Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

THANH QUY ĐẠO TRÀNG 9-10-2022

2026-03-03 00:54:45
Tinh Hoa Nikāya

THANH QUY ĐẠO TRÀNG 9-10-2022

Thích Thiện Huệ

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nét đẹp người tu PAGEREF _Toc119938688 \h 1

II.Thanh quy đạo tràng PAGEREF _Toc119938689 \h 3

1.Tinh thần chung của đạo tràng: PAGEREF _Toc119938690 \h 3

2.Ứng xử trong đạo tràng PAGEREF _Toc119938691 \h 5

3.Tình thân trong đạo tràng PAGEREF _Toc119938692 \h 6

4.Kiểm soát thân khẩu ý PAGEREF _Toc119938693 \h 9

5.Giới hạn trong thảo luận PAGEREF _Toc119938694 \h 10

6.Thọ thực thanh tịnh PAGEREF _Toc119938695 \h 11

7.Giải tỏa bất hòa PAGEREF _Toc119938696 \h 11

Nét đẹp người tu

Được sự chỉ dạy của Sư phụ, con xin phép được nhắc lại thanh quy đạo tràng, cũng như chia sẻ về những oai nghi, tế hạnh, phẩm chất của một người tu.

Ngày mai, các bậc hiền trí sẽ được thực hiện tâm nguyện của mình là một lần trong đời được khoác trên người tấm y, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, thực hiện đời sống viễn ly, không nhà, cắt dây tham ái, xa lìa mọi ràng buộc, dính mắc của đời sống thế tục, tập sống đời sống Phạm hạnh nơi núi rừng để cảm nhận sự tu tập trong Thánh Pháp.

Người tu chúng ta đẹp lắm! Các bậc hiền trí nơi đây vô cùng đẹp – đẹp trong sự an tịnh, lắng dịu. Nét đẹp này xuất phát từ sự thanh thoát, nhẹ nhàng, thể hiện ở nơi thân, nơi lời nói và trong những suy nghĩ lành thiện, oai nghi phẩm chất, nết hạnh đạo đức của một người tu. Chúng ta phải phát khởi lên một niềm vui hỷ lạc trong Chánh Pháp. Vui vì chúng ta gặp được bạn lành, gặp được bậc minh sư. Vui vì chúng ta biết tu tập, biết cùng nhau sinh hoạt trong một Tăng thân đoàn kết. Vui trong sự hiền thiện, dễ mến, kính trên nhường dưới. Vui trong sự trang nghiêm, cung kính, tôn trọng và biết ơn. Chúng ta phải cố gắng giữ gìn và phát huy được những điều này.

Ngoài xã hội, khi đến các công ty, cơ quan nhà nước thì những nơi đó đều có những nội quy, nề nếp, phép tắc mà bắt buộc những thành viên phải tuân thủ, chấp hành thì mới đảm bảo cho đoàn thể, doanh nghiệp được ổn định, hài hòa, cùng phát triển. Trong đạo cũng vậy, nếu muốn sống trong một Tăng đoàn hòa hợp, cung kính, tôn trọng, biết lắng nghe, kính trên nhường dưới thì không thể thiếu những thanh quy trong đạo tràng. Vì lẽ đó, sư phụ chỉ dạy con phải ôn nhắc, khuyến tấn đại chúng nắm vững được thanh quy trong đạo tràng Nikāya, từ đó chúng ta có được nền tảng vững chắc trong suốt quá trình tu học.

Nếu đến cả hình thức bên ngoài, vỏ của Phạm hạnh, tức là những oai nghi, tế hạnh, tác phong của một người tu mà mình cũng không có thì chỉ cần nhìn vào đã không giống một người tu. Cho nên, những oai nghi chính gồm đi, đứng, nằm, ngồi rất quan trọng, bên cạnh đó còn có những oai nghi phụ cần gìn giữ. Một người tu đi đứng mà chân tay múa máy, động đậy; ăn nói không cẩn thận, muốn nói là nói, không giữ kỹ lời ăn tiếng nói, không thu nhiếp, không phòng hộ ba nghiệp sáu căn thì người khác nhìn vào sẽ đánh giá người tu. Hãy nhớ rằng, người tu chúng ta là mô phạm, là khuôn là mẫu, là phép là tắc để những người khác đến chùa học hỏi theo. Vì vậy, tất cả chúng ta phải lấy Đức Thế Tôn, những bậc A-la-hán là khuôn phép, mẫu mực để tu học.

