Niệm Thân - Hương Vị Bất Tử 2
Kinh Nikāya Giảng Giải
NIỆM THÂN - HƯƠNG VỊ BẤT TỬ 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hương vị bất tử PAGEREF _Toc71792929 \h 1
1. Phá tan thân kiến PAGEREF _Toc71792930 \h 1
2. Quán chiếu cảm giác PAGEREF _Toc71792931 \h 2
3. Quán chín giai đoạn tử thi PAGEREF _Toc71792932 \h 5
II. Lợi ích của sự bố thí PAGEREF _Toc71792933 \h 9
1. Bài kinh “Lợi Ích và Bố Thí” PAGEREF _Toc71792934 \h 9
2. Bài kinh “Rất Xa Xăm” PAGEREF _Toc71792935 \h 11
3. Bài kinh “Sumanà Con Gái Vua” PAGEREF _Toc71792936 \h 12
4. Bài kinh “Trên Tất Cả” PAGEREF _Toc71792937 \h 14
III. Thực tập Bốn Tâm Vô Lượng PAGEREF _Toc71792938 \h 16
Hương vị bất tử
Trong Niệm Thân có sáu phương diện, sáu khía cạnh giống như căn nhà lục giác. Pháp tu về niệm thân muốn cho tròn trịa vẹn toàn thì phải có sáu bước tu tập:
Niệm hơi thở.
Niệm oai nghi.
Niệm hành động.
Niệm tứ đại.
Niệm ba mươi hai thể trược.
Niệm thân.
Phá tan thân kiến
Bước cuối cùng này mới là bước quan trọng nhất, bước này mới đập đổ được khổ đau của mình. Năm bước trước đó sẽ dẫn đến bước này để phá thân kiến. Kiến là kiến chấp, thân là bản thân mình. Do có cái nhìn sai lầm về thân mình nên trong cái suy tư, nhận định lúc nào cũng nghĩ đây là mình, mấy chục kí lô này là mình, từ ngàn xưa cho đến nay và đến ngàn sau nếu không học Phật pháp đều sẽ nghĩ như vậy hết. Cho nên nếu quý vị nghĩ thân này là mình thì đây là thân kiến. Một khi cái nhìn này còn tồn tại thì đau khổ còn tiếp diễn, đau khổ chỉ chấm dứt khi cái nhìn này bị sụp đổ, phá vỡ. Tất cả công trình tu hành đều nhằm giải quyết cách nhìn sai lạc về chính bản thân mình nên đây gọi là tu trí huệ, còn ở ngoài chỉ là làm phước.
Vì vậy, phá vỡ thân kiến là lõi của giáo pháp, là trái tim của Đức Thế Tôn, là con mắt của 12 bộ kinh, là tủy của Tam Tạng thánh điển. Dù cho tu theo tông phái nào nhưng nếu chưa chạm vào cái này thì vẫn chỉ còn ở ngoài cổng chùa thôi, phải tu tập đúng pháp mới vào được cổng chùa, mới thấy được ông Phật. Cũng như lần lên núi này là mọi người đi thẳng vào chánh điện, không đi dạo vòng quanh bên ngoài nữa mà đi thẳng vào gặp Phật. Phật sẽ chỉ cho chúng ta cách giải quyết, giải mê, giải phóng vô minh, tham chấp, hiểu lầm, ngộ nhận. Có khi suốt đời chúng ta cũng chưa từng được một lần thấy sự thật nhưng hôm nay mọi người sẽ được thấy sự thật, mà thấy sự thật ở đây là thấy pháp.
Trước giờ mọi người chỉ thấy những thứ giả tạo, trên tivi quảng cáo son, nước hoa, phấn, người mẫu… chỉ toàn là sự giả tạo, gấm vóc lụa là phủ lên, thoa son đánh bóng nhưng cuối cùng chỉ là lớp da phủ bên ngoài. Lỡ cắt rau củ mà không cẩn thận cắt nhầm vào tay là có dòng máu đỏ chảy ra thì lúc này mình mới thấy sự thật, còn bây giờ mình chỉ thấy cái vỏ bên ngoài mà thôi, đa số mọi người đều chết với cái vỏ bên ngoài. Đức Phật sẽ dạy mình dùng trí huệ giải phẫu cơ thể, mỗi một người tu là một bác sĩ chuyên khoa giải phẫu cơ thể học. Vì vậy cách quán Ba Mươi Hai Thể Trược là đem từng bộ phận chính mình ra giải phẫu, chính mình nghiên cứu cơ thể, tìm hiểu chính bản thân mình gọi là giác. Tự giác là biết được chính mình.
