Phật Đản Sanh Như Thế Nào 1
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
PHẬT ĐẢN SANH NHƯ THẾ NÀO 1
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn đức Tăng Ni, kính thưa toàn thể quý Phật tử, hôm nay chúng ta có chuyên đề đặc biệt về Phật đản, hôm nay chúng ta sẽ được nghe bài kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp nằm trong Trung Bộ Kinh, tập III rất vui chào mừng. Chúng ta sẽ được nghe về 20 điều hiếm có chưa từng có của đức Phật vì vậy chuyên đề hôm nay của chúng ta là Đức Phật đản sanh như thế nào theo tinh thần của kinh tạng Nikāya. Nhiều Phật tử cũng trải qua rất nhiều mùa Phật Đản, có thể chúng ta cũng ít có dịp được nghe từ trong tạng kinh gốc về sự đản sanh của Đức Phật như thế nào, khi ngài xuất hiện cuộc đời này lúc đó những sự việc gì, những vấn đề gì, những sự biến động gì, tình hình lúc đó ra sao thì qua cái bài kinh này chúng ta sẽ nghe chính Đức Phật nói lại và ngài A-nan tường thuật trong những lời kinh gốc và từ trong tạng kinh Nikāya.
Bài kinh này có tên là Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp, hy hữu là hiếm có, vị tằng hữu là chưa từng có. Đây là những điều hiếm có, chưa từng có của Đức Thế Tôn khi ngài vừa xuất hiện ở trên cuộc đời này. Chúng ta sẽ trích cái phần quan trọng nhất ở trong 20 điều hy hữu hiếm có, chưa từng có khi Đức Phật xuất hiện trên thế gian này. Điều thứ nhất khi Đức Thế Tôn chưa thành Phật, chưa thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, kiếp cuối trước khi ngài xuống thế giới này thì lúc đó ngài là một vị Bồ-tát ở trên cung trời Đâu-suất, khi đó ngài là sanh ở trong thiên chúng tại cung trời Đâu-suất với một cái tâm chánh niệm tỉnh giác. Sau đó ngài chánh niệm tỉnh giác đến trọn thọ mạng, tức là kiếp trước của ngài khi chưa sanh xuống thế giới này ngài là một vị chư thiên ở trên cõi trời Đâu-suất, suốt một cái cuộc đời của ngài là chánh niệm tỉnh giác, không có khi nào thất niệm, không có khi nào không có tỉnh giác.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Chánh niệm tỉnh giác này Ananda, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Đối với phàm phu chúng ta từ đâu sinh ra đây mình không có biết, sau khi mình chết đi, mình nhắm mắt mình cũng không biết mình đi về đâu, nhưng đối với Bồ-tát thì đây là điều mà hiếm có, chưa từng có, tức là ngài biết mình từ cung trời Đâu-suất đi vào trong thai mẹ của hoàng hậu Maya. Chúng ta thấy chỗ này là chỗ hiếm có, chưa từng có không? Mình không biết từ đâu mình sanh ra, mình không biết từ đâu đến đây, khi nhắm mắt cũng không biết mình đi về đâu nhưng điều đặc biệt của ngài là ngài chánh niệm tỉnh giác từ cung trời Đâu-suất đi vào trong bào thai của mẹ. Đó là cái điều mà hiếm có thứ tư, chúng ta thường nghe cái từ "đản sanh" hoặc là "giáng sanh" là từ ở trên đi xuống, từ cảnh giới cao đi xuống thế giới này.
Khi ngài đi vào trong mẫu thai mẹ, Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác sau khi từ thiên chúng Đâu-suất mạng chung đó đi vào trong thai mẹ. khi mà bồ tát vào trong thai mẹ đó thì
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập vào mẫu thai, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các thế giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, với đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: 'Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây'". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn'". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi Bồ-tát đi vào trong thai mẹ thì khi ấy có một ánh sáng hào quang vô lượng, ánh sáng nó chiếu cùng khắp hết, không chỉ ở trong một cái trái đất mà ra ánh sáng chiếu tới 10.000 thế giới. Ánh sáng này nó thần diệu, nó vượt hơn ánh sáng của chư thiên rất nhiều, ở trên thì chiếu vào các thế giới của chư thiên, các thế giới của Ma Vương, của Phạm Thiên là vua trời, chiếu xuống ở đây là thế giới của những người tu hành, của loài người, trong thế giới của nhân loại, ánh sáng chiếu vào trong những cái thế giới tối tăm, u ám, không có nền tảng, những cảnh giới không có mặt trăng, mặt trời, trong kinh thường dùng từ là đọa xứ, những thế giới này không có ánh sáng. Trong kinh Nikāya dùng từ ác thú, đọa xứ, địa ngục, chỗ đọa xứ là nơi không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, không có đèn điện, không có đèn cầy, không có đèn pin, không có bất kì ánh sáng nào cả, thuần túy một khối u ám to lớn và chúng ta cũng sống ở trong đó nhiều đời nhiều kiếp.
Những chúng sanh ở trong đây không thấy được nhau, đến khi ánh sáng của Bồ-tát khi ngài nhập thai mẹ thì lúc đó có ánh quang minh, ánh hào quang vô lượng, thần diệu soi như vậy thì những cái chúng sanh trong này mới biết có những chúng sanh khác. Do ở trong bóng tối nên họ nghĩ rằng chỉ có mình họ sống, đến khi ánh sáng Bồ-tát nhập thai thì cái hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực chư thiên đó thì chúng ssnh này mới thấy được những chúng sanh khác. Họ phải sống trong bóng đêm vĩnh viễn và mãi mãi, đó gọi là đọa xứ, không bao giờ có ánh sáng, từ sanh ra cho đến chết rồi nhiều đời kiếp sau cũng sống trong bóng đêm. Thành ra cái thấy của chúng ta còn hạn hẹp lắm, mình nương vô trí tuệ của Phật mới thấy còn nhiều thế giới khác, còn nhiều những cảnh rất là khổ đau, rất là khủng khiếp, không thể tưởng tượng được, ở đây là nói về đọa xứ.
Không phải là một thế giới mà 10.000 thế giới này rung động, chuyển động mạnh đến chấn động khi Bồ-tát từ cung trời Đâu-Suất nhập thai vào trong bụng của hoàng hậu Maya. Đó là cái pháp hiếm có, chưa từng có thứ năm.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: 'Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Bốn vị thiên tử là bốn vị con của vua trời, nhân gian gọi là thái tử, ở trời gọi là thiên tử, bốn vị thái tử cõi trời canh giữ bốn phương, không cho một ai, dù là người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát hay là mẹ của Bồ-tát. Khi ngài lọt lòng mẹ thì lập tức lúc đó có bốn vị thái tử cõi trời canh giữ bốn phương, mình hay nói là Tứ Đại Thiên Vương, bốn vị thiên tử không cho bất cứ một ai, người hay không phải người, không phải người tức là ma hay là chư thiên, chư thần, Dạ-xoa, phi nhân, không cho bất cứ một chúng sanh nào làm phiền nhiễu Bồ-tát hay là mẹ của Bồ-tát. Những cái này là người phàm phu không thấy được, đó là điều đặc biệt, hiếm có, chưa từng có thứ sáu.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Đây là cái điều hiếm có, chưa từng có thứ bảy, là khi ngài ở trong thai mẹ thì tự động mẹ của ngài giữ năm giới một cách hồn nhiên. Do oai lực của Bồ-tát ở trong bụng cho nên mẹ ngài không có phạm giới, không có sát sanh, không có trộm cắp, không có tà dâm, không có nói lắm, không có uống rượu. Đó là cái điều hiếm có hi hữu thứ bảy.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và mẹ Bồ-tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có nhiễm tâm'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Trong thời gian Bồ-tát ở trong thai mẹ đó thì mẹ của không có khởi cái tâm dâm dục, cái tâm cũng không có chứ đừng nói chi tới hành dâm, không có quan hệ vợ chồng, đó là nói cái hành động, còn trong tâm cũng không khởi là tại vì sức mạnh của Bồ-tát ở bên trong, sức đại thanh tịnh của ngài ở bên trong. Ngài nhiều đời nhiều kiếp đã ly dục, tâm ngài hoàn toàn thanh tịnh cho nên mẹ của ngài trong suốt thời gian mang thai ngài không có khởi cái tâm dâm dục với bất kì người đàn ông nào và cũng không có bất kì người đàn ông nào xâm phạm mẹ của Bồ-tát. Không một ai có thể xâm phạm mẹ của ngài vì có bốn vị thiên tử canh giữ bốn phương.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ vị Bồ-tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ, tận hưởng trọn năm dục công đức'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Trong khoảng thời gian mẹ ngài mang thai thì mẹ của ngài thì những sắc; thanh; hương; vị; xúc; đều là tốt đẹp, nhìn được cảnh đẹp, nghe những lời rất dễ thương và những cái mùi mà mẹ của ngài gửi là những cái mùi rất thơm tho, rất dễ chịu, những cái món ăn mà mẹ ngài nếm là toàn những món ăn ngon và mẹ ngài xúc chạm đến đâu điều là tốt đẹp, đều là vui vẻ, thích ý, vừa lòng, hoan hỉ cho nên gọi mẹ Bồ-tát hưởng năm dục công đức đầy đủ, hưởng trọn năm dục công đức trong khoảng thời gian mang thai ngài sắc; thanh; hương; vị; xúc là năm thứ mẹ ngài tiếp xúc đều là những thứ tốt đẹp.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỉ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Này Ananda, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: 'Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt'. Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ bộ phận và chân tay'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" ". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi ngài ở trong lòng mẹ thì mẹ của ngài không bị bất cứ một bệnh gì, dó phước đức, công đức của Bồ-tát nên mẹ ngài trong suốt thời gian 9 tháng 10 ngày không bị bất cứ một bệnh gì mà sống với một cái tâm hoan hỉ, cái tâm lúc nào cũng vui nhẹ nhàng, khoan khoái. Điều đặc biệt nhất là bà thấy ở trong cái bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay, bà nhìn vào thấy Bồ-tát chứ không như những người mẹ thường, bà nhìn vào thấy rõ Bồ-tát trong bụng và thấy rõ chân tay của ngài. Đức Phật ví dụ giống như viên ngọc lưu ly, mình nói cho dễ hiểu viên hột xoàn 8 cạnh lấp lánh, hoàn hảo, trong suốt, rất là đẹp, bà nhìn thấy được Bồ-tát trong bụng của mình có từng bộ phận, từng cái chi phần tay chân. Đó là điều hiếm có, chưa từng có thứ 10 Bồ-tát đản sanh.