Một hôm tại thành Vương Xá, Xá Lợi Phất gặp Ngài Mã Thắng đang đi khất thực. Thấy dáng vẻ ung dung, chững chạc, đi trong sự nhẹ nhàng, thanh thoát, uy nghi của Mã Thắng, Xá Lợi Phất tỏ lòng kính phục và thân đến hỏi đạo, Mã Thắng cho Xá Lợi Phất biết ông là đệ tử của Đức Phật. Xá Lợi Phất hỏi Ngài về đạo lý của Phật, Ngài đem giáo lý duyên sinh để giảng giải. Theo Phật, tất cả các pháp trong thế gian đều do nhân duyên mà có sinh, rồi cũng hoại diệt khi nhân duyên đã hết. Giáo pháp đó được diễn tả qua bài kệ:

Chư Pháp tùng duyên sinh

Diệt tùng nhân duyên diệt

Ngã Phật Đại Sa môn 

Thường tác như thị thuyết.

Dịch nghĩa: 

Các Pháp do duyên sinh 

Lại cũng do duyên diệt

Thầy tôi là Đức Phật 

Thường giảng dạy như vậy.

Sau khi nghe bài kệ này, Ngài Xá Lợi Phất được Nhập lưu, bước vào dòng Thánh, phát tâm đi đến gặp Đức Phật, muốn được xuất gia và gia nhập Tăng đoàn. Tu không bao lâu, Ngài chứng quả A-la-hán.

Qua đó, chúng ta thấy rằng, người tu dù là xuất gia hay cư sĩ thì cũng phải cố gắng hết sức để giữ gìn oai nghi, tế hạnh của mình. Nhất là khi bước vào thiền đường, chánh điện, những nơi tôn thờ hình tượng của Đức Bổn Sư, chúng ta phải có sự tôn kính, thu nhiếp sáu căn ba nghiệp, vì nơi đó là nơi tôn quý, trang nghiêm, cung kính tôn thờ bậc Đại Anh Hùng, đó chính là Đức Thế Tôn. Vì vậy, ở những nơi này phải biết thu thúc lục căn, không phải nói gì thì nói, trừ công việc cần thiết mới nói nhỏ vài câu, xong rồi thì phải trở về công phu tu tập, chứ không được lăng xăng, dao động. Nếu ngay cả nơi thiền đường mà còn lăng xăng, dao động thì khi ra bên ngoài làm sao phòng hộ, thu nhiếp được. Sư phụ thường nói vui nhưng rất sâu sắc: “Tu dở hay tu giỏi nhìn cái miệng là biết được liền, không cần làm gì nhiều”.

Thanh quy đạo tràng

Trong những ngày ở núi tu học, quý vị hãy cố gắng thực hành đúng nội quy, nề nếp của đạo tràng, giữ gìn không khí trang nghiêm, thanh tịnh cho đại chúng đồng tu. Nếu không biết giữ gìn, hộ trì sẽ rất dễ phiền não, dễ xảy ra chuyện. Chúng ta sẽ cùng ôn nhắc lại Thanh quy đạo tràng Nikāya:

Tinh thần chung của đạo tràng:

“Đạo tràng Nikāya

Tâm hiền hòa, lắng dịu

Tu hợp trong hòa ái,

Tạm biệt trong an vui,

Chân chánh thân, khẩu, ý.

Tám Chánh là đường đi,

Nhìn đời bằng Thánh Trí

Giới, Định, Tuệ thực thi”.

Sư phụ thường nhắc, tâm hiền hòa, tâm an tịnh chính là nề nếp, gia phong, phép tắc chung của đạo tràng Nikāya, chúng ta không thể không thực hiện những điều này. Luôn phải có sự an tịnh, lắng dịu, trầm lặng. Mỗi khi nhìn tôn tượng của Đức Phật, chúng ta sẽ thấy được dáng ngồi uy nghi, đôi mắt thiền định trong sự an tịnh, trầm lặng. Mỗi khi bước vào chánh điện, trước khi lạy Phật, chúng ta hãy ngắm nhìn tôn tượng của Ngài một chút để cảm nhận được từ trường trong sự an tịnh, thiền định, lắng dịu.