Minh Thành mở những clip giải phẫu cơ thể ngồi xem và quán chiếu tại chỗ, xem vài trăm lần để khắc sâu vào não từ đó đánh đuổi những suy nghĩ sai lầm về thân, đem sự thật vào đầu để đánh tan sự giả, đem ánh sáng vào trong bóng tối. Vì vậy ai chịu tinh tấn tu thì mỗi ngày xem liên tục trong ba tháng, không có gì phải sợ, giống như mình đi chụp X-quang cái đầu thì hình trong tấm phim trắng đen hiện ra cái đầu lâu, hoặc chụp cái bụng thì hiện lên xương sườn, xương sống y như vậy. Mình thấy được điều này là một may mắn trong kiếp người của mình vì tất cả chúng ta rất giỏi che giấu sự thật, chính việc che đậy này mà chúng ta cứ mê hoài, mê đến chết cũng không tỉnh ngộ. Vì vậy trong kinh thường tán thán Đức Phật là người phơi bày ra những gì bị che giấu, dựng đứng những gì bị ngã đổ, đem ánh sáng vào bóng tối để người mù thấy sắc. Đây là công việc của Đức Thế Tôn, đây là công việc của giáo pháp, đây là công việc của các bậc hiền thánh Tăng trên đời này.
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Xin Thế Tôn nhận con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Quán chiếu cảm giác
Chúng ta bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột trong vòng luân hồi này trăm ngàn vạn kiếp. Vô minh là thân kiến, là việc cho rằng cái thân mấy chục kí này là mình; còn khi thấy nó là tứ đại, là pháp duyên sanh thì đó là minh. Vô minh là cho rằng cảm giác này là mình (mọi người vào trong linhquyphapan.vn tìm nghe bài Nhập Thất Chia sẻ về năm uẩn để nhận diện được năm uẩn). Hằng ngày chúng ta bị cảm giác nhận chìm, lôi kéo mà mình không biết nên cứ đi tìm cảm giác dễ chịu, êm ái; còn cảm giác khó chịu, không thoải mái thì mình bực dọc, không chấp nhận.
Đức Phật nói có ba loại cảm giác: cảm giác vui, cảm giác khổ, cảm giác không vui không khổ nhưng mọi người chỉ muốn cảm giác vui, cứ đi tìm cảm giác vui, chính chỗ này làm mình khổ. Vì mình chỉ đi tìm cảm giác vui, khi khổ đến mình chống trả, chống cự để triệt tiêu cảm giác khổ nhưng điều này là bất khả thi. Mỗi khi có cảm giác vui sướng, khoan khoái, thích thú thì mình giống như người bị trói buộc. Mỗi khi có cảm giác khó chịu, bực tức giống một người đang bị trói buộc. Mỗi khi mình có cảm giác không dễ chịu không khó chịu, ở mức trung bình thì mình cũng giống một người đang bị trói buộc. Cho nên hằng ngày mình bị buộc tay chân, buộc mắt, mũi, miệng mà không biết bản thân đang bị cảm giác trói buộc.
Chúng ta đang ngồi thoải mái, yên tịnh nhưng có một người nào nói một câu nặng nề với mình thì lúc đó mình chết ngay với cảm giác khó chịu bởi câu nói đó, như vậy gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, cảm giác từ lỗ tai sanh khởi. Hoặc đang yên tịnh mà có ai làm ồn ào là mình quay qua nhìn liếc hoặc tiếng chó sủa cũng làm cho mình khó chịu, tức là mình bị đắm trước và dính mắc vào trong đó mà mình không biết cảm giác đó là vô thường. Đức Phật dạy trong nội tâm có cảm giác vui thì biết có cảm giác vui nhưng cảm giác vui này không phải là tôi, đây chỉ là cảm giác thôi. Khi trong nội tâm có cảm giác khổ thì biết đây là cảm giác khổ, cảm giác khổ này không phải là tôi, đây chỉ là cảm giác, mình có cảm giác khổ chứ không phải mình khổ.
Đó chính là trí huệ thâm sâu chứ không phải tu theo kiểu lạy lục, cầu xin mê tín. Từ đây về sau mọi người tu là quay trở lại nhìn vào nội tâm để phát hiện ra chính mình chứ không phải chạy ra ngoài để cầu xin, không ai cứu giúp được mình ngoài chính bản thân mình. Đức Phật đã nói với trí tuệ, thấy với trí huệ, ai được như vậy được gọi là bậc Thánh đệ tử, tức là thấy các pháp bên trong và bên ngoài bằng trí huệ, pháp như thế nào là mình thấy như thế đó là mình thành tựu trí huệ.
Khi có cảm giác bực dọc khởi lên thì phải biết đang có một cảm giác bực dọc khởi lên và cảm giác này không phải mình, mình không có bực dọc mà chỉ là cảm giác bực dọc sanh khởi, ghi nhận cảm giác này và chánh niệm tỉnh giác với nó. