TỰ MÌNH TIẾN LÊN 1
TỰ MÌNH TIẾN LÊN 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Vượt qua chướng ngại PAGEREF _Toc113197835 \h 1
II.Ngã tăng thượng PAGEREF _Toc113197836 \h 3
Vượt qua chướng ngại
Có câu chuyện vui Minh Thành muốn nói cho các huynh đệ nghe. Hôm nay Minh Thành phải dùng Tứ Như Ý Túc và Nhiếp Phục Cảm Thọ để thuyết pháp.
Lúc sáng này, Minh Thành dự định đi qua bên Nhà Mát để tu tập, học kinh, tuy nhiên, bên bộ phận làm việc nói chưa sử dụng được, đó là chướng ngại thứ nhất.
Minh Thành vẫn không bỏ qua, nếu mình là con người dễ buông bỏ, không kiên thì lúc đó sẽ quyết định hôm nay khỏi tu. Minh Thành mới nói dời qua Chánh Điện, dù biết rằng đang là mùa hè, Phật tử rất đông, nhưng vẫn quyết dời qua bên đó. Dù bên ngoài đông đúc cũng kệ, tập cho mình không bị tác động bởi ngoại cảnh, con người bên ngoài. Thông thường người ta không tổ chức tu vào những ngày như vậy, những ngày khách đến rất đông, nhộn nhịp. Đây là vượt qua chướng ngại thứ hai.
Khi vào đi kinh hành xong, mới vừa chuẩn bị ngồi thiền, thì có người báo có các sếp đến thăm, sẽ đi qua đây. Nếu là người dễ buông bỏ, mình sẽ bỏ chương trình học, đây là chướng ngại thứ ba. Trong các thứ mình muốn – Dục Như Ý Túc, muốn là phải nỗ lực, dù biết họ sẽ đến, nhưng quyết định vẫn tiếp tục tu học, không bỏ sự tu học.
Sau đó, Minh Thành vừa thò tay vào áo, bị con ong chích vào tay, nhưng lúc cầm mình không thấy, cũng không chánh niệm trọn vẹn, cầm áo mà nhìn qua chú Hoàng định kêu chú làm chuyện gì đó. Lúc bị chích nghe rõ ràng một cây kim xuyên thấu vào thịt, cái thọ thấy rất rõ giống như cây kim đang xuyên sâu vào nửa ngón tay. Ngón tay rất nhức, nhức ngay chỗ chích thôi, lúc ấy quán chiếu cảm thọ, nhức và rất đau, nhưng không để cho cảm thọ lan ra những chỗ khác. Chỉ thấy cảm thọ đau nhức, khó chịu ngay đầu ngón tay thôi, còn những chỗ khác không đau; đau chỉ chút xíu chỗ đó thôi, chứ không phải đau từ đầu đến chân. Lúc đó mình tuệ tri, biết rõ hiện tại đang có một cảm thọ khó chịu, đau khổ, khổ thọ ngay đầu ngón tay nhưng vẫn quyết định không nghỉ buổi giảng pháp, đó là chướng ngại thứ tư. Dục thì phải tinh tấn – muốn thì phải nỗ lực, làm cho bằng được, tức là Tấn Như Ý Túc – Tấn Thần Túc. Phải để tâm, quyết định, nhất tâm làm công việc mình muốn – Nhất Tâm Như Ý Túc.
Khi khách đến, Minh Thành phải tiếp khách đây là chướng ngại thứ năm. Qua năm lớp chướng ngại vẫn không bỏ qua buổi nói pháp. Ngồi tiếp khách nhưng khách không biết mình đang bị đau, giấu tay để phía dưới. Lúc đó thì thọ của mình biết được sự đau nhức đang lan ra đến lóng trên, lan lên bàn tay. Dù đang nói chuyện, nhưng cảm giác toàn thân biết nó đang lan ra, khi nhìn xuống là nhìn thấy bàn tay sưng lên liền, mặc dù nhìn đẹp hơn bình thường.
Khi tiếp khách xong rồi là sắp đến giờ ăn cơm, đây là chướng ngại thứ sáu, nhưng vẫn không bỏ. Dục Như Ý Túc rồi, muốn rồi là phải quyết tâm, dứt tâm, nỗ lực, làm cho bằng được. Sau đó lại cúp điện, đây là chướng ngại thứ bảy. Đến cuối cùng, vượt qua hết nên bây giờ đang được ngồi nói pháp.
