Không Buông Lung Phóng Dật 3
KHÔNG BUÔNG LUNG PHÓNG DẬT 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ba pháp quan trọng PAGEREF _Toc72225494 \h 1
II.Không buông lung phóng dật PAGEREF _Toc72225495 \h 5
1.Hộ trì các căn PAGEREF _Toc72225496 \h 5
2.Thực tập sống an tịnh PAGEREF _Toc72225497 \h 10
3.Bài kinh “Hội chúng” PAGEREF _Toc72225498 \h 13
III.Bảo hộ thân tâm PAGEREF _Toc72225499 \h 17
Ba pháp quan trọng
Kính thưa quý sư cô và tất cả đại chúng, hơn bao giờ hết thời điểm này là thời điểm phù hợp nhất cho chúng ta tu tập. Chúng ta phải tu tập hết lòng, tu học chí thành, chân thành, bằng tất cả tấm lòng đặt tâm vào pháp. Người muốn có chân đứng trong pháp và luật thì người đó phải có căn bản và đạo đức.
Tại sao chúng ta tu không thể tiến bộ? Vì tâm mình chưa hiền thiện, chưa hiền lành, chưa mềm dịu, nhu nhuyến. Một cái tâm không hiền dịu, không hiền hòa, hiền từ thì tâm đó rất khó thực tập pháp và tu không tiến. Cho nên, chúng ta thấy chính tự thân mình hoặc những người xung quanh có những người tu hoài không tiến vì chưa thành tựu những điều căn bản. Căn bản của dòng pháp này chính là đạo đức, đức hạnh, giới hạnh, nết hạnh. Và căn bản đó là người con hiếu thảo, là người vợ sống có tình có nghĩa, là người mẹ có trách nhiệm bổn phận, là người anh chị biết bảo bọc, thương yêu.
Vì vậy, chúng ta phải học kĩ bài kinh “Giáo thọ Thi-ca-la-việt” trong Trường Bộ Kinh, trong đó Đức Phật có dạy bổn phận của người cư sĩ và cũng là nền tảng cho người xuất gia. Pháp căn bản phải thành tựu là quy giới, đặt hết lòng tin vào Đức Phật, đặt hết lòng tin vào giáo pháp, đặt hết lòng tin vào những vị tu hành đúng Chánh Pháp. Từ lòng tin đó mới có động lực để giữ gìn tín – giới, luôn hoàn thiện nhân cách đạo đức, nết hạnh của một người tu.
Ba pháp tuyệt đối quan trọng là tri ân, sám hối và phát nguyện. Những người có ơn với mình mà mình cứ sân hận, cứ nghĩ xấu, cứ nhìn những phương diện tiêu cực thì làm sao tu? Người chồng, cha mẹ mình thương mình, lo lắng cho mình 70 phần, chỉ có khuyết điểm 30 phần, thế là mình không nhớ 70 phần công đức, công lao, sự quan tâm, hướng dẫn, dạy dỗ, giáo dục, giáo dưỡng mà mình cứ nhớ cái tiêu cực, nhớ cái dở, cái lỗi, cái khuyết điểm thì tâm không yên được và tất nhiên tâm sẽ bất an, tâm không hiền. Có cái nhìn tà kiến như vậy thì trí huệ làm sao thành tựu, làm sao có được thiền định?
Chính vì vậy, cái nhìn về sự biết ơn, nhớ ơn là tuyệt đối quan trọng. Khi chúng ta nhìn những người trong nhà, những người sống chung là đại ân nhân thì đó là cái nhìn của bậc chân nhân và chân nhân mới thật là người. Phải nhìn thấy cha mẹ, ông bà chú bác, vợ chồng anh em là đại ân nhân, có khi họ làm cho mình khổ đau cũng là ân nhân vì họ làm cho mình thấy được Khổ Thánh Đế. Mình có được cái nhìn này thì tâm dễ bình an, lắng dịu, yên tịnh. Chúng ta nhìn thấy tất cả mọi người đều là ân nhân, người giúp mình là ân nhân mà người hại mình cũng là ân nhân, một cái là nghịch hạnh thiện tri thức và một cái là thuận hạnh thiện tri thức. Có nhiều người bị đau khổ quá nên mới ngồi đây, có phải nhờ những cái đau khổ đó mà mình ở trong đạo tràng? Có phải nhờ những cái đau khổ đó là mình tầm cầu giáo pháp? Có phải nhờ những cái đau khổ đó mà mình tha thiết tu học không? Cho nên tập nhìn trong mắt ai cũng là ân nhân tác thành cho mình trí tuệ; tác thành cho mình nhẫn lực; tác thành cho mình sự cứng cáp, vững chãi; tác thành cho mình sự thoát ly, viễn ly khỏi thế gian sầu, bi, khổ, ưu, não này. Khi chúng ta nhận diện được năm uẩn sẽ có nhìn nhận chính xác về sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhìn nhận về mình một cách chân thật.
Cách thứ hai chúng ta tu là sám hối chân thành. Phải thành thật, chân chánh, chân thành tha thiết muốn làm sạch bản thân chứ không phải nửa tháng lên lạy là xong, đó chỉ là một hình thức nhắc nhở. Mình luôn phải nhìn lại oai nghi, hành động, nhìn những cảm giác, nhìn trong tâm, nhìn sự vận hành trong đó, nhìn ra được những tập khí, thói quen, những cái xấu dở của bản thân và nhìn được như vậy là có trí tuệ. Người nào lúc nào cũng khoe khoang tôi được cái này, tôi có cái kia thì người đó tu chưa sâu sắc. Người tu sâu sắc là thấy được dục tham ái, thấy được cảm giác sân hận, thấy được sự vô minh dày đặc, thấy được bản ngã to tướng, thấy được những cấu nhiễm rác bẩn trong tâm thì người đó tu hành đắc lực. Thấy được rồi ê chề, não nề, ngao ngán cho một nội tâm bốc mùi, một nội tâm cấu nhiễm, ô nhiễm, uế nhiễm.
Khi nhìn nhận năm uẩn, chúng ta thường trực nhìn lại cảm giác, nghĩ, tưởng của bản thân. Bây giờ mọi người đã nhìn ra những rác bẩn chưa? Đã thấy một nội tâm đầy sân hận chưa? Thấy một nội tâm có bản ngã to đùng chưa? Thấy một nội tâm hơn thưa từng chút một chưa? Thấy những cảm giác, nghĩ tưởng thúc giục, đòi hỏi, khao khát, tìm kiếm chưa? Mình phải nhìn ra được cái nào là khối ung thư nặng nhất trong tâm, rồi trị liệu, giải phẫu, xử lý cái đó trước.
Nội tâm chúng ta là một nội tâm bị bệnh trầm kha rất nặng, tâm bệnh rất cần được điều trị, chữa trị, chăm sóc. Cái tâm này làm khổ mình, cứ suốt ngày suy nghĩ, lo lắng, tìm kiếm, hơn thua hoài, bản ngã, vô minh, si ám cho nên sự tu học của mình là sự gội rửa, quét dọn, lau chùi. Nếu có một người cứ chăm chăm nhìn căn nhà, cứ lau chùi, dọn dẹp thì căn nhà của người này có sạch không? Nếu một người hay bỏ nhà đi lang thang, này đây mai đó, nhìn cảnh này cảnh kia, nhà này nhà nọ thì nhà mình có sạch được không?
Vì vậy, Đức Phật dạy sự tu tập là tinh cần, tinh tấn ở trong nhà để quét, lau, hốt, dọn, chùi… làm tổng vệ sinh. Mỗi khi ngồi thiền để nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng tức là chúng ta đang nhìn vào căn nhà nội tâm của mình, mỗi khi nhìn thấy có rác sân hận thì dùng tác ý mạnh mẽ đánh đuổi những cảm giác, nghĩ, tưởng đó là chúng ta đang quét rác, sạch được rác đó, khi có rác khác sanh khởi lên nữa thì mình tác ý tiếp tục nữa, quán chiếu, quét dọn nữa. Vì thế, ngồi thiền là để nhìn lại căn nhà nội tâm, kiểm tra những ngóc ngách chứ không phải cứ đọc lên thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức rồi nhìn lại cái nào là sắc, cái nào là thọ, tưởng, hành là xong, cái này dành cho người sơ cơ.
Sau khi nhìn thấy cảm giác rồi phải thấy bên trong cảm giác đó là gì, đang có cảm giác gì. Cảm giác của mình tầng tầng lớp lớp như cái bánh da lợn chứ không phải chỉ biết đang có cảm giác vui là xong, cảm giác vui đó có gì trong đó, có tham ái trong đó không, có dính mắc, chấp thủ trong đó không, hữu ái có mặt lúc đó hay không? Nếu có ưa thích, dính mắc, chấp thủ thì mình phải biết "đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự trói trăn, đây là con đường dẫn đến khổ đau" nên thoát ra đi, xuất ly, viễn ly, vì thế nhận diện ngũ uẩn để mình nhìn sâu vào bên trong cảm giác, cốt lõi của tạng kinh Nikāya là bốn thánh trí về lậu hoặc, mình thấy được tham sân si, bản ngã của bản thân là cả một sự nỗ lực tinh cần, tinh tấn, nếu không mình sẽ không thể thấy được.
Quý vị bắt đầu nhìn thấy được tham ái của mình chưa? Đã bắt đầu nhìn thấy cảm giác sân, bực bội chưa? Có thấy thọ thân, thọ tâm chưa? Phải tập nhìn thật kĩ, thật sâu, thật đầy đủ các khía cạnh, góc độ của các cảm giác. Có nhìn thấy như vậy mình mới nỗ lực tẩy rửa và phát nguyện trước Tam Bảo: "Con phải tẩy sạch những cái này, con không muốn phải sống đời sống nhỏ nhen, thấp hèn, hèn hạ, một đời sống cấu nhiễm, đau khổ như vậy. Con muốn khạc nhổ ra những cục đàm, những thứ dơ bẩn làm uế nhiễm tâm. Con muốn sống đời sống trong sạch, hiền thiện, hiền hòa, hiền lương. Con muốn bước theo các bậc hiền thánh, con không chấp nhận sống đời sống tham sân si nhục nhã như vậy".
Mỗi khi sanh khởi lên cảm giác tham sân si thì phải cảm thấy "thật là nhục nhã, thật là thấp hèn, thật là đau khổ cho ta khi phải chất chứa, nuôi dưỡng những cảm giác thấp kém, vô minh phàm phu, ngu si, ác độc này".
Khi sanh khởi lên bản ngã, cái tôi thì mình thấy "nhục quá, quá ư là nhục. Tại sao mình cứ lòng vòng trong cái này không biết chán hay sao? Cứ bản ngã mấy chục năm không thấy xấu hổ hay sao?" Hở chút là ta đây, hơn thua, đó là đời sống thấp kém, mỗi khi những cái này sanh khởi thì mình thấy "nhục nhã, nhục nhã, nhục nhã. Hèn hạ, hèn hạ, hèn hạ". "Cái tâm bệnh hoạn mày là thứ tật nguyền, là thứ tồi bại, tao chán mày quá rồi những cảm giác tham sân si, bản ngã này. Thật là ngu si, mê muội".
Dùng hết các từ mạnh mẽ để đuổi nó ra khỏi thân tâm để trở về cảm giác an tịnh, thanh lương, nhẹ nhàng, ngọt ngào, từ ái. Khi mọi người tu tâm hiền sẽ thấy được sự ngọt ngào, bình an, vì vậy, phải làm sao để tâm mình được như vậy hoài. Bình thường mình thường xuyên thực tập để khi hữu sự mình vẫn trú được trong cái tâm đó, mình thực tập lúc bình thường để lúc có chuyện mình dùng được chứ không phải kêu tu tâm hiền thì hỏi ngược lại "con dữ lắm hay sao mà kêu con tu tâm hiền?". Câu nói này là hiền hay dữ? Câu nói này thể hiện sự hung dữ, tâm ương ngạnh, tâm chống đối cho nên phải diệt được cái tâm này, pháp cũng chống đối chứ đừng nói những cái ngoài thế gian, ngày nào vào tu cũng phải tập tâm hiền.
Minh Thành rất hoan hỉ khi thấy đại chúng tu học an tịnh, lắng dịu như vậy, ngày đầu được như vậy thì cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời cũng phải như vậy. Đây là sự im lặng thánh thiện, sự im lặng hùng tráng, là nét đẹp của người tu, quý vị ngồi thiền và đi thiền hành yên tịnh như vậy rất đẹp, quý vị nghe pháp trong sự chú tâm chánh niệm rất đẹp, đó là pháp trang nghiêm, là sự trang nghiêm của pháp.
