NHẬN DIỆN NĂM UẨN
NHẬN DIỆN NGŨ UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện năm uẩn: PAGEREF _Toc77089093 \h 1
1.Thực tập nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc77089094 \h 1
2. Tầm quan trọng của nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc77089095 \h 3
II. Trí tuệ về sắc uẩn: PAGEREF _Toc77089096 \h 4
III. Trí tuệ về thọ uẩn: PAGEREF _Toc77089097 \h 7
I. Nhận diện năm uẩn:
Khi các huynh đệ niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” ba lần thấy tâm mình sao? Trong lúc ngồi yên tĩnh mấy phút, năm uẩn như thế nào? Lúc nghe phòng bên cạnh niệm Phật, năm uẩn mình như thế nào?
Tứ đại và năm uẩn đã được học, bây giờ huynh đệ cứ nói thoải mái, có gì cứ chia sẻ thật lòng, có sao nói vậy thôi. Nãy giờ nhận diện năm uẩn coi nó làm sao, cũng như trong các chuyên đề đã học mấy tháng nay, thì mình thu thập được gì?
Thực tập nhận diện năm uẩn
Sư thầy 1:
Kính thưa thầy và đại chúng,
Trong lúc niệm “Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, con nhiếp câu Niệm Phật vào trong tâm của mình. Khi niệm như vậy, thấy tâm của mình rất thanh thản, nhiếp được cái đó thì năm uẩn của mình không sanh khởi. Khi ngồi xuống cũng giữ trạng thái như vậy, năm uẩn không sanh khởi. Và khi con nghe lớp bên cạnh niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” lúc đó tâm con cũng có khởi lên, phóng theo câu niệm đó, nhưng khi vừa khởi lên thì con biết liền. Con biết là mình chạy theo cảnh và chạy theo cái tiếng. cho nên lúc đó con làm chủ lại được năm uẩn.
Con cũng trình bày với thầy về năm uẩn, mà thầy đã dạy cho chúng con từ bấy lâu qua. Người tu trước mắt là phải nhận biết được năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là các hình thể, các pháp hữu vi, đại khái như là các chất rắn, mắt, tai, mũi, lưỡi hay những vật chất bên ngoài, thì gọi là sắc. Thọ gọi là cảm thọ của uẩn mình, cũng giống như mình đi trời nắng nóng.
- Sư phụ: Hiện tại là cảm thọ gì?
- Sư thầy: Cảm thọ của con là vừa nói vừa run.
- Sư phụ: Đó là cảm thọ khổ hay vui?
- Sư thầy: Dạ là lạc thọ, con vui vì con hiểu được cảm thọ đó, thọ nhận được sự vui đó. Con còn chấp vào cái vui đó, mặc dù là chấp nhưng là thiện pháp. Còn cái vui mà tâm mình phóng ra ngoài thì là ác pháp. Ngay lúc này con đang làm chủ được cảm thọ của con, con rõ biết được tưởng của mình lúc niệm Phật ra làm sao, bây giờ tâm mình vận hành làm sao.
- Sư phụ: Tưởng là hình bóng trong tâm, từ nãy giờ có hình bóng gì?
- Sư thầy: Hình bóng là con tưởng lại câu niệm Phật mình niệm lúc ban đầu tâm ra làm sao, khi con nghe phòng kế bên đọc nó làm sao, rồi con đem so sánh, sự vận hành con mới thấy mình phóng tâm, chạy theo tiếng bên kia.
Sư phụ: Bây giờ có ai nhận diện đầy đủ được ngũ uẩn, mình học là học lý thuyết, bây giờ mình phải thực tập thực tế. Bây giờ ai có thể lên nói lại định nghĩa năm uẩn là gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là gì?
Sư thầy 2:
Kính thưa giáo thọ và đại chúng, cho con được trình bày hiểu biết của mình thông qua sự học hỏi giáo thọ về năm uẩn. Năm uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức, năm yếu tố tạo thành nên một con người. Sắc là chỉ thân thể của chúng ta có đầy đủ sáu căn.
- Sư phụ: Hoa có phải là sắc không?
- Sư thầy: Dạ, hoa là sắc
- Sư phụ: Bây giờ mình nói sắc là thân thể đầy đủ sáu căn thì mình nói có bản thân mình thôi, chưa đủ.
- Sư thầy: Sáu căn của mình là bên trong nội tâm của mình, còn sắc tướng bên ngoài là hoa, cảnh vật, vật thể bên ngoài. Thọ của mình là cảm giác vui buồn trong thân tâm của mình, hoặc là mình nhìn cảnh vật gì đó bên ngoài.
- Sư phụ: Có mấy loại cảm thọ
- Sư thầy: Có ba loại cảm thọ, khổ thọ, vui và không khổ, không vui. Tưởng là hình bóng bên trong do ta cảm nhận, nó chập chờn hay hiển thị trong tâm mình. Nhờ cái tưởng đó mà cái hành đi theo cái tưởng đó.
- Sư phụ: Hành là gì?
- Sư thầy: Hành là hình bóng bên trong nội tâm của mình
- Sư phụ: Không phải, cái đó là tưởng
- Sư thầy: Hành là lời nói thì thầm, và từ đó phát sanh ra hành động.
- Sư phụ: Còn thức là gì?
- Sư thầy: Thức là sự giáo cảm, hòa hợp lời nói, hành động việc làm của ta
- Sư phụ: Không phải, thức là rõ biết.
2. Tầm quan trọng của nhận diện năm uẩn
Nhận diện ngũ uẩn mà quý huynh đệ không nắm vững, không nhận diện được thì sự tu tập của mình sẽ mông lung. Hôm nay quý huynh đệ phải thực tập nhận diện năm uẩn, cái này quyết định cả cuộc đời tu hành của mình. Nếu mà huynh đệ không nắm được năm uẩn, thì quý huynh đệ không thể nào nhiếp phục được tham, sân, si, phá trừ bản ngã được hết. Bài thực tập hôm nay rất quan trọng, mấy huynh đệ cần chú ý vì phần này chúng ta sẽ sử dụng suốt cuộc đời tu hành của mình. Không cần ghi chép gì nhiều, chỉ cần cảm nhận và nhìn lại để thấy biết về năm uẩn.
Hàng ngày mình tụng “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…” trong kinh “Bát Nhã Tâm Kinh”. Mọi người đọc ro ro, đọc năm năm, mười năm, hai mươi năm, mà không biết năm uẩn là gì hết, dù đọc đến hết cuộc đời, tới chết cũng không biết. Nếu không có người chỉ dẫn và mình không nhìn lại để nhận diện là mình đọc tới chết thì cũng không biết năm uẩn thật sự là gì. Nếu không nắm được năm uẩn thì sự tu của mình không tới đâu, tại vì năm uẩn là tóm thâu nhân sinh và vũ trụ. Nếu không hiểu về năm uẩn tức là mình không hiểu về mình. Mà không hiểu về mình thì làm sao đi đến chỗ tự giác được?
Phải thuộc lòng định nghĩa theo lời Phật dạy, nếu không, nhớ cái này mình nói cái này, hoặc nhớ cái kia mình nói cái kia, nhớ cái nọ mình nói cái nọ, nói một hồi là loạn pháp thì đi đến mạt pháp. Những định nghĩa này là Đức Phật định nghĩa trong kinh tạng kinh Nikāya, bây giờ nếu mình nhớ mông lung, nhớ sai, nhớ lộn rồi nói ra một hồi là loạn pháp, hoặc là nói theo ý của mình. Thế nên, các pháp Phật từ từ hoại diệt. Hơn nữa, nếu pháp học không nắm vững, tới lúc thực hành là mình hành lộn xộn, cuối cùng không có pháp thành. Cho nên, mình tu không có thành tựu, tại vì từ pháp học đã không đúng.
