Pháp Đàm Nikāya - Phương Pháp An Tâm Và Công Năng Của 16 Hơi Thở
Pháp Đàm Nikāya
Phương Pháp An Tâm
Và Công Năng Của 16 Hơi Thở
Thích Minh Thành
Ngày 17 tháng 05 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đối diện căng thẳng PAGEREF _Toc201263493 \h 1
II. An tịnh – lắng dịu PAGEREF _Toc201263494 \h 2
III. Phá chấp ngã, trừ vô minh và tham ái PAGEREF _Toc201263495 \h 4
IV. Mười sáu hơi thở PAGEREF _Toc201263496 \h 9
V. Các dục PAGEREF _Toc201263497 \h 14
VI. Tâm hỷ PAGEREF _Toc201263498 \h 17
I. Đối diện căng thẳng
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán chánh đẳng giác (3 lần)
Kính thưa chư tôn và chư hiền, buổi chiều hôm nay chúng ta sẽ có 1 buổi pháp đàm. Cũng rất là lâu đạo tràng Nikāya ở Bửu Liên chúng ta vắng, cũng khoảng 5 tháng không có sinh hoạt. Cho nên hôm nay có thời gian, chúng ta chia sẻ những sự tu học của mình trong thời gian vừa qua. Có cái gì được, cái gì chưa được, có chỗ nào thắc mắc, nghi ngờ, chưa rõ thì chúng ta nêu lên trong buổi pháp đàm ngày hôm nay. Con thấy có 1 số vị hình như lâu lắm rồi chưa lên núi, có khóa tu cũng không thấy về. Thì không biết là chìm hay nổi, thì hôm nay chúng ta chia sẻ.
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính trên sư phụ, các bậc hiền trí. Con nhận diện ngũ uẩn mấy thàng gần đây, con tập nhận diện thì con thấy cái tưởng và hành hoạt động rất là mạnh. Nó làm cho thọ rất là mệt, thân cũng mệt về 1 vấn đề mà ngay cả trong giấc ngũ, đêm con cũng không ngũ được. Con cũng ráng tác ý, để cho vấn đề đó được đi ra. Nhưng mà con chưa tu tập tinh tấn, nên con tác ý không được, nó làm cho con rất là mệt. Con xin thầy chỉ dạy cho con, để cái tưởng cái hành của con, con biết tác ý. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư Phụ: Vấn đề gì cô nói được không?
Dạ giống như thí dụ con đi ra đường, có thấy có 1 tấm bản nó treo mà ngang cái tầm đầu người khác đi ngang. Con thì sợ người ta đi bị đụng cái đầu, mà con không có nói được với người chủ. Rồi về con ấm ức, rồi cái vấn đề nó cứ hiện hoài: “Nếu mà mình không đụng thì người khác cũng đụng, rồi nó sanh ra tai nạn”. Rồi công việc của mình cũng không có thuận lợi, là do người ta bị thương tích như vậy. Nên cái vấn đề đó con không có giải quyết được, nó cứ luẩn quẩn hoài. Cái hành thì nói không được, mà cái tưởng về tấm bảng nó cứ ở trong cái đầu cả tuần. Xong con phải đi bác sĩ uống thuốc cho nó ngủ, cho nó an thần.”
Chúng ta thấy là mình học là 1 lẽ, mình hiểu là 1 lẽ, những khi thực hành lại là 1 lẽ khác. Cái tâm thức của mình tại sao Đức Phật gọi là chấp thủ, mà không phải chỉ là 1 cái, mà căn bản nó là 5 cái. Chưa kể mấy cái nhánh nữa vô số, cho nên mình phải tập xả. Cho nên nếu mình không có buông được, là nó nắm vô là mình mệt mỏi lắm. Mình rất là nặng nề, rất là mệt mỏi, rất là nhọc nhằn. Thậm chí mình để bác sĩ, hoặc có khi mình phải uống thuốc ngủ. Từ mộ chuyện này, chúng ta nhìn ra những cái chuyện khác nó nghiêm trọng hơn, nó lớn hơn nữa thì sao. Cho nên việc thực tập 1 cảm giác an tịnh, lắng dịu là một cái thực tập xuyên suốt.
II. An tịnh – lắng dịu
Từng cái bước chân mình cũng phải tác ý, từng lời nói mình phải để ý vô lời nói mình tác ý. Từng cử chỉ, hành động mình cũng phải để tâm mình có tầm, có tứ . Tức là mình hướng tâm vào cử chỉ, hành động đó, và mình làm cử chỉ, hành động đó có 1 sự an tịnh trong khi mình làm. Rồi sâu vào bên trong những cái suy nghĩ, hình bóng, cảm thọ của mình cho đến cái nhận thức của mình. Mình hướng vô mình kêu: “Thân an tịnh lắng dịu, thọ an tịnh lắng dịu, tưởng an tịnh lắng dịu. Hành (những suy nghĩ) này an tịnh lắng dịu. Sự rõ biết, nhận thức này an tịnh lắng dịu”. Bất cứ lúc nào rãnh mình cứ niệm như vậy, mà mình niệm tới đâu mình phải hướng tâm đúng chỗ đó.
Thí dụ quý vị muốn mở cây quạt, mà quý vị lại vặn, bấm công tắc đèn thì quạt có quay không? Thì quý vị phải bấm đúng chỗ, vặn đúng nút. Cũng vậy, quý vị hướng tâm vào cái thân này, quý vị kêu: “An tịnh lắng dịu”. Nhớ nha, chứ không phải quý vị chỉ niệm ngoài môi, niệm trong ý hành, mà không có hướng tâm về đối tượng, đó gọi là tứ đó. Tầm và tứ, ví dụ mình muốn chăm sóc dĩa hoa này cho nó đẹp. Thì mình có đi gần dĩa hoa không, hay mình ở ngoài kia mình cứ nghĩ là: “Tôi chăm sóc cho nó đẹp thôi”. Có cần lại gần không? Thì lúc mình đi lại, thì cái đó gọi là tầm, là hướng tới nó. Rồi quý vị chỉnh lại cái bông nào héo thì bỏ ra, cái bông nào tươi mình để lại.
Rồi cái nào cao, cái nào thấp, màu nào ở trên, màu nào ở dưới, màu nào chung quanh. Thì cái đó là đang tứ đó, là bám vào đối tượng, hướng tới đối tượng. Và mình làm cho mình an trú vào trong đối tượng đó. Cho nên 2 chữ an tịnh và lắng dịu này, là cả một sự thực tập rẩ là dài công, công phu. Quý vị hướng cái tâm quý vị vào cảm giác toàn thân, quý vị kêu an tịnh lắng dịu. Thì khi quý vị kêu như vậy, thì quý vị rõ ràng cảm nhận được nó có 1 pháp lệnh mà quý vị ra lệnh. Đồng thời nó có 1 cảm thọ an tịnh lắng dịu nó xuất hiện, nó có mặt, và nó an trú vô được sự an tịnh đó. Chúng ta có hiểu chỗ này không ạ?
Có một pháp lệnh đưa ra, tức là như lý tác ý của mình. Rồi kế đó có 1 cảm thọ, nó tiếp nhận pháp lệnh đó. Khi nó tiếp nhận pháp lệnh đó rồi, thì nó phải thực hiện pháp lệnh đó. Giống như cô giáo, hay mình mẹ mà mình kêu con làm gì đó, thì phải có đứa con ở đó. Chứ không lẽ mình đứng mình kêu không, mà không có ai hết trơn. Thì khi đứa con nghe cái lệnh, nghe cái dạy đó rồi thì nó phải làm theo. Thì nó làm theo thì có kết quả không? Nó đúng theo yêu cầu của mình thì cái đó mới có kết quả. Thì cũng y như vậy, từ cái tâm của mình ra một pháp lệnh: “Thân an tịnh lắng dịu cho ta”, thì cái thân phải yên lắng xuống. “Thọ an tịnh lắng dịu, dễ chịu”, thì lúc đó phải thấy được cái thọ, thấy được nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu.
Cái công phu nữa là sự an tịnh lắng dịu đó, kéo dài được bao lâu. Rồi khi mà nó kéo dài tới 1 thời gian là 3 phút, 5 phút, 7 phút, 10 phút, rồi sau đó nó quên. Thì tiếp tục: “Thọ, an tịnh lắng dịu, dễ chịu cho ta”, nó nói: “Dạ, em nghe lời chị”. Rồi nó tiếp tục trú an tịnh lắng dịu chừng 15 phút, thì mình tiếp tục nhắc: “Thọ tiếp tục an tịnh lắng dịu, dễ chịu cho ta”, như vậy đó, cứ vài phút là mình phải kêu. Chúng ta thấy bây giờ mình đi học sinh ngữ, mình học chữ viết, học may, học thêu, mình học nghê vậy chứ là mình đi học 1 bữa mình nghỉ 7 bữa hay sao. Hay là mình phải học liên tục? Học liên tục bao lâu? Nhiều tháng, nhiều năm thì nó mới thành thục, thì cũng vậy, mình phải dạy liên tục.
Rồi trong cái tưởng thì mình hướng vô coi có hình bóng gì không: “Lắng dịu xuống, an tịnh xuống”. Hành sũy nghĩ lung tung: “An tịnh lắng dịu xuống, yên lặng, không có lép xép, không có lao xao, không có lăn xăn. Không có cứ rù rì, thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than. Im cái miệng lại cho chị lắng dịu xuống”. Mà mình phải hướng vào trong cái hành, mình phải thấy rõ nó và ra lệnh cho nó. Và nó phải thực hiện theo lệnh đó, phải nghe lời mình, phải tuân lệnh mình, phải thực hiện theo cái lệnh mình ra lệnh, nhất nhất theo luật lệnh. Chúng ta thấy trong quân đội không ạ? Gọi là quân lệnh như sơn, là phải làm theo, chứ không có ý kiến ý cò, không có ngụy biện, biện luận. Không có lý do lý gì hết trơn, làm theo, an tịnh là an tịnh.
Quân lệnh như sơn, mình ra hiệu lệnh, pháp lệnh, thánh lệnh là phải làm theo. “Giáo bất nghiêm, sư chi đọa”, dạy không nghiêm chính là lỗi của ông thầy. Thì như vậy mình dạy không nghiêm khắc cái tâm của mình, mà nó có sai quấy là do mình, mình tu không kỹ, mình tu không khéo. Sắc, thọ, tưởng hành rồi tới thằng thức nữa, cũng phải dạy. Bây giờ nó nhìn mà nó khó chịu, mình nói: “Nè! Không có khó chịu, dễ chịu, lắng dịu xuống”. Thức là thằng nhãn thức, nhĩ thức, hay là thằng tỷ thức hay là thằng ý thức. Thằng nào thì mình phải kếu cho rõ, đúng cái tên nó, chỉ đúng mặt nó. Bây giờ nghe tiếng điện thoại mà nó bực bội, phẫn nộ lên là phải kêu nhĩ thức ra nói chuyện, hướng tâm vô cái lỗ tai và bắt đầu dạy nhĩ thức.
“Sao đây? Giờ không tu, giờ muốn kiếm chuyện phải không? Đọc có 1 chút xíu tin nhắn đó đã muốn quậy phải không? Bây giờ muốn tu hay muốn quậy?” Rầy liền, và cứ nhứ vậy không phải đợi tới lúc mà nó xảy ra chuyện mình mới huấn luyện, thì nó muộn rồi. Đó là lý do tại sao mình phải dự khóa tu, phải lên núi, phải có mặt ở đạo tràng. Tắt lửa hết trơn, mất lửa hết trơn, tro tàn, nguội lạnh hết trơn là như vậy đó. Cho nên sắc, thọ, tưởng, hành thức an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Nhìn nó, ra lệnh cho nó và bắt nó phải làm theo. Làm theo thì phải có kết quả, kết quả phải thấy được. Rồi sau đó huấn luyện dài dài, mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi buổi, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi quý, mỗi mùa phải huấn luyện.
III. Phá chấp ngã, trừ vô minh và tham ái
Một năm có mấy mùa? “Dạ 4 mùa”. Giỏi, cho tràng pháo tay đi. Vậy một năm có 4 mùa mà mình tu được mấy mùa? Mình huấn luyện mỗi năm, rồi huấn luyện nhiều năm rồi nó thuần thục. Chứ còn cái ngũ uẩn này nó ghê gớm lắm, nó tạo phản. Mình có thấy nó tạo phản không? “Dạ có”. Nhanh khiếp lắm, khiếp đảm lắm, trở tay không kịp. Khủng khiếp, kinh hoàng lắm, nó tạo phản và mô giới cho giặt ở bên trong. Nó móc nối, móc ngoặc với nhau, nó nói: “Thôi, cái này có gì đâu, mình nghĩ 1 kỳ tu đâu có sao. Mình nghĩ 1 thời thôi, nghe cái gì nghe hoài, cái này mình biết rồi”. Rồi nó móc ngoặc với nhau, nó kéo mình đi, ác ma nó kéo mình đi. Nó kéo mình xuống đầm lầy, vô nhà lửa, đi ra biển, xuống vực sâu.