Cho nên phải dùng Tứ Như Ý Túc – Tứ Thần Túc và Nhiếp Phục Cảm Thọ để nói bài pháp hôm nay, đây không phải chuyện đơn giản. Để được một buổi học có phải là việc đơn giản hay không? Nhớ rằng không có gì trên đời là dễ dàng hết, đừng có mơ và cho rằng việc tu hành của mình là đơn giản, dễ dàng. Chỉ cần một buổi học pháp, nếu không có sự nỗ lực, quyết tâm, kiên trì, không sử dụng Tứ Như Ý Túc và nhiếp phục cảm thọ thì vừa đau nhức chút xíu là nó lan ra hết, nằm bệnh, uống thuốc, thoa dầu. Như vậy tức là mình để thọ thân đi qua thọ tâm, để cho cảm giác một chút của thân ảnh hướng đến cảm giác của tâm. Nhưng chúng ta thân đau mà tâm không đau! Phải có một tinh thần bất khuất, quật cường, quyết chí, mạnh mẽ, nỗ lực trong sự tu tập, hành trì. So với Đức Thế Tôn, mình chưa được một phần trăm, một phần ngàn. Mới bị gì chút xíu là mình không chịu được rồi. Cho nên Minh Thành buồn các huynh đệ nhỏ, tới giờ tu là kiếm chuyện, đến giờ học là bận chuyện này, chuyện kia. Đó là sự giải đãi, không có tinh tấn, nỗ lực, tinh cần. Còn mình quen nỗ lực, tính tấn như vậy thì sau này những cái khó sẽ không còn khó với mình nữa. Ngược lại gặp chuyện gì nhỏ đã nói khó thì không được. Mình đã vượt qua bảy lớp rào mới có buổi pháp thoại ngày hôm nay, lấy chuyện thực tế, trước mắt để thấy được tu Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc không phải dễ, không phải chỉ học sơ sơ, đọc đọc trả bài là xong. Mình phải đem pháp vận dụng vào đời sống và thân tâm của mình, chứ không phải học suông. Nói cho tét môi mà không làm, không chịu thực hành.
Minh Thành chia sẻ thêm một điều, sau khi bị ong chích xong, con ong nằm một chỗ, thầy Pháp Sơn có nói là do nó hối hận hạy sao mà lại nằm một chỗ, không nhúc nhích gì cả. Minh Thành mới quán chiếu đó là nghiệp quả trong quá khứ, nên mình không oán hận, hờn trách nó. Mình biết đó là do nghiệp quả trong quá khứ gây ra với nó, nhờ do mình tu rồi, nên trả nó nhẹ hơn, sau đó trải tâm từ, tình thương đến con ong đã chích mình. Đó là sự thực tập của mình, nếu lúc đó không khéo tu tập tâm, khi nhìn thấy con ong đó, mình sẽ phát khởi lên chướng ngại tướng, sanh khởi sân hận, không đúng tâm của người tu.
Ngã tăng thượng
Hôm nay chúng ta học bài kinh quan trọng, có tên “Tăng Thượng”, trong bài kinh có nói về “ngã tăng thượng”, nhưng khi nghe vậy thì mình tưởng ra không đúng, nói nghĩa tiếng việt dễ hiểu là “tự mình vượt lên”, bài kinh này rất xúc động. Tăng Chi Bộ tập 1, bài kinh “Tăng Thượng”, trang 263.
- Này các Tỷ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba?
Ngã tăng thượng,
Thế giới tăng thượng,
Pháp tăng thượng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ngã tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “ Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, sự đoạn tận tất cả các khổ uẩn này được hiện khởi lên (cho ta). Và ta đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy, lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia hay còn ác tệ hơn. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta” ''.
Vị ấy lại quán sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tự ngã tăng thượng. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, Chương Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, bài kinh Tăng Thượng)
Bài kinh này rất quan trọng trong đời sống của người xuất gia. “Ngã tăng thượng” tức là chính mình tiến lên, bước lên. “Tăng” là thêm, “thượng” là lên – chính mình phải bước lên, phải tăng trưởng, lớn mạnh trong giáo pháp. Thế nào là ngã tăng thượng – tức là thế nào là chính mình tiến lên? Khi đến trong khu rừng, dưới gốc cây hay trong tịnh thất, mình phải biết quán sát:
“Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Phải hiểu như thế nào? Không phải vì vật chất, tài sản, không phải vì nhà thiếu gạo không có cơm ăn, không có quần ăn mặc, không có giường chõng để nằm mà mình đi xuất gia. Tức là không phải vì vật chất mà đi xuất gia.
“Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối”. Cho nên sự xuất gia này sẽ đem lại chấm dứt hết tất cả khổ uẩn. Đó chính là lí do, nguyên nhân của người xuất gia. Mình phải nắm cho được những mục đích của người xuất gia này. Không phải vì cơm ăn, áo mặc, nhà ở; không phải vì đồ vật, cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ; không phải vì những người ở đây thương mến mình, mà là do “rơi vào vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối”. Nếu ta không xuất gia thì chúng ta sẽ bị già, bị chết và tiếp tục tái sanh trong vòng luân hồi khổ đau, bị nghiệp lôi kéo, chính vì lẽ đó mà ta đi xuất gia. Ta không muốn bị khổ chi phối, ta không muốn lo lắng, âu sầu, khổ não, vì thế “Và ta đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy”, nhưng tại sao “lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia?”, đây là một câu hỏi sâu sắc. Tại sao ta đã từ bỏ những ham muốn ngoài đời, nhưng khi vào xuất gia ta lại ha, muốn những thứ khác nữa? Đây là điểm để chiêm nghiệm, mình thấy nó vô lí vô cùng, xấu hổ vô cùng. Vô lí như thế nào và xấu hổ như thế nào?