II. Trí tuệ về sắc uẩn:
Minh Thành sẽ đọc nguyên văn để quý huynh đệ nắm thật vững.
“Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành” – định nghĩa trong kinh “Thủ Chuyển”.
“Bị thay đổi, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì?Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn…” – định nghĩa trong kinh “Đáng Được Ăn”.
Khi nói “sắc là gì?” thì mình nói liền: “Sắc là bốn đại, hay là bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo thành” không được nói sai một chữ. Minh Thành đọc nguyên văn để quý huynh đệ nắm thật vững. Vì cái này là định nghĩa của Đức Phật, sao mình dám sửa lại. Khi mình nói “sắc là thân thể này”, vậy ở ngoài không phải sắc sao? Nếu mình chỉ nói “tất cả những vật xung quanh là sắc”, cũng không đủ, rồi còn nước, gió, nhiệt độ…, cho nên mình nói như vậy là không đầy đủ. Mình phải nắm vững được sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành.
Tứ đại gồm: đất, nước, gió, lửa, bản thân chúng ta là sắc cho tứ đại tạo thành, những gì xung quanh cũng đều là sắc. Tứ đại tạo thành tất cả. Chúng ta nắm được điều này là nắm cả trái đất, chỉ ở một chữ là “sắc uẩn”, “sắc pháp”, không hơn không kém. Từ một hạt cát, cho đến cả đỉnh Everest, núi Tu Vi cũng là sắc pháp. Từ cái am tranh cho đến ngôi chùa vĩ đại nhất thế giới, cũng là sắc pháp, phải nắm thật vững. Tại vì khi định nghĩa đó đi sâu vào trong đầu, mình suy nghĩ, tư duy, quán chiếu thì từ từ sẽ san bằng những phân biệt về dáng vẻ bên ngoài của sắc. Còn nếu không, chúng ta nhìn mình chỉ thấy mình chứ không thấy nó là sắc. Hoặc mình thấy “cái kia đẹp, cái này xấu; cái này tốt, cái kia dở; cái này trắng, cái kia đen; cái này mập, cái kia ốm; cái này thể hình đẹp quá, sáu múi, cái kia có một múi”.
Khi nhìn xuyên thủng tất cả đều là sắc pháp, sắc uẩn thì tâm phân biệt của mình sẽ được bớt, được giảm. Ngược lại là mình lo nhìn mấy cái chi tiết, gọi là “biệt tướng” và “tổng tướng”, nhìn chung hay nhìn riêng, nhìn toàn phần hay là nhìn từng phần các bộ phận, rồi đi theo đó là mình chết. Tất cả chúng sanh vì không biết sắc là tứ đại, nên mới tưởng sắc là sắc thật, chính vì đó mới tham, mới ái, mới dục, mới chấp thủ. Còn bây giờ mình thấy tất cả nó là tứ đại thì dù món ăn ngon hay món ăn dở cũng là tứ đại, người đẹp hay người xấu cũng là tứ đại, người giàu hay người nghèo cũng là tứ đại. Nhìn được mỗi điều đó thôi cũng là bớt phân biệt được năm chục phần trăm rồi.
Đây không phải là chuyện để học chỉ cho hiểu, mà phải thực tập hàng ngày để hành trì. Ví dụ, bây giờ người ta cúng cho xấp vải, mà xấp vải bên đây là vải kate, còn ông ngồi kế mình được sắp giải silk của Mỹ, thì mình nhìn, mình nói “Ờ, tứ đại, sắc do tứ đại tạo thành mà, kate cũng là sắc, mà silk cũng là sắc, có gì đâu”, thì tự nhiên tâm của mình được nhẹ. Còn không mình cứ so đo “Cái kia tốt, cái này xấu. Tại sao cúng vải tốt cho ông kia, mà cúng tôi vải xấu? Thà đừng có cúng”. Ý hành cứ nói như vậy, đó là mình không thấy rõ được thực chất của vải là sắc pháp, là tứ đại, nên mình cứ đi theo nó mà phân biệt hoài.
Hoặc ví dụ bây giờ người ta cúng tiền mà không có bao thơ, cầm một xấp tiền tờ năm trăm. Cúng qua một lượt hết tới mình và hai người ngồi phía sau cùng thì hết tờ năm trăm, chỉ còn lại tờ hai trăm thôi, ba người đằng sau mỗi người được một tờ hai trăm. Lúc đó mình nhìn cái số với cái màu nó khác nhau. Rõ ràng bên kia số năm và năm con số không, mà bên đây con số hai. Số năm với số hai đó khác nhau, màu bên kia màu xanh, bên đây màu đỏ, nó khác nhau, mình ngồi cứ coi cái màu và cái số đó hoài. Nếu mình là người biết tu thì “ồ, tứ đại. Màu xanh hay màu đỏ gì cũng là tứ đại, con số năm hay số hai cũng là tứ đại, cũng là con số thôi”, chỗ đó là chỗ cho mình tu.
Cho nên chỗ này mình phải thuộc, và để nó ăn sâu vào tim tủy của mình mới được. Ví dụ người ta cúng hai xâu chuỗi, bên đây xâu là ngà voi với xâu bên đây là nhựa. Mình nhìn mình nói “ngà voi cũng là sắc pháp, mà nhựa cũng là sắc, tứ đại, không hơn không kém” tâm mình bình an, ghê gớm như vậy, đó là trí huệ về sắc uẩn, Thánh trí. Đó là công phu thâm hậu, chứ không phải chuyện đơn giản đâu. Nói cái này thì rất bình thường, nhưng nó chạm hàng ngày, mình tiếp xúc hàng ngày.
Đi vào lễ hội hoặc pháp hội, có hai huynh đệ. Ông kia nhỏ tuổi hạ hơn mình, nhưng mặt người ta sáng hơn mặt mình, người ta mời lên ghế ngồi trên, mình thì đưa xuống ngồi ở phía dưới, rồi ngồi ở đó nhưng tâm mình khó chịu hoài “tại sao tôi lớn tuổi hạ hơn, mà đưa tôi ngồi ở dưới, ông kia nhỏ lại ngồi trên”. Cái ghế nào cũng là cái ghế thôi, chỗ nào cũng là tứ đại thôi, chứ có gì khác đâu. Bản thân mình cũng là tứ đại, chứ đâu phải tôi, là của tôi, thì làm gì có ghế ngồi trên, ghế ngồi dưới “tâm phân biệt, tham chấp đi chỗ khác chơi đi, đừng ở đây làm khổ ta nữa. Chính mày, chính cái tâm này, cái tâm cao thấp, hơn thua, nhân ngã, trên dưới, làm cho mình khổ, đi chỗ khác. Thân này là tứ đại, trống rỗng, không có gì trong đây hết, không ai cao ai thấp”. Như vậy là công phu, là trí huệ quán chiếu, là tư huệ đó, phải tập nhìn tất cả là sắc pháp.
Khi Minh Thành đi qua Dhammakaya (Thái Lan), chỗ mà một triệu người ngồi thiền được. Thấy lạ lắm, Minh Thành đứng ở đó thì tâm mình bình an lắm, trong lòng không có sự nôn nao, thúc giục rằng “ về mình ráng làm được phần trăm của cái này”. Tới lúc đó tự nhiên kinh Nikāya nó sáng tỏ, nói “đây là sắc pháp, vô thường, không có gì ở đây hết”. Thậm chí Minh Thành đi chia sẻ Phật pháp, có những ngôi chùa đẹp lắm, mình vô mình thấy “ừ mình cũng biết đẹp vậy, nhưng rồi cũng sụp đổ. Mà có khi không khéo, sau này nó trở thành chỗ tranh giành nữa, không có gì ở đây để ưa thích hết”. Chúng ta thấy rằng. kinh Nikāya cho mình một cái tâm, chỉ cho mình một phương thức sống bình an, kỳ diệu, tuyệt vời lắm, ứng dụng đi mới thấy, phải thực tập.