Nó kéo mình đi theo cái bản ngã, chấp thủ, tham ái, tham dục, tham lam, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn. Nếu mình không có sự giáo bất nghiêm, thì cái tâm này nó sẽ đọa. Từng chút, từng chút như vậy đó, mà chưa thấy gì nữa. Quý vị thấy không? Đó là mình nói trên cái mặt pháp hành, cái mặt thực tập, mà chỉ có 6 chữ là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu thôi. Chỉ có 3 từ đó, mà đã ra công, công phu, khổ luyện như vậy. Mà đâu phải chỉ có an tịnh, lắng dịu, dễ chịu là xong đâu. Mình phải coi coi tại sao nó không an, nhiều khi mình kêu nó an mà nó không chịu an. Rồi đây mình mới đi vô sâu sắc hơn chút nữa, cái này mới gọi là bước đầu thôi.
Nhưng mà tới những bước sâu hơn, là mình phải tìm xem là tại sao nó bất an. Nó có chấp không? Có thủ không? Có nắm vô cái đó không? Nó có cho rằng suy nghĩ mình là đúng không? Đã nói rồi:
“Con mèo thì phải meo meo
Chó thì gâu gấu
Muỗi thì vo ve
Mỗi người tập khí khác nhau
Làm sao có thể bắt ai giống mình”
Mà bây giờ mình đòi ý của mình, là phải nghe theo mình. Không theo ý mình là mình khó chịu, bực bội. Thì như vậy một ngày mình bực bao nhiêu lần? Một tuần mình bực bao nhiêu ngày? Một tháng mình bực bao nhiêu cử? Rồi xuống cuộc đời mình chất lên 1 đống bực bội, khó chịu, sân hận là tới bao nhiêu. Mà ai khổ? Mình khổ. Mà mình khổ có phải do người ta không hay do cái chấp ngã của mình? Thấy chưa? Thấy rõ chưa? Nó nở rồi nó tàn là chuyện của nó, như đóa hoa tàn trên bàn nè. Đó là chuyện của hoa, chứ đâu phải chuyện của mình. Cái chuyện của mình là mình giữ được cái tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu trước cái nở, cái tàn của nó. Trước cái sanh, cái diệt của vạn vật.
Trước cái thịnh, cái suy, thăng, trầm, được, mất, tốt, xấu, cao, thấp, khen, chê của cuộc đời này. Đó là chuyện của nó, Đức Phật nói 8 ngọn gió mà: Lợi, suy, quỷ, dự, xưng, cơ, khổ lạc. Mình được cái lợi, hoặc mình mất cái lợi, bị suy tổn, suy hao hay là mình được lợi ích. Mình được đề cao, hay là bị hạ thấp xuống. Được khen, không thôi là bị chê. Mình vui hay là mình khổ. Thì đây chỉ là những ngọn gió đời thôi, cái bụi đời, gió đời, sóng của cuộc đời, làm sao không thể có những vẫn đề này được. Cái pháp nó là như vậy mà, sự thể, sự thật, thật tướng của thế gian nó là vậy. Mà bây giờ mình bắt cứ khen tôi thôi, chứ đừng có chê. Cứ thương tôi thôi, chứ đừng có ghét. Cứ đưa tôi lên cao, chứ đừng có hạ bệ tôi xuống.
Thì như vậy mình khổ không? Cái khổ đó là vì sao? Mình chấp. Cái khổ là chỗ cái chấp này, chấp tức là nắm giữ, muốn cái đó theo ý mình. Là vô minh hay là minh? Là vô minh, không thấy được bản chất của sự thật nữa. Vậy tại sao mình không rầy cái tâm vô minh của mình, không rầy cái tâm chấp, cái tâm thủ của mình. Mà mình hướng ra ngoài mình bực người kia, bực tình huống kia, bực chuyện kia. Đặt tâm sai hướng, không giải quyết được vấn đề. Bây giờ ông chồng hay là bà vợ, có tánh nói nhiều, có chuyện gì là nói tới tới, nói dai, nói dài, nói dở, nói hoài hoài. Mình biết cái tánh như vậy rồi, thì thôi bây giờ mình tập cái tâm kham nhẫn, cái tâm từ, cái tâm khoan dung, độ lượng, hiểu thương cho họ.
Chứ bây giờ mình đi cứ trách cái tánh nói nhiều hoài, mình đi trách hoài, thì trách tới chừng nào nó xong đây. Phải không? Cô Hiền Nguyệt cười nhiều vậy? Có trúng không? Trúng bệnh của mình hay của người ta vậy? Có một chuyện nói hoài à. Sáng nói, trưa nói, chiều nói, tối nói, nhiều khi nửa đêm gặp cũng nói nữa. Mà có một chuyện cứ nói hoài, cái tật nói dai, nói dài, nói dở, lải nhải có bao nhiều đó. Thì từ ở bên trong ý hành, mới ra khẩu hành. Mà mình nhiếp phục được cái ý hành mà nó an tịnh, lắng dịu thì còn nói nữa không? Đây mình trị từ cái gốc đó. Mà ở bên trong này nó an tịnh, lắng dịu, an lạc, an bình rồi, thì cái miệng nó đâu có thành vấn đề nữa đâu. Thì như vậy từ cái chấp mình đào thêm 1 lớp nữa, là tại sao chấp.
Chúng ta thấy không? Mình tu nó giống như khoan giếng vậy đó, hết lớp đất này tới lớp đất khác, hết lớp đất khác rồi tới lớp đất khác nữa. Mình khoan riết rồi nó mới có nước, tới mạch nước rồi mới có nước từ bi nó tuôn ra. Mới có nước trí tuệ, mới có nước của sự thông đạt các pháp như vậy. Tại sao nó chấp? Tại vì vô minh, tham ái. Tức là không hiểu bản chất của vấn đề đó, mà nó ưa thích cái ý kiến của nó. Mình có ưa thích ý kiến của mình không? Mình ưa thích cái quan điểm, cách nhìn, thấy biết, tri thức, kiến thức, hiểu biết của mình không? Mình vô minh đối với bản chất của vấn đề đó. Mình lại yêu thích ý kiến cá nhân, cái tư kiến, kiến chấp, thấy biết, kiến thức nhỏ hẹp của mình, theo chiều hướng của mình.
Thì như vậy là cái vô minh, tham ái là gốc của vấn đề. Nhiều khi mình học mình nói ro ro, mình tụng ào ào, mà tới chừng hiện thực tế mình nhìn không ra. Khổ vậy đó, chúng ta thấy không? Nhiều khi mình tụng ầm ầm, ro ro, rào rào, ầm ầm vậy đó. Nhưng mà tới chừng cái vô minh, tham ái nó chình ình 1 đống mà mình không thấy. Thì bây giờ cái tâm mình mờ đi vấn đề đó, không thấy rõ vấn đề đó. Tại vì sao mình không thấy rõ? Bởi vì lúc đó mình bị cái sân, bị cái bực, bởi giận quá thì mất khôn, tham quá thì thâm. Lúc đó thì có tham, có sân, hay là có si, hay là có bản ngã, chấp thủ, hơn thua. Thì lúc đó cái tâm mờ tối rồi, không có sáng.
Thế Tôn gọi là tâm trở thành mờ tối, mất trí tuệ, tác thành mù lòa, tác thành không mắt. Khi 5 triền cái nó bao phủ, xâm chiếm mình, thì lúc đó mắt mình mờ hết, trong bóng đen. Rồi nó mù, không nhìn thấy rõ được vấn đề, thì cái đó là vô minh. Vô minh của vấn đề đó, mình phải nhìn cho sâu sắc được cái tham ái trong vấn đề đó. Thí dụ mình thích ăn món đó, mình kêu con gái làm món đó mà nó không làm, nó thích làm món nó thích cơ. Mà mình thì không thích món mà nó thích, thì lúc dọn lên sao ạ. Con nói cái này mình nghe mình hiểu được tiếng Việt không ạ? Thì cuối cùng bị cái thích làm cho giận lên, bực lên: “Tại sao tao kêu mày nấu món kia mày không nấu, mày đi nấu món này, mà món này tao có ăn được hay không?”
Thì bây giờ mình nghĩ mình tụng bài kinh: “Cái thức ăn này đâu phải để ăn mà tham cái vị đâu, ăn để mà tu. Ăn để mà đủ sức để tu hành thôi, ăn cái gì cũng được. Thôi buông xả đi, nó còn nhỏ, mình ăn nhiều hơn nó rồi”. Phải chưa? Mấy đứa con mình nó ăn ít hơn chứ, mấy cái này mình trải qua nhiều hết rồi. Nhiều cái cách để cho mình quán chiếu, mình xả cái ái đó, mình xả cái dục đó, mình xả cái khoái món đó. Thì mình quán đủ thứ kiểu hết, mình đưa ra đủ phương diện, khía cạnh hết trơn. “Cái thân này vô thường, bây giờ mình nuốt vô cái ót rồi nó đi vô, đi xuống tới bụng thì nó thành món gì vậy? Rồi đi xuống dưới nó thành cái món gì?
Trời đất ơi, nhiêu đó là thấy ớn rồi, còn món gì mà ngon được nữa không? Còn cái mòn gì mà nó ngon nhất trên đời, đi qua xuống tới dưới thì nó còn ngon nữa không? Quán như vậy đó rồi an gì không được, nuốt vô cái ực để mà sống. “Thương con, tôi nghiệp nó”, hở đâu mà lấy quyền làm mẹ ra, hở chút là mình lấy thượng phương bảo kiếm ra: “Tao mẹ mày, tao đẻ mày ra được, tao nuôi mày”. Rồi bắt đầu kể công, kể dọc dài ra. Cũng vì cái chấp nè, cái bản ngã nè, cái ái, cái tham nè. Thì cái vấn đề nó cũng vòng vòng có bao nhiêu đó thôi à, chớ không có gì khác hết. Ái thủ từ vô minh, duyên hành, rồi dọc dài dài tới ái thủ. Rồi nó có ra những hiện hữu ở trong tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Tự mình có thể thấy rõ vấn đề có gì đâu, tứ đại không à, có gì đâu, ăn gì không được. Bây giờ cho cà phê sữa thì uống cà phê sữa, cho uống suối thì uống nước suối. Nhiều khi uống nước suối còn tốt hơn cà phê sữa nữa, uống cà phê sữa vô nó lình bình khó tiêu, uống nước suối thì nó khỏe, nó nhẹ. Sao mình không tác ý như vậy, mà mình uống cà phê sữa không đưa cà phê sữa mà cho chai nước suối cái bực lên, khó chịu. Sao mình không nghĩ ngược lại: “Uống nước suối tốt hơn, nó thương mình, nó mới đưa mình cái này”, được không? Rồi bây giờ ai cũng 7 món, tới mình đưa có miếng rau luộc, miếng kho quẹt: “Ăn cái này tốt mà, hổm rày mình cũng hơi nặng bụng, khó tiêu, cân cũng hơi nặng rồi. Cái này ăn nó thanh đạm, nó nhẹ, nó giảm cân, nó khỏe, mình ngồi thiền mình cảm ơn nó nữa chứ”, có được không?
Quý vị thấy không, mình chỉ cần chuyển chút xíu thôi, tự mình có an lạc, phá được chấp phủ, diệt được tham ái, trừ được vô minh. Chỉ trong 1 ý nghĩ, ý hành đó, chỉ cần mình chuyển hướng 1 cái là mình đi tới an lạc, an bình. Tu vi diệu như vậy đó, có thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời không? Có đợi tới bao giờ mới có kết quả không? Đó là vô minh, là tham ái, chấp thủ, là nguyên nhân của khổ. Sẵn đó mình tới luôn, mình đập tan sắc, thọ, tưởng, hành, thức luôn. Đi sâu vô mình đập banh hết trơn, đập cho tan tành hết: “Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi. Tại sao cái tâm mê này ngu mà chấp hoài vậy?”
Mình cứ tới tấp đánh phá hết những cái chấp bên trong. Quý vị nghĩ tu như vậy tâm có được nhẹ không? Khỏe không? Tâm bình an không? “Dạ có”. Thấy được cách, biết được pháp, rõ biết được đường đi chưa? Đó là cách làm cho thọ, tưởng, hành, thân tâm mình lắng dịu, dễ chịu. Thậm chí những chuyện lớn xảy ra, mình vẫn có thể buông xả được, chứ đừng nói những chuyện nhỏ con cóc, trái nho, con thỏ gì hết, nhẹ nhàng, khỏe. Rồi mới quý vị khác.
IV. Mười sáu hơi thở
Phật tử 2:
“Nam Môn Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính thưa trên sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa các bậc hiền trí. Dạ con kính thưa sư phụ giảng dùm con bài trong “Linh Quy Nhật Tụng”, cái khúc này thì con chưa có hiểu mấy. “Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy bồ đề phần, tám thánh đạo”. Suy nghĩ của con thì bốn niệm xứ phải là quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Suy nghĩ của con về bát chánh đạo là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạn, chánh niệm, chánh tinh tấn và chánh định. Thưa sư phụ là 2 bài đó con suy nghĩ như vậy có đúng không? Còn những bài kia thì con không hiểu.
