Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Vu Lan nhớ mẹ 2 - BIẾT ƠN NHỚ ƠN ĐỀN ƠN CHÂN NHÂN

2026-03-03 00:54:46
Vu Lan Nhớ Mẹ 2

BIẾT ƠN - NHỚ ƠN - ĐỀN ƠN CHÂN NHÂN

-Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Những bậc đáng tôn kính PAGEREF _Toc74728118 \h 1

II.Nuôi dưỡng hạt giống biết ơn PAGEREF _Toc74728119 \h 7

III.Thực tập tâm biết ơn PAGEREF _Toc74728120 \h 10

IV.Ươm mầm hiếu hạnh PAGEREF _Toc74728121 \h 13

Những bậc đáng tôn kính

Kính thưa đại chúng, chúng ta còn trong tháng bảy âm lịch là mùa báo hiếu. Chúng ta sẽ cùng ôn nhắc lại tinh thần biết ơn, nhớ ơn, cung kính, tôn trọng những ân nhân của mình. Pháp thực tập, biết ơn và cung kính này hết sức quan trọng, làm cho thân tâm ngọt ngào, làm cho đời sống hòa kính, dào dạt trong sự biết ơn.

Minh Thành rất ưa thích, hoan hỷ, hạnh phúc ở trong sự biết ơn. Ví dụ khi thỉnh chuông thì Minh Thành nghĩ tới người cúng chuông; khi Minh Thành bưng ly nước lên uống thì hình bóng của người cúng dường ly nước hiện ra; khi mặc cái áo, nếu Minh Thành nhớ người nào cúng thì hình bóng của người cúng hiện ra; mỗi khi ăn cơm Minh Thành nhớ tới những người vất vả, mồ hôi, nước mắt, thậm chí là máu để có được bữa ăn cho mình. Chính vì vậy, trong thân tâm của Minh Thành thường dào dạt ngọt ngào ở trong thế giới của biết ơn, nhớ ơn và nghĩ rằng có dịp mình sẽ đền ơn bằng pháp, bằng trí tuệ cho những người mà mình mang ơn. Nhất là tháng bảy này gợi nhớ, gợi thương cho chúng ta sống trong sự nhớ ơn.

Tại sao có những người con lại bất hiếu với cha mẹ? Đó là vì không nhớ ơn, không biết ơn mới có những lời nói, hành động làm cho cha mẹ đau khổ. Vừa rồi trên mạng đăng tải một đoạn clip Minh Thành xem mà nhói tim gan. Cô này đánh trên đầu, tát trên mặt mẹ của cô, rồi hốt những rác, phân đổ lên người mẹ của mình, do cô tức giận vì mẹ cô không để lại gia tài cho cô, mà cô không biết rằng mẹ cô để lại sinh mạng cho cô ấy. Khi con xem hình ảnh đó thì tim nhói lên, đau thắt, thấy xót thương cho cuộc đời đời vô minh, cho những người con ngỗ nghịch, bất hiếu. Cô ta đánh trên đầu, tát trên mặt rồi kêu bằng mày tao, chửi những lời nói tục tằng đối với chính mẹ đẻ của mình. Cả cộng đồng mạng chấn động hết, bức xúc, phẫn nộ. Có những người không dám nhìn do sẽ nhói tim, đau đớn vì một người con đối xử với chính mẹ ruột của mình như vậy. Thật là đau xót, xót xa, đau khổ cho những tâm thức vô minh, cho những tâm thức si mê chỉ biết tiền của mà không biết được sự hy sinh vĩ đại của cha mẹ. Không có mẹ, không có cha làm sao có sinh mạng của mình? Làm sao có đời sống của mình? Làm sao có một con người đang hiện hữu?

Thật sự rất đau lòng cho những cảnh diễn ra trước mặt chúng ta. Hằng ngày, phải chứng kiến những cảnh tượng, phải nghe phải thấy những tin tức đập vào mắt mình là những sự bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu, những sự vong ơn bội nghĩa, sự tàn nhẫn, tàn ác, vô đạo đức như vậy. Đó là tiếng chuông cảnh báo, tiếng đại hồng chung vọng lên, cho chúng ta biết rằng đạo đức sụp đổ, hiếu thảo không còn được bao nhiêu, ân nghĩa, tình nghĩa càng ngày càng bị suy mòn, sụp đổ. Con người chỉ biết tham lam, sân hận, si mê, bản ngã, hành hạ chính người sanh thành, dưỡng dục ra mình.

Chúng ta sẽ tìm hiểu bài kinh “Mànatthada”, Tương Ưng Bộ Kinh:

“Lúc bấy giờ, Bà-la-môn tên Mànatthada trú ở Sàvatthi. Vị này không cung kính mẹ, không cung kính cha, không cung kính Đạo sư, không cung kính anh trưởng.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp, có đại chúng đoanh vây.

Rồi Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ như sau: "Sa-môn Gotama nay đang thuyết pháp có đại chúng đoanh vây. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama nói chuyện với ta, ta cũng sẽ nói chuyện với Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama không nói chuyện với ta, ta cũng sẽ không nói chuyện với Sa-môn Gotama ".

Rồi Bà-la-môn Mànatthada đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền đứng một bên và im lặng.

Và Thế Tôn không nói chuyện với Bà-la-môn ấy.

Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này không biết gì hết ", bèn muốn trở về.

Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết được tâm tư của Bà-la-môn Mànatthada, liền nói lên bài kệ với Bà-la-môn Mànatthada:

Hỡi này Bà-la-môn,

Kiêu mạn không có tốt,

Ở đây không có ai,

Bà-la-môn nên biết.

Ông đến, mục đích gì,

Hãy nói lên cho biết?

Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: "Sa-môn Gotama biết tâm tư của ta ", cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, lấy miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay thoa vuốt và nói lên tên của mình:

-Tôn giả Gotama, con là Mànatthada. Tôn giả Gotama, con là Mànatthada.” (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 1, Chương VII Tương ưng Bà La Môn, II. Phẩm Cư Sĩ, bài kinh Mànatthada)

Trong bài kệ, Đức Thế Tôn nói kiêu mạn, kiêu ngạo, ngã mạn là không tốt. Khi đó ông ấy cảm thấy nói trúng ý, trúng tim đen của mình, ông ấy mới suy nghĩ: “À, Sa môn Gotama biết tâm tư của ta!” nên ông ấy tâm phục, khẩu phục rồi cúi đầu xuống lạy Đức Phật. Tức là ông này đến thử xem lời đồn về Đức Phật là bậc tôn kính ở trên đời có là thật không, những suy nghĩ của ông Đức Thế Tôn có biết không? Nhưng khi đến không thấy Đức Phật nói gì nên người này nghĩ Phật không biết gì hết, chỉ là tiếng đồn thôi chứ không có thật. Khi thấy ông ấy định bỏ đi thì Đức Phật mới nói bài kệ đừng kiêu ngạo, đừng ngạo mạn, đừng ngã mạn, như vậy là không tốt. Khi nghe bài kệ Phật nói thì ông ấy sụp xuống lại và nghĩ: “Chết rồi, thật sự Gotama biết tâm niệm của ta, ta suy nghĩ gì ông ấy biết hết!” Ông ấy lạy dưới chân Đức Phật, ông ấy còn dùng miệng hôn bàn chân của Đức Phật, lấy tay thoa vuốt bàn chân rồi ông ấy nói lên tên của mình: “Thưa tôn giả Gotama, con là Mànatthada!”

Quý vị thấy đó, một người với tâm kiêu ngạo, ngã mạn, bất hiếu, bất kính, ngang ngạnh, ngang tàng đối với anh em, cha mẹ trong gia đình nhưng khi tới gặp Đức Phật thì Đức Phật đã làm cho thuần hóa, làm cho nhiếp phục. Chẳng những ông ấy quỳ lạy, hôn mà ông ấy còn lấy tay xoa, vuốt bàn chân của Đức Phật, đây là hành động tôn kính tột độ. Chính vì vậy nên ngày Vu Lan Minh Thành cho những người con rửa chân cho mẹ và khi lạy phải lấy trán chạm vào bàn chân đó tức là mình học từ trong kinh.

“Rồi đại chúng ấy tâm khởi lên kinh dị vi diệu: "Thật là vi diệu, thưa Ngài! Thật là hy hữu, thưa Ngài! Bà-la-môn Mànatthada không bao giờ cung kính mẹ, không bao giờ cung kính cha, không bao giờ cung kính Đạo sư, không bao giờ cung kính anh trưởng, nay lại hạ mình tột cùng như vậy trước Sa-môn Gotama."

Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Mànatthada:

- Thôi vừa rồi Bà-la-môn. Hãy đứng dậy và ngồi lại trên ghế của Ông. Lòng tín thành của Ông đối với Ta từ đâu đến?

Rồi Bà-la-môn Mànatthada sau khi ngồi trên ghế của mình, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Đối ai không nên kiêu?

Đối ai nên kính trọng?

Đối ai nên tôn kính?

Cúng dường ai, tốt lành?

(Thế Tôn):

Với mẹ và với cha,

Với anh nhiều tuổi hơn,

Với thầy là thứ tư,

Không nên sanh kiêu mạn,

Nên kính trọng vị ấy,

Nên tôn kính vị ấy,

Cúng dường họ, tốt lành.

Các bậc A-la-hán,

Thanh lương, lậu hoặc đoạn,

Việc nên làm đã làm,

Hãy nhiếp phục kiêu mạn,

Bậc Vô thượng tôn ấy,

Ông thật nên đảnh lễ.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 1, Chương VII Tương ưng Bà La Môn, II. Phẩm Cư Sĩ, bài kinh Mànatthada)

Tức là ông ấy đã hỏi Đức Phật nên tôn kính ai, nên không kiêu căng ngạo mạn với ai. Đức Phật nói cha mẹ, anh chị, những người lớn tuổi và bậc thầy của mình – bốn đối tượng đó nên tôn kính, cung kính, tôn trọng, nên cúng dường sẽ đem lại tốt lành cho người này. Sau đó Đức Phật mới nói người này hãy nhiếp phục các tâm kiêu căng, ngạo mạn đối với các bậc A-la-hán, thanh lương, lậu hoặc đoạn tận rằng các việc nên làm, cần làm các Ngài đã làm xong rồi. Bậc Vô thượng tôn ấy đó là bậc tôn kính, không còn bậc gì có thể cao hơn bậc đó trên đời nữa, gọi là Vô thượng tôn, là bậc A-la-hán, bậc đã sạch hết các lậu hoặc, tham, sân, si và bản ngã. Đối với bậc Vô thượng tôn ấy, người này thật nên đảnh lễ, cung kính, tôn trọng, cúng dường, các bậc đó sẽ đem tốt lành cho ông.

“Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Mànatthada bạch Thế Tôn:

-Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!” (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 1, Chương VII Tương ưng Bà La Môn, II. Phẩm Cư Sĩ, bài kinh Mànatthada)

Khi nghe như vậy, tâm của Bà-la-môn Mànatthada được nhiếp phục, cảm hóa, quy phục, thuần phục, xúc động, chấn động, cảm động mạnh. Thường khi sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp thì mọi người hay nói lên đó là: “Thật vi diệu thay, thật tuyệt vời thay. Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích.” Cho nên thật tuyệt vời, thật vi diệu, thật thù thắng, thật là chưa từng có…Thế Tôn đã phơi bày những gì bị che kín tới giờ con mới thấy! Thế Tôn đã đem ánh sáng vào trong bóng tối, những gì bị ngã đổ nay Thế Tôn đã dựng đứng lại. Con giống như một kẻ lạc đường, được Thế Tôn chỉ cho con một con đường chân chánh!” và “Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!”