"Bạch Thế Tôn con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Ananda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Ðâu suất'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Đây là chỗ rất đặc biệt, sanh ngài ra 7 ngày thì mẹ của ngài qua đời và lập tức sanh lên cõi trời Đâu-suất.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Những bà mẹ khác mang thai thường là 9 tháng 10 ngày nhưng Bồ-tát ở trong bụng mẹ đến 10 tháng.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ- tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi hoàng hậu ngắm cảnh thì bà với tay lên cây trong vườn Lâm-tỳ-ni, các chùa bây giờ lập lên khung hình để nhắc lại hình ảnh mẹ ngài đang đi dạo, với tay lên vịn cây thì lúc đó đản sanh Bồ-tát. Như vậy điều đặc biệt hơn những bà mẹ khác mà bà đứng sanh ra Bồ-tát chứ không phải nằm hay ngồi.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi ngài sanh ra không phải người đỡ mà là các vị trời đỡ ngài trước, sau đó mới đến loài người đỡ. Những điều này chúng ta ít được nghe cho nên mới gọi là hy hữu, hiếm có, chưa từng có, vì cái công đức của ngài tu tập đến kiếp chót để thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trở thành bậc Thiên Nhân Sư tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người thì không phải như người bình thường phàm phu đầy phiền não, tham, sân, si. Kiếp này là kiếp cuối cùng, ngài không còn trở lại trong thế giới của chư thiên và nhân loại nữa cho nên tất cả những công đức, phước báo của ngài đầy ắp, viên mãn cho nên chúng ta sẽ thấy những điều hy hữu, hiếm có, chưa từng có.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: 'Hoàng hậu hãy hoan hỉ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn"(Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Tuy rằng mẹ ngài đứng sanh ra ngài nhưng ngài không đụng đất vì có bốn vị con của vua trời là thiên tử đỡ lấy ngài, đặt ngài trước mẹ và thưa với mẹ ngài "Hoàng hậu hãy hoan hỉ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân", các vị thiên tử chúc mừng cho mẹ ngài. Hoàng hậu rất phước báo, công đức nên hãy vui lên, hoan hỉ lên, hoàng hậu sanh ra một bậc đại vĩ nhân. Một người mẹ sanh ra được người con như vậy thì hạnh phúc đến thế nào, cho nên sanh ngài ra 7 ngày thôi là hoàng hậu lên cung trời Đâu-suất để hướng phước với chư thiên.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Này Ananda, ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nai cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi thân thể của ngài lọt lòng mẹ lúc đó là trong sạch, thanh tịnh, không có dính một chút mủ, một chút máu, những cái gì nhơ nhớp, nước nhớt thì không có dính. Ngài hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh, đây là điều hiếm có, chưa từng có thứ 16.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Bây giờ vô nhà tắm mình mở ra là có nước nóng, nước lạnh, đối với ngài tu vô lượng vô biên kiếp thì không cần máy nước nóng như mình mà tự chư thiên từ trên rưới xuống hai dòng nước, một dòng nước lạnh, một dòng nước nóng, hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho mẹ của ngài. Vì ngài là sư phụ của chư thiên nên các đệ tử phải đến chăm sóc cho sư phụ, đây là chuyện rất bình thường. Đối với những người tu hành thì điều này được cảm nhận rất sâu sắc, nhiều khi đối với người bình thường thì không tưởng ra nổi, còn người tu có công đức, phước báo thì khởi một ý niệm mong cầu mưa là tự động trời mưa xuống, chính những cái này bản thân con có trải nghiệm, con thấy không phải là chuyện khó với người tu cho nên đối với Bồ-tát thì những chuyện này không có gì khó nhưng nó rất đặc biệt, hiếm có, hy hữu ở giữa chúng sanh này.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: 'Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi ngài bước đi 7 bước thì có chư thiên đỡ lọng trắng che phủ phía trên đỉnh đầu của ngài, ngài nhìn khắp hết mọi phương và sau đó ngài phát ra tiếng của con ngưu vương, tiếng của con trâu chúa và nói "ta là bậc tối thượng ở trên đời, ta là bậc tối tôn ở trên đời, ta là bậc cao nhất ở trên đời, nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa". Đó là diễn tả 18 điều hiếm có, hy hữu, chưa từng có của Đức Phật cho đến lúc ngài đản sanh, chúng ta thấy được là Đức Phật Đản Sanh như thế nào chưa? Thấy chủ đề có sát sao không? Hôm nay chúng ta chủ yếu là trùng Tuyên lại Thánh điển để các vị được nghe, được tiếp xúc những cái điều mà có thể trước nay mình chưa từng nghe, chưa từng biết.
Tại sao Ngài nói "Ta là bậc tối thượng, bậc tối tôn, bậc cao nhất trên đời, nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh nữa"? Ngài nói như vậy có phải cho mình là hơn hết thiên hạ không? Nói như vậy có phải là bản ngã không? Tất nhiên là không phải, ngài nói sự thật, có sao ngài nói như vậy, còn mình nói câu này là mình nói không đúng sự thật, mình nói với bản ngã. Còn vị trí của ngài như vậy ngài nói như vậy, là nói chân thật ngữ, đúng sự thật, Minh Thành có nói với chúng ta đây là kiếp cuối cùng của ngài, sau kiếp này ngài nhập Niết-bàn, vượt qua tứ đại ,vượt qua ngũ uẩn, vượt qua căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn, chấm dứt toàn bộ trạng thái tham, sân, si, dục ái, vô minh, sầu, bi, khổ, ưu, não, chấm dứt hoàn toàn những cảnh sanh, già, bệnh, chết, chấm dứt hoàn toàn tất cả những cảm giác, những nghĩ tưởng, những hình bóng trong tâm, những nhận thức, chấm dứt hoàn toàn tất cả những cái thân tái tục, tái sanh, tái tạo, những cái thân đầy nước mắt, đầy mủ máu, đầy xương da, đầy bệnh tật chết chóc, đầy phiền não khổ đau, ngài hoàn toàn chấm dứt, không còn nữa cho nên đầy là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sinh ở đời này, đó là một sự thật quả và chúng ta thấy ngài chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là đúng sự thật.
Mình hay nói "thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn", nghĩa là trên trời dưới trời ta là tôn quý nhất, đúng là như vậy, giữa chư thiên và loài người, giữa tất cả hữu tình chúng sanh vô lượng thế giới, ngài là bậc tối thượng ở trên đời, là bậc tối tôn ở trên đời, là bậc cao nhất ở trên đời. Cho nên có những bài kinh Đức Phật nói người nào đặt lòng tin và Đức Phật là đặt lòng tin vào tối thượng, mà đặt lòng tin vào chỗ tối thượng thì có được kết quả tối thượng, người nào đặt lòng tin vào ngài tức là đặt lòng tin vào chỗ cao nhất, tối tôn, tối thượng, tối cao, không còn cái gì cao hơn. Cho nên một người tin Phật, mà tin đúng là người đó là nhập Dự Lưu Thánh quả thứ nhất, không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Qua đây chúng ta thấy được tại sao lại có lợi ích vĩ đại, to lớn, không thể tưởng tượng được, tại vì ngài là bậc tối thượng, mình tin vào bậc tối thượng, mình đi theo con đường tối thượng thì mình sẽ đạt được kết quả tối thượng. Đó là 18 điều hiếm có, chưa từng có.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên, hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các cảnh giới giữa các thế giới, tối tăm, u ám, không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại các chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: 'Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây'. Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Như vậy là tới cuối cùng, khi ngài A-na trình bày là 19 điều hiếm có, hy hữu, chưa từng thấy.