Thân, khẩu, ý phải có sự chân thành, chân thật, chân chánh. Hành động đi đứng không được thô tháo, đi phải là đi nhẹ như gió; đi-đứng-ngồi-nằm phải nhẹ nhàng, thanh tịnh. Lời nói của mình không phải muốn nói gì thì nói. Suy nghĩ bên trong cũng vậy, khi suy nghĩ về ai đó nên suy nghĩ về khía cạnh tốt đẹp, về những điều lành thiện, phẩm chất tốt đẹp của người đó. Nếu họ có ba phần dở, bảy phần tốt thì hãy tập nhìn ba phần tốt của người đó. Thông thường, chúng ta hay có thói quen nhìn người khác bằng thành kiến, cho rằng người đó chính là như vậy, không nhìn toàn diện về họ. Trên một tờ giấy trắng, nếu chấm một vết mực đen lên thì người ta sẽ nói là thấy chấm mực đen đó, chứ không ai nói thấy tờ giấy trắng cả. Bởi vì chúng ta đều là phàm phu, đang còn tu học, tất nhiên vẫn còn những tập khí, phiền não nhưng thay vì nhìn vào những chấm mực đen, chúng ta hãy cố nhìn những điểm tốt, hạnh hay của huynh đệ.

Trong sự tu học luôn ghi nhớ câu “Giới, Định, Tuệ thực thi” – muốn có trí tuệ thì phải có định, mà muốn có định thì phải giữ giới. Nếu không giữ giới thì tu học sẽ không thể yên được vì bên trong lúc nào cũng trạo hối, trạo cử, làm chúng ta ray rứt, ân hận do đã phạm giới hoặc lỡ nói một lời không đúng về bạn đạo, khi đó, tâm mình không yên được mà cứ dao động, trạo cử ở bên trong. Cho nên, từ giới sanh định, từ định phát sanh trí tuệ. Muốn giữ được giới thì phải có sự hộ trì các căn, thu nhiếp sáu căn ba nghiệp. Bên cạnh đó phải nhớ phát huy hai pháp: hổ thẹn và tàm quý để hỗ trợ mình trong việc giữ giới. Nếu đã phạm giới mà không biết hỗ thẹn, không biết xấu hổ, cứ trơ trơ thì không thể khắc phục, không thể phát triển, không thể tăng thượng giới được. Vì thế, trong phần tăng thượng giới học, Đức Phật dạy phải biết sợ hãi những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học pháp, học giới.

Ứng xử trong đạo tràng

Đạo tràng ứng xử theo tinh thần

“Năm Khiêm, Hai Khéo”

“Lời nói khiêm nhường,

Tâm hồn khiêm hạ,

Hành xử khiêm cung,

Hiền hòa, khiêm tốn.

Kính trên, nhường dưới,

Khiêm nhã, nhún nhường,

Khéo xét lỗi mình

Khéo phòng hộ căn”.

Huynh đệ nhớ ứng xử bằng sự nhúng nhường, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhã, khiêm tốn hài hòa với nhau.

Điều quan trọng nhất, mỗi khi có chuyện xảy ra, mỗi thành viên trong đạo tràng phải nhìn lại lỗi của mình, như sư phụ thường nhắc nhở chúng ta đừng vội phản ứng. Khi nghe lời chỉ trích, phê bình, góp ý của bạn đồng tu, cần phải có điềm tĩnh, trầm tĩnh để nhìn lại mình xem lời góp ý đó có đúng hay sai, không vội phản ứng. Rèn luyện một nội tâm an tịnh, trầm lặng để nghe lời chỉ dạy, sau đó tự rà soát lại chính mình, đó chính là “khéo xét lỗi mình”.

Bên cạnh đó, phải “khéo phòng hộ căn”. Khi đến chùa tu, đừng nhìn ngó, nói năng lung tung, như vậy rất dễ phiền não. Luôn để tâm giữ gìn con mắt, giữ gìn các căn của mình. Như khi ra đường, chúng ta đội nón bảo hiểm là để bảo vệ cái đầu; đeo mắt kính là để bảo vệ con mắt; mang giày dép là để bảo vệ đôi chân. Khi trời lạnh, mùa đông giá buốt phải mặc áo lạnh là để bảo vệ thân thể. Đó là chúng ta bảo vệ những thứ bên ngoài, còn tâm mình thì lại không biết bảo vệ. Chúng ta không biết bảo vệ cảm giác, không biết lo lắng, quan tâm đến những cảm thọ, hình bóng, tư tưởng, nhận thức bên trong. Từ đó làm nội tâm có được sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền thiện. Vì vậy, chẳng những chúng ta phòng hộ bên ngoài, mà phải biết phòng hộ, bảo vệ tâm mình.