Như vậy chúng ta thấy một con người bất hiếu với cha mẹ, ngỗ nghịch với ông bà, ngang tàng với anh em mà khi đi đến gặp được Đức Phật thì được cảm hóa. Quý vị có muốn gặp được Đức Phật không? Cho nên, chúng ta phải ráng tu để gặp được Đức Phật. Với một oai đức, trí tuệ, tâm từ bi, uy nghiêm, trang nghiêm, thanh tịnh, từ ái của Đức Phật thì trí huệ của Ngài đã đọc được tâm của ông này. Trước khi ông ấy đến thì nghĩ rằng: “Nếu Sa-môn Gotama nói chuyện với ta, ta cũng sẽ nói chuyện với Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama không nói chuyện với ta, ta cũng sẽ không nói chuyện với Sa-môn Gotama " thì khi đó Đức Phật biết ông ấy nghĩ vậy nên Đức Phật không nói chuyện thì ông ấy lại nói là “Sa-môn Gotama này không biết gì hết, bèn muốn trở về.” Ông ấy khinh thường, kiêu ngạo, ngạo mạn nên Đức Phật đọc được mới đọc bài kệ kiêu mạn không tốt, tức kiêu căng, ngạo mạn là không tốt, khi đó ông ấy thấy sợ, biết rằng Đức Thế Tôn biết được tâm niệm của mình.

Sau đó, ông ấy mới hỏi Đức Phật phải kính trọng ai, tôn kính ai, cúng dường ai, không kiêu ngạo đối với ai thì Đức Phật nói là đối với cha mẹ, đối với anh chị cô bác, ông bà, những người lớn tuổi, đối với bậc thầy của mình, không được kiêu căng, ngạo mạn, không được ta đây, mà phải tôn kính, cung kính, cúng dường, như vậy đem lại sự tốt lành cho người này. Đối với các bậc A-la-hán, Đức Như Lai, các bậc A-la-hán Thánh chúng đã đoạn sạch hết tất cả vô minh, tham sân si, bản ngã là bậc Vô thượng tôn – bậc tôn kính vô thượng trên đời thì hãy cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường thì đem lại phúc lạc, lợi ích, hạnh phúc, an lạc dài lâu cho ông ta.

Khi ông ấy nghe Đức Phật nói trúng tim đen thì ông ấy sụp xuống lạy, hôn chân Đức Phật là tôn kính Phật, sau đó Đức Phật giảng pháp cho ông ấy nghe. Chúng ta nên nhớ trong kinh chỉ ghi lại những điều cốt ý nhất thôi, không phải diễn ra chỉ có chút vậy, có thể diễn ra dài gấp năm lần nhưng người ghi kinh lại chỉ ghi gọn như vậy thôi. Đức Phật thuyết pháp dùng nhiều phương tiện giải thích, giảng giải nói cho ông ấy biết cái đạo đức, bổn phận, cái hiếu hạnh thì ông ấy được cảm hóa “Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tuyệt vời quá, chưa từng có, màu nhiệm, tốt lành, hay quá và con xin làm đệ tử cư sĩ từ đây cho đến chết, con xin làm học trò của Ngài.”

Nuôi dưỡng hạt giống biết ơn

Trong sự tu tập của chúng ta, việc cung kính, tôn trọng, nhớ ơn là hết sức quan trọng. Nếu không làm được việc này thì nên khoan nói gì cao siêu hết.

Căn bản của đạo đức là biết ơn, nhớ ơn đối với những người có ơn với mình, Đức Phật gọi là chân nhân, tức là con người thật sự là người, còn bằng không thì phần “con” còn nhiều hơn phần “người”. Mà bây giờ quý vị có thấy phần “con” nhiều hơn phần “người” không? Có thấy sợ không? Đức Phật dạy mình người thật sự là người – gọi là chân nhân – thì chắc chắn đời sau trở lại làm người mà làm người tốt lành, tốt đẹp, phước báu. Còn không phải chân nhân thì đời sau có thể không làm người được, có thể làm thấp hơn con người. Muốn trở thành chân nhân thì Đức Phật nói yếu tố nhớ ơn, biết ơn là quan trọng nhất, đó là đặc tánh của chân nhân. Phải nhớ ơn, biết ơn đối với những người có ơn nhất với mình như cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em, thầy của mình. Cho nên, trong mùa Vu Lan là phải nhớ ơn cha mẹ, rộng ra nữa là ơn của ông bà, cô chú, bác dì thím cậu mợ, anh em chứ không phải chỉ có cha mẹ là đủ, đó là tất cả những người có ơn với mình.

Quý vị thấy khi gặp những người có ơn, giúp đỡ mình nhiều lắm thì tâm của mình có ngọt ngào, dễ chịu, mát mẻ không? Còn khi gặp người làm ơn cho mình được bảy phần, nhưng có ba phần là điểm thiếu sót, tiêu cực rồi mình cứ nhớ điểm xấu đó thì tâm mình có ngọt không hay là đắng? Cứ mãi nhớ điểm xấu, điểm dở, điểm khuyết, điểm sai của người ta thì tâm mình đắng chát, chua cay, khó chịu, bực bội thì quý vị thích với cái nào? Thích ngọt ngào, dễ chịu, mát mẻ, từ ái thì phải nhớ ơn, cảm ơn, biết ơn, để có dịp mình báo ơn.