Chứ mình bây giờ dễ ợt à, mình nói lý thuyết nghe nó hay vậy đó, nghe không có vậy đó, chứ từng miếng ăn, từng ly nước, từng cái bao thơ, cái xâu chuỗi, ghế ngồi, đụng vô là phiền não rầm rầm. Tham, sân, si đầy rẫy, bản ngã nghi ngút, ngất trời. Tại vì sao? Tại vì mình không hiểu sắc pháp, mình không hiểu gì về sắc uẩn, mình cho nó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Bây giờ thử ai chụp hình mình rồi để hai chữ “ăn trộm” phía dưới, lúc đó xem mình chết liền không. Mình xem cái hình đó thôi là tự nhiên bên trong mình bốc lên, bắt đầu tới cái thọ, nó qua cái thọ, cảm giác. Mình có nhìn vô cảm giác này, mình mới phát hiện được tham, sân, si, bản ngã, những phiền não, nó cư trú trong đó, đây là hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của tất cả tham, sân, si, bản ngã, thọ uẩn đó, cảm giác đó.
Cho nên hồi nãy Minh Thành muốn có hỏi “huynh đệ đang lúc niệm ba câu niệm đó cảm giác như thế nào? Có cảm giác gì? Có nhìn thấy cảm giác lúc đó hay không? Hay là chỉ chạy theo cái tiếng thôi?” Khi nghe tiếng bên kia niệm, có khi mình niệm theo luôn nữa, lúc đó là mình mất mình rồi, không phải Niệm Phật, mà là hướng ngoại, mất mình, bị thanh trần câu dẫn. Phật là gì? Là trí huệ thấu suốt năm uẩn, không bị lừa dối, không bị đam mê, không bị chấp thủ, không bị bám chặt vào năm uẩn, đó là trí huệ của Phật. Chứ không phải Phật là “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, đó chỉ là ngôn ngữ, từ ngữ chứ không phải Phật.
Huynh đệ nghĩ mình bước lên chùa, thấy cái tượng đặt ở giữa, mình đến mình lạy lia lịa, đó là Phật đó hả? Đó là sắc pháp, là biểu tượng thôi, cái đó làm sao Phật được. Thành ra, nếu không khéo là mình trở thành giống như mê tín, tại vì mình không hiểu được đó là sắc pháp. Nói vậy không phải là mình không cung kính, nhưng mình phải hiểu được thực chất của vấn đề, đừng có lầm tưởng. Ví dụ như tấm giấy, người ta vẽ hình lên, rồi tô màu, đem treo lên, mình đến mình lạy, gặp chỗ nào cũng lạy, từ cổng chùa đi đến hết cái chùa, ít nhất cũng một trăm tám mươi ông, không biết ông nào, mà cứ lạy như vậy thôi. Cho nên, chúng ta phải hiểu, phải nắm vững những vấn đề, đó chỉ là biểu tượng để nhắc nhở mình phải thành tựu trí huệ.
III. Trí tuệ về thọ uẩn:
Điều quan trọng tiếp theo là chúng ta phải nhìn thấy được cảm giác của mình hằng ngày, đừng để cho nó qua mặt mình. Chúng ta phải hiểu biết về cảm giác, biết tên tuổi của nó, biết cảm giác đó là cảm giác gì? Và đào sâu xuống, trong cảm giác này có dục, có tham, có ái, có sân trong đó không? Tại sao nó phát sanh ra tham ái, tham muốn này?
Từ ở trong cảm thọ này, nếu huynh đệ chịu khó, thường trực để ý, nhìn lại, kiểm soát lại, thì huynh đệ sẽ thấy cảm thọ nào nó khoan khoái, thích thú, dễ chịu, là trong đó có tham, theo từ ngữ trong tạng kinh Nikāya gọi là “tham tùy miên”. “Tùy” là đi theo, “miên” là miên man. Ở trong cảm giác lạc thọ, cảm giác thích thú, khoan khoái, sung sướng thì anh chàng tham này đi theo miên man trong đó.
Cho nên, khi ăn những món ngon, mình nhìn kỹ sẽ thấy tham, dục, ái ở trong đó. Bên trong có sự thúc giục gắp ăn, rồi thích thích, muốn gắp lẹ lẹ lên thêm, như vậy cái dục có trước, rồi đến ái, rồi đến tham, cứ muốn thêm nữa. Hay đối với những lời tán thán, khen ngợi, ca tụng mình, khi nghe những lời đó, người ta gọi là thọ do nhĩ xúc sanh. Cảm giác có ra từ sự tiếp xúc của lỗ tai trong điện thoại hoặc bên ngoài cũng vậy, khi nghe những lời tán tụng, khen ngợi đưa mình lên thì tự nhiên trong người có tham, khoái và thích. Lúc đó bên trong có tham nhưng mình không thấy, nếu không nhìn lại cảm giác, không thành tựu trí huệ về thọ uẩn là mình không biết, tưởng đó là bình thường, nhưng cái đó không bình thường, mà có tham tùy miên trong đó. Cảm giác khó chịu, bực bội thì rõ ràng là sân ở trong đó, mà mình không thấy, chúng ta phải để ý kỹ thì mới thấy. Và không những để ý kỹ thôi mà mình phải biết chỗ đó là chỗ nào luôn.
Thí dụ như trở lại trạng thái cảm thấy dễ chịu, khoan khoái, thì dục có chỗ phát sanh. Chỗ phát dục sẽ động chuyển. Mình để ý kỹ, khi tiếp xúc những hình ảnh, âm thanh về dục thì trong cảm giác sẽ khoan khoái, chỗ phát sẽ dục động chuyển, mình nhiếp phục chỗ đó liền. Khi nhiếp phục được cảm giác thì chỗ đó sẽ lắng dịu. Còn nếu tiếp tục để cho cảm giác sanh khởi tiếp tục thì sự thúc giục đẩy mình đi tìm, đi kiếm, đi thực hiện để thỏa mãn.
Thành ra, ở trong cảm giác này rất đặc biệt. Vì tưởng là hình bóng, không có chỗ, mình không nắm bắt được. Hành là những suy nghĩ, nó miên man, làm sao mình thấy nó ở chỗ nào. Thức thì chỉ rõ biết. Còn sắc này là dễ thấy. Nhưng cái thọ là chỗ rất đặc biệt, nó là chiếc cầu nối của sắc, tưởng, hành, thức. Cho nên cái thọ này có chỗ ở, nó biểu hiện trên thân của mình. Thí dụ mình nóng lên, thì trong người mình hừng hực lên, nó biểu hiện ra. Hay là mình tham thì bị cuốn hút vô đó. Cái thọ nó biểu hiện trên thân, chính vì biểu hiện, cho nên mình thấy được. Mình thường nhìn lại là mình thấy được, phát giác ra rồi nhiếp phục nó, mình mới từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận được.
Cho nên người nào tu đúng, là bậc chân tu, tu đúng tinh thần Đức Phật dạy là người đó không có thời gian rảnh, vì lúc nào cũng phải nhìn lại cảm giác của mình. Còn bằng không, tối ngày chỉ lo nhìn ở ngoài, nhìn người này, người kia, cảnh này, cảnh nọ, cái này đúng, cái này sai, cái này hay, cái kia dở, phải quấy, tối ngày phê phán ở ngoài, không nhìn vào gốc cảm thọ bên trong, không thấy được tham, sân, si. Người thành tựu trí huệ thì thấy được tham, sân, si sanh khởi như thế nào, an trú, chấm dứt và vận hành làm sao? Người đó là bậc Tu-đà-hoàn, chỉ thành tựu Thánh trí mới thấy được tham, sân, si một cách sâu sắc.
