Hỷ Lạc - Ưu Tư - Tăng Thượng Giới Định Tuệ
Tinh Hoa Nikāya
HỶ LẠC - ƯU TƯ - TĂNG THƯỢNG GIỚI ĐỊNH TUỆ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Pháp hỷ - pháp lạc PAGEREF _Toc114322364 \h 1
II. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc114322365 \h 4
I. Pháp hỷ - pháp lạc
Xin hỏi đại chúng khi mình biết tin được người ta mời đi chơi thì mình có vui, hoan hỉ không? Sắp tới các vị sẽ tổ chức lễ cầu siêu độ mời năm ngàn Tăng Ni ra Huế để làm lễ đại Trai đàn, nếu mình được mời có hoan hỉ không? Ngày tết gặp cảnh đẹp mùa xuân là mình thích, được lì xì cũng vui, mình được đi du lịch cũng thích, mình được cung kính đảnh lễ cúng dường thì hoan hỉ. Tại sao người ngoài đời làm vất vả cực khổ, thậm chí thức sáng đêm để kiếm tiền nhưng khi tiếp đón khách hàng vẫn vui cười? Vì họ kiếm được tiền, vì có tiền nên dù có vất vả, cực khổ, thức khuya dậy sớm mệt mỏi, thậm chí có cả máu nhưng người ta vẫn can tâm tình nguyện vui vẻ để làm.
Tại sao lại có động lực đó? Vì người ta thấy có lợi ích trong công việc đó đem lại nguồn thu nhập để nuôi sống gia đình, nói đơn giản là cơm áo, dù cực khổ mệt mỏi, có máu và nước mắt trộn lẫn nhưng họ vẫn cố gắng làm vì họ thấy được lợi ích trong đó. Người tu cũng phải giống như vậy cho nên khi ngồi thiền, tụng kinh, nghe pháp, lên lớp cần tác ý: "Thật là phước báo cho ta! Thật là vinh hạnh cho ta! Khi giữa thế giới đang tràn đầy những biến động khổ đau của dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh mà ta được ngồi giữa Tăng thân, Tăng đoàn trang nghiêm, thanh tịnh, hòa hợp, bình an và ta được nghe những lời tối tôn, tối thượng, vi diệu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác".
Phải tác ý như vậy mới sanh khởi lên sự hân hoan, thích thú để thấy được lợi ích, giá trị, công đức, phước báo trong sự tu học, hành đạo của mình. Đó là cách tác ý, như vậy mình mới có sức sống, tinh lực, Đức Phật dùng từ nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác. Nhiệt tâm là trái tim nóng bỏng, trong sự tu học phải có nhiệt tâm, phải thắp lên ngọn lửa nóng bỏng cháy hừng hực trong tâm cái chí nguyện cầu pháp, hành pháp, đắc pháp, thể nhập vào pháp.
Lúc nào lên tụng kinh mà thấy chán nản thì phải chấn chỉnh lại, phải xem lại cảm thọ để điều chỉnh thì tu học mới có tương lai. Chúng ta phải làm thế nào để khi học pháp, ngồi thiền, tụng kinh, làm công quả hay trong sinh hoạt hằng ngày đều thấy hỷ lạc, hân hoan, thấy có hương vị ngọt ngào, thấm thía trong thân tâm, mình yêu đời sống phạm hạnh, thích chiếc áo tu hành, hân hoan với sự hướng thượng đến chỗ trong sạch, thanh tịnh của người xuất gia.
Nếu không có những điều này thì đời sống tu hành rất vô vị, nhạt nhẽo, lạc lõng, không nhuần hỷ lạc, không có sức sống của người tu, đó là sinh lực, là sức mạnh của sự sống cũng như cây có thể sống được nhờ vào dưỡng chất để nuôi cây. Người tu chúng ta phải có sự hỷ lạc trong thiền tập, sự hoan hỉ trong pháp, sự hân hoan, thích thú trong đời sống thanh tịnh, trong đời sống viễn ly, ly tham, ly dục, ly ác bất thiện pháp, nếu không nếm được pháp vị, pháp lạc thì mình sẽ đi tìm dục lạc. Pháp lạc, pháp vị là sự an lạc, vui sướng trong Chánh Pháp, trong chân lý, trong sự thật.
"Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, dứt mọi khổ!"
(Kinh Pháp cú 24 – phẩm Tham ái, kệ 354)
Hương vị của Chánh pháp vượt lên hết tất cả mọi hương vị của thế gian, mọi món ăn đều không bằng hương vị của Chánh pháp, nếm được hương vị này mới đưa mình đến chỗ bất tử. Vì thế buổi học thứ hai ngày đầu năm Minh Thành muốn các huynh đệ phải cảm nhận được pháp vị, pháp lạc, nếu không nếm được thì cả đời tu rất uổng phí, sống cả đời trong chùa sẽ lạc loài, đơn độc, buồn bã vì người tu không thể có được dục lạc nhưng đến pháp lạc của sự tu hành không nếm được và thiền vị cũng không đạt đến thiền duyệt thì cuối cùng là lưỡng đồ câu thất, cả hai đường đều mất.
Cho nên mình phải hướng đến mục tiêu cao thượng, tăng thượng đạo đức, giới hạnh, tăng thượng sự thanh cao, thánh thiện của đời sống xuất gia gọi là phạm hạnh. Trong lòng lúc nào cũng suy nghĩ ưu tư, trăn trở phải bằng mọi cách để giới đức càng phát triển, đạo hạnh càng tăng thượng, giới hạnh càng viên mãn tròn đầy thì gọi là tăng thượng giới học. Buổi chiều ăn rồi mà tối còn ăn thêm mì gói thì tự mình phải trách mình cho nên trong kinh Pháp Cú Đức Phật đã nói:
"Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc."
(Kinh Pháp cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Tự mình dò xét lại cái gì mình được và cái gì mình chưa được, cái gì mình đã thành tựu và các gì mình chưa thành tựu. Trong người mình còn ác bất thiện pháp thì phải nỗ lực, cố gắng, nhiệt tình trừ diệt và đoạn tận. Đức Phật nói sự tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác của một vị Tỳ-kheo là khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp.
"Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.
Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác".
(Trung Bộ kinh, 39. Đại kinh Xóm ngựa)
Đang đi mà sanh khởi lên suy nghĩ bất thiện thì cần tẩy sạch suy nghĩ đó ngay lúc đang đi. Đang đứng, đang ngồi, đang nằm mà sanh khởi lên những dục tưởng, dục tầm, những hình bóng về dục, những suy nghĩ về dục, những cảm giác về dục thì lập tức tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, Đức Phật gọi người như vậy là người nhiệt tâm, tinh cần trong giáo pháp của Như Lai.
Trong bất cứ hành động nào có dục niệm, sân niệm hoặc sanh khởi lên những ý niệm hại thì tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp, đó gọi là tinh cần, tinh tấn chứ không phải trong sự tu chỉ có hoan hỉ vì hoan hỉ hoài sẽ dẫn đến buông lung, còn đều đều hoài thì bị nhàm chán. Trong mỗi bữa ăn đều đổi món chứ không thể chỉ ăn một món hoài được, trong việc tu hành cũng vậy, có rất nhiều pháp để vận dụng một cách thiện xảo, khéo léo nhiều phương diện để tâm của mình hân hoan, phấn khởi, nỗ lực hướng thượng.
II. Khuyến tấn tu tập
Vì thế điều đầu tiên Minh Thành chia sẻ các huynh đệ phải có pháp hỷ, pháp lạc, có những cái này thì từ từ mình mới xa lìa được dục lạc, gọi là viễn ly lạc, xuất ly lạc. Một người chân tu thì càng xa sắc; thanh; hương; vị; xúc thì người này càng vui, còn phàm phu không thể xa được những thứ này. Nếu mình còn thích chỗ náo nhiệt, thích hội họp, nói chuyện, công việc thì đó là pháp thối đọa của Tỳ-kheo.
"Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Ưa công việc,
Ưa nói chuyện,
Ưa ngủ,
Ưa hội chúng,
Các căn không phòng hộ,
Ăn uống không tiết độ.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa".
(Tăng Chi Bộ, chương VI – Sáu pháp, phẩm IV – Chư Thiên, (I) Hữu học)
Đừng nghĩ rằng ưa thích công việc là tốt, đó là suy nghĩ sai lầm. Nếu công việc không liên hệ đến mục đích thì ưa thích công việc đó trở thành pháp thối đọa của Tỳ-kheo. Thối là lùi, đọa là rơi xuống. Mục đích của người xuất gia là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, nói đầy đủ là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si nhưng ba chữ tham, sân, si không đơn giản như mình nghĩ mà ba thứ này thật sự rất khủng khiếp. Tham, sân, si không đơn thuần chỉ là tham lam đồ vật, nóng giận hoặc buồn ngủ mà phạm trù của tham, sân, si rất sâu rộng, mỗi một ý nghĩ, hình bóng, cảm giác đều có tham, sân, si trong đó mà mình lại không biết mới đau khổ.
Ví dụ mười lăm phút nữa có động đất, sụp hết toàn bộ quận này mà mình không biết, vẫn ăn uống, cười nói. Vậy cái ăn uống, cười nói đó có phải là vui không? Đó là vui trong cái ngu, nếu là người khôn, người hiểu biết thì người ta sẽ lấy đồ vật quan trọng rồi chạy nhanh ra khỏi đó, Đức Phật nói phàm phu lấy khổ làm vui, họ tưởng cái đó là vui nhưng thật chất là khổ, đó là sự ảo tưởng. Ở Mỹ, có một đường đứt gãy chạy dài từ Nam Cali cho đến Bắc Cali, không biết lúc nào sụp xuống và đã có lần động đất rất lớn ngay tại đó nhưng vì cuộc sống, vì công việc nên cứ sống thôi, chừng nào nó sụp thì sụp, còn bây giờ thân thể này đang đứng đây không biết lúc nào đổ xuống, không biết ở đâu, không biết thời gian nào nó sẽ ngã xuống, tan rã và hoại diệt nhưng mình lại không biết điều này nên vẫn sân si, tham lam, thị phi, phải trái.
Đừng nghĩ rằng thân xác này sẽ còn hoài, đừng nghĩ rằng thể xác này sẽ bình thường hoài, đừng nghĩ rằng đời sống này sẽ đều đều như vậy, bây giờ là hơn một trăm triệu người nhiễm bệnh, hơn hai triệu người chết vì dịch bệnh. Những người bị nhiễm bệnh thì trước đó họ có biết mình bị nhiễm không? Cho nên hai chữ "vô thường" không đơn giản như chúng ta hiểu, nó phải ngấm vào da, đi vô thịt, vào trong xương tủy và dừng lại đó, bất cứ lúc nào, giờ phút nào, làm cái gì cũng phải nhớ đến vô thường, sự hoại diệt, diệt vong cũng có thể đến với chúng ta.
Chính sự thâm quán, thể nhập mới nhả ra được sự chấp thủ, tham lam, sân hận, si mê, bản ngã, nó đòi hỏi mình phải có sức quán chiếu một cách thâm sâu, tư suy, thẩm thấu, thấu thị, bất cứ lúc nào cũng không được quên trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng của đời sống này, như vậy mới gọi là thấy pháp, chứng pháp, thể nhập vào pháp, cho đến khi nào nhìn thấy ngôi chùa mà mình xây dựng lên chỉ là sắc uẩn, không có gì là tôi, không có gì của tôi, bất cứ lúc nào cũng có thể ra đi không có gì tiếc nuối dù cho mình là người khai sơn, dựng lập ngôi chùa đó, một bậc tu hành chân chánh phải như vậy, họ không nghĩ bất cứ cái gì là mình, là của mình thì đó mới gọi là người thành tựu trí vô thường, trống rỗng. Ngay tự thân sắc uẩn này, bị thịt này thì bất cứ lúc nào cũng thường niệm:
"Đệ tử Gotama
Luôn luôn tự tỉnh giác
Vô luận ngày hay đêm,
Tưởng sắc thân thường niệm"
(Kinh Pháp cú 21 – phẩm Tạp lục, kệ 299)
Quán sắc thân như sau: "Đống đất, nước, gió, lửa này, tất cả phèo, phổi, ruột, gan, xương, da, lông, móng này là đất. Tất cả những máu mủ, mồ hôi, nước bọt là nước. Tất cả những chất gì dao động trong thân này thuộc về gió. Tất cả hơi ấm trong thân này thuộc về lửa. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi trong này", từng bước đi không thấy mình đi mà là sức gió vận chuyển, đó là phong đại, không có tôi và cái của tôi trong này mà là sức gió do phong đại vận chuyển.