Không buông lung phóng dật
Hộ trì các căn
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như phóng dật. Với người phóng dật, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, VI. Phẩm Búng Ngón Tay, 1-10 Tâm Ðược Tu Tập)
Những pháp xấu ác chưa sanh nó sẽ sanh khởi từ chỗ buông lung phóng dật, những pháp thiện đã có bị mất hết cũng từ chỗ buông lung pháp dật.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như không phóng dật. Với người không phóng dật, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, VI. Phẩm Búng Ngón Tay, 1-10 Tâm Ðược Tu Tập)
Điều tuyệt đối quan trọng chính là pháp không buông lung phóng dật. Có rất nhiều bài kinh Đức Phật ví dụ: trong tất cả dấu chân thì dấu chân voi là lớn nhất, trong tất cả các pháp thì không buông lung phóng dật là pháp lớn nhất để tích tụ tất cả các công đức, giống như mái nhà nóc nhọn, tất cả rui mè, kèo cột đều hướng về cái nóc nhọn, cũng vậy, tất cả công đức thiện pháp đều hướng về, quy về, hội tụ về không buông lung phóng dật. Như Lai nhờ không buông lung phóng dật, nhờ tinh cần, tinh tấn mà thành tựu Chánh Giác.
Không phóng dật, này Bà-la-môn là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, phàm có những dấu chân của các loại bộ hành nào, tất cả dấu chân ấy đều được thâu nhiếp trong dấu chân voi. Dấu chân voi được gọi là tối thắng trong các dấu chân ấy, cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như này Bà-la-môn, trong một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui kèo đều hướng về nóc nhọn, thiên về nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, nóc nhọn được gọi là tối thắng trong các vật ấy. Cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật... (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (XI) Không Phóng Dật)
Như vậy thế nào là không buông lung phóng dật và thế nào là buông lung phóng dật? Tại sao mình tu không có kết quả? Thông thường, chúng ta chỉ không phóng dật, không buông lung lúc trong thời khóa tu, còn ra khỏi thời khóa là buông thả, trở lại thói quen hằng ngày, trở lại tập khí cũ, như vậy không phải. Sự không buông lung phóng dật là sự phòng hộ, thu nhiếp sáu căn.
Ví dụ thực tế nhất là tại sao những chỗ dịch bệnh lây lan nhiều nhất là những chỗ chết nhiều nhất? Vì người ta không giữ gìn, không cẩn thận, không chịu khó ở trong nhà, cái tâm muốn đi chơi, muốn giao du, muốn ra ngoài, cái dục thúc giục bên trong, rủ rê bên trong, từ cái dục đó buông lung, "ra chút không sao đâu", ra thì tiếp xúc trúng người mới đi Đà Nẵng về nên phải cách ly hai tuần, đây là ví dụ dễ thấy nhất, cho nên các ác pháp sanh đều do buông lung phóng dật.
Chẳng hạn như con mắt không phòng hộ, không thu nhiếp, gặp gì cũng nhìn nên gặp trúng ánh mắt đang nhìn mình khó chịu, sân hận. Khi thấy ánh mắt đó mình cũng không quay trở về xem cảm giác có khó chịu không để tẩy, nhiếp phục, đằng này mình phóng ra nhìn rồi để ý, về nhà mình lại bị những cái thọ, tưởng, hành đó dẫn dắt. Như vậy, đó là sự buông lung từ trong nhãn căn, buông lung trong sắc, buông lung trong nhãn thức (sự rõ biết các sắc), khi ba pháp hội tụ tạo ra nhãn xúc cũng buông lung. Khi xúc sanh thọ và thọ do nhãn xúc sanh, cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh ra cũng buông lung, rồi tưởng, hành, thức vận hành, như vậy lại tiếp tục một chuỗi buông lung và sanh ra phiền não.
Nếu ngay chỗ đó mình ngăn chặn, phòng hộ, bảo vệ bằng cách trải tâm từ "người này đang có cảm giác khó chịu, họ đang bị khổ vì cảm giác đó, nếu mình không phòng hộ thì mình cũng sẽ khổ vì cảm giác này, đương nhiên mình tu là không muốn khổ nên thương đi, hóa giải cái giận này đi, tan biến cái giận này đi, phát khởi tình thương tâm từ bao phủ người kia". Dùng tâm từ của mình như tấm vải đẹp bao phủ người đó từ đầu đến chân, dùng tâm từ của mình như dòng suối để gội rửa người đó trong dòng suối từ tâm của mình. Dòng suối rất ngọt ngào, mát mẻ, thanh lương, hãy cho đối tượng sân hận và tâm sân hận của mình tắm trong dòng sông tình thương, dòng sông từ tâm, dòng sông của sự tha thứ. Chúng ta đã khổ vì cái tâm này quá nhiều rồi nên không muốn nữa. Cùng nhau tắm mình trong đại dương của từ tâm, trải tâm từ lan tỏa ra cho tới khi nào cảm giác đó hoàn toàn lắng dịu, yên tịnh, trở thành bình thường khi gặp người đó là thành công. Đó là sự phòng hộ, không buông lung phóng dật khi con mắt tiếp xúc với sắc, khi con mắt nhìn thấy sắc thì mình thường phòng hộ, không phóng dật hay bị buông lung, đây là sự khác biệt.
Cho nên có phòng hộ, không buông lung phóng dật thì các ác pháp đã sanh sẽ bị trừ diệt, các ác pháp chưa sanh không thể sanh khởi, các thiện pháp chưa sanh sẽ sanh khởi, các thiện pháp đã sanh sẽ tăng trưởng phát triển quảng đại. Như vậy trong sự phòng hộ, trong sự không buông lung phóng dật, tu tập tâm có sự vận dụng Tứ Chánh Cần, như vậy, không phải các pháp nằm riêng lẻ với nhau mà trong một pháp mình vận dụng có đầy đủ các pháp.
Có khi chỉ vì một tiếng nói, một ánh mắt, một hành động thôi là có thể hủy hoại một sinh mạng, giết hại lẫn nhau. Đó là sự buông lung tới cùng cực để đi đến hủy diệt, tàn hại, tàn phá, đưa con người xuống vực thẳm. Cũng từ pháp buông lung phóng dật, buông thả thân tâm của mình mà con người muốn nói gì cứ nói cho đã miệng, không biết kiềm chế lời nói, không biết kiểm soát lời nói xem lời nói đó phát xuất từ dục, sân, bản ngã. Trong Thanh Quy Đạo Tràng Nikāya có phần nói đúng lúc, nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lời từ ái, nói lời lợi ích. Chúng ta phải kiểm tra những lời nói của mình xem có tương ứng với năm lời nói này không, nếu không tương ứng thì nhiếp phục, phòng hộ và mình diệt tận nó. Khi muốn nói lời thị phi thì "diệt tận đi, mày câm đi", tác ý mạnh mẽ lên thì từ từ diệt được thói quen muốn nói lời thị phi, phê phán. Tất cả những cái này chỉ được một cái tâm rối loạn, được cái miệng buông lung, không có lợi ích gì hết.
Chúng ta tập phòng hộ từ trong cử chỉ, oai nghi: kéo ghế ngồi nhẹ nhàng, khi nói với bạn đạo nhỏ nhẹ, nói những cái cần nói, khi trở về nhà cũng vậy. Một người tài xế lái xe mà lái bằng chân, hay là vừa lái vừa cười giỡn, hoặc là vừa lái vừa nhắn tin điện thoại thì mình không dám ngồi. Chúng ta lái cái tâm cũng giống như vậy, khi mình không cẩn trọng, không chánh niệm thì bất cứ lúc nào mình cũng có thể rơi vào vực sâu tam đồ ác đạo, còn nhẹ sẽ là tham, sân, si, bản ngã, hơn thua, giận hờn với nhau, nhẹ hơn nữa là khó chịu. Đây đều là những thứ rất thực tế để tu tập, tại sao Minh Thành phải nói đến cái điện thoại? Trước lúc giảng đã nhắc tắt tới điện thoại, vì mình không chịu thực hành nên phải nhắc, chừng nào mình thực hành sẽ không nhắc nữa. Khi chúng ta tập được cái không buông lung thì đó là vua của các thiện pháp và công đức.
Tỳ-kheo y chỉ một pháp, này các Tỳ-kheo, năm căn được tu tập, được khéo tu tập. Một pháp ấy là gì? Là không phóng dật.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp không phóng dật? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hộ trì tâm đối với các lậu hoặc và các pháp hữu lậu. Do vị ấy hộ trì tâm đối với các lậu hoặc và các pháp hữu lậu, nên tín căn được tu tập đi đến viên mãn... tuệ căn được tu tập đi đến viên mãn.
Tỳ-kheo y chỉ một pháp như vậy, này các Tỳ-kheo, năm căn được tu tập, đi đến viên mãn. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), VI. Phẩm Thứ Sáu, VI. Y Chỉ, An Trú)
Tức là ngũ căn được thành tựu, mà ngũ căn thành tựu đó là bậc A-la-hán, là bậc Thánh, chỉ từ một pháp y chỉ vào không buông lung phóng dật trong tất cả mọi trường hợp. Tại sao mình buông lung? Vì mình suy nghĩ "nãy giờ tu mệt rồi nên giờ thoải mái đi", ý hành khởi lên và mình nghe theo, đó là sự khác nhau giữa buông lung và không buông lung.
Sáng nay Minh Thành nhìn đại chúng rất đẹp, phải giữ hình ảnh đẹp này nhưng không phải để chụp hình, không phải để quay phim mà là để tu tập, không phải chỉ trong thời khóa mà khi hết thời khóa vẫn chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ, hộ trì căn. Khi mắt nhìn thấy, lỗ tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị cũng tập hộ trì, tất cả những cái tu thì trong đó cái pháp hộ trì phải thành tựu, đó là giới hạnh, đức hạnh của người tu. Đó là lý do tại sao chúng ta lại hòa hợp, trang nghiêm, thanh tịnh. Quý vị có thích tu trong đạo tràng Nikāya không? Vì ai cũng hòa hợp, ai cũng trang nghiêm, ai cũng thanh tịnh, ai cũng giữ gìn thì đó là không buông lung, chỉ cần vài người buông lung thôi là đạo tràng chúng ta thành cặn bã chứ không phải hội chúng tinh ba.
Như vậy, pháp không buông lung này phải tu xuyên suốt cho đến ngày thành tựu chứ không phải chỉ thực tập trong khoảng thời gian nào đó là kết thúc. Nếu thực hành được pháp không buông lung thì gia đình rất hòa thuận, hạnh phúc, ít cãi nhau. Lúc mới quen nhau rất giữ gìn hình ảnh, lời ăn tiếng nói nhưng đến khi về ở chung thì muốn nói gì là nói, chính chỗ này ác pháp sanh khởi, bất thiện sanh khởi, cấu nhiễm, tập khí, lậu hoặc bung ra. Còn lúc đầu nhìn đẹp người đẹp nết, về ở chung thì cái nết đánh chết cái đẹp, cái nết đó là không có phòng hộ, là buông lung phóng dật, cái nết đó là lậu hoặc, tập khí, tham, sân, si, bản ngã.
Có những toilet vào không nghe mùi, được chùi rửa, lau quét hằng ngày, nhưng cũng có những chỗ bước vào không muốn quay lại lần hai. Cái tâm lậu hoặc của mình giống như toilet không lau chùi, không quét dọn thường xuyên nên nó bốc mùi, cho nên thấy pháp là thấy ngay chỗ này. Tức là thấy được cấu nhiễm trong tâm, thấy được tham, sân, si, bản ngã và tu hành là làm sạch những cái đó. Muốn làm sạch thì phương pháp không buông lung phóng dật là tuyệt đối quan trọng.
Cái sân tăng trưởng phát triển quảng đại là vì khi giận mình không phòng hộ, mình buông lung lời nói, hành động nên cái sân tăng trưởng lớn mạnh. Giống như lúc đầu chỉ nấu nướng chút ít thôi nhưng xem thường, không cẩn thận làm lửa cháy lan ra gây hậu quả nghiêm trọng, tâm của mình cũng giống như vậy. Tất cả chuyện trên thế gian có chuyện nào lớn đâu, chỉ cần một cơn giận là tiêu hủy cả địa cầu. Chuyện nào cũng bắt nguồn là việc nhỏ, nếu biết phòng hộ, bảo vệ thì không có gì xảy ra.
Cho nên, hộ trì căn là cực kì quan trọng, tu được cái này mới tu đến cái khác, đây là vỏ ngoài của phạm hạnh, tức là vẻ đẹp của người tu, đạo tràng Nikāya chúng ta nhất định phải thành tựu điều này trên 50% -70% cho đến viên mãn. Minh Thành thấy đạo tràng mình tu mà Minh Thành muốn bước lên lạy vì rất đẹp, có sự cung kính pháp. Khi chúng ta ngồi đó là sự biểu hiện của pháp, tất cả đều là ngũ uẩn nhưng được an trú trong pháp nên ngũ uẩn đó là biểu hiện của pháp đang hành pháp, đang trú, đang sống trong pháp. Nhất định phải trú trong pháp, phải nhiếp phục buông lung phóng dật trong tất cả mọi trường hợp, mọi thời điểm, càng nhiếp phục nhiều chừng nào thì sự bình an, an ổn càng có mặt. Tại sao lên xe hơi phải thắt dây an toàn? Tại sao chạy mô tô phải đội nón bảo hiểm? Tại sao ra nắng phải mang kính mắt? Tại sao chúng ta phải mang giày dép? Tất cả đều phải phòng hộ, tại sao chúng ta biết phòng hộ cái thân, phòng hộ cái đầu, phòng hộ con mắt… mà lại không biết phòng hộ tâm? Trong khi tâm lại là chủ đạo, từ đây mới điều khiển cho năm căn hoạt động, vì thế mà Đức Phật dạy mình phải phòng hộ tất cả sáu căn.