Sư phụ: Dạ đúng rồi cô, cái này cô về đọc cuốn Tóm Tắt Ngũ Uẩn đi. Cái đó 37 phẩm trợ đạo.
Dạ con xin cảm ơn sư phụ.”
Cái đó là tất cả lời dạy của Đức Phật, là 37 phần chánh giác đưa mình tới giác ngộ. Cô Hiền Hạnh hổm rày tu học sao ạ?
Phật tử Hiền Hạnh:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ, kính bạc trên quý thầy cùng tất cả các bậc hiền trí. Thì trong những ngày qua, con tu học ở nhà, thì buổi sáng con vẫn thực hành cái thiện, thì con thực hành 16 hơi thở. Thì con xin hỏi sư phụ là trong khi con thực hành 16 hơi thở đó, thì con vẫn dùng những bài theo video mà sư phụ hướng dẫn. Thì con mới thực hành được, chứ con không tự thực hành được. Thì như vậy con thực hành có đúng pháp không ạ? Dạ con xin hết ạ.”
Thì mình phải thực hành dựa theo bài mình mới thực hành được, chứ mình đâu có tự thực hành được. Phải dựa theo bài đó là lời hướng dẫn của bậc đạo sư, là lời hướng dẫn của Đức Phật ở trong tạng kinh. Mình mở ra rồi mình nghe theo, mình tập thôi. Tại vì những bài đó nó rất là thâm sâu, nó đồi hỏi mình phải tu học thật sâu sắc mới có thể theo kịp. Bốn hơi thở đầu là niệm thân, bốn hơi thở kế là niệm thọ, bốn hơi thở sau nữa là niệm tâm, bốn hơi thở cuối cùng là niệm pháp. Bốn hơi thở đầu là bốn hơi thở để mình làm cho hơi thở, cơ thể mình nó an tịnh, lắng dịu. Nó không có thô phù, nó không có nặng nề, nó không có trì trệ.
Nhiều khi mình vô ngồi thiền, mình vác 1 cái thân nó nặng nề lắm. Nó giống như bao gạo mà thẩy cái bịch xuống vậy đó, nó mệt mỏi. Cái thân của mình nó không cảm thấy thoải mái, không cảm thấy nhẹ nhàng, không cảm thấy dễ chịu. Bốn hơi thở đầu làm cho hơi thở, làm cho cái thân mình an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Ngồi 1 cáh thư thới, ung dung, thảnh thơi, thoải mái, thả lỏng. Để mình cảm nhận được sự thoải mái, nhẹ nhàng, khinh an, dễ chịu của thân là bốn hơi thở đầu. Bốn hơi thở kế là mình làm cho cảm thọ của mình nhẹ nhàng, dễ chịu, khinh an, lắng dịu, ngọt ngào, hoan hỉ. Bốn hơi thở đầu là làm cho cái thân dễ chịu, bốn hơi thở kế làm cho cái thọ dễ chịu, hoan hỉ, hân hoan, phấn khởi.
Tại sao quý vị thích đi du lịch, có vui không ạ? Tại sao mình thích đi ăn nhà hàng nhiều món, có vui không? “Dạ có”. Tại sao mình thích tu? Mình phải nếm được hương vị của hỷ lạc không thuộc vật chất, còn cái kia là hỷ lạc thuộc vật chất, nhớ cái này cho kỹ. Nếu mình tu mà không có niềm vui gì hết, tu mà cứ đơ đơ, trơ trơ, tới giờ vô ngồi cho hết giờ cái xong. Tới gần hết giờ thở cái “khì”: “Ra khỏe rồi”. Thì cái tu đó nó không có hương vị, mùi vị, thú vị, pháp vị, thiền vị, hỷ lạc vị gì hết trơn. Mình tu mình chán, ngán, mình không có thích thú, không có hân hoan, không có hoan hỉ, không có thích thú, không có thú vị, không có mùi vị, không có hương vị, không có pháp vị, không có thiền vị.
Cho nên 16 hơi thở đó, là cho mình thấy được hỷ lạc của thân tâm. Như vậy các vị tu thiền họ mới ở được trong thiền định hết tiếng này qua tiếng khác, hết giờ này qua giờ khác, hết ngày này qua ngày khác. Thậm chí các vị nhập định dài lâu ở trong đó, người ta thích thú trong đó. Tùy theo cấp độ của thiền định là từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, hay là tứ thiền. Cho nên rất cần thiết là sự hỷ lạc ở trong tu tập, rất là cần thiền. Cho nên mình biết được cách làm cho mình hỷ lạc ở trong tu tập, là một nghệ thuật hiền trí. Mình không biết làm cho tâm mình hân hoan, hỷ lạc, hạnh phúc, thì đó là mình chưa có nghệ thuật để tu tập.
Cho nên sẵn ở đây chúng ta nghe lại 4 tầng thiền, ở trong Giải Thoát Trí.
“Thiền thứ nhất, hướng tâm rõ biết hiện tại thân tâm chẳng dục tham”. Đây là tầm đó, hướng tâm vào cảm giác toàn thân. Và hiện tại mình cảm thân được trong tâm mình không có dục, không có tham, không có muốn gì. Và lúc này cảm thọ bình yên trong người, một cảm bình yên, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. “Không như lúc dục tham làm phiền”, mình nhớ lại những lúc bị dục tham làm phiền, thân bức xúc, không yên ổn được. “Đi, đứng, nằm, ngồi, rất bất an”, những lúc mình bị những cái ham, cái muốn, những cái thúc giục làm cho mình rất là bất an khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm. “Giờ đây xả dục ly tham. Nên thân tâm được bình yên, an lành.
Trong giờ phút này buông xả những sự thúc giúc, lìa bỏ những ham muốn, nên thân tâm được bình yên, an lành. “Quán hạnh phúc, khi mình ly dục. Quán bình an khi chẳng tham sân”. Thật là hạnh phúc trong giờ này, mình lìa được những ham muốn. Mình thật là bình an trong khoảnh khắc này, vì trong lòng mình không có tham sân. Không có muốn cái gì, không có đòi cái gì, không có tìm cái gì hết. Không có khó chịu, bực bội, tức giận với ai. Hạnh phúc làm sao, bình yên làm sao, bình yên, hạnh phúc. Trong tâm không có tham sân, không có những đòi hỏi muốn tìm nũa. “Hân hoan sanh khởi trong lòng. Tâm vui, thân lạc, vì rời dục tham”. Tâm mình thật là hân hoan, lòng mình thật là dễ chịu.
Tâm mình thật là vui vẻ, thân thì dễ chịu, vì rời được dục tham. Và cho hỷ lạc này, niềm vui này lan tỏa từ lồng ngực tới vai, tới mặt, cái môi, tới mắt, tới đỉnh đầu. Lan khắp tứ chi, cùng khắp toàn thân. Làm cho hỷ lạc này lan tỏa khắp toàn thân này, hỷ lạc này thấm nhuần. Thấm từng lỗ chân lông, ngấm từng là da, thớ thịt, đi vào trong từng tế bào, xương tủy. Thấm đẫm, thấm nhuần cùng khắp châu thân, là 1 cảm giác hỷ lạc, vui vẻ, an lành, hân hoan, hoan hỉ. “Hân hoan sanh khởi trong lòng, tâm vui thân lạc vì rời dục tham”. Chúng ta hướng tâm vào cảm giác toàn thân, và thực hành theo. “Cho hỷ lạc này lan tỏa khắp. Toàn thân này hỷ lạc thấm nhuần”. Từng hơi thở vui, nhẹ, từng nhịp đập của tim lắng dịu, dễ chịu.
Cả lồng ngực là 1 cảm giác của hân hoan, hoan hỉ, hỷ lạc. Cảm giác này thấm thuần, lan tỏa cùng khắp châu thân. Dễ chịu, lắng dịu, mát mẻ, vui khỏe, bình an. “Như xà bông rửa chén dơ. Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng”. Những dục, những tham, những ái, những cấu nhiễm được dòng nước hỷ lạc. Được xà bông hân hoan này gội rửa, tẩy sach hết tất cả những cấu uế của dục nhiễm. Hỷ lạc này lan tỏa khắp toàn thân này, hỷ lạc thấm nhuần. Chúng ta nếm được hương vị của hỷ lạc, an lạc, tịnh lạc, của sự dễ chịu mát dịu này thì chúng ta mới thấy có hương vị, thú vị ở trong sự thiền tập. Chúng ta thích ngồi thiền, muốn ngồi thiền và hoan hỉ vui trong sự ngồi thiền.
Bốn hơi thở tiếp theo là 4 hơi thở quán tâm, làm cho tâm định tĩnh, làm cho tâm giải thoát. Tức là mình cảm nhận sâu sắc, trong sự hoạt động của tâm. Những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm thọ mình cảm nhận sâu sắc. Tâm hành đó là sự hoạt động của tâm, mà mình làm cho cái tâm mình định tĩnh. Chúng ta thấy chữ an tịnh và lắng dịu là nó xuyên suốt, là mình làm cho cái tâm này an tịnh, lắng dịu, định tĩnh xuống. Là mình làm cho cái tâm này, đưa cái trâm này thoát ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tập cho nó đi ra khỏi cái sắc, không cho nó suy nghĩ lung tung mấy cái sắc nữa. Những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ, nhận thức, tập đưa nó ra khỏi ngũ uẩn.
Trong giờ mình thực tập đó, trong 4 hơi thở thứ 3 là quán tâm. Là làm cho cái tâm mình định tĩnh, thoát ra thân xác nặng nề, bệnh tật, mệt mỏi, đâu nhức. Và bốn hơi thở sau cùng là quán pháp, quán vô thường, ly tham, đoạn diệt, quán từ bỏ một cách trọn vẹn, hoàn toàn. Sau khi từ vấn đề làm cho thân yên, làm cho tâm tịnh, vui vẻ, hoan hỉ rồi, thì bắt đầu làm cho nó định lại. Từ khi làm cho cái tâm này nó định lại, thì bắt đầu hướng nó đến cái nhìn sâu sắc vào trong bản chất của ngũ uẩn. Hướng đến vô thường, ly tham, đoạn diệt và từ bỏ. Nó là tứ vô thường, không đáng để mình phải tham nó. Nó là thứ bại hoại, đoạn diệt mình cần phải từ bỏ, thoát ra khỏi nó.
Đó là ý nghĩa của 16 hơi thở đó, mình tu mà mình nắm được cái này rồi mình tu nó thích lắm, hạnh phúc lắm. Bốn hơi thở cuối cùng là 4 hơi thở thoát ra, vượt ra, thấy được bản chất hư dối, bại hoại, tan rã, vô thường, hoại diệt của nó. Không đáng cho mình phải khổ vì nó, không đáng cho mình nắm vô, bám vô, chấp vô, giữ vô nó. Là cái mình cần phải nhả ra, buông ra, bỏ ra, tháo ra, cởi ra, mở ra, đi ra khỏi nó. Bốn hơi thở sau đó là quán pháp, là bản chất của ngũ uẩn này là vô thường, là ly tham, hoại diệt, từ bỏ. Mình nắm được yếu nghĩa đó, mình vận dụng ở trong 16 hơi thở. Mà 16 hơi thở này khi mình thực hành cho thuần thục, nhuần nhuyễn, thì sau này mình sẽ tự thực hành được.
Và bất cứ ở đâu, ngồi chỗ nào, trong hoàn cảnh nào, mình cũng có thể trú vào hơi thở nào mà mình muốn. Thí dụ lúc đó có bao nhiêu chuyện nó bủa văng mình, tứ phía hết trơn. Mình quán từ bỏ, mình quán: “Chết thử 1 cái coi chuyện này nó có gì không”, không có gì hết đó. Quán từ bỏ cái thân xác này, mà mình quán quen như vậy rồi, thì tới lúc mình gặp tai nạn, lúc mình gần chết, mình năm trên giường quán từ bỏ. Là mình đi 1 cái “rẹt” vậy đó, bất lai thánh quả, không thôi tới Niết-bàn luôn. Chịu không? Bây giờ mình không quán vô thường, không quán ly tham, không quán đoạn diệt, không quán từ bỏ. Vậy tới lúc chết làm sao từ bỏ nỗi, phải không?
Cho nên cái quán đó rất quan trọng, cố gắng nỗ lực và thực hành càng nhiều càng tốt. Bất cứ nơi nào, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, mình có thể bỏ mỗi thứ nhưng không được bỏ pháp hành. Tài sản có thể bị mất, nhà cửa có thể bị đổi thay, sức khỏe có thể không còn tồn tại. Thậm chí cái thân mạng này cũng có thể hoại diệt, nhưng pháp không được từ bỏ. Nắm cho chặt, giữ cho chắc, nhất trí không? Tại vì sao? Tất cả cái này là bại hoại, vô thường, tan hoại mà. Chỉ có pháp mới cứu mình thôi, mình sống là mình sống với pháp chứ không có với ai hết. Hồi xưa mình chưa biết pháp thì mình sống với nghiệp, nghiệp mới là người thân nhất của mình. Nhưng mà bây giờ mình biết pháp, pháp mới là người thân nhất của mình.