Nhiều người ngoài đời có căn nhà lớn lắm, vào xuất gia thì chỉ ở trên cái đơn, cái giường nhỏ xíu, nhưng ai chạm vào chỗ đó thì thế nào? Nếu tâm không tu tập, thì sẽ cho rằng cái đơn đó là “của tôi”, phòng này là của “tôi”. Tại sao ta đã từ bỏ những tham muốn vật chất bên ngoài nhưng lại dính vào những tham muốn vật chất lúc đã xuất gia. Ngoài đời bỏ được hết đủ thứ quần áo xanh, đỏ, tím, vàng, mo-đen. Khi vào tu nếu cái áo, đôi dép bị ai lấy nhầm, lúc đó với tâm không tu tập, không hộ trì các căn thì có nổi giận lên không? “Tại sao lại lấy dép tôi đi? Áo ông sao không mặc mà lấy áo tôi mặc?” Đó là những điều nhỏ, nếu nói rộng ra là dính vào danh, lợi, lợi dưỡng, cung kính, dính vào chùa chiền. Người thế tục khác người thế tục. Người thế tục đi đâu hai ngày cũng không được, phải vội về vì không ai trông coi nhà. Còn mình là người xuất gia, đi đâu cũng lẹ lẹ để về, vì không ai trông coi chùa hết, như vậy cần nhìn lại. Không khéo chỉ là sự thay đổi: bỏ ngôi nhà này để vào nhà kia, bỏ cái muốn này rồi đi qua cái muốn kia, bỏ cái chấp này đi qua cái chấp kia. Mình không thấy được triệt để vấn đề.
Cho nên câu “sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy, lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia” là một câu quan trọng. Mình không còn thương, không còn không cha mẹ nữa, nhưng không khéo đổi lại là dính mắc với Phật tử. Phải quán chiếu tâm để nhìn thấy tất cả những điều đó. Những câu hỏi này rất quan trọng, mỗi khi tâm bị dính mắc cái này, kia, nọ thì mình hãy tự hỏi câu này: “Ta bỏ hết tất cả rồi, nhưng tại sao khi tu lại bám chấp vào những cái nhỏ nhặt như chỗ ngủ, miếng ăn, chỗ ở, bộ đồ, cái áo, cái y hay lời nói, tiếng khen, tiếng chê?” Thường quán chiếu như vậy là tự làm cho chính mình vượt lên, bước lên. Ngoài đời có chương trình Vượt lên chính mình, còn mình cũng tự mình vượt lên, thường quán chiếu như vậy để vượt lên. Không khéo những điều trên thấy đơn giản nhưng nó có thật sự đơn giản không? Cho nên phải thường tự mình quán chiếu để tiến lên, nếu không quán chiếu thì nhiều khi dậm chân tại chỗ hoặc lui sụt nhưng mình không biết. Những cô chú phải nấu cơm, làm bếp, đến giờ thiền mà cứ nhớ công việc đó hoài là thất bại. Ngồi thiền là ngồi thiền, không nên vào ngồi thiền mà tính công việc để ngày mai làm hoặc nhớ chuyện gia đình, bỏ những công việc đó qua một bên. Giờ đó nhớ tới cũng không làm được gì cả, ngồi đó thì sao lo cho gia đình được. Hãy lo cho công việc ngay giây phút đó, phải ngồi thiền, giờ nào việc nầy. Chứ ngồi đó mà lo về nhà, lo cho mẹ, lo cho ba thì lo được không? Không thành được gì hết, thiền không xong, mà lo cũng không xong, mất hết, hai đường đều mất. Vì vậy nhớ kĩ, phải tự làm cho chính mình tiến lên.
Vị ấy lại quán sát, "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Ta sẽ tinh tấn, thắng tấn, không thụ động. Phải suy nghĩ rằng ta sẽ tiến lên, bước lên cao, không đứng lại một chỗ, không thụ động. Tâm niệm phải an trú trong Tứ Niệm Xứ, an trú trong Thân Hành Niệm, an trú trong sự Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp. Không để thất niệm, mất chánh niệm, không sống trong lãng quên, phóng dật. Tâm thì được định tĩnh, nhất tâm. Thân phải nhẹ nhàng, khinh an, không dao động. Đừng để dao động không phải là không nhúc nhích, cục cựa, mà bước đi sao cho khoan thai, ung dung, từ tốn, lời nói nhẹ nhàng. Người xuất gia không thể vừa đi vừa chạy, không thể quá dao động, lăng xăng. Đó là hộ trì căn, ta sẽ được học trong bài kinh “Vô thượng căn tu tập”. Các căn của mình có tu tập là mắt có tu tập, lỗ tai có tu tập, lỗ mũi có tu tập, miệng có tu tập, thân có tu tập, tâm có tu tập.