Thực tập sống an tịnh
Trong hàng Thánh chúng của Đức Phật có vị vua A-xà-thế phạm tội giết cha, ông muốn đi tìm bậc Đại Đạo Sư đức hạnh để sám hối. Các quan đại thần giới thiệu rất nhiều người nhưng vua không đồng ý, cuối cùng giới thiệu đến Đức Phật thì vua đã đồng ý gặp thử xem thế nào. Khi vua đến Tinh Xá thì vua sợ nên nói với vị quan "ngươi có mai phục để ám sát ta không? Tại sao ở đây hơn 1000 người mà không nghe thấy tiếng động gì hết, giống như chỗ không có người?", vị quan đại thần nói vua cứ từ từ đi vào. Khi vua bước vào thì sụp xuống lạy ngay lập tức, Đức Thế Tôn ngồi nguy nga như núi chúa, bên trong là hơn 1000 vị Tỳ-kheo ngồi bất động an tịnh.
Lúc bấy giờ Ajàtasattu con bà Videhi, vua xứ Magadha, nhân ngày Bố Tát cảm hứng nói rằng: "Thật khả ái thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật diễm lệ thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật mỹ miều thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật êm dịu thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật điềm lành thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Nay chúng ta nên đến chiêm bái vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, nhờ sự chiêm bái này tâm chúng ta được tịnh tín?" Khi nghe nói vậy, một đại thần tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha: "Tâu Ðại vương, có Pùrana Kassapa (Phú-la Ca-diếp) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pùrana Kassapa này. Chiêm bái Pùrana Kassapa có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Ðại vương, có Makkhali Gosàla (Mặc-già-lê Cù-xá-lợi) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương chiêm bái Makkhali Gosàla này. Chiêm bái vị Makkhali Gosàla có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Ðại vương, có Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa Kỳ-xá-khâm-bà-la) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Ajita Kesakambàli này. Chiêm bái Ajita Kesakambàli có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, còn bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
….
Lúc bấy giờ Jìvaka Komàrabhacca ngồi yên lặng cách Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không xa bao nhiêu. Khi ấy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?
- Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.
- Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.
- Vâng, tâu Ðại vương.
Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
- Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỳ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: "Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỳ-kheo này vậy".
- Ðại vương, hình như tâm trí của Ðại vương nặng nhiều về tình thương thì phải?
- Bạch Thế Tôn, con thương hoàng tử Udàyibhadda rất nhiều. Mong rằng hoàng tử Udàyibhadda cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của chúng Tỳ-kheo này vậy.
Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, đảnh lễ Thế Tôn, chấp tay vái chào chúng Tỳ-kheo, và ngồi xuống một bên. (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa-môn quả)
Sự yên lặng đó là biểu hiện của pháp, đó là hàng Thánh chúng của Đức Phật và mình phải đi theo con đường đó vì mình tu học kinh Nikāya, đừng thả lỏng, đừng buông lung mà hãy tập an tịnh rồi mình sẽ thấy kì tích xuất hiện. Mỗi một bước đi, mỗi một lời nói, hành động của mình đều có sự màu nhiệm trong đó, đều là sự kì diệu, đều là sự an tịnh, từ ái, chứa chan sự từ tâm, chánh niệm tỉnh thực, sự bảo vệ phòng hộ.
Người trí dẹp phóng dật,
Với hạnh không phóng dật,
Leo lầu cao trí tuệ,
Không sầu, nhìn khổ sầu,
Bậc trí đứng núi cao,
Nhìn kẻ ngu, đất bằng.
(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 28)
Mình sẽ sống trong bình an để nhìn thế giới bất an này nếu mình không phóng dật, mình bình an để nhìn người không biết tu sống trong bất an, tai họa. Phòng hộ, hộ trì sẽ sống trong sự an tịnh, lắng dịu ngọt ngào. Khi mình phòng hộ, không buông lung thì lòng tin của mình đối với Tam Bảo sẽ tăng trưởng thành tựu, sự tinh tấn sẽ phát triển vì khi buông lung sẽ không thấy pháp, mình cứ lăng xăng, miệng nói liên tục, tâm nghĩ lung tung thì làm sao mình có thể thấy pháp nên tu hoài không có kết quả. Pháp không hiện rõ nên mình không thể thấy được, mà không thấy thì không nhiếp phục được, mà không nhiếp phục thì làm sao chặn đứng được nguyên nhân của đau khổ?
Bài kinh “Hội chúng”
Thật vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy ưa thích hội chúng, vui thích hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng, ưa thích đồ chúng, vui thích đồ chúng, chuyên tâm ưa thích đồ chúng, vui thích đồ chúng sẽ hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, sự kiện này không xảy ra. Không hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, vị ấy sẽ nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này không xảy ra. Không nắm giữ tướng của tâm, sẽ làm cho viên mãn chánh kiến, sự kiện này không xảy ra. Không làm cho viên mãn chánh kiến, sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này không xảy ra. Không làm cho viên mãn chánh định, sẽ từ bỏ các kiết sử, sự kiện này không xảy ra. Không từ bỏ các kiết sử, sẽ chứng ngộ Niết-bàn, sự kiện này không xảy ra. (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, VII. Phẩm Chư Thiên, (IV) Hội Chúng)
Ở đây Đức Phật nói một người ưa thích đám đông ồn ào, đông vui, náo nhiệt thì người này không thích sống một mình yên tịnh. Người không thích yên tịnh, viễn ly mà người đó nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này không xảy ra. Khi hội chúng chúng ta ngồi yên tịnh thiền định, tức là giờ đó là giờ viễn ly xa lìa sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài để quay về đối diện nội tâm mình. Còn mình ngồi yên không nhìn lại nội tâm thì làm sao mình có thể thấy được tướng của tâm, mà tướng của tâm chính là ngũ uẩn.
Cho nên sự nhận diện năm uẩn tuyệt đối quan trọng, một khi không nhận diện đầy đủ năm uẩn thì mình không thấy hết tất cả khía cạnh phương diện thân tâm, khi thấy không đầy đủ thì làm sao nhiếp phục? Thậm chí đã thấy rồi còn không thể nhiếp phục được vì có những tập khí quá mạnh, quá sâu dày, phải chờ thời gian rèn binh luyện kiếm. Vì vậy, việc yên tịnh tu tập giúp cho chúng ta rất nhiều. Nửa tháng mới vào tu một ngày mà vào tu cũng rối rít, lộn xộn thì làm sao có kết quả, chúng ta tu một ngày phải cho đáng một ngày, tu phải bằng tất cả tấm lòng của mình.
Khóa tu thiền niệm thọ 10 ngày là phải tịnh khẩu trong 10 ngày, khóa tu này do các vị cư sĩ mở ra mà người ta còn làm được. Cho nên Minh Thành rất mong muốn đạo tràng Nikāya ở đây phải làm được để các đạo tràng Nikāya ở nơi khác nhìn theo tu tập, chúng ta phải tập tịnh khẩu cho được, việc này thể hiện không buông lung, chúng ta không thể cứ nói trên miệng mà phải thực hành. Khi vào tu chúng ta đọc thanh quy rõ ràng, nghe rõ ràng như vậy nhưng khi trở ra lại nghĩ chỉ là thanh quy thôi, đó là không cung kính pháp. Chỉ có cung kính pháp mới đạt pháp, mới vào Dự lưu, mới thể nhập vào dòng pháp. Còn Đức Phật nói rồi mình nghe, biết như vậy nhưng nghĩ đó là chuyện trong kinh, còn mình thì đi đường của mình, vì vậy mà tu không thành tựu, cung kính pháp không thành tựu.
Khi tiếp xúc âm thanh phải kiểm tra thật kĩ, khi nghe điện thoại phải nghe cho kĩ, có chánh niệm, phải tinh minh, phải thực hành ba pháp trong khi nghe điện thoại chứ không chỉ thực hành lúc ngồi thiền, phải cực kì cẩn thận khi nghe âm thanh.
Gần 30 năm Minh Thành mới hiểu ra được hai chữ “phóng dật” nên rất bất ngờ. Bất cứ lúc nào không an trú trong quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp thì lúc đó là buông lung phóng dật. Chúng ta không nhìn thấy được oai nghi cử chỉ, không nhìn thấy hơi thở, không nhìn thấy được tứ đại, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi thì đó là buông lung. Mình thấy một tấm thân “tôi” và “của tôi” khả ái, khả lạc, khả hỷ liên hệ đến dục hấp dẫn thì lúc đó là buông lung. Phải nhìn thấy thân này, cục thịt này, nhìn thấy bộ xương này trong đó là một đống bao tử, lá lách, dạ dày… soi gương chỉ thấy cái đầu lâu nên không mê đắm thì lúc đó mới không buông lung, an trú trong pháp.Tuy chưa làm được nhưng mình phải biết mình đang ở chỗ nào.
Bất cứ lúc nào không quán thân trên thân, tức là không nhìn lại oai nghi, cử chỉ, hành động, không nhìn thấy những thứ kết thành cái thân này, không nhìn thấy sự động chuyển của phong đại, vào ra của hơi thở, không nhìn ra những thứ cấu uế, bất tịnh lúc đó là buông lung. Không nhìn thấy các cảm thọ thuộc về khổ thọ, lạc thọ hay phi khổ phi lạc thọ, không nhìn thấy trong cảm thọ lạc có tham, dục, ái, không nhìn thấy trong cảm thọ bất lạc có sân, có khó chịu mà không tác ý, không trừ diệt, đánh đuổi thì đều là buông lung phóng dật. Không nhìn thấy trong nội tâm bây giờ có tham sân si, bản ngã, đến khi thấy vẫn không tác ý diệt tận thì vẫn là buông lung phóng dật. Không nhìn thấy pháp lúc đó có trạch pháp giác chi không, có tinh tấn giác chi không thì vẫn là buông lung.
Chúng ta phải nhìn thấy đâu là thiện pháp và đâu là bất thiện pháp, nếu trong tâm có ác bất thiện pháp thì tác ý tẩy sạch trừ diệt, còn nếu trong tâm có thiện pháp thì hoan hỉ, tinh tấn, tác ý cho lớn mạnh lên. Ví dụ trong tâm đang có tâm từ thì phải biết đang có tâm từ và mình an trú, phát triển, trải rộng tâm từ, đây gọi là quán pháp trên pháp. Nói gọn Tứ Niệm Xứ là nhìn thấy những oai nghi, cử chỉ, hành động của mình, nhìn thấy thành phần cấu tạo, bản chất của thân, thấy những cảm thọ của nội tâm là thiện hay bất thiện, nếu bất thiện thì đánh đuổi, trừ diệt, còn thiện thì phát triển, tăng trưởng quảng đại. Đó là tu tập Tứ Niệm Xứ, trong đó có Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo.
Thấy được đã là Chánh tri kiến. Khi xảy ra chuyện phiền não với nhau mà mình nói với thầy hay với sư huynh, sư tỉ là do người này người kia thì cái thấy đó là tà kiến, không đúng Chánh kiến. Nếu mình thấy do bản ngã của mình nên có mới chuyện này và xin sám hối thì đó là Thánh tri kiến. Vì vậy mà Chánh kiến của mình càng ngày càng trở về hướng nội, Chánh tri kiến là thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc, thấy được nguồn cội phát sanh ra sự việc đó, nguyên nhân thật sự của nó. Khi gặp chuyện khổ thì phải xem sâu vào chuyện đó là do tham ái, chấp thủ thì cái thấy đó là Chánh tri kiến; còn cái thấy mà đổ thừa người này, người kia thì cái thấy đó là tà kiến, vì đó là cái thấy thường tình của thế gian, không phải là cái thấy của trí tuệ. Cái thấy của trí tuệ là đi tìm cội nguồn, căn nguyên gốc rễ của sự kiện đó là do tham ái, chấp thủ. Muốn thấy được như vậy phải xuất phát từ việc không buông lung phóng dật.