Khi nhìn vào gương thấy mặt mình trong đó thì không thấy đó là tôi, là của tôi mà thấy đây là tứ đại, là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại. khi nằm xuống không thấy một cái tôi đang nằm mà cần tác ý trong tâm đánh đuổi suy nghĩ tôi và của tôi đang có trong đầu, mình thấy được trái tim đang đập, mình thấy từng hơi thở vào ra mong manh, vô thường, biến hoại. Mình thấy được sự sanh diệt của hơi thở, mình thấy ba mươi hai thể trược: Tim, gan, ruột non, ruột già, tùy phế thận, hoành cách mô, nước bọt, máu mủ, đàm, mật, nước tiểu… trong những thứ này không có bất kì cái gì là tôi, là của tôi trong này.
Quán chiếu như vậy gọi là quán sắc thân thường niệm, không phải đợi đến khi ngồi thiền mới quán tưởng mà trong bất kì lúc nào nhìn vào thân thể này cũng thấy thật tướng của nó là ba mươi hai thể trược hiện ra, như vậy mình mới chứng nhập, thể nhập trí tuệ về sắc thân này hay còn gọi là niệm thân (Thân Hành Niệm), nghĩa là phải luôn ghi nhớ những sự vận hành, tạo tác của thân này, luôn nhớ về sự thật của thân này, vào mùng ngủ thì phải nhớ là đang chui vào hòm, khi nằm xuống thì khai triển chín giai đoạn của một tử thi "Mày tham dục, sân hận hoài, tao cho mày chết. Mày ngu si, mê muội, tham ái, hoài tao cho mày chết".
Tác ý như vậy để đánh đuổi những dục vọng, tham ái, sân hận, bản ngã, vô minh và đây cũng gọi là Thánh tư duy, sự tư duy của bậc Thánh. Nếu như tu mà không biết ứng dụng Tứ Niệm Xứ thì xem như trống rỗng, vô tích sự, Minh Thành nhớ rất kĩ ngày đầu tiên họp ban thành hội của Phật Giáo để các Tăng Ni sinh thực tập diễn giảng trong trường hạ của toàn thành phố thì các thầy đưa các chủ đề: Sám hối, quy y, Bát quan trai giới…
Cuối cùng Thượng Tọa Giác Trí – hiệu phó trường Trung cấp Phật học đã phát biểu một câu mà Minh Thành rất tâm đắc: "Nếu giảng bất cứ chủ đề gì mà không có Tứ Niệm Xứ thì cũng như không", một câu nói này thôi đã nói lên trí tuệ thành tựu của một người học Phật, nếu không có Tứ Niệm Xứ thì không có gì cả. Vì sự quán chiếu thân – thọ – tâm – pháp, thân thể, cảm giác, nội tâm, những gì đang vận hành trong tâm mà tu lại không nhìn thấy được thì tu cái gì? Đang có gì trong tâm không biết, thân này cấu tạo từ cái gì không biết, không biết không thấy cảm giác đang có gì thúc giục thì làm sao có thể nhiếp phục, đoạn tận?
Tứ Niệm Xứ là sự nhìn ngó, quán chiếu, dò xét thân xác này, tâm thức này, đó là trái tim của Đức Phật, là cốt lõi của Thánh Giáo, là trí tuệ của người xuất gia cho nên thực tập Tứ Niệm Xứ rất quan trọng. Con ngồi ghế nhà trường hơn chục năm, đã trải qua các thiền viện trong ngoài nước, đã đứng trên bục giảng hai mươi năm thì con mới nhận thấy: Nếu nền giáo dục Phật Giáo không có cải cách, thay đổi, khích lệ các Tăng Ni sinh trong hiện tại và tương lai đi vào thực tập (pháp hành) thì Phật Giáo nước mình sẽ dần bị mai một.
Vì sao? Phật tử đau khổ vào tìm mình trong khi bản thân mình cũng đau khổ thì làm sao mình giúp cho người ta hết khổ? Phương pháp diệt khổ không biết nên mình không giải quyết được cái khổ của mình thì làm sao mình giúp cho người ta hết khổ?
Con đang chia sẻ pháp hành, tức là phương pháp sống, cách sống để mình có thể nhìn ra khổ trong cuộc đời này, tìm ra được nguyên nhân nằm sâu trong thân tâm mình, cách nhiếp phục và đoạn tận nó. Điều này là siêu việt thế và xuất thế, cái này mới xứng đáng ăn cơm chùa, xứng đáng để người ta chắp tay đảnh lễ, cung kính, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Phải thấy được thân tâm chính mình, thấy được nguyên nhân nào làm cho mình khổ, cái gì dẫn dắt mình.
Mình không thích tham muốn trong khi vẫn tham muốn, không muốn sân nhưng vẫn bực tức, mình muốn là người hiền lương, dễ thương nhưng bản ngã lại sanh lên, ta đây, vênh váo, hống hách, kiêu căng, càng tu lâu bản ngã lại càng cao là sự thất bại. Có người gọi bằng "mày" lúc còn tập sự xuất gia vẫn vui vẻ chạy lại, nhưng khi đã thọ giới Tỳ-kheo mà bị kêu bằng "mày" thì lúc đó ra sao? Vui vẻ hay khó chịu? Nếu khó chịu thì càng tu bản ngã lại càng cao, vô hình trung mình tích tụ, chất chứa những gì làm cho cái ta lớn lên theo năm tháng chứ không phải tu để nhắm vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là vô ngã, vô thường, trống rỗng, sáu căn, sáu trần, sáu thức này là vô ngã, trống rỗng, không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Vì thế việc tu để liên hệ đến mục đích rất quan trọng vì mục đích của mình là đoạn tận tham, sân, si.
Tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức và không đi ra khỏi năm chữ này, dù cho tham cái chùa là tốt nhưng vẫn đau khổ như thường chứ mọi người đừng nghĩ tham chùa là không khổ. Mình thích tượng Phật bằng cẩm thạch, bằng ngọc bích, quý vô cùng nên lâu lâu lấy ra ngắm mà lỡ hôm nào bị trộm mất thì lúc đó mình ra sao?
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ".
(Tương Ưng Bộ, chương IV. Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), phần một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2)).
Đó là Thánh trí của Đức Phật chứ không phải tu lâu rồi trở hành "thích-đủ-thứ". Vì thế khi đã xác định được mục tiêu liên hệ đến mục đích, nắm vững được tông chỉ của sự tu hành sẽ thấy thích thú, hoan hỉ, hân hoan trong sự tu hành cho nên bằng mọi cách phải thắp sáng được ngọn lửa nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực chánh niệm trong thân tâm để đoạn tận tất cả gốc rễ khổ đau (khổ căn) trong người mình, phải đào xới nó lên chứ đừng để nó nằm yên trong thân tâm. Vô minh, tham ái và chấp thủ đã trở thành cây cổ thụ ngàn năm trong nội tâm mà mình chỉ cầm cuốc đào xới vài cái thì đến khi nào mình mới bứng được cây cổ thụ vô lượng vô biên kiếp này? Việc tu của chúng ta nếu không có chánh kiến để nhìn thấy rõ được vấn đề thì giống như cầm cuốc lại cuốc vài cái vào mấy cái rễ nhỏ rồi nghỉ ngơi, vui chơi, như vậy thì làm sao bứng nổi gốc rễ của khổ đau là vô minh, tham ái và chấp thủ?
Chúng ta phải ưu tư, suy tư, trăn trở, thao thức "Tại sao giới đức của mình chưa được thanh tịnh, chưa được hướng thượng viên mãn?", thứ hai là phải tăng thượng tâm học tức là thiền định (tứ thiền), phải tha thiết trong sự ngồi thiền, phải yêu thích thiền định, nhiệt tâm trong thiền định. Nếu không có tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học, tăng thượng tâm học thì không thể diệt được tham sân si vì thiền là giờ phút để mình lắng dịu thọ; tưởng; hành. Trong giờ phút thiền định để mình nhớ lại trong một ngày đã làm gì, nói gì, nghĩ gì, nếu có ác bất thiện pháp thì giờ ngồi thiền sẽ bị trí tuệ soi chiếu và sau đó mình chấn chỉnh lại.
Tại sao vào cuối ngày, nửa tháng hoặc vào cuối tháng mọi người thường hay tính lại sổ sách, cộng sổ thu chi ra vào? Chính là để biết lời lỗ, sự tu của mình cũng phải kiểm tra, kiểm điểm lại và giờ ngồi thiền sẽ làm việc đó, vào những lúc khác sáu căn sẽ tiếp xúc sáu trần nhưng trong khi ngồi thiền các căn phải thu nhiếp lại rồi mới bắt đầu để ý lại vào bên trong tâm thức, giờ đó là giờ sâu lắng nhất trong tất cả các giờ, đó là giờ thần thánh nhất trong tất cả các giờ, đó là giờ thiêng liêng nhất trong tất cả các giờ, đó là giờ soi rọi rõ nhất trong tất cả các giờ về thân tâm mình. Cho nên Đức Phật nói các Tỳ-kheo khi tụ hội cần làm hai việc, thứ nhất là im lặng của bậc Thánh tức là thiền định, thứ hai là đàm luận Chánh pháp.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh"
(Trung Bộ kinh, 26. kinh Thánh cầu)
Như vậy là ngồi thiền và nói pháp là hai việc mà các Tỳ-kheo cần phải làm. Ngồi thiền là tăng thượng tâm học, thảo luận về pháp là tăng thượng tuệ học nhưng chỉ dừng lại ở phần văn, còn "đệ tử Gotama, luôn luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, tưởng sắc thân thường niệm" đây cũng là tuệ nhưng thuộc về tư tuệ, đó là sự quán chiếu, tư duy, thẩm thấu, nghiền ngẫm, xuyên thủng những lớp chấp thủ, tham ái, vô minh trong tâm vì nghe pháp chỉ vài lần thì không thể phá vỡ được những thứ này.
Giống như căn nhà bỏ hoang mười năm không lau dọn thì không thể nào lấy căn chổi quét vài đường là có thể sạch được, phải chà rửa, quét dọn, lau chùi… dùng rất nhiều công cụ mới sạch được, tâm mình cũng giống vậy cho nên thiền quán rất quan trọng, không phải chỉ nghe giảng là xong mà phải ngồi nghiền ngẫm, soi rọi, quán chiếu tìm ra nguyên nhân tại sao mình cứ tham muốn, ta đây, hơn thua, khi đã thấy được nguyên nhân thì nhiếp phục và đoạn tận.
Vì thế tu đúng theo tinh thần Đức Phật dạy rất hân hoan, thích thú, không bao giờ thất nghiệp vì tâm đang bị cấu nhiễm nên phải thường xuyên tẩy rửa, đánh đuổi, lau dọn để làm sạch tâm nên có công việc làm liên tục, vì thế rất cần tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học và chúng ta đang nghe giảng là đang tăng thượng văn – tuệ. Tăng thượng là thêm nhiều hơn về trí tuệ của thân tâm chính mình, trăn trở làm sao để giới đức thêm lớn hơn, làm sao để tâm thiền định càng vững chắc, làm sao để trí tuệ càng tỏa sáng để soi sáng được những thứ bị che lấp, Đức Phật gọi là xuyên thủng khối vô minh uẩn to lớn mà trước nay mình chưa từng xuyên thủng, xuyên thủng tổ hợp của si mê từ xưa đến nay mình chưa từng xuyên thủng, phá vỡ và hôm nay mình xuyên thủng, phá vỡ.
Con kính chúc các thầy, các cô có được sức mạnh hùng liệt, nhiệt huyết trên con đường tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học.