Còn mình bây giờ “thưa thầy, con đâu có tham, sân, si”. Có nhiều Phật tử đến nói: “Thưa thầy con hết tham, sân, si rồi!”, nghe xong là mình bó tay. Tại vì họ là vô văn phàm phu thì làm sao biết được. Chỉ có Đa Văn Thánh đệ tử mới biết, mới thấy được, ở trong cảm giác khó chịu là thấy liền. Thí dụ điện thoại ren ren, mình bắt lên nghe, bên kia nói nói, mình thấy “như vậy là xúc phạm mình rồi”. Lúc đó thấy từ dưới dâng lên một cảm giác nóng hực lên“cái này không ổn rồi, cảm giác này không ổn rồi, bây giờ nếu mình nói lời nào ra là thế nào cũng hư chuyện, tan nát hết” nên thôi đừng nói, cứ im lặng, chánh niệm tỉnh giác lắng nghe, xong rồi tắt điện thoại. Mình ngồi xem lại “tại sao cảm giác này nó sanh? Nó do từ đâu? Có phải do bản ngã”,“nói như vậy là xúc phạm đến tôi”,“tại sao nhỏ mà lại nói như vậy, mình là người lớn mà? Tại sao Sư đệ lại nói sư huynh như vậy? Tại sao Sư cháu mà lại nói Sư chú như vậy? Tại sao một Phật tử mà nói người xuất gia như vậy?” là chết liền, chỗ đó là chỗ bản ngã.
Khi quán chiếu, mình thấy không có cư sĩ, xuất gia, không có Sư chú, Sư bác, Sư phụ gì hết, mà tất cả là tứ đại, mình chả là cái gì hết, chỉ là tứ đại mà thôi, tứ đại với tứ đại thì làm gì có cao thấp? “Gục đầu xuống, cúi đầu xuống, đắp y vô, quỳ, lạy”, mình lạy người Phật tử làm cho mình sân trong cái điện thoại đó. Quỳ xuống lạy, quán chiếu tướng lạy, lạy mười lạy để dẹp bản ngã này. Khi quán chiếu tiếp tục như vậy, cái sân dần dần tan hết ra, giống như viên thuốc sủi bọt mà bỏ vào nước vậy, cảm giác tan hết ra, đó là công phu tuệ quán, nhiếp phục bản ngã.
Tại sao mình có bản ngã chình ình? Tại vì mình không thành tựu trí huệ năm uẩn, không thấy đây là năm uẩn, mình thấy “đây là tôi”, nếu “đây là tôi” thì phải có bản ngã. Còn nếu thấy là năm uẩn thì đâu có bản ngã, năm uẩn là năm uẩn, không có cái tôi. Tại sao mình không thành tựu trí tuệ năm uẩn? Tại vì mình không nhận diện năm uẩn. Tại sao mình không nhận diện năm uẩn? Tại vì không ai nói cho mình nghe. Mình không được nghe Chánh Pháp, không được gặp bậc chân nhân, không được gặp bậc thiện tri thức, không gặp bậc đạo sư chỉ cho mình biết “thực chất cái thân này, thế giới này, chỉ là năm uẩn, chứ không có tôi, của tôi”. Mà đi qua được cửa này, mới thành tựu Chánh Tri Kiến trong Bát Chánh Đạo. Nếu không đi qua cửa này thì tất cả những cái như mình ngồi thiền, hay này nọ kia không phải là thiền định của Phật giáo, không phải là Chánh Định.
Quý huynh đệ để ý, khi mình ngồi thiền để tâm yên niệm Phật, ngồi thiền xong mình nói: “Trời, hôm nay ngồi thiền đã quá, khoái ghê luôn, không muốn xả, tại đánh kẻng mới ngưng chứ không muốn xả, muốn ngồi thêm”. Ai hỏi “sao vậy?”, mình trả lời “tại nó đã quá”, thì cái “đã quá” đó là tham trong cảm giác. Nó chỉ là trong cảm giác, đó là cảm giác nhẹ nhàng, êm ái, yên tịnh, cảm giác đó là khi tưởng và hành lắng dịu. Tưởng là những hình bóng trong nội tâm của mình lắng xuống, không khởi lên những hình bóng. Còn hành là những lời nói, mà lúc đó nó không nói. Vì thế mà có nhiều người lầm tưởng đó là “chân tâm Phật tánh” nhưng không phải, chỉ là tưởng và hành lắng dịu, cảm giác được yên tĩnh.
Có hai Phật tử ở bên Mỹ, họ nghe bài pháp “Chiến Thuật Tâm Linh Của Đức Phật”, Minh Thành tâm sự về vấn đề tưởng và hành này. Những vị đó cũng ngồi thiền mấy chục năm bay về đây để trình bày lại vấn đề này. Lúc đó chỉ là tưởng với hành đó tạm yên, mà họ tưởng đâu đó là tối thượng, tưởng đó là cứu cánh, bây giờ họ nghe được họ mừng, họ xúc động chảy nước mắt.
Như vậy, khi tưởng với hành lắng dịu, lúc đó mình ngồi bình yên, cảm giác nhẹ nhàng, tâm thức biết rõ tưởng với hành, những hình bóng không có, những lời nói lầm thầm không có nên mình lầm tưởng đó là tâm chân thật của mình nhưng không phải, chỉ là lắng dịu tưởng và hành thôi. Nhưng trong cảm giác của mình thích thú, khoái khoái, muốn kéo dài trạng thái đó ra, lúc đó là dính mắc ở trong lạc thọ của thiền định. Mà mình không biết rằng cảm thọ đó là vô thường, rồi nó sẽ hết, khi tu ở mức độ sâu sắc một chút mới được như vậy. Còn không nghe được Chánh Pháp, không có tư duy, không biết được năm uẩn là năm uẩn, không phải mình thì không nhìn thấy được. Cho nên, con đường để tận diệt thân kiến chính là con đường thành tựu trí về năm uẩn.
Cả trên thế giới này đắm chìm ở trong cảm giác rồi không thấy, không biết được sự thật. Ở ngoài thì đắm chìm vào tài, sắc, danh lợi. Khi đi tu thì đắm chìm trong sự thích thú những cảm giác yên yên và mình khoái đó. Cho nên, vào ngồi thiền là thở vô, thở ra, phồng xẹp cái bụng, vô ra hơi thở một hồi được yên quá là cho nó yên luôn, cứ tưởng đó là ngồi thiền nhưng thật ra là mình ru ngủ. Chúng ta tưởng mình “tu”, nhưng thật sự là “ru”, mà mình không thành tựu trí huệ để thấy được cảm giác, thấy được sự thật, thấy được Chánh Pháp.
Trong tạng kinh Nikāya cho mình biết giới hạnh ở trong đạo Phật là phải đầy đủ những yếu tố, nói đơn giản nhất gồm:
Giữ giới, sống hộ trì và sự hộ trì của giới bổn;
Đầy đủ oai nghi, chánh hạnh;
Thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt;
Chấp nhận và học tập trong các học pháp;
Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh;
Giới hạnh đầy đủ;
Thủ hộ các căn;
Chánh niệm tỉnh giác;
Biết tri túc.