“Này các Tỳ-kheo, ta chưa thấy một lợi ích nào lớn lao giống như tâm có tu tập. Tâm có tu tập, này các Tỳ-kheo, lợi ích vô cùng lớn lao” (trích Tăng Chi Bộ Kinh, Phẩm Khó Sử Dụng). Tâm có tu tập, thân có tu tập, các căn có tu tập, ngồi cho ra ngồi, đứng cho ra đứng, đi cho ra đi, phải có phong thái của người xuất gia. Người nào vào thất ngồi với thầy mà nhịp đùi hỏi pháp là thầy không giảng. Có một cô ngồi xéo qua một bên, hỏi pháp nhưng thầy không giảng, vì như vậy là không cung kính pháp. Đâu phải giảng pháp là dễ. Trong luật nói rất rõ: không vì người cầm dù mà thuyết pháp; không vì người cao còn mình đứng thấp mà thuyết pháp; không vì người đứng giữa còn mình đứng một bên mà thuyết pháp. Cho nên mình phải biết uy nghi của người xuất gia, thân không dao động, tâm phải an tịnh, định tĩnh, nhất tâm. Cố Hòa thượng Thượng Trí Hạ Tịnh, 90 tuổi nhưng ngồi cái lưng không bao giờ tựa ghế, lúc nào cũng thẳng lưng, ngồi võng cũng vậy. Những điều đó mình học hoài cũng chưa hết được. Phải để ý, nỗ lực, dùng Tứ Như Ý Túc để thực tập, lâu ngày dài tháng mới trở thành thói quen, chứ không phải tự nhiên có được. Các chú tập sự nhìn sư huynh Pháp Sơn, sư huynh Pháp Từ để học cách đi, đứng, ngồi, nằm; thân không dao động, tâm định tĩnh, nhất tâm. Phải tập như vậy. Người xuất gia không lăng xăng, tháo động. Khi nói phải biết lúc nào nên nói, lúc nào không nên nói, nói lúc nào, nói với ai, nói như thế nào, chứ không phải muốn nói là nói. Tự nhiên người khác đang nói mà mình xẹt vào là không được, không đúng pháp, nhất là người xuất gia nữa. Muốn nói thì phải đợi người ta nói xong, sau đó mới tới mình, không được cắt ngang câu nói của người ta. Ngoài đời như vậy là bất lịch sự, trong đạo là không có chánh niệm, không hộ trì căn, lúc đó là không tu tập cái miệng. Nó rất nhỏ nhiệm, vi tế, mình cần phải hành trì và thực tập.
“Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh.”, như vậy là người đó làm cho chính mình tiến lên.
“Từ bỏ bất thiện, tu tập bất thiện”, cái gì là thiện, cái gì là bất thiện? Tham muốn, nóng giận, si mê, ta đây, ý nghĩ hại là bất thiện, thí dụ như bị ong chích thì nghĩ phải làm sao để xử nó cũng không được. Ý nghĩ cũng không được, chứ đừng nói để cho nó phát ra hành động. Tức là ý hành cũng không được cho khởi lên, chứ đừng nói chi để làm ra thân hành, đó là pháp tu tập. Có nhiều khi đá trúng cục đá giữa đường, chân đau tức quá, đá cục đá thêm một cái nữa. Cho rằng đau là tại cục đá, chứ không biết là do mắt của mình không để ý. Những cái đó là tà tư duy, phi như lý tác ý, vô minh, không thấy rõ được sự thật. Cho nên phải thường thường dòm ngó thì mới biết được, còn không nhìn lại là mình không biết. “Từ bỏ có tội, tu tập không tội”, cái nào mình thấy có tội là phải bỏ từ từ. Tự mình phải biết cái nào có tội, cái nào không tội. Cái nào có tội thì bỏ, không tội thì tu.“Gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh” – giữ gìn cho chính mình được trong sạch, thanh tịnh. Giữ gìn mắt, giữ gìn tai, giữ gìn mũi, giữ gìn lưỡi, giữ gìn thân, giữ gìn ý, ngày càng làm cho tất cả được trong sạch, thanh tịnh.
Như vậy là tự mình đang làm cho chính mình vượt lên, tiến lên, phát triển lên, tăng thượng lên. Ngoài đời gọi là Vượt lên chính mình, trong đạo là Tự mình vượt lên, tiến lên. Không được chấp nhận thụ động ở tại chỗ mà phải nỗ lực học pháp, tư duy pháp, thảo luận về pháp, thiền quán vào pháp. Để tất cả các pháp trong tự thân, tự tâm hiện rõ ra hết, không có một pháp nào trong kinh mà mình không rõ khi ngồi thiền, quán chiếu. Khi đó các pháp đều hiện rõ ra tự thân, tự tâm mình, tất cả đều được thông đạt, đó là thành tựu Chánh Tri Kiến.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Vượt qua chướng ngại PAGEREF _Toc113197835 \h 1
II.Ngã tăng thượng PAGEREF _Toc113197836 \h 3
Vượt qua chướng ngại
Có câu chuyện vui Minh Thành muốn nói cho các huynh đệ nghe. Hôm nay Minh Thành phải dùng Tứ Như Ý Túc và Nhiếp Phục Cảm Thọ để thuyết pháp.
