Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

NUÔI DƯỠNG TÂM XUẤT LY 4 ( XUẤT LY GIỚI ) - TƯƠNG ƯNG VÔ THỈ

2026-03-03 00:52:23
Kinh Nikāya Giảng Giải

NUÔI DƯỠNG TÂM XUẤT LY 4 ( XUẤT LY GIỚI )

& TƯƠNG ƯNG VÔ THỈ

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nuôi dưỡng tâm xuất ly PAGEREF _Toc186106070 \h 1

II.Tương Ưng Vô Thỉ PAGEREF _Toc186106071 \h 3

III.Trình pháp PAGEREF _Toc186106072 \h 19

IV.Từ bỏ sát nghiệp PAGEREF _Toc186106073 \h 25

Nuôi dưỡng tâm xuất ly

Kính bạch Chư Tôn Đức và Chư Hiền Trí. Chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm những bài kinh Đức Phật dạy có liên hệ đến dục, tham, hỷ, tầm cầu. Hôm trước chúng ta được nghe bài kinh “Có Nhân” và đã tìm hiểu về sự vận hành của dục và sự xuất ly; còn lại phần sân, hại, vô sân và bất hại. Ở đây, Minh Thành muốn tiếp tục phần xuất ly, vì đây là phần rất hay và quan trọng:

Này các Tỷ-kheo,

- Do duyên xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi.

- Do duyên xuất ly tưởng, xuất ly tư duy sanh khởi.

- Do duyên xuất ly tư duy, xuất ly dục (chanda) sanh khởi.

- Do duyên xuất ly dục, xuất ly nhiệt tình sanh khởi.

- Do duyên xuất ly nhiệt tình, xuất ly tầm cầu sanh khởi.

- Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu xuất ly tầm cầu, vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

Đọc nguyên văn thật khó mà hiểu được, Minh Thành sẽ diễn sang tiếng Việt để mọi người dễ hiểu.

Đầu tiên, “Do duyên xuất ly giới, xuất ly tưởng sanh khởi”; chữ “giới” ở đây nghĩa là phạm trù, cơ duyên, hoàn cảnh, những pháp, những sự, việc, vật, lời nói đưa chúng ta đến sự thoát ra, đó gọi là xuất ly giới. Và chúng ta phải được tiếp xúc với những phạm trù của xuất ly như thế thì xuất ly tưởng mới sanh khởi. Đức Thế Tôn có dạy trong kinh “Cội rễ của sự vật”: “Tất cả pháp lấy Xúc làm tập khởi”. Cho nên, xúc rất quan trọng, là tập khởi của các pháp. Vì vậy, đầu tiên chúng ta phải được tiếp xúc với những pháp về sự xuất ly thì mới nuôi dưỡng tâm xuất ly, hướng đến xuất ly và đi đến sự thoát ra. Chẳng hạn, mỗi sáng vừa thức giấc, chúng ta đã được tiếp xúc với Thánh Pháp, Thánh Điển, Thánh Nhũ suốt bốn tiếng đồng hồ, có khi nhiều hơn. Vì chúng ta được nghe pháp, được nghe kinh, đọc kinh, trùng truyên lại kinh, cùng ôn nhắc những lời dạy liên hệ đến sự viễn ly, yểm ly, ly tham, nhàm chán, từ bỏ, thoát ra. Đó là duyên xuất ly giới, tức là tiếp xúc với những ngôn ngữ, trí tuệ, giáo pháp, môi trường, giúp ta có được tâm hướng đến sự thoát ra, sự rời xa. Chúng ta đang ngồi đây nghe pháp cũng là đang duyên với xuất ly giới.

Khi xúc tập khởi thì thọ, tưởng, hành tập khởi. Câu kinh này dùng chữ “duyên” thì ý nghĩa cũng giống như vậy, tức là các pháp được tích tụ, tích tập, tích lũy, gom góp, chất chứa lâu ngày, đưa đến sự khởi ra xuất ly tưởng. Chánh Điện cũ ở núi đã trải qua 15 năm, được làm bằng tre, hiện tại đã mục. Sắp tới Minh Thành sẽ sửa lại, làm rộng rãi hơn, trồng thêm một ít tre và đặt tên là Trúc Lâm Tinh Xá. Mọi người hoan hỷ không? Khi chúng ta ngồi nơi đó, đi quanh đó, hít thở trong không gian, trong khung cảnh đó thì tưởng trong chúng ta là hình ảnh Đức Như Lai và bậc Thánh chúng, đây là Minh Thành ví dụ về những xuất ly tưởng.

Hàng ngày, nếu biết khéo sử dụng những xúc, những duyên như vậy thì chúng ta sẽ tu tập rất tốt. Cũng ở tinh xá ấy, chúng ta ngồi bên cạnh những khóm tre, những bụi trúc màu xanh, những chiếc y vàng, những cơn gió thoảng qua, những hơi thở nhẹ nhàng, những cảm thọ lắng dịu. Tâm ta lại được duyên vào những lời pháp chứa đầy Thánh trí tuệ, lúc đó tưởng về xuất ly được sanh khởi. Những hình bóng về Đức Thế Tôn, hình bóng của Thánh chúng, cũng như hình bóng về tự thân là hình bóng đang hướng về sự rời xa. Hơn nữa, lúc đó thật sự chúng ta đang được rời xa, đang viễn ly, được nhất thời giải thoát nếu lúc đó tâm không có năm triền cái. Mình an trú trong pháp, theo lời thiền quán đang diễn ra, lúc đó trong tâm mình có tưởng xuất ly, cùng với những tư duy về xuất ly sanh khởi.

Ngay tại đó, có một mong muốn sanh khởi lên là mình được thoát ra những đời sống phàm tục, trần tục, thế tục, tục lụy. Mình so sánh giữa hai đời sống: một đời sống thấp kém, thấp hèn, hèn hạ, phàm phu, vô minh, sân si, tham dục, bản ngã, hơn thua, tranh giành, tranh đấu, cạnh tranh, khẩu tranh, chiến tranh, hận thù với một đời sống ngồi lặng lẽ, bình an trong không gian thênh thang, bao la, giữa rừng trúc, giữa cội giác ngộ, giữa núi rừng mênh mông, trời cao đất rộng? Mình muốn chọn đời sống nào? Dĩ nhiên ta sẽ chọn một cuộc đời bình an, thoát tục giữa đại ngàn; muốn được sống một đời sống như vậy, dục xuất ly sanh khởi.

Như vậy, từ tưởng xuất ly, ta có những tư duy về xuất ly, từ đó đưa đến những mong muốn được thoát ra. Nghĩa là từ duyên với những pháp về xuất ly, từ đó có những hình bóng thoát ra, những suy nghĩ thoát ra, những sự mong muốn được thoát ra. Càng nghe, càng thấm, càng chiêm nghiệm, càng suy ngẫm, càng thâm nhập thì chắc chắn sẽ có một sự nhiệt tình sanh khởi, đó là sự nhiệt tình muốn thoát ra. Tâm ngao ngán, đến đây là vừa đủ, là quá ngán ngẩm, chán nản với biết bao sự hơn thua, tục lụy, đau khổ của thế gian, bây giờ được thoát ra nên mình được an lạc, được bình yên, được lắng dịu, được tĩnh lặng. Ngay giây phút đó, tâm vô cùng nhiệt tình với sự thoát ra, gọi là nhiệt tình xuất ly. Đây là sự mong muốn thoát ra nóng bỏng, nhiệt tâm, nhiệt huyết, nhiệt tình sanh khởi lên, đưa đến tầm cầu xuất ly. Đó là sự vận hành của tâm.