Thật vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy không ưa thích hội chúng, không vui thích hội chúng, không chuyên tâm ưa thích hội chúng, không ưa thích đồ chúng, không vui thích đồ chúng, không chuyên tâm ưa thích đồ chúng, không vui thích đồ chúng, không chuyên tâm ưa thích đồ chúng, sẽ hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, sự kiện này có xảy ra. Hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, vị ấy sẽ nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này có xảy ra. Nắm giữ tướng của tâm, sẽ làm cho viên mãn chánh kiến, sự kiện này có xảy ra. Làm cho viên mãn chánh kiến, sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này có xảy ra. Làm cho viên mãn chánh định, sẽ từ bỏ các kiết sử, sự kiện này có xảy ra. Từ bỏ các kiết sử, sẽ chứng ngộ Niết-bàn, sự kiện này có xảy ra. (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, VII. Phẩm Chư Thiên, (IV) Hội Chúng)
Khi không buông lung phóng dật thì sẽ nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này có xảy ra. Tướng của tâm sẽ hiện rõ ra cái nào là thọ; tưởng; hành, trong suy nghĩ có bản ngã, trong thọ có sự thúc giục đi ăn đi chơi rồi mang bệnh. Do sự thu nhiếp, phòng hộ, không buông lung thì các pháp hiện rõ, ngũ uẩn hiện rõ, bốn Thánh trí của lậu hoặc hiện ra, nguyên nhân khổ hiện rõ, đạo lộ để diệt khổ hiện rõ, Tứ Thánh Đế hiện ra, Bát Chánh Đạo hiện ra trong tâm mình. Sự vận dụng 37 Phẩm Trợ Đạo phải cực kì thiện xảo, khéo léo trong mọi trường hợp, không phải mở kinh ra mới có 37 Phẩm Trợ Đạo mà 37 Phẩm Trợ Đạo, Tứ Niệm Xứ, Bốn Thánh Trí Ngũ Uẩn, Bốn Thánh Trí Lậu Hoặc vận hành trong tâm mình trong mỗi sự kiện, hoàn cảnh. Do mình khéo vận dụng ở mức độ nào sẽ thu được kết quả tương xứng theo mức độ ấy.
“Nắm giữ tướng của tâm, sẽ làm cho viên mãn chánh kiến, sự kiện này có xảy ra. Làm cho viên mãn chánh kiến”, Đức Phật dạy mình từng bước một, khi tướng tâm hiện ra rõ ràng và mình nhìn thấy chính xác như vậy thì viên mãn Chánh kiến. Khi Chánh kiến viên mãn, thấy rõ như vậy thì Chánh tư duy tác ý, Chánh tinh tấn nỗ lực mới đưa đến Chánh định viên mãn. Chánh định viên mãn trong sự quán chiếu, tác ý sâu sắc thì các kiết sử được từ bỏ. Kiết sử được từ bỏ, những sự dính mắc, ràng buộc được diệt tận thì đó là chứng ngộ Niết-bàn.
Bảo hộ thân tâm
Minh Thành muốn đại chúng khi trở về nhà ứng dụng trong gia đình của mình. Chúng ta phải tu từ trong ruột tu ra, tu từ trong những người thân của mình. Trong gia đình hiểu ý nhau hết nên mình biết mình bệnh gì và người ở chung với nhau bệnh gì.
Khi tập khí chuẩn bị phát ra thì phải bảo hộ vì vậy mà hộ trì căn rất quan trọng. Khi người hay gây sự, kiếm chuyện với mình lại gần thì mình phải hộ trì căn, trải tâm từ. Giống như thấy giặc đến gần thì phải chuẩn bị vũ khí thì người hay gây thị phi, nói chuyện của người khác lại gần thì mình phải phòng hộ, bảo vệ cẩn thận, thực hành ba pháp, nhận diện ngũ uẩn, trải tâm từ, nhiếp phục cảm thọ, bao nhiêu công phu 'bùa phép' đem ra khai triển thiền quán như đi đánh trận.
Tu là phải như vậy, tu cho nhiệt tình thiết tha bằng cả tấm lòng thì sự tu mới hứng thú, mới đa dạng màu sắc. Tu là cả một ngày đánh vô số trận, chứ không phải tu là lên ngồi thiền rồi bị hôn trầm, tâm tán loạn. Trong khi ngồi thiền phải diệt được hai tên giặc đó, còn không diệt được thì ngồi thiền không thành công cũng không tiến bộ. Phải nhiếp phục được cái đau chân, mỏi lưng, buồn ngủ, nhiếp phục được cái dao động thì mới bắt đầu trú được trong pháp. Vấn đề quan trọng ở đây là phải siêng năng tác ý, luôn luôn tác ý còn không tác ý thì tu mấy chục năm cũng vậy, không thay đổi được.
Bản thân còn nặng về cái gì thì tác gì về cái đó, ví dụ nặng về dục thì tác ý đánh đuổi dục hoài, giống như người bị ung thư phải siêng năng xét nghiệm, siêng năng chữa trị, siêng năng uống thuốc. Mình bị nặng về cái dục thì tác ý sáng đêm, thức dậy là phải tác ý liên tục, đừng để tới lúc khởi lên mới tác ý, bình thường cũng phải tác ý "mày cứ dục ái tham hoài, tham vô lượng vô biên kiếp rồi. Mày tham lò thiêu, cái hòm phải không?". Tác ý cho mạnh mẽ, làm cho phấn chấn tinh thần thì lúc đó tín, tấn, niệm, định, huệ – ngũ căn, ngũ lực được khai triển, tấn căn, tấn lực và tuệ lực được khai triển.
Người nặng về sân thì tắm mình trong biển đại từ bi, tác ý tâm từ để diệt tâm sân, lấy tâm sân làm đề mục tu tập liên tục đến chừng nào tâm sân được nhiếp phục thì thôi. Cũng giống như trị cho hết bệnh mới kết thúc, không thể đang bệnh mà trị nửa chừng không trị nữa thì bệnh sẽ tái phát liên tục, tâm bệnh của mình phải chữa trị như vậy. Đến trước Tam Bảo, trước bậc thiện tri thức khai tâm bệnh của mình ra, nhưng phải nói vào trọng tâm chứ đừng nói sai vấn đề, đừng nói về việc làm ăn, chồng con… mà hãy nói về tâm bệnh, “con bị sân hận chi phối, con còn tham dục, con đau khổ về bản ngã”… để nhận được sự hướng dẫn, chỉ dạy của họ.
Ngày đêm phải đem ác pháp trong tâm ra làm đề mục thiền quán tính nguy hiểm và tác hại của nó. Nặng về bản ngã thì lạy sám hối diệt ngã thường xuyên và ngồi chiêm nghiệm cho thẩm thấu, tự mình tác ý quán chiếu nguy hại bản ngã và tự lấy đề mục đó ra tu liên tục cho đến khi giảm thiểu thì thôi. Thâm nhập vào dòng pháp này tu tập là không có thời gian rảnh, lúc nào cũng có việc để làm, người tu mà nói không có gì để làm thì người này chưa biết tu. Lúc nào cũng phải tác ý thì làm sao có thời gian rảnh.
Lấy tập ghi chép tội lỗi ra, vạch tội ra, bản ngã nặng nề ra sao phải viết ra rồi đem lên đọc trước bàn Phật. Ghi chưa đủ thì lấy máy ghi âm ghi âm lại: "mày hại tao đủ chưa hỡi bản ngã ngu si này? Lúc nào cũng ta đây, vênh váo, lúc nào cũng muốn ăn thua với người ta. Mày tồi bại vừa vừa thôi, tại sao mày hèn hạ quá vậy", ghi âm rồi mở lên nghe hằng ngày để khắc sâu vào não. Việc nghe như vậy gọi là “Vô ngã Thánh ngữ”, nghe cho đến lúc nào bản ngã lắng dịu rồi sau đó lại nghe tiếp và sám hối phát nguyện: "Con nguyện sống khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã", thực hành năm khiêm cho viên mãn, thậm chí niệm "khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường…" để nhắc nhở bản thân. Thực tập như vậy 7 ngày sẽ thấy kết quả ngay lập tức. Tu như vậy trong một giờ đồng hồ thôi người ta nhìn vào cũng sẽ thấy khác lạ ngay, nói chuyện ra thấy dễ thương, ngọt ngào hơn, thậm chí không cần một giờ tu tập mà ngay khi tu thì bản ngã đã được nhìn thấy.
Có một người đang đi thảnh thơi, thong thả mà chợt thấy có vài người nhìn mình thì tự nhiên người đó chột dạ, thay đổi tướng đi "không biết họ nhìn mình có gì không?", bản ngã của mình cũng giống vậy, bị trí tuệ của ngũ uẩn nhìn thấy, bị Thánh trí của lậu hoặc nhìn thấy nên nó bắt đầu rụt rè, e dè, không dám hoành hành ngang ngược như lúc trước, còn giờ mình không biết tu là nó xâm chiếm áp đảo thân tâm, khiến cho vợ chồng giận nhau, mẹ con ở riêng, anh em lại tương tàn… Tu được bản ngã hiền lành, khiêm hạ này rất tuyệt vời.
Mọi người có thấy Phật tử trong đạo tràng Nikāya tu lâu ngồi nghe pháp xúc động nước mắt tuôn tràn đẹp không? Lúc xưa có ai dám ra giữa đại chúng gần trăm người mà hạch tội mình ra không? Lúc xưa mình giấu lỗi mình như kẻ gian giấu bài, còn lỗi của người ta thì mình bới móc như tìm thóc trong gạo; còn giờ tu kinh Nikāya là hạch tội ra giữa đại chúng rồi xin đại chúng chứng minh và lạy xuống. Đó là sự tiến bộ của mình, là sự nhìn thấy rồi nhiếp phục, đánh gục các tên giặc ác độc bên trong nội tâm.
Chúng ta tu hành như những dũng sĩ mạnh mẽ nhiếp phục cấu uế, mình đi theo gót chân của bậc Điều Ngự Sư nên mình phải điều phục, chế ngự chúng nó, không để cho nó điều phục, chế ngự mình. Những rác bận đó đã đè đầu đè cổ mình vô lượng vô biên kiếp rồi, cái dục, cái sân, bản ngã này thống trị mình, hành hạ mình, sai khiến mình làm nô lệ cho nó trong trăm ngàn vạn kiếp, bây giờ mình phải vùng dậy, giành quyền làm chủ thân tâm, không được sống thấp hèn như vậy nữa, dục, tham, ái hoài thì khổ hoài không có ngày chấm dứt.
Chúng ta tập ngồi yên, tập sự an tịnh lắng dịu giữa cuộc đời sầu, bi, khổ, ưu, não, tập thoát ra từ từ để viễn ly, xa lìa, tập tự làm bác sĩ trị bệnh tâm, tự làm điều dưỡng chăm sóc cho nội tâm tật nguyền, èo ọt này. Chúng ta tập làm chiến sĩ, dũng sĩ để đi theo bậc Vô Thượng Sĩ. Nếu đã gặp được pháp này mà không tinh tấn, tinh cần, nỗ lực thì rất uổng phí. Thế giới bây giờ số người chết vì dịch bệnh đã rất nhiều rồi, số người nhiễm bệnh trên 30 triệu người rồi, suốt ngày cứ lẩn quẩn, loanh quanh tìm dục ái, sân hận, bản ngã, hơn thua, mưu mô rồi cuối cùng là một cái thân đầy giòi, bộ xương khô, đống tro tàn, rã nát ra rồi đem theo một cái tâm đầy rẫy những ác nghiệp.
Thật là vô nghĩa cho một đời sống đầy sự sân si này! Vô giá trị là những thị phi này! Chúng ta không làm chuyện vô nghĩa nữa; không làm việc hại mình hại người nữa; không muốn làm việc hành hạ mình, hành hạ người, làm khổ mình làm khổ người nữa. Suốt ngày lo ăn, lo mặc, lo ở, lo bệnh, lo đau, lo già, lo chết là mệt rồi mà giờ còn thêm tham, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, mưu hại, ganh tị… bao nhiêu thứ chồng chất.
Thật là vô nghĩa, vô giá trị là đời sống này, vô ích là những thị phi đó! Hãy dành thời gian thật nhiều để học pháp, hành pháp và chứng đắc giáo pháp. Duy nhất trên thế giới này chỉ có Chánh Pháp của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya mới cứu giúp, mới đưa mình thoát khỏi biển khổ, thoát khỏi đầm lầy của dục, thoát khỏi biển lửa của sân, thoát khỏi trường dạ của bóng đêm hằng muôn thế kỉ của vô minh, Chánh Pháp của Phật mới đập phá nổi ngọn núi bản ngã của ngũ uẩn này. Chỉ có Fhánh trí ngũ uẩn, chỉ có Thánh trí lậu hoặc, chỉ có Thánh trí vô ngã ly tham mới là con đường tối thượng, tối đệ nhất đưa chúng ta thoát ra!
Xin đại chúng hãy nhớ điều kiện để vào dòng pháp này là đạo đức căn bản, tam quy ngũ giới, tri ân nhớ ân, sám hối và phát nguyện. Vua của các pháp đưa đến thành tựu là hộ trì, không buông lung phóng dật, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác, diệt tận bản ngã, siêng năng, nhiệt tâm học pháp và hành pháp. Chúng ta để dành thật nhiều thời gian, tâm huyết, công sức vào Thánh Pháp là không hề uổng phí vì lúc chuẩn bị viên mãn cuộc đời này mình sẽ mỉm miệng cười "Ta đã đem hết tất cả sức lực, trí lực, tâm lực, hạnh lực, nguyện lực để dấn thân vào con đường thánh pháp tối thượng này. Và giờ là thành quả của sự bình yên!".