"-- Do vậy, này Ananda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ananda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ananda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Chỗ này rất sâu xa, đây là pháp hành mà chúng ta học từ trước đến nay, Đức Phật nói với ngài A-nan rằng ngoài những điều ngài A-nan nói ở trên thì còn một điều đặc biệt, đó là khi các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn thì được Thế Tôn biết, khi nó an trú ngài biết, khi nó biến hoại, chấm dứt ngài cũng biết. Đây chính là phương pháp nhận diện ngũ uẩn mà chúng ta thực hành. Cảm thọ sanh khởi lên thì ngài biết, cảm thọ an trú thì ngài biết và cảm thọ chấm dứt ngài cũng biết, đó là điều hiếm có, hy hữu, chưa từng có của Như Lai. Chúng sanh đâu có biết cảm thọ chứ đừng nói chi biết cảm thọ sanh khởi ra sao, an trú thế nào, chấm dứt ra sao. Các tưởng khởi lên thì ngài biết, nó an trú sao ngài cũng biết, nó chấm dứt thế nào ngài cũng biết. Tưởng là hình bóng trong tâm sanh khởi lên là ngài biết, nó an trú ra sao ngài biết, nó chấm dứt thế nào ngài cũng biết. Các tầm là các suy tư, suy tầm, những cái suy nghĩ sanh khởi, an trú và biến hoại thế nào ngài đều biết.
Như vậy là thọ; tưởng; hành, tầm ở đây là suy tầm, là cái tâm mình hướng về điều gì đó, nói cho dễ hiểu là những suy nghĩ của mình. Đức Thế Tôn đều biết hết, cảm giác nào sanh khởi là biết, hình bóng nào trong tâm khởi lên lên là ngài biết, suy nghĩ nào, hướng tâm về đâu thì ngài biết cho nên đây là điều hy hữu, hiếm có, chưa từng có của Đức Phật.
Như vậy ngày hôm nay chúng ta nghe bài kinh với tựa đề Hy hữu Vị Tằng Hữu Pháp, trong đây chúng ta được nghe gồm có 19 điều hiếm có, chưa từng có của Bồ-tát khi đản sanh xuống thế giới này. Mình cần nhớ những điểm quan trọng là khi ngài sinh ra đó là khi sanh ra là ngài từ ở trên cõi trời Đâu-suất giáng thần xuống, ngài là một vị Bồ-tát đã tu tập nhiều kiếp, đến kiếp này là kiếp cuối cùng để đại viên mãn. Thứ hai là chúng ta thấy được ngài có chánh niệm tỉnh giác, luôn luôn lúc nào ngài cũng chánh niệm tỉnh giác, ngài biết được mình đang làm cái gì dù cho lúc đi vào trong bào thai. Cái công đức của ngài, cái trí tuệ của ngài, thần lực của ngài, cái ánh sáng hào quang của ngài cùng khắp, với công đức tu tập tâm ly dục thanh tịnh như vậy cho nên không có cái dơ bẩn nhiễm ô ngài được, đến người mẹ cũng được lợi lạc thấm nhuần công đức, lợi ích, phước báo.
Điều quan trọng mà chúng ta nhớ là ngài là bật tối tôn ở trên đời, bậc cao nhất ở trên đời, bậc tối thượng ở trên đời. Cho nên nếu biết cách niệm Phật thì hay vô cùng, công đức, phước báo vô lượng, mình niệm là hướng đến bậc đã ly tham, đã từ bỏ, đã chấm dứt đối với cái thân ngũ uẩn này, bậc đại trí tuệ, bậc đại từ bi, bậc đã nhìn thấu hết tất cả tam giới, bậc đã chứng ngộ được ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã vì vậy đặt lòng tin vào bậc tối thượng thì mình sẽ được quả dị thục tối thượng. Mình học cái này để mình sanh khởi thêm lòng tin, lòng tin chưa có thì sẽ có, lòng tin đã có rồi thêm lớn mạnh, lòng tin đã lớn mạnh thì càng lớn mạnh cho đến viên mãn, lòng tin viên mãn tức là Dự Lưu Thánh quả thứ nhất, từ đó mình nâng lên Thánh quả thứ hai, thứ ba và thứ tư.
Những bậc Thánh A-la-hán cung kính Phật tuyệt đối, cung kính không thể tưởng tượng nổi. Vua Ba-tư-nặc 80 tuổi mà lạy dưới chân Đức Phật, hôn bàn chân Đức Phật, đem đỉnh đầu của mình chạm dưới chân Đức Phật, xưng bằng con với Đức Phật. Thế Tôn hỏi rằng sao nhà vua lại cung kính đến như vậy thì vua Ba-tư-nặc trình bày. Điều quan trọng nhất sau cùng là sau khi kể hết những điều thần diệu, vi diệu, thù diệu, thắng diệu, hiếm có, hy hữu, chưa từng có thì Đức Phật nói với ngài A-nan hãy thọ trì điều chưa từng có của Như Lai là khi các cảm thọ sanh khởi lên thì ngài biết, cảm thọ an trú, chấm dứt ngài biết, những hình bóng trong tâm sanh khởi lên ngài biết, các hình bóng an trú ngài biết, các hình bóng đó tan biến, chấm dứt ngài biết, các suy nghĩ, sự hướng tâm, suy tầm sanh khởi, an trú và chấm dứt ngài điều biết. Đó là cái pháp hy hữu, hiếm có, chưa từng có, đó cũng chính là cái pháp mà chúng ta đang thực tập nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu cảm thọ.
Nay con xin tập hạnh hiền nhân,
Chẳng để hơn thua dẫn dắt mình.
Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ
Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm.
Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm, nghe rồi dẫn chúng đến từ tâm, nghe rồi dẫn chúng đến trí tuệ, dẫn đến chúng đến an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Đó là chúng ta chẳng những thấy được cái 19 điều hiếm có, chưa từng có mà ngài A-nan được Đức Phật kể lại, được nghe, được thấy mà Đức Phật còn trao cho thêm một điều là ngài luôn luôn nhận diện, quán chiếu về ngũ uẩn, thấy được cái bản chất, cái tính chất vô thường, khổ, vô ngã của nó để từ bỏ, thoát ra và chứng đạt được kiếp này là kiếp cuối cùng, trạng thái sầu, bi, khổ, ưu, não, luân hồi sinh tử sẽ chấm dứt vĩnh viễn và mãi mãi, đạt đến Niết-bàn tối thượng.
Nhân ngày hôm nay là ngày đầu tiên của tháng tư cũng là đi vào tuần Phật Đản thì chúng ta nhắc lại những công đức, trí tuệ, nhất là sự kiện đản sanh của Bồ-tát để sau này có ra một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác sáng lập nên Phật giáo và đem lại ánh sáng trí tuệ và đại từ bi cho muôn loài nhân thiên. Đem lên những lời này cúng dường trong mùa Phật Đản và kính chúc tất cả chư tôn thiền đức và các vị nam nữ Phật tử hiền trí được thấm nhuần ánh sáng tuệ giác và từ bi trong một Phật Đản này, tu hành tinh tấn để có được sự an lạc, hạnh phúc thật sự trong giáo pháp của Đức Như Lai.
Phật tử: Nam Mô A-di-đà Phật, con xin trên tri ân thượng tọa, nhờ có bản kinh Nikāya này mà chúng con hiểu rõ sự kiện đản sanh của Đức Phật, với lại con cũng xin hỏi Thượng Tọa là cái câu "thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn" đúng như câu "ta là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trên đời" không thưa thượng tọa. Hai câu đó có ý nghĩa giống nhau không thưa thượng tọa?
Sư Phụ: Dạ, "thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn" Tiếng Việt của mình là trên trời hay là dưới trời chỉ có ta là bậc tôn quý nhất, giống như ở đây là trong kinh là câu "ta là bậc tối thượng ở trên đời" chính là câu duy ngã độc tôn, còn câu "ta là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác" thì ở một phương diện sự giác ngộ của ngài Chánh đẳng Chánh Giác. Chữ Đẳng là cùng khắp hết, không còn có bất cứ một cái gì mà ngài không thấy biết, cái biết của ngài là cái thấy biết rốt ráo, trọn vẹn, đầy đủ, đồng đều, viên mãn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm, của đời sống, của nhân sinh, của thế giới, không còn một cái gì mà ngài không thấy biết về phương diện khổ đau và con đường diệt khổ và chứng đắc giác ngộ con đường đó cho nên gọi là Chánh Đẳng Giác hay là Chánh Đẳng Chánh Giác.