Đây là nói đơn giản nhất của phần giới hạnh trong tạng kinh Nikāya. Để “đầy đủ oai nghi, chánh hạnh” một cách thâm thúy, cốt tủy như trong tạng kinh là càng khó hơn trăm ngàn lần, nhờ đó mới chỉ cho chúng ta đạo lộ giải thoát.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện năm uẩn: PAGEREF _Toc77089093 \h 1
1.Thực tập nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc77089094 \h 1
2. Tầm quan trọng của nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc77089095 \h 3
II. Trí tuệ về sắc uẩn: PAGEREF _Toc77089096 \h 4
III. Trí tuệ về thọ uẩn: PAGEREF _Toc77089097 \h 7
I. Nhận diện năm uẩn:
Khi các huynh đệ niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” ba lần thấy tâm mình sao? Trong lúc ngồi yên tĩnh mấy phút, năm uẩn như thế nào? Lúc nghe phòng bên cạnh niệm Phật, năm uẩn mình như thế nào?
Tứ đại và năm uẩn đã được học, bây giờ huynh đệ cứ nói thoải mái, có gì cứ chia sẻ thật lòng, có sao nói vậy thôi. Nãy giờ nhận diện năm uẩn coi nó làm sao, cũng như trong các chuyên đề đã học mấy tháng nay, thì mình thu thập được gì?
Thực tập nhận diện năm uẩn
Sư thầy 1:
Kính thưa thầy và đại chúng,
Trong lúc niệm “Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, con nhiếp câu Niệm Phật vào trong tâm của mình. Khi niệm như vậy, thấy tâm của mình rất thanh thản, nhiếp được cái đó thì năm uẩn của mình không sanh khởi. Khi ngồi xuống cũng giữ trạng thái như vậy, năm uẩn không sanh khởi. Và khi con nghe lớp bên cạnh niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” lúc đó tâm con cũng có khởi lên, phóng theo câu niệm đó, nhưng khi vừa khởi lên thì con biết liền. Con biết là mình chạy theo cảnh và chạy theo cái tiếng. cho nên lúc đó con làm chủ lại được năm uẩn.
Con cũng trình bày với thầy về năm uẩn, mà thầy đã dạy cho chúng con từ bấy lâu qua. Người tu trước mắt là phải nhận biết được năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là các hình thể, các pháp hữu vi, đại khái như là các chất rắn, mắt, tai, mũi, lưỡi hay những vật chất bên ngoài, thì gọi là sắc. Thọ gọi là cảm thọ của uẩn mình, cũng giống như mình đi trời nắng nóng.
- Sư phụ: Hiện tại là cảm thọ gì?
- Sư thầy: Cảm thọ của con là vừa nói vừa run.
- Sư phụ: Đó là cảm thọ khổ hay vui?
- Sư thầy: Dạ là lạc thọ, con vui vì con hiểu được cảm thọ đó, thọ nhận được sự vui đó. Con còn chấp vào cái vui đó, mặc dù là chấp nhưng là thiện pháp. Còn cái vui mà tâm mình phóng ra ngoài thì là ác pháp. Ngay lúc này con đang làm chủ được cảm thọ của con, con rõ biết được tưởng của mình lúc niệm Phật ra làm sao, bây giờ tâm mình vận hành làm sao.
- Sư phụ: Tưởng là hình bóng trong tâm, từ nãy giờ có hình bóng gì?
- Sư thầy: Hình bóng là con tưởng lại câu niệm Phật mình niệm lúc ban đầu tâm ra làm sao, khi con nghe phòng kế bên đọc nó làm sao, rồi con đem so sánh, sự vận hành con mới thấy mình phóng tâm, chạy theo tiếng bên kia.
Sư phụ: Bây giờ có ai nhận diện đầy đủ được ngũ uẩn, mình học là học lý thuyết, bây giờ mình phải thực tập thực tế. Bây giờ ai có thể lên nói lại định nghĩa năm uẩn là gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là gì?
Sư thầy 2:
Kính thưa giáo thọ và đại chúng, cho con được trình bày hiểu biết của mình thông qua sự học hỏi giáo thọ về năm uẩn. Năm uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức, năm yếu tố tạo thành nên một con người. Sắc là chỉ thân thể của chúng ta có đầy đủ sáu căn.
- Sư phụ: Hoa có phải là sắc không?
- Sư thầy: Dạ, hoa là sắc
- Sư phụ: Bây giờ mình nói sắc là thân thể đầy đủ sáu căn thì mình nói có bản thân mình thôi, chưa đủ.
- Sư thầy: Sáu căn của mình là bên trong nội tâm của mình, còn sắc tướng bên ngoài là hoa, cảnh vật, vật thể bên ngoài. Thọ của mình là cảm giác vui buồn trong thân tâm của mình, hoặc là mình nhìn cảnh vật gì đó bên ngoài.
- Sư phụ: Có mấy loại cảm thọ
- Sư thầy: Có ba loại cảm thọ, khổ thọ, vui và không khổ, không vui. Tưởng là hình bóng bên trong do ta cảm nhận, nó chập chờn hay hiển thị trong tâm mình. Nhờ cái tưởng đó mà cái hành đi theo cái tưởng đó.
- Sư phụ: Hành là gì?
- Sư thầy: Hành là hình bóng bên trong nội tâm của mình
- Sư phụ: Không phải, cái đó là tưởng
- Sư thầy: Hành là lời nói thì thầm, và từ đó phát sanh ra hành động.
- Sư phụ: Còn thức là gì?
- Sư thầy: Thức là sự giáo cảm, hòa hợp lời nói, hành động việc làm của ta
- Sư phụ: Không phải, thức là rõ biết.
2. Tầm quan trọng của nhận diện năm uẩn
Nhận diện ngũ uẩn mà quý huynh đệ không nắm vững, không nhận diện được thì sự tu tập của mình sẽ mông lung. Hôm nay quý huynh đệ phải thực tập nhận diện năm uẩn, cái này quyết định cả cuộc đời tu hành của mình. Nếu mà huynh đệ không nắm được năm uẩn, thì quý huynh đệ không thể nào nhiếp phục được tham, sân, si, phá trừ bản ngã được hết. Bài thực tập hôm nay rất quan trọng, mấy huynh đệ cần chú ý vì phần này chúng ta sẽ sử dụng suốt cuộc đời tu hành của mình. Không cần ghi chép gì nhiều, chỉ cần cảm nhận và nhìn lại để thấy biết về năm uẩn.
Hàng ngày mình tụng “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…” trong kinh “Bát Nhã Tâm Kinh”. Mọi người đọc ro ro, đọc năm năm, mười năm, hai mươi năm, mà không biết năm uẩn là gì hết, dù đọc đến hết cuộc đời, tới chết cũng không biết. Nếu không có người chỉ dẫn và mình không nhìn lại để nhận diện là mình đọc tới chết thì cũng không biết năm uẩn thật sự là gì. Nếu không nắm được năm uẩn thì sự tu của mình không tới đâu, tại vì năm uẩn là tóm thâu nhân sinh và vũ trụ. Nếu không hiểu về năm uẩn tức là mình không hiểu về mình. Mà không hiểu về mình thì làm sao đi đến chỗ tự giác được?
Phải thuộc lòng định nghĩa theo lời Phật dạy, nếu không, nhớ cái này mình nói cái này, hoặc nhớ cái kia mình nói cái kia, nhớ cái nọ mình nói cái nọ, nói một hồi là loạn pháp thì đi đến mạt pháp. Những định nghĩa này là Đức Phật định nghĩa trong kinh tạng kinh Nikāya, bây giờ nếu mình nhớ mông lung, nhớ sai, nhớ lộn rồi nói ra một hồi là loạn pháp, hoặc là nói theo ý của mình. Thế nên, các pháp Phật từ từ hoại diệt. Hơn nữa, nếu pháp học không nắm vững, tới lúc thực hành là mình hành lộn xộn, cuối cùng không có pháp thành. Cho nên, mình tu không có thành tựu, tại vì từ pháp học đã không đúng.