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tự và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ba pháp quan trọng PAGEREF _Toc72225494 \h 1
II.Không buông lung phóng dật PAGEREF _Toc72225495 \h 5
1.Hộ trì các căn PAGEREF _Toc72225496 \h 5
2.Thực tập sống an tịnh PAGEREF _Toc72225497 \h 10
3.Bài kinh “Hội chúng” PAGEREF _Toc72225498 \h 13
III.Bảo hộ thân tâm PAGEREF _Toc72225499 \h 17
Ba pháp quan trọng
Kính thưa quý sư cô và tất cả đại chúng, hơn bao giờ hết thời điểm này là thời điểm phù hợp nhất cho chúng ta tu tập. Chúng ta phải tu tập hết lòng, tu học chí thành, chân thành, bằng tất cả tấm lòng đặt tâm vào pháp. Người muốn có chân đứng trong pháp và luật thì người đó phải có căn bản và đạo đức.
Tại sao chúng ta tu không thể tiến bộ? Vì tâm mình chưa hiền thiện, chưa hiền lành, chưa mềm dịu, nhu nhuyến. Một cái tâm không hiền dịu, không hiền hòa, hiền từ thì tâm đó rất khó thực tập pháp và tu không tiến. Cho nên, chúng ta thấy chính tự thân mình hoặc những người xung quanh có những người tu hoài không tiến vì chưa thành tựu những điều căn bản. Căn bản của dòng pháp này chính là đạo đức, đức hạnh, giới hạnh, nết hạnh. Và căn bản đó là người con hiếu thảo, là người vợ sống có tình có nghĩa, là người mẹ có trách nhiệm bổn phận, là người anh chị biết bảo bọc, thương yêu.
Vì vậy, chúng ta phải học kĩ bài kinh “Giáo thọ Thi-ca-la-việt” trong Trường Bộ Kinh, trong đó Đức Phật có dạy bổn phận của người cư sĩ và cũng là nền tảng cho người xuất gia. Pháp căn bản phải thành tựu là quy giới, đặt hết lòng tin vào Đức Phật, đặt hết lòng tin vào giáo pháp, đặt hết lòng tin vào những vị tu hành đúng Chánh Pháp. Từ lòng tin đó mới có động lực để giữ gìn tín – giới, luôn hoàn thiện nhân cách đạo đức, nết hạnh của một người tu.
Ba pháp tuyệt đối quan trọng là tri ân, sám hối và phát nguyện. Những người có ơn với mình mà mình cứ sân hận, cứ nghĩ xấu, cứ nhìn những phương diện tiêu cực thì làm sao tu? Người chồng, cha mẹ mình thương mình, lo lắng cho mình 70 phần, chỉ có khuyết điểm 30 phần, thế là mình không nhớ 70 phần công đức, công lao, sự quan tâm, hướng dẫn, dạy dỗ, giáo dục, giáo dưỡng mà mình cứ nhớ cái tiêu cực, nhớ cái dở, cái lỗi, cái khuyết điểm thì tâm không yên được và tất nhiên tâm sẽ bất an, tâm không hiền. Có cái nhìn tà kiến như vậy thì trí huệ làm sao thành tựu, làm sao có được thiền định?
Chính vì vậy, cái nhìn về sự biết ơn, nhớ ơn là tuyệt đối quan trọng. Khi chúng ta nhìn những người trong nhà, những người sống chung là đại ân nhân thì đó là cái nhìn của bậc chân nhân và chân nhân mới thật là người. Phải nhìn thấy cha mẹ, ông bà chú bác, vợ chồng anh em là đại ân nhân, có khi họ làm cho mình khổ đau cũng là ân nhân vì họ làm cho mình thấy được Khổ Thánh Đế. Mình có được cái nhìn này thì tâm dễ bình an, lắng dịu, yên tịnh. Chúng ta nhìn thấy tất cả mọi người đều là ân nhân, người giúp mình là ân nhân mà người hại mình cũng là ân nhân, một cái là nghịch hạnh thiện tri thức và một cái là thuận hạnh thiện tri thức. Có nhiều người bị đau khổ quá nên mới ngồi đây, có phải nhờ những cái đau khổ đó mà mình ở trong đạo tràng? Có phải nhờ những cái đau khổ đó là mình tầm cầu giáo pháp? Có phải nhờ những cái đau khổ đó mà mình tha thiết tu học không? Cho nên tập nhìn trong mắt ai cũng là ân nhân tác thành cho mình trí tuệ; tác thành cho mình nhẫn lực; tác thành cho mình sự cứng cáp, vững chãi; tác thành cho mình sự thoát ly, viễn ly khỏi thế gian sầu, bi, khổ, ưu, não này. Khi chúng ta nhận diện được năm uẩn sẽ có nhìn nhận chính xác về sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhìn nhận về mình một cách chân thật.
Cách thứ hai chúng ta tu là sám hối chân thành. Phải thành thật, chân chánh, chân thành tha thiết muốn làm sạch bản thân chứ không phải nửa tháng lên lạy là xong, đó chỉ là một hình thức nhắc nhở. Mình luôn phải nhìn lại oai nghi, hành động, nhìn những cảm giác, nhìn trong tâm, nhìn sự vận hành trong đó, nhìn ra được những tập khí, thói quen, những cái xấu dở của bản thân và nhìn được như vậy là có trí tuệ. Người nào lúc nào cũng khoe khoang tôi được cái này, tôi có cái kia thì người đó tu chưa sâu sắc. Người tu sâu sắc là thấy được dục tham ái, thấy được cảm giác sân hận, thấy được sự vô minh dày đặc, thấy được bản ngã to tướng, thấy được những cấu nhiễm rác bẩn trong tâm thì người đó tu hành đắc lực. Thấy được rồi ê chề, não nề, ngao ngán cho một nội tâm bốc mùi, một nội tâm cấu nhiễm, ô nhiễm, uế nhiễm.
Khi nhìn nhận năm uẩn, chúng ta thường trực nhìn lại cảm giác, nghĩ, tưởng của bản thân. Bây giờ mọi người đã nhìn ra những rác bẩn chưa? Đã thấy một nội tâm đầy sân hận chưa? Thấy một nội tâm có bản ngã to đùng chưa? Thấy một nội tâm hơn thưa từng chút một chưa? Thấy những cảm giác, nghĩ tưởng thúc giục, đòi hỏi, khao khát, tìm kiếm chưa? Mình phải nhìn ra được cái nào là khối ung thư nặng nhất trong tâm, rồi trị liệu, giải phẫu, xử lý cái đó trước.
Nội tâm chúng ta là một nội tâm bị bệnh trầm kha rất nặng, tâm bệnh rất cần được điều trị, chữa trị, chăm sóc. Cái tâm này làm khổ mình, cứ suốt ngày suy nghĩ, lo lắng, tìm kiếm, hơn thua hoài, bản ngã, vô minh, si ám cho nên sự tu học của mình là sự gội rửa, quét dọn, lau chùi. Nếu có một người cứ chăm chăm nhìn căn nhà, cứ lau chùi, dọn dẹp thì căn nhà của người này có sạch không? Nếu một người hay bỏ nhà đi lang thang, này đây mai đó, nhìn cảnh này cảnh kia, nhà này nhà nọ thì nhà mình có sạch được không?
Vì vậy, Đức Phật dạy sự tu tập là tinh cần, tinh tấn ở trong nhà để quét, lau, hốt, dọn, chùi… làm tổng vệ sinh. Mỗi khi ngồi thiền để nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng tức là chúng ta đang nhìn vào căn nhà nội tâm của mình, mỗi khi nhìn thấy có rác sân hận thì dùng tác ý mạnh mẽ đánh đuổi những cảm giác, nghĩ, tưởng đó là chúng ta đang quét rác, sạch được rác đó, khi có rác khác sanh khởi lên nữa thì mình tác ý tiếp tục nữa, quán chiếu, quét dọn nữa. Vì thế, ngồi thiền là để nhìn lại căn nhà nội tâm, kiểm tra những ngóc ngách chứ không phải cứ đọc lên thân người là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành, rõ biết là thức rồi nhìn lại cái nào là sắc, cái nào là thọ, tưởng, hành là xong, cái này dành cho người sơ cơ.
Sau khi nhìn thấy cảm giác rồi phải thấy bên trong cảm giác đó là gì, đang có cảm giác gì. Cảm giác của mình tầng tầng lớp lớp như cái bánh da lợn chứ không phải chỉ biết đang có cảm giác vui là xong, cảm giác vui đó có gì trong đó, có tham ái trong đó không, có dính mắc, chấp thủ trong đó không, hữu ái có mặt lúc đó hay không? Nếu có ưa thích, dính mắc, chấp thủ thì mình phải biết "đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự trói trăn, đây là con đường dẫn đến khổ đau" nên thoát ra đi, xuất ly, viễn ly, vì thế nhận diện ngũ uẩn để mình nhìn sâu vào bên trong cảm giác, cốt lõi của tạng kinh Nikāya là bốn thánh trí về lậu hoặc, mình thấy được tham sân si, bản ngã của bản thân là cả một sự nỗ lực tinh cần, tinh tấn, nếu không mình sẽ không thể thấy được.
Quý vị bắt đầu nhìn thấy được tham ái của mình chưa? Đã bắt đầu nhìn thấy cảm giác sân, bực bội chưa? Có thấy thọ thân, thọ tâm chưa? Phải tập nhìn thật kĩ, thật sâu, thật đầy đủ các khía cạnh, góc độ của các cảm giác. Có nhìn thấy như vậy mình mới nỗ lực tẩy rửa và phát nguyện trước Tam Bảo: "Con phải tẩy sạch những cái này, con không muốn phải sống đời sống nhỏ nhen, thấp hèn, hèn hạ, một đời sống cấu nhiễm, đau khổ như vậy. Con muốn khạc nhổ ra những cục đàm, những thứ dơ bẩn làm uế nhiễm tâm. Con muốn sống đời sống trong sạch, hiền thiện, hiền hòa, hiền lương. Con muốn bước theo các bậc hiền thánh, con không chấp nhận sống đời sống tham sân si nhục nhã như vậy".
Mỗi khi sanh khởi lên cảm giác tham sân si thì phải cảm thấy "thật là nhục nhã, thật là thấp hèn, thật là đau khổ cho ta khi phải chất chứa, nuôi dưỡng những cảm giác thấp kém, vô minh phàm phu, ngu si, ác độc này".
Khi sanh khởi lên bản ngã, cái tôi thì mình thấy "nhục quá, quá ư là nhục. Tại sao mình cứ lòng vòng trong cái này không biết chán hay sao? Cứ bản ngã mấy chục năm không thấy xấu hổ hay sao?" Hở chút là ta đây, hơn thua, đó là đời sống thấp kém, mỗi khi những cái này sanh khởi thì mình thấy "nhục nhã, nhục nhã, nhục nhã. Hèn hạ, hèn hạ, hèn hạ". "Cái tâm bệnh hoạn mày là thứ tật nguyền, là thứ tồi bại, tao chán mày quá rồi những cảm giác tham sân si, bản ngã này. Thật là ngu si, mê muội".
Dùng hết các từ mạnh mẽ để đuổi nó ra khỏi thân tâm để trở về cảm giác an tịnh, thanh lương, nhẹ nhàng, ngọt ngào, từ ái. Khi mọi người tu tâm hiền sẽ thấy được sự ngọt ngào, bình an, vì vậy, phải làm sao để tâm mình được như vậy hoài. Bình thường mình thường xuyên thực tập để khi hữu sự mình vẫn trú được trong cái tâm đó, mình thực tập lúc bình thường để lúc có chuyện mình dùng được chứ không phải kêu tu tâm hiền thì hỏi ngược lại "con dữ lắm hay sao mà kêu con tu tâm hiền?". Câu nói này là hiền hay dữ? Câu nói này thể hiện sự hung dữ, tâm ương ngạnh, tâm chống đối cho nên phải diệt được cái tâm này, pháp cũng chống đối chứ đừng nói những cái ngoài thế gian, ngày nào vào tu cũng phải tập tâm hiền.
Minh Thành rất hoan hỉ khi thấy đại chúng tu học an tịnh, lắng dịu như vậy, ngày đầu được như vậy thì cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời cũng phải như vậy. Đây là sự im lặng thánh thiện, sự im lặng hùng tráng, là nét đẹp của người tu, quý vị ngồi thiền và đi thiền hành yên tịnh như vậy rất đẹp, quý vị nghe pháp trong sự chú tâm chánh niệm rất đẹp, đó là pháp trang nghiêm, là sự trang nghiêm của pháp.
Không buông lung phóng dật
Hộ trì các căn
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như phóng dật. Với người phóng dật, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, VI. Phẩm Búng Ngón Tay, 1-10 Tâm Ðược Tu Tập)
Những pháp xấu ác chưa sanh nó sẽ sanh khởi từ chỗ buông lung phóng dật, những pháp thiện đã có bị mất hết cũng từ chỗ buông lung pháp dật.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như không phóng dật. Với người không phóng dật, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, VI. Phẩm Búng Ngón Tay, 1-10 Tâm Ðược Tu Tập)
Điều tuyệt đối quan trọng chính là pháp không buông lung phóng dật. Có rất nhiều bài kinh Đức Phật ví dụ: trong tất cả dấu chân thì dấu chân voi là lớn nhất, trong tất cả các pháp thì không buông lung phóng dật là pháp lớn nhất để tích tụ tất cả các công đức, giống như mái nhà nóc nhọn, tất cả rui mè, kèo cột đều hướng về cái nóc nhọn, cũng vậy, tất cả công đức thiện pháp đều hướng về, quy về, hội tụ về không buông lung phóng dật. Như Lai nhờ không buông lung phóng dật, nhờ tinh cần, tinh tấn mà thành tựu Chánh Giác.