Tương Ưng Vô Thỉ

Tại sao ta lại muốn thoát ra như vậy?

Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây gậy được quăng lên hư không, khi thì rơi xuống đầu gốc, khi thì rơi xuống chặng giữa, khi thì rơi xuống đầu ngọn.

Một cây gậy từ trên cao rơi xuống chỉ có thể rơi theo một trong ba chỗ. Rơi tại gốc tượng trưng cho địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Rơi ở chặn giữa thì được làm người. Còn rơi ngay đầu ngọn là ví dụ cho việc được sanh lên Thiên giới. Mỗi một đời sống ta trải qua cũng như việc quăng gậy từ cao xuống, có khi rơi đầu gậy xuống, có khi rơi ở giữa, có khi rơi ở gốc. Chúng ta cứ đi từ đời sống này đến đời sống khác như vậy nhưng không hề hay biết, cũng không thể thoát ra được là vì không thấy được bốn chân lý về Khổ của bậc Thánh.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị khát ái trói buộc, dong ruổi, luân chuyển, khi thì đi từ thế giới này đến thế giới kia, khi thì đi từ thế giới kia đến thế giới này. Vì sao? Vì rằng không thấy bốn Thánh đế.

Này các Tỷ-kheo, bốn Thánh đế ấy là gì?

- Thánh đế về Khổ,

- Thánh đế về Khổ tập,

- Thánh đế về Khổ diệt,

- Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Cây Gậy)

Do vậy, chúng ta cần cố gắng rõ biết được thân thể, hình hài này, tâm thức này, những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng này là khổ. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết những gì đang vận hành trong thân tâm này làm cho mình khổ, rõ biết được nguyên nhân của khổ. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết thế nào là khổ diệt và làm sao đưa đến khổ diệt. Đó là những lời dạy của Đức Phật trong bài kinh “Cây Gậy”. Cũng trong Tương Ưng Vô Thỉ, vấn đề này được Đức Phật nhắc đến trong rất nhiều bài kinh như bài kinh “Nước Mắt”, bài kinh “Sữa”:

Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Nước Mắt)

Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Sữa Mẹ)

Sữa mẹ mà chúng ta đã uống trong dòng luân hồi này nhiều hơn cả tứ đại hải dương. Nước mắt mà chúng ta đã tuôn chảy còn nhiều hơn nước trong bốn biển lớn Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, Bắc Băng Dương.

Không nói đâu xa, chỉ nói ngay trong đời này, biết bao nhiêu những thứ làm mình ngao ngán giữa thế gian này. Bao nhiêu lần ta đã giận, bao nhiêu lần ta đã buồn, bao nhiêu lần ta thương, bao nhiêu lần ta trách, bao nhiêu lần ta oán, bao nhiêu lần ta hờn?! Thật vô cùng nhàm chán, ngán ngẫm với những điều đó. Hãy ngồi lại chiêm nghiệm, quán chiếu những sự thật này. Nhìn lại để thấy dòng đời từ lúc mình còn nhỏ, cho đến thanh niên, trung niên rồi lão niên. Nhìn trở lại là một chuỗi dài của sầu, bi, khổ; một chuỗi dài của nước mắt; một chuỗi dài của những bất an, lo lắng, sợ hãi, buồn đau, khổ sầu; một chuỗi dài của bất toại nguyện, không hài lòng, không bằng lòng, phật lòng, buồn lòng. Ngày những chỗ này nếu ta để tâm nghiền ngẫm, quán sát thì chúng ta sẽ tìm cầu sự thoát ra. Vì tới đây là đủ rồi, tới đây là ngao ngán, nhàm chán rồi, tới đây là quá lắm rồi, khổ như vậy là vừa đủ rồi, khóc như vậy là vừa rồi, sầu bi ưu não đã quá nhiều rồi, không muốn tiếp tục dòng luân hồi đầy bất an, đầy tai họa, đầy khổ sầu, đầy phiền não này. Hàng ngày ta cứ chiêm nghiệm, quán xét, nghiền ngẫm thật sâu sắc những điều trên để không quên sự thật về kiếp sống này. Thế Tôn dùng rất nhiều hình ảnh về dòng sống chết quay cuồng này, dòng của sự sanh ra rồi chết đi, chết đi rồi sanh ra, sanh ra rồi chết đi, chết đi rồi lại sanh ra… Một vòng quay không biết bắt đầu từ bao giờ đến bây giờ, không thể nêu được điểm khởi đầu của nó. Chúng ta cứ trôi dạt, chìm nổi, trôi lăn từ kiếp sống này qua kiếp sống khác vì bị bóng đêm che đậy, bị lòng tham ái, thèm khát, yêu thích trói buộc.

---

Ví như, này các Tỷ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: “Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Cỏ Và Củi)

Nếu chặt hết những cành cỏ, nhánh cây, nhành lá của cả địa cầu này, rồi chẻ nó ra thành từng que nhỏ, chất cao hơn núi, rồi bỏ xuống từng que, mà nói rằng que này là mẹ tôi, que này là cha tôi, que này là cô tôi, que này là dì tôi, que này là cậu tôi, que này là em tôi, que là vợ tôi, que này là chồng tôi, que này là cháu tôi… Ta cứ để hoài như vậy và nói đúng như Đức Thế Tôn dạy: đây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi… Tức là đây là mẹ tôi, đây là bà ngoại, đây là bà cố, đây là bà sơ… Và cứ nói hoài như vậy, dù cho hết tất cả những khúc cây, cọng cỏ ấy thì cũng không đủ để kể hết những người đã từng là người thân của mình trong dòng luân hồi này. Tất cả những người chúng ta thấy, không ai chưa từng làm cha, làm mẹ, làm vợ, làm chồng, làm anh em, con cháu trong dòng luân hồi này của mình. Cho nên, ta thấy có những người vừa gặp nhau đã nhận nhau làm chị em, làm anh em, đó là vì những kiếp gần đây của họ thì họ đã từng là anh chị em ruột với nhau, thế nên cảm thọ tình thân ấy vẫn còn, tư duy vẫn chưa hết, những cái tưởng cũ vẫn còn, vì thế khi xúc với nhau sẽ lại hiện ra… Những ví dụ này chứng tỏ vòng luân hồi này là bất tận của chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái tham ái trói buộc, phải chịu khổ đau và nước mắt.

“Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên”. Do mộ phần ngày một nhiều hơn nên rất nhiều nghĩa trang, nghĩa địa bị giải tỏa, không lâu là phải bốc mộ lên. Ngày càng ít chỗ chôn cất, người ta nghĩ rằng chết rồi thì thôi, đưa đi thiêu, đi rải tro cho gọn, không chiếm nhiều chỗ, để những chỗ đó kinh doanh, làm ăn. Mộ phần ngày càng lớn lên, thậm chí chúng ta giờ đang hiện diện ở đây nhưng những ngôi mộ cũ của mình vẫn còn nhiều lắm, nhưng ta không biết điều đó vì bị vô minh che đậy. Có những ngôi mộ cũ của mình vẫn còn đó mà ta không biết, không hay, không sáng, không rõ. Trong vòng luân hồi này, chúng ta đã chịu đựng biết bao nhiêu thống khổ, đau khổ, tai họa, vì vậy, đến đây “là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành”, thoát ra đối với tất cả sự vận hành của năm uẩn này.