Như vậy tại sao con cái bất hiếu với cha mẹ, vợ chồng bất hòa, anh em gây gỗ? Đó là vì không học, không thực tập pháp này. Khi tu học trong pháp, lúc có chuyện gì thì mình nhìn lên gương mặt của cha mẹ, thấy tràn đầy ân đức trong đó, lời nói, hành động nào mình cũng thấy là ân đức, tất cả những gì cha mẹ phát ra đều là thương mình, lo cho mình, muốn tốt cho mình. Mỗi lời tác ý, suy nghĩ như vậy là mình đang tưới tẩm hạt giống của biết ơn, nhớ ơn, là hạt giống của chân nhân, hiền nhân, của đạo đức, của sự hiếu thảo, hiếu tâm, hiếu hạnh, hiếu đạo, hiếu nghĩa. Phải thường tưới tẩm, chăm sóc cho hạt giống hiếu hạnh, tri ân, báo ơn, đền ơn đó nảy mầm, tập tăng trưởng, phát triển trong thân tâm của mình.

Nhiều khi cha mẹ, ông bà hay anh chị em của mình có nói lời nặng xúc phạm hay vô tình chạm tự ái của mình, thì cái đó không thấm thía gì đối với một căn cứ địa, một thành lũy, cả một “bồ” nhớ ơn như vậy. Phải chất chứa những sự cảm ơn, nhớ ơn, biết ơn trong mình cho lớn, cho dày, cho sâu. Đôi khi có những lời nói vô tình, hay có khi là cố ý thì cũng không thấm thía vào đâu so với tâm tràn đầy, viên mãn của sự biết ơn, nhớ ơn, thế nên người đó không thể nào trở thành người bất hiếu được. Người tu tập được địa vị chân nhân này thì tuyệt đối không thể nào trở thành con người bất hiếu được, tuyệt đối người đó không thể nào là người bất nhân, bất nghĩa được, tuyệt đối người đó không thể nào trở thành người vong ân bội nghĩa, ăn cháo đá bát, qua cầu rút ván, vắt chanh bỏ vỏ. Điều này không thể xảy ra đối với người tu tập pháp chân nhân. Nếu giữ được pháp này, thực tập được điều này, hành trì được, sống được, nghĩ được với điều này thì người này đời sau chắc chắn mới trở lại thành người tốt đẹp, hạnh phúc và an lạc. Đó là căn bản của đạo đức.

Chúng ta nói về hiếu thảo của cha mẹ nhiều rồi, bây giờ mình nên nói rộng ra, đối với anh chị em, bạn đạo, cô chú bác dì thím mợ, những người đồng nghiệp đồng đạo, đồng tu với mình, mình phải tập điều đó luôn. Tập nhìn người ta thì sẽ hiểu ra những cái mà người ta đã làm cho mình. Điều này hay lắm, đẹp lắm. Khi đó, trong tâm địa, vườn đất tâm của mình nở rất nhiều loài hoa, muôn hoa khoe sắc vì người nào đến cũng là một bông hoa ân nhân, đây là bông vạn thọ, kia là bông cúc, nọ là bông huệ, kia là hoa lan, sen trắng, sen hồng, sen đỏ, hoa mười giờ...

Bây giờ mình muốn trồng hoa hay trồng dây gai, cây độc? Hay giờ gặp mặt rồi nhớ “Bà này hôm bữa có nói tui gì đó, nói xấu tui gì đó, làm gì đó xấu!” còn những cái người ta làm điều tốt điều đẹp thì không nhớ mà chỉ nhớ những cái đó, như vậy làđang trồng gai độc. Tại sao mỗi lần gặp mặt chồng con là có chuyện? Gặp mặt là không nhớ tới ơn, nghĩa, tình, không nhớ những gì người ta làm cho mình mà gặp mặt thì cằn nhằn, cự nự, muốn kiếm chuyện? Lâu lâu con của mình ở nước ngoài gọi về thì cự: “Tại sao lâu lắm mới điện mà giờ này điện?”, cứ cằn nhằn cử nhữ mà không thấy rằng con nhớ mình. Thay vào đó, sao mình không đổi thành: “Chà, có hiếu quá ha, biết điện về hỏi thăm.” để nhắc khéo thôi. Mình nói những điều tốt lành, những lời tán thán để bày tỏ tâm hiếu thảo rồi cuối cùng thấy con ít thăm hỏi thì mình nhắc nhẹ thôi: “Mẹ tưởng đâu quên mẹ rồi chứ!” Tất cả là tại mình, do mình không trồng hoa, mà trông dây gai rồi mình chuốc lấy quả đắng là con bất hiếu, không đứa nào hiếu thảo hết.

Cho nên, mỗi lần như vậy phải nhìn lại mình, xem tâm ý, tâm niệm, cảm thọ của mình có ngọt ngào không, có dễ thương không, có biết trân trọng, tôn trọng không? Trong xí nghiệp làm việc hay trong công sở cũng vậy, phải nhớ những người ân nhân đã làm cho mình, giúp mình điều gì. Cứ tập như vậy, tập nhớ ơn người khác rồi quý vị sẽ thấy tâm của quý vị là một mảnh đất phì nhiêu, nhiều loại hoa nở, nhìn thấy gương mặt nào cũng là ân nhân, là những người có ân, có nghĩa, có tình. Chúng ta tập như vậy để làm tẩy bớt những cảm giác bực bội, khó chịu, sân hận, bản ngã của mình, những cái đó làm cho mình khổ. Đức Phật dạy trong kinh, Tứ Trọng Ân gồm có: cha mẹ, thầy tổ, đất nước và chúng sanh. Chúng ta phải ứng dụng nhiều trong tu học, đừng để thầy không nhắc tới thì giận không đi chùa nữa.

Thực tập tâm biết ơn

Tại sao chúng ta không thực tập sự nhớ ân, đền ân? Chúng ta ngồi đây an ổn tu học nhưng lại có những chỗ đang cách ly hàng ngàn người, hàng chục ngàn người; ở trên toàn thế giới hàng triệu người chết; 27 triệu người nhiễm bệnh; biết bao nhiêu bác sĩ tuyến đầu, những y sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, y tá đem cả tính mạng của họ ra để đánh đổi sự bình an, sự khỏe mạnh. Chúng ta đâu thể nghĩ mình ngồi đây khỏe, những chuyện khác là bổn phận người ta phải làm, thay vào đó là mình cần phải mang ơn hết tất cả mọi người.