./.
HỶ LẠC - ƯU TƯ - TĂNG THƯỢNG GIỚI ĐỊNH TUỆ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Pháp hỷ - pháp lạc PAGEREF _Toc114322364 \h 1
II. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc114322365 \h 4
I. Pháp hỷ - pháp lạc
Xin hỏi đại chúng khi mình biết tin được người ta mời đi chơi thì mình có vui, hoan hỉ không? Sắp tới các vị sẽ tổ chức lễ cầu siêu độ mời năm ngàn Tăng Ni ra Huế để làm lễ đại Trai đàn, nếu mình được mời có hoan hỉ không? Ngày tết gặp cảnh đẹp mùa xuân là mình thích, được lì xì cũng vui, mình được đi du lịch cũng thích, mình được cung kính đảnh lễ cúng dường thì hoan hỉ. Tại sao người ngoài đời làm vất vả cực khổ, thậm chí thức sáng đêm để kiếm tiền nhưng khi tiếp đón khách hàng vẫn vui cười? Vì họ kiếm được tiền, vì có tiền nên dù có vất vả, cực khổ, thức khuya dậy sớm mệt mỏi, thậm chí có cả máu nhưng người ta vẫn can tâm tình nguyện vui vẻ để làm.
Tại sao lại có động lực đó? Vì người ta thấy có lợi ích trong công việc đó đem lại nguồn thu nhập để nuôi sống gia đình, nói đơn giản là cơm áo, dù cực khổ mệt mỏi, có máu và nước mắt trộn lẫn nhưng họ vẫn cố gắng làm vì họ thấy được lợi ích trong đó. Người tu cũng phải giống như vậy cho nên khi ngồi thiền, tụng kinh, nghe pháp, lên lớp cần tác ý: "Thật là phước báo cho ta! Thật là vinh hạnh cho ta! Khi giữa thế giới đang tràn đầy những biến động khổ đau của dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh mà ta được ngồi giữa Tăng thân, Tăng đoàn trang nghiêm, thanh tịnh, hòa hợp, bình an và ta được nghe những lời tối tôn, tối thượng, vi diệu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác".
Phải tác ý như vậy mới sanh khởi lên sự hân hoan, thích thú để thấy được lợi ích, giá trị, công đức, phước báo trong sự tu học, hành đạo của mình. Đó là cách tác ý, như vậy mình mới có sức sống, tinh lực, Đức Phật dùng từ nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác. Nhiệt tâm là trái tim nóng bỏng, trong sự tu học phải có nhiệt tâm, phải thắp lên ngọn lửa nóng bỏng cháy hừng hực trong tâm cái chí nguyện cầu pháp, hành pháp, đắc pháp, thể nhập vào pháp.
Lúc nào lên tụng kinh mà thấy chán nản thì phải chấn chỉnh lại, phải xem lại cảm thọ để điều chỉnh thì tu học mới có tương lai. Chúng ta phải làm thế nào để khi học pháp, ngồi thiền, tụng kinh, làm công quả hay trong sinh hoạt hằng ngày đều thấy hỷ lạc, hân hoan, thấy có hương vị ngọt ngào, thấm thía trong thân tâm, mình yêu đời sống phạm hạnh, thích chiếc áo tu hành, hân hoan với sự hướng thượng đến chỗ trong sạch, thanh tịnh của người xuất gia.
Nếu không có những điều này thì đời sống tu hành rất vô vị, nhạt nhẽo, lạc lõng, không nhuần hỷ lạc, không có sức sống của người tu, đó là sinh lực, là sức mạnh của sự sống cũng như cây có thể sống được nhờ vào dưỡng chất để nuôi cây. Người tu chúng ta phải có sự hỷ lạc trong thiền tập, sự hoan hỉ trong pháp, sự hân hoan, thích thú trong đời sống thanh tịnh, trong đời sống viễn ly, ly tham, ly dục, ly ác bất thiện pháp, nếu không nếm được pháp vị, pháp lạc thì mình sẽ đi tìm dục lạc. Pháp lạc, pháp vị là sự an lạc, vui sướng trong Chánh Pháp, trong chân lý, trong sự thật.
"Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, dứt mọi khổ!"
(Kinh Pháp cú 24 – phẩm Tham ái, kệ 354)
Hương vị của Chánh pháp vượt lên hết tất cả mọi hương vị của thế gian, mọi món ăn đều không bằng hương vị của Chánh pháp, nếm được hương vị này mới đưa mình đến chỗ bất tử. Vì thế buổi học thứ hai ngày đầu năm Minh Thành muốn các huynh đệ phải cảm nhận được pháp vị, pháp lạc, nếu không nếm được thì cả đời tu rất uổng phí, sống cả đời trong chùa sẽ lạc loài, đơn độc, buồn bã vì người tu không thể có được dục lạc nhưng đến pháp lạc của sự tu hành không nếm được và thiền vị cũng không đạt đến thiền duyệt thì cuối cùng là lưỡng đồ câu thất, cả hai đường đều mất.
Cho nên mình phải hướng đến mục tiêu cao thượng, tăng thượng đạo đức, giới hạnh, tăng thượng sự thanh cao, thánh thiện của đời sống xuất gia gọi là phạm hạnh. Trong lòng lúc nào cũng suy nghĩ ưu tư, trăn trở phải bằng mọi cách để giới đức càng phát triển, đạo hạnh càng tăng thượng, giới hạnh càng viên mãn tròn đầy thì gọi là tăng thượng giới học. Buổi chiều ăn rồi mà tối còn ăn thêm mì gói thì tự mình phải trách mình cho nên trong kinh Pháp Cú Đức Phật đã nói:
"Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ-kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc."
(Kinh Pháp cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)
Tự mình dò xét lại cái gì mình được và cái gì mình chưa được, cái gì mình đã thành tựu và các gì mình chưa thành tựu. Trong người mình còn ác bất thiện pháp thì phải nỗ lực, cố gắng, nhiệt tình trừ diệt và đoạn tận. Đức Phật nói sự tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác của một vị Tỳ-kheo là khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp.
"Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.
Chúng ta phải chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi đứng, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác".