Cho nên mới gọi là thể nhập pháp thân, lấy pháp làm thân. Tất cả chúng sanh không ai là người thân của mình hết, chỉ có pháp mới thân với mình thật sự, cho nên mới gọi là pháp thân. Biến pháp làm thân, cả cuộc đời này là để học pháp, hành pháp, thể nhập vào pháp. Và đem cái pháp đó để chia sẻ cho cha mẹ, ông bà, cô chú, chị anh, tất cả những người có duyên với mình. Để cùng nhau diệt khổ, đi đến an lạc Niết-bàn. Ý nghĩa không? Giá trị, lợi ích, cao đẹp, cao thượng không? Thấy được con đường, ý nghĩa thật sự của kiếp sống này chưa? Rõ được mục đích tối thượng của sự hiện hữu, sự có mặt trên cuộc đời này không?
Có cái gì quan trọng trên cuộc đời này, tắt hơi cái là rồi xong, tất cả đều không có gì. Mà ngay cả khi còn hơi thở này, cũng chẳng có gì. Nếu có thì là dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã thôi. Chính vì có cái đó cho nên chúng sanh mới khổ, chính vì có cái đó cho nên chúng sanh mới sầu, mới bất an, mới đầy ưu não. Chính vì có những thứ đó, cho nên mới có sự hiện hữu ở trong vô minh và khát ái này. Chính vì có những thứ đó, cho nên chúng sanh mới có sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Các bậc thánh không có những thứ đó, các bậc thánh từ bỏ những thứ đó. Cho nên được an lạc, bất tử, chịu không? Bỏ từ từ, cứ diệt từ từ, mỗi ngày bỏ bớt 1 chút, bỏ tới lúc hết trơn, khỏe re, nhẹ te.
Phải bỏ lần lần, chứ những thứ khổ mà cứ hốt vô, chấp vô, giữ vô làm cái gì. Bỏ nó đi, quăng nó đi, liện, vứt, xả nó đi, xả cho đến nó rổ ráo, trọn vẹn. Thì lúc đó mình đại bình an, cuộc đời này đại bình an. Đó mới là cuộc sống đầy ý nghĩa, giá trị và lợi ích. Là mục đích tối thượng của sự có mặt của chúng ta, ở trên cuộc đời này. Còn nếu không làm được cái này, uổng cho 1 kiếp người, uổng cho 1 đời sống, uổng cho kiếp sống, uổng cho một kiếp nhân sinh. Mời vị tiếp theo.
V. Các dục
Phật tử 4:
“Xin thầy từ bi chỉ dạy cho con hiểu như thế nào là các dục tăng trưởng. Nam Mô A di đà phật.”
Dục ở đây Đức Phật dạy gồm 2 thứ là ở trong và ở ngoài. Những suy nghĩ, ham muốn của mình cái đó là dục. Và đối tượng của dục là sắc đẹp, là tiếng, là mùi, là vị, là sự xúc chạm. Năm dục trưởng dưỡng là sắc, thanh, hương, vị và xúc. Nói như vậy quý vị khó hiểu, để nói ra tiếng Việt quý vị dễ hiểu lắm. Tiền, nhà, đất, xe, đô la, vàng, những người đẹp, cảnh đẹp, đồ đẹp, xe đẹp. Những cái đó là đối tượng của dục, còn lòng tham muốn những cái đó là dục của con người. Nó cứ ám ảnh ở trong những cảm giác, là mình muốn mấy cái đó. Rồi những hình bóng về những cái đó, nó cứ hiện ra trong tâm của mình. Mà những suy nghĩ về cái đó lặp tới lặp lui hoài, cứ đi tìm hoài.
Thì đó là dục ở bên trong thọ, tưởng, hành của mình. Đối tượng của dục ở bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Hai cái này kết hợp với nhau, nó làm cho chúng sanh khổ đau. Mà người ta cứ không bao giờ thỏa mãn với những ham muốn đó, “túi tham không đáy, biết bao giờ đầy”. Những suy nghĩ đó cứ muốn, những hình bóng đó cứ ám ảnh, những cảm thọ đó cứ thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Và như thế là chúng sanh bị vây hãm, phong tỏa, siết chặt ở trong 1 cái trận của tham dục, tham ái, tham lam, lam muốn. Mà không phải 1 đời 1 kiếp, mà là vô lượng, vô số, vô thỉ đời kiếp là chúng sanh bị vây hãm ở trong 1 cái trận là của dục tham, và chúng sanh đau khổ tring đây.
Cho nên thiền thứ nhất mà chúng ta thực tập đó, là ly dục, ly tham. Thì mới có được hạnh phúc, của các bậc thánh. Đây gọi là thánh chánh định, là hạnh phúc của bậc thánh. Nó ngược với chúng sanh, chúng sanh thì tìm cái vui ở trong dục, được ăn ngon, được ở nhà đẹp, đi xe đời mới, tiền nhiều, bạc nhiều. Thì những cái đó chúng sanh ham vui tìm kiếm, mà các bậc thánh lìa được những cái đó thì các ngài vui, hạnh phúc. Đó mới gọi là “nghịch lưu” là ngược với dòng đời, thì mới thuận với dòng đạo. Bao nhiêu người đi chạy, đi tìm cái đó, người ta giành giật, đấu đá, đánh đấm để đi tìm cái dục đó. Mình người tu mình từ bỏ cái dục đó, mình tránh xa nó, mình thoát ra.
Thì đó là sự an ổn của ly dục, ly tham, viễn ly, rời xa, thoát ra. Chúng ta thấy rõ sự khác nhau của người tu, và người không tu. Mà nếu như mình đi đúng hướng này, thì mình có bớt khổ nhiều không, thậm chí hết khổ luôn nữa. Mà tại vì mình không chịu, mình cứ nhào vô kiếm ăn. Biết không? Nhào vô kiếm ăn rồi u đầu sứt trán, lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc, cứ nhào vô kiếm ăn, kiếm chút cháo, rồi xong đủ thứ chuyện tranh đấu hết. Quý vị coi chiến tranh đó, chuẩn bị thế giới thế chiến thứ 3 sắp sửa. Mà tất cả những cái đó, là từ tham dục của con người thôi, sân hận bản ngã thôi chứ có cái gì đâu. Mà cái gốc cũng chỉ có 1 chữ thôi, chữ “tham”.
Bởi vì tôi muốn cái đó, mà bây giờ không được nên nổi nóng lên, phải hơn người ta mới chịu, thua là không có chịu. Thì như thế là nước mắt, là máu, là tan hoang, tan tành, tan vỡ, tan vụn hết. Tất cả những thành phố trở thành những đống hoang tàn, đổ nát, chỉ vì 1 chữ tham, chữ dục, con người phải đau khổ. Như thế các bậc thánh sống đời ly dục, ly tham, các ngài hưởng được siêu thế lạc, chánh giác lạc, viễn ly lạc và Niết-bàn lạc. Đây là 4 cái vui của bậc thánh: Viễn ly lạc là niềm vui do rời xa cái dục, chánh giác lạc là niềm vui do thấy được bản chất sự thật là khổ. Thấy được sự thật là có niềm vui, quý vị có được cái này chưa? Kha khá không? Có thấy vô thường, có thấy khổ, có thấy vô ngã, có thấy cái thân này là đống bệnh hoạn không? “Dạ có”.
Chánh giác lạc là có được đôi phần, còn Đức Thế Tôn là trọn vẹn, viên mãn rồi. Siêu thế lạc, là niềm vui siêu việt thế gian. Thí dụ người ta vui trong cái thị phi, nói chuyện người này người kia, người ta thấy người ta đã, người ta khoái, người ta sướng. Nhưng mà bậc thánh, bậc tu là vui trong tĩnh lặng, chịu không? Chịu cái vui này không? “Dạ chịu”. Rồi thí dụ như người ta muốn hơn thua, thắng người ta mới vui, nhưng mà Đức Phật bỏ qua cái thắng bại. Thì cái đó mới là cái vui của các bậc thánh, là bỏ qua cái thắng bại.
“Người hơn thì thêm oán
Kẻ thua ngủ chẳng yên
Hơn thua hai điều bỏ
Như thế an ổn ngủ mới ngon”
Cái tâm hơn thua đó không ngủ được nữa, cái tâm hơn thua, cao thấp, thị phi, cái tâm đấu tranh, tranh giành đó là thế gian. Cái tâm vượt qua khỏi cái đó gọi là siêu thế lạc, niềm vui của cái tâm siêu diệt thế gian. Vượt qua niềm vui thường tình niềm vui của cuộc sống, đời sống. Chúng ta thấy các bậc thánh tu được, các vị chân tu, mình nghe chữ “thánh” thì cao xa, mình nói các vị chân tu bình thường thôi. Một người hiền trí, hiền giả là tu được như vậy đó. Không có hơn thua, không có vui ở trong cái đúng sai, không có vui ở trong cái ta tôi, mi tao, bỉ thử, đây kia. Mà vui ở trong sự từ bỏ được tất cả những thứ đó. Tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tuyệt vời, tối thượng.
Vui như vậy mà không ai thèm vui hết, đi vui mấy cái khổ chi vậy. Cái vui này là cái vui tối thượng, tối cao, tối thắng, vô thượng, thánh thượng. Cái đó gọi là siêu thế lạc, mình tu để là được cái hạnh phúc này nè, để được nhiều hạnh phúc. Cuối cùng là Niết-bàn lạc, là sự chấm dứt hoàn toàn tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã không còn nữa. Niết-bàn lạc, gọi là Niết-bàn vui tối thượng. “Không bệnh đệ nhất lợi, Niết-bàn đệ nhất lạc”. Không bệnh là lợi bậc nhất, vì bệnh 1 cái là sạch bách hết trơn cả gia tài. Không bệnh lợi bậc nhất, Niết-bàn vui bậc nhất. Chịu không? Chịu thì phải ráng mà tu, cần phải từ bỏ những thứ cần phải từ bỏ. Quyết tâm buông những thứ, mà quyết định phải buông.
VI. Tâm hỷ
Nếu mà không buông thì chỉ có đau khổ, nước mắt, hận sầu. Nắm chi cho nó mệt, “tâm buông xả là tâm hạnh phúc”. Buông được những cái dục, cái tham, những cái sân si, hơn thua của cuộc đời này. Buông xuống, để mình có thể hưởng được niềm vui của sự rời xa. Niềm vui của sự thấy được lẽ thật, niềm vui của sự vượt ra thường tình. Và cuối cùng là cái niềm vui của sự chấm dứt hoàn toàn tham, sân, si, dục ái, bản ngã. Đây là tứ đại lạc, bốn niềm vui vĩ đại của bậc hiền trí. Viễn ly lạc, chánh giác lạc, siêu thế lạc và Niết-bàn lạc. Còn có ai giờ này, mà còn thưởng thức tứ lạc của thánh hiền giống như mình ở đây không?
Mình đang thưởng thức sự an lạc của hiền giả, hiền trí, hiền thánh cho cuộc đời này. Mình không có uổng sanh ra kiếp người, không có uổng một chuyến lên chùa Bửu Liên để tu 3 ngày. Không có uổng bỏ công ăn việc làm, để mà có mặt ở đây. Mình phải thấm nhập cho được, niềm vui tối thượng này. Mình phải thực tập cho được, những niềm vui tối thượng này. Mình phải sống cho được, những niềm vui thánh thiện này. Để mình từ bỏ những niềm vui phàm tục, thấp hèn, hạ liệt của thế gian. Của những tâm thức phàm phu vô minh đầy dẫy những tham, sân, si, bản ngã, từ bỏ những cái đó. Vui quá là vui, vui sao là vui, vui không thể nói, vui dạt dào, vui ngọt ngào, vui thấm đẫm, vui siết bao, vui thanh cao. Vui cao thượng, rộng mở, rộng lớn, rộng khắp.
Niềm vui này lan tỏa cùng khắp, chư thiên nơi này đang hoan hỉ, chư địa thần, chư vô hình, chư vị hữu hình ở tại nơi đây, tại nơi ngôi chùa này, tại vùng đất, trời đất này. Tất cả chúng sanh đều thấm nhuần tứ thánh lạc, bốn niềm vui tối thượng này lan tỏa cùng khắp. Tại vùng đất này, tại Bửu Liên tự, tại không gian này, ở vùng trời đất này. Cùng khắp pháp giới chúng sanh, chư vị địa thần, thiên thần, long thiên bát bộ, hộ pháp thần vương. Tất cả chư vị hương linh trong pháp giới, hữu tình chúng sanh, hữu hình, vô hình, hữu tình, vô tình, muôn loài, vạn loại. Mong rằng tất cả chư vị đều được thấm nhuần 4 niềm vui cao thượng, thánh thiện, tối thượng này của bậc chánh đẳng chánh giác.
Tâm được nhẹ nhàng, được siêu thoát, được hoan hỉ, nâng cao, hướng thượng, cao thượng. Và siêu thoát khỏi những cảnh khổ đau, gặp được chánh pháp, tu hành giác ngộ, thành tựu Niết-bàn, cứu cánh phạm hạnh. Chúng ta an trú vào niềm vui này, để cho lắng lặng thân tâm, thấm nhuần. Và thưởng thức hương vị hỷ lạc cao thượng này.