Tình thân trong đạo tràng

“Đạo hữu trong đạo tràng Nikāya sinh hoạt trên tinh thần tương thân, tương ái, hiền hòa, lắng dịu và từ ái. Sẵn sàng giúp đỡ nhau. Sẵn sàng chung vai gánh vác những công việc trong đạo tràng.

Tránh to tiếng nhau, tránh cãi vã nhau”.

Mọi người cùng nhau sinh hoạt trên tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong công việc và cả tu học, an trú trong tâm hiền hòa, dễ chịu, lắng dịu, từ ái. Sẵn sàng chia sẻ, gánh vác những công việc trong đạo tràng cùng nhau. Tránh to tiếng nhau, tránh cãi vã nhau. Từ ngày lên núi tu học, con có chia sẻ với Sư phụ là chưa bao giờ nghe mọi người lớn tiếng cãi nhau, ít nhất trước mặt con là như vậy. Tất cả huynh đệ sống nhìn nhau bằng cặp mắt ái, hình ảnh này vô cùng đẹp.

“Tình đồng đạo được kết nối trong sự thân thiện, hòa nhã, hòa đồng, hòa ái nhưng không rời xa giới đức, giới hạnh và giới hạn cần thiết trong mối quan hệ”.

Tuy giữa mọi người cùng tu học, chia sẻ, làm việc trong sự thân thiện, hòa ái như vậy nhưng không được vượt ra ngoài giới hạn, oai nghi, giới hạnh, mà phải giữ gìn ranh giới giữa thầy và trò, không được vượt bậc, thầy ra thầy, trò ra trò. Bằng không, chúng ta sẽ dễ buông lung phóng dật vì đã quá thân với quý thầy cô. Sư phụ hay nói “ở chùa lâu ngày kêu Phật bằng anh” là để nhắc nhở mọi người phải cẩn thận, nếu không sẽ mất đi sự cung kính như lúc ban đầu gặp nhau, thậm chí nếu không khéo sẽ xem thầy như bạn mình. Con chứng kiến rất nhiều trường hợp này, Phật tử mới đến chùa rất cung kính, lễ phép, khép nép. Nhưng ở chùa một thời gian thì nhiều khi xem quý thầy giống như bạn mình, đây là điều thất bại trầm trọng, vì người này mất đi sự cung kính lúc ban đầu. Cho nên, con rất tâm đắc câu “phải an trú tâm mình giống như cô dâu mới về nhà chồng”, luôn có sự rụt rè, khép nép, e dè, nhúng nhường, khiêm hạ. Có rất nhiều chuyện đau lòng đã xảy ra vì đánh mất cái tâm này, như vậy thì thất bại vô cùng, hãy hết sức chú ý điều này.

“Xác định rõ ràng ranh giới giữa trên và dưới, ranh giới giữa nam và nữ, giữa nam và nam, giữa nữ và nữ. Không xô bồ, phóng dật, buông lung, quá thân mật, quá gần gũi, quá đà trong các mối quan hệ”.

Nhiều người quen thân quá nên muốn làm gì làm, muốn nói gì nói, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, dao động, không giữ gìn oai nghi, phép tắc như ngày mới đến chùa nữa, thậm chí còn lắm mồm, lắm miệng, lắm lời. Chúng ta phải học từng chút, từng chút như vậy đến mức thấm thía để luôn ghi nhớ. Phải luôn nhắc đi nhắc lại thường xuyên để không được quên.

“Tự mình gìn giữ giới đức trang nghiêm, thanh tịnh. Nhắc nhở bạn đạo gìn giữ giới đức trang nghiêm, thanh tịnh”.

Điều này vừa lợi cho mình, vừa lợi cho người. Một mặt tự trao dồi những oai nghi, phẩm chất của mình. Một mặt là nhắc khéo huynh đệ đồng tu của mình nếu có gì chưa ổn, chẳng hạn “huynh thấy việc này chưa ổn lắm”, “tỷ thấy dạo này muội nói nói hơi nhiều, nhớ giảm bớt lời nói một chút”. Hãy lựa những lời nói nhẹ nhàng, từ tâm để góp ý huynh đệ đồng tu, chứ gặp là nói thẳng liền thì có khi không đúng lúc, không đúng thời. Vì vậy phải lựa chỗ, lựa lời mà mà, như vậy huynh đệ mới dễ dàng chấp nhận lắng nghe.