II. Trí tuệ về sắc uẩn:
Minh Thành sẽ đọc nguyên văn để quý huynh đệ nắm thật vững.
“Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành” – định nghĩa trong kinh “Thủ Chuyển”.
“Bị thay đổi, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì?Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn…” – định nghĩa trong kinh “Đáng Được Ăn”.
Khi nói “sắc là gì?” thì mình nói liền: “Sắc là bốn đại, hay là bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo thành” không được nói sai một chữ. Minh Thành đọc nguyên văn để quý huynh đệ nắm thật vững. Vì cái này là định nghĩa của Đức Phật, sao mình dám sửa lại. Khi mình nói “sắc là thân thể này”, vậy ở ngoài không phải sắc sao? Nếu mình chỉ nói “tất cả những vật xung quanh là sắc”, cũng không đủ, rồi còn nước, gió, nhiệt độ…, cho nên mình nói như vậy là không đầy đủ. Mình phải nắm vững được sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành.
Tứ đại gồm: đất, nước, gió, lửa, bản thân chúng ta là sắc cho tứ đại tạo thành, những gì xung quanh cũng đều là sắc. Tứ đại tạo thành tất cả. Chúng ta nắm được điều này là nắm cả trái đất, chỉ ở một chữ là “sắc uẩn”, “sắc pháp”, không hơn không kém. Từ một hạt cát, cho đến cả đỉnh Everest, núi Tu Vi cũng là sắc pháp. Từ cái am tranh cho đến ngôi chùa vĩ đại nhất thế giới, cũng là sắc pháp, phải nắm thật vững. Tại vì khi định nghĩa đó đi sâu vào trong đầu, mình suy nghĩ, tư duy, quán chiếu thì từ từ sẽ san bằng những phân biệt về dáng vẻ bên ngoài của sắc. Còn nếu không, chúng ta nhìn mình chỉ thấy mình chứ không thấy nó là sắc. Hoặc mình thấy “cái kia đẹp, cái này xấu; cái này tốt, cái kia dở; cái này trắng, cái kia đen; cái này mập, cái kia ốm; cái này thể hình đẹp quá, sáu múi, cái kia có một múi”.
Khi nhìn xuyên thủng tất cả đều là sắc pháp, sắc uẩn thì tâm phân biệt của mình sẽ được bớt, được giảm. Ngược lại là mình lo nhìn mấy cái chi tiết, gọi là “biệt tướng” và “tổng tướng”, nhìn chung hay nhìn riêng, nhìn toàn phần hay là nhìn từng phần các bộ phận, rồi đi theo đó là mình chết. Tất cả chúng sanh vì không biết sắc là tứ đại, nên mới tưởng sắc là sắc thật, chính vì đó mới tham, mới ái, mới dục, mới chấp thủ. Còn bây giờ mình thấy tất cả nó là tứ đại thì dù món ăn ngon hay món ăn dở cũng là tứ đại, người đẹp hay người xấu cũng là tứ đại, người giàu hay người nghèo cũng là tứ đại. Nhìn được mỗi điều đó thôi cũng là bớt phân biệt được năm chục phần trăm rồi.
Đây không phải là chuyện để học chỉ cho hiểu, mà phải thực tập hàng ngày để hành trì. Ví dụ, bây giờ người ta cúng cho xấp vải, mà xấp vải bên đây là vải kate, còn ông ngồi kế mình được sắp giải silk của Mỹ, thì mình nhìn, mình nói “Ờ, tứ đại, sắc do tứ đại tạo thành mà, kate cũng là sắc, mà silk cũng là sắc, có gì đâu”, thì tự nhiên tâm của mình được nhẹ. Còn không mình cứ so đo “Cái kia tốt, cái này xấu. Tại sao cúng vải tốt cho ông kia, mà cúng tôi vải xấu? Thà đừng có cúng”. Ý hành cứ nói như vậy, đó là mình không thấy rõ được thực chất của vải là sắc pháp, là tứ đại, nên mình cứ đi theo nó mà phân biệt hoài.
Hoặc ví dụ bây giờ người ta cúng tiền mà không có bao thơ, cầm một xấp tiền tờ năm trăm. Cúng qua một lượt hết tới mình và hai người ngồi phía sau cùng thì hết tờ năm trăm, chỉ còn lại tờ hai trăm thôi, ba người đằng sau mỗi người được một tờ hai trăm. Lúc đó mình nhìn cái số với cái màu nó khác nhau. Rõ ràng bên kia số năm và năm con số không, mà bên đây con số hai. Số năm với số hai đó khác nhau, màu bên kia màu xanh, bên đây màu đỏ, nó khác nhau, mình ngồi cứ coi cái màu và cái số đó hoài. Nếu mình là người biết tu thì “ồ, tứ đại. Màu xanh hay màu đỏ gì cũng là tứ đại, con số năm hay số hai cũng là tứ đại, cũng là con số thôi”, chỗ đó là chỗ cho mình tu.
Cho nên chỗ này mình phải thuộc, và để nó ăn sâu vào tim tủy của mình mới được. Ví dụ người ta cúng hai xâu chuỗi, bên đây xâu là ngà voi với xâu bên đây là nhựa. Mình nhìn mình nói “ngà voi cũng là sắc pháp, mà nhựa cũng là sắc, tứ đại, không hơn không kém” tâm mình bình an, ghê gớm như vậy, đó là trí huệ về sắc uẩn, Thánh trí. Đó là công phu thâm hậu, chứ không phải chuyện đơn giản đâu. Nói cái này thì rất bình thường, nhưng nó chạm hàng ngày, mình tiếp xúc hàng ngày.
Đi vào lễ hội hoặc pháp hội, có hai huynh đệ. Ông kia nhỏ tuổi hạ hơn mình, nhưng mặt người ta sáng hơn mặt mình, người ta mời lên ghế ngồi trên, mình thì đưa xuống ngồi ở phía dưới, rồi ngồi ở đó nhưng tâm mình khó chịu hoài “tại sao tôi lớn tuổi hạ hơn, mà đưa tôi ngồi ở dưới, ông kia nhỏ lại ngồi trên”. Cái ghế nào cũng là cái ghế thôi, chỗ nào cũng là tứ đại thôi, chứ có gì khác đâu. Bản thân mình cũng là tứ đại, chứ đâu phải tôi, là của tôi, thì làm gì có ghế ngồi trên, ghế ngồi dưới “tâm phân biệt, tham chấp đi chỗ khác chơi đi, đừng ở đây làm khổ ta nữa. Chính mày, chính cái tâm này, cái tâm cao thấp, hơn thua, nhân ngã, trên dưới, làm cho mình khổ, đi chỗ khác. Thân này là tứ đại, trống rỗng, không có gì trong đây hết, không ai cao ai thấp”. Như vậy là công phu, là trí huệ quán chiếu, là tư huệ đó, phải tập nhìn tất cả là sắc pháp.
Khi Minh Thành đi qua Dhammakaya (Thái Lan), chỗ mà một triệu người ngồi thiền được. Thấy lạ lắm, Minh Thành đứng ở đó thì tâm mình bình an lắm, trong lòng không có sự nôn nao, thúc giục rằng “ về mình ráng làm được phần trăm của cái này”. Tới lúc đó tự nhiên kinh Nikāya nó sáng tỏ, nói “đây là sắc pháp, vô thường, không có gì ở đây hết”. Thậm chí Minh Thành đi chia sẻ Phật pháp, có những ngôi chùa đẹp lắm, mình vô mình thấy “ừ mình cũng biết đẹp vậy, nhưng rồi cũng sụp đổ. Mà có khi không khéo, sau này nó trở thành chỗ tranh giành nữa, không có gì ở đây để ưa thích hết”. Chúng ta thấy rằng. kinh Nikāya cho mình một cái tâm, chỉ cho mình một phương thức sống bình an, kỳ diệu, tuyệt vời lắm, ứng dụng đi mới thấy, phải thực tập.