Khi đi vào chùa, tập nhìn những cọng cỏ, từng cái cây, từng chiếc lá, từng cái chuông, nhìn những tượng phật, từng bậc thang, từng cây cột… từ đó nhớ ơn những người làm nên ngôi Tam Bảo phạm vũ huy hoàng để mình có chỗ mình tu học. Chúng ta cứ tập tưới tẩm như vậy, tưới tẩm sự biết ơn, nhớ ơn, đi đến đâu mình cũng thấy trên đường này bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu nước mắt. Thậm chí những cây cầu mà mình đi qua là có bao nhiêu xác chết ở dưới đó để làm cây cầu cho giao thông lưu thông. Tất cả những gì mình nhìn là đang tưới tẩm, thực tập tâm cảm ơn, nhớ ơn, như vậy mình mới biết trân trọng. Mình sử dụng cái gì thì cũng nên nghĩ người làm ra cái này cực khổ lắm, không dám phung phí, món ăn cũng vậy, trồng rất khó nhọc.

Vừa rồi có Phật tử đem hoa lại cúng bà Diệu Hiền, sau đó hoa chưa héo nhưng cũng có người đem bỏ ngoài gốc cây. Minh Thành nhặt lại, cái nào héo thì ngắt bỏ, còn cái tươi đem vào chưng lại, nhưng lát sau cũng có người muốn mang đi đổ nữa thì Minh Thành nói: “Không, tại sao vậy? Cái hoa chưa làm hết nhiệm vụ của nó. Nếu mình đem bỏ như vậy tức là cái hoa chết yểu, cho đến khi nào cái hóa tàn hết rồi mình hãy bỏ!” Bởi vì khi trồng được cây thì lâu lắm, nhưng thời gian nở hoa thì rất ngắn. Mình chưng chỉ mới một hai ngày, hoa còn tươi mà mình đem bỏ thì đóa hoa đó chưa làm hết nhiệm vụ của nó, đóa hoa bị vứt bỏ một cách lãng phí. Như vậy là mình không biết ơn đóa hoa đó, không biết ơn người trồng nó, không biết ơn người đem cúng. Nếu như người cúng mà họ nhìn thấy vậy thì họ có đau lòng không? Nếu như mình đem một bó hoa tới chùa cúng, đúng ra là bông đó để được 7-10 ngày mới tàn, nhưng mới 2-3 ngày thì người ta đã đem bỏ như vậy thì người cúng nhìn thấy thì có đau lòng không? Mà không đợi tới người đó nhìn thấy, Minh Thành chỉ mang vào lại, một lát sau có người đòi đem vứt bỏ thì Minh Thành đã can ngăn, nói để lại đó. Mình phải biết ơn đóa hoa, biết ơn người cúng, biết trân trọng tấm lòng của người đã đem món đồ này đến, để dâng lên cho Tam Bảo hoặc là để tưởng nhớ bà Diệu Hiền.

Minh Thành nói rộng ra để quý vị thấy và thực tập. Khi uống chung trà thì mình phải uống hết cả chung. Hội Từ Tế ở Đài Loan, chỗ sư bà Chứng Nghiêm, là một trong tứ đại thiên vương của Phật giáo Đài Loan. Hội Từ Tế này có chi nhánh toàn cầu, tín đồ đi theo hàng mấy chục triệu, trăm triệu. Họ tổ chức các khóa tu dạy cho những đứa trẻ bằng việc cho chúng uống những chung trà, cho chúng học tất cả quy trình từ khi bắt đầu đến khi có được chung trà trên tay phải trải qua bao nhiêu công đoạn, giai đoạn để chúng biết được giá trị.

Cho nên phải biết rằng đối với tất cả mọi cái ở chung quanh chúng ta phải biết ơn, sử dụng cho đúng, không được lãng phí, nếu lãng phí sau này sẽ không có. Rất nhiều người bị chết khát do có những nơi không có nước uống, cũng có những nơi không có thực phẩm để ăn mà mình đây lại ăn nửa, bỏ nửa, nhiều khi cả tô đồ ăn mà chỉ gắp một vài đũa rồi bỏ nguyên tô. Đó là “Hữu phước bất khả hưởng tận – Phước tận thân bần cùng”, có phước không nên hưởng hết, hưởng hết sẽ nghèo khổ, nếu phung phí phước thì nó càng mau hết, mà không những hết mà còn mang nợ. Từ cái ăn, cái mặc, cái uống, cái ở mình đều hiếu thảo được với cha mẹ, ông bà, anh chị em, với thầy, với những người chung quanh. Chúng ta cũng nên tập nới rộng ra với tất cả vật chung quanh, phải biết ơn, sử dụng đúng giá trị của nó, không thôi thì sẽ lãng phí.

Chẳng hạn như áo Minh Thành đang mặc cũng khoảng mười mấy năm rồi, có ông thầy đệ tử, giờ ông ấy đi ra làm trụ trì, nói chuyện điện thoại với Minh Thành và hỏi: “Sao thầy có cái áo mặc hoài vậy?” Cũng như cách đây mấy ngày con mặc lại áo choàng đi đường, áo này từ lúc mới lên Linh Quy Pháp Ấn đã có, nó cũng phải 17 năm rồi. Minh Thành mặc khi đi dạy sơ cấp Phật học, tuy có bạc màu đôi chút nhưng vẫn thấy đẹp. Vì áo này thường hay đi theo mình, mình sẽ sử dụng nó cho đến lúc nào không còn sử dụng được nữa, đừng có mới nới cũ. Nếu mình không sử dụng thì mình nên cho người cần sử dụng.