Không phóng dật, này Bà-la-môn là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, phàm có những dấu chân của các loại bộ hành nào, tất cả dấu chân ấy đều được thâu nhiếp trong dấu chân voi. Dấu chân voi được gọi là tối thắng trong các dấu chân ấy, cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật là một pháp được tu tập, được làm cho sung mãn, bao trùm và an trú hai lợi ích: lợi ích hiện tại và lợi ích trong tương lai. Ví như này Bà-la-môn, trong một ngôi nhà có nóc nhọn, tất cả rui kèo đều hướng về nóc nhọn, thiên về nóc nhọn, quy tụ về nóc nhọn, nóc nhọn được gọi là tối thắng trong các vật ấy. Cũng vậy, này Bà-la-môn, không phóng dật... (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (XI) Không Phóng Dật)
Như vậy thế nào là không buông lung phóng dật và thế nào là buông lung phóng dật? Tại sao mình tu không có kết quả? Thông thường, chúng ta chỉ không phóng dật, không buông lung lúc trong thời khóa tu, còn ra khỏi thời khóa là buông thả, trở lại thói quen hằng ngày, trở lại tập khí cũ, như vậy không phải. Sự không buông lung phóng dật là sự phòng hộ, thu nhiếp sáu căn.
Ví dụ thực tế nhất là tại sao những chỗ dịch bệnh lây lan nhiều nhất là những chỗ chết nhiều nhất? Vì người ta không giữ gìn, không cẩn thận, không chịu khó ở trong nhà, cái tâm muốn đi chơi, muốn giao du, muốn ra ngoài, cái dục thúc giục bên trong, rủ rê bên trong, từ cái dục đó buông lung, "ra chút không sao đâu", ra thì tiếp xúc trúng người mới đi Đà Nẵng về nên phải cách ly hai tuần, đây là ví dụ dễ thấy nhất, cho nên các ác pháp sanh đều do buông lung phóng dật.
Chẳng hạn như con mắt không phòng hộ, không thu nhiếp, gặp gì cũng nhìn nên gặp trúng ánh mắt đang nhìn mình khó chịu, sân hận. Khi thấy ánh mắt đó mình cũng không quay trở về xem cảm giác có khó chịu không để tẩy, nhiếp phục, đằng này mình phóng ra nhìn rồi để ý, về nhà mình lại bị những cái thọ, tưởng, hành đó dẫn dắt. Như vậy, đó là sự buông lung từ trong nhãn căn, buông lung trong sắc, buông lung trong nhãn thức (sự rõ biết các sắc), khi ba pháp hội tụ tạo ra nhãn xúc cũng buông lung. Khi xúc sanh thọ và thọ do nhãn xúc sanh, cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh ra cũng buông lung, rồi tưởng, hành, thức vận hành, như vậy lại tiếp tục một chuỗi buông lung và sanh ra phiền não.
Nếu ngay chỗ đó mình ngăn chặn, phòng hộ, bảo vệ bằng cách trải tâm từ "người này đang có cảm giác khó chịu, họ đang bị khổ vì cảm giác đó, nếu mình không phòng hộ thì mình cũng sẽ khổ vì cảm giác này, đương nhiên mình tu là không muốn khổ nên thương đi, hóa giải cái giận này đi, tan biến cái giận này đi, phát khởi tình thương tâm từ bao phủ người kia". Dùng tâm từ của mình như tấm vải đẹp bao phủ người đó từ đầu đến chân, dùng tâm từ của mình như dòng suối để gội rửa người đó trong dòng suối từ tâm của mình. Dòng suối rất ngọt ngào, mát mẻ, thanh lương, hãy cho đối tượng sân hận và tâm sân hận của mình tắm trong dòng sông tình thương, dòng sông từ tâm, dòng sông của sự tha thứ. Chúng ta đã khổ vì cái tâm này quá nhiều rồi nên không muốn nữa. Cùng nhau tắm mình trong đại dương của từ tâm, trải tâm từ lan tỏa ra cho tới khi nào cảm giác đó hoàn toàn lắng dịu, yên tịnh, trở thành bình thường khi gặp người đó là thành công. Đó là sự phòng hộ, không buông lung phóng dật khi con mắt tiếp xúc với sắc, khi con mắt nhìn thấy sắc thì mình thường phòng hộ, không phóng dật hay bị buông lung, đây là sự khác biệt.
Cho nên có phòng hộ, không buông lung phóng dật thì các ác pháp đã sanh sẽ bị trừ diệt, các ác pháp chưa sanh không thể sanh khởi, các thiện pháp chưa sanh sẽ sanh khởi, các thiện pháp đã sanh sẽ tăng trưởng phát triển quảng đại. Như vậy trong sự phòng hộ, trong sự không buông lung phóng dật, tu tập tâm có sự vận dụng Tứ Chánh Cần, như vậy, không phải các pháp nằm riêng lẻ với nhau mà trong một pháp mình vận dụng có đầy đủ các pháp.
Có khi chỉ vì một tiếng nói, một ánh mắt, một hành động thôi là có thể hủy hoại một sinh mạng, giết hại lẫn nhau. Đó là sự buông lung tới cùng cực để đi đến hủy diệt, tàn hại, tàn phá, đưa con người xuống vực thẳm. Cũng từ pháp buông lung phóng dật, buông thả thân tâm của mình mà con người muốn nói gì cứ nói cho đã miệng, không biết kiềm chế lời nói, không biết kiểm soát lời nói xem lời nói đó phát xuất từ dục, sân, bản ngã. Trong Thanh Quy Đạo Tràng Nikāya có phần nói đúng lúc, nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lời từ ái, nói lời lợi ích. Chúng ta phải kiểm tra những lời nói của mình xem có tương ứng với năm lời nói này không, nếu không tương ứng thì nhiếp phục, phòng hộ và mình diệt tận nó. Khi muốn nói lời thị phi thì "diệt tận đi, mày câm đi", tác ý mạnh mẽ lên thì từ từ diệt được thói quen muốn nói lời thị phi, phê phán. Tất cả những cái này chỉ được một cái tâm rối loạn, được cái miệng buông lung, không có lợi ích gì hết.
Chúng ta tập phòng hộ từ trong cử chỉ, oai nghi: kéo ghế ngồi nhẹ nhàng, khi nói với bạn đạo nhỏ nhẹ, nói những cái cần nói, khi trở về nhà cũng vậy. Một người tài xế lái xe mà lái bằng chân, hay là vừa lái vừa cười giỡn, hoặc là vừa lái vừa nhắn tin điện thoại thì mình không dám ngồi. Chúng ta lái cái tâm cũng giống như vậy, khi mình không cẩn trọng, không chánh niệm thì bất cứ lúc nào mình cũng có thể rơi vào vực sâu tam đồ ác đạo, còn nhẹ sẽ là tham, sân, si, bản ngã, hơn thua, giận hờn với nhau, nhẹ hơn nữa là khó chịu. Đây đều là những thứ rất thực tế để tu tập, tại sao Minh Thành phải nói đến cái điện thoại? Trước lúc giảng đã nhắc tắt tới điện thoại, vì mình không chịu thực hành nên phải nhắc, chừng nào mình thực hành sẽ không nhắc nữa. Khi chúng ta tập được cái không buông lung thì đó là vua của các thiện pháp và công đức.
Tỳ-kheo y chỉ một pháp, này các Tỳ-kheo, năm căn được tu tập, được khéo tu tập. Một pháp ấy là gì? Là không phóng dật.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp không phóng dật? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hộ trì tâm đối với các lậu hoặc và các pháp hữu lậu. Do vị ấy hộ trì tâm đối với các lậu hoặc và các pháp hữu lậu, nên tín căn được tu tập đi đến viên mãn... tuệ căn được tu tập đi đến viên mãn.
Tỳ-kheo y chỉ một pháp như vậy, này các Tỳ-kheo, năm căn được tu tập, đi đến viên mãn. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), VI. Phẩm Thứ Sáu, VI. Y Chỉ, An Trú)
Tức là ngũ căn được thành tựu, mà ngũ căn thành tựu đó là bậc A-la-hán, là bậc Thánh, chỉ từ một pháp y chỉ vào không buông lung phóng dật trong tất cả mọi trường hợp. Tại sao mình buông lung? Vì mình suy nghĩ "nãy giờ tu mệt rồi nên giờ thoải mái đi", ý hành khởi lên và mình nghe theo, đó là sự khác nhau giữa buông lung và không buông lung.
Sáng nay Minh Thành nhìn đại chúng rất đẹp, phải giữ hình ảnh đẹp này nhưng không phải để chụp hình, không phải để quay phim mà là để tu tập, không phải chỉ trong thời khóa mà khi hết thời khóa vẫn chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ, hộ trì căn. Khi mắt nhìn thấy, lỗ tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị cũng tập hộ trì, tất cả những cái tu thì trong đó cái pháp hộ trì phải thành tựu, đó là giới hạnh, đức hạnh của người tu. Đó là lý do tại sao chúng ta lại hòa hợp, trang nghiêm, thanh tịnh. Quý vị có thích tu trong đạo tràng Nikāya không? Vì ai cũng hòa hợp, ai cũng trang nghiêm, ai cũng thanh tịnh, ai cũng giữ gìn thì đó là không buông lung, chỉ cần vài người buông lung thôi là đạo tràng chúng ta thành cặn bã chứ không phải hội chúng tinh ba.
Như vậy, pháp không buông lung này phải tu xuyên suốt cho đến ngày thành tựu chứ không phải chỉ thực tập trong khoảng thời gian nào đó là kết thúc. Nếu thực hành được pháp không buông lung thì gia đình rất hòa thuận, hạnh phúc, ít cãi nhau. Lúc mới quen nhau rất giữ gìn hình ảnh, lời ăn tiếng nói nhưng đến khi về ở chung thì muốn nói gì là nói, chính chỗ này ác pháp sanh khởi, bất thiện sanh khởi, cấu nhiễm, tập khí, lậu hoặc bung ra. Còn lúc đầu nhìn đẹp người đẹp nết, về ở chung thì cái nết đánh chết cái đẹp, cái nết đó là không có phòng hộ, là buông lung phóng dật, cái nết đó là lậu hoặc, tập khí, tham, sân, si, bản ngã.
Có những toilet vào không nghe mùi, được chùi rửa, lau quét hằng ngày, nhưng cũng có những chỗ bước vào không muốn quay lại lần hai. Cái tâm lậu hoặc của mình giống như toilet không lau chùi, không quét dọn thường xuyên nên nó bốc mùi, cho nên thấy pháp là thấy ngay chỗ này. Tức là thấy được cấu nhiễm trong tâm, thấy được tham, sân, si, bản ngã và tu hành là làm sạch những cái đó. Muốn làm sạch thì phương pháp không buông lung phóng dật là tuyệt đối quan trọng.
Cái sân tăng trưởng phát triển quảng đại là vì khi giận mình không phòng hộ, mình buông lung lời nói, hành động nên cái sân tăng trưởng lớn mạnh. Giống như lúc đầu chỉ nấu nướng chút ít thôi nhưng xem thường, không cẩn thận làm lửa cháy lan ra gây hậu quả nghiêm trọng, tâm của mình cũng giống như vậy. Tất cả chuyện trên thế gian có chuyện nào lớn đâu, chỉ cần một cơn giận là tiêu hủy cả địa cầu. Chuyện nào cũng bắt nguồn là việc nhỏ, nếu biết phòng hộ, bảo vệ thì không có gì xảy ra.
Cho nên, hộ trì căn là cực kì quan trọng, tu được cái này mới tu đến cái khác, đây là vỏ ngoài của phạm hạnh, tức là vẻ đẹp của người tu, đạo tràng Nikāya chúng ta nhất định phải thành tựu điều này trên 50% -70% cho đến viên mãn. Minh Thành thấy đạo tràng mình tu mà Minh Thành muốn bước lên lạy vì rất đẹp, có sự cung kính pháp. Khi chúng ta ngồi đó là sự biểu hiện của pháp, tất cả đều là ngũ uẩn nhưng được an trú trong pháp nên ngũ uẩn đó là biểu hiện của pháp đang hành pháp, đang trú, đang sống trong pháp. Nhất định phải trú trong pháp, phải nhiếp phục buông lung phóng dật trong tất cả mọi trường hợp, mọi thời điểm, càng nhiếp phục nhiều chừng nào thì sự bình an, an ổn càng có mặt. Tại sao lên xe hơi phải thắt dây an toàn? Tại sao chạy mô tô phải đội nón bảo hiểm? Tại sao ra nắng phải mang kính mắt? Tại sao chúng ta phải mang giày dép? Tất cả đều phải phòng hộ, tại sao chúng ta biết phòng hộ cái thân, phòng hộ cái đầu, phòng hộ con mắt… mà lại không biết phòng hộ tâm? Trong khi tâm lại là chủ đạo, từ đây mới điều khiển cho năm căn hoạt động, vì thế mà Đức Phật dạy mình phải phòng hộ tất cả sáu căn.