Chứ mình bây giờ dễ ợt à, mình nói lý thuyết nghe nó hay vậy đó, nghe không có vậy đó, chứ từng miếng ăn, từng ly nước, từng cái bao thơ, cái xâu chuỗi, ghế ngồi, đụng vô là phiền não rầm rầm. Tham, sân, si đầy rẫy, bản ngã nghi ngút, ngất trời. Tại vì sao? Tại vì mình không hiểu sắc pháp, mình không hiểu gì về sắc uẩn, mình cho nó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Bây giờ thử ai chụp hình mình rồi để hai chữ “ăn trộm” phía dưới, lúc đó xem mình chết liền không. Mình xem cái hình đó thôi là tự nhiên bên trong mình bốc lên, bắt đầu tới cái thọ, nó qua cái thọ, cảm giác. Mình có nhìn vô cảm giác này, mình mới phát hiện được tham, sân, si, bản ngã, những phiền não, nó cư trú trong đó, đây là hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của tất cả tham, sân, si, bản ngã, thọ uẩn đó, cảm giác đó.
Cho nên hồi nãy Minh Thành muốn có hỏi “huynh đệ đang lúc niệm ba câu niệm đó cảm giác như thế nào? Có cảm giác gì? Có nhìn thấy cảm giác lúc đó hay không? Hay là chỉ chạy theo cái tiếng thôi?” Khi nghe tiếng bên kia niệm, có khi mình niệm theo luôn nữa, lúc đó là mình mất mình rồi, không phải Niệm Phật, mà là hướng ngoại, mất mình, bị thanh trần câu dẫn. Phật là gì? Là trí huệ thấu suốt năm uẩn, không bị lừa dối, không bị đam mê, không bị chấp thủ, không bị bám chặt vào năm uẩn, đó là trí huệ của Phật. Chứ không phải Phật là “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, đó chỉ là ngôn ngữ, từ ngữ chứ không phải Phật.
Huynh đệ nghĩ mình bước lên chùa, thấy cái tượng đặt ở giữa, mình đến mình lạy lia lịa, đó là Phật đó hả? Đó là sắc pháp, là biểu tượng thôi, cái đó làm sao Phật được. Thành ra, nếu không khéo là mình trở thành giống như mê tín, tại vì mình không hiểu được đó là sắc pháp. Nói vậy không phải là mình không cung kính, nhưng mình phải hiểu được thực chất của vấn đề, đừng có lầm tưởng. Ví dụ như tấm giấy, người ta vẽ hình lên, rồi tô màu, đem treo lên, mình đến mình lạy, gặp chỗ nào cũng lạy, từ cổng chùa đi đến hết cái chùa, ít nhất cũng một trăm tám mươi ông, không biết ông nào, mà cứ lạy như vậy thôi. Cho nên, chúng ta phải hiểu, phải nắm vững những vấn đề, đó chỉ là biểu tượng để nhắc nhở mình phải thành tựu trí huệ.
III. Trí tuệ về thọ uẩn:
Điều quan trọng tiếp theo là chúng ta phải nhìn thấy được cảm giác của mình hằng ngày, đừng để cho nó qua mặt mình. Chúng ta phải hiểu biết về cảm giác, biết tên tuổi của nó, biết cảm giác đó là cảm giác gì? Và đào sâu xuống, trong cảm giác này có dục, có tham, có ái, có sân trong đó không? Tại sao nó phát sanh ra tham ái, tham muốn này?
Từ ở trong cảm thọ này, nếu huynh đệ chịu khó, thường trực để ý, nhìn lại, kiểm soát lại, thì huynh đệ sẽ thấy cảm thọ nào nó khoan khoái, thích thú, dễ chịu, là trong đó có tham, theo từ ngữ trong tạng kinh Nikāya gọi là “tham tùy miên”. “Tùy” là đi theo, “miên” là miên man. Ở trong cảm giác lạc thọ, cảm giác thích thú, khoan khoái, sung sướng thì anh chàng tham này đi theo miên man trong đó.
Cho nên, khi ăn những món ngon, mình nhìn kỹ sẽ thấy tham, dục, ái ở trong đó. Bên trong có sự thúc giục gắp ăn, rồi thích thích, muốn gắp lẹ lẹ lên thêm, như vậy cái dục có trước, rồi đến ái, rồi đến tham, cứ muốn thêm nữa. Hay đối với những lời tán thán, khen ngợi, ca tụng mình, khi nghe những lời đó, người ta gọi là thọ do nhĩ xúc sanh. Cảm giác có ra từ sự tiếp xúc của lỗ tai trong điện thoại hoặc bên ngoài cũng vậy, khi nghe những lời tán tụng, khen ngợi đưa mình lên thì tự nhiên trong người có tham, khoái và thích. Lúc đó bên trong có tham nhưng mình không thấy, nếu không nhìn lại cảm giác, không thành tựu trí huệ về thọ uẩn là mình không biết, tưởng đó là bình thường, nhưng cái đó không bình thường, mà có tham tùy miên trong đó. Cảm giác khó chịu, bực bội thì rõ ràng là sân ở trong đó, mà mình không thấy, chúng ta phải để ý kỹ thì mới thấy. Và không những để ý kỹ thôi mà mình phải biết chỗ đó là chỗ nào luôn.
Thí dụ như trở lại trạng thái cảm thấy dễ chịu, khoan khoái, thì dục có chỗ phát sanh. Chỗ phát dục sẽ động chuyển. Mình để ý kỹ, khi tiếp xúc những hình ảnh, âm thanh về dục thì trong cảm giác sẽ khoan khoái, chỗ phát sẽ dục động chuyển, mình nhiếp phục chỗ đó liền. Khi nhiếp phục được cảm giác thì chỗ đó sẽ lắng dịu. Còn nếu tiếp tục để cho cảm giác sanh khởi tiếp tục thì sự thúc giục đẩy mình đi tìm, đi kiếm, đi thực hiện để thỏa mãn.
Thành ra, ở trong cảm giác này rất đặc biệt. Vì tưởng là hình bóng, không có chỗ, mình không nắm bắt được. Hành là những suy nghĩ, nó miên man, làm sao mình thấy nó ở chỗ nào. Thức thì chỉ rõ biết. Còn sắc này là dễ thấy. Nhưng cái thọ là chỗ rất đặc biệt, nó là chiếc cầu nối của sắc, tưởng, hành, thức. Cho nên cái thọ này có chỗ ở, nó biểu hiện trên thân của mình. Thí dụ mình nóng lên, thì trong người mình hừng hực lên, nó biểu hiện ra. Hay là mình tham thì bị cuốn hút vô đó. Cái thọ nó biểu hiện trên thân, chính vì biểu hiện, cho nên mình thấy được. Mình thường nhìn lại là mình thấy được, phát giác ra rồi nhiếp phục nó, mình mới từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận được.
Cho nên người nào tu đúng, là bậc chân tu, tu đúng tinh thần Đức Phật dạy là người đó không có thời gian rảnh, vì lúc nào cũng phải nhìn lại cảm giác của mình. Còn bằng không, tối ngày chỉ lo nhìn ở ngoài, nhìn người này, người kia, cảnh này, cảnh nọ, cái này đúng, cái này sai, cái này hay, cái kia dở, phải quấy, tối ngày phê phán ở ngoài, không nhìn vào gốc cảm thọ bên trong, không thấy được tham, sân, si. Người thành tựu trí huệ thì thấy được tham, sân, si sanh khởi như thế nào, an trú, chấm dứt và vận hành làm sao? Người đó là bậc Tu-đà-hoàn, chỉ thành tựu Thánh trí mới thấy được tham, sân, si một cách sâu sắc.