Sống phải có tình có nghĩa, có trước có sau, có nhân có hậu, có đạo có đức, đó là căn bản của làm người, đời sau mới làm người. Tại sao vợ chồng mới về hạnh phúc lắm, sống được ba năm, năm năm rồi thì đầu voi đuôi chuột. Ví dụ quý vị đi mua đất, phía trước là 10 mét, phía sau chỉ có 2 mét vậy quý vị có chịu mua không? Cũng vậy, nếu sống không khéo thì mình sẽ giống như miếng đất đó. Cho nên, nhiều khi mấy chú lên chùa Minh Thành thấy biết cung kính, lạy lạy hay xá xá thì khuyên: “Ráng giữ nha con, năm năm sau vẫn y vậy nha!” Mình nên trân quý sự có trước có sau, có chung có thủy, trong đó chữ thủy là bắt đầu, chữ chung là kết thúc. Minh Thành tâm sự với đại chúng để chúng ta thấy thực tế trong đời sống, nhiều khi nói trong kinh hoài quý vị nghe cũng hơi ngán. Phật tử mà Minh Thành tiếp xúc là ngàn ngàn người, trong đó có vài người sau khi đã quen biết thì suốt hai chục năm, hai mươi mấy năm vẫn là sự cung kính không bao giờ bị suy giảm, thậm chí còn tăng trưởng. Những người được như vậy trong mắt nhìn của Minh Thành hiếm lắm, đếm được trên đầu ngón tay thôi, những Phật tử đó thành tựu được đức hạnh, đạo đức, chắc chắn họ phải sanh nhân thiên.

Thành ra sống có chung có thủy, có trước có sau, có nhân có hậu là hết sức quan trọng. Thông thường quý vị thấy người ta thường tìm cầu điều gì đó khi đến, mình giúp thì người ta tìm, hết giúp rồi thì thôi, có chuyện thì người ta tới, hết chuyện rồi thì thôi. Cho nên sống có trước có sau, có nhân có hậu, có tình có nghĩa, có đạo có đức là rất quan trọng. Đây là căn bản của đạo đức, hiếu hay biết ơn là ở chỗ đó, dầu cho người đó giúp mình một chuyện hết sức là nhỏ nhưng mình không được bao giờ quên đi. Có nhiều người giúp Minh Thành rồi sau đó giận thì Minh Thành cũng không biết làm sao, mình cũng dùng từ ái, đem hết mọi cách để hóa giải nhưng vẫn giận thì thôi vậy. Mình chỉ thấy thương thôi chứ không giận lại vì đây là ân nhân của mình nên làm sao giận được.

Minh Thành nói những ví dụ này để quý Phật tử thấy được trong đời sống mình thực tập được nhiều. Chúng ta nên thực tập thật nhiều, thật kĩ, những người có ân nghĩa với mình thì phải nhớ, không bao giờ được quên. Nếu mình chưa đền ơn đáp nghĩa được thì mình phải là người biết ơn, nhớ ơn, khi sống như vậy, đời sống của mình ngọt ngào, nhẹ nhàng, mát mẻ, thanh lương trong hiện tại và trong tương lai. Lâu lâu ngồi kiểm tra lại xem có ai là ân nhân với mình mà mình bỏ quên hoặc đối xử không được tốt không? Ngồi kiểm tra lại vì nhiều khi mình quên sót trong vô minh, trong lãng quên. Thông thường khi làm ơn cho ai thì mình nhớ mà người ta làm ơn cho mình thì mình lại quên, lạ như vậy, đó là vô minh, si mê. Cha mẹ có ơn cho mình hết một kiếp mà mình vẫn quên ơn như thường, cứ trách móc, hờn mác, giận dỗi cha mẹ.

Ươm mầm hiếu hạnh

Cho nên Vu Lan là suốt cả năm chứ không chỉ trong ngày rằm, hãy tập suy nghĩ và nói những lời cảm ơn, nhớ ơn, biết ơn, xin lỗi. Hãy tập làm để thể hiện sự biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn và báo ơn đó trong suốt tất cả đời sống của mình. Ai còn cha mẹ hãy nói lời cảm ơn, nói lời xin lỗi. Quý vị chuẩn bị sẽ đón nghe Hiếu Hạnh Của Người Tu, khoảng mười mấy tập. Minh Thành bưng mâm tro cốt của bà Năm, sau lễ xong thì khóc lên rồi chia sẻ với Tăng Ni hiếu hạnh của người xuất gia. Phải sống trong thế giới của nhớ ơn, biết ơn, phải tập cảm ơn, tập xin lỗi với cha mẹ, với ông bà, với cô bác, với thầy. Đừng dương dương bản ngã lên để làm gì, vênh váo ta đây để được cái gì? Chỉ được khổ, được nghiệp thôi chứ không được gì hết. Đối với thầy, đối với Tam Bảo, đối với cha mẹ mà mình bản ngã, ta đây để làm gì? Chỉ làm cho mình càng khổ, tạo thêm nghiệp, lún sâu vào trong vô minh, trong ác nghiệp mà thôi.