Lúc sáng này, Minh Thành dự định đi qua bên Nhà Mát để tu tập, học kinh, tuy nhiên, bên bộ phận làm việc nói chưa sử dụng được, đó là chướng ngại thứ nhất.
Minh Thành vẫn không bỏ qua, nếu mình là con người dễ buông bỏ, không kiên thì lúc đó sẽ quyết định hôm nay khỏi tu. Minh Thành mới nói dời qua Chánh Điện, dù biết rằng đang là mùa hè, Phật tử rất đông, nhưng vẫn quyết dời qua bên đó. Dù bên ngoài đông đúc cũng kệ, tập cho mình không bị tác động bởi ngoại cảnh, con người bên ngoài. Thông thường người ta không tổ chức tu vào những ngày như vậy, những ngày khách đến rất đông, nhộn nhịp. Đây là vượt qua chướng ngại thứ hai.
Khi vào đi kinh hành xong, mới vừa chuẩn bị ngồi thiền, thì có người báo có các sếp đến thăm, sẽ đi qua đây. Nếu là người dễ buông bỏ, mình sẽ bỏ chương trình học, đây là chướng ngại thứ ba. Trong các thứ mình muốn – Dục Như Ý Túc, muốn là phải nỗ lực, dù biết họ sẽ đến, nhưng quyết định vẫn tiếp tục tu học, không bỏ sự tu học.
Sau đó, Minh Thành vừa thò tay vào áo, bị con ong chích vào tay, nhưng lúc cầm mình không thấy, cũng không chánh niệm trọn vẹn, cầm áo mà nhìn qua chú Hoàng định kêu chú làm chuyện gì đó. Lúc bị chích nghe rõ ràng một cây kim xuyên thấu vào thịt, cái thọ thấy rất rõ giống như cây kim đang xuyên sâu vào nửa ngón tay. Ngón tay rất nhức, nhức ngay chỗ chích thôi, lúc ấy quán chiếu cảm thọ, nhức và rất đau, nhưng không để cho cảm thọ lan ra những chỗ khác. Chỉ thấy cảm thọ đau nhức, khó chịu ngay đầu ngón tay thôi, còn những chỗ khác không đau; đau chỉ chút xíu chỗ đó thôi, chứ không phải đau từ đầu đến chân. Lúc đó mình tuệ tri, biết rõ hiện tại đang có một cảm thọ khó chịu, đau khổ, khổ thọ ngay đầu ngón tay nhưng vẫn quyết định không nghỉ buổi giảng pháp, đó là chướng ngại thứ tư. Dục thì phải tinh tấn – muốn thì phải nỗ lực, làm cho bằng được, tức là Tấn Như Ý Túc – Tấn Thần Túc. Phải để tâm, quyết định, nhất tâm làm công việc mình muốn – Nhất Tâm Như Ý Túc.
Khi khách đến, Minh Thành phải tiếp khách đây là chướng ngại thứ năm. Qua năm lớp chướng ngại vẫn không bỏ qua buổi nói pháp. Ngồi tiếp khách nhưng khách không biết mình đang bị đau, giấu tay để phía dưới. Lúc đó thì thọ của mình biết được sự đau nhức đang lan ra đến lóng trên, lan lên bàn tay. Dù đang nói chuyện, nhưng cảm giác toàn thân biết nó đang lan ra, khi nhìn xuống là nhìn thấy bàn tay sưng lên liền, mặc dù nhìn đẹp hơn bình thường.
Khi tiếp khách xong rồi là sắp đến giờ ăn cơm, đây là chướng ngại thứ sáu, nhưng vẫn không bỏ. Dục Như Ý Túc rồi, muốn rồi là phải quyết tâm, dứt tâm, nỗ lực, làm cho bằng được. Sau đó lại cúp điện, đây là chướng ngại thứ bảy. Đến cuối cùng, vượt qua hết nên bây giờ đang được ngồi nói pháp.