(Trung Bộ kinh, 39. Đại kinh Xóm ngựa)
Đang đi mà sanh khởi lên suy nghĩ bất thiện thì cần tẩy sạch suy nghĩ đó ngay lúc đang đi. Đang đứng, đang ngồi, đang nằm mà sanh khởi lên những dục tưởng, dục tầm, những hình bóng về dục, những suy nghĩ về dục, những cảm giác về dục thì lập tức tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, Đức Phật gọi người như vậy là người nhiệt tâm, tinh cần trong giáo pháp của Như Lai.
Trong bất cứ hành động nào có dục niệm, sân niệm hoặc sanh khởi lên những ý niệm hại thì tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp, đó gọi là tinh cần, tinh tấn chứ không phải trong sự tu chỉ có hoan hỉ vì hoan hỉ hoài sẽ dẫn đến buông lung, còn đều đều hoài thì bị nhàm chán. Trong mỗi bữa ăn đều đổi món chứ không thể chỉ ăn một món hoài được, trong việc tu hành cũng vậy, có rất nhiều pháp để vận dụng một cách thiện xảo, khéo léo nhiều phương diện để tâm của mình hân hoan, phấn khởi, nỗ lực hướng thượng.
II. Khuyến tấn tu tập
Vì thế điều đầu tiên Minh Thành chia sẻ các huynh đệ phải có pháp hỷ, pháp lạc, có những cái này thì từ từ mình mới xa lìa được dục lạc, gọi là viễn ly lạc, xuất ly lạc. Một người chân tu thì càng xa sắc; thanh; hương; vị; xúc thì người này càng vui, còn phàm phu không thể xa được những thứ này. Nếu mình còn thích chỗ náo nhiệt, thích hội họp, nói chuyện, công việc thì đó là pháp thối đọa của Tỳ-kheo.
"Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Ưa công việc,
Ưa nói chuyện,
Ưa ngủ,
Ưa hội chúng,
Các căn không phòng hộ,
Ăn uống không tiết độ.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa".
(Tăng Chi Bộ, chương VI – Sáu pháp, phẩm IV – Chư Thiên, (I) Hữu học)
Đừng nghĩ rằng ưa thích công việc là tốt, đó là suy nghĩ sai lầm. Nếu công việc không liên hệ đến mục đích thì ưa thích công việc đó trở thành pháp thối đọa của Tỳ-kheo. Thối là lùi, đọa là rơi xuống. Mục đích của người xuất gia là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, nói đầy đủ là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si nhưng ba chữ tham, sân, si không đơn giản như mình nghĩ mà ba thứ này thật sự rất khủng khiếp. Tham, sân, si không đơn thuần chỉ là tham lam đồ vật, nóng giận hoặc buồn ngủ mà phạm trù của tham, sân, si rất sâu rộng, mỗi một ý nghĩ, hình bóng, cảm giác đều có tham, sân, si trong đó mà mình lại không biết mới đau khổ.
Ví dụ mười lăm phút nữa có động đất, sụp hết toàn bộ quận này mà mình không biết, vẫn ăn uống, cười nói. Vậy cái ăn uống, cười nói đó có phải là vui không? Đó là vui trong cái ngu, nếu là người khôn, người hiểu biết thì người ta sẽ lấy đồ vật quan trọng rồi chạy nhanh ra khỏi đó, Đức Phật nói phàm phu lấy khổ làm vui, họ tưởng cái đó là vui nhưng thật chất là khổ, đó là sự ảo tưởng. Ở Mỹ, có một đường đứt gãy chạy dài từ Nam Cali cho đến Bắc Cali, không biết lúc nào sụp xuống và đã có lần động đất rất lớn ngay tại đó nhưng vì cuộc sống, vì công việc nên cứ sống thôi, chừng nào nó sụp thì sụp, còn bây giờ thân thể này đang đứng đây không biết lúc nào đổ xuống, không biết ở đâu, không biết thời gian nào nó sẽ ngã xuống, tan rã và hoại diệt nhưng mình lại không biết điều này nên vẫn sân si, tham lam, thị phi, phải trái.
Đừng nghĩ rằng thân xác này sẽ còn hoài, đừng nghĩ rằng thể xác này sẽ bình thường hoài, đừng nghĩ rằng đời sống này sẽ đều đều như vậy, bây giờ là hơn một trăm triệu người nhiễm bệnh, hơn hai triệu người chết vì dịch bệnh. Những người bị nhiễm bệnh thì trước đó họ có biết mình bị nhiễm không? Cho nên hai chữ "vô thường" không đơn giản như chúng ta hiểu, nó phải ngấm vào da, đi vô thịt, vào trong xương tủy và dừng lại đó, bất cứ lúc nào, giờ phút nào, làm cái gì cũng phải nhớ đến vô thường, sự hoại diệt, diệt vong cũng có thể đến với chúng ta.
Chính sự thâm quán, thể nhập mới nhả ra được sự chấp thủ, tham lam, sân hận, si mê, bản ngã, nó đòi hỏi mình phải có sức quán chiếu một cách thâm sâu, tư suy, thẩm thấu, thấu thị, bất cứ lúc nào cũng không được quên trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng của đời sống này, như vậy mới gọi là thấy pháp, chứng pháp, thể nhập vào pháp, cho đến khi nào nhìn thấy ngôi chùa mà mình xây dựng lên chỉ là sắc uẩn, không có gì là tôi, không có gì của tôi, bất cứ lúc nào cũng có thể ra đi không có gì tiếc nuối dù cho mình là người khai sơn, dựng lập ngôi chùa đó, một bậc tu hành chân chánh phải như vậy, họ không nghĩ bất cứ cái gì là mình, là của mình thì đó mới gọi là người thành tựu trí vô thường, trống rỗng. Ngay tự thân sắc uẩn này, bị thịt này thì bất cứ lúc nào cũng thường niệm:
"Đệ tử Gotama
Luôn luôn tự tỉnh giác
Vô luận ngày hay đêm,
Tưởng sắc thân thường niệm"
(Kinh Pháp cú 21 – phẩm Tạp lục, kệ 299)
Quán sắc thân như sau: "Đống đất, nước, gió, lửa này, tất cả phèo, phổi, ruột, gan, xương, da, lông, móng này là đất. Tất cả những máu mủ, mồ hôi, nước bọt là nước. Tất cả những chất gì dao động trong thân này thuộc về gió. Tất cả hơi ấm trong thân này thuộc về lửa. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi trong này", từng bước đi không thấy mình đi mà là sức gió vận chuyển, đó là phong đại, không có tôi và cái của tôi trong này mà là sức gió do phong đại vận chuyển.