Nhất định phải tập xin lỗi và cảm ơn bằng tất cả tấm lòng chân thành của mình. Dù cho mình bạc đầu rồi mà còn cha mẹ còn thì vẫn quỳ dưới chân cha mẹ: “Con xin lỗi, con đã học Phật rồi, giờ nhìn lại con mới thấy. Con đã có những ngôn ngữ, những lời nói, hành động bất hiếu, bất kính với cha mẹ. Con đã nhìn thấy rồi, con cảm nhận thấy rồi, con xin nói lên vì mai sau con không còn cơ hội để nói nữa!” Phải quỳ dưới chân cha mẹ lạy, giống như ông bất hiếu khi nãy quỳ dưới chân Phật lạy vậy, lấy trán của mình đặt lên bàn chân, hôn chân của cha mẹ, nâng bàn chân đó lên. Mình nấu một thau nước ấm và một cái khăn rửa chân cho cha mẹ, lấy khăn đó xoa, lau chùi và nói: “Con xin lỗi, con bất hiếu, con hứa từ đây về sau cho đến giây phút cuối cùng của cha mẹ, bằng tất cả tấm lòng của một người con để bù đắp lại một phần muôn vàn những gì cha mẹ đã lo cho con. Con sợ phải hối hận khi lúc cha mẹ không còn. Con rất sợ phải hối hận!”

Minh Thành dành nguyên một buổi chỉ để sám hối với cha mẹ dù cho cha mẹ còn tại chỗ đó hay cha mẹ đã qua đời, phải quỳ xuống sám hối hết, từ Tăng Ni đến Phật tử. Nguyên buổi mở bài nhạc “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình…”, để di ảnh bên hũ cốt của bà Năm, lò trầm rồi kêu mấy ông anh chạy vô quỳ sám hối với mẹ. Xúc động lắm!

Hãy xin lỗi, hãy sám hối, hãy hành những điều gì mà để sau này mình không hối hận. Mình sống ích kỷ lắm, chỉ nghĩ cho bản thân mình, cho chồng con mà quên đi cha mẹ. Vậy nên phải làm liền, nấu một thau nước nóng, đem một khăn mới thật thơm và quỳ xuống xin lỗi: “Cha mẹ tha thứ con bất hiếu”, rồi lạy xuống, lạy những lạy chân thành nhất. Nâng chân lên, rửa chân bằng nước ấm rồi lấy khăn lau, xong rồi ôm lấy chân, đưa đầu của mình đặt lên trên gối của cha mẹ: “Con thật sự xin lỗi lắm, xin lỗi lắm, xin lỗi nhiều lắm, con đã không biết nghĩ cho cha mẹ, con không hiểu được tấm lòng của cha mẹ. Con chưa nhìn thấy hết nỗi khổ của cha mẹ đã hy sinh cho đến giây phút tận cùng của cuộc đời. Con đã sống trong vô tư, sống trong lãng quên, con chỉ lo danh lợi, lo bạn bè, lo chồng con, lo vui chơi mà con không hề nhìn thấy hết tấm lòng của cha mẹ.” Phải lạy xuống, dập đầu xuống bằng tất cả tấm lòng, trái tim của mình, dù cho cha mẹ đã hóa vãng thì lên bàn thờ đó dâng chung trà rồi lạy, xin lỗi, sám hối, cảm ơn.

Khi nhớ về cha mẹ, mình phải tu và làm những việc thiện, sống tốt, sống đẹp với đời và sống có ý nghĩa, có lợi ích, có giá trị, đó là ý nghĩa của Vu Lan, là ý nghĩa của sự báo hiếu, sự nhớ ơn, cảm ơn, sự đền ơn. Cha mẹ không còn nữa mà sống chung với cô, với bà, với bác với dì cũng làm y như vậy. Có những người không được sống gần cha mẹ do cha mẹ ly thân nên sống với dì, với cô, với bác, hay sống với ông nội bà nội thì cũng nên như vậy. Phải quỳ xuống, nói lên lời xin lỗi chân thành, tha thiết nhất, lời biết ơn tận đáy lòng của mình. Phải làm, phải nói ra bằng ngôn ngữ, làm bằng hành động chứ không phải chỉ suy nghĩ: “Thôi tôi để trong tâm là được rồi!” thì ai biết được, cũng giống như muốn làm từ thiện mà nói: “Tôi từ thiện trong tâm là được rồi!” vậy. Thành ra, mình phải nói ra, phải làm bằng hành động, làm được như vậy cảm thấy đẹp lắm. Đó là tu đấy, chứ không phải tu là lạy tượng, lạy tấm hình, còn Phật sống, Phạm Thiên, Vua Trời đang ngồi đó thì lại bỏ quên.

Đức Phật nói trong bài kinh “Ngang bằng với Phạm Thiên”:

Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên.

Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Đạo sư thời xưa.

Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, 3. Chương Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, bài kinh Ngang Bằng Với Phạm Thiên)

Cha mẹ là Phạm Thiên, ngang bằng với Phạm Thiên, cha mẹ là Đạo sư của thời xưa. Trong gia đình nào mà con cái cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, hiếu thảo đối với cha mẹ thì gia đình đó đáng để mọi gia đình khác đến lạy và đảnh lễ, cúng dường gia đình đó. Vậy tại sao mình không làm? Cứ nghĩ hiếu để trong lòng được rồi, thói quen của mình là nói ra thấy ngại, vậy đến lúc chết thì làm sao nói? Lúc cha mẹ lên bàn thờ, để tấm hình ở đó thì sao nghe được nữa mà nói? Lúc còn nghe tại sao không nói? Nói lên cả tấm lòng của mình sẽ đem lại được những cảm giác ngọt ngào, cảm giác mát mẻ, êm dịu, những cảm giác tuyệt vời cho cha mẹ.

Cha mẹ đem đến cho mình biết bao nhiêu cảm giác ấm áp, yêu thương, tốt lành, thành đạt, thành công, thành nhân nhưng mình không đem lại cho cha mẹ được bao nhiêu cảm giác mà ngược lại còn trách cha mẹ. Mẹ đã nấu cả buổi trời nhưng về ăn lại chê: “Nấu dở quá!” Hay nhiều khi đi đâu mà cha mẹ cứ điện hoài bực mình: “Điện hoài hà!” rồi còn cự lại nữa, mình không hiểu đó là tình thương của cha mẹ mình. Giờ chỉ có thể hiện là quỳ và dâng trà hay rửa chân, nói lời yêu thương, xin lỗi mà làm cũng không được. Có thấy mình tệ lắm không? Hay làm mà mắc cỡ? Đúng ra Vu Lan là luôn luôn từ mùng 1 đến 30 tháng bảy, ngày nào cũng làm hết đó là hạnh lành. Tối tối trước khi cha mẹ đi ngủ thì lấy thau nước nóng vào lau chân, xoa bóp, giặt giũ, làm được gì thì cố gắng làm dù cho là cô bác, ông bà, những người thân bị đau ốm. Những điều này là cái ân, cái nghĩa, cái tình, là nét đẹp, là hạnh hiền thiện.