Cho nên phải dùng Tứ Như Ý Túc – Tứ Thần Túc và Nhiếp Phục Cảm Thọ để nói bài pháp hôm nay, đây không phải chuyện đơn giản. Để được một buổi học có phải là việc đơn giản hay không? Nhớ rằng không có gì trên đời là dễ dàng hết, đừng có mơ và cho rằng việc tu hành của mình là đơn giản, dễ dàng. Chỉ cần một buổi học pháp, nếu không có sự nỗ lực, quyết tâm, kiên trì, không sử dụng Tứ Như Ý Túc và nhiếp phục cảm thọ thì vừa đau nhức chút xíu là nó lan ra hết, nằm bệnh, uống thuốc, thoa dầu. Như vậy tức là mình để thọ thân đi qua thọ tâm, để cho cảm giác một chút của thân ảnh hướng đến cảm giác của tâm. Nhưng chúng ta thân đau mà tâm không đau! Phải có một tinh thần bất khuất, quật cường, quyết chí, mạnh mẽ, nỗ lực trong sự tu tập, hành trì. So với Đức Thế Tôn, mình chưa được một phần trăm, một phần ngàn. Mới bị gì chút xíu là mình không chịu được rồi. Cho nên Minh Thành buồn các huynh đệ nhỏ, tới giờ tu là kiếm chuyện, đến giờ học là bận chuyện này, chuyện kia. Đó là sự giải đãi, không có tinh tấn, nỗ lực, tinh cần. Còn mình quen nỗ lực, tính tấn như vậy thì sau này những cái khó sẽ không còn khó với mình nữa. Ngược lại gặp chuyện gì nhỏ đã nói khó thì không được. Mình đã vượt qua bảy lớp rào mới có buổi pháp thoại ngày hôm nay, lấy chuyện thực tế, trước mắt để thấy được tu Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc không phải dễ, không phải chỉ học sơ sơ, đọc đọc trả bài là xong. Mình phải đem pháp vận dụng vào đời sống và thân tâm của mình, chứ không phải học suông. Nói cho tét môi mà không làm, không chịu thực hành.
Minh Thành chia sẻ thêm một điều, sau khi bị ong chích xong, con ong nằm một chỗ, thầy Pháp Sơn có nói là do nó hối hận hạy sao mà lại nằm một chỗ, không nhúc nhích gì cả. Minh Thành mới quán chiếu đó là nghiệp quả trong quá khứ, nên mình không oán hận, hờn trách nó. Mình biết đó là do nghiệp quả trong quá khứ gây ra với nó, nhờ do mình tu rồi, nên trả nó nhẹ hơn, sau đó trải tâm từ, tình thương đến con ong đã chích mình. Đó là sự thực tập của mình, nếu lúc đó không khéo tu tập tâm, khi nhìn thấy con ong đó, mình sẽ phát khởi lên chướng ngại tướng, sanh khởi sân hận, không đúng tâm của người tu.
Ngã tăng thượng
Hôm nay chúng ta học bài kinh quan trọng, có tên “Tăng Thượng”, trong bài kinh có nói về “ngã tăng thượng”, nhưng khi nghe vậy thì mình tưởng ra không đúng, nói nghĩa tiếng việt dễ hiểu là “tự mình vượt lên”, bài kinh này rất xúc động. Tăng Chi Bộ tập 1, bài kinh “Tăng Thượng”, trang 263.
- Này các Tỷ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba?
Ngã tăng thượng,
Thế giới tăng thượng,
Pháp tăng thượng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ngã tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “ Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, sự đoạn tận tất cả các khổ uẩn này được hiện khởi lên (cho ta). Và ta đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy, lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia hay còn ác tệ hơn. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta” ''.
Vị ấy lại quán sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tự ngã tăng thượng. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, Chương Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, bài kinh Tăng Thượng)
Bài kinh này rất quan trọng trong đời sống của người xuất gia. “Ngã tăng thượng” tức là chính mình tiến lên, bước lên. “Tăng” là thêm, “thượng” là lên – chính mình phải bước lên, phải tăng trưởng, lớn mạnh trong giáo pháp. Thế nào là ngã tăng thượng – tức là thế nào là chính mình tiến lên? Khi đến trong khu rừng, dưới gốc cây hay trong tịnh thất, mình phải biết quán sát:
“Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Phải hiểu như thế nào? Không phải vì vật chất, tài sản, không phải vì nhà thiếu gạo không có cơm ăn, không có quần ăn mặc, không có giường chõng để nằm mà mình đi xuất gia. Tức là không phải vì vật chất mà đi xuất gia.
“Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối”. Cho nên sự xuất gia này sẽ đem lại chấm dứt hết tất cả khổ uẩn. Đó chính là lí do, nguyên nhân của người xuất gia. Mình phải nắm cho được những mục đích của người xuất gia này. Không phải vì cơm ăn, áo mặc, nhà ở; không phải vì đồ vật, cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ; không phải vì những người ở đây thương mến mình, mà là do “rơi vào vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối”. Nếu ta không xuất gia thì chúng ta sẽ bị già, bị chết và tiếp tục tái sanh trong vòng luân hồi khổ đau, bị nghiệp lôi kéo, chính vì lẽ đó mà ta đi xuất gia. Ta không muốn bị khổ chi phối, ta không muốn lo lắng, âu sầu, khổ não, vì thế “Và ta đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy”, nhưng tại sao “lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia?”, đây là một câu hỏi sâu sắc. Tại sao ta đã từ bỏ những ham muốn ngoài đời, nhưng khi vào xuất gia ta lại ha, muốn những thứ khác nữa? Đây là điểm để chiêm nghiệm, mình thấy nó vô lí vô cùng, xấu hổ vô cùng. Vô lí như thế nào và xấu hổ như thế nào?