Khi nhìn vào gương thấy mặt mình trong đó thì không thấy đó là tôi, là của tôi mà thấy đây là tứ đại, là địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại. khi nằm xuống không thấy một cái tôi đang nằm mà cần tác ý trong tâm đánh đuổi suy nghĩ tôi và của tôi đang có trong đầu, mình thấy được trái tim đang đập, mình thấy từng hơi thở vào ra mong manh, vô thường, biến hoại. Mình thấy được sự sanh diệt của hơi thở, mình thấy ba mươi hai thể trược: Tim, gan, ruột non, ruột già, tùy phế thận, hoành cách mô, nước bọt, máu mủ, đàm, mật, nước tiểu… trong những thứ này không có bất kì cái gì là tôi, là của tôi trong này.
Quán chiếu như vậy gọi là quán sắc thân thường niệm, không phải đợi đến khi ngồi thiền mới quán tưởng mà trong bất kì lúc nào nhìn vào thân thể này cũng thấy thật tướng của nó là ba mươi hai thể trược hiện ra, như vậy mình mới chứng nhập, thể nhập trí tuệ về sắc thân này hay còn gọi là niệm thân (Thân Hành Niệm), nghĩa là phải luôn ghi nhớ những sự vận hành, tạo tác của thân này, luôn nhớ về sự thật của thân này, vào mùng ngủ thì phải nhớ là đang chui vào hòm, khi nằm xuống thì khai triển chín giai đoạn của một tử thi "Mày tham dục, sân hận hoài, tao cho mày chết. Mày ngu si, mê muội, tham ái, hoài tao cho mày chết".
Tác ý như vậy để đánh đuổi những dục vọng, tham ái, sân hận, bản ngã, vô minh và đây cũng gọi là Thánh tư duy, sự tư duy của bậc Thánh. Nếu như tu mà không biết ứng dụng Tứ Niệm Xứ thì xem như trống rỗng, vô tích sự, Minh Thành nhớ rất kĩ ngày đầu tiên họp ban thành hội của Phật Giáo để các Tăng Ni sinh thực tập diễn giảng trong trường hạ của toàn thành phố thì các thầy đưa các chủ đề: Sám hối, quy y, Bát quan trai giới…
Cuối cùng Thượng Tọa Giác Trí – hiệu phó trường Trung cấp Phật học đã phát biểu một câu mà Minh Thành rất tâm đắc: "Nếu giảng bất cứ chủ đề gì mà không có Tứ Niệm Xứ thì cũng như không", một câu nói này thôi đã nói lên trí tuệ thành tựu của một người học Phật, nếu không có Tứ Niệm Xứ thì không có gì cả. Vì sự quán chiếu thân – thọ – tâm – pháp, thân thể, cảm giác, nội tâm, những gì đang vận hành trong tâm mà tu lại không nhìn thấy được thì tu cái gì? Đang có gì trong tâm không biết, thân này cấu tạo từ cái gì không biết, không biết không thấy cảm giác đang có gì thúc giục thì làm sao có thể nhiếp phục, đoạn tận?
Tứ Niệm Xứ là sự nhìn ngó, quán chiếu, dò xét thân xác này, tâm thức này, đó là trái tim của Đức Phật, là cốt lõi của Thánh Giáo, là trí tuệ của người xuất gia cho nên thực tập Tứ Niệm Xứ rất quan trọng. Con ngồi ghế nhà trường hơn chục năm, đã trải qua các thiền viện trong ngoài nước, đã đứng trên bục giảng hai mươi năm thì con mới nhận thấy: Nếu nền giáo dục Phật Giáo không có cải cách, thay đổi, khích lệ các Tăng Ni sinh trong hiện tại và tương lai đi vào thực tập (pháp hành) thì Phật Giáo nước mình sẽ dần bị mai một.
Vì sao? Phật tử đau khổ vào tìm mình trong khi bản thân mình cũng đau khổ thì làm sao mình giúp cho người ta hết khổ? Phương pháp diệt khổ không biết nên mình không giải quyết được cái khổ của mình thì làm sao mình giúp cho người ta hết khổ?
Con đang chia sẻ pháp hành, tức là phương pháp sống, cách sống để mình có thể nhìn ra khổ trong cuộc đời này, tìm ra được nguyên nhân nằm sâu trong thân tâm mình, cách nhiếp phục và đoạn tận nó. Điều này là siêu việt thế và xuất thế, cái này mới xứng đáng ăn cơm chùa, xứng đáng để người ta chắp tay đảnh lễ, cung kính, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Phải thấy được thân tâm chính mình, thấy được nguyên nhân nào làm cho mình khổ, cái gì dẫn dắt mình.
Mình không thích tham muốn trong khi vẫn tham muốn, không muốn sân nhưng vẫn bực tức, mình muốn là người hiền lương, dễ thương nhưng bản ngã lại sanh lên, ta đây, vênh váo, hống hách, kiêu căng, càng tu lâu bản ngã lại càng cao là sự thất bại. Có người gọi bằng "mày" lúc còn tập sự xuất gia vẫn vui vẻ chạy lại, nhưng khi đã thọ giới Tỳ-kheo mà bị kêu bằng "mày" thì lúc đó ra sao? Vui vẻ hay khó chịu? Nếu khó chịu thì càng tu bản ngã lại càng cao, vô hình trung mình tích tụ, chất chứa những gì làm cho cái ta lớn lên theo năm tháng chứ không phải tu để nhắm vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là vô ngã, vô thường, trống rỗng, sáu căn, sáu trần, sáu thức này là vô ngã, trống rỗng, không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Vì thế việc tu để liên hệ đến mục đích rất quan trọng vì mục đích của mình là đoạn tận tham, sân, si.
Tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức và không đi ra khỏi năm chữ này, dù cho tham cái chùa là tốt nhưng vẫn đau khổ như thường chứ mọi người đừng nghĩ tham chùa là không khổ. Mình thích tượng Phật bằng cẩm thạch, bằng ngọc bích, quý vô cùng nên lâu lâu lấy ra ngắm mà lỡ hôm nào bị trộm mất thì lúc đó mình ra sao?
"Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ".
(Tương Ưng Bộ, chương IV. Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), phần một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2)).
Đó là Thánh trí của Đức Phật chứ không phải tu lâu rồi trở hành "thích-đủ-thứ". Vì thế khi đã xác định được mục tiêu liên hệ đến mục đích, nắm vững được tông chỉ của sự tu hành sẽ thấy thích thú, hoan hỉ, hân hoan trong sự tu hành cho nên bằng mọi cách phải thắp sáng được ngọn lửa nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực chánh niệm trong thân tâm để đoạn tận tất cả gốc rễ khổ đau (khổ căn) trong người mình, phải đào xới nó lên chứ đừng để nó nằm yên trong thân tâm. Vô minh, tham ái và chấp thủ đã trở thành cây cổ thụ ngàn năm trong nội tâm mà mình chỉ cầm cuốc đào xới vài cái thì đến khi nào mình mới bứng được cây cổ thụ vô lượng vô biên kiếp này? Việc tu của chúng ta nếu không có chánh kiến để nhìn thấy rõ được vấn đề thì giống như cầm cuốc lại cuốc vài cái vào mấy cái rễ nhỏ rồi nghỉ ngơi, vui chơi, như vậy thì làm sao bứng nổi gốc rễ của khổ đau là vô minh, tham ái và chấp thủ?
Chúng ta phải ưu tư, suy tư, trăn trở, thao thức "Tại sao giới đức của mình chưa được thanh tịnh, chưa được hướng thượng viên mãn?", thứ hai là phải tăng thượng tâm học tức là thiền định (tứ thiền), phải tha thiết trong sự ngồi thiền, phải yêu thích thiền định, nhiệt tâm trong thiền định. Nếu không có tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học, tăng thượng tâm học thì không thể diệt được tham sân si vì thiền là giờ phút để mình lắng dịu thọ; tưởng; hành. Trong giờ phút thiền định để mình nhớ lại trong một ngày đã làm gì, nói gì, nghĩ gì, nếu có ác bất thiện pháp thì giờ ngồi thiền sẽ bị trí tuệ soi chiếu và sau đó mình chấn chỉnh lại.
Tại sao vào cuối ngày, nửa tháng hoặc vào cuối tháng mọi người thường hay tính lại sổ sách, cộng sổ thu chi ra vào? Chính là để biết lời lỗ, sự tu của mình cũng phải kiểm tra, kiểm điểm lại và giờ ngồi thiền sẽ làm việc đó, vào những lúc khác sáu căn sẽ tiếp xúc sáu trần nhưng trong khi ngồi thiền các căn phải thu nhiếp lại rồi mới bắt đầu để ý lại vào bên trong tâm thức, giờ đó là giờ sâu lắng nhất trong tất cả các giờ, đó là giờ thần thánh nhất trong tất cả các giờ, đó là giờ thiêng liêng nhất trong tất cả các giờ, đó là giờ soi rọi rõ nhất trong tất cả các giờ về thân tâm mình. Cho nên Đức Phật nói các Tỳ-kheo khi tụ hội cần làm hai việc, thứ nhất là im lặng của bậc Thánh tức là thiền định, thứ hai là đàm luận Chánh pháp.
"Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh"
(Trung Bộ kinh, 26. kinh Thánh cầu)
Như vậy là ngồi thiền và nói pháp là hai việc mà các Tỳ-kheo cần phải làm. Ngồi thiền là tăng thượng tâm học, thảo luận về pháp là tăng thượng tuệ học nhưng chỉ dừng lại ở phần văn, còn "đệ tử Gotama, luôn luôn tự tỉnh giác, vô luận ngày hay đêm, tưởng sắc thân thường niệm" đây cũng là tuệ nhưng thuộc về tư tuệ, đó là sự quán chiếu, tư duy, thẩm thấu, nghiền ngẫm, xuyên thủng những lớp chấp thủ, tham ái, vô minh trong tâm vì nghe pháp chỉ vài lần thì không thể phá vỡ được những thứ này.
Giống như căn nhà bỏ hoang mười năm không lau dọn thì không thể nào lấy căn chổi quét vài đường là có thể sạch được, phải chà rửa, quét dọn, lau chùi… dùng rất nhiều công cụ mới sạch được, tâm mình cũng giống vậy cho nên thiền quán rất quan trọng, không phải chỉ nghe giảng là xong mà phải ngồi nghiền ngẫm, soi rọi, quán chiếu tìm ra nguyên nhân tại sao mình cứ tham muốn, ta đây, hơn thua, khi đã thấy được nguyên nhân thì nhiếp phục và đoạn tận.
Vì thế tu đúng theo tinh thần Đức Phật dạy rất hân hoan, thích thú, không bao giờ thất nghiệp vì tâm đang bị cấu nhiễm nên phải thường xuyên tẩy rửa, đánh đuổi, lau dọn để làm sạch tâm nên có công việc làm liên tục, vì thế rất cần tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học và chúng ta đang nghe giảng là đang tăng thượng văn – tuệ. Tăng thượng là thêm nhiều hơn về trí tuệ của thân tâm chính mình, trăn trở làm sao để giới đức thêm lớn hơn, làm sao để tâm thiền định càng vững chắc, làm sao để trí tuệ càng tỏa sáng để soi sáng được những thứ bị che lấp, Đức Phật gọi là xuyên thủng khối vô minh uẩn to lớn mà trước nay mình chưa từng xuyên thủng, xuyên thủng tổ hợp của si mê từ xưa đến nay mình chưa từng xuyên thủng, phá vỡ và hôm nay mình xuyên thủng, phá vỡ.
Con kính chúc các thầy, các cô có được sức mạnh hùng liệt, nhiệt huyết trên con đường tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học.
./.