Thực tập sống an tịnh
Trong hàng Thánh chúng của Đức Phật có vị vua A-xà-thế phạm tội giết cha, ông muốn đi tìm bậc Đại Đạo Sư đức hạnh để sám hối. Các quan đại thần giới thiệu rất nhiều người nhưng vua không đồng ý, cuối cùng giới thiệu đến Đức Phật thì vua đã đồng ý gặp thử xem thế nào. Khi vua đến Tinh Xá thì vua sợ nên nói với vị quan "ngươi có mai phục để ám sát ta không? Tại sao ở đây hơn 1000 người mà không nghe thấy tiếng động gì hết, giống như chỗ không có người?", vị quan đại thần nói vua cứ từ từ đi vào. Khi vua bước vào thì sụp xuống lạy ngay lập tức, Đức Thế Tôn ngồi nguy nga như núi chúa, bên trong là hơn 1000 vị Tỳ-kheo ngồi bất động an tịnh.
Lúc bấy giờ Ajàtasattu con bà Videhi, vua xứ Magadha, nhân ngày Bố Tát cảm hứng nói rằng: "Thật khả ái thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật diễm lệ thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật mỹ miều thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật êm dịu thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật điềm lành thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Nay chúng ta nên đến chiêm bái vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, nhờ sự chiêm bái này tâm chúng ta được tịnh tín?" Khi nghe nói vậy, một đại thần tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha: "Tâu Ðại vương, có Pùrana Kassapa (Phú-la Ca-diếp) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pùrana Kassapa này. Chiêm bái Pùrana Kassapa có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Ðại vương, có Makkhali Gosàla (Mặc-già-lê Cù-xá-lợi) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương chiêm bái Makkhali Gosàla này. Chiêm bái vị Makkhali Gosàla có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Ðại vương, có Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa Kỳ-xá-khâm-bà-la) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Ajita Kesakambàli này. Chiêm bái Ajita Kesakambàli có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, còn bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
….
Lúc bấy giờ Jìvaka Komàrabhacca ngồi yên lặng cách Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không xa bao nhiêu. Khi ấy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?
- Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.
- Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.
- Vâng, tâu Ðại vương.
Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
- Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỳ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: "Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỳ-kheo này vậy".
- Ðại vương, hình như tâm trí của Ðại vương nặng nhiều về tình thương thì phải?
- Bạch Thế Tôn, con thương hoàng tử Udàyibhadda rất nhiều. Mong rằng hoàng tử Udàyibhadda cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của chúng Tỳ-kheo này vậy.
Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, đảnh lễ Thế Tôn, chấp tay vái chào chúng Tỳ-kheo, và ngồi xuống một bên. (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa-môn quả)
Sự yên lặng đó là biểu hiện của pháp, đó là hàng Thánh chúng của Đức Phật và mình phải đi theo con đường đó vì mình tu học kinh Nikāya, đừng thả lỏng, đừng buông lung mà hãy tập an tịnh rồi mình sẽ thấy kì tích xuất hiện. Mỗi một bước đi, mỗi một lời nói, hành động của mình đều có sự màu nhiệm trong đó, đều là sự kì diệu, đều là sự an tịnh, từ ái, chứa chan sự từ tâm, chánh niệm tỉnh thực, sự bảo vệ phòng hộ.
Người trí dẹp phóng dật,
Với hạnh không phóng dật,
Leo lầu cao trí tuệ,
Không sầu, nhìn khổ sầu,
Bậc trí đứng núi cao,
Nhìn kẻ ngu, đất bằng.
(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 28)
Mình sẽ sống trong bình an để nhìn thế giới bất an này nếu mình không phóng dật, mình bình an để nhìn người không biết tu sống trong bất an, tai họa. Phòng hộ, hộ trì sẽ sống trong sự an tịnh, lắng dịu ngọt ngào. Khi mình phòng hộ, không buông lung thì lòng tin của mình đối với Tam Bảo sẽ tăng trưởng thành tựu, sự tinh tấn sẽ phát triển vì khi buông lung sẽ không thấy pháp, mình cứ lăng xăng, miệng nói liên tục, tâm nghĩ lung tung thì làm sao mình có thể thấy pháp nên tu hoài không có kết quả. Pháp không hiện rõ nên mình không thể thấy được, mà không thấy thì không nhiếp phục được, mà không nhiếp phục thì làm sao chặn đứng được nguyên nhân của đau khổ?
Bài kinh “Hội chúng”
Thật vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy ưa thích hội chúng, vui thích hội chúng, chuyên tâm ưa thích hội chúng, ưa thích đồ chúng, vui thích đồ chúng, chuyên tâm ưa thích đồ chúng, vui thích đồ chúng sẽ hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, sự kiện này không xảy ra. Không hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, vị ấy sẽ nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này không xảy ra. Không nắm giữ tướng của tâm, sẽ làm cho viên mãn chánh kiến, sự kiện này không xảy ra. Không làm cho viên mãn chánh kiến, sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này không xảy ra. Không làm cho viên mãn chánh định, sẽ từ bỏ các kiết sử, sự kiện này không xảy ra. Không từ bỏ các kiết sử, sẽ chứng ngộ Niết-bàn, sự kiện này không xảy ra. (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, VII. Phẩm Chư Thiên, (IV) Hội Chúng)
Ở đây Đức Phật nói một người ưa thích đám đông ồn ào, đông vui, náo nhiệt thì người này không thích sống một mình yên tịnh. Người không thích yên tịnh, viễn ly mà người đó nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này không xảy ra. Khi hội chúng chúng ta ngồi yên tịnh thiền định, tức là giờ đó là giờ viễn ly xa lìa sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài để quay về đối diện nội tâm mình. Còn mình ngồi yên không nhìn lại nội tâm thì làm sao mình có thể thấy được tướng của tâm, mà tướng của tâm chính là ngũ uẩn.
Cho nên sự nhận diện năm uẩn tuyệt đối quan trọng, một khi không nhận diện đầy đủ năm uẩn thì mình không thấy hết tất cả khía cạnh phương diện thân tâm, khi thấy không đầy đủ thì làm sao nhiếp phục? Thậm chí đã thấy rồi còn không thể nhiếp phục được vì có những tập khí quá mạnh, quá sâu dày, phải chờ thời gian rèn binh luyện kiếm. Vì vậy, việc yên tịnh tu tập giúp cho chúng ta rất nhiều. Nửa tháng mới vào tu một ngày mà vào tu cũng rối rít, lộn xộn thì làm sao có kết quả, chúng ta tu một ngày phải cho đáng một ngày, tu phải bằng tất cả tấm lòng của mình.
Khóa tu thiền niệm thọ 10 ngày là phải tịnh khẩu trong 10 ngày, khóa tu này do các vị cư sĩ mở ra mà người ta còn làm được. Cho nên Minh Thành rất mong muốn đạo tràng Nikāya ở đây phải làm được để các đạo tràng Nikāya ở nơi khác nhìn theo tu tập, chúng ta phải tập tịnh khẩu cho được, việc này thể hiện không buông lung, chúng ta không thể cứ nói trên miệng mà phải thực hành. Khi vào tu chúng ta đọc thanh quy rõ ràng, nghe rõ ràng như vậy nhưng khi trở ra lại nghĩ chỉ là thanh quy thôi, đó là không cung kính pháp. Chỉ có cung kính pháp mới đạt pháp, mới vào Dự lưu, mới thể nhập vào dòng pháp. Còn Đức Phật nói rồi mình nghe, biết như vậy nhưng nghĩ đó là chuyện trong kinh, còn mình thì đi đường của mình, vì vậy mà tu không thành tựu, cung kính pháp không thành tựu.
Khi tiếp xúc âm thanh phải kiểm tra thật kĩ, khi nghe điện thoại phải nghe cho kĩ, có chánh niệm, phải tinh minh, phải thực hành ba pháp trong khi nghe điện thoại chứ không chỉ thực hành lúc ngồi thiền, phải cực kì cẩn thận khi nghe âm thanh.
Gần 30 năm Minh Thành mới hiểu ra được hai chữ “phóng dật” nên rất bất ngờ. Bất cứ lúc nào không an trú trong quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp thì lúc đó là buông lung phóng dật. Chúng ta không nhìn thấy được oai nghi cử chỉ, không nhìn thấy hơi thở, không nhìn thấy được tứ đại, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi thì đó là buông lung. Mình thấy một tấm thân “tôi” và “của tôi” khả ái, khả lạc, khả hỷ liên hệ đến dục hấp dẫn thì lúc đó là buông lung. Phải nhìn thấy thân này, cục thịt này, nhìn thấy bộ xương này trong đó là một đống bao tử, lá lách, dạ dày… soi gương chỉ thấy cái đầu lâu nên không mê đắm thì lúc đó mới không buông lung, an trú trong pháp.Tuy chưa làm được nhưng mình phải biết mình đang ở chỗ nào.
Bất cứ lúc nào không quán thân trên thân, tức là không nhìn lại oai nghi, cử chỉ, hành động, không nhìn thấy những thứ kết thành cái thân này, không nhìn thấy sự động chuyển của phong đại, vào ra của hơi thở, không nhìn ra những thứ cấu uế, bất tịnh lúc đó là buông lung. Không nhìn thấy các cảm thọ thuộc về khổ thọ, lạc thọ hay phi khổ phi lạc thọ, không nhìn thấy trong cảm thọ lạc có tham, dục, ái, không nhìn thấy trong cảm thọ bất lạc có sân, có khó chịu mà không tác ý, không trừ diệt, đánh đuổi thì đều là buông lung phóng dật. Không nhìn thấy trong nội tâm bây giờ có tham sân si, bản ngã, đến khi thấy vẫn không tác ý diệt tận thì vẫn là buông lung phóng dật. Không nhìn thấy pháp lúc đó có trạch pháp giác chi không, có tinh tấn giác chi không thì vẫn là buông lung.
Chúng ta phải nhìn thấy đâu là thiện pháp và đâu là bất thiện pháp, nếu trong tâm có ác bất thiện pháp thì tác ý tẩy sạch trừ diệt, còn nếu trong tâm có thiện pháp thì hoan hỉ, tinh tấn, tác ý cho lớn mạnh lên. Ví dụ trong tâm đang có tâm từ thì phải biết đang có tâm từ và mình an trú, phát triển, trải rộng tâm từ, đây gọi là quán pháp trên pháp. Nói gọn Tứ Niệm Xứ là nhìn thấy những oai nghi, cử chỉ, hành động của mình, nhìn thấy thành phần cấu tạo, bản chất của thân, thấy những cảm thọ của nội tâm là thiện hay bất thiện, nếu bất thiện thì đánh đuổi, trừ diệt, còn thiện thì phát triển, tăng trưởng quảng đại. Đó là tu tập Tứ Niệm Xứ, trong đó có Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo.
Thấy được đã là Chánh tri kiến. Khi xảy ra chuyện phiền não với nhau mà mình nói với thầy hay với sư huynh, sư tỉ là do người này người kia thì cái thấy đó là tà kiến, không đúng Chánh kiến. Nếu mình thấy do bản ngã của mình nên có mới chuyện này và xin sám hối thì đó là Thánh tri kiến. Vì vậy mà Chánh kiến của mình càng ngày càng trở về hướng nội, Chánh tri kiến là thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc, thấy được nguồn cội phát sanh ra sự việc đó, nguyên nhân thật sự của nó. Khi gặp chuyện khổ thì phải xem sâu vào chuyện đó là do tham ái, chấp thủ thì cái thấy đó là Chánh tri kiến; còn cái thấy mà đổ thừa người này, người kia thì cái thấy đó là tà kiến, vì đó là cái thấy thường tình của thế gian, không phải là cái thấy của trí tuệ. Cái thấy của trí tuệ là đi tìm cội nguồn, căn nguyên gốc rễ của sự kiện đó là do tham ái, chấp thủ. Muốn thấy được như vậy phải xuất phát từ việc không buông lung phóng dật.