Nhiều người ngoài đời có căn nhà lớn lắm, vào xuất gia thì chỉ ở trên cái đơn, cái giường nhỏ xíu, nhưng ai chạm vào chỗ đó thì thế nào? Nếu tâm không tu tập, thì sẽ cho rằng cái đơn đó là “của tôi”, phòng này là của “tôi”. Tại sao ta đã từ bỏ những tham muốn vật chất bên ngoài nhưng lại dính vào những tham muốn vật chất lúc đã xuất gia. Ngoài đời bỏ được hết đủ thứ quần áo xanh, đỏ, tím, vàng, mo-đen. Khi vào tu nếu cái áo, đôi dép bị ai lấy nhầm, lúc đó với tâm không tu tập, không hộ trì các căn thì có nổi giận lên không? “Tại sao lại lấy dép tôi đi? Áo ông sao không mặc mà lấy áo tôi mặc?” Đó là những điều nhỏ, nếu nói rộng ra là dính vào danh, lợi, lợi dưỡng, cung kính, dính vào chùa chiền. Người thế tục khác người thế tục. Người thế tục đi đâu hai ngày cũng không được, phải vội về vì không ai trông coi nhà. Còn mình là người xuất gia, đi đâu cũng lẹ lẹ để về, vì không ai trông coi chùa hết, như vậy cần nhìn lại. Không khéo chỉ là sự thay đổi: bỏ ngôi nhà này để vào nhà kia, bỏ cái muốn này rồi đi qua cái muốn kia, bỏ cái chấp này đi qua cái chấp kia. Mình không thấy được triệt để vấn đề.
Cho nên câu “sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy, lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia” là một câu quan trọng. Mình không còn thương, không còn không cha mẹ nữa, nhưng không khéo đổi lại là dính mắc với Phật tử. Phải quán chiếu tâm để nhìn thấy tất cả những điều đó. Những câu hỏi này rất quan trọng, mỗi khi tâm bị dính mắc cái này, kia, nọ thì mình hãy tự hỏi câu này: “Ta bỏ hết tất cả rồi, nhưng tại sao khi tu lại bám chấp vào những cái nhỏ nhặt như chỗ ngủ, miếng ăn, chỗ ở, bộ đồ, cái áo, cái y hay lời nói, tiếng khen, tiếng chê?” Thường quán chiếu như vậy là tự làm cho chính mình vượt lên, bước lên. Ngoài đời có chương trình Vượt lên chính mình, còn mình cũng tự mình vượt lên, thường quán chiếu như vậy để vượt lên. Không khéo những điều trên thấy đơn giản nhưng nó có thật sự đơn giản không? Cho nên phải thường tự mình quán chiếu để tiến lên, nếu không quán chiếu thì nhiều khi dậm chân tại chỗ hoặc lui sụt nhưng mình không biết. Những cô chú phải nấu cơm, làm bếp, đến giờ thiền mà cứ nhớ công việc đó hoài là thất bại. Ngồi thiền là ngồi thiền, không nên vào ngồi thiền mà tính công việc để ngày mai làm hoặc nhớ chuyện gia đình, bỏ những công việc đó qua một bên. Giờ đó nhớ tới cũng không làm được gì cả, ngồi đó thì sao lo cho gia đình được. Hãy lo cho công việc ngay giây phút đó, phải ngồi thiền, giờ nào việc nầy. Chứ ngồi đó mà lo về nhà, lo cho mẹ, lo cho ba thì lo được không? Không thành được gì hết, thiền không xong, mà lo cũng không xong, mất hết, hai đường đều mất. Vì vậy nhớ kĩ, phải tự làm cho chính mình tiến lên.
Vị ấy lại quán sát, "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Ta sẽ tinh tấn, thắng tấn, không thụ động. Phải suy nghĩ rằng ta sẽ tiến lên, bước lên cao, không đứng lại một chỗ, không thụ động. Tâm niệm phải an trú trong Tứ Niệm Xứ, an trú trong Thân Hành Niệm, an trú trong sự Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp. Không để thất niệm, mất chánh niệm, không sống trong lãng quên, phóng dật. Tâm thì được định tĩnh, nhất tâm. Thân phải nhẹ nhàng, khinh an, không dao động. Đừng để dao động không phải là không nhúc nhích, cục cựa, mà bước đi sao cho khoan thai, ung dung, từ tốn, lời nói nhẹ nhàng. Người xuất gia không thể vừa đi vừa chạy, không thể quá dao động, lăng xăng. Đó là hộ trì căn, ta sẽ được học trong bài kinh “Vô thượng căn tu tập”. Các căn của mình có tu tập là mắt có tu tập, lỗ tai có tu tập, lỗ mũi có tu tập, miệng có tu tập, thân có tu tập, tâm có tu tập.