Phương Pháp An Tâm
Và Công Năng Của 16 Hơi Thở
Thích Minh Thành
Ngày 17 tháng 05 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đối diện căng thẳng PAGEREF _Toc201263493 \h 1
II. An tịnh – lắng dịu PAGEREF _Toc201263494 \h 2
III. Phá chấp ngã, trừ vô minh và tham ái PAGEREF _Toc201263495 \h 4
IV. Mười sáu hơi thở PAGEREF _Toc201263496 \h 9
V. Các dục PAGEREF _Toc201263497 \h 14
VI. Tâm hỷ PAGEREF _Toc201263498 \h 17
I. Đối diện căng thẳng
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán chánh đẳng giác (3 lần)
Kính thưa chư tôn và chư hiền, buổi chiều hôm nay chúng ta sẽ có 1 buổi pháp đàm. Cũng rất là lâu đạo tràng Nikāya ở Bửu Liên chúng ta vắng, cũng khoảng 5 tháng không có sinh hoạt. Cho nên hôm nay có thời gian, chúng ta chia sẻ những sự tu học của mình trong thời gian vừa qua. Có cái gì được, cái gì chưa được, có chỗ nào thắc mắc, nghi ngờ, chưa rõ thì chúng ta nêu lên trong buổi pháp đàm ngày hôm nay. Con thấy có 1 số vị hình như lâu lắm rồi chưa lên núi, có khóa tu cũng không thấy về. Thì không biết là chìm hay nổi, thì hôm nay chúng ta chia sẻ.
Phật tử 1:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính trên sư phụ, các bậc hiền trí. Con nhận diện ngũ uẩn mấy thàng gần đây, con tập nhận diện thì con thấy cái tưởng và hành hoạt động rất là mạnh. Nó làm cho thọ rất là mệt, thân cũng mệt về 1 vấn đề mà ngay cả trong giấc ngũ, đêm con cũng không ngũ được. Con cũng ráng tác ý, để cho vấn đề đó được đi ra. Nhưng mà con chưa tu tập tinh tấn, nên con tác ý không được, nó làm cho con rất là mệt. Con xin thầy chỉ dạy cho con, để cái tưởng cái hành của con, con biết tác ý. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sư Phụ: Vấn đề gì cô nói được không?
Dạ giống như thí dụ con đi ra đường, có thấy có 1 tấm bản nó treo mà ngang cái tầm đầu người khác đi ngang. Con thì sợ người ta đi bị đụng cái đầu, mà con không có nói được với người chủ. Rồi về con ấm ức, rồi cái vấn đề nó cứ hiện hoài: “Nếu mà mình không đụng thì người khác cũng đụng, rồi nó sanh ra tai nạn”. Rồi công việc của mình cũng không có thuận lợi, là do người ta bị thương tích như vậy. Nên cái vấn đề đó con không có giải quyết được, nó cứ luẩn quẩn hoài. Cái hành thì nói không được, mà cái tưởng về tấm bảng nó cứ ở trong cái đầu cả tuần. Xong con phải đi bác sĩ uống thuốc cho nó ngủ, cho nó an thần.”
Chúng ta thấy là mình học là 1 lẽ, mình hiểu là 1 lẽ, những khi thực hành lại là 1 lẽ khác. Cái tâm thức của mình tại sao Đức Phật gọi là chấp thủ, mà không phải chỉ là 1 cái, mà căn bản nó là 5 cái. Chưa kể mấy cái nhánh nữa vô số, cho nên mình phải tập xả. Cho nên nếu mình không có buông được, là nó nắm vô là mình mệt mỏi lắm. Mình rất là nặng nề, rất là mệt mỏi, rất là nhọc nhằn. Thậm chí mình để bác sĩ, hoặc có khi mình phải uống thuốc ngủ. Từ mộ chuyện này, chúng ta nhìn ra những cái chuyện khác nó nghiêm trọng hơn, nó lớn hơn nữa thì sao. Cho nên việc thực tập 1 cảm giác an tịnh, lắng dịu là một cái thực tập xuyên suốt.
II. An tịnh – lắng dịu
Từng cái bước chân mình cũng phải tác ý, từng lời nói mình phải để ý vô lời nói mình tác ý. Từng cử chỉ, hành động mình cũng phải để tâm mình có tầm, có tứ . Tức là mình hướng tâm vào cử chỉ, hành động đó, và mình làm cử chỉ, hành động đó có 1 sự an tịnh trong khi mình làm. Rồi sâu vào bên trong những cái suy nghĩ, hình bóng, cảm thọ của mình cho đến cái nhận thức của mình. Mình hướng vô mình kêu: “Thân an tịnh lắng dịu, thọ an tịnh lắng dịu, tưởng an tịnh lắng dịu. Hành (những suy nghĩ) này an tịnh lắng dịu. Sự rõ biết, nhận thức này an tịnh lắng dịu”. Bất cứ lúc nào rãnh mình cứ niệm như vậy, mà mình niệm tới đâu mình phải hướng tâm đúng chỗ đó.
Thí dụ quý vị muốn mở cây quạt, mà quý vị lại vặn, bấm công tắc đèn thì quạt có quay không? Thì quý vị phải bấm đúng chỗ, vặn đúng nút. Cũng vậy, quý vị hướng tâm vào cái thân này, quý vị kêu: “An tịnh lắng dịu”. Nhớ nha, chứ không phải quý vị chỉ niệm ngoài môi, niệm trong ý hành, mà không có hướng tâm về đối tượng, đó gọi là tứ đó. Tầm và tứ, ví dụ mình muốn chăm sóc dĩa hoa này cho nó đẹp. Thì mình có đi gần dĩa hoa không, hay mình ở ngoài kia mình cứ nghĩ là: “Tôi chăm sóc cho nó đẹp thôi”. Có cần lại gần không? Thì lúc mình đi lại, thì cái đó gọi là tầm, là hướng tới nó. Rồi quý vị chỉnh lại cái bông nào héo thì bỏ ra, cái bông nào tươi mình để lại.
Rồi cái nào cao, cái nào thấp, màu nào ở trên, màu nào ở dưới, màu nào chung quanh. Thì cái đó là đang tứ đó, là bám vào đối tượng, hướng tới đối tượng. Và mình làm cho mình an trú vào trong đối tượng đó. Cho nên 2 chữ an tịnh và lắng dịu này, là cả một sự thực tập rẩ là dài công, công phu. Quý vị hướng cái tâm quý vị vào cảm giác toàn thân, quý vị kêu an tịnh lắng dịu. Thì khi quý vị kêu như vậy, thì quý vị rõ ràng cảm nhận được nó có 1 pháp lệnh mà quý vị ra lệnh. Đồng thời nó có 1 cảm thọ an tịnh lắng dịu nó xuất hiện, nó có mặt, và nó an trú vô được sự an tịnh đó. Chúng ta có hiểu chỗ này không ạ?
Có một pháp lệnh đưa ra, tức là như lý tác ý của mình. Rồi kế đó có 1 cảm thọ, nó tiếp nhận pháp lệnh đó. Khi nó tiếp nhận pháp lệnh đó rồi, thì nó phải thực hiện pháp lệnh đó. Giống như cô giáo, hay mình mẹ mà mình kêu con làm gì đó, thì phải có đứa con ở đó. Chứ không lẽ mình đứng mình kêu không, mà không có ai hết trơn. Thì khi đứa con nghe cái lệnh, nghe cái dạy đó rồi thì nó phải làm theo. Thì nó làm theo thì có kết quả không? Nó đúng theo yêu cầu của mình thì cái đó mới có kết quả. Thì cũng y như vậy, từ cái tâm của mình ra một pháp lệnh: “Thân an tịnh lắng dịu cho ta”, thì cái thân phải yên lắng xuống. “Thọ an tịnh lắng dịu, dễ chịu”, thì lúc đó phải thấy được cái thọ, thấy được nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu.
Cái công phu nữa là sự an tịnh lắng dịu đó, kéo dài được bao lâu. Rồi khi mà nó kéo dài tới 1 thời gian là 3 phút, 5 phút, 7 phút, 10 phút, rồi sau đó nó quên. Thì tiếp tục: “Thọ, an tịnh lắng dịu, dễ chịu cho ta”, nó nói: “Dạ, em nghe lời chị”. Rồi nó tiếp tục trú an tịnh lắng dịu chừng 15 phút, thì mình tiếp tục nhắc: “Thọ tiếp tục an tịnh lắng dịu, dễ chịu cho ta”, như vậy đó, cứ vài phút là mình phải kêu. Chúng ta thấy bây giờ mình đi học sinh ngữ, mình học chữ viết, học may, học thêu, mình học nghê vậy chứ là mình đi học 1 bữa mình nghỉ 7 bữa hay sao. Hay là mình phải học liên tục? Học liên tục bao lâu? Nhiều tháng, nhiều năm thì nó mới thành thục, thì cũng vậy, mình phải dạy liên tục.
Rồi trong cái tưởng thì mình hướng vô coi có hình bóng gì không: “Lắng dịu xuống, an tịnh xuống”. Hành sũy nghĩ lung tung: “An tịnh lắng dịu xuống, yên lặng, không có lép xép, không có lao xao, không có lăn xăn. Không có cứ rù rì, thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than. Im cái miệng lại cho chị lắng dịu xuống”. Mà mình phải hướng vào trong cái hành, mình phải thấy rõ nó và ra lệnh cho nó. Và nó phải thực hiện theo lệnh đó, phải nghe lời mình, phải tuân lệnh mình, phải thực hiện theo cái lệnh mình ra lệnh, nhất nhất theo luật lệnh. Chúng ta thấy trong quân đội không ạ? Gọi là quân lệnh như sơn, là phải làm theo, chứ không có ý kiến ý cò, không có ngụy biện, biện luận. Không có lý do lý gì hết trơn, làm theo, an tịnh là an tịnh.
Quân lệnh như sơn, mình ra hiệu lệnh, pháp lệnh, thánh lệnh là phải làm theo. “Giáo bất nghiêm, sư chi đọa”, dạy không nghiêm chính là lỗi của ông thầy. Thì như vậy mình dạy không nghiêm khắc cái tâm của mình, mà nó có sai quấy là do mình, mình tu không kỹ, mình tu không khéo. Sắc, thọ, tưởng hành rồi tới thằng thức nữa, cũng phải dạy. Bây giờ nó nhìn mà nó khó chịu, mình nói: “Nè! Không có khó chịu, dễ chịu, lắng dịu xuống”. Thức là thằng nhãn thức, nhĩ thức, hay là thằng tỷ thức hay là thằng ý thức. Thằng nào thì mình phải kếu cho rõ, đúng cái tên nó, chỉ đúng mặt nó. Bây giờ nghe tiếng điện thoại mà nó bực bội, phẫn nộ lên là phải kêu nhĩ thức ra nói chuyện, hướng tâm vô cái lỗ tai và bắt đầu dạy nhĩ thức.
“Sao đây? Giờ không tu, giờ muốn kiếm chuyện phải không? Đọc có 1 chút xíu tin nhắn đó đã muốn quậy phải không? Bây giờ muốn tu hay muốn quậy?” Rầy liền, và cứ nhứ vậy không phải đợi tới lúc mà nó xảy ra chuyện mình mới huấn luyện, thì nó muộn rồi. Đó là lý do tại sao mình phải dự khóa tu, phải lên núi, phải có mặt ở đạo tràng. Tắt lửa hết trơn, mất lửa hết trơn, tro tàn, nguội lạnh hết trơn là như vậy đó. Cho nên sắc, thọ, tưởng, hành thức an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Nhìn nó, ra lệnh cho nó và bắt nó phải làm theo. Làm theo thì phải có kết quả, kết quả phải thấy được. Rồi sau đó huấn luyện dài dài, mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi buổi, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi quý, mỗi mùa phải huấn luyện.
III. Phá chấp ngã, trừ vô minh và tham ái
Một năm có mấy mùa? “Dạ 4 mùa”. Giỏi, cho tràng pháo tay đi. Vậy một năm có 4 mùa mà mình tu được mấy mùa? Mình huấn luyện mỗi năm, rồi huấn luyện nhiều năm rồi nó thuần thục. Chứ còn cái ngũ uẩn này nó ghê gớm lắm, nó tạo phản. Mình có thấy nó tạo phản không? “Dạ có”. Nhanh khiếp lắm, khiếp đảm lắm, trở tay không kịp. Khủng khiếp, kinh hoàng lắm, nó tạo phản và mô giới cho giặt ở bên trong. Nó móc nối, móc ngoặc với nhau, nó nói: “Thôi, cái này có gì đâu, mình nghĩ 1 kỳ tu đâu có sao. Mình nghĩ 1 thời thôi, nghe cái gì nghe hoài, cái này mình biết rồi”. Rồi nó móc ngoặc với nhau, nó kéo mình đi, ác ma nó kéo mình đi. Nó kéo mình xuống đầm lầy, vô nhà lửa, đi ra biển, xuống vực sâu.