---

Ví như, này các Tỷ-kheo, có người từ quả đất lớn này làm thành những cục đất tròn, lớn bằng hạt táo, cầm từng cục đất đặt xuống và nói: “Ðây là cha tôi, đây là cha của cha tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các người cha, cha của người ấy. Nhưng quả đất lớn này đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

Ví dụ từ quả địa cầu chia thành những cục đất tròn, lớn bằng hạt táo, chúng ta từng cầm cục đất ấy đặt xuống và nói đó là cha tôi, là cha của cha tôi, tức là đây là cha tôi, đây là ông nội tôi, đây là ông cố nội của tôi… Cứ làm như vậy cho đến khi lấy hết tất cả những viên đất nhỏ đó thì cũng không thể đếm hết được. Dù cho những viên đất nhỏ ấy đi đến đoạn tận thì cũng không thể đếm hết được cha của người đó, ông nội của người đó, ông cố của người đó. Qua đó, chúng ta hiểu rằng, trong vòng luân hồi này mình đã trôi lăn không biết bao nhiêu vạn, bao nhiêu tỷ, vô số vô lượng vô biên vô cùng vô thỉ kiếp.

Vì vô minh che đậy, vì tham ái trói buộc, ta chỉ nhìn thấy đời sống trước mắt này, nhìn thấy tấm thân này và cha mẹ ở hiện tại. Mà không biết rằng tất cả những người xung quanh mình, không có ai là chưa từng làm cha, làm mẹ, làm vợ chồng, anh chị em, con cháu của mình.

Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.

… các Ông chịu đựng con chết..

… các Ông chịu đựng con gái chết …

… các Ông chịu đựng tai họa về bà con …

… các Ông chịu đựng tai họa về tiền của …

Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật.

Trong một thời gian dài, chúng ta đã chịu đựng cha chết, mẹ chết, con gái chết, con trai chết. Chúng ta chịu đựng tai họa về bà con từ ông bà, cô bác, chú thím. Chịu đựng tai họa do tiền của, động đất, lũ lụt, sóng thần, bão táp, chiến tranh, trộm cắp, hãm hiếp, phóng hỏa, ung thư. Rơi vào cảnh bị đâm, bị chém, bị bứt tóc, bị lột đồ, bị tạt axit, vì gian dâm, ngoại tình với vợ với chồng của người khác. Chúng ta đã chịu đựng vô số những tai họa của bệnh tật, tai họa vì sát sanh, vì trộm cắp, vì tà dâm, vì nói dối, vì nghiện ngập, vì lừa đảo, vì ăn trộm, ăn cướp. Biết bao nhiêu những đời những kiếp chúng ta phải chịu đựng những nỗi khổ này.

Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Nước Mắt)

Nước mắt trong bốn biển không phải là nhiều nhất, mà nước mắt chúng sanh đã tuôn chảy mới là nhiều hơn. Những bài thiền quán này nếu chúng ta để tâm nghiền ngẫm sẽ vô cùng thấm đẫm. Chúng ta không phải chỉ mới khổ ở đời này thôi, mà đã trăm đời ngàn kiếp, vạn ức vô thỉ vô lượng hằng hà sa số kiếp đã khổ, nhưng vì vô minh, nói theo dân gian là “do ăn bát cháo lú” nên mình quên hết, đó là ví dụ cho sự vô minh, quên hết những gì ta đã trải quả. Không nói đâu xa, những chuyện lúc nhỏ ta từng làm ta cũng đã quên gần hết, có khi chuyện xảy ra vào tháng trước, tuần trước, thậm chí vài ngày trước mình cũng không nhớ, đừng nói chi vô số kiếp đã qua. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.

Thấy được như vậy, mỗi khi gặp tai nạn, tai họa, hoặc bị người khác chửi mắng, khinh khi, sỉ nhục thì mình thấy bình thường, vì mình đã chịu đựng gấp trăm gấp ngàn, gấp vạn lần chuyện như thế trong dòng luân hồi này, giờ bị như vậy cũng đâu có gì. Đúng sai là thế, đời là thế, thế gian là thế, ngũ uẩn là thế, tâm mê là thế, phàm phu là thế. Có gì đầu mà phải sân hận, phải tức giận, phải buồn phiền. Hãy nhìn mọi chuyện bằng sự thẩm thấu, thấu thị, minh kiến, xuyên thủng để thấy thân này chỉ là đồ bỏ, đáng bị vứt bỏ, quăng bỏ, liệng bỏ. Phát triển mạnh mẽ sự nhiệt tình, tầm cầu sự xuất ly. Đây mới là vấn đề quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta, cũng là việc ý nghĩa nhất, giá trị nhất, cần làm nhất để nhanh thoát khỏi đống khổ to lớn này.

Cũng như Vân Thủy Đường đang bị bốc cháy, mà mọi người ở đây cự cãi, phân bua đúng sai, không chịu bỏ chạy thì tất cả đều sai hết, không có trí, gọi là kẻ ngu, đều bị thần kinh. Trong khi xung quanh lửa cháy phừng phực mà không chịu lo chạy, mà còn đứng cãi nhau giành đúng sai, hơn thua, cao thấp, phải quấy, thị phi. Những người này một là mù, hai là điên, ba là vô cảm, bốn là không còn nhận thức, không còn tri giác. Đây chính là hình ảnh ví dụ cho chúng sanh bị đui mù, không nhìn thấy, không cảm nhận, không rõ biết được hiện trạng đầy lo lắng, bất an, tai họa, hiểm nguy của đời sống này, của dòng luân hồi oan nghiệt, đầy khốn nạn, hoạn nạn, hiểm nạn, tai nạn, ách nạn. Phải quán như vậy, nhắc như vậy, tư duy thường xuyên như vậy thì mới có thể không chấp trước bất cứ điều gì trên đời. Không có điều gì làm cho mình bận lòng, chỉ có một điều duy nhất là cố gắng ra khỏi tâm mê, tâm chấp thủ, tâm dục ái, tâm vô minh, bản ngã này. Đây mới là điều tối thượng. Cho nên xuyên suốt tạng kinh Nikāya Đức Phật nhấn mạnh rằng, một cố gắng cần phải làm chính là thấy được đây là khổ, thấy nguyên nhân của khổ, thấy sự diệt khổ và con đường thoát khỏi khổ. Chỉ bấy nhiêu mà thôi! Cố gắng nỗ lực tu tập để hàng giờ, hàng ngày ta đều thấy khổ, thấy được sự thật của dòng luân hồi này.

---

Ví như, này Tỷ-kheo, có một thành bằng sắt, dài một do tuần, rộng một do tuần, cao một do tuần, chứa đầy hột cải cao như chóp khăn đầu. Một người từ nơi chỗ ấy, sau mỗi trăm năm lấy ra một hột cải. Này Tỷ-kheo, đống hột cải ấy được làm như vậy, có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.

Giả sử, có một thành trì dài mười tám cây số, cao mười tám cây số, trong đó đựng đầy những hạt cải. Cứ một trăm năm, ta lấy ra một hột cải; cứ lấy như vậy cho đến khi không còn hạt cải nào thì cũng chưa thấm thía gì so với thời gian ta đã sanh ra chết đi với biết bao tâm dục, tham, khát ái, sân si, bản ngã, vô minh. Đời sống của ta còn nhiều hơn thời gian lấy hạt cải trong thành trì mười tám cây số đựng đầy hạt cải, cứ trăm năm lấy ra một hạt cho đến hết đi.

