Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 1
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 1
Sự Tập Khởi Của Khổ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khổ Tập PAGEREF _Toc141806289 \h 1
II. Khổ Diệt PAGEREF _Toc141806290 \h 5
III. Chia sẻ về hành trình tìm pháp PAGEREF _Toc141806291 \h 10
I. Khổ Tập
Nghe tiếng chuông thứ nhất đem tất cả tấm lòng chân thành cung kính hướng về Đức Thế Tôn.
Nghe tiếng chuông thứ hai đem tất cả tấm lòng chân thành cung kính hướng về giáo pháp vô thượng.
Nghe tiếng chuông thứ ba bằng tất cả tấm lòng chân thành cung kính hướng về mười phương hiền thánh Tăng.
Nghe tiếng chuông thứ tư bằng tất cả tấm lòng chân thành cung kính hướng về vô thượng thánh giới.
“Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập V - Bài kinh Như Lai Thuyết 1)
Thế nào là sự tập khởi của khổ? Cái này rất là thâm sâu, nó đòi hỏi mình phải có sự chú tâm cao độ, nhất niệm, lắng nghe và quán chiếu mới được. Thế nào là sự tập hợp và sanh khởi của khổ đau? Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Đây là nói về nguyên nhân của đau khổ. Các huynh đệ ai hiểu câu này hãy giải thích.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy giáo thọ. Kính thưa các sư cô, trong các câu kinh này thì Đức Phật dạy chính cái ái là nguyên nhân đưa đến tái sanh và cái ái này chúng ta hiểu như thế nào? Chính là sự khao khát được hỷ dục, hiện hữu trong tương lai. Cái hỷ dục ở đây là gì? Hỷ là sự vui thích, dục là sự ham muốn. Tham muốn, vui thích hướng đến tái sanh, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia chính là mình đi tìm những cảnh giới để mình hướng đến sự tái tạo hệ thân tâm hay còn gọi là ngũ uẩn cho đời sau, không ra ngoài 3 loại là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.
Dục ái là chỉ sự yêu thích cảnh giới ở cõi dục này, phi hữu ái là cảnh giới thuộc cõi sắc và vô sắc. Trong câu kinh này chúng ta hiểu ái chính là sự yêu thích chính mình, yêu thích được tái sanh, vui thích trong sự tái sanh, tầm cầu cảnh giới tái sanh, sự mong muốn được hiện hữu trong tương lai, vì mình không thấy được sự thật của thân tâm này, mình cho thân tâm này là tự ngã và có một tự ngã không thấy được sự thật về năm uẩn này là vô thường, là duyên sanh, là vô ngã.
Cho nên khi gián tiếp sự khao khát đó tồn tại ngay lúc mình còn sống, đến khi chết rồi thì sự khao khát đó vẫn thúc đẩy mình đi tìm cái thân năm uẩn mới. Đó là ý nghĩa của câu kinh nói về sự tập khởi của khổ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Tăng Sinh:
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng. Con xin trả lời câu hỏi về ý nghĩa câu kinh mà Đức Phật đã dạy ở trên. Thưa thầy câu kinh này Đức Phật dạy ái có nghĩa là nguồn gốc, là cội nguồn sâu xa đưa đến cái khổ. Trên đời này ai cũng khổ, chính là do ái mà sanh ra. Sự tập khởi của khổ đưa đến tái sanh có nghĩa là ái chính là sự tìm tòi, thôi thúc trong thân tâm mỗi người.
Ai cũng muốn hướng đến sự tìm cầu nhưng vì vô minh, sự thiếu hiểu biết, thánh trí chưa có nên tìm đến những cái không đúng, những hành giả không tu tập, không quán chiếu, không hiểu được những cái chúng ta tìm cầu chỉ là giả tạo. Cùng khởi hỷ dục và tham muốn đến tái sanh là những người này tìm cầu những cái không thật có, nó luân diễn tái sanh trong sanh tử luân hồi. Khi chúng ta tìm cầu chỗ này chỗ kia nghĩa là chúng ta còn suy nghĩ cũng như thân tâm mong muốn làm sao cho chúng ta được hạnh phúc, an lạc nhưng không hiểu được an lạc đó chỉ là tạm thời chứ không đưa đến giải thoát hoàn toàn mà chúng ta luôn tìm cầu hướng đến những tham muốn tái sanh. Tái sanh ở đây là luôn luân chuyển trong 6 nẻo luân hồi, chúng ta chưa thoát ra khỏi dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
Ái cái gì? Yêu thích cái gì? Chính là tham ái đối với năm uẩn, tham ái đối với sắc uẩn, tham ái đối với những cảm giác, tham ái đối với các tưởng, tham ái đối với sự suy nghĩ, tham ái đối với sự nhận thức. Cho nên sau này mình học các pháp thì cứ quy về năm uẩn là sẽ đúng, vì năm uẩn là bao trùm hết, tham sân si trong năm uẩn, si là không thấy được năm uẩn là năm uẩn mà cho năm uẩn là mình. Sân là nhận năm uẩn này là mình cho nên ai chạm đến là bực lên.
Tham là không thấy năm uẩn là khổ, là vô thường, là biến hoại cho nên mình mới tham vào sắc uẩn này, tham vô các suy tưởng, nhận thức, cảm giác. Vì vậy tất cả các phiền não đều căn cứ vào năm uẩn để nói. Mình sanh ra bản ngã do mình không thấy, không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là trống rỗng, là vô thường cho nên mình tưởng năm cái này là mình, chính vì mình tưởng năm cái này là mình cho nên mới có mình hơn, mình bằng hay là mình thua. Mình nói "tôi học dở, học dốt lắm", tuy là nói giống như tự ti nhưng cũng từ bản ngã, đều thấy có tôi trong đó.
Ngày nào còn thấy có tôi thì ngày đó chưa thành tựu trí tuệ. Phải thấy năm uẩn là năm uẩn chứ không có tôi, không có của tôi. Thực tế mình có yêu thương bàn tay nhỏ nhắn, xinh xinh của mình không? Minh Thành chứng kiến Hòa Thượng Thượng Viện Hạ Bình, lúc trước là trưởng ban Phật giáo quận Bình Thạnh, ngài bị xe đụng làm gãy ngón chân, Minh Thành vào bệnh viện thăm mà thần sắc của Hòa Thượng bình thường như không có chuyện gì, đó là mình thấy được sức niệm định huệ của ngài. Còn ở đây mình nói toàn tứ đại, ngũ uẩn giai không mà mới quẹt xe chút xíu là la lên.
Chỗ đó là sức mạnh của niệm định tuệ, của cái sự chấp ngã nặng hay là nhẹ, nhiều hay là ít. Đó là chạm tới thân chứ chưa nói tới vật ngoài thân, chạm tới thân là khó hơn vật ngoài thân. Ví dụ hư cái chuông thì mình kiếm chuông khác chứ còn chạm tới thân thì khó, chạm tới cái thân này đâu phải dễ vậy mà gãy ngón chân mà Hòa Thượng vẫn bình thường. Chỗ đó là chỗ mình phải học, là hằng ngày mình có công phu tu tập, mình có quán chiếu thì khi gặp chuyện là mình có cái niệm của định tuệ. Còn mình không có quán chiếu, không có tu tập, không có thiền định cho nên mình khổ. Đức Phật không nói đến những chuyện nhỏ nhặt nhưng chúng sanh bây giờ không chịu nhỏ nhặt thì không hiểu, chúng sanh thích nói những chuyện nhỏ thành ra phải giảng giải rộng ra, nói đến những chỗ định lý, những chỗ cốt lõi là mình phải nói rộng ra thì mới thấy được.
Tại sao mình thích mùi thơm? Tại sao mình thích người đẹp? Nhìn người đẹp thôi cũng được. Tại sao mình thích ăn ngon? Tại sao mình thích vào phòng sang trọng? Tại vì mình cho cái thân ngũ uẩn này hưởng thụ, cho cái thọ, cái cảm giác hưởng thụ, vì mình thấy tôi "cái cảm giác này của tôi, tôi đang có cảm giác sung sướng, khoan khoái". Mình dính vào cái thọ, cảm giác đó cho nên mình đi tìm để phục vụ cho cái thân năm uẩn này.