Nó kéo mình đi theo cái bản ngã, chấp thủ, tham ái, tham dục, tham lam, buông lung phóng dật, thả lỏng các căn. Nếu mình không có sự giáo bất nghiêm, thì cái tâm này nó sẽ đọa. Từng chút, từng chút như vậy đó, mà chưa thấy gì nữa. Quý vị thấy không? Đó là mình nói trên cái mặt pháp hành, cái mặt thực tập, mà chỉ có 6 chữ là an tịnh, lắng dịu, dễ chịu thôi. Chỉ có 3 từ đó, mà đã ra công, công phu, khổ luyện như vậy. Mà đâu phải chỉ có an tịnh, lắng dịu, dễ chịu là xong đâu. Mình phải coi coi tại sao nó không an, nhiều khi mình kêu nó an mà nó không chịu an. Rồi đây mình mới đi vô sâu sắc hơn chút nữa, cái này mới gọi là bước đầu thôi.
Nhưng mà tới những bước sâu hơn, là mình phải tìm xem là tại sao nó bất an. Nó có chấp không? Có thủ không? Có nắm vô cái đó không? Nó có cho rằng suy nghĩ mình là đúng không? Đã nói rồi:
“Con mèo thì phải meo meo
Chó thì gâu gấu
Muỗi thì vo ve
Mỗi người tập khí khác nhau
Làm sao có thể bắt ai giống mình”
Mà bây giờ mình đòi ý của mình, là phải nghe theo mình. Không theo ý mình là mình khó chịu, bực bội. Thì như vậy một ngày mình bực bao nhiêu lần? Một tuần mình bực bao nhiêu ngày? Một tháng mình bực bao nhiêu cử? Rồi xuống cuộc đời mình chất lên 1 đống bực bội, khó chịu, sân hận là tới bao nhiêu. Mà ai khổ? Mình khổ. Mà mình khổ có phải do người ta không hay do cái chấp ngã của mình? Thấy chưa? Thấy rõ chưa? Nó nở rồi nó tàn là chuyện của nó, như đóa hoa tàn trên bàn nè. Đó là chuyện của hoa, chứ đâu phải chuyện của mình. Cái chuyện của mình là mình giữ được cái tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu trước cái nở, cái tàn của nó. Trước cái sanh, cái diệt của vạn vật.
Trước cái thịnh, cái suy, thăng, trầm, được, mất, tốt, xấu, cao, thấp, khen, chê của cuộc đời này. Đó là chuyện của nó, Đức Phật nói 8 ngọn gió mà: Lợi, suy, quỷ, dự, xưng, cơ, khổ lạc. Mình được cái lợi, hoặc mình mất cái lợi, bị suy tổn, suy hao hay là mình được lợi ích. Mình được đề cao, hay là bị hạ thấp xuống. Được khen, không thôi là bị chê. Mình vui hay là mình khổ. Thì đây chỉ là những ngọn gió đời thôi, cái bụi đời, gió đời, sóng của cuộc đời, làm sao không thể có những vẫn đề này được. Cái pháp nó là như vậy mà, sự thể, sự thật, thật tướng của thế gian nó là vậy. Mà bây giờ mình bắt cứ khen tôi thôi, chứ đừng có chê. Cứ thương tôi thôi, chứ đừng có ghét. Cứ đưa tôi lên cao, chứ đừng có hạ bệ tôi xuống.
Thì như vậy mình khổ không? Cái khổ đó là vì sao? Mình chấp. Cái khổ là chỗ cái chấp này, chấp tức là nắm giữ, muốn cái đó theo ý mình. Là vô minh hay là minh? Là vô minh, không thấy được bản chất của sự thật nữa. Vậy tại sao mình không rầy cái tâm vô minh của mình, không rầy cái tâm chấp, cái tâm thủ của mình. Mà mình hướng ra ngoài mình bực người kia, bực tình huống kia, bực chuyện kia. Đặt tâm sai hướng, không giải quyết được vấn đề. Bây giờ ông chồng hay là bà vợ, có tánh nói nhiều, có chuyện gì là nói tới tới, nói dai, nói dài, nói dở, nói hoài hoài. Mình biết cái tánh như vậy rồi, thì thôi bây giờ mình tập cái tâm kham nhẫn, cái tâm từ, cái tâm khoan dung, độ lượng, hiểu thương cho họ.
Chứ bây giờ mình đi cứ trách cái tánh nói nhiều hoài, mình đi trách hoài, thì trách tới chừng nào nó xong đây. Phải không? Cô Hiền Nguyệt cười nhiều vậy? Có trúng không? Trúng bệnh của mình hay của người ta vậy? Có một chuyện nói hoài à. Sáng nói, trưa nói, chiều nói, tối nói, nhiều khi nửa đêm gặp cũng nói nữa. Mà có một chuyện cứ nói hoài, cái tật nói dai, nói dài, nói dở, lải nhải có bao nhiều đó. Thì từ ở bên trong ý hành, mới ra khẩu hành. Mà mình nhiếp phục được cái ý hành mà nó an tịnh, lắng dịu thì còn nói nữa không? Đây mình trị từ cái gốc đó. Mà ở bên trong này nó an tịnh, lắng dịu, an lạc, an bình rồi, thì cái miệng nó đâu có thành vấn đề nữa đâu. Thì như vậy từ cái chấp mình đào thêm 1 lớp nữa, là tại sao chấp.
Chúng ta thấy không? Mình tu nó giống như khoan giếng vậy đó, hết lớp đất này tới lớp đất khác, hết lớp đất khác rồi tới lớp đất khác nữa. Mình khoan riết rồi nó mới có nước, tới mạch nước rồi mới có nước từ bi nó tuôn ra. Mới có nước trí tuệ, mới có nước của sự thông đạt các pháp như vậy. Tại sao nó chấp? Tại vì vô minh, tham ái. Tức là không hiểu bản chất của vấn đề đó, mà nó ưa thích cái ý kiến của nó. Mình có ưa thích ý kiến của mình không? Mình ưa thích cái quan điểm, cách nhìn, thấy biết, tri thức, kiến thức, hiểu biết của mình không? Mình vô minh đối với bản chất của vấn đề đó. Mình lại yêu thích ý kiến cá nhân, cái tư kiến, kiến chấp, thấy biết, kiến thức nhỏ hẹp của mình, theo chiều hướng của mình.
Thì như vậy là cái vô minh, tham ái là gốc của vấn đề. Nhiều khi mình học mình nói ro ro, mình tụng ào ào, mà tới chừng hiện thực tế mình nhìn không ra. Khổ vậy đó, chúng ta thấy không? Nhiều khi mình tụng ầm ầm, ro ro, rào rào, ầm ầm vậy đó. Nhưng mà tới chừng cái vô minh, tham ái nó chình ình 1 đống mà mình không thấy. Thì bây giờ cái tâm mình mờ đi vấn đề đó, không thấy rõ vấn đề đó. Tại vì sao mình không thấy rõ? Bởi vì lúc đó mình bị cái sân, bị cái bực, bởi giận quá thì mất khôn, tham quá thì thâm. Lúc đó thì có tham, có sân, hay là có si, hay là có bản ngã, chấp thủ, hơn thua. Thì lúc đó cái tâm mờ tối rồi, không có sáng.
Thế Tôn gọi là tâm trở thành mờ tối, mất trí tuệ, tác thành mù lòa, tác thành không mắt. Khi 5 triền cái nó bao phủ, xâm chiếm mình, thì lúc đó mắt mình mờ hết, trong bóng đen. Rồi nó mù, không nhìn thấy rõ được vấn đề, thì cái đó là vô minh. Vô minh của vấn đề đó, mình phải nhìn cho sâu sắc được cái tham ái trong vấn đề đó. Thí dụ mình thích ăn món đó, mình kêu con gái làm món đó mà nó không làm, nó thích làm món nó thích cơ. Mà mình thì không thích món mà nó thích, thì lúc dọn lên sao ạ. Con nói cái này mình nghe mình hiểu được tiếng Việt không ạ? Thì cuối cùng bị cái thích làm cho giận lên, bực lên: “Tại sao tao kêu mày nấu món kia mày không nấu, mày đi nấu món này, mà món này tao có ăn được hay không?”
Thì bây giờ mình nghĩ mình tụng bài kinh: “Cái thức ăn này đâu phải để ăn mà tham cái vị đâu, ăn để mà tu. Ăn để mà đủ sức để tu hành thôi, ăn cái gì cũng được. Thôi buông xả đi, nó còn nhỏ, mình ăn nhiều hơn nó rồi”. Phải chưa? Mấy đứa con mình nó ăn ít hơn chứ, mấy cái này mình trải qua nhiều hết rồi. Nhiều cái cách để cho mình quán chiếu, mình xả cái ái đó, mình xả cái dục đó, mình xả cái khoái món đó. Thì mình quán đủ thứ kiểu hết, mình đưa ra đủ phương diện, khía cạnh hết trơn. “Cái thân này vô thường, bây giờ mình nuốt vô cái ót rồi nó đi vô, đi xuống tới bụng thì nó thành món gì vậy? Rồi đi xuống dưới nó thành cái món gì?
Trời đất ơi, nhiêu đó là thấy ớn rồi, còn món gì mà ngon được nữa không? Còn cái mòn gì mà nó ngon nhất trên đời, đi qua xuống tới dưới thì nó còn ngon nữa không? Quán như vậy đó rồi an gì không được, nuốt vô cái ực để mà sống. “Thương con, tôi nghiệp nó”, hở đâu mà lấy quyền làm mẹ ra, hở chút là mình lấy thượng phương bảo kiếm ra: “Tao mẹ mày, tao đẻ mày ra được, tao nuôi mày”. Rồi bắt đầu kể công, kể dọc dài ra. Cũng vì cái chấp nè, cái bản ngã nè, cái ái, cái tham nè. Thì cái vấn đề nó cũng vòng vòng có bao nhiêu đó thôi à, chớ không có gì khác hết. Ái thủ từ vô minh, duyên hành, rồi dọc dài dài tới ái thủ. Rồi nó có ra những hiện hữu ở trong tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Tự mình có thể thấy rõ vấn đề có gì đâu, tứ đại không à, có gì đâu, ăn gì không được. Bây giờ cho cà phê sữa thì uống cà phê sữa, cho uống suối thì uống nước suối. Nhiều khi uống nước suối còn tốt hơn cà phê sữa nữa, uống cà phê sữa vô nó lình bình khó tiêu, uống nước suối thì nó khỏe, nó nhẹ. Sao mình không tác ý như vậy, mà mình uống cà phê sữa không đưa cà phê sữa mà cho chai nước suối cái bực lên, khó chịu. Sao mình không nghĩ ngược lại: “Uống nước suối tốt hơn, nó thương mình, nó mới đưa mình cái này”, được không? Rồi bây giờ ai cũng 7 món, tới mình đưa có miếng rau luộc, miếng kho quẹt: “Ăn cái này tốt mà, hổm rày mình cũng hơi nặng bụng, khó tiêu, cân cũng hơi nặng rồi. Cái này ăn nó thanh đạm, nó nhẹ, nó giảm cân, nó khỏe, mình ngồi thiền mình cảm ơn nó nữa chứ”, có được không?
Quý vị thấy không, mình chỉ cần chuyển chút xíu thôi, tự mình có an lạc, phá được chấp phủ, diệt được tham ái, trừ được vô minh. Chỉ trong 1 ý nghĩ, ý hành đó, chỉ cần mình chuyển hướng 1 cái là mình đi tới an lạc, an bình. Tu vi diệu như vậy đó, có thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời không? Có đợi tới bao giờ mới có kết quả không? Đó là vô minh, là tham ái, chấp thủ, là nguyên nhân của khổ. Sẵn đó mình tới luôn, mình đập tan sắc, thọ, tưởng, hành, thức luôn. Đi sâu vô mình đập banh hết trơn, đập cho tan tành hết: “Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi. Tại sao cái tâm mê này ngu mà chấp hoài vậy?”
Mình cứ tới tấp đánh phá hết những cái chấp bên trong. Quý vị nghĩ tu như vậy tâm có được nhẹ không? Khỏe không? Tâm bình an không? “Dạ có”. Thấy được cách, biết được pháp, rõ biết được đường đi chưa? Đó là cách làm cho thọ, tưởng, hành, thân tâm mình lắng dịu, dễ chịu. Thậm chí những chuyện lớn xảy ra, mình vẫn có thể buông xả được, chứ đừng nói những chuyện nhỏ con cóc, trái nho, con thỏ gì hết, nhẹ nhàng, khỏe. Rồi mới quý vị khác.
IV. Mười sáu hơi thở
Phật tử 2:
“Nam Môn Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính thưa trên sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa các bậc hiền trí. Dạ con kính thưa sư phụ giảng dùm con bài trong “Linh Quy Nhật Tụng”, cái khúc này thì con chưa có hiểu mấy. “Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy bồ đề phần, tám thánh đạo”. Suy nghĩ của con thì bốn niệm xứ phải là quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Suy nghĩ của con về bát chánh đạo là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạn, chánh niệm, chánh tinh tấn và chánh định. Thưa sư phụ là 2 bài đó con suy nghĩ như vậy có đúng không? Còn những bài kia thì con không hiểu.
Sư phụ: Dạ đúng rồi cô, cái này cô về đọc cuốn Tóm Tắt Ngũ Uẩn đi. Cái đó 37 phẩm trợ đạo.
Dạ con xin cảm ơn sư phụ.”
Cái đó là tất cả lời dạy của Đức Phật, là 37 phần chánh giác đưa mình tới giác ngộ. Cô Hiền Hạnh hổm rày tu học sao ạ?
Phật tử Hiền Hạnh:
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con kính bạch trên sư phụ, kính bạc trên quý thầy cùng tất cả các bậc hiền trí. Thì trong những ngày qua, con tu học ở nhà, thì buổi sáng con vẫn thực hành cái thiện, thì con thực hành 16 hơi thở. Thì con xin hỏi sư phụ là trong khi con thực hành 16 hơi thở đó, thì con vẫn dùng những bài theo video mà sư phụ hướng dẫn. Thì con mới thực hành được, chứ con không tự thực hành được. Thì như vậy con thực hành có đúng pháp không ạ? Dạ con xin hết ạ.”
Thì mình phải thực hành dựa theo bài mình mới thực hành được, chứ mình đâu có tự thực hành được. Phải dựa theo bài đó là lời hướng dẫn của bậc đạo sư, là lời hướng dẫn của Đức Phật ở trong tạng kinh. Mình mở ra rồi mình nghe theo, mình tập thôi. Tại vì những bài đó nó rất là thâm sâu, nó đồi hỏi mình phải tu học thật sâu sắc mới có thể theo kịp. Bốn hơi thở đầu là niệm thân, bốn hơi thở kế là niệm thọ, bốn hơi thở sau nữa là niệm tâm, bốn hơi thở cuối cùng là niệm pháp. Bốn hơi thở đầu là bốn hơi thở để mình làm cho hơi thở, cơ thể mình nó an tịnh, lắng dịu. Nó không có thô phù, nó không có nặng nề, nó không có trì trệ.
Nhiều khi mình vô ngồi thiền, mình vác 1 cái thân nó nặng nề lắm. Nó giống như bao gạo mà thẩy cái bịch xuống vậy đó, nó mệt mỏi. Cái thân của mình nó không cảm thấy thoải mái, không cảm thấy nhẹ nhàng, không cảm thấy dễ chịu. Bốn hơi thở đầu làm cho hơi thở, làm cho cái thân mình an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Ngồi 1 cáh thư thới, ung dung, thảnh thơi, thoải mái, thả lỏng. Để mình cảm nhận được sự thoải mái, nhẹ nhàng, khinh an, dễ chịu của thân là bốn hơi thở đầu. Bốn hơi thở kế là mình làm cho cảm thọ của mình nhẹ nhàng, dễ chịu, khinh an, lắng dịu, ngọt ngào, hoan hỉ. Bốn hơi thở đầu là làm cho cái thân dễ chịu, bốn hơi thở kế làm cho cái thọ dễ chịu, hoan hỉ, hân hoan, phấn khởi.
Tại sao quý vị thích đi du lịch, có vui không ạ? Tại sao mình thích đi ăn nhà hàng nhiều món, có vui không? “Dạ có”. Tại sao mình thích tu? Mình phải nếm được hương vị của hỷ lạc không thuộc vật chất, còn cái kia là hỷ lạc thuộc vật chất, nhớ cái này cho kỹ. Nếu mình tu mà không có niềm vui gì hết, tu mà cứ đơ đơ, trơ trơ, tới giờ vô ngồi cho hết giờ cái xong. Tới gần hết giờ thở cái “khì”: “Ra khỏe rồi”. Thì cái tu đó nó không có hương vị, mùi vị, thú vị, pháp vị, thiền vị, hỷ lạc vị gì hết trơn. Mình tu mình chán, ngán, mình không có thích thú, không có hân hoan, không có hoan hỉ, không có thích thú, không có thú vị, không có mùi vị, không có hương vị, không có pháp vị, không có thiền vị.
Cho nên 16 hơi thở đó, là cho mình thấy được hỷ lạc của thân tâm. Như vậy các vị tu thiền họ mới ở được trong thiền định hết tiếng này qua tiếng khác, hết giờ này qua giờ khác, hết ngày này qua ngày khác. Thậm chí các vị nhập định dài lâu ở trong đó, người ta thích thú trong đó. Tùy theo cấp độ của thiền định là từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, hay là tứ thiền. Cho nên rất cần thiết là sự hỷ lạc ở trong tu tập, rất là cần thiền. Cho nên mình biết được cách làm cho mình hỷ lạc ở trong tu tập, là một nghệ thuật hiền trí. Mình không biết làm cho tâm mình hân hoan, hỷ lạc, hạnh phúc, thì đó là mình chưa có nghệ thuật để tu tập.
Cho nên sẵn ở đây chúng ta nghe lại 4 tầng thiền, ở trong Giải Thoát Trí.
“Thiền thứ nhất, hướng tâm rõ biết hiện tại thân tâm chẳng dục tham”. Đây là tầm đó, hướng tâm vào cảm giác toàn thân. Và hiện tại mình cảm thân được trong tâm mình không có dục, không có tham, không có muốn gì. Và lúc này cảm thọ bình yên trong người, một cảm bình yên, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. “Không như lúc dục tham làm phiền”, mình nhớ lại những lúc bị dục tham làm phiền, thân bức xúc, không yên ổn được. “Đi, đứng, nằm, ngồi, rất bất an”, những lúc mình bị những cái ham, cái muốn, những cái thúc giục làm cho mình rất là bất an khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm. “Giờ đây xả dục ly tham. Nên thân tâm được bình yên, an lành.
Trong giờ phút này buông xả những sự thúc giúc, lìa bỏ những ham muốn, nên thân tâm được bình yên, an lành. “Quán hạnh phúc, khi mình ly dục. Quán bình an khi chẳng tham sân”. Thật là hạnh phúc trong giờ này, mình lìa được những ham muốn. Mình thật là bình an trong khoảnh khắc này, vì trong lòng mình không có tham sân. Không có muốn cái gì, không có đòi cái gì, không có tìm cái gì hết. Không có khó chịu, bực bội, tức giận với ai. Hạnh phúc làm sao, bình yên làm sao, bình yên, hạnh phúc. Trong tâm không có tham sân, không có những đòi hỏi muốn tìm nũa. “Hân hoan sanh khởi trong lòng. Tâm vui, thân lạc, vì rời dục tham”. Tâm mình thật là hân hoan, lòng mình thật là dễ chịu.
Tâm mình thật là vui vẻ, thân thì dễ chịu, vì rời được dục tham. Và cho hỷ lạc này, niềm vui này lan tỏa từ lồng ngực tới vai, tới mặt, cái môi, tới mắt, tới đỉnh đầu. Lan khắp tứ chi, cùng khắp toàn thân. Làm cho hỷ lạc này lan tỏa khắp toàn thân này, hỷ lạc này thấm nhuần. Thấm từng lỗ chân lông, ngấm từng là da, thớ thịt, đi vào trong từng tế bào, xương tủy. Thấm đẫm, thấm nhuần cùng khắp châu thân, là 1 cảm giác hỷ lạc, vui vẻ, an lành, hân hoan, hoan hỉ. “Hân hoan sanh khởi trong lòng, tâm vui thân lạc vì rời dục tham”. Chúng ta hướng tâm vào cảm giác toàn thân, và thực hành theo. “Cho hỷ lạc này lan tỏa khắp. Toàn thân này hỷ lạc thấm nhuần”. Từng hơi thở vui, nhẹ, từng nhịp đập của tim lắng dịu, dễ chịu.
Cả lồng ngực là 1 cảm giác của hân hoan, hoan hỉ, hỷ lạc. Cảm giác này thấm thuần, lan tỏa cùng khắp châu thân. Dễ chịu, lắng dịu, mát mẻ, vui khỏe, bình an. “Như xà bông rửa chén dơ. Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng”. Những dục, những tham, những ái, những cấu nhiễm được dòng nước hỷ lạc. Được xà bông hân hoan này gội rửa, tẩy sach hết tất cả những cấu uế của dục nhiễm. Hỷ lạc này lan tỏa khắp toàn thân này, hỷ lạc thấm nhuần. Chúng ta nếm được hương vị của hỷ lạc, an lạc, tịnh lạc, của sự dễ chịu mát dịu này thì chúng ta mới thấy có hương vị, thú vị ở trong sự thiền tập. Chúng ta thích ngồi thiền, muốn ngồi thiền và hoan hỉ vui trong sự ngồi thiền.
Bốn hơi thở tiếp theo là 4 hơi thở quán tâm, làm cho tâm định tĩnh, làm cho tâm giải thoát. Tức là mình cảm nhận sâu sắc, trong sự hoạt động của tâm. Những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm thọ mình cảm nhận sâu sắc. Tâm hành đó là sự hoạt động của tâm, mà mình làm cho cái tâm mình định tĩnh. Chúng ta thấy chữ an tịnh và lắng dịu là nó xuyên suốt, là mình làm cho cái tâm này an tịnh, lắng dịu, định tĩnh xuống. Là mình làm cho cái tâm này, đưa cái trâm này thoát ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tập cho nó đi ra khỏi cái sắc, không cho nó suy nghĩ lung tung mấy cái sắc nữa. Những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ, nhận thức, tập đưa nó ra khỏi ngũ uẩn.
Trong giờ mình thực tập đó, trong 4 hơi thở thứ 3 là quán tâm. Là làm cho cái tâm mình định tĩnh, thoát ra thân xác nặng nề, bệnh tật, mệt mỏi, đâu nhức. Và bốn hơi thở sau cùng là quán pháp, quán vô thường, ly tham, đoạn diệt, quán từ bỏ một cách trọn vẹn, hoàn toàn. Sau khi từ vấn đề làm cho thân yên, làm cho tâm tịnh, vui vẻ, hoan hỉ rồi, thì bắt đầu làm cho nó định lại. Từ khi làm cho cái tâm này nó định lại, thì bắt đầu hướng nó đến cái nhìn sâu sắc vào trong bản chất của ngũ uẩn. Hướng đến vô thường, ly tham, đoạn diệt và từ bỏ. Nó là tứ vô thường, không đáng để mình phải tham nó. Nó là thứ bại hoại, đoạn diệt mình cần phải từ bỏ, thoát ra khỏi nó.
Đó là ý nghĩa của 16 hơi thở đó, mình tu mà mình nắm được cái này rồi mình tu nó thích lắm, hạnh phúc lắm. Bốn hơi thở cuối cùng là 4 hơi thở thoát ra, vượt ra, thấy được bản chất hư dối, bại hoại, tan rã, vô thường, hoại diệt của nó. Không đáng cho mình phải khổ vì nó, không đáng cho mình nắm vô, bám vô, chấp vô, giữ vô nó. Là cái mình cần phải nhả ra, buông ra, bỏ ra, tháo ra, cởi ra, mở ra, đi ra khỏi nó. Bốn hơi thở sau đó là quán pháp, là bản chất của ngũ uẩn này là vô thường, là ly tham, hoại diệt, từ bỏ. Mình nắm được yếu nghĩa đó, mình vận dụng ở trong 16 hơi thở. Mà 16 hơi thở này khi mình thực hành cho thuần thục, nhuần nhuyễn, thì sau này mình sẽ tự thực hành được.
Và bất cứ ở đâu, ngồi chỗ nào, trong hoàn cảnh nào, mình cũng có thể trú vào hơi thở nào mà mình muốn. Thí dụ lúc đó có bao nhiêu chuyện nó bủa văng mình, tứ phía hết trơn. Mình quán từ bỏ, mình quán: “Chết thử 1 cái coi chuyện này nó có gì không”, không có gì hết đó. Quán từ bỏ cái thân xác này, mà mình quán quen như vậy rồi, thì tới lúc mình gặp tai nạn, lúc mình gần chết, mình năm trên giường quán từ bỏ. Là mình đi 1 cái “rẹt” vậy đó, bất lai thánh quả, không thôi tới Niết-bàn luôn. Chịu không? Bây giờ mình không quán vô thường, không quán ly tham, không quán đoạn diệt, không quán từ bỏ. Vậy tới lúc chết làm sao từ bỏ nỗi, phải không?
Cho nên cái quán đó rất quan trọng, cố gắng nỗ lực và thực hành càng nhiều càng tốt. Bất cứ nơi nào, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, mình có thể bỏ mỗi thứ nhưng không được bỏ pháp hành. Tài sản có thể bị mất, nhà cửa có thể bị đổi thay, sức khỏe có thể không còn tồn tại. Thậm chí cái thân mạng này cũng có thể hoại diệt, nhưng pháp không được từ bỏ. Nắm cho chặt, giữ cho chắc, nhất trí không? Tại vì sao? Tất cả cái này là bại hoại, vô thường, tan hoại mà. Chỉ có pháp mới cứu mình thôi, mình sống là mình sống với pháp chứ không có với ai hết. Hồi xưa mình chưa biết pháp thì mình sống với nghiệp, nghiệp mới là người thân nhất của mình. Nhưng mà bây giờ mình biết pháp, pháp mới là người thân nhất của mình.