Còn mình là vô minh, mình không có giác ngộ cho nên mình không có thấy khổ, mình thấy vui, mình đang mê trong đó, sau đó mình u đầu sứt trán rồi mình mới kêu trời, kêu đất, kêu Phật. Các bậc giác ngộ là nhìn thấy được nó là khổ, các ngài thấy được nguyên nhân của khổ, tức là những cái thọ; tưởng; hành đã nói, các cảm thọ trong con người mình thúc giục thúc giục, thiêu đốt mình, nó đốt cháy mình rồi mình làm ra những cái ác nghiệp, các cảm thọ hơn thua, ta đây, cao ngạo, nhân ngã làm ra đau khổ, còn ngài là ấy biết hết và chấm dứt hết cho nên ngài không còn khổ. Đó là bậc Chánh đẳng Chánh Giác.
Câu trước là "tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người" là bậc Thiên Nhân Sư, còn câu nói về Chánh đẳng Chánh Giác là nói về phương diện giác ngộ, hai khía cạnh của Đức Phật.
Phật tử Minh Anh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lời đầu tiên con xin thành kính tri ân chư tôn đức trong ban tổ chức đã cho chúng con pháp thoại ngày hôm nay. Con kính tri ân thầy vì bài pháp thoại hôm nay rất hay và ý nghĩa, cũng sắp đến ngày của Đức Phật Đản Sanh, con có câu hỏi là trong bài pháp thì thượng tọa giảng Đức Phật là bậc tối thượng, không ai hơn. Trong tôn giáo khác con không tiện nói tên thì con thấy có một sự khác biệt rất lớn, Đức Phật vẫn có một cái gì đấy con thấy thể hiện sự khiêm tốn, ngài chỉ nhận mình là một bậc giác ngộ đã giải thoát khỏi cái vòng luân hồi thôi chứ ngài không ngài không phải là nguyên nhân đầu tiên của sự sống, cũng không tạo ra sự sống. Theo con hiểu ở cái ý này là như vậy, tức là ngài không phải là đấng tạo hóa, ngài cũng sinh ra ở trên đời, ngài chỉ cao quý hơn loài người là ở cái giới hạn và ở cái phạm hạnh của ngài thôi chứ còn ngài vẫn đặt mình ngang hàng với mọi người để đi lên từ đấy. Theo con hiểu đây là điểm khác nhau giữa đạo Phật và tất cả các tôn giáo khác ở chỗ này, không biết là cách nghĩ của con và cách hiểu con có đúng không? Bởi vì con có nghiên cứu với một vài tôn giáo khác và con không tiện nói tên, con thấy có một cái sự khác biệt rất là lớn. Con kính tri ân thượng tọa giảng dạy cho con điều này.
Sư Phụ: Dạ thưa đúng rồi ạ, sự tối tôn, tối thượng, tối cao ở đây là về phương diện giác ngộ. Ngài Xá-lợi-phất nói:
"- Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.
- Này Sàriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ" (Trường Bộ Kinh, 28. Kinh Tự hoan hỉ)
Khi Đức Thế Tôn nói ngài là bậc tốt tôn, tối thượng, tối cao là ngài nói về phương diện giác ngộ, còn ngài sống là một người hết sức là khiêm cung, khiêm hạ và bình dị. Ngài khiêm hạ còn hơn cả người bình thường nữa, chính vì cái khiêm hạ của ngài cho nên ngài mới là bậc tối thượng, ngài hoàn toàn vô ngã cho nên cái đó mới là cao nhất trong cái vô ngã đó. Nhiều người hiểu lầm Đức Phật là cái gì ngài cũng biết, không phải như vậy, vi tính ngài không biết vì thời đại đó chưa có nhưng ngài biết hết, Thế Gian Giải là ngài biết được thế giới này từ đâu nó thành lập, làm sao để chấm dứt đau khổ trên thế giới này, cái đó mới là tối thượng chứ không phải Chánh Đẳng Giác là cái gì cũng biết hết. Ngài biết được cái cốt tủy, cốt lõi, cốt yếu nhất để giải quyết vấn đề đau khổ của tự thân mình và của chúng sanh, cái đó là tối thượng.
Phật tử Minh Anh: Con xin có một câu hỏi thứ hai, nó cũng tiếp luôn, tức là khi mà được học giáo pháp của Đức Phật, con thấy là như này ạ. Tức là khi mà chưa học thì việc làm thiện thì tạm gọi theo ngôn ngữ của thế tục ăn may hữu họa, tức là có dịp thì làm, có duyên thì làm, không có dịp thì lại thôi, nhưng khi được học giáo pháp, được lắng nghe và được thực hành thì con thấy việc thực hành các cái thiện nghiệp như là có một cái động cơ, động cơ ở đây không phải vì danh vọng hay vì lợi dưỡng gì cả mà nó là động cơ thuộc về nội tâm. Con thấy kể cả khi đã được học giáo pháp thì chúng con thấy mình có một cái mục đích để làm làm điều thiện và có một cái sự kiên định trong các cái điều kiện đấy, thì suy nghĩ này của con có phù hợp với giáo pháp không ạ? Kính xin thượng tọa giảng dạy cho con.
Sư Phụ: Dạ đúng rồi, vậy là đúng rồi.
Chú Xuân Phổ: A-di-đà Phật, con xin tri ân thượng tọa cũng như ban hoằng pháp đã cho chúng con bài học nhân mùa Phật đản. Con thấy khi Đức Phật nói "ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành", những điều đó là giáo lý thôi chứ còn việc mình tu tập như thế là cả một cái quá trình, bởi vì con thấy rằng là Bồ-tát từ trời Đâu-suất trở về cõi ta bà này đã chọn vào làm con vua Tịnh Phạn mới có điều kiện để mà tu tập được. Tại sao lại không chọn vào những nhà nông dân bình thường thì làm sao có điều kiện để đi tu tập, học hỏi được? Chính vì như thế Tất-đạt-đa ở trong môi trường con vua Tịnh Phạn, khi ra đi tu hành mới là một tấm gương vô cùng vĩ đại đối với nhân loại vì bởi vì có vợ đẹp, con khôn, có địa vị nhưng từ bỏ để đi tu tập, để trở thành bậc giác ngộ cho nhân loại, tìm con đường giác ngộ cho nhân loại.
Đức Phật là một nhà Chánh đẳng Chánh Giác thì ở đây có nói rằng là người là trí vô sự, tức là tự túc học hết các thầy, rồi tự nghiên cứu và tự tìm ra, không có ai bày vẽ cho Đức Phật cả cho nên chính Đức Phật tìm ra con đường để giáo dục nhân loại thì con thấy rất vinh hạnh cho chúng con. Đức Phật để lại kho tàng này là đời đời kiếp kiếp, ngài để lại cho tất cả các quý thầy, quý sư đã tôn túc, đã truyền đạt lại cho chúng con, ngài đã ra đi từ hơn 2000 năm rồi mà chúng con hôm nay vẫn còn được truyền thụ lại những cái giáo lý là cả một cái công trình. Chúng con vô cùng cảm niệm, chúng con nói là chúng con học đây để tập làm người chứ còn cũng chẳng có cái gì là cao siêu được cả bởi, vì làm người thế nào cho nó chính đáng thôi chứ cũng không có duyên như quý thầy xuất gia.
Con rất cảm niệm sự truyền đạt của Đức Phật, các quý ngài đã thay Đức Phật truyền đạt lại những cái điều đó cho chúng con thì khi mà khai sơ, tức là cuộc sống rất là khó khăn từ thời Đức Phật cũng có nông nô, chủ nô rồi tất cả các thứ mà ngài tu tập như thế, đến các quý thầy cũng vậy thôi, cũng gặp những điều kiện như thế hoặc là khi học về những cái như thế, cải tạo lại, phục hồi Phật giáo của mình thì con thấy công lao của các quý thầy rất là lớn. Đi bộ suốt từ nam ta bắc để có công trình Phật giáo cùng chúng ta trường tồn đến ngày hôm nay, con rất cảm niệm công đức của quý thầy. Nam mô A-di-đà Phật.
./.