Báo chí đưa tin hằng ngày xảy ra bao nhiêu tù tội, án mạng chung thân hay là tử hình thì tất cả cũng chỉ là đi tìm cảm giác vì thế cái trí năm uẩn này bao trùm trời đất. Thành tựu được trí này chính là trí huệ của bậc thánh chứ không phải trí huệ bình thường. Khắp thiên hạ đều đi tìm cảm giác và chính mình cũng như vậy. Trời nóng 40 độ là mình không muốn ngồi đây nữa vì bị trói buộc trong cảm giác, mình cho cảm giác đó là mình, là tôi mà mình không biết cảm giác đó là vô thường.
Khi nhiếp phục được cảm giác vô thường thì ngồi thiền mình có thể vượt qua được một tiếng, một tiếng rưỡi, hai tiếng chứ còn bây giờ mới đau một chút là "thôi ngồi không được đâu, tê quá, chắc gãy chân quá". Mình không nhiếp phục được vì tôi đang đau, đang có cảm giác đau, đang có cảm giác khổ, mình dính chặt vào chung với cảm giác cho nên thành tựu trí năm uẩn là tách mình ra khỏi năm uẩn: sắc là sắc; thọ là thọ; tưởng; hành; thức là năm uẩn chứ không phải mình, cái trí đó mới giúp mình bớt khổ. Còn năm thủ uẩn là khổ, chữ "thủ" là nắm chặt, mà nắm chặt là khổ, nắm chặt cho đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì đó là nguồn gốc của khổ. Bệnh thì ai bệnh? Tôi bệnh. Buồn thì ai buồn? Tôi buồn. Vui thì ai vui? Tôi vui, như vậy là mình nhận những cảm giác đó hết chính là mình vô minh.
Mình phải đi ra khỏi cảm giác này, mình gặp ai mà thương yêu, lo lắng là mình chết ngay. Chính cái cảm giác đó giết mình chết. Đức Thế Tôn dạy mình giống như một người cho những cái đẹp đẽ, hấp dẫn, vui sướng thì người đó ái tăng trưởng, từ ái tăng trưởng dẫn đến đau khổ tăng trưởng, mà đau khổ tăng trưởng thì Ta nói rằng: Này các Tỳ-kheo người đó không thể giải thoát khỏi khổ đau. Còn nếu người nào nhìn thấy những điều khả ái, vừa lòng, thích thú mà người đó quán đây là vô thường, đây là khổ, đây là biến hoại, đây là không có bền chắc thì người đó làm cho ái giảm thiểu, từ ái giảm thiểu thì khổ giảm thiểu, ái chấm dứt thì khổ chấm dứt. Này các Tỳ-kheo Ta tuyên bố rằng người này giải thoát tất cả khổ đau. Đó là đạo lộ của sự tu tập chứ không có cái gì thần thánh, xa vời.
II. Khổ Diệt
“Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập V - Bài kinh Như Lai Thuyết 1)
Thế nào là đoạn diệt khổ? Ðó là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn, sự quăng bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp khát ái ấy. Đoạn diệt là chấm dứt đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Ly tham là không còn tham muốn với thọ; tưởng; hành; thức. Không còn tham muốn đối với năm uẩn. Quăng bỏ đối với năm uẩn. Từ bỏ đối với năm uẩn. Giải thoát đối với năm uẩn. "Sự vô chấp khát ái ấy" tức là không còn chấp, không còn khao khát, yêu thích đối với năm uẩn thì đây là con đường đoạn diệt khổ đau. Phải nắm vững chỗ này. Đây là hồng tâm của giáo pháp, là trái tim của Đức Phật, là con mắt của 12 bộ kinh, cốt tủy của thánh điển. Không nắm được chỗ này là uổng công đời xuất gia tu hành.
"Cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia", tham sẽ hướng đến tái sanh vì trong cuộc sống không những mình yêu thích cái sắc của chính mình mà mình còn yêu thích cái sắc của người khác nếu mình cho nó là đẹp, còn nếu mình không thấy đẹp thì mình đâu có thích. Vì vậy cái đẹp là cái tương đối theo cái tập khí, theo cái thọ; tưởng; hành; thức chứ không có cái đẹp chuẩn.
Hồi xưa mặc quần tây thụng dài, rồi giờ quần tây sát vào người thì cái đẹp đó là vô thường chứ không có chuẩn tắc thật sự của đẹp, do cái tâm của chúng sanh suy nghĩ tại thời điểm đó, trong hoàn cảnh đó chứ không có cái chuẩn nào là đẹp, chính vì vậy mới nói "nếu như mình cho đó là đẹp" chứ không có cái đẹp thật. Mình nhìn thấy bề ngoài thì cho là đẹp, cũng như mình mới mua cái áo vải đẹp nhưng mặc ra đường sao ai cũng nhìn, đối với người ta không có gì đẹp mà mình lại thấy nó đẹp, đó là vọng tưởng điên đảo. Đó chỉ là do cái tưởng của mình chứ đâu có cái gì mà đẹp với không đẹp, nhưng mà mình lựa bộ đồ mới. Đó là sắc tưởng của quá khứ.
"Này các Tỳ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng... xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, III.Phẩm Những Gì Được Ăn, VII. Đáng Được Ăn).
Đây là thánh trí. Cho nên lâu lâu mình nhớ lại hồi 18 tuổi, thời mình còn xuân sắc như hoa mới bắt đầu nở, ngồi nhớ lại thì "sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng... xa hay gần; tất cả sắc" đều là vô thường, khổ, là vô ngã. Các huynh đệ về đọc bài kinh Bọt nước, Đức Phật dạy quán chiếu về năm uẩn, mỗi một uẩn đều có ví dụ: Sắc ví dụ như bọt nước, thọ như bong bóng nước, tưởng ví dụ như bóng nắng, hành ví dụ như cây chuối lột ra từng bẹ, thức ví dụ như nhà ảo thuật. Nhà ảo thuật cầm tờ giấy biến ra 100 đô, biến được như vậy thì đi biểu diễn làm gì nữa cho nên phải biết ảo thuật là đồ dỏm, biến hóa không có thật, thì cái thức của mình cũng giống như vậy. Cái ý thức quỷ quái mà mình bị nó làm cho khổ đau, phiền não, mình tự tưởng, tự suy nghĩ ra đủ thứ chuyện rồi tự mình làm khổ mình, tự mình hành hạ mình.
Càng ngày mình càng tham ái, tham chấp, tham dục ở trong sắc uẩn mà mình không biết rằng tất cả quả địa cầu này chỉ là sắc thôi chứ không có gì hết cho nên khi Minh Thành ra Nha Trang chia sẻ Phật pháp thì Minh Thành hỏi trong đạo tràng cái này là cái gì thì nói là cái bàn, cái này là gì thì nói cái chuông, cái bản…Trật lất hết, nếu nói vậy thì người tu với không tu giống nhau hết. Phải nói như vầy mới đúng: Tất cả cái này đều là sắc pháp, là sắc uẩn. Đó là thánh trí. Mình vẫn nói với mọi người nhưng trong trí của mình biết nó là sắc pháp, không hơn không kém.
Còn nếu mình cứ chạy theo những thứ này thì chính cái này là nguyên nhân sanh khởi lên tham sân si, còn nếu mình nhìn thấy sắc là vô thường, sắc là vô ngã, chịu sự biến hoại và quán được như vậy thì tham và dục đối với sắc giảm thiểu lần lần, cuối cùng nhiếp phục và đoạn tận nó thì mình thoát ly khỏi sắc, tức là mình không tái tạo sắc thân của tứ đại, của sắc uẩn này nữa. Đây là chỗ thâm sâu của giáo lý nhà Phật, thậm chí ngay cả người xuất gia mà không tha thiết tầm cầu thì cũng không thấy được chỗ này.
Sự tu tập trong tạng kinh Nikāya là đến chỗ chấm dứt, đoạn tận năm uẩn, tất cả những nguyên nhân dẫn đến đời sau đều bị cắt đứt, đây chính là chỗ cội gốc dẫn đến sanh tử trong đạo Phật. Bây giờ tu là đang cầu cơ tích trữ năm uẩn trong tương lai chứ không phải là chấm dứt năm uẩn. Cái này rất quan trọng, nếu mình không thành tự trí năm uẩn trong kinh Nikāya. Riêng phần sắc uẩn là Minh Thành đã nói phải quán 32 thể trược, quán tứ đại và quán chín giai đoạn của một tử thi, nếu không quán là không nhiếp phục được tham dục đối với sắc, không quán là sẽ không thể đoạn giảm được. Ngoài cái pháp đó ra thì không còn cái pháp nào có thể nhiếp phục được tham dục, tham ái đối với sắc. Đây là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác, không có cái pháp nào khác nữa.
Hằng ngày mình cứ tham trong cảm giác, mình thích trong cái cảm giác sướng và cảm giác khổ đến thì triệt tiêu ngay, mình bị dính mắc vào cảm giác êm ái, vui sướng, thích thú thì phải có thọ này thọ kia mà mình chỉ muốn lạc thọ thôi thì mình khổ, mỗi khi có khổ thọ là mình khổ, mà có lạc thọ cũng khổ vì mình tham đắm vào nó mà cảm giác đó mất thì khổ, nó đâu có hoài, chỉ có chút xíu rồi tan mà cái nào càng êm vui chừng nào thì cái đó càng mong manh chừng đó, phải để ý đều này rất quan trọng. Cái nào càng vui sướng cùng cực chừng nào thì cái đó càng mong manh chừng đó, người ta muốn kéo dài cái này ra "ước gì trái đất ngừng quay cho chúng ta gặp nhau" thì coi chừng nổ chết, ngừng quay rồi nổ sao? Có phải đây là si mê không? Ái rồi si vì không có trí huệ, không nhận thức được.
Những hình bóng trong nội tâm làm cho mình khổ, đang bình thường ngồi mở kinh ra thì lại nhớ đến gương mặt của một cô đến chùa cự mình. Đó là tưởng với hành, mình nhớ lại sắc của quá khứ, đó là sắc tưởng, là thanh tưởng của ngày hôm qua chứ không phải là thật pháp. Mình càng nhớ đến gương mặt người đó mình càng tô đậm lên thêm thì lúc đó mình sanh ra cảm giác, cái tưởng tiếp tục sanh, lời nói tiếp tục, cái hành sanh ra. Thọ; tưởng; hành; thức sanh rồi diệt liên tục nên gọi đó là chúng sanh. Mọi người đã thấy cái tâm mình ghê gớm không? Mà mình không thấy nên gọi là si mê. Không thấy không biết do lúc đó mình không có chánh tư duy ly dục, tư duy ly sanh, tư duy ly hại. Đây gọi là chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo. Phải tư duy về sự ly dục, tư duy về sự ly sanh, mình phải nói "khùng hả? Đang đọc kinh sao tự nhiên đi suy nghĩ mấy cái này?", đây là tà tư duy, đưa đến bất thiện, ác pháp, suy nghĩ này đưa đến khổ đau cho mình, cho người nên phải dẹp nó qua một bên, như vậy gọi là ly sân tư duy, ly hại tư duy.
Đây là chánh tư duy của Bát Chánh Đạo. Còn bây giờ nếu mình cứ tiếp tục suy nghĩ, không kiềm chế được là đóng cuốn kinh lại đi giải quyết vấn đề, tìm người đó nói chuyện. Giống như nồi nước lúc đầu chưa có gì nhưng lúc sau là sôi nổi bọt lên từ từ rồi sôi ùng ục lên cho nên mình tu cái cái thọ rất hay, lúc đầu mới có tim bọt nổi lên mà mình đã thấy rồi nhiếp phục nó, đó là tu tập cái từ tâm giải thoát. Tức là cởi mở cái đó ra, phải biết nó là tưởng uẩn "đi chỗ khác chơi, đừng có quậy ta", phải tịnh chỉ các hành lập tức sẽ có an lạc. Những suy nghĩ, lời nói mình phải quán nó là vô thường, nó là đau khổ, phải quán nó là trống rỗng, không chấp nhận, không đi theo, không làm đầy tớ cho nó. Phải nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với cảm giác, đó là con đường xuất ly ra khỏi tất cả cảm giác.
Suốt ngày, suốt tháng, suốt chục năm mình chỉ loanh quanh ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức và không ra khỏi năm uẩn này. Mình thành tựu trí huệ này thì khi người nào nói cái gì là mình biết năm uẩn này vận hành ra sao, còn nếu không thành tựu thì không thể nào biết được. Tới lúc gần chết thì ái đưa đến tái sanh, cùng khởi với hỷ dục, tham đưa đến tái sanh. Ái là ái trong năm uẩn, tham trong năm uẩn, cùng khởi hỷ dục và tham tức là chạy theo ham muốn, ưa thích để tìm cầu sự khoan khoái, thích thú chỗ này, chỗ kia. Mình cũng đang tìm, thấy chỗ nào vui là chạy lại, chỗ đông vui của thế gian không phải là chỗ cho người tu xuất hiện. Tổ chức lễ hội hay dạ hội thì mình đến đó để làm cái gì? Mình là người xuất gia đến đó để làm gì? Không có đúng chỗ cho mình đến. Chỗ của mình là chùa chiềng thanh tịnh, pháp hội, nhưng ngay cả pháp hội không có chánh pháp thì mình cũng không đi, Đức Phật nói người ưa thích hội chúng ồn ào là một trong những pháp thối đọa của Tỳ-kheo, phải sống đời sống viễn ly, phải sống đời sống độc cư thiền tịnh.
III. Chia sẻ về hành trình tìm pháp
Minh Thành ngồi xe 8 tiếng qua thăm thiền viện ở Thái Lan, xin 3 lần mới được vào từ sáng tới chiều, tối không được ở lại. Mùa An cư kiết hạ là không tiếp Tăng, không cho ở lại ban đêm, mỗi người ở một cái thất riêng, mỗi sáng Minh Thành đi khất thực chân dẫm đá đau quá trời, mình dùng Như lý tác ý "bốn mươi mấy năm mới đi khất thực, còn người ta đi như vậy thì sao? Đâu có chết đâu", mà cuối cùng đi không được, bỏ dép giày ra đi với mọi người mà các thầy cao 1m9, người ta bước 1 bước bằng mình bước 2 bước.
Bưng bình bát to mà bước lẹ lẹ, trượt chân rớt cái bát là chết luôn rồi đá nhuyễn nhuyễn đâm vô chân. Vì thế cho nên mình thấy sự tu học của mình hiện tại ở đây là yếu kém, nhất là pháp hành, pháp học cũng như vậy vì mình không có chuyên về kinh Nikāya nên không thấy được đạo lộ tu tập, mình học mênh mông thiên địa trời đất, nói cái gì mình cũng biết, nói tiếng anh mình cũng được 2-3 câu, nói tiếng hoa mình cũng được 4-5 câu, nói tiếng Nhật mình cũng được 3-4 câu, cuối cùng là tiếng nào cũng không biết. Trì chú mình cũng biết, niệm Phật mình cũng biết, ngồi thiền mình cũng biết mà cuối cùng không có gì biết hết.
Do mình không có pháp hành, không có đạo lộ tu tập rõ ràng. Minh Thành đi 8 thiền viện nổi tiếng nhất của Thái Lan, ở trong đó 1 ngày 1 đêm, thấy được hết tất cả pháp hành, tất cả giới luật, tất cả những sinh hoạt của chư Tăng, của Phật giáo nguyên thủy hơn 2600 năm nay là như thế nào để trong tương lai mở thiền viện trên Linh Quy Pháp Ấn. Lấy hết tinh hoa của Phật giáo thế giới về làm tại Linh Quy Pháp Ấn, cho chư Tăng trước rồi đến chư Ni. Hay lắm! Mình ở trong nhà hoài rồi mình thấy an ổn, có cảm giác bình an nhưng thật ra không phải vậy, mình còn kém xa họ trong pháp học và pháp hành.
Pháp học mình chưa nắm vững được đường lối tu ra sao, gọi một người học tới Cao đẳng Phật hỏi đạo lộ tu tập là như thế nào, Đức Phật dạy những gì, bảo đảm là nói tung lung lan tang, lơ tơ mơ, không đâu vào đâu. Mình chưa có nắm vững được cho nên Minh Thành muốn từ đây cho tới 1 năm nữa mình sẽ trình bày cái đạo lộ tu tập để mình ra trường có thể nắm vững pháp hành, ít nhất là mình biết đường tu, có hướng dẫn ai cũng đúng chánh pháp, còn không thì như Đức Phật nói một người mù dẫn một đoàn người mù đi xuống hố hết, không thành tựu chánh tri kiến thì không thấy được pháp, không biết đường tu.
Mình tu không khéo ngày càng cái tham sân si nhiều thêm, bản ngã cao thêm vì không biết phương pháp nhiếp phục. Mình muốn mà mình không biết chắc rồi không chịu đi tìm cầu đạo. Minh Thành không phải khó mà là rất thương quý huynh đệ nên đem hết cái tâm đức, đem hết những cái đi cầu học về chia sẻ với các huynh đệ, không phải chuyện đơn giản. Cho nên những cái Minh Thành chia sẻ là tinh hoa, là cốt lõi của giáo pháp, tập hợp lại để đưa cho con đường, cái đạo lộ tu hành, có phương pháp để nhiếp phục, đoạn tận tham ái. Sắp tới Minh Thành cho xem giải phẫu con người thật.
Mình cứ đi tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia thì tới khi mình nhắm mắt thì thọ; tưởng; hành; thức, cái nghiệp đẩy mình đi, và mình cũng đi tìm tham ái chỗ này chỗ kia nữa, mình nhào đầu vào những chỗ hỷ lạc nữa thì như vậy là tiếp tục ngũ uẩn của đời sau, tiếp tục đi tìm cảm giác của dục. Cho nên những bậc A-la-hán, những bậc thánh quả đã thoát ra thì lúc gần chết người ta quán từ bỏ, đoạn diệt ly tham, không còn tham muốn nữa, không còn tiếp tục cái thân năm uẩn nữa. Hằng ngày người ta quán về tứ đại, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn của một tử thi, người ta thấy cái thân này là ung nhọt, là cái đồ đáng vứt bỏ, nó vô thường, bại hoại, đến lúc đó mình từ bỏ luôn thì mình thoát ra, không đi theo cái dục và tham để tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia nữa.
Lúc đó một là người ta đi thẳng lên Bất lai, là đi thẳng lên chư thiên, còn hai là nhập Niết-bàn. Tất cả những điều kiện, dữ kiện làm nhân để tái tục một kiếp tiếp theo là không còn nữa cho nên mới nói đời này là đời sanh cuối cùng của các bậc A-la-hán, tức là người ta giải thoát khỏi sanh già bệnh chết, đó là thật sự chứ không phải nói nghĩa bóng.
Còn mình không giải thoát được là do mình quá yêu cái thân này, tới khi mình chết là run sợ, hoảng sợ, lẹ lẹ đi tìm cái thân khác, rồi nhảy vào trúng cái thân kêu "gâu, gâu", chạy vào trúng cái thân kêu "be…be…" hoặc là vào cái thân kêu "chít…chít…chít" hay là vào cái thân của những con vi trùng, rắn độc bò lếch. Mọi người có thấy ghê gớm không? Tất cả là do tham ái trong năm uẩn, còn trí này là trí đoạn diệt, chấm dứt, ly tham, từ bỏ, không còn tiếp tục năm uẩn nữa. Đây là trí huệ vô thượng mà người nào quán chiếu tới đây thì người đó là bậc đáng chấp tay, đáng cung kính, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời, đây là bậc hiền thánh Tăng.
Cho nên mình thường tu tập quán chiếu 7 trí về sắc uẩn thì người này đối với tất cả những cái lòe loẹt của sắc pháp của thế gian đều quay ngược trở lại, không còn ham thích mãnh liệt như xưa nữa. Đây là trí của bậc thánh giả, khi trí huệ này chính muồi rồi thì họ sẽ bất động đối với tất cả sắc pháp. Chính vì vậy mà Đức Thế Tôn của mình khi vua lạy dưới chân, bưng lên thượng vị sơn hào hải vị, trải thảm ngồi trên ghế bằng vàng nạm ngọc thì Đức Phật vẫn bất động vì Phật thấy được thật chất của nó là sắc uẩn, rồi bị người ta chửi mắng, hủy nhục nhưng Phật vẫn điềm nhiên bất động. Mình tu như vậy mới tới được như vậy còn mình tu như vầy là mình như vầy rồi cuối cùng mình là như vầy. Cho nên kết quả là như vậy, cuối cùng là như vậy.
Minh Thành tha thiết mong muốn đại chúng, nhất là lớp này có nhân duyên, Minh Thành không biết thọ mạng đến đâu, chưa chắc hết khóa này. Đây là nói lời sự thật, chân thật, không ngày nào là Minh Thành không nhớ đến vô thường, không ngày nào là không niệm tử đối với cái tâm mong manh tạm bợ, cái thân đất nung này rõ ràng không phải là chỗ đáng tin cậy, không phải là chỗ cho mình dựa dẫm trong cái sắc pháp vô thường này.
Nếu mình không vận dụng hết tất cả tâm lực, sức lực, trí lực để tầm cầu thánh đạo đi đến thánh quả thì một khi mình chết mà ác pháp, bất thiện pháp còn tồn tại trong nội tâm thì đó là cái chết không có tốt lành, nếu mình chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa bước vào bốn đôi tám chúng của Đức Phật mà mình chết như vậy thì chưa chắc mình gặp được thánh pháp. Quý huynh đệ biết rằng trải qua vô số khó khăn gian khổ Minh Thành mới tìm ra được cái pháp này, đây không phải là chuyện đơn giản trong thời đại này.
Khi Minh Thành qua trình bày với các sư bên Miến Điện học thạc sĩ, tiến sĩ mà các sư bất ngờ hết, hỏi rằng "tại sao thầy phát tâm đi một đường lối thâm sâu, toàn bộ vào kinh Nikāya như vậy?". Toàn bộ chương trình tu học trên Linh Quy Pháp Ấn đều lấy kinh Nikāya làm chuẩn tắc tu học. Các huynh đệ đừng nghĩ Minh Thành ngồi đây nói vui này nọ, không phải như vậy mà Minh Thành phải đi cầu học khắp thế giới, đến tất cả những đạo tràng nào có cao Tăng. Những đạo tràng có tu học lớn thì Minh Thành đều đến cầu học rất tôn kính và chân thành.
Lúc Minh Thành ra lạy Hòa Thượng ở Trúc Lâm, Hòa Thượng ngồi trên xe vì đang bệnh, cứ 1 bước 1 lạy từ cổng vào mà lạy trên đá sỏi, vào đến nơi Minh Thành lấy trán mình đặt trên đôi chân của Hòa Thượng thì Hòa Thượng rớm nước mắt. Mình phải có sự tôn kính pháp, tôn trọng bậc đạo sư, tôn trọng Tam bảo thì nhất định mình sẽ đạt được vô thượng thánh pháp, đạt được cái pháp đại viên mãn chứ không phải là cái pháp nhỏ.
Cho nên các huynh đệ không nên hiểu một chút, biết một chút, tu một chút là thỏa mãn, hài lòng mà phải nỗ lực hướng thượng, phấn đấu liên tục trong Tứ Chánh Cần mới thành tựu. Thành ra lớp này phải gieo duyên lành, rất là có nhân duyên chứ không phải dễ. Trong khoảng 4 tháng này thì Minh Thành mới nhất hướng, sau đợt nhập thất 1 tháng thì Minh Thành đã tìm ra được con đường rất là quan trọng. Hiện tại trong Phật giáo Việt Nam không có một pháp hành rõ ràng, bây giờ người ta vô nước mình muốn tu thì đi đâu? Chỉ có vào các thiền viện, mà các thiền viện cũng tu theo các vị sau này chứ không phải hướng thẳng vào tạng kinh Nikāya cho nên cái pháp rất quan trọng. Các huynh đệ cố gắng nắm cho thật vững pháp học với pháp hành để sau khi ra trường rồi thứ các huynh đệ cầm trong tay gậy như ý, là thượng phương bảo kiếm, là trảm cốt đao, tức là chém xương như chém bùn, đó là kiếm chiếu huệ của ngũ uẩn trí, học được pháp này không tu thì thôi mà tu là thành tựu thánh quả.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
Sự Tập Khởi Của Khổ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khổ Tập PAGEREF _Toc141806289 \h 1
II. Khổ Diệt PAGEREF _Toc141806290 \h 5
III. Chia sẻ về hành trình tìm pháp PAGEREF _Toc141806291 \h 10
I. Khổ Tập
Nghe tiếng chuông thứ nhất đem tất cả tấm lòng chân thành cung kính hướng về Đức Thế Tôn.
Nghe tiếng chuông thứ hai đem tất cả tấm lòng chân thành cung kính hướng về giáo pháp vô thượng.
Nghe tiếng chuông thứ ba bằng tất cả tấm lòng chân thành cung kính hướng về mười phương hiền thánh Tăng.
Nghe tiếng chuông thứ tư bằng tất cả tấm lòng chân thành cung kính hướng về vô thượng thánh giới.
“Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập V - Bài kinh Như Lai Thuyết 1)
Thế nào là sự tập khởi của khổ? Cái này rất là thâm sâu, nó đòi hỏi mình phải có sự chú tâm cao độ, nhất niệm, lắng nghe và quán chiếu mới được. Thế nào là sự tập hợp và sanh khởi của khổ đau? Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Đây là nói về nguyên nhân của đau khổ. Các huynh đệ ai hiểu câu này hãy giải thích.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy giáo thọ. Kính thưa các sư cô, trong các câu kinh này thì Đức Phật dạy chính cái ái là nguyên nhân đưa đến tái sanh và cái ái này chúng ta hiểu như thế nào? Chính là sự khao khát được hỷ dục, hiện hữu trong tương lai. Cái hỷ dục ở đây là gì? Hỷ là sự vui thích, dục là sự ham muốn. Tham muốn, vui thích hướng đến tái sanh, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia chính là mình đi tìm những cảnh giới để mình hướng đến sự tái tạo hệ thân tâm hay còn gọi là ngũ uẩn cho đời sau, không ra ngoài 3 loại là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.
Dục ái là chỉ sự yêu thích cảnh giới ở cõi dục này, phi hữu ái là cảnh giới thuộc cõi sắc và vô sắc. Trong câu kinh này chúng ta hiểu ái chính là sự yêu thích chính mình, yêu thích được tái sanh, vui thích trong sự tái sanh, tầm cầu cảnh giới tái sanh, sự mong muốn được hiện hữu trong tương lai, vì mình không thấy được sự thật của thân tâm này, mình cho thân tâm này là tự ngã và có một tự ngã không thấy được sự thật về năm uẩn này là vô thường, là duyên sanh, là vô ngã.
Cho nên khi gián tiếp sự khao khát đó tồn tại ngay lúc mình còn sống, đến khi chết rồi thì sự khao khát đó vẫn thúc đẩy mình đi tìm cái thân năm uẩn mới. Đó là ý nghĩa của câu kinh nói về sự tập khởi của khổ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Tăng Sinh:
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng. Con xin trả lời câu hỏi về ý nghĩa câu kinh mà Đức Phật đã dạy ở trên. Thưa thầy câu kinh này Đức Phật dạy ái có nghĩa là nguồn gốc, là cội nguồn sâu xa đưa đến cái khổ. Trên đời này ai cũng khổ, chính là do ái mà sanh ra. Sự tập khởi của khổ đưa đến tái sanh có nghĩa là ái chính là sự tìm tòi, thôi thúc trong thân tâm mỗi người.
Ai cũng muốn hướng đến sự tìm cầu nhưng vì vô minh, sự thiếu hiểu biết, thánh trí chưa có nên tìm đến những cái không đúng, những hành giả không tu tập, không quán chiếu, không hiểu được những cái chúng ta tìm cầu chỉ là giả tạo. Cùng khởi hỷ dục và tham muốn đến tái sanh là những người này tìm cầu những cái không thật có, nó luân diễn tái sanh trong sanh tử luân hồi. Khi chúng ta tìm cầu chỗ này chỗ kia nghĩa là chúng ta còn suy nghĩ cũng như thân tâm mong muốn làm sao cho chúng ta được hạnh phúc, an lạc nhưng không hiểu được an lạc đó chỉ là tạm thời chứ không đưa đến giải thoát hoàn toàn mà chúng ta luôn tìm cầu hướng đến những tham muốn tái sanh. Tái sanh ở đây là luôn luân chuyển trong 6 nẻo luân hồi, chúng ta chưa thoát ra khỏi dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
Ái cái gì? Yêu thích cái gì? Chính là tham ái đối với năm uẩn, tham ái đối với sắc uẩn, tham ái đối với những cảm giác, tham ái đối với các tưởng, tham ái đối với sự suy nghĩ, tham ái đối với sự nhận thức. Cho nên sau này mình học các pháp thì cứ quy về năm uẩn là sẽ đúng, vì năm uẩn là bao trùm hết, tham sân si trong năm uẩn, si là không thấy được năm uẩn là năm uẩn mà cho năm uẩn là mình. Sân là nhận năm uẩn này là mình cho nên ai chạm đến là bực lên.
Tham là không thấy năm uẩn là khổ, là vô thường, là biến hoại cho nên mình mới tham vào sắc uẩn này, tham vô các suy tưởng, nhận thức, cảm giác. Vì vậy tất cả các phiền não đều căn cứ vào năm uẩn để nói. Mình sanh ra bản ngã do mình không thấy, không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là trống rỗng, là vô thường cho nên mình tưởng năm cái này là mình, chính vì mình tưởng năm cái này là mình cho nên mới có mình hơn, mình bằng hay là mình thua. Mình nói "tôi học dở, học dốt lắm", tuy là nói giống như tự ti nhưng cũng từ bản ngã, đều thấy có tôi trong đó.
Ngày nào còn thấy có tôi thì ngày đó chưa thành tựu trí tuệ. Phải thấy năm uẩn là năm uẩn chứ không có tôi, không có của tôi. Thực tế mình có yêu thương bàn tay nhỏ nhắn, xinh xinh của mình không? Minh Thành chứng kiến Hòa Thượng Thượng Viện Hạ Bình, lúc trước là trưởng ban Phật giáo quận Bình Thạnh, ngài bị xe đụng làm gãy ngón chân, Minh Thành vào bệnh viện thăm mà thần sắc của Hòa Thượng bình thường như không có chuyện gì, đó là mình thấy được sức niệm định huệ của ngài. Còn ở đây mình nói toàn tứ đại, ngũ uẩn giai không mà mới quẹt xe chút xíu là la lên.
Chỗ đó là sức mạnh của niệm định tuệ, của cái sự chấp ngã nặng hay là nhẹ, nhiều hay là ít. Đó là chạm tới thân chứ chưa nói tới vật ngoài thân, chạm tới thân là khó hơn vật ngoài thân. Ví dụ hư cái chuông thì mình kiếm chuông khác chứ còn chạm tới thân thì khó, chạm tới cái thân này đâu phải dễ vậy mà gãy ngón chân mà Hòa Thượng vẫn bình thường. Chỗ đó là chỗ mình phải học, là hằng ngày mình có công phu tu tập, mình có quán chiếu thì khi gặp chuyện là mình có cái niệm của định tuệ. Còn mình không có quán chiếu, không có tu tập, không có thiền định cho nên mình khổ. Đức Phật không nói đến những chuyện nhỏ nhặt nhưng chúng sanh bây giờ không chịu nhỏ nhặt thì không hiểu, chúng sanh thích nói những chuyện nhỏ thành ra phải giảng giải rộng ra, nói đến những chỗ định lý, những chỗ cốt lõi là mình phải nói rộng ra thì mới thấy được.
Tại sao mình thích mùi thơm? Tại sao mình thích người đẹp? Nhìn người đẹp thôi cũng được. Tại sao mình thích ăn ngon? Tại sao mình thích vào phòng sang trọng? Tại vì mình cho cái thân ngũ uẩn này hưởng thụ, cho cái thọ, cái cảm giác hưởng thụ, vì mình thấy tôi "cái cảm giác này của tôi, tôi đang có cảm giác sung sướng, khoan khoái". Mình dính vào cái thọ, cảm giác đó cho nên mình đi tìm để phục vụ cho cái thân năm uẩn này.
Báo chí đưa tin hằng ngày xảy ra bao nhiêu tù tội, án mạng chung thân hay là tử hình thì tất cả cũng chỉ là đi tìm cảm giác vì thế cái trí năm uẩn này bao trùm trời đất. Thành tựu được trí này chính là trí huệ của bậc thánh chứ không phải trí huệ bình thường. Khắp thiên hạ đều đi tìm cảm giác và chính mình cũng như vậy. Trời nóng 40 độ là mình không muốn ngồi đây nữa vì bị trói buộc trong cảm giác, mình cho cảm giác đó là mình, là tôi mà mình không biết cảm giác đó là vô thường.
Khi nhiếp phục được cảm giác vô thường thì ngồi thiền mình có thể vượt qua được một tiếng, một tiếng rưỡi, hai tiếng chứ còn bây giờ mới đau một chút là "thôi ngồi không được đâu, tê quá, chắc gãy chân quá". Mình không nhiếp phục được vì tôi đang đau, đang có cảm giác đau, đang có cảm giác khổ, mình dính chặt vào chung với cảm giác cho nên thành tựu trí năm uẩn là tách mình ra khỏi năm uẩn: sắc là sắc; thọ là thọ; tưởng; hành; thức là năm uẩn chứ không phải mình, cái trí đó mới giúp mình bớt khổ. Còn năm thủ uẩn là khổ, chữ "thủ" là nắm chặt, mà nắm chặt là khổ, nắm chặt cho đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì đó là nguồn gốc của khổ. Bệnh thì ai bệnh? Tôi bệnh. Buồn thì ai buồn? Tôi buồn. Vui thì ai vui? Tôi vui, như vậy là mình nhận những cảm giác đó hết chính là mình vô minh.
Mình phải đi ra khỏi cảm giác này, mình gặp ai mà thương yêu, lo lắng là mình chết ngay. Chính cái cảm giác đó giết mình chết. Đức Thế Tôn dạy mình giống như một người cho những cái đẹp đẽ, hấp dẫn, vui sướng thì người đó ái tăng trưởng, từ ái tăng trưởng dẫn đến đau khổ tăng trưởng, mà đau khổ tăng trưởng thì Ta nói rằng: Này các Tỳ-kheo người đó không thể giải thoát khỏi khổ đau. Còn nếu người nào nhìn thấy những điều khả ái, vừa lòng, thích thú mà người đó quán đây là vô thường, đây là khổ, đây là biến hoại, đây là không có bền chắc thì người đó làm cho ái giảm thiểu, từ ái giảm thiểu thì khổ giảm thiểu, ái chấm dứt thì khổ chấm dứt. Này các Tỳ-kheo Ta tuyên bố rằng người này giải thoát tất cả khổ đau. Đó là đạo lộ của sự tu tập chứ không có cái gì thần thánh, xa vời.
II. Khổ Diệt
“Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập V - Bài kinh Như Lai Thuyết 1)
Thế nào là đoạn diệt khổ? Ðó là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn, sự quăng bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp khát ái ấy. Đoạn diệt là chấm dứt đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Ly tham là không còn tham muốn với thọ; tưởng; hành; thức. Không còn tham muốn đối với năm uẩn. Quăng bỏ đối với năm uẩn. Từ bỏ đối với năm uẩn. Giải thoát đối với năm uẩn. "Sự vô chấp khát ái ấy" tức là không còn chấp, không còn khao khát, yêu thích đối với năm uẩn thì đây là con đường đoạn diệt khổ đau. Phải nắm vững chỗ này. Đây là hồng tâm của giáo pháp, là trái tim của Đức Phật, là con mắt của 12 bộ kinh, cốt tủy của thánh điển. Không nắm được chỗ này là uổng công đời xuất gia tu hành.
"Cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia", tham sẽ hướng đến tái sanh vì trong cuộc sống không những mình yêu thích cái sắc của chính mình mà mình còn yêu thích cái sắc của người khác nếu mình cho nó là đẹp, còn nếu mình không thấy đẹp thì mình đâu có thích. Vì vậy cái đẹp là cái tương đối theo cái tập khí, theo cái thọ; tưởng; hành; thức chứ không có cái đẹp chuẩn.
Hồi xưa mặc quần tây thụng dài, rồi giờ quần tây sát vào người thì cái đẹp đó là vô thường chứ không có chuẩn tắc thật sự của đẹp, do cái tâm của chúng sanh suy nghĩ tại thời điểm đó, trong hoàn cảnh đó chứ không có cái chuẩn nào là đẹp, chính vì vậy mới nói "nếu như mình cho đó là đẹp" chứ không có cái đẹp thật. Mình nhìn thấy bề ngoài thì cho là đẹp, cũng như mình mới mua cái áo vải đẹp nhưng mặc ra đường sao ai cũng nhìn, đối với người ta không có gì đẹp mà mình lại thấy nó đẹp, đó là vọng tưởng điên đảo. Đó chỉ là do cái tưởng của mình chứ đâu có cái gì mà đẹp với không đẹp, nhưng mà mình lựa bộ đồ mới. Đó là sắc tưởng của quá khứ.
"Này các Tỳ-kheo, đối với sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng... xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, III.Phẩm Những Gì Được Ăn, VII. Đáng Được Ăn).
Đây là thánh trí. Cho nên lâu lâu mình nhớ lại hồi 18 tuổi, thời mình còn xuân sắc như hoa mới bắt đầu nở, ngồi nhớ lại thì "sắc quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng... xa hay gần; tất cả sắc" đều là vô thường, khổ, là vô ngã. Các huynh đệ về đọc bài kinh Bọt nước, Đức Phật dạy quán chiếu về năm uẩn, mỗi một uẩn đều có ví dụ: Sắc ví dụ như bọt nước, thọ như bong bóng nước, tưởng ví dụ như bóng nắng, hành ví dụ như cây chuối lột ra từng bẹ, thức ví dụ như nhà ảo thuật. Nhà ảo thuật cầm tờ giấy biến ra 100 đô, biến được như vậy thì đi biểu diễn làm gì nữa cho nên phải biết ảo thuật là đồ dỏm, biến hóa không có thật, thì cái thức của mình cũng giống như vậy. Cái ý thức quỷ quái mà mình bị nó làm cho khổ đau, phiền não, mình tự tưởng, tự suy nghĩ ra đủ thứ chuyện rồi tự mình làm khổ mình, tự mình hành hạ mình.
Càng ngày mình càng tham ái, tham chấp, tham dục ở trong sắc uẩn mà mình không biết rằng tất cả quả địa cầu này chỉ là sắc thôi chứ không có gì hết cho nên khi Minh Thành ra Nha Trang chia sẻ Phật pháp thì Minh Thành hỏi trong đạo tràng cái này là cái gì thì nói là cái bàn, cái này là gì thì nói cái chuông, cái bản…Trật lất hết, nếu nói vậy thì người tu với không tu giống nhau hết. Phải nói như vầy mới đúng: Tất cả cái này đều là sắc pháp, là sắc uẩn. Đó là thánh trí. Mình vẫn nói với mọi người nhưng trong trí của mình biết nó là sắc pháp, không hơn không kém.
Còn nếu mình cứ chạy theo những thứ này thì chính cái này là nguyên nhân sanh khởi lên tham sân si, còn nếu mình nhìn thấy sắc là vô thường, sắc là vô ngã, chịu sự biến hoại và quán được như vậy thì tham và dục đối với sắc giảm thiểu lần lần, cuối cùng nhiếp phục và đoạn tận nó thì mình thoát ly khỏi sắc, tức là mình không tái tạo sắc thân của tứ đại, của sắc uẩn này nữa. Đây là chỗ thâm sâu của giáo lý nhà Phật, thậm chí ngay cả người xuất gia mà không tha thiết tầm cầu thì cũng không thấy được chỗ này.
Sự tu tập trong tạng kinh Nikāya là đến chỗ chấm dứt, đoạn tận năm uẩn, tất cả những nguyên nhân dẫn đến đời sau đều bị cắt đứt, đây chính là chỗ cội gốc dẫn đến sanh tử trong đạo Phật. Bây giờ tu là đang cầu cơ tích trữ năm uẩn trong tương lai chứ không phải là chấm dứt năm uẩn. Cái này rất quan trọng, nếu mình không thành tự trí năm uẩn trong kinh Nikāya. Riêng phần sắc uẩn là Minh Thành đã nói phải quán 32 thể trược, quán tứ đại và quán chín giai đoạn của một tử thi, nếu không quán là không nhiếp phục được tham dục đối với sắc, không quán là sẽ không thể đoạn giảm được. Ngoài cái pháp đó ra thì không còn cái pháp nào có thể nhiếp phục được tham dục, tham ái đối với sắc. Đây là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác, không có cái pháp nào khác nữa.
Hằng ngày mình cứ tham trong cảm giác, mình thích trong cái cảm giác sướng và cảm giác khổ đến thì triệt tiêu ngay, mình bị dính mắc vào cảm giác êm ái, vui sướng, thích thú thì phải có thọ này thọ kia mà mình chỉ muốn lạc thọ thôi thì mình khổ, mỗi khi có khổ thọ là mình khổ, mà có lạc thọ cũng khổ vì mình tham đắm vào nó mà cảm giác đó mất thì khổ, nó đâu có hoài, chỉ có chút xíu rồi tan mà cái nào càng êm vui chừng nào thì cái đó càng mong manh chừng đó, phải để ý đều này rất quan trọng. Cái nào càng vui sướng cùng cực chừng nào thì cái đó càng mong manh chừng đó, người ta muốn kéo dài cái này ra "ước gì trái đất ngừng quay cho chúng ta gặp nhau" thì coi chừng nổ chết, ngừng quay rồi nổ sao? Có phải đây là si mê không? Ái rồi si vì không có trí huệ, không nhận thức được.
Những hình bóng trong nội tâm làm cho mình khổ, đang bình thường ngồi mở kinh ra thì lại nhớ đến gương mặt của một cô đến chùa cự mình. Đó là tưởng với hành, mình nhớ lại sắc của quá khứ, đó là sắc tưởng, là thanh tưởng của ngày hôm qua chứ không phải là thật pháp. Mình càng nhớ đến gương mặt người đó mình càng tô đậm lên thêm thì lúc đó mình sanh ra cảm giác, cái tưởng tiếp tục sanh, lời nói tiếp tục, cái hành sanh ra. Thọ; tưởng; hành; thức sanh rồi diệt liên tục nên gọi đó là chúng sanh. Mọi người đã thấy cái tâm mình ghê gớm không? Mà mình không thấy nên gọi là si mê. Không thấy không biết do lúc đó mình không có chánh tư duy ly dục, tư duy ly sanh, tư duy ly hại. Đây gọi là chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo. Phải tư duy về sự ly dục, tư duy về sự ly sanh, mình phải nói "khùng hả? Đang đọc kinh sao tự nhiên đi suy nghĩ mấy cái này?", đây là tà tư duy, đưa đến bất thiện, ác pháp, suy nghĩ này đưa đến khổ đau cho mình, cho người nên phải dẹp nó qua một bên, như vậy gọi là ly sân tư duy, ly hại tư duy.
Đây là chánh tư duy của Bát Chánh Đạo. Còn bây giờ nếu mình cứ tiếp tục suy nghĩ, không kiềm chế được là đóng cuốn kinh lại đi giải quyết vấn đề, tìm người đó nói chuyện. Giống như nồi nước lúc đầu chưa có gì nhưng lúc sau là sôi nổi bọt lên từ từ rồi sôi ùng ục lên cho nên mình tu cái cái thọ rất hay, lúc đầu mới có tim bọt nổi lên mà mình đã thấy rồi nhiếp phục nó, đó là tu tập cái từ tâm giải thoát. Tức là cởi mở cái đó ra, phải biết nó là tưởng uẩn "đi chỗ khác chơi, đừng có quậy ta", phải tịnh chỉ các hành lập tức sẽ có an lạc. Những suy nghĩ, lời nói mình phải quán nó là vô thường, nó là đau khổ, phải quán nó là trống rỗng, không chấp nhận, không đi theo, không làm đầy tớ cho nó. Phải nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với cảm giác, đó là con đường xuất ly ra khỏi tất cả cảm giác.
Suốt ngày, suốt tháng, suốt chục năm mình chỉ loanh quanh ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức và không ra khỏi năm uẩn này. Mình thành tựu trí huệ này thì khi người nào nói cái gì là mình biết năm uẩn này vận hành ra sao, còn nếu không thành tựu thì không thể nào biết được. Tới lúc gần chết thì ái đưa đến tái sanh, cùng khởi với hỷ dục, tham đưa đến tái sanh. Ái là ái trong năm uẩn, tham trong năm uẩn, cùng khởi hỷ dục và tham tức là chạy theo ham muốn, ưa thích để tìm cầu sự khoan khoái, thích thú chỗ này, chỗ kia. Mình cũng đang tìm, thấy chỗ nào vui là chạy lại, chỗ đông vui của thế gian không phải là chỗ cho người tu xuất hiện. Tổ chức lễ hội hay dạ hội thì mình đến đó để làm cái gì? Mình là người xuất gia đến đó để làm gì? Không có đúng chỗ cho mình đến. Chỗ của mình là chùa chiềng thanh tịnh, pháp hội, nhưng ngay cả pháp hội không có chánh pháp thì mình cũng không đi, Đức Phật nói người ưa thích hội chúng ồn ào là một trong những pháp thối đọa của Tỳ-kheo, phải sống đời sống viễn ly, phải sống đời sống độc cư thiền tịnh.
III. Chia sẻ về hành trình tìm pháp
Minh Thành ngồi xe 8 tiếng qua thăm thiền viện ở Thái Lan, xin 3 lần mới được vào từ sáng tới chiều, tối không được ở lại. Mùa An cư kiết hạ là không tiếp Tăng, không cho ở lại ban đêm, mỗi người ở một cái thất riêng, mỗi sáng Minh Thành đi khất thực chân dẫm đá đau quá trời, mình dùng Như lý tác ý "bốn mươi mấy năm mới đi khất thực, còn người ta đi như vậy thì sao? Đâu có chết đâu", mà cuối cùng đi không được, bỏ dép giày ra đi với mọi người mà các thầy cao 1m9, người ta bước 1 bước bằng mình bước 2 bước.
Bưng bình bát to mà bước lẹ lẹ, trượt chân rớt cái bát là chết luôn rồi đá nhuyễn nhuyễn đâm vô chân. Vì thế cho nên mình thấy sự tu học của mình hiện tại ở đây là yếu kém, nhất là pháp hành, pháp học cũng như vậy vì mình không có chuyên về kinh Nikāya nên không thấy được đạo lộ tu tập, mình học mênh mông thiên địa trời đất, nói cái gì mình cũng biết, nói tiếng anh mình cũng được 2-3 câu, nói tiếng hoa mình cũng được 4-5 câu, nói tiếng Nhật mình cũng được 3-4 câu, cuối cùng là tiếng nào cũng không biết. Trì chú mình cũng biết, niệm Phật mình cũng biết, ngồi thiền mình cũng biết mà cuối cùng không có gì biết hết.
Do mình không có pháp hành, không có đạo lộ tu tập rõ ràng. Minh Thành đi 8 thiền viện nổi tiếng nhất của Thái Lan, ở trong đó 1 ngày 1 đêm, thấy được hết tất cả pháp hành, tất cả giới luật, tất cả những sinh hoạt của chư Tăng, của Phật giáo nguyên thủy hơn 2600 năm nay là như thế nào để trong tương lai mở thiền viện trên Linh Quy Pháp Ấn. Lấy hết tinh hoa của Phật giáo thế giới về làm tại Linh Quy Pháp Ấn, cho chư Tăng trước rồi đến chư Ni. Hay lắm! Mình ở trong nhà hoài rồi mình thấy an ổn, có cảm giác bình an nhưng thật ra không phải vậy, mình còn kém xa họ trong pháp học và pháp hành.
Pháp học mình chưa nắm vững được đường lối tu ra sao, gọi một người học tới Cao đẳng Phật hỏi đạo lộ tu tập là như thế nào, Đức Phật dạy những gì, bảo đảm là nói tung lung lan tang, lơ tơ mơ, không đâu vào đâu. Mình chưa có nắm vững được cho nên Minh Thành muốn từ đây cho tới 1 năm nữa mình sẽ trình bày cái đạo lộ tu tập để mình ra trường có thể nắm vững pháp hành, ít nhất là mình biết đường tu, có hướng dẫn ai cũng đúng chánh pháp, còn không thì như Đức Phật nói một người mù dẫn một đoàn người mù đi xuống hố hết, không thành tựu chánh tri kiến thì không thấy được pháp, không biết đường tu.
Mình tu không khéo ngày càng cái tham sân si nhiều thêm, bản ngã cao thêm vì không biết phương pháp nhiếp phục. Mình muốn mà mình không biết chắc rồi không chịu đi tìm cầu đạo. Minh Thành không phải khó mà là rất thương quý huynh đệ nên đem hết cái tâm đức, đem hết những cái đi cầu học về chia sẻ với các huynh đệ, không phải chuyện đơn giản. Cho nên những cái Minh Thành chia sẻ là tinh hoa, là cốt lõi của giáo pháp, tập hợp lại để đưa cho con đường, cái đạo lộ tu hành, có phương pháp để nhiếp phục, đoạn tận tham ái. Sắp tới Minh Thành cho xem giải phẫu con người thật.
Mình cứ đi tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia thì tới khi mình nhắm mắt thì thọ; tưởng; hành; thức, cái nghiệp đẩy mình đi, và mình cũng đi tìm tham ái chỗ này chỗ kia nữa, mình nhào đầu vào những chỗ hỷ lạc nữa thì như vậy là tiếp tục ngũ uẩn của đời sau, tiếp tục đi tìm cảm giác của dục. Cho nên những bậc A-la-hán, những bậc thánh quả đã thoát ra thì lúc gần chết người ta quán từ bỏ, đoạn diệt ly tham, không còn tham muốn nữa, không còn tiếp tục cái thân năm uẩn nữa. Hằng ngày người ta quán về tứ đại, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn của một tử thi, người ta thấy cái thân này là ung nhọt, là cái đồ đáng vứt bỏ, nó vô thường, bại hoại, đến lúc đó mình từ bỏ luôn thì mình thoát ra, không đi theo cái dục và tham để tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia nữa.
Lúc đó một là người ta đi thẳng lên Bất lai, là đi thẳng lên chư thiên, còn hai là nhập Niết-bàn. Tất cả những điều kiện, dữ kiện làm nhân để tái tục một kiếp tiếp theo là không còn nữa cho nên mới nói đời này là đời sanh cuối cùng của các bậc A-la-hán, tức là người ta giải thoát khỏi sanh già bệnh chết, đó là thật sự chứ không phải nói nghĩa bóng.
Còn mình không giải thoát được là do mình quá yêu cái thân này, tới khi mình chết là run sợ, hoảng sợ, lẹ lẹ đi tìm cái thân khác, rồi nhảy vào trúng cái thân kêu "gâu, gâu", chạy vào trúng cái thân kêu "be…be…" hoặc là vào cái thân kêu "chít…chít…chít" hay là vào cái thân của những con vi trùng, rắn độc bò lếch. Mọi người có thấy ghê gớm không? Tất cả là do tham ái trong năm uẩn, còn trí này là trí đoạn diệt, chấm dứt, ly tham, từ bỏ, không còn tiếp tục năm uẩn nữa. Đây là trí huệ vô thượng mà người nào quán chiếu tới đây thì người đó là bậc đáng chấp tay, đáng cung kính, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời, đây là bậc hiền thánh Tăng.
Cho nên mình thường tu tập quán chiếu 7 trí về sắc uẩn thì người này đối với tất cả những cái lòe loẹt của sắc pháp của thế gian đều quay ngược trở lại, không còn ham thích mãnh liệt như xưa nữa. Đây là trí của bậc thánh giả, khi trí huệ này chính muồi rồi thì họ sẽ bất động đối với tất cả sắc pháp. Chính vì vậy mà Đức Thế Tôn của mình khi vua lạy dưới chân, bưng lên thượng vị sơn hào hải vị, trải thảm ngồi trên ghế bằng vàng nạm ngọc thì Đức Phật vẫn bất động vì Phật thấy được thật chất của nó là sắc uẩn, rồi bị người ta chửi mắng, hủy nhục nhưng Phật vẫn điềm nhiên bất động. Mình tu như vậy mới tới được như vậy còn mình tu như vầy là mình như vầy rồi cuối cùng mình là như vầy. Cho nên kết quả là như vậy, cuối cùng là như vậy.
Minh Thành tha thiết mong muốn đại chúng, nhất là lớp này có nhân duyên, Minh Thành không biết thọ mạng đến đâu, chưa chắc hết khóa này. Đây là nói lời sự thật, chân thật, không ngày nào là Minh Thành không nhớ đến vô thường, không ngày nào là không niệm tử đối với cái tâm mong manh tạm bợ, cái thân đất nung này rõ ràng không phải là chỗ đáng tin cậy, không phải là chỗ cho mình dựa dẫm trong cái sắc pháp vô thường này.
Nếu mình không vận dụng hết tất cả tâm lực, sức lực, trí lực để tầm cầu thánh đạo đi đến thánh quả thì một khi mình chết mà ác pháp, bất thiện pháp còn tồn tại trong nội tâm thì đó là cái chết không có tốt lành, nếu mình chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa bước vào bốn đôi tám chúng của Đức Phật mà mình chết như vậy thì chưa chắc mình gặp được thánh pháp. Quý huynh đệ biết rằng trải qua vô số khó khăn gian khổ Minh Thành mới tìm ra được cái pháp này, đây không phải là chuyện đơn giản trong thời đại này.
Khi Minh Thành qua trình bày với các sư bên Miến Điện học thạc sĩ, tiến sĩ mà các sư bất ngờ hết, hỏi rằng "tại sao thầy phát tâm đi một đường lối thâm sâu, toàn bộ vào kinh Nikāya như vậy?". Toàn bộ chương trình tu học trên Linh Quy Pháp Ấn đều lấy kinh Nikāya làm chuẩn tắc tu học. Các huynh đệ đừng nghĩ Minh Thành ngồi đây nói vui này nọ, không phải như vậy mà Minh Thành phải đi cầu học khắp thế giới, đến tất cả những đạo tràng nào có cao Tăng. Những đạo tràng có tu học lớn thì Minh Thành đều đến cầu học rất tôn kính và chân thành.
Lúc Minh Thành ra lạy Hòa Thượng ở Trúc Lâm, Hòa Thượng ngồi trên xe vì đang bệnh, cứ 1 bước 1 lạy từ cổng vào mà lạy trên đá sỏi, vào đến nơi Minh Thành lấy trán mình đặt trên đôi chân của Hòa Thượng thì Hòa Thượng rớm nước mắt. Mình phải có sự tôn kính pháp, tôn trọng bậc đạo sư, tôn trọng Tam bảo thì nhất định mình sẽ đạt được vô thượng thánh pháp, đạt được cái pháp đại viên mãn chứ không phải là cái pháp nhỏ.
Cho nên các huynh đệ không nên hiểu một chút, biết một chút, tu một chút là thỏa mãn, hài lòng mà phải nỗ lực hướng thượng, phấn đấu liên tục trong Tứ Chánh Cần mới thành tựu. Thành ra lớp này phải gieo duyên lành, rất là có nhân duyên chứ không phải dễ. Trong khoảng 4 tháng này thì Minh Thành mới nhất hướng, sau đợt nhập thất 1 tháng thì Minh Thành đã tìm ra được con đường rất là quan trọng. Hiện tại trong Phật giáo Việt Nam không có một pháp hành rõ ràng, bây giờ người ta vô nước mình muốn tu thì đi đâu? Chỉ có vào các thiền viện, mà các thiền viện cũng tu theo các vị sau này chứ không phải hướng thẳng vào tạng kinh Nikāya cho nên cái pháp rất quan trọng. Các huynh đệ cố gắng nắm cho thật vững pháp học với pháp hành để sau khi ra trường rồi thứ các huynh đệ cầm trong tay gậy như ý, là thượng phương bảo kiếm, là trảm cốt đao, tức là chém xương như chém bùn, đó là kiếm chiếu huệ của ngũ uẩn trí, học được pháp này không tu thì thôi mà tu là thành tựu thánh quả.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.