---

Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

—Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn đã đi qua, đã vượt qua?

—Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

—Tôn giả Gotama có thể cho một ví dụ được không?

Có thể được, này Bà-la-môn. Ví như, này Bà-la-môn, sông Hằng này từ chỗ nguồn bắt đầu đến chỗ nó chảy nhập vào biển. Số cát nằm ở giữa chặng ấy, thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một số hột cát, là số trăm hột cát, là số ngàn hột cát, là số trăm ngàn hột cát.

Nhiều hơn vậy, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì có thể đếm chúng được, là một số kiếp, một trăm kiếp, là một ngàn kiếp, là một số trăm ngàn kiếp.

Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này Bà-la-môn, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Sông Hằng)

Đức Phật ví dụ, từ đầu nguồn sông Hằng đến chỗ nhập vào biển, số cát nằm trong giữa đoạn ấy cũng không nhiều bằng số kiếp chúng sanh đã đi qua. Số kiếp ấy chúng ta đã trải qua là không thể đếm được. Vì khởi điểm là không thể nêu rõ được đối với sự trôi dạt, chìm đắm, lặn hụp của chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc. Không ai có thể đếm được số cát ở biển Vũng Tàu, Nha Trang, Sông Hằng, nhưng nhiều hơn thế là số kiếp mà ta đã đi qua.

---

Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Người)

Những bộ xương chúng ta đã mang trong dòng luân hồi này, nếu được gom lại, cất giữ không cho chúng bị mục rã ra thì nó còn lớn hơn dãy Trường Sơn, cao hơn đỉnh Everest, cao hơn mấy ngàn mét so với mực nước biển. Đây là sự thật được nhìn thấu bởi thiên nhãn, thánh nhãn, Phật nhãn, trí nhãn của Đức Thế Tôn.

Thế Tôn nói vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Chồng chất như xương người,

Chỉ sống có một kiếp,

Chất đống bằng hòn núi,

Bậc Ðạo Sư nói vậy.

Ðống xương ấy được nói,

Lớn như Vepulla,

Phía Bắc núi Linh Thứu,

Núi thành Magadha.

Người thấy bốn sự thật,

Với chân chánh trí tuệ,

Khổ và khổ tập khởi,

Sẽ vượt qua đau khổ,

Con đường Thánh tám ngành,

Dẫn đến khổ tịnh chỉ.

Người ấy phải luân chuyển,

Tối đa là bảy lần.

Là vị đoạn tận khổ,

Ðoạn diệt mọi kiết sử.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Người)

Ai minh kiến cái khổ, thấy rõ cái khổ, thấm thía cái khổ thì nhiều nhất tái sanh bảy lần nữa thì sẽ tạm biệt dòng luân hồi oan nghiệt này. Người này ly thân luân hồi, vĩnh biệt luân hồi.

----

Này các Tỷ-kheo, khi các Ông thấy sự khốn cùng, bất hạnh, các Ông phải đi đến kết luận: "Chúng ta chịu đựng như vậy trong thời gian dài này".

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Khốn Cùng)

Khi gặp những cảnh khốn cùng, tai nạn, hoạn nạn, bất hạnh, bệnh tật, hết ung thư này thì lại ung thư chỗ khác, hết tai nạn này lại gặp tai nạn kia. Nhưng cũng chính nhờ những tai nạn, hoạn nạn, nhờ gặp cảnh sầu bi khổ ưu não, với biết bao nước mắt phải tuôn chảy nên giờ này ta mới được lên núi tu học, được viễn ly, xuất ly, xả ly.

Minh Thành ngồi giảng pháp nhưng cũng đâu có được yên, con ruồi cứ bay tới bu quanh, vì nó cũng đang khát ái, đang đi tìm thức ăn. Nó cũng đang đau khổ, đói khát lắm. Những con kiến, chuột, gián, mèo, chó cũng suốt ngày kiếm ăn. Chúng ta cũng giống như vậy, suốt ngày cũng phải đi tìm thức ăn.

Chúng ta đã gặp biết bao tai nạn, khốn cùng, bất hạnh, tai họa, hoạn nạn, bệnh tật. Mình cũng chịu đựng những cảnh bị vu khống, sỉ nhục, khinh khi. Những lúc này, ta hãy kết luận, mình đã chịu đựng điều này trong một thời gian rất dài, “xưa rồi diễm ơi”, chuyện này mình đã chịu đựng biết bao ngàn vạn lần, chứ không phải chỉ mới đây. Ai chửi mình thì cứ tiếp tục chyửi đi, khinh khi sỉ nhục thì cứ tiếp tục khinh khi đi. Để mình mau hết nghiệp, sạch nghiệp rồi đi, đâu cần ở đây hơn thua, tranh giành để làm gì. Ai được rồi ai mất, ai khen rồi ai chê, ai khinh rồi ai nhục, ai hơn rồi ai thua, ai đúng rồi ai sai, cuối cùng cũng chỉ là một nắm mồ, một ngôi mộ, một nắm tro, một hủ cốt, một cái hòm, một tử thi, cuối cùng là một cái mả lạng bị người ta đạp lên trên đầu, không có ý nghĩa gì cả. Minh Thành xin nhắc lại: “Ngoài hành Pháp ra, tất cả đều vô nghĩa – Ngoài đạt Pháp ra, tất cả là nước mắt – Ngoài chứng Pháp ra, tất cả là khổ đau, là trống rỗng”.

Khi đọc Tương Ưng Vô Thỉ, chúng ta hãy để tâm nghiền ngẫm cho thật thấm thía, rồi nhìn thấy tất cả mọi sự việc trên đời này là vô nghĩa, vô ích, vô tích sự, vô giá trị, không có cái gì đáng để mình hơn thua, phải quấy trong cuộc đời này. Chỉ có điều duy nhất là thật nhanh chóng thể nhập được trí tuệ về khổ để mình mau thoát khỏi khổ. Đó là xuất ly.

---

Này các Tỷ-kheo, khi các Ông thấy an lạc, may mắn, các Ông phải đi đến kết luận: "Chúng ta chịu đựng như vậy trong thời gian dài này".

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh An Lạc)

Khi được gặp những chuyện vui vẻ, may mắn thì ta cũng biết rằng, mình đã trải qua những chuyện này từ rất lâu rồi, không phải chuyện mới mẻ. Mình đã từng hưởng thụ dục lạc trên thế gian, cùng những món ăn, những lời khen, quần áo đẹp, nhà sang trọng, xe đắt tiền. Tất cả những điều này mình đã trải qua hết, không có gì là xa lạ, là mới mẻ nữa. Những điều này xưa hơn quả đất, cũ hơn nắm mồ, khổ hơn nghĩa địa. Tất cả đều là trống rỗng, trống không. Bất cứ những chuyện khổ đau, vui sướng hay đều đều mình gặp đều phải đánh phá chúng.