“Kính trên nhường dưới. Cùng nhau tôn trọng thanh quy của đạo tràng, tôn kính chư Tăng Ni, tôn trọng huynh trưởng, tôn trọng bạn đồng tu và tự trọng bản thân. Luôn tâm niệm trong lòng: “Chúng ta hãy là hội chúng Tinh ba, chớ không phải là hội chúng Cặn bã”.

Chúng ta phải luôn ghi nhớ trong tâm, nhắc nhở trong lòng rằng: “Chúng ta hãy là hội chúng Tinh ba, chớ không phải là hội chúng Cặn bã”. Chúng ta đang tu trên con đường hướng thượng, phải khéo tác ý nhắc nhở mình hoan hỷ vì mình đang ở trong đại chúng tinh ba, chứ không phải phải hội chúng cặn bã.

Đức Phật dùng hai chữ “cặn bã” tức là đã hết xài, là đồ bỏ đi. Như khi uống thuốc sủi, chúng ta sẽ uống phần nước ở trên, còn cặn ở dưới sau sẽ bị bỏ đi, không được dùng.

Này các Tỷ-kheo, có hai loại hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng cặn bã và hội chúng tinh ba. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng cặn bã? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo đi đến con đường dục, đi đến con đường sân, đi đến con đường si, đi đến con đường sợ hãi, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng cặn bã.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng tinh ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo không đi đến con đường dục, không đi đến con đường sân, không đi đến con đường si, không đi đến con đường sợ hãi, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng tinh ba.

Này các Tỷ-kheo, đây là hai hội chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỷ-kheo, tức là hội chúng tinh ba.

(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)

Chúng ta phải thấy hoan hỷ vì đã, đang và sẽ tu học để hướng đến một hội chúng tinh ba. Vì sau khi đã học nhận diện ngũ uẩn, thấy được rác bẩn trong tâm thì cmj đang hướng đến sự đào thải những cấu nhiễm, dùng Như lý tác ý để quét dọn, lau chùi nội tâm và luôn cố gắng đánh đuổi, chế ngự, nhiếp phục, thậm chí diệt tận tham, sân, si, dục, ái, bản ngã bên trong. Bên cạnh đó còn biết giữ gìn những giới hạnh của người tu. Nếu không giữ giới, chúng ta sẽ rất sợ hãi. Khi đến bất cứ hội chúng hay đám đông nào, nếu không giữ giới thì tâm mình sẽ rất sợ hãi, lúc nào cũng trong trạng thái lo lắng, bất an. Sự tu tập như vậy là chúng ta đang đi trên con đường hướng đến hội chúng tinh ba.

Kiểm soát thân khẩu ý

Thân hành, khẩu hành và ý hành phải có sự an trú trên cảm giác toàn thân.

“Thân hành nhẹ nhàng, an tịnh. Mọi lao tác trong đạo tràng đều tế nhị, không thô thiển, tránh tạo tiếng động, tiếng ồn. Tập chánh niệm trong oai nghi, hành động. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt”.

Dù sai phạm lỗi nhỏ thì cũng phải tập sám hối với đại chúng, với quý thầy. Khi làm việc phải nhẹ nhàng, an tịnh.

“Khẩu hành an tịnh trong suốt ngày tu học”.

Khẩu hành cũng vậy, chuyện gì đáng nói thì nói, không thì đừng nói, mà phải giữ gìn lời nói trong suốt ngày tu. Chỉ nói khi trình pháp, hỏi pháp, pháp đàm, chia sẻ. Con rất tâm đắc câu Sư phụ thường nhắc đến của cố Hòa thượng chùa Bửu Liên: “Khẩu khai thần khí tán – Thiệt động thị phi sanh”, tức là mỗi khi mình mở lời thường dễ làm tổn hao thần khí, làm mình mệt mỏi. Cho nên, Đức Phật luôn dạy các đệ tử của Ngài khi gặp nhau chỉ có hai việc cần làm, đó là “im lặng đúng như Chánh Pháp” và “nói năng đúng như Chánh Pháp”. Vì vậy, khi gặp nhau chỉ nên thiền định, trao đổi, chia sẻ, pháp đàm, trùng tuyên lại những lời dạy của Đức Phật.