Khi tu như vậy, có người hỏi tu ở đâu thì nói là tu ở chùa Bửu Liên và có thể chúng ta sẽ cảm hóa được con cháu, cha mẹ mình: “À, ông thầy này coi bộ dạy có vẻ đúng!” Chứ không phải mình học trên trời rồi về ở với Phật, không còn thấy cha mẹ, hoặc đối với cô bác, anh chị em, những người ân nghĩa với mình nhưng mình không thèm chơi mà nói “Không, tôi tu!”, như vậy tu là để trở thành người vong ân bội nghĩa hay sao? Tu rồi trở thành người bất hiếu hay trở thành người không có bổn phận hay sao? Tất cả những điều đó đều trật hết vì tu là làm tròn bổn phận, sống đẹp với đời, nhận diện ngũ uẩn, diệt tham sân si, thoát ly sanh tử. Càng tu bổn phận của mình càng tròn, bổn phận làm con, làm cháu, làm vợ làm chồng, bổn phận làm anh em, chị em, bà con cô bác, ông bà, bổn phận làm bạn bè huynh đệ đồng đạo càng tuyệt vời, đầy đủ, sống tròn bổn phận, sống đẹp với đời, chứ không phải tu là giựt nợ. Cứ mượn cớ tu rồi không giúp đỡ ai, không quan tâm ai thì lại nói giờ tôi tu, chưa chắc như vậy, mình đã hiểu sai về Phật Pháp. Không phải người tu là vô trách nhiệm, là thiếu bổn phận. Người tu là người viên mãn đạo đức mới bước lên hạnh Hiền Thánh, các bạch pháp – pháp trắng cứ đầy đủ, sung mãn, tràn đầy hết. Tu là đẹp lắm, tuyệt vời lắm!

Minh Thành xem các cô các bà ngồi đây nghe pháp cũng giống như bà Năm, ông Năm. Một người muốn Minh Thành báo hiếu là Minh Thành báo hiếu, còn có những người nói thôi không cần thì thôi. Thật sự mỗi khi Minh Thành chia sẻ Phật Pháp là trong tâm Minh Thành nghĩ rằng đó là báo ơn những người đã lo lắng cho mình từng buổi cơm, từng chung trà, từng sự nhín nhút cái ăn mặc mà đem cúng dường. Mỗi khi Minh Thành nhận được bao thư là Minh Thành thấy nặng lắm, thật sự rất nặng, nên phải làm cho xứng đáng, phải đúng Chánh Pháp, phải đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc thật dài lâu cho những người gieo trồng trong ruộng phước đó. Người khác đến gieo vào ruộng của mình nhưng ruộng lại khô cằn, sỏi đá, không nảy mầm được thì mình sẽ bị đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chứ không phải chuyện thường. Quý vị dùng tiền mua được cái bánh, chiếc áo, món đồ và dùng tiền đem vào chùa cúng dường thì cái phước nhận được phải nhiều hơn cái bánh, chiếc áo, món đồ đó gấp trăm ngàn lần. Vì thế, nếu như người không có trí tuệ, không có từ bi, không có công đức, phước báu mà nhận thì dễ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Minh Thành thưa thật với đại chúng, bằng tất cả tấm lòng trong sự tu học Chánh Pháp, Minh Thành muốn cho quý vị được lợi ích, hạnh phúc, an lạc dài lâu. Có khi pháp này khó nghe nhưng cái khó nghe đó giúp cho mình có lợi ích, khai mở trí tuệ, nhìn thấy được một đạo lộ, một lối đi. Quý vị khó nghe thì phải chịu khó để nghe, không nên tìm điều dễ nghe vì đó không phải là pháp nữa mà nó như Thách thức danh hài, Gala cười. Những chương trình đó thì mua vé xem để giải trí, còn trong sự tu học là mình đi đến để mình tìm pháp, cầu pháp, học pháp. Cho nên phải tìm ra chân lý, sự thật giúp cho mình bớt khổ, diệt khổ, chúng ta phải hiểu được điều này. Đừng tìm cái ngọt tai, dễ nghe, vừa ý. Hãy tìm cầu Chánh Pháp giúp cho mình khai mở trí huệ, giúp mình diệt tận vô minh, thành tựu được tâm từ, có được lòng biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn để mình trở thành chân nhân, hiền nhân, thành nhân, có được lợi ích, hạnh phúc, an lạc trong hiện tại và tương lai.

Mùa Vu Lan này Minh Thành đã mất mẹ, Minh Thành muốn gửi tất cả tấm lòng của mình đến những người còn cha mẹ và cả những người cha mẹ không còn. Tất cả mọi người xem mình có thể làm được cái gì, tu học được cái gì thì hãy cố gắng thực hiện để đền đáp công đức cha mẹ. Mùa Vu Lan năm nay rất đặc biệt trong suốt cuộc đời của Minh Thành, mong quý vị tiếp nhận những lời chia sẻ tận đáy lòng của Minh Thành trong bộ Sự Ra Đi An Lành Của Mẹ dài mấy chục tập để chúng ta làm những người con có hiếu. Minh Thành mong rằng thật nhiều những người con trên trái đất này, trên hành tinh này đều hiếu thảo với mẹ cha./.