Quý vị nhìn nghiệp quả trước mặt, Minh Thành ngồi chia sẻ pháp, mà cứ bị ruồi “tấn công” hoài. Nghiệp như hình với bóng, theo bén gót với ta. Chúng ta nhờ tu tập mới biết buông xả, tha thứ, hiểu được nhân quả nghiệp báo thì mình nhẹ nhàng. Minh Thành vừa nói vậy, chú ruồi đã bay đi rồi. Còn không biết tu thì mãi oan oan tương báo, sân hận. Như trước kia, có một câu chuyện trên truyền hình đang được phát trực tiếp làm người xem ngơ ngác vì không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Một cô này đang cầm micro nói chuyện trên kênh thì tự dưng vả vào mặt mình nhiều cái tát thật mạnh. Cuối cùng mọi người biết được là do có ruồi muỗi đậu trên mặt cô đó. Chúng ta thấy được, nhiều chuyện đến với mình nhưng mình không thể lường được đó là một trong bốn điều bất tư nghì, nghĩa là bốn điều không thể nghĩ bàn được, ở đây ta đang nói đến “quả dị thục của nghiệp là bất khả tư nghì”, không thể lường trước được điều gì. Chỉ có tu tập, chúng ta mới có thể nhiếp phục được cảm thọ, mới kham nhẫn. Bất cứ nơi đâu chúng ta cũng thấy được sự biểu hiện của nghiêp quả, không phải chạy lên rừng lên núi, ở trong thất là được yên. Có khi chỉ vì một con ong vo ve, gây ra tiếng ù ù trong khi thất đang yên tĩnh thì ta đã khó chịu. Cho nên chỉ có tu tập mới giúp ta nhìn mọi việc nhẹ nhàng hơn, còn không tu thì “nhìn đâu cũng thấy lu bu”, thấy cái gì cũng là ngục tù.

Cho nên, dù chúng ta có gặp khổ hay vui thì ta cũng thấy rằng những thứ này mình đã trải qua hết rồi, không có gì để vui hay buồn. Mà hãy thấy ngán ngẫm, ngao ngán, chán ngán, nhàm chán trước những niềm vui và nỗi buồn đó. Chỉ có Thánh Pháp là mình chưa được nghe, còn lại ta đều biết, đều trải qua, đều thấm thía, ngán ngẩm, ngao ngán lắm rồi, tới đây là vừa đủ rồi.

---

Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử, cùng đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà này, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử. Vậy Ta hãy thuyết pháp cho họ như thế nào để ngay tại chỗ ngồi này, tâm của họ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ".

4) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

5) Thế Tôn nói như sau:

-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

6) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, hay là nước trong bốn biển lớn?

7) -- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích, khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.

8) Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu Pháp Ta dạy như vậy!

9) Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.

10) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các Ông bị thương tích khi các Ông là bò, sanh ra làm bò trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?

11) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là trâu, sanh ra làm trâu trong thời gian dài...

12) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là cừu, sanh ra làm cừu trong thời gian dài...

13) ... khi các Ông là dê, sanh ra làm dê...

14) ... khi các Ông là nai, sanh ra làm nai...

15) ... khi các Ông là gia cầm, sanh ra làm gia cầm...

16) ... khi các Ông là heo, sanh ra làm heo...

Đức Thế Tôn dạy rằng, dòng máu chúng ta đã tuôn chảy trong dòng luân hồi này nhiều hơn nước trong bốn biển. Dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích, dòng máu sau bao nhiêu đời sanh ra rồi chết đi, cùng biết bao tham, sân, si, bản ngã, vô minh, giành giật, tranh đấu, chiến tranh trên cuộc đời này là nhiều hơn nước trong bốn biển, chứ không phải nước trong bốn biển là nhiều.

Dòng máu đã tuôn chảy do đầu bị thương tích khi làm bò trong thời gian dài, bị người ta đập đầu, mổ bụng, lột da, xẻ thịt, thọc huyết, lênh láng máu tươi suốt trăm đời ngàn kiếp trong dòng luân hồi này nhiều hơn nước trong bốn biển. Cũng vậy, khi làm cừu, làm dê, làm nai, làm gia cầm, làm mèo, làm chó, làm heo… thì dòng máu bị tuôn chảy do bị đập đầu, cắt cổ, mổ bụng, lột da, xáo thịt nhiều hơn nước trong Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, Bắc Băng Dương. Thật là xót xa, thật là đau xót cho dòng sống chết quay cuồng, xoay vần đầy oan nghiệt, tai nạn, ách nạn, khốn nạn này. Vậy mà ta cứ sống một cuộc đời vô cảm, trơ trơ, vô tư, sống như không có chuyện gì xảy ra, sống say chết mộng, chết trong tức tưởi, chết trong nghẹn ngào, chết trong khổ đau, chết trong sự bức tử, quạnh tử, đột tử. Vì vô minh che đậy, vì tham ái trói buộc, mà ta không nhìn thấy được hiểm họa của luân hồi, oan nghiệt của dòng sống chết, thảm họa của ngũ uẩn, tai họa của tứ đại, khổ ách của kiếp làm người, kiếp chúng sanh này. Cứ sống trong mù lòa, trong hôn mê, trong đuôi, trong chột, trong điếc, trong điên loạn, trong dại khờ, trong ngu ngơ, trong mộng mơ, trong ảo tưởng, ảo giác, ảo vọng, ảo huyễn. Thật là đáng thương cho chúng ta! Thật là đáng xót xa cho chúng ta! Thật là đáng tội nghiệp cho chúng ta! Vì ngu si, vì vô minh, vì không thấy không biết nên ta làm khổ cho chính mình, làm khổ cho hữu tình chúng sanh, làm khổ cho muôn loài. Vậy mà mình hỉ hả, vui thích, vui sướng trong sự đau khổ, nước mắt và máu của chúng sanh khác. Vì sướng cái miệng, đã cái bụng mà những chúng sanh khác phải quằn quại, đau đớn, rồi mình ăn qua nuốt lại. Mình xẻ thịt nó rồi nó xẻ thịt lại mình, mình nhai nó rồi nó nuốt lại mình, mình ăn nó rồi nó xơi lại mình. Dòng ăn nuốt đó cứ xoay vần, xoay vần trong oan nghiệt, oan trái, oan gia, oan ức, oán thù.

17) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, làm kẻ trộm làng, bị bắt trong thời gian dài...

18) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, ăn cướp đường, bị bắt trong thời gian dài...

19) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, tư thông vợ người, bị bắt trong thời gian dài chớ không phải là nước trong bốn biển lớn.

20) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo... là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành...

Dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, làm kẻ trộm làng, bị bắt trong thời gian dài... dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, ăn cướp đường, bị bắt trong thời gian dài...dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, tư thông vợ người… dòng máu do ngoại tình, gian dâm, giật chồng, cướp vợ của người khác và bị phát giác, phát hiện ra, rồi bị tạt axit, cắt tóc, lột đồ, đánh ghen kinh hoàng, khiếp đảm, thậm chí giết người, giết cả gia đình là nhiều hơn nước trong bốn biển lớn.

Vì sao vậy? Dòng sống chết này là không thể thấy được điểm khởi đầu, mà chúng sanh bị hôn mê trong hắc ám, trong vô minh che đậy; bị thèm khát, đói khát, khao khát trong sự khát ái trói cột. Bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu thân xác, xương chất chồng như núi, máu chảy ra như biển. Những sầu bi khổ ưu não tịch tụ từ vô lượng kiếp cho đến nay. Đến đây là vừa đủ để nhàm chán, đến đây là vừa đủ để từ bỏ, đến đây là vừa đủ để giải thoát khỏi tất cả các hành.

21) Thế Tôn nói như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

22) Và trong khi lời dạy này được tuyên bố, đối với ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tâm các vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

(Tương Ưng Bộ Kinh V, bài kinh Hơn Ba Mươi)

Qua bài kinh này, Đức Phật giúp ba mươi vị Tỳ-kheo chứng Thánh quả A-la-hán.