“Này các Tỳ-kheo, ta chưa thấy một lợi ích nào lớn lao giống như tâm có tu tập. Tâm có tu tập, này các Tỳ-kheo, lợi ích vô cùng lớn lao” (trích Tăng Chi Bộ Kinh, Phẩm Khó Sử Dụng). Tâm có tu tập, thân có tu tập, các căn có tu tập, ngồi cho ra ngồi, đứng cho ra đứng, đi cho ra đi, phải có phong thái của người xuất gia. Người nào vào thất ngồi với thầy mà nhịp đùi hỏi pháp là thầy không giảng. Có một cô ngồi xéo qua một bên, hỏi pháp nhưng thầy không giảng, vì như vậy là không cung kính pháp. Đâu phải giảng pháp là dễ. Trong luật nói rất rõ: không vì người cầm dù mà thuyết pháp; không vì người cao còn mình đứng thấp mà thuyết pháp; không vì người đứng giữa còn mình đứng một bên mà thuyết pháp. Cho nên mình phải biết uy nghi của người xuất gia, thân không dao động, tâm phải an tịnh, định tĩnh, nhất tâm. Cố Hòa thượng Thượng Trí Hạ Tịnh, 90 tuổi nhưng ngồi cái lưng không bao giờ tựa ghế, lúc nào cũng thẳng lưng, ngồi võng cũng vậy. Những điều đó mình học hoài cũng chưa hết được. Phải để ý, nỗ lực, dùng Tứ Như Ý Túc để thực tập, lâu ngày dài tháng mới trở thành thói quen, chứ không phải tự nhiên có được. Các chú tập sự nhìn sư huynh Pháp Sơn, sư huynh Pháp Từ để học cách đi, đứng, ngồi, nằm; thân không dao động, tâm định tĩnh, nhất tâm. Phải tập như vậy. Người xuất gia không lăng xăng, tháo động. Khi nói phải biết lúc nào nên nói, lúc nào không nên nói, nói lúc nào, nói với ai, nói như thế nào, chứ không phải muốn nói là nói. Tự nhiên người khác đang nói mà mình xẹt vào là không được, không đúng pháp, nhất là người xuất gia nữa. Muốn nói thì phải đợi người ta nói xong, sau đó mới tới mình, không được cắt ngang câu nói của người ta. Ngoài đời như vậy là bất lịch sự, trong đạo là không có chánh niệm, không hộ trì căn, lúc đó là không tu tập cái miệng. Nó rất nhỏ nhiệm, vi tế, mình cần phải hành trì và thực tập.
“Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh.”, như vậy là người đó làm cho chính mình tiến lên.
“Từ bỏ bất thiện, tu tập bất thiện”, cái gì là thiện, cái gì là bất thiện? Tham muốn, nóng giận, si mê, ta đây, ý nghĩ hại là bất thiện, thí dụ như bị ong chích thì nghĩ phải làm sao để xử nó cũng không được. Ý nghĩ cũng không được, chứ đừng nói để cho nó phát ra hành động. Tức là ý hành cũng không được cho khởi lên, chứ đừng nói chi để làm ra thân hành, đó là pháp tu tập. Có nhiều khi đá trúng cục đá giữa đường, chân đau tức quá, đá cục đá thêm một cái nữa. Cho rằng đau là tại cục đá, chứ không biết là do mắt của mình không để ý. Những cái đó là tà tư duy, phi như lý tác ý, vô minh, không thấy rõ được sự thật. Cho nên phải thường thường dòm ngó thì mới biết được, còn không nhìn lại là mình không biết. “Từ bỏ có tội, tu tập không tội”, cái nào mình thấy có tội là phải bỏ từ từ. Tự mình phải biết cái nào có tội, cái nào không tội. Cái nào có tội thì bỏ, không tội thì tu.“Gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh” – giữ gìn cho chính mình được trong sạch, thanh tịnh. Giữ gìn mắt, giữ gìn tai, giữ gìn mũi, giữ gìn lưỡi, giữ gìn thân, giữ gìn ý, ngày càng làm cho tất cả được trong sạch, thanh tịnh.
Như vậy là tự mình đang làm cho chính mình vượt lên, tiến lên, phát triển lên, tăng thượng lên. Ngoài đời gọi là Vượt lên chính mình, trong đạo là Tự mình vượt lên, tiến lên. Không được chấp nhận thụ động ở tại chỗ mà phải nỗ lực học pháp, tư duy pháp, thảo luận về pháp, thiền quán vào pháp. Để tất cả các pháp trong tự thân, tự tâm hiện rõ ra hết, không có một pháp nào trong kinh mà mình không rõ khi ngồi thiền, quán chiếu. Khi đó các pháp đều hiện rõ ra tự thân, tự tâm mình, tất cả đều được thông đạt, đó là thành tựu Chánh Tri Kiến.
./.