Cho nên mới gọi là thể nhập pháp thân, lấy pháp làm thân. Tất cả chúng sanh không ai là người thân của mình hết, chỉ có pháp mới thân với mình thật sự, cho nên mới gọi là pháp thân. Biến pháp làm thân, cả cuộc đời này là để học pháp, hành pháp, thể nhập vào pháp. Và đem cái pháp đó để chia sẻ cho cha mẹ, ông bà, cô chú, chị anh, tất cả những người có duyên với mình. Để cùng nhau diệt khổ, đi đến an lạc Niết-bàn. Ý nghĩa không? Giá trị, lợi ích, cao đẹp, cao thượng không? Thấy được con đường, ý nghĩa thật sự của kiếp sống này chưa? Rõ được mục đích tối thượng của sự hiện hữu, sự có mặt trên cuộc đời này không?
Có cái gì quan trọng trên cuộc đời này, tắt hơi cái là rồi xong, tất cả đều không có gì. Mà ngay cả khi còn hơi thở này, cũng chẳng có gì. Nếu có thì là dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã thôi. Chính vì có cái đó cho nên chúng sanh mới khổ, chính vì có cái đó cho nên chúng sanh mới sầu, mới bất an, mới đầy ưu não. Chính vì có những thứ đó, cho nên mới có sự hiện hữu ở trong vô minh và khát ái này. Chính vì có những thứ đó, cho nên chúng sanh mới có sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Các bậc thánh không có những thứ đó, các bậc thánh từ bỏ những thứ đó. Cho nên được an lạc, bất tử, chịu không? Bỏ từ từ, cứ diệt từ từ, mỗi ngày bỏ bớt 1 chút, bỏ tới lúc hết trơn, khỏe re, nhẹ te.
Phải bỏ lần lần, chứ những thứ khổ mà cứ hốt vô, chấp vô, giữ vô làm cái gì. Bỏ nó đi, quăng nó đi, liện, vứt, xả nó đi, xả cho đến nó rổ ráo, trọn vẹn. Thì lúc đó mình đại bình an, cuộc đời này đại bình an. Đó mới là cuộc sống đầy ý nghĩa, giá trị và lợi ích. Là mục đích tối thượng của sự có mặt của chúng ta, ở trên cuộc đời này. Còn nếu không làm được cái này, uổng cho 1 kiếp người, uổng cho 1 đời sống, uổng cho kiếp sống, uổng cho một kiếp nhân sinh. Mời vị tiếp theo.
V. Các dục
Phật tử 4:
“Xin thầy từ bi chỉ dạy cho con hiểu như thế nào là các dục tăng trưởng. Nam Mô A di đà phật.”
Dục ở đây Đức Phật dạy gồm 2 thứ là ở trong và ở ngoài. Những suy nghĩ, ham muốn của mình cái đó là dục. Và đối tượng của dục là sắc đẹp, là tiếng, là mùi, là vị, là sự xúc chạm. Năm dục trưởng dưỡng là sắc, thanh, hương, vị và xúc. Nói như vậy quý vị khó hiểu, để nói ra tiếng Việt quý vị dễ hiểu lắm. Tiền, nhà, đất, xe, đô la, vàng, những người đẹp, cảnh đẹp, đồ đẹp, xe đẹp. Những cái đó là đối tượng của dục, còn lòng tham muốn những cái đó là dục của con người. Nó cứ ám ảnh ở trong những cảm giác, là mình muốn mấy cái đó. Rồi những hình bóng về những cái đó, nó cứ hiện ra trong tâm của mình. Mà những suy nghĩ về cái đó lặp tới lặp lui hoài, cứ đi tìm hoài.
Thì đó là dục ở bên trong thọ, tưởng, hành của mình. Đối tượng của dục ở bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Hai cái này kết hợp với nhau, nó làm cho chúng sanh khổ đau. Mà người ta cứ không bao giờ thỏa mãn với những ham muốn đó, “túi tham không đáy, biết bao giờ đầy”. Những suy nghĩ đó cứ muốn, những hình bóng đó cứ ám ảnh, những cảm thọ đó cứ thèm khát, khao khát, đói khát, khát ái. Và như thế là chúng sanh bị vây hãm, phong tỏa, siết chặt ở trong 1 cái trận của tham dục, tham ái, tham lam, lam muốn. Mà không phải 1 đời 1 kiếp, mà là vô lượng, vô số, vô thỉ đời kiếp là chúng sanh bị vây hãm ở trong 1 cái trận là của dục tham, và chúng sanh đau khổ tring đây.
Cho nên thiền thứ nhất mà chúng ta thực tập đó, là ly dục, ly tham. Thì mới có được hạnh phúc, của các bậc thánh. Đây gọi là thánh chánh định, là hạnh phúc của bậc thánh. Nó ngược với chúng sanh, chúng sanh thì tìm cái vui ở trong dục, được ăn ngon, được ở nhà đẹp, đi xe đời mới, tiền nhiều, bạc nhiều. Thì những cái đó chúng sanh ham vui tìm kiếm, mà các bậc thánh lìa được những cái đó thì các ngài vui, hạnh phúc. Đó mới gọi là “nghịch lưu” là ngược với dòng đời, thì mới thuận với dòng đạo. Bao nhiêu người đi chạy, đi tìm cái đó, người ta giành giật, đấu đá, đánh đấm để đi tìm cái dục đó. Mình người tu mình từ bỏ cái dục đó, mình tránh xa nó, mình thoát ra.
Thì đó là sự an ổn của ly dục, ly tham, viễn ly, rời xa, thoát ra. Chúng ta thấy rõ sự khác nhau của người tu, và người không tu. Mà nếu như mình đi đúng hướng này, thì mình có bớt khổ nhiều không, thậm chí hết khổ luôn nữa. Mà tại vì mình không chịu, mình cứ nhào vô kiếm ăn. Biết không? Nhào vô kiếm ăn rồi u đầu sứt trán, lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc, cứ nhào vô kiếm ăn, kiếm chút cháo, rồi xong đủ thứ chuyện tranh đấu hết. Quý vị coi chiến tranh đó, chuẩn bị thế giới thế chiến thứ 3 sắp sửa. Mà tất cả những cái đó, là từ tham dục của con người thôi, sân hận bản ngã thôi chứ có cái gì đâu. Mà cái gốc cũng chỉ có 1 chữ thôi, chữ “tham”.
Bởi vì tôi muốn cái đó, mà bây giờ không được nên nổi nóng lên, phải hơn người ta mới chịu, thua là không có chịu. Thì như thế là nước mắt, là máu, là tan hoang, tan tành, tan vỡ, tan vụn hết. Tất cả những thành phố trở thành những đống hoang tàn, đổ nát, chỉ vì 1 chữ tham, chữ dục, con người phải đau khổ. Như thế các bậc thánh sống đời ly dục, ly tham, các ngài hưởng được siêu thế lạc, chánh giác lạc, viễn ly lạc và Niết-bàn lạc. Đây là 4 cái vui của bậc thánh: Viễn ly lạc là niềm vui do rời xa cái dục, chánh giác lạc là niềm vui do thấy được bản chất sự thật là khổ. Thấy được sự thật là có niềm vui, quý vị có được cái này chưa? Kha khá không? Có thấy vô thường, có thấy khổ, có thấy vô ngã, có thấy cái thân này là đống bệnh hoạn không? “Dạ có”.
Chánh giác lạc là có được đôi phần, còn Đức Thế Tôn là trọn vẹn, viên mãn rồi. Siêu thế lạc, là niềm vui siêu việt thế gian. Thí dụ người ta vui trong cái thị phi, nói chuyện người này người kia, người ta thấy người ta đã, người ta khoái, người ta sướng. Nhưng mà bậc thánh, bậc tu là vui trong tĩnh lặng, chịu không? Chịu cái vui này không? “Dạ chịu”. Rồi thí dụ như người ta muốn hơn thua, thắng người ta mới vui, nhưng mà Đức Phật bỏ qua cái thắng bại. Thì cái đó mới là cái vui của các bậc thánh, là bỏ qua cái thắng bại.
“Người hơn thì thêm oán
Kẻ thua ngủ chẳng yên
Hơn thua hai điều bỏ
Như thế an ổn ngủ mới ngon”
Cái tâm hơn thua đó không ngủ được nữa, cái tâm hơn thua, cao thấp, thị phi, cái tâm đấu tranh, tranh giành đó là thế gian. Cái tâm vượt qua khỏi cái đó gọi là siêu thế lạc, niềm vui của cái tâm siêu diệt thế gian. Vượt qua niềm vui thường tình niềm vui của cuộc sống, đời sống. Chúng ta thấy các bậc thánh tu được, các vị chân tu, mình nghe chữ “thánh” thì cao xa, mình nói các vị chân tu bình thường thôi. Một người hiền trí, hiền giả là tu được như vậy đó. Không có hơn thua, không có vui ở trong cái đúng sai, không có vui ở trong cái ta tôi, mi tao, bỉ thử, đây kia. Mà vui ở trong sự từ bỏ được tất cả những thứ đó. Tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tuyệt vời, tối thượng.
Vui như vậy mà không ai thèm vui hết, đi vui mấy cái khổ chi vậy. Cái vui này là cái vui tối thượng, tối cao, tối thắng, vô thượng, thánh thượng. Cái đó gọi là siêu thế lạc, mình tu để là được cái hạnh phúc này nè, để được nhiều hạnh phúc. Cuối cùng là Niết-bàn lạc, là sự chấm dứt hoàn toàn tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã không còn nữa. Niết-bàn lạc, gọi là Niết-bàn vui tối thượng. “Không bệnh đệ nhất lợi, Niết-bàn đệ nhất lạc”. Không bệnh là lợi bậc nhất, vì bệnh 1 cái là sạch bách hết trơn cả gia tài. Không bệnh lợi bậc nhất, Niết-bàn vui bậc nhất. Chịu không? Chịu thì phải ráng mà tu, cần phải từ bỏ những thứ cần phải từ bỏ. Quyết tâm buông những thứ, mà quyết định phải buông.
VI. Tâm hỷ
Nếu mà không buông thì chỉ có đau khổ, nước mắt, hận sầu. Nắm chi cho nó mệt, “tâm buông xả là tâm hạnh phúc”. Buông được những cái dục, cái tham, những cái sân si, hơn thua của cuộc đời này. Buông xuống, để mình có thể hưởng được niềm vui của sự rời xa. Niềm vui của sự thấy được lẽ thật, niềm vui của sự vượt ra thường tình. Và cuối cùng là cái niềm vui của sự chấm dứt hoàn toàn tham, sân, si, dục ái, bản ngã. Đây là tứ đại lạc, bốn niềm vui vĩ đại của bậc hiền trí. Viễn ly lạc, chánh giác lạc, siêu thế lạc và Niết-bàn lạc. Còn có ai giờ này, mà còn thưởng thức tứ lạc của thánh hiền giống như mình ở đây không?
Mình đang thưởng thức sự an lạc của hiền giả, hiền trí, hiền thánh cho cuộc đời này. Mình không có uổng sanh ra kiếp người, không có uổng một chuyến lên chùa Bửu Liên để tu 3 ngày. Không có uổng bỏ công ăn việc làm, để mà có mặt ở đây. Mình phải thấm nhập cho được, niềm vui tối thượng này. Mình phải thực tập cho được, những niềm vui tối thượng này. Mình phải sống cho được, những niềm vui thánh thiện này. Để mình từ bỏ những niềm vui phàm tục, thấp hèn, hạ liệt của thế gian. Của những tâm thức phàm phu vô minh đầy dẫy những tham, sân, si, bản ngã, từ bỏ những cái đó. Vui quá là vui, vui sao là vui, vui không thể nói, vui dạt dào, vui ngọt ngào, vui thấm đẫm, vui siết bao, vui thanh cao. Vui cao thượng, rộng mở, rộng lớn, rộng khắp.
Niềm vui này lan tỏa cùng khắp, chư thiên nơi này đang hoan hỉ, chư địa thần, chư vô hình, chư vị hữu hình ở tại nơi đây, tại nơi ngôi chùa này, tại vùng đất, trời đất này. Tất cả chúng sanh đều thấm nhuần tứ thánh lạc, bốn niềm vui tối thượng này lan tỏa cùng khắp. Tại vùng đất này, tại Bửu Liên tự, tại không gian này, ở vùng trời đất này. Cùng khắp pháp giới chúng sanh, chư vị địa thần, thiên thần, long thiên bát bộ, hộ pháp thần vương. Tất cả chư vị hương linh trong pháp giới, hữu tình chúng sanh, hữu hình, vô hình, hữu tình, vô tình, muôn loài, vạn loại. Mong rằng tất cả chư vị đều được thấm nhuần 4 niềm vui cao thượng, thánh thiện, tối thượng này của bậc chánh đẳng chánh giác.
Tâm được nhẹ nhàng, được siêu thoát, được hoan hỉ, nâng cao, hướng thượng, cao thượng. Và siêu thoát khỏi những cảnh khổ đau, gặp được chánh pháp, tu hành giác ngộ, thành tựu Niết-bàn, cứu cánh phạm hạnh. Chúng ta an trú vào niềm vui này, để cho lắng lặng thân tâm, thấm nhuần. Và thưởng thức hương vị hỷ lạc cao thượng này.