---

Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ...

Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm cha...

Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm anh...

Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm chị...

Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm con trai...

Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm con gái.

Đức Thế Tôn dạy rằng, không dễ tìm được một chúng sanh trong dòng luân hồi này chưa từng một lần làm mẹ chúng ta. Không phải người me hiện tại của chúng ta mới là mẹ mình, mà tất cả chúng sanh đều đã từng làm mẹ mình. Chúng sanh ở đây là bao trùm tất cả, chỉ tính con người thôi là khoảng mười tỷ người, còn cả những con chó, con mèo và vô số những con vật khác. Trong tất cả những chúng sanh đó, không dễ gì tìm được một chúng sanh chưa từng một lần làm mẹ, làm cha, làm anh, làm chị, làm con trai, làm con gái của chúng ta trong dòng luân hồi này.

Dài xa như vậy, nước mắt như vậy, xương máu như vậy, huyết lệ như vậy, chìm đắm như vậy, trôi dạt như vậy, thống khổ như vậy là đủ để chúng ta nhàm chán, quá đủ để chúng ta từ bỏ, quá đủ để chúng ta thoát ra tất cả sự vận hành trong những dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, chấp thủ, ngu si, mê muội trong đời sống ngu si, hôn mê, si ám này.

Chiêm nghiệm như vậy, tư duy như vậy, quán chiếu như vậy, nghiền ngẫm như vậy, an trú như vậy thì chúng ta sẽ có được sự xuất ly tầm cầu. Từ cái nhiệt tình muốn thoát ra, chúng ta bắt đầu có sự tìm cầu thật sự bằng hành động, bằng ngôn ngữ, bằng suy tư để thoát ra. Do đó, bài kinh Có Nhân, Đức Phật dạy rằng:

- Này các Tỷ-kheo, do tầm cầu xuất ly tầm cầu, vị Đa văn Thánh đệ tử thực hành chánh hạnh theo ba xứ: thân, ngữ, ý.

Thân chúng ta sẽ tránh được sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nghiện ngập, say sưa rượu chè; từ bỏ được dục, ái, thèm, muốn trong cuộc đời, những ngũ dục hạ liệt của thế gian này. Tâm chúng ta hướng đến sự thoát ra, nhàm chán, viễn ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn.

Trên đây là chúng ta kết hợp bài kinh “Có Nhân” trong phần giải thích rộng về sự xuất ly, lộ trình diễn biến của tâm trong sự viễn ly, xuất ly, xả ly, hướng đến giải thoát. Như vậy, sự xuất ly là có nhân, không phải là không có nhân. Chúng ta cần nuôi dưỡng tâm xuất ly, nuôi lớn tâm xuất ly, làm cho lớn mạnh tâm xuất ly, tăng trưởng, phát triển, quảng đại tâm xuất ly để thoát ra khỏi dòng luân hồi đầy nước mắt, đầy máu, đầy khổ đau, đầy sầu bi ưu não.

Trình pháp

Ni sư Huệ Lý:

Dạ con chân thành đảnh lễ biết ơn trên Đức Thế Tôn bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Con chân thành đảnh lễ biết ơn trên Bậc Đạo Sư bậc pháp nhãn thù thắng vi diệu. Con chân thành đánh lễ biết ơn trên Sư phụ, bậc Minh Sư tôn kính. Con chân thành đảnh lễ biết ơn trên chư tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí hiền thiện.

Dạ con kính bạch trên sư phụ, mấy ngày qua con chiêm nghiệm con nhìn thấy những tâm ái trong con. Những bài kinh sư phụ giảng dạy gần đây, con thấy thật là khủng khiếp, khi nhìn sâu vào ngũ uẩn này con thấy tất cả các pháp hiển lộ một cách khủng khiếp. Khi chiều nay sư phụ giảng xúc sanh ra thọ, tưởng, hành thì trí trong con sáng hơn nữa. Mặc dù trước đây con cũng có chiêm nghiệm những bài pháp sư phụ dạy nhưng bài giảng chiều nay làm sáng tỏ hơn.

Ví dụ khi con đi với một bạn đồng tu nhưng bạn đó đi không được nhẹ nhàng. Lúc đó, tai xúc tiếng, sanh ra thọ khó chịu, tưởng có hình ảnh bạn đó đi không nhẹ nhàng, cùng hình ảnh tự thân con đi trong nhẹ nhàng, khi đó cái thọ cảm thấy mình hơn người khác, nó có hỷ. Hành thì nói mình tinh tấn hơn người kia, mình nhẹ nhàng hơn người kia. Rồi bao nhiêu pháp kéo theo, chấp rằng có mình, có người, rồi có ta, tôi, nhân ngã bỉ thử, cống cao ngã mạn, hướng ra bên ngoài nhòm ngó người ta rồi có bản ngã. Cùng rất nhiều pháp nữa chạy theo, con thấy thật là khủng khiếp cho cái thọ, tưởng, hành này.

Hơn nữa, không phải một ngày nó vận hành một lần, mà chỉ cần xúc cái gì là thọ, tưởng, hành liền vận hành. Con ví dụ, khi tai xúc với tiếng Tụng Pháp Bảo thì thọ, tưởng, hành liền sanh khởi. Nếu người tụng hay thì thọ, tưởng, hành chạy theo cái người đọc hay, thọ hoan hỷ, rồi nó nói người này tụng hay. Còn người tụng dở thì ý hành nói người này tụng dở. Các pháp cứ vận hành trong thọ, tưởng, hành không lúc nào yên.

Bây giờ con được chia sẻ, được trình pháp, con nhớ lại trước khi Sư phụ giảng pháp thì cái dục trong con cũng có thôi thúc, nó nói chiều nay mình muốn trình pháp, không biết sư phụ có cho trình pháp hay không. Con thấy cái dục này thật khủng khiếp, thọ, tưởng, hành này thật là khủng khiếp. Được ai khen một chút là các pháp liền vân hành, do duyên tai xúc với tiếng khen thì con có thọ hỷ, ví dụ có bạn đồng tu khen con “chiều nay cô trình pháp hay quá” là bắt đầu thọ, tưởng, hành trong con vận hành. Thọ thì hỷ, tưởng hiện lên hình ảnh tự thân mình, cùng hình ảnh lời mình đã nói; rồi hành suy nghĩ thầm “không biết lúc chiều mình nói cái gì mà người ta khen hay”, trong đó có dục, có hỷ, rồi thọ thấy vui, kéo theo đó là bao nhiêu tự ngã. Rồi dục khởi lên, mình muốn mở lại nghe mình nói cái gì mà người ta khen.

Con rất thấm thía những lời dạy của sư phụ trong cái bài kinh Ái: Do duyên ái nên tìm cầu, do duyên tìm cầu nên có được, do duyên có được nên có quyết định, do duyên quyết định nên có dục tham, do duyên dục tham nên có đắm trước, do duyên đắm trước nên có chấp trước, do duyên chấp trước nên có xan tham, do duyên xan tham nên có thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, cạnh tranh, vọng ngữ và các ác bất thiện pháp khởi lên. Giờ con mới thấm câu: các ác bất thiện pháp khởi lên khi thọ, tưởng, hành vận hành. Rất nhiều pháp ác khởi lên trong đó có cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người, hướng ra bên ngoài rồi dòm ngó rồi đủ tất cả các thứ. Mà con nhìn vào thọ, tưởng, hành của mình không phải mỗi ngày nó khởi lên một lần mà nó khởi lên rất là nhiều lần, mà đa phần là những ác pháp. Nếu con trong khi đó mà không bị vô minh che đậy thì con dập được ngay; còn phút giây đó mà con bị vô minh che đậy là con bị nó dẫn đi nên con rất sợ cái tiếng khen tiếng chê. Vì tiếng khen như vậy thì tiếng chê cũng vậy, tiếng khen thì hỷ lạc, tiếng chê thì khổ, con thấy rất sợ hãi ngũ uẩn này.