Còn mình bây giờ “thưa thầy, con đâu có tham, sân, si”. Có nhiều Phật tử đến nói: “Thưa thầy con hết tham, sân, si rồi!”, nghe xong là mình bó tay. Tại vì họ là vô văn phàm phu thì làm sao biết được. Chỉ có Đa Văn Thánh đệ tử mới biết, mới thấy được, ở trong cảm giác khó chịu là thấy liền. Thí dụ điện thoại ren ren, mình bắt lên nghe, bên kia nói nói, mình thấy “như vậy là xúc phạm mình rồi”. Lúc đó thấy từ dưới dâng lên một cảm giác nóng hực lên“cái này không ổn rồi, cảm giác này không ổn rồi, bây giờ nếu mình nói lời nào ra là thế nào cũng hư chuyện, tan nát hết” nên thôi đừng nói, cứ im lặng, chánh niệm tỉnh giác lắng nghe, xong rồi tắt điện thoại. Mình ngồi xem lại “tại sao cảm giác này nó sanh? Nó do từ đâu? Có phải do bản ngã”,“nói như vậy là xúc phạm đến tôi”,“tại sao nhỏ mà lại nói như vậy, mình là người lớn mà? Tại sao Sư đệ lại nói sư huynh như vậy? Tại sao Sư cháu mà lại nói Sư chú như vậy? Tại sao một Phật tử mà nói người xuất gia như vậy?” là chết liền, chỗ đó là chỗ bản ngã.
Khi quán chiếu, mình thấy không có cư sĩ, xuất gia, không có Sư chú, Sư bác, Sư phụ gì hết, mà tất cả là tứ đại, mình chả là cái gì hết, chỉ là tứ đại mà thôi, tứ đại với tứ đại thì làm gì có cao thấp? “Gục đầu xuống, cúi đầu xuống, đắp y vô, quỳ, lạy”, mình lạy người Phật tử làm cho mình sân trong cái điện thoại đó. Quỳ xuống lạy, quán chiếu tướng lạy, lạy mười lạy để dẹp bản ngã này. Khi quán chiếu tiếp tục như vậy, cái sân dần dần tan hết ra, giống như viên thuốc sủi bọt mà bỏ vào nước vậy, cảm giác tan hết ra, đó là công phu tuệ quán, nhiếp phục bản ngã.
Tại sao mình có bản ngã chình ình? Tại vì mình không thành tựu trí huệ năm uẩn, không thấy đây là năm uẩn, mình thấy “đây là tôi”, nếu “đây là tôi” thì phải có bản ngã. Còn nếu thấy là năm uẩn thì đâu có bản ngã, năm uẩn là năm uẩn, không có cái tôi. Tại sao mình không thành tựu trí tuệ năm uẩn? Tại vì mình không nhận diện năm uẩn. Tại sao mình không nhận diện năm uẩn? Tại vì không ai nói cho mình nghe. Mình không được nghe Chánh Pháp, không được gặp bậc chân nhân, không được gặp bậc thiện tri thức, không gặp bậc đạo sư chỉ cho mình biết “thực chất cái thân này, thế giới này, chỉ là năm uẩn, chứ không có tôi, của tôi”. Mà đi qua được cửa này, mới thành tựu Chánh Tri Kiến trong Bát Chánh Đạo. Nếu không đi qua cửa này thì tất cả những cái như mình ngồi thiền, hay này nọ kia không phải là thiền định của Phật giáo, không phải là Chánh Định.
Quý huynh đệ để ý, khi mình ngồi thiền để tâm yên niệm Phật, ngồi thiền xong mình nói: “Trời, hôm nay ngồi thiền đã quá, khoái ghê luôn, không muốn xả, tại đánh kẻng mới ngưng chứ không muốn xả, muốn ngồi thêm”. Ai hỏi “sao vậy?”, mình trả lời “tại nó đã quá”, thì cái “đã quá” đó là tham trong cảm giác. Nó chỉ là trong cảm giác, đó là cảm giác nhẹ nhàng, êm ái, yên tịnh, cảm giác đó là khi tưởng và hành lắng dịu. Tưởng là những hình bóng trong nội tâm của mình lắng xuống, không khởi lên những hình bóng. Còn hành là những lời nói, mà lúc đó nó không nói. Vì thế mà có nhiều người lầm tưởng đó là “chân tâm Phật tánh” nhưng không phải, chỉ là tưởng và hành lắng dịu, cảm giác được yên tĩnh.
Có hai Phật tử ở bên Mỹ, họ nghe bài pháp “Chiến Thuật Tâm Linh Của Đức Phật”, Minh Thành tâm sự về vấn đề tưởng và hành này. Những vị đó cũng ngồi thiền mấy chục năm bay về đây để trình bày lại vấn đề này. Lúc đó chỉ là tưởng với hành đó tạm yên, mà họ tưởng đâu đó là tối thượng, tưởng đó là cứu cánh, bây giờ họ nghe được họ mừng, họ xúc động chảy nước mắt.
Như vậy, khi tưởng với hành lắng dịu, lúc đó mình ngồi bình yên, cảm giác nhẹ nhàng, tâm thức biết rõ tưởng với hành, những hình bóng không có, những lời nói lầm thầm không có nên mình lầm tưởng đó là tâm chân thật của mình nhưng không phải, chỉ là lắng dịu tưởng và hành thôi. Nhưng trong cảm giác của mình thích thú, khoái khoái, muốn kéo dài trạng thái đó ra, lúc đó là dính mắc ở trong lạc thọ của thiền định. Mà mình không biết rằng cảm thọ đó là vô thường, rồi nó sẽ hết, khi tu ở mức độ sâu sắc một chút mới được như vậy. Còn không nghe được Chánh Pháp, không có tư duy, không biết được năm uẩn là năm uẩn, không phải mình thì không nhìn thấy được. Cho nên, con đường để tận diệt thân kiến chính là con đường thành tựu trí về năm uẩn.
Cả trên thế giới này đắm chìm ở trong cảm giác rồi không thấy, không biết được sự thật. Ở ngoài thì đắm chìm vào tài, sắc, danh lợi. Khi đi tu thì đắm chìm trong sự thích thú những cảm giác yên yên và mình khoái đó. Cho nên, vào ngồi thiền là thở vô, thở ra, phồng xẹp cái bụng, vô ra hơi thở một hồi được yên quá là cho nó yên luôn, cứ tưởng đó là ngồi thiền nhưng thật ra là mình ru ngủ. Chúng ta tưởng mình “tu”, nhưng thật sự là “ru”, mà mình không thành tựu trí huệ để thấy được cảm giác, thấy được sự thật, thấy được Chánh Pháp.
Trong tạng kinh Nikāya cho mình biết giới hạnh ở trong đạo Phật là phải đầy đủ những yếu tố, nói đơn giản nhất gồm:
Giữ giới, sống hộ trì và sự hộ trì của giới bổn;
Đầy đủ oai nghi, chánh hạnh;
Thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt;
Chấp nhận và học tập trong các học pháp;
Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh;
Giới hạnh đầy đủ;
Thủ hộ các căn;
Chánh niệm tỉnh giác;
Biết tri túc.
Đây là nói đơn giản nhất của phần giới hạnh trong tạng kinh Nikāya. Để “đầy đủ oai nghi, chánh hạnh” một cách thâm thúy, cốt tủy như trong tạng kinh là càng khó hơn trăm ngàn lần, nhờ đó mới chỉ cho chúng ta đạo lộ giải thoát.
./.