“Chỉ nói khi trình pháp, hỏi pháp. Tránh hỏi pháp, trình pháp quá dài, còn thời gian cho các bạn khác. Để không cắt ngang dòng tâm ý của vị giảng pháp, nên người nghe pháp không chen ngang vào giữa buổi pháp được giảng, dù vị giảng pháp đang im lặng. Sau buổi giảng sẽ có phần hỏi đáp. Vì vậy, chỉ hỏi pháp, trình pháp khi đến giờ hỏi đáp, đó là điều cần cẩn trọng lưu ý. Không phát biểu giữa buổi giảng pháp. Không cắt ngang bài pháp đang được chia sẻ. Không cắt ngang lời vị hướng dẫn”.

Đây là những lỗi chúng ta thường mắc phải, cần chú ý để khắc phục. Hãy nhớ là không được phát biểu ngang buổi giảng pháp. Đồng thời khi trình pháp thì hãy nói những gì cốt tủy, những điểm quan trọng nhất, ngoài ra không nên nói lòng vòng, làm mất thời gian. Trình pháp là khác; chia sẻ cảm nhận là khác. Được mời chia sẻ thì có thể nói nhiều hơn một chút, còn khi trình pháp chỉ nên nói vào những điểm trọng tâm, cốt yếu, ngắn gọn nhưng đủ ý.

“Ý hành an trú trong tâm hiền, tâm an tịnh, hoặc như lý tác ý về pháp, hoặc duy trì định tướng trong suốt ngày tu”.

Chúng ta có thể giữ định tướng về bộ xương, ba mươi hai thể trược hoặc chín giai đoạn một tử thi… cố gắng duy trì định tướng đó thường xuyên. Hoặc an trú và phát huy vào những định tướng đã có, như: tâm hiền, tâm từ, tâm hoan hỷ trong pháp và tác ý liên tục.

Giới hạn trong thảo luận

Chúng ta đang tu học theo đường lối kinh Nikāya nên mình chỉ chia sẻ, pháp đàm, đàm luận về những gì Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya, không bàn luận những chủ đề nằm ngoài dòng pháp này. Nên phát biểu với tâm hiền lành mến pháp, với lòng từ mẫn, muốn chia sẻ pháp. Trong khi chia sẻ với nhau, phải thường xuyên nhìn lại cảm thọ để xem mình có khởi cảm thọ khó chịu, cảm giác bực bội, sân giận hay bản ngã không? Nếu có những cảm thọ đó thì phải dừng lại, an tịnh lắng dịu, không chia sẻ nữa. Vì nếu càng nó thì cảm thọ bên trong sẽ càng thúc giục, càng muốn nói, càng thêm sân và bản ngã. Chính vì vậy, phải quán xét cảm thọ ngay từ lúc ban đầu để chặn đứng ngay lập tức. Khi khởi lên bản ngã muốn thể hiện hoặc sanh khởi sự sân hận, phải phát giác, phát hiện những cảm thọ đó từ trong trứng nước để ngăn chặn chúng ngay lập tức. Nhiều khi chỉ lo tập trung vào những gì muốn nói mà chúng ta không nhìn nhận lại cảm thọ, có khi nói trong sân, trong dục, trong bản ngã mà không hay biết và chúng dắt mình đi xa. Nếu không khéo là chia sẻ một lúc là nói trong tâm sân, người nói có khi không thấy nhưng người nghe sẽ phát hiện được. Chúng ta đều học chung một thầy, khi nói ra như thế nào thì bạn đạo sẽ biết được, không thể giấu được, dù ít hay nhiều nhưng khi đã có dục, sân, bản ngã trong khi nói thì bạn đạo sẽ biết. Điều quan trọng là tự thân mình có biết hay không, nếu không biết mà cứ làm tới theo dục, sân, bản ngã thì sự tu sẽ khó tiến bộ. Cho nên, sự an trú cảm giác toàn thân là vô cùng quan trọng trong suốt quá trình tu.