Con cảm ơn trên Đức Phật đã chỉ rõ cho chúng con biết ngũ uẩn vận hành như vậy và con cảm ơn trên sư phụ đã chỉ rõ ra cho chúng con nhìn thấy những cái vận hành trong thân tâm này từ vô thỉ kiếp đến nay. Nó dẫn dắt, nó lèo lái để tự con làm khổ con. Tại vì mỗi khi ngũ uẩn trong thân tâm con khởi lên thì không ai biết, chỉ mình con biết rõ chính mình thì con thấy rất là khổ. Vì bị ngũ uẩn dẫn dắt, rồi tạo ra nghiệp thiện hoặc ác. Ngũ uẩn luôn cả ngày luôn dao động, không có lúc nào được tĩnh lại.

Đó là những gì con chiêm nghiệm trong những ngày qua khi được sư phụ dạy về dục hỷ, dục tham và khát ái, con xin trình lên sư phụ, quý thầy, quý sư cô. Con cũng mới tu nên trong khi trình pháp cũng có bản ngã, cùng những tâm cống cao ngã mạn, con in trên sư phụ thương tưởng chỉ dạy thêm cho con. Con quyết một đời này đánh tan những ác pháp, hoàn thiện những thiện pháp để được thoát luân hồi sanh tử. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Ni sư Thông Tịnh:

Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, con chân thành đảnh lễ Bậc Đạo Sư bậc pháp nhãn thù thắng, con chân thành đánh lễ trên Sư phụ, bậc Minh Sư tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên quý thầy, quý ni sư, quý sư cô cùng các bậc Hiền trí. Kính bạch sư phụ, mấy hôm nay được nghe sư phụ giảng về khát ái thì trong con có những pháp dần dần hiển lộ. Trước đây con cũng có tu học, cũng nhiệt tâm nhưng không được gặp được dòng Thánh Pháp Nikāya nên cứ mải mê với tâm mù lòa của mình, chạy đi tìm dục cầu, tìm bằng cấp, tìm học vị, tìm địa vị nhưng cũng phước duyên cho con, cuối cùng con cũng gặp được Thánh Pháp.

Khi con nghe Bậc Đạo Sư và Sư Phụ giảng thì lúc đó con xuất ly giới, xuất ly tư duy, xuất ly tầm cầu, xuất ly dục. Con xuất ly những cái bằng cấp của mình, xuất ly thiền thất của mình và tư duy làm sao làm sao đến được núi để cầu giáo pháp, để mình được tu học. Con quyết định đốt hết bằng cấp và cái dục trong con muốn về Linh Quy Pháp Ấn để cầu thầy học pháp, để thực hành pháp, được học giáo pháp, được sự hướng dẫn của sư phụ.

Sáng nay, sư phụ giảng như khúc gỗ trôi sông, không trôi dạt vào bờ này, không trôi dạt vào bờ kia, không chìm đắm giữa dòng, con thấy sao mà vi diệu quá, hay quá. Đức Thế Tôn đã chỉ từng ly từng chút, bởi vì do sáu căn tiếp xúc với sáu trần sanh ra sáu thức, đó là sáu loại tham ái đưa mình đi vào nẻo sanh tử luân hồi từ vô lượng kiếp, nay làm con này, mai làm con kia đi trong mùa lòa, không thể nào thoát ra được. Đối với người xuất gia chúng ta cần phải nhiếp phục sáu căn, sáu trần, sáu thức và không bị nước xoáy, không bị mắc cạn. Bởi vì mắc cạn là sẽ sanh tâm ngã mạn, nếu không khéo léo thì mình cũng dễ bị ngã mạn, ví dụ mình nghĩ rằng, mình gặp được Chánh Pháp, còn những người kia không gặp được Chánh Pháp thì càng nguy hại nữa. Chính vì vậy, phải khéo léo và không để cho giới pháp trong mình bị mục nát. Phải chắc chắn như khúc gỗ kia, không bị vướng mắc, không bị mắc cạn và hướng về nước bàn, xuôi về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn.

Con cũng thực hành thiền quán, con thường quán huyệt mộ trước mặt con và con đã nằm xuống đó, nằm sâu vào miệng đất lạnh như vậy thì còn cái gì của mình nữa. Mà không còn cái gì của mình, không còn cái gì của ta, không còn người, không còn ta, khi an trú trong đó thì tâm dần dần tĩnh lặng và không còn dao động. Sau bao năm bao đời bao kiếp bị chôn vùi, bị che lấp bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, chúng con sống trong bức màn vô minh tối tăm, hôm nay hội đủ phước duyên Lành, nhờ sự dẫn dắt của Đức Thế Tôn, con gặp được Chánh Pháp gặp được Bậc Đạo Sư pháp nhãn thù thắng, gặp được bậc Minh Sư đã ngày đêm chỉ dạy cho chúng con. Con chân thành đảnh lễ cúng dường quý ngài tam bái. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Phật tử:

Con xin chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, con xin chân thành đảnh lễ Sư Phụ tôn kính, con xin chân thành đảnh lễ quý Chư Tăng Ni cùng các bậc Hiền trí. Con xin trình bày dòng cảm thọ của con.

Lời đầu tiên con muốn nói, đây là lần đầu con có cơ hội được tiếp xúc với Phật giáo và thật sự đối với con những ngày qua được ở chùa là thời gian giá trị nhất cuộc đời của con. Hơn một tuần ở chùa, con nghĩ rằng đây là thời gian con đã khóc nhiều nhất nhưng những giọt nước mắt của con không phải là buồn, mà là hạnh phúc. Con hạnh phúc bởi vì thời gian con ở chùa, con được học tập và con đã có một cuộc cách mạng rất là chấn động trong nội tâm của mình, giống như một người vô minh, tìm thấy ánh sáng. Một ánh sáng rất mạnh chiếu vào trong một cái tâm rất là tối tăm. Con có rất nhiều cảm thọ, ngày nào con cũng được học và gần như con đều khóc nhưng thật sự đó là những giọt nước mắt rất giá trị, không phải là những giọt nước mắt vô thường nữa. Con tin chắc rằng đây cũng sẽ là khoảng thời gian giá trị nhất đối với tất cả bậc Hiền trí đã đến với chùa nhà mình. Con rất là may mắn khi có Sư Phụ, cùng Chư Tăng Ni đã chăm sóc và quan tâm con.