PHẬT ĐẢN SANH NHƯ THẾ NÀO 1
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn đức Tăng Ni, kính thưa toàn thể quý Phật tử, hôm nay chúng ta có chuyên đề đặc biệt về Phật đản, hôm nay chúng ta sẽ được nghe bài kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp nằm trong Trung Bộ Kinh, tập III rất vui chào mừng. Chúng ta sẽ được nghe về 20 điều hiếm có chưa từng có của đức Phật vì vậy chuyên đề hôm nay của chúng ta là Đức Phật đản sanh như thế nào theo tinh thần của kinh tạng Nikāya. Nhiều Phật tử cũng trải qua rất nhiều mùa Phật Đản, có thể chúng ta cũng ít có dịp được nghe từ trong tạng kinh gốc về sự đản sanh của Đức Phật như thế nào, khi ngài xuất hiện cuộc đời này lúc đó những sự việc gì, những vấn đề gì, những sự biến động gì, tình hình lúc đó ra sao thì qua cái bài kinh này chúng ta sẽ nghe chính Đức Phật nói lại và ngài A-nan tường thuật trong những lời kinh gốc và từ trong tạng kinh Nikāya.
Bài kinh này có tên là Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp, hy hữu là hiếm có, vị tằng hữu là chưa từng có. Đây là những điều hiếm có, chưa từng có của Đức Thế Tôn khi ngài vừa xuất hiện ở trên cuộc đời này. Chúng ta sẽ trích cái phần quan trọng nhất ở trong 20 điều hy hữu hiếm có, chưa từng có khi Đức Phật xuất hiện trên thế gian này. Điều thứ nhất khi Đức Thế Tôn chưa thành Phật, chưa thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, kiếp cuối trước khi ngài xuống thế giới này thì lúc đó ngài là một vị Bồ-tát ở trên cung trời Đâu-suất, khi đó ngài là sanh ở trong thiên chúng tại cung trời Đâu-suất với một cái tâm chánh niệm tỉnh giác. Sau đó ngài chánh niệm tỉnh giác đến trọn thọ mạng, tức là kiếp trước của ngài khi chưa sanh xuống thế giới này ngài là một vị chư thiên ở trên cõi trời Đâu-suất, suốt một cái cuộc đời của ngài là chánh niệm tỉnh giác, không có khi nào thất niệm, không có khi nào không có tỉnh giác.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Chánh niệm tỉnh giác này Ananda, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, chánh niệm tỉnh giác, Bồ-tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Đối với phàm phu chúng ta từ đâu sinh ra đây mình không có biết, sau khi mình chết đi, mình nhắm mắt mình cũng không biết mình đi về đâu, nhưng đối với Bồ-tát thì đây là điều mà hiếm có, chưa từng có, tức là ngài biết mình từ cung trời Đâu-suất đi vào trong thai mẹ của hoàng hậu Maya. Chúng ta thấy chỗ này là chỗ hiếm có, chưa từng có không? Mình không biết từ đâu mình sanh ra, mình không biết từ đâu đến đây, khi nhắm mắt cũng không biết mình đi về đâu nhưng điều đặc biệt của ngài là ngài chánh niệm tỉnh giác từ cung trời Đâu-suất đi vào trong bào thai của mẹ. Đó là cái điều mà hiếm có thứ tư, chúng ta thường nghe cái từ "đản sanh" hoặc là "giáng sanh" là từ ở trên đi xuống, từ cảnh giới cao đi xuống thế giới này.
Khi ngài đi vào trong mẫu thai mẹ, Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác sau khi từ thiên chúng Đâu-suất mạng chung đó đi vào trong thai mẹ. khi mà bồ tát vào trong thai mẹ đó thì
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập vào mẫu thai, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các thế giới ở giữa các thế giới, tối tăm, u ám không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, với đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: 'Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây'". Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn'". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi Bồ-tát đi vào trong thai mẹ thì khi ấy có một ánh sáng hào quang vô lượng, ánh sáng nó chiếu cùng khắp hết, không chỉ ở trong một cái trái đất mà ra ánh sáng chiếu tới 10.000 thế giới. Ánh sáng này nó thần diệu, nó vượt hơn ánh sáng của chư thiên rất nhiều, ở trên thì chiếu vào các thế giới của chư thiên, các thế giới của Ma Vương, của Phạm Thiên là vua trời, chiếu xuống ở đây là thế giới của những người tu hành, của loài người, trong thế giới của nhân loại, ánh sáng chiếu vào trong những cái thế giới tối tăm, u ám, không có nền tảng, những cảnh giới không có mặt trăng, mặt trời, trong kinh thường dùng từ là đọa xứ, những thế giới này không có ánh sáng. Trong kinh Nikāya dùng từ ác thú, đọa xứ, địa ngục, chỗ đọa xứ là nơi không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, không có đèn điện, không có đèn cầy, không có đèn pin, không có bất kì ánh sáng nào cả, thuần túy một khối u ám to lớn và chúng ta cũng sống ở trong đó nhiều đời nhiều kiếp.
Những chúng sanh ở trong đây không thấy được nhau, đến khi ánh sáng của Bồ-tát khi ngài nhập thai mẹ thì lúc đó có ánh quang minh, ánh hào quang vô lượng, thần diệu soi như vậy thì những cái chúng sanh trong này mới biết có những chúng sanh khác. Do ở trong bóng tối nên họ nghĩ rằng chỉ có mình họ sống, đến khi ánh sáng Bồ-tát nhập thai thì cái hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực chư thiên đó thì chúng ssnh này mới thấy được những chúng sanh khác. Họ phải sống trong bóng đêm vĩnh viễn và mãi mãi, đó gọi là đọa xứ, không bao giờ có ánh sáng, từ sanh ra cho đến chết rồi nhiều đời kiếp sau cũng sống trong bóng đêm. Thành ra cái thấy của chúng ta còn hạn hẹp lắm, mình nương vô trí tuệ của Phật mới thấy còn nhiều thế giới khác, còn nhiều những cảnh rất là khổ đau, rất là khủng khiếp, không thể tưởng tượng được, ở đây là nói về đọa xứ.
Không phải là một thế giới mà 10.000 thế giới này rung động, chuyển động mạnh đến chấn động khi Bồ-tát từ cung trời Đâu-Suất nhập thai vào trong bụng của hoàng hậu Maya. Đó là cái pháp hiếm có, chưa từng có thứ năm.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: 'Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Bốn vị thiên tử là bốn vị con của vua trời, nhân gian gọi là thái tử, ở trời gọi là thiên tử, bốn vị thái tử cõi trời canh giữ bốn phương, không cho một ai, dù là người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát hay là mẹ của Bồ-tát. Khi ngài lọt lòng mẹ thì lập tức lúc đó có bốn vị thái tử cõi trời canh giữ bốn phương, mình hay nói là Tứ Đại Thiên Vương, bốn vị thiên tử không cho bất cứ một ai, người hay không phải người, không phải người tức là ma hay là chư thiên, chư thần, Dạ-xoa, phi nhân, không cho bất cứ một chúng sanh nào làm phiền nhiễu Bồ-tát hay là mẹ của Bồ-tát. Những cái này là người phàm phu không thấy được, đó là điều đặc biệt, hiếm có, chưa từng có thứ sáu.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Đây là cái điều hiếm có, chưa từng có thứ bảy, là khi ngài ở trong thai mẹ thì tự động mẹ của ngài giữ năm giới một cách hồn nhiên. Do oai lực của Bồ-tát ở trong bụng cho nên mẹ ngài không có phạm giới, không có sát sanh, không có trộm cắp, không có tà dâm, không có nói lắm, không có uống rượu. Đó là cái điều hiếm có hi hữu thứ bảy.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và mẹ Bồ-tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có nhiễm tâm'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Trong thời gian Bồ-tát ở trong thai mẹ đó thì mẹ của không có khởi cái tâm dâm dục, cái tâm cũng không có chứ đừng nói chi tới hành dâm, không có quan hệ vợ chồng, đó là nói cái hành động, còn trong tâm cũng không khởi là tại vì sức mạnh của Bồ-tát ở bên trong, sức đại thanh tịnh của ngài ở bên trong. Ngài nhiều đời nhiều kiếp đã ly dục, tâm ngài hoàn toàn thanh tịnh cho nên mẹ của ngài trong suốt thời gian mang thai ngài không có khởi cái tâm dâm dục với bất kì người đàn ông nào và cũng không có bất kì người đàn ông nào xâm phạm mẹ của Bồ-tát. Không một ai có thể xâm phạm mẹ của ngài vì có bốn vị thiên tử canh giữ bốn phương.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ vị Bồ-tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ, tận hưởng trọn năm dục công đức'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Trong khoảng thời gian mẹ ngài mang thai thì mẹ của ngài thì những sắc; thanh; hương; vị; xúc; đều là tốt đẹp, nhìn được cảnh đẹp, nghe những lời rất dễ thương và những cái mùi mà mẹ của ngài gửi là những cái mùi rất thơm tho, rất dễ chịu, những cái món ăn mà mẹ ngài nếm là toàn những món ăn ngon và mẹ ngài xúc chạm đến đâu điều là tốt đẹp, đều là vui vẻ, thích ý, vừa lòng, hoan hỉ cho nên gọi mẹ Bồ-tát hưởng năm dục công đức đầy đủ, hưởng trọn năm dục công đức trong khoảng thời gian mang thai ngài sắc; thanh; hương; vị; xúc là năm thứ mẹ ngài tiếp xúc đều là những thứ tốt đẹp.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ananda, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỉ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Này Ananda, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: 'Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt'. Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ-tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ bộ phận và chân tay'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" ". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi ngài ở trong lòng mẹ thì mẹ của ngài không bị bất cứ một bệnh gì, dó phước đức, công đức của Bồ-tát nên mẹ ngài trong suốt thời gian 9 tháng 10 ngày không bị bất cứ một bệnh gì mà sống với một cái tâm hoan hỉ, cái tâm lúc nào cũng vui nhẹ nhàng, khoan khoái. Điều đặc biệt nhất là bà thấy ở trong cái bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay, bà nhìn vào thấy Bồ-tát chứ không như những người mẹ thường, bà nhìn vào thấy rõ Bồ-tát trong bụng và thấy rõ chân tay của ngài. Đức Phật ví dụ giống như viên ngọc lưu ly, mình nói cho dễ hiểu viên hột xoàn 8 cạnh lấp lánh, hoàn hảo, trong suốt, rất là đẹp, bà nhìn thấy được Bồ-tát trong bụng của mình có từng bộ phận, từng cái chi phần tay chân. Đó là điều hiếm có, chưa từng có thứ 10 Bồ-tát đản sanh.
"Bạch Thế Tôn con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, này Ananda, mẹ Bồ-tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Ðâu suất'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Đây là chỗ rất đặc biệt, sanh ngài ra 7 ngày thì mẹ của ngài qua đời và lập tức sanh lên cõi trời Đâu-suất.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, mang bầu thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ Bồ-tát sanh Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát mang Bồ-tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Những bà mẹ khác mang thai thường là 9 tháng 10 ngày nhưng Bồ-tát ở trong bụng mẹ đến 10 tháng.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Trong khi các người đàn bà khác, này Ananda, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh Bồ- tát không phải như vậy. Mẹ Bồ-tát đứng mà sanh Bồ-tát'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi hoàng hậu ngắm cảnh thì bà với tay lên cây trong vườn Lâm-tỳ-ni, các chùa bây giờ lập lên khung hình để nhắc lại hình ảnh mẹ ngài đang đi dạo, với tay lên vịn cây thì lúc đó đản sanh Bồ-tát. Như vậy điều đặc biệt hơn những bà mẹ khác mà bà đứng sanh ra Bồ-tát chứ không phải nằm hay ngồi.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi ngài sanh ra không phải người đỡ mà là các vị trời đỡ ngài trước, sau đó mới đến loài người đỡ. Những điều này chúng ta ít được nghe cho nên mới gọi là hy hữu, hiếm có, chưa từng có, vì cái công đức của ngài tu tập đến kiếp chót để thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trở thành bậc Thiên Nhân Sư tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người thì không phải như người bình thường phàm phu đầy phiền não, tham, sân, si. Kiếp này là kiếp cuối cùng, ngài không còn trở lại trong thế giới của chư thiên và nhân loại nữa cho nên tất cả những công đức, phước báo của ngài đầy ắp, viên mãn cho nên chúng ta sẽ thấy những điều hy hữu, hiếm có, chưa từng có.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Bồ-tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: 'Hoàng hậu hãy hoan hỉ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn"(Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Tuy rằng mẹ ngài đứng sanh ra ngài nhưng ngài không đụng đất vì có bốn vị con của vua trời là thiên tử đỡ lấy ngài, đặt ngài trước mẹ và thưa với mẹ ngài "Hoàng hậu hãy hoan hỉ! Hoàng Hậu sanh một bậc vĩ nhân", các vị thiên tử chúc mừng cho mẹ ngài. Hoàng hậu rất phước báo, công đức nên hãy vui lên, hoan hỉ lên, hoàng hậu sanh ra một bậc đại vĩ nhân. Một người mẹ sanh ra được người con như vậy thì hạnh phúc đến thế nào, cho nên sanh ngài ra 7 ngày thôi là hoàng hậu lên cung trời Đâu-suất để hướng phước với chư thiên.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Này Ananda, ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nai cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này Ananda, khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi thân thể của ngài lọt lòng mẹ lúc đó là trong sạch, thanh tịnh, không có dính một chút mủ, một chút máu, những cái gì nhơ nhớp, nước nhớt thì không có dính. Ngài hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh, đây là điều hiếm có, chưa từng có thứ 16.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Bây giờ vô nhà tắm mình mở ra là có nước nóng, nước lạnh, đối với ngài tu vô lượng vô biên kiếp thì không cần máy nước nóng như mình mà tự chư thiên từ trên rưới xuống hai dòng nước, một dòng nước lạnh, một dòng nước nóng, hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ-tát và cho mẹ của ngài. Vì ngài là sư phụ của chư thiên nên các đệ tử phải đến chăm sóc cho sư phụ, đây là chuyện rất bình thường. Đối với những người tu hành thì điều này được cảm nhận rất sâu sắc, nhiều khi đối với người bình thường thì không tưởng ra nổi, còn người tu có công đức, phước báo thì khởi một ý niệm mong cầu mưa là tự động trời mưa xuống, chính những cái này bản thân con có trải nghiệm, con thấy không phải là chuyện khó với người tu cho nên đối với Bồ-tát thì những chuyện này không có gì khó nhưng nó rất đặc biệt, hiếm có, hy hữu ở giữa chúng sanh này.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: 'Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa'. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn". (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Khi ngài bước đi 7 bước thì có chư thiên đỡ lọng trắng che phủ phía trên đỉnh đầu của ngài, ngài nhìn khắp hết mọi phương và sau đó ngài phát ra tiếng của con ngưu vương, tiếng của con trâu chúa và nói "ta là bậc tối thượng ở trên đời, ta là bậc tối tôn ở trên đời, ta là bậc cao nhất ở trên đời, nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa". Đó là diễn tả 18 điều hiếm có, hy hữu, chưa từng có của Đức Phật cho đến lúc ngài đản sanh, chúng ta thấy được là Đức Phật Đản Sanh như thế nào chưa? Thấy chủ đề có sát sao không? Hôm nay chúng ta chủ yếu là trùng Tuyên lại Thánh điển để các vị được nghe, được tiếp xúc những cái điều mà có thể trước nay mình chưa từng nghe, chưa từng biết.
Tại sao Ngài nói "Ta là bậc tối thượng, bậc tối tôn, bậc cao nhất trên đời, nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh nữa"? Ngài nói như vậy có phải cho mình là hơn hết thiên hạ không? Nói như vậy có phải là bản ngã không? Tất nhiên là không phải, ngài nói sự thật, có sao ngài nói như vậy, còn mình nói câu này là mình nói không đúng sự thật, mình nói với bản ngã. Còn vị trí của ngài như vậy ngài nói như vậy, là nói chân thật ngữ, đúng sự thật, Minh Thành có nói với chúng ta đây là kiếp cuối cùng của ngài, sau kiếp này ngài nhập Niết-bàn, vượt qua tứ đại ,vượt qua ngũ uẩn, vượt qua căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn, chấm dứt toàn bộ trạng thái tham, sân, si, dục ái, vô minh, sầu, bi, khổ, ưu, não, chấm dứt hoàn toàn những cảnh sanh, già, bệnh, chết, chấm dứt hoàn toàn tất cả những cảm giác, những nghĩ tưởng, những hình bóng trong tâm, những nhận thức, chấm dứt hoàn toàn tất cả những cái thân tái tục, tái sanh, tái tạo, những cái thân đầy nước mắt, đầy mủ máu, đầy xương da, đầy bệnh tật chết chóc, đầy phiền não khổ đau, ngài hoàn toàn chấm dứt, không còn nữa cho nên đầy là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sinh ở đời này, đó là một sự thật quả và chúng ta thấy ngài chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là đúng sự thật.
Mình hay nói "thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn", nghĩa là trên trời dưới trời ta là tôn quý nhất, đúng là như vậy, giữa chư thiên và loài người, giữa tất cả hữu tình chúng sanh vô lượng thế giới, ngài là bậc tối thượng ở trên đời, là bậc tối tôn ở trên đời, là bậc cao nhất ở trên đời. Cho nên có những bài kinh Đức Phật nói người nào đặt lòng tin và Đức Phật là đặt lòng tin vào tối thượng, mà đặt lòng tin vào chỗ tối thượng thì có được kết quả tối thượng, người nào đặt lòng tin vào ngài tức là đặt lòng tin vào chỗ cao nhất, tối tôn, tối thượng, tối cao, không còn cái gì cao hơn. Cho nên một người tin Phật, mà tin đúng là người đó là nhập Dự Lưu Thánh quả thứ nhất, không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Qua đây chúng ta thấy được tại sao lại có lợi ích vĩ đại, to lớn, không thể tưởng tượng được, tại vì ngài là bậc tối thượng, mình tin vào bậc tối thượng, mình đi theo con đường tối thượng thì mình sẽ đạt được kết quả tối thượng. Đó là 18 điều hiếm có, chưa từng có.
"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: 'Khi Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên, hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm thiên, và thế giới ở dưới gồm các Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến các cảnh giới giữa các thế giới, tối tăm, u ám, không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại các chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: 'Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây'. Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Như vậy là tới cuối cùng, khi ngài A-na trình bày là 19 điều hiếm có, hy hữu, chưa từng thấy.
"-- Do vậy, này Ananda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ananda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ananda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai" (Trung Bộ Kinh, 123. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp)
Chỗ này rất sâu xa, đây là pháp hành mà chúng ta học từ trước đến nay, Đức Phật nói với ngài A-nan rằng ngoài những điều ngài A-nan nói ở trên thì còn một điều đặc biệt, đó là khi các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn thì được Thế Tôn biết, khi nó an trú ngài biết, khi nó biến hoại, chấm dứt ngài cũng biết. Đây chính là phương pháp nhận diện ngũ uẩn mà chúng ta thực hành. Cảm thọ sanh khởi lên thì ngài biết, cảm thọ an trú thì ngài biết và cảm thọ chấm dứt ngài cũng biết, đó là điều hiếm có, hy hữu, chưa từng có của Như Lai. Chúng sanh đâu có biết cảm thọ chứ đừng nói chi biết cảm thọ sanh khởi ra sao, an trú thế nào, chấm dứt ra sao. Các tưởng khởi lên thì ngài biết, nó an trú sao ngài cũng biết, nó chấm dứt thế nào ngài cũng biết. Tưởng là hình bóng trong tâm sanh khởi lên là ngài biết, nó an trú ra sao ngài biết, nó chấm dứt thế nào ngài cũng biết. Các tầm là các suy tư, suy tầm, những cái suy nghĩ sanh khởi, an trú và biến hoại thế nào ngài đều biết.
Như vậy là thọ; tưởng; hành, tầm ở đây là suy tầm, là cái tâm mình hướng về điều gì đó, nói cho dễ hiểu là những suy nghĩ của mình. Đức Thế Tôn đều biết hết, cảm giác nào sanh khởi là biết, hình bóng nào trong tâm khởi lên lên là ngài biết, suy nghĩ nào, hướng tâm về đâu thì ngài biết cho nên đây là điều hy hữu, hiếm có, chưa từng có của Đức Phật.
Như vậy ngày hôm nay chúng ta nghe bài kinh với tựa đề Hy hữu Vị Tằng Hữu Pháp, trong đây chúng ta được nghe gồm có 19 điều hiếm có, chưa từng có của Bồ-tát khi đản sanh xuống thế giới này. Mình cần nhớ những điểm quan trọng là khi ngài sinh ra đó là khi sanh ra là ngài từ ở trên cõi trời Đâu-suất giáng thần xuống, ngài là một vị Bồ-tát đã tu tập nhiều kiếp, đến kiếp này là kiếp cuối cùng để đại viên mãn. Thứ hai là chúng ta thấy được ngài có chánh niệm tỉnh giác, luôn luôn lúc nào ngài cũng chánh niệm tỉnh giác, ngài biết được mình đang làm cái gì dù cho lúc đi vào trong bào thai. Cái công đức của ngài, cái trí tuệ của ngài, thần lực của ngài, cái ánh sáng hào quang của ngài cùng khắp, với công đức tu tập tâm ly dục thanh tịnh như vậy cho nên không có cái dơ bẩn nhiễm ô ngài được, đến người mẹ cũng được lợi lạc thấm nhuần công đức, lợi ích, phước báo.
Điều quan trọng mà chúng ta nhớ là ngài là bật tối tôn ở trên đời, bậc cao nhất ở trên đời, bậc tối thượng ở trên đời. Cho nên nếu biết cách niệm Phật thì hay vô cùng, công đức, phước báo vô lượng, mình niệm là hướng đến bậc đã ly tham, đã từ bỏ, đã chấm dứt đối với cái thân ngũ uẩn này, bậc đại trí tuệ, bậc đại từ bi, bậc đã nhìn thấu hết tất cả tam giới, bậc đã chứng ngộ được ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã vì vậy đặt lòng tin vào bậc tối thượng thì mình sẽ được quả dị thục tối thượng. Mình học cái này để mình sanh khởi thêm lòng tin, lòng tin chưa có thì sẽ có, lòng tin đã có rồi thêm lớn mạnh, lòng tin đã lớn mạnh thì càng lớn mạnh cho đến viên mãn, lòng tin viên mãn tức là Dự Lưu Thánh quả thứ nhất, từ đó mình nâng lên Thánh quả thứ hai, thứ ba và thứ tư.
Những bậc Thánh A-la-hán cung kính Phật tuyệt đối, cung kính không thể tưởng tượng nổi. Vua Ba-tư-nặc 80 tuổi mà lạy dưới chân Đức Phật, hôn bàn chân Đức Phật, đem đỉnh đầu của mình chạm dưới chân Đức Phật, xưng bằng con với Đức Phật. Thế Tôn hỏi rằng sao nhà vua lại cung kính đến như vậy thì vua Ba-tư-nặc trình bày. Điều quan trọng nhất sau cùng là sau khi kể hết những điều thần diệu, vi diệu, thù diệu, thắng diệu, hiếm có, hy hữu, chưa từng có thì Đức Phật nói với ngài A-nan hãy thọ trì điều chưa từng có của Như Lai là khi các cảm thọ sanh khởi lên thì ngài biết, cảm thọ an trú, chấm dứt ngài biết, những hình bóng trong tâm sanh khởi lên ngài biết, các hình bóng an trú ngài biết, các hình bóng đó tan biến, chấm dứt ngài biết, các suy nghĩ, sự hướng tâm, suy tầm sanh khởi, an trú và chấm dứt ngài điều biết. Đó là cái pháp hy hữu, hiếm có, chưa từng có, đó cũng chính là cái pháp mà chúng ta đang thực tập nhận diện ngũ uẩn, quán chiếu cảm thọ.
Nay con xin tập hạnh hiền nhân,
Chẳng để hơn thua dẫn dắt mình.
Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ
Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm.
Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm, nghe rồi dẫn chúng đến từ tâm, nghe rồi dẫn chúng đến trí tuệ, dẫn đến chúng đến an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Đó là chúng ta chẳng những thấy được cái 19 điều hiếm có, chưa từng có mà ngài A-nan được Đức Phật kể lại, được nghe, được thấy mà Đức Phật còn trao cho thêm một điều là ngài luôn luôn nhận diện, quán chiếu về ngũ uẩn, thấy được cái bản chất, cái tính chất vô thường, khổ, vô ngã của nó để từ bỏ, thoát ra và chứng đạt được kiếp này là kiếp cuối cùng, trạng thái sầu, bi, khổ, ưu, não, luân hồi sinh tử sẽ chấm dứt vĩnh viễn và mãi mãi, đạt đến Niết-bàn tối thượng.
Nhân ngày hôm nay là ngày đầu tiên của tháng tư cũng là đi vào tuần Phật Đản thì chúng ta nhắc lại những công đức, trí tuệ, nhất là sự kiện đản sanh của Bồ-tát để sau này có ra một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác sáng lập nên Phật giáo và đem lại ánh sáng trí tuệ và đại từ bi cho muôn loài nhân thiên. Đem lên những lời này cúng dường trong mùa Phật Đản và kính chúc tất cả chư tôn thiền đức và các vị nam nữ Phật tử hiền trí được thấm nhuần ánh sáng tuệ giác và từ bi trong một Phật Đản này, tu hành tinh tấn để có được sự an lạc, hạnh phúc thật sự trong giáo pháp của Đức Như Lai.
Phật tử: Nam Mô A-di-đà Phật, con xin trên tri ân thượng tọa, nhờ có bản kinh Nikāya này mà chúng con hiểu rõ sự kiện đản sanh của Đức Phật, với lại con cũng xin hỏi Thượng Tọa là cái câu "thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn" đúng như câu "ta là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trên đời" không thưa thượng tọa. Hai câu đó có ý nghĩa giống nhau không thưa thượng tọa?
Sư Phụ: Dạ, "thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn" Tiếng Việt của mình là trên trời hay là dưới trời chỉ có ta là bậc tôn quý nhất, giống như ở đây là trong kinh là câu "ta là bậc tối thượng ở trên đời" chính là câu duy ngã độc tôn, còn câu "ta là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác" thì ở một phương diện sự giác ngộ của ngài Chánh đẳng Chánh Giác. Chữ Đẳng là cùng khắp hết, không còn có bất cứ một cái gì mà ngài không thấy biết, cái biết của ngài là cái thấy biết rốt ráo, trọn vẹn, đầy đủ, đồng đều, viên mãn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm, của đời sống, của nhân sinh, của thế giới, không còn một cái gì mà ngài không thấy biết về phương diện khổ đau và con đường diệt khổ và chứng đắc giác ngộ con đường đó cho nên gọi là Chánh Đẳng Giác hay là Chánh Đẳng Chánh Giác.
Còn mình là vô minh, mình không có giác ngộ cho nên mình không có thấy khổ, mình thấy vui, mình đang mê trong đó, sau đó mình u đầu sứt trán rồi mình mới kêu trời, kêu đất, kêu Phật. Các bậc giác ngộ là nhìn thấy được nó là khổ, các ngài thấy được nguyên nhân của khổ, tức là những cái thọ; tưởng; hành đã nói, các cảm thọ trong con người mình thúc giục thúc giục, thiêu đốt mình, nó đốt cháy mình rồi mình làm ra những cái ác nghiệp, các cảm thọ hơn thua, ta đây, cao ngạo, nhân ngã làm ra đau khổ, còn ngài là ấy biết hết và chấm dứt hết cho nên ngài không còn khổ. Đó là bậc Chánh đẳng Chánh Giác.
Câu trước là "tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người" là bậc Thiên Nhân Sư, còn câu nói về Chánh đẳng Chánh Giác là nói về phương diện giác ngộ, hai khía cạnh của Đức Phật.
Phật tử Minh Anh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, lời đầu tiên con xin thành kính tri ân chư tôn đức trong ban tổ chức đã cho chúng con pháp thoại ngày hôm nay. Con kính tri ân thầy vì bài pháp thoại hôm nay rất hay và ý nghĩa, cũng sắp đến ngày của Đức Phật Đản Sanh, con có câu hỏi là trong bài pháp thì thượng tọa giảng Đức Phật là bậc tối thượng, không ai hơn. Trong tôn giáo khác con không tiện nói tên thì con thấy có một sự khác biệt rất lớn, Đức Phật vẫn có một cái gì đấy con thấy thể hiện sự khiêm tốn, ngài chỉ nhận mình là một bậc giác ngộ đã giải thoát khỏi cái vòng luân hồi thôi chứ ngài không ngài không phải là nguyên nhân đầu tiên của sự sống, cũng không tạo ra sự sống. Theo con hiểu ở cái ý này là như vậy, tức là ngài không phải là đấng tạo hóa, ngài cũng sinh ra ở trên đời, ngài chỉ cao quý hơn loài người là ở cái giới hạn và ở cái phạm hạnh của ngài thôi chứ còn ngài vẫn đặt mình ngang hàng với mọi người để đi lên từ đấy. Theo con hiểu đây là điểm khác nhau giữa đạo Phật và tất cả các tôn giáo khác ở chỗ này, không biết là cách nghĩ của con và cách hiểu con có đúng không? Bởi vì con có nghiên cứu với một vài tôn giáo khác và con không tiện nói tên, con thấy có một cái sự khác biệt rất là lớn. Con kính tri ân thượng tọa giảng dạy cho con điều này.
Sư Phụ: Dạ thưa đúng rồi ạ, sự tối tôn, tối thượng, tối cao ở đây là về phương diện giác ngộ. Ngài Xá-lợi-phất nói:
"- Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.
- Này Sàriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ" (Trường Bộ Kinh, 28. Kinh Tự hoan hỉ)
Khi Đức Thế Tôn nói ngài là bậc tốt tôn, tối thượng, tối cao là ngài nói về phương diện giác ngộ, còn ngài sống là một người hết sức là khiêm cung, khiêm hạ và bình dị. Ngài khiêm hạ còn hơn cả người bình thường nữa, chính vì cái khiêm hạ của ngài cho nên ngài mới là bậc tối thượng, ngài hoàn toàn vô ngã cho nên cái đó mới là cao nhất trong cái vô ngã đó. Nhiều người hiểu lầm Đức Phật là cái gì ngài cũng biết, không phải như vậy, vi tính ngài không biết vì thời đại đó chưa có nhưng ngài biết hết, Thế Gian Giải là ngài biết được thế giới này từ đâu nó thành lập, làm sao để chấm dứt đau khổ trên thế giới này, cái đó mới là tối thượng chứ không phải Chánh Đẳng Giác là cái gì cũng biết hết. Ngài biết được cái cốt tủy, cốt lõi, cốt yếu nhất để giải quyết vấn đề đau khổ của tự thân mình và của chúng sanh, cái đó là tối thượng.
Phật tử Minh Anh: Con xin có một câu hỏi thứ hai, nó cũng tiếp luôn, tức là khi mà được học giáo pháp của Đức Phật, con thấy là như này ạ. Tức là khi mà chưa học thì việc làm thiện thì tạm gọi theo ngôn ngữ của thế tục ăn may hữu họa, tức là có dịp thì làm, có duyên thì làm, không có dịp thì lại thôi, nhưng khi được học giáo pháp, được lắng nghe và được thực hành thì con thấy việc thực hành các cái thiện nghiệp như là có một cái động cơ, động cơ ở đây không phải vì danh vọng hay vì lợi dưỡng gì cả mà nó là động cơ thuộc về nội tâm. Con thấy kể cả khi đã được học giáo pháp thì chúng con thấy mình có một cái mục đích để làm làm điều thiện và có một cái sự kiên định trong các cái điều kiện đấy, thì suy nghĩ này của con có phù hợp với giáo pháp không ạ? Kính xin thượng tọa giảng dạy cho con.
Sư Phụ: Dạ đúng rồi, vậy là đúng rồi.
Chú Xuân Phổ: A-di-đà Phật, con xin tri ân thượng tọa cũng như ban hoằng pháp đã cho chúng con bài học nhân mùa Phật đản. Con thấy khi Đức Phật nói "ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành", những điều đó là giáo lý thôi chứ còn việc mình tu tập như thế là cả một cái quá trình, bởi vì con thấy rằng là Bồ-tát từ trời Đâu-suất trở về cõi ta bà này đã chọn vào làm con vua Tịnh Phạn mới có điều kiện để mà tu tập được. Tại sao lại không chọn vào những nhà nông dân bình thường thì làm sao có điều kiện để đi tu tập, học hỏi được? Chính vì như thế Tất-đạt-đa ở trong môi trường con vua Tịnh Phạn, khi ra đi tu hành mới là một tấm gương vô cùng vĩ đại đối với nhân loại vì bởi vì có vợ đẹp, con khôn, có địa vị nhưng từ bỏ để đi tu tập, để trở thành bậc giác ngộ cho nhân loại, tìm con đường giác ngộ cho nhân loại.
Đức Phật là một nhà Chánh đẳng Chánh Giác thì ở đây có nói rằng là người là trí vô sự, tức là tự túc học hết các thầy, rồi tự nghiên cứu và tự tìm ra, không có ai bày vẽ cho Đức Phật cả cho nên chính Đức Phật tìm ra con đường để giáo dục nhân loại thì con thấy rất vinh hạnh cho chúng con. Đức Phật để lại kho tàng này là đời đời kiếp kiếp, ngài để lại cho tất cả các quý thầy, quý sư đã tôn túc, đã truyền đạt lại cho chúng con, ngài đã ra đi từ hơn 2000 năm rồi mà chúng con hôm nay vẫn còn được truyền thụ lại những cái giáo lý là cả một cái công trình. Chúng con vô cùng cảm niệm, chúng con nói là chúng con học đây để tập làm người chứ còn cũng chẳng có cái gì là cao siêu được cả bởi, vì làm người thế nào cho nó chính đáng thôi chứ cũng không có duyên như quý thầy xuất gia.
Con rất cảm niệm sự truyền đạt của Đức Phật, các quý ngài đã thay Đức Phật truyền đạt lại những cái điều đó cho chúng con thì khi mà khai sơ, tức là cuộc sống rất là khó khăn từ thời Đức Phật cũng có nông nô, chủ nô rồi tất cả các thứ mà ngài tu tập như thế, đến các quý thầy cũng vậy thôi, cũng gặp những điều kiện như thế hoặc là khi học về những cái như thế, cải tạo lại, phục hồi Phật giáo của mình thì con thấy công lao của các quý thầy rất là lớn. Đi bộ suốt từ nam ta bắc để có công trình Phật giáo cùng chúng ta trường tồn đến ngày hôm nay, con rất cảm niệm công đức của quý thầy. Nam mô A-di-đà Phật.
./.