Thọ thực thanh tịnh

Tập ăn cơm trong sự chánh quán và chánh niệm như nghi thức chúng ta đang được tu học hằng ngày. Phải biết kiểm soát hành động ăn, xem có thô tháo trong khi ăn không, từ cái nhai, cái nuốt, từ sự múc cơm, vét cơm. Tập để đũa muỗng nhẹ nhàng, khi vét thức ăn phải hạn chế tiếng động một cách tối đa. Khi nhai phải kiểm soát quai hàm, bằng không nhìn vào sẽ rất thô tháo. Có khi nuốt thức ăn rất vội vàng, do cảm giác thúc giục bên trong. Cho nên, phải cẩn thận kiểm soát cảm giác tham ái thức ăn, muốn ăn nhiều, muốn thêm đồ ăn. Giờ ăn thực sự là một giờ tu rất quan trọng, các pháp dục, ái, tham, sân sẽ được biểu hiện trong suốt quá trình thọ thực. Chẳng hạn, mình ăn xong rồi mà huynh đệ chưa ăn xong, mình ngồi chờ lâu thì bên trong sẽ có sự khó chịu, bứt rứt. Khi nhìn thấy được những cảm giác đó phải lập tức tác ý, đánh đuổi, dọn dẹp, không để chúng tổn chỉ, tồn đọng trong tâm mình.

Chúng ta cần thọ dùng bữa với đại chúng là do vậy, vì khi ăn một mình chúng ta rất dễ thả lỏng, các pháp dục, tham, ái hoạt động rất kinh khủng và mình không kiểm soát được. Nhờ có đại chúng ăn chung mà mình mới có sự e dè, khép nép, sợ sệt, khi được đưa vào khuôn phép như vậy thì sự nhiếp phục và quán xét trong khi ăn mới đạt kết quả, còn ăn một mình rất dễ buông lung.

Giải tỏa bất hòa

“Vì đang tu học sự nhiếp phục thân tâm nên chắc chắn sẽ có lỗi lầm, có bất đồng ý kiến, chưa dễ nói, chưa hiền thuận, chưa nhu hòa trong sinh hoạt, trong hành vi, trong ứng xử, trong thân hành, trong khẩu hành. Vì vậy, khi có chuyện không hài lòng xảy ra trong đạo tràng, những người liên đới nên tự xét mình trước, xem lỗi của mình trước, sau đó, nên thông cảm với lỗi làm của bạn đồng tu”.

Dù gặp bất cứ chuyện gì làm cho huynh đệ không hài hòa, không hiểu nhau, không thông cảm cho nhau thì bản thân mỗi người chúng ta phải tự nhìn nhận lại chính mình trong một nội tâm điềm đạm, trầm lặng, lúc đó chúng ta mới thấy được lỗi lầm của mình, bằng không, khi bị nói đến là phản ứng lại ngay. Chúng ta thường ít chấp nhận lỗi sai của mình, cứ phản ứng trước rồi sai đúng thì tính sau. Cho nên, cần có sự tự nhìn nhận về chính mình của mỗi thành viên.

“Nếu thấy cần phải góp ý thì trước khi nói cần phải an trú nội tâm 5 pháp: “Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói từ tốn, nói lời có lợi ích, nói với từ tâm”.

Nói đúng thời có nghĩa là khi muốn góp ý không phải gặp trên bàn cơm là nói luôn, như vậy là không đúng thời. Hoặc huynh đệ đang làm việc, rất mệt mỏi, cảm thọ sẽ không được dễ chịu thì không nên góp ý lỗi người ta ngay lúc đó, như vậy sẽ khiến họ rất khó chịu. Thay vào đó, khi đã xong mọi việc, lúc thích hợp thì hãy góp ý nhẹ nhàng. Lúc này tâm huynh đệ mình đang ở trạng thái bình thường nên họ sẽ tự nhìn lại và thấy lỗi của mình. Mọi người đều được vui vẻ và tiến bộ, như vậy mới là góp ý đúng thời đúng lúc. Còn nói không đúng thời thì không khéo sẽ phản tác dụng.

Đồng thời, phải “nói đúng sự thật, nói từ tốn, nói lời có lợi ích, nói với từ tâm”. Khi chia sẻ bất cứ điều gì với huynh đệ, chúng ta nên suy nghĩ trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói. Phải xem lời nói, suy nghĩ đó có lợi mình lợi người không hay làm hại mình, làm tổn thương, nhức nhói, đau lòng cho người? Đây là những lời Đức Phật dạy cho Ngài La Hầu La. Khi nói, khi làm, khi nghĩ, phải có sự dò xét trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói – thân , miệng, ý đều phải dò xét như vậy, đây là cách giúp chúng ta thực tập ba nghiệp thanh tịnh. Bên cạnh đó, những gì nói ra phải nói bằng tình thương, bằng tâm từ.

“Người được góp ý cần nghiêm túc đón nhận lời góp ý và nghiêm túc quán xét bản thân. Ghi nhớ câu Pháp Cú 76:

Nếu thấy bậc Hiền Trí

Chỉ lỗi và khiển trách.

Như chỉ chỗ chôn vàng.

Hãy thân cận người trí,

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn không xấu.”

Mỗi lần con được Sư phụ nhắc nhở, chỉ dẫn những điểm còn sai sót, không đáng có, con cảm thấy rất vui mừng, giống như Ngài đang chỉ chỗ chôn vàng cho mình. Khi chúng ta trú trong tâm của một người học trò, lắng nghe những lời góp ý, chỉ dạy của Sư phụ, mình sẽ thấy hoan hỷ, tuyệt diệu và vô cùng hạnh phúc.

Thông thường, thời khóa nghe pháp buổi chiều trong chúng là lúc hai giờ rưỡi, có một lần đã đến giờ trời mưa nên con Như lý tác ý: “Thôi, ở phòng tự nghe pháp, không cần đi nghe cùng đại chúng, ở phòng cũng là nghe pháp, chứ không phải không nghe”. Lúc đại chúng nghe pháp xong thì con mới lên ngồi thiền thì con gặp Sư phụ. Sư phụ hỏi con đi đâu mà không lên nghe pháp, con trả lời là nghe pháp ở phòng. Sư phụ nói như vậy là không được, vì nghe như vậy là nghe trong dục, trong ái, tức là nghe theo sự thúc giục, ưa thích, muốn nghe riêng, không nghe theo đại chúng. Sư phụ chỉ nhắc nhở nhẹ như vậy nhưng con rất xấu hổ và con lạy quỳ xuống lạy cảm ơn Sư phụ đã chỉ dạy con. Sư phụ chỉ nhắc một lần như vậy nhưng con không bao giờ lặp lại lần thứ hai trường hợp này, con vô cùng xấu hổ, vì việc đó không đáng để Sư phụ phải nhắc nhở.

Cho nên, khi có người nhắc lỗi cho mình và mình có sự xấu hổ, hổ thẹn, tàm quý thì chúng ta sẽ thay đổi rất nhanh, đồng thời có sự tiến bộ trong sự tu học, không dám tái phạm lỗi lầm. Mỗi lần có người nhắc lỗi là mình phải thấy lo sợ, sợ mình lại phạm lỗi, có như vậy thì mới hạn chế phạm lỗi, đặc biệt là những lỗi không đáng phạm phải. Như trong bài kinh Siva có bài kệ:

Hãy thân với người lành,

Hãy gần gũi người thiện,

Biết diệu pháp người hiền,

Chỉ tốt hơn, không xấu.

(Tương Ưng Bộ Kinh I, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Đạo, bài kinh Siva)

Khi thân cận người hiền, người trí, gần gũi với bậc minh sư chỉ lỗi cho mình thì “không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc”, tức là mình sẽ được lợi trong nhiều khía cạnh cho sự tu học.

Con mong rằng đại chúng cố gắng giữ gìn những oai nghi chính là đi-đứng-ngồi-nằm và những oai nghi phụ như trong bài Niệm Chánh Niệm Tỉnh Giác, tức là rõ biết tất cả những việc mình đang làm. Trong suốt thời gian tu học, hãy cố gắng an trú trong tâm hiền, tâm cung kính học pháp, cầu pháp. Bởi lẽ, nếu đi học pháp, cầu pháp với tâm bản ngã thì không thể nào đạt được pháp vô ngã. Pháp hành này là một đường lối tu hành chân chánh, chỉ những người chân thành, chân chánh mới tu tập được dòng pháp này. Nếu tu với một tâm hung dữ, bản ngã, hơn thua thì chúng ta khó thể nhập được vào dòng pháp này. Mong rằng đại chúng cố gắng ghi nhớ và thực hành.

Bên cạnh đó, người tu chúng ta phải có sự làm đẹp cho tự thân mình về oai nghi, về giới hạnh, về ba nghiệp thân khẩu ý. Muốn được như vậy đại chúng phải thực tập hộ trì các căn, giữ giới, giữ oai nghi, phép tắc, những điều này rất quan trọng trong khi tu học cùng đạo tràng.

Như vậy, đây là những điều con chia sẻ và sinh hoạt cho đại chúng về oai nghi, phép tắc trong thiền môn. Mong đại chúng hoan hỷ và ghi nhớ thực hành trong suốt thời gian tu học nơi đây.

./.