Thật vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy không ưa thích hội chúng, không vui thích hội chúng, không chuyên tâm ưa thích hội chúng, không ưa thích đồ chúng, không vui thích đồ chúng, không chuyên tâm ưa thích đồ chúng, không vui thích đồ chúng, không chuyên tâm ưa thích đồ chúng, sẽ hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, sự kiện này có xảy ra. Hoan hỷ sống một mình, sống viễn ly, vị ấy sẽ nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này có xảy ra. Nắm giữ tướng của tâm, sẽ làm cho viên mãn chánh kiến, sự kiện này có xảy ra. Làm cho viên mãn chánh kiến, sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này có xảy ra. Làm cho viên mãn chánh định, sẽ từ bỏ các kiết sử, sự kiện này có xảy ra. Từ bỏ các kiết sử, sẽ chứng ngộ Niết-bàn, sự kiện này có xảy ra. (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, VII. Phẩm Chư Thiên, (IV) Hội Chúng)
Khi không buông lung phóng dật thì sẽ nắm giữ tướng của tâm, sự kiện này có xảy ra. Tướng của tâm sẽ hiện rõ ra cái nào là thọ; tưởng; hành, trong suy nghĩ có bản ngã, trong thọ có sự thúc giục đi ăn đi chơi rồi mang bệnh. Do sự thu nhiếp, phòng hộ, không buông lung thì các pháp hiện rõ, ngũ uẩn hiện rõ, bốn Thánh trí của lậu hoặc hiện ra, nguyên nhân khổ hiện rõ, đạo lộ để diệt khổ hiện rõ, Tứ Thánh Đế hiện ra, Bát Chánh Đạo hiện ra trong tâm mình. Sự vận dụng 37 Phẩm Trợ Đạo phải cực kì thiện xảo, khéo léo trong mọi trường hợp, không phải mở kinh ra mới có 37 Phẩm Trợ Đạo mà 37 Phẩm Trợ Đạo, Tứ Niệm Xứ, Bốn Thánh Trí Ngũ Uẩn, Bốn Thánh Trí Lậu Hoặc vận hành trong tâm mình trong mỗi sự kiện, hoàn cảnh. Do mình khéo vận dụng ở mức độ nào sẽ thu được kết quả tương xứng theo mức độ ấy.
“Nắm giữ tướng của tâm, sẽ làm cho viên mãn chánh kiến, sự kiện này có xảy ra. Làm cho viên mãn chánh kiến”, Đức Phật dạy mình từng bước một, khi tướng tâm hiện ra rõ ràng và mình nhìn thấy chính xác như vậy thì viên mãn Chánh kiến. Khi Chánh kiến viên mãn, thấy rõ như vậy thì Chánh tư duy tác ý, Chánh tinh tấn nỗ lực mới đưa đến Chánh định viên mãn. Chánh định viên mãn trong sự quán chiếu, tác ý sâu sắc thì các kiết sử được từ bỏ. Kiết sử được từ bỏ, những sự dính mắc, ràng buộc được diệt tận thì đó là chứng ngộ Niết-bàn.
Bảo hộ thân tâm
Minh Thành muốn đại chúng khi trở về nhà ứng dụng trong gia đình của mình. Chúng ta phải tu từ trong ruột tu ra, tu từ trong những người thân của mình. Trong gia đình hiểu ý nhau hết nên mình biết mình bệnh gì và người ở chung với nhau bệnh gì.
Khi tập khí chuẩn bị phát ra thì phải bảo hộ vì vậy mà hộ trì căn rất quan trọng. Khi người hay gây sự, kiếm chuyện với mình lại gần thì mình phải hộ trì căn, trải tâm từ. Giống như thấy giặc đến gần thì phải chuẩn bị vũ khí thì người hay gây thị phi, nói chuyện của người khác lại gần thì mình phải phòng hộ, bảo vệ cẩn thận, thực hành ba pháp, nhận diện ngũ uẩn, trải tâm từ, nhiếp phục cảm thọ, bao nhiêu công phu 'bùa phép' đem ra khai triển thiền quán như đi đánh trận.
Tu là phải như vậy, tu cho nhiệt tình thiết tha bằng cả tấm lòng thì sự tu mới hứng thú, mới đa dạng màu sắc. Tu là cả một ngày đánh vô số trận, chứ không phải tu là lên ngồi thiền rồi bị hôn trầm, tâm tán loạn. Trong khi ngồi thiền phải diệt được hai tên giặc đó, còn không diệt được thì ngồi thiền không thành công cũng không tiến bộ. Phải nhiếp phục được cái đau chân, mỏi lưng, buồn ngủ, nhiếp phục được cái dao động thì mới bắt đầu trú được trong pháp. Vấn đề quan trọng ở đây là phải siêng năng tác ý, luôn luôn tác ý còn không tác ý thì tu mấy chục năm cũng vậy, không thay đổi được.
Bản thân còn nặng về cái gì thì tác gì về cái đó, ví dụ nặng về dục thì tác ý đánh đuổi dục hoài, giống như người bị ung thư phải siêng năng xét nghiệm, siêng năng chữa trị, siêng năng uống thuốc. Mình bị nặng về cái dục thì tác ý sáng đêm, thức dậy là phải tác ý liên tục, đừng để tới lúc khởi lên mới tác ý, bình thường cũng phải tác ý "mày cứ dục ái tham hoài, tham vô lượng vô biên kiếp rồi. Mày tham lò thiêu, cái hòm phải không?". Tác ý cho mạnh mẽ, làm cho phấn chấn tinh thần thì lúc đó tín, tấn, niệm, định, huệ – ngũ căn, ngũ lực được khai triển, tấn căn, tấn lực và tuệ lực được khai triển.
Người nặng về sân thì tắm mình trong biển đại từ bi, tác ý tâm từ để diệt tâm sân, lấy tâm sân làm đề mục tu tập liên tục đến chừng nào tâm sân được nhiếp phục thì thôi. Cũng giống như trị cho hết bệnh mới kết thúc, không thể đang bệnh mà trị nửa chừng không trị nữa thì bệnh sẽ tái phát liên tục, tâm bệnh của mình phải chữa trị như vậy. Đến trước Tam Bảo, trước bậc thiện tri thức khai tâm bệnh của mình ra, nhưng phải nói vào trọng tâm chứ đừng nói sai vấn đề, đừng nói về việc làm ăn, chồng con… mà hãy nói về tâm bệnh, “con bị sân hận chi phối, con còn tham dục, con đau khổ về bản ngã”… để nhận được sự hướng dẫn, chỉ dạy của họ.
Ngày đêm phải đem ác pháp trong tâm ra làm đề mục thiền quán tính nguy hiểm và tác hại của nó. Nặng về bản ngã thì lạy sám hối diệt ngã thường xuyên và ngồi chiêm nghiệm cho thẩm thấu, tự mình tác ý quán chiếu nguy hại bản ngã và tự lấy đề mục đó ra tu liên tục cho đến khi giảm thiểu thì thôi. Thâm nhập vào dòng pháp này tu tập là không có thời gian rảnh, lúc nào cũng có việc để làm, người tu mà nói không có gì để làm thì người này chưa biết tu. Lúc nào cũng phải tác ý thì làm sao có thời gian rảnh.
Lấy tập ghi chép tội lỗi ra, vạch tội ra, bản ngã nặng nề ra sao phải viết ra rồi đem lên đọc trước bàn Phật. Ghi chưa đủ thì lấy máy ghi âm ghi âm lại: "mày hại tao đủ chưa hỡi bản ngã ngu si này? Lúc nào cũng ta đây, vênh váo, lúc nào cũng muốn ăn thua với người ta. Mày tồi bại vừa vừa thôi, tại sao mày hèn hạ quá vậy", ghi âm rồi mở lên nghe hằng ngày để khắc sâu vào não. Việc nghe như vậy gọi là “Vô ngã Thánh ngữ”, nghe cho đến lúc nào bản ngã lắng dịu rồi sau đó lại nghe tiếp và sám hối phát nguyện: "Con nguyện sống khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm nhã", thực hành năm khiêm cho viên mãn, thậm chí niệm "khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường…" để nhắc nhở bản thân. Thực tập như vậy 7 ngày sẽ thấy kết quả ngay lập tức. Tu như vậy trong một giờ đồng hồ thôi người ta nhìn vào cũng sẽ thấy khác lạ ngay, nói chuyện ra thấy dễ thương, ngọt ngào hơn, thậm chí không cần một giờ tu tập mà ngay khi tu thì bản ngã đã được nhìn thấy.
Có một người đang đi thảnh thơi, thong thả mà chợt thấy có vài người nhìn mình thì tự nhiên người đó chột dạ, thay đổi tướng đi "không biết họ nhìn mình có gì không?", bản ngã của mình cũng giống vậy, bị trí tuệ của ngũ uẩn nhìn thấy, bị Thánh trí của lậu hoặc nhìn thấy nên nó bắt đầu rụt rè, e dè, không dám hoành hành ngang ngược như lúc trước, còn giờ mình không biết tu là nó xâm chiếm áp đảo thân tâm, khiến cho vợ chồng giận nhau, mẹ con ở riêng, anh em lại tương tàn… Tu được bản ngã hiền lành, khiêm hạ này rất tuyệt vời.
Mọi người có thấy Phật tử trong đạo tràng Nikāya tu lâu ngồi nghe pháp xúc động nước mắt tuôn tràn đẹp không? Lúc xưa có ai dám ra giữa đại chúng gần trăm người mà hạch tội mình ra không? Lúc xưa mình giấu lỗi mình như kẻ gian giấu bài, còn lỗi của người ta thì mình bới móc như tìm thóc trong gạo; còn giờ tu kinh Nikāya là hạch tội ra giữa đại chúng rồi xin đại chúng chứng minh và lạy xuống. Đó là sự tiến bộ của mình, là sự nhìn thấy rồi nhiếp phục, đánh gục các tên giặc ác độc bên trong nội tâm.
Chúng ta tu hành như những dũng sĩ mạnh mẽ nhiếp phục cấu uế, mình đi theo gót chân của bậc Điều Ngự Sư nên mình phải điều phục, chế ngự chúng nó, không để cho nó điều phục, chế ngự mình. Những rác bận đó đã đè đầu đè cổ mình vô lượng vô biên kiếp rồi, cái dục, cái sân, bản ngã này thống trị mình, hành hạ mình, sai khiến mình làm nô lệ cho nó trong trăm ngàn vạn kiếp, bây giờ mình phải vùng dậy, giành quyền làm chủ thân tâm, không được sống thấp hèn như vậy nữa, dục, tham, ái hoài thì khổ hoài không có ngày chấm dứt.
Chúng ta tập ngồi yên, tập sự an tịnh lắng dịu giữa cuộc đời sầu, bi, khổ, ưu, não, tập thoát ra từ từ để viễn ly, xa lìa, tập tự làm bác sĩ trị bệnh tâm, tự làm điều dưỡng chăm sóc cho nội tâm tật nguyền, èo ọt này. Chúng ta tập làm chiến sĩ, dũng sĩ để đi theo bậc Vô Thượng Sĩ. Nếu đã gặp được pháp này mà không tinh tấn, tinh cần, nỗ lực thì rất uổng phí. Thế giới bây giờ số người chết vì dịch bệnh đã rất nhiều rồi, số người nhiễm bệnh trên 30 triệu người rồi, suốt ngày cứ lẩn quẩn, loanh quanh tìm dục ái, sân hận, bản ngã, hơn thua, mưu mô rồi cuối cùng là một cái thân đầy giòi, bộ xương khô, đống tro tàn, rã nát ra rồi đem theo một cái tâm đầy rẫy những ác nghiệp.
Thật là vô nghĩa cho một đời sống đầy sự sân si này! Vô giá trị là những thị phi này! Chúng ta không làm chuyện vô nghĩa nữa; không làm việc hại mình hại người nữa; không muốn làm việc hành hạ mình, hành hạ người, làm khổ mình làm khổ người nữa. Suốt ngày lo ăn, lo mặc, lo ở, lo bệnh, lo đau, lo già, lo chết là mệt rồi mà giờ còn thêm tham, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, mưu hại, ganh tị… bao nhiêu thứ chồng chất.
Thật là vô nghĩa, vô giá trị là đời sống này, vô ích là những thị phi đó! Hãy dành thời gian thật nhiều để học pháp, hành pháp và chứng đắc giáo pháp. Duy nhất trên thế giới này chỉ có Chánh Pháp của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya mới cứu giúp, mới đưa mình thoát khỏi biển khổ, thoát khỏi đầm lầy của dục, thoát khỏi biển lửa của sân, thoát khỏi trường dạ của bóng đêm hằng muôn thế kỉ của vô minh, Chánh Pháp của Phật mới đập phá nổi ngọn núi bản ngã của ngũ uẩn này. Chỉ có Fhánh trí ngũ uẩn, chỉ có Thánh trí lậu hoặc, chỉ có Thánh trí vô ngã ly tham mới là con đường tối thượng, tối đệ nhất đưa chúng ta thoát ra!
Xin đại chúng hãy nhớ điều kiện để vào dòng pháp này là đạo đức căn bản, tam quy ngũ giới, tri ân nhớ ân, sám hối và phát nguyện. Vua của các pháp đưa đến thành tựu là hộ trì, không buông lung phóng dật, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác, diệt tận bản ngã, siêng năng, nhiệt tâm học pháp và hành pháp. Chúng ta để dành thật nhiều thời gian, tâm huyết, công sức vào Thánh Pháp là không hề uổng phí vì lúc chuẩn bị viên mãn cuộc đời này mình sẽ mỉm miệng cười "Ta đã đem hết tất cả sức lực, trí lực, tâm lực, hạnh lực, nguyện lực để dấn thân vào con đường thánh pháp tối thượng này. Và giờ là thành quả của sự bình yên!".
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tự và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.