừng cả tin, ngay cả dù đó là kinh. Người đời sau soạn ra đủ thứ loại kinh, ngay cả thời Võ Tắc Thiên cũng sáng tác ra kinh mới. Thành ra chúng ta học phải hết sức kỹ, hết sức vững, đọc những lời trong kinh bằng pháp nhãn, nếu không, vô tình sẽ bị lạc hướng mà không biết. Kinh sách nào làm chúng ta khởi lên lòng tham thì đó không phải đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Giác, dầu cho có gán bên ngoài quyển kinh sách đó là gì đi chăng nữa. Kinh sách nào làm chúng ta sanh khởi lòng sân thì đó không phải đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Giác. Kinh sách nào làm chúng ta sanh khởi vô minh, thích thú, khoan khoái, ham muốn, khát ái, say đắm, si mê thì đó không phải đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Giác. Kinh sách nào chỉ dẫn chúng ta nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận lòng tham dục, tham ái, thèm thuồng, ưa muốn, mê thích đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì đó là đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Hãy nhiếp phục tham, hãy sống nhiếp phục tham!

Hãy nhiếp phục sân! Hãy sồng nhiếp phục sân!

Hãy nhiếp phục si! Hãy sống nhiếp phục si!

Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy sống nhiếp phục hung bạo!

Do sống nhiếp phục tham, sân, si, hung bạo, bạn sẽ không làm nghiệp do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý!". Nhờ không gây nghiệp nên sẽ không có quả báo khổ đau và sẽ được bình an, an lạc lâu dài.

Như vậy, chúng ta thấy rằng tham, sân, si có mặt xuyên suốt trong những lời dạy của Đức Phật, nó không giống cách hiểu đơn giản của người thường về tham, sân, si. Trên đây là Minh Thành chỉ mới giảng 60-70% về tham, sân, si. Đến cuối khóa không biết chúng ta còn sống hay không, tuần sau không biết còn ngồi trên bục giảng được hay không, vì vậy, nếu còn duyên Minh Thành sẽ giảng tận cùng về tham, sân, si. Chúng ta phải luôn luôn trú trong vô thường tưởng, vô ngã tưởng, khổ tưởng.

Mời quý thầy cô phát biểu suy nghĩ đối với những lời dạy của Đức Phật về tham, sân, si trong kinh tạng Nikāya.

Sư thầy:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính ngưỡng bái bạch trên giáo thọ sư và đại chúng.

Hôm qua có buổi học về nhận diện cảm thọ, cảm giác, nhờ đó chúng ta có thể nhận biết được tham, sân, si nằm trong cảm giác. Trước giờ chúng ta ít có cảm nhận về cảm giác đó, nhờ được học nên biết được cảm giác đó làm cho tham sanh khởi, sân sanh khởi và si sanh khởi, vậy mà trước giờ mình sống với nó một cách vô tư, không biết được đó là tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Trước giờ mình cứ chạy theo sáu trần, khi nào sân phát xuất ra bên ngoài trầm trọng thì mới biết là mình có sân. Sau khi học những buổi của Thượng tọa dạy, chúng con biết được những cảm giác, cảm thọ của tham, sân, si, biết được nguyên nhân sanh khởi của tham, sân, si, chứ không phải để đến khi có hành động, có lời nói phát ra, động tay động chân mới gọi là tham, sân, si sanh khởi. Những tiết học vừa rồi giúp cho chúng con có cái nhìn mới về những cảm thọ trong đời sống hằng ngày của mình, những cảm thọ mà từ trước đến nay chúng con không nhìn nhận sâu xa ra chúng. Chúng con thành kính tri ân Thượng tọa.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

./.