Bài học lớn nhất con nghĩ mình đã được học ở đây đó chính là bài học về tâm ham muốn Sắc Dục, đây là điều mà trước đây con chưa bao giờ con nghĩ rằng nó lại khiến cho mình trở nên khổ sở đến như vậy. Nhờ có may mắn, có phước báu nên mình có được một hình hài khỏe mạnh, xinh đẹp nhưng mình vẫn luôn chạy đua với nó, vẫn luôn khổ đau, vẫn luôn phải đi tìm câu hỏi “làm thế nào để đẹp hơn nữa, làm thế nào để tốt hơn nữa” và rồi nó nhấn chìm, nó lôi mình đi. Nếu không có mặt tại đây ngày hôm nay, con nghĩ rằng con đang bị nhấn chìm và chết dần. Và ánh sáng của Phật giống như một chiếc phao, cho con một cơ hội sống một cuộc đời mới. Trước khi con lên chùa hai ngày thì con có làm một cuộc tiểu phẫu, đây cũng chính là cái chiêm nghiệm cá nhân của con và thật sự là nó đã ứng vào người mình. Bây giờ đôi mắt của con rất là yếu, rất là đau chỉ vì mình tham ái, mình mong cầu, mình tham vọng một cái điều rất là vô minh. Trong khi thân xác này rồi cũng sẽ không phải của mình, rồi cũng sẽ lụi tàn mà tại sao mình đau khổ như thế.

Một bài học nữa con cảm thấy thật sự rất giá trị cho con đó là một câu nói thầy làm thức tỉnh con: “tâm của mình mà dơ bẩn thì mình sống làm gì, mình chết đi còn hơn” và trước đấy thì con không hề biết mình sống một cách buông lung, không biết sợ. Mình sống buông thả cảm xúc, để cái thọ kéo mình đi rồi hành rồi tưởng, tất cả mọi thứ nhấn chìm con, như bóng tối đang nuốt chửng một người trẻ. Những người tu sĩ, thật sự con nghĩ rằng các vị phải rất có phước báu mới có cơ hội được ngồi ở đây, được học hành, được Phật dẫn lối. Còn còn, không biết con có duyên hoặc là có phước báu để trở thành một một người tu tập chân chánh hay không nhưng con tin chắc rằng, con sẽ trở thành một người hoàn toàn khác. Dù là ở đời hay là ở bất kỳ đâu thì Phật cũng sẽ là ánh sáng của con, ít nhất là con sẽ trở thành một con người tốt hơn, một con người sống có giá trị, đạo đức.

Thật sự con là một người rất ngu muội, trước đây ở ngoài đời, những cái gì mình tự hào nhất thì bây giờ mình nhận ra nó là những thứ ngu xuẩn nhất và đang giết chết chính mình. Một cái điều nữa mà con đã làm trong ngày hôm nay con nghĩ là cần cho chính bản thân mình và nếu không hành động thì cũng không sẽ không bao giờ hành động, đó là sáng ngày hôm nay, con đã từ bỏ một công việc kinh doanh của con tại ngoài đời, đây là công việc kinh doanh liên quan đến nhà hàng nhưng mà là đồ mặn. Con nghĩ rằng mình đã sát sanh rất là nhiều, mình kinh doanh trên mạng sống của rất là nhiều sinh linh mà mình không biết, vậy mà mình hả hê, mình vui vẻ, mình kiếm những đồng tiền rất là đáng sợ.

Còn rất rất nhiều điều nữa mà con phải thực hiện. Mọi thứ con không dám khẳng định, con cũng không dám hứa nhưng khi đã về đây với Phật đã được Phật giác ngộ thì con tin chắc rằng tâm của con một phần nào đó cũng đã được gột rửa. Con cũng không biết nói gì hơn, thật sự con rất biết ơn những ngày qua Sư Phụ, cùng Chư Tăng Ni đã cho con cơ hội được học tập, được sống cuộc đời thứ hai. Con xin chân thành đảnh lễ, con xin hết ạ.

Từ bỏ sát nghiệp

Lành thay! Lành thay! Thiện lành thay! Cô có sự cảm nhận Pháp rất là tốt và có sự thay đổi từ Tà Mạng sang Chánh Mạng (tức là nuôi sống mạng chân chánh). Tất cả đại chúng cho tràng vỗ tay thật lớn. Đây là sự chiến thắng được lòng tham, lòng ích kỷ của mình; chiến thắng được nghiệp sát. Hãy hoan hỷ, vui vẻ, hạnh phúc vì mình có một quyết định sáng suốt, thông minh, trí tuệ như vậy nhờ vài ngày ở núi rừng. Đây là thu hoạch lớn trong những ngày cô được tu học trong Chánh Pháp. Mọi người hãy viết bài thu hoạch về sự tu tập. Từ ngày lên đây tới giờ học được cái gì, tiến bộ được cái gì hãy viết bài trình pháp. Các vị mới lên tu cũng cố gắng tập trình pháp, đừng ngại, vì điều này rất là tốt cho mình.

Chỉ vì một miếng ăn

Mà lộn gan lên đầu

Chỉ vì một miếng ăn

Có thể mất sinh mạng

Tạo ra vô số nghiệp

Để ngon miệng đã bụng

Cắt cổ rồi nhổ lông

Mổ bụng lột thịt da

Hầm xương lấy óc tủy

Ôi rùng rợn, kinh hoàng

Ôi hải hùng, khiếp đảm

Bầm thịt rồi chặt xương

Thọc huyết lệ tràn tuôn

Những tiếng kêu tức tưởi

Những tiếng kêu đau khóc

Những tiếng kêu bi thương

Những tiếng kêu xé lòng

Cắt cổ nhổ lông móng

Phanh thây lột thịt da

Chiên xào nấu xé nướng

Quằn quại tiếng rên la

Vui sướng trong đau đớn

Thích thú trong hải hùng

Hả hê trong máu lệ

Hưởng thụ trong lửa nung

Ôi khổ không kể xiết

Ôi khổ không thể tả

Ôi khổ không nói được

Ôi khổ không nên lời

Với tâm tức giận ấy

Với thọ oán thù này

Với lòng căm phẫn hận

Với cảm giác oan gia

Chúng sẽ tìm trả thù

Phục mối hận uất ức

Trả mối thù tức tưởi

Oán hận phải mạng chung

Oan oan theo tương báo

Nghiệp quả càng chất chồng

Vay trả rồi trả vay

Ăn nhau giết nuốt nhau

Xé xác phanh thây nhau

Vòng quay của nhân quả

Vòng quay của nghiệp báo

Vòng quay của hận thù

Vòng quay của oan gia

Cái luân hồi bất tận

Mãi xoay vần trả vay

Vĩnh viễn tìm báo oán

Vô lượng kiếp đọa đày.

Mong rằng chúng ta ý thức sâu sắc về nhân quả, về nghiệp báo, về tội lỗi của sự sát sanh này để từ bỏ những cái tà mạng, những sự nuôi mạng bất chánh, chúng sẽ làm cho mình khổ đau. Đức Phật dạy người cư sĩ từ bỏ bán thịt, từ bỏ bán rượu, từ bỏ bán thuốc độc, bán vũ khí, bán người. Đó là những nghề nghiệp bất lương bất chánh, gọi là Tà Mạng, sẽ đưa mình đến đau khổ trong hiện tại và tương lai dài.

Vừa rồi chúng ta đã nghe Tương Ưng Vô Thỉ, chúng sanh đã từng ăn nhau, nuốt nhau, chặt đầu, mổ bụng, lột da, xẻ thịt. Đó là những hình ảnh ở trong kiếp tương lai chúng ta sẽ chịu. Giờ đây, mình không muốn mình khổ thì không nên làm cho những chúng sanh khác khổ. Quyết định từ bỏ nghề sát sanh của cô là một quyết định rất là sáng suốt, rất là thành tựu, rất là thành công trong những ngày về núi tu tập. Mong rằng tất cả chúng sanh đều thấy được nhân quả nghiệp báo, thấy được những tai họa sát sanh, để luôn sống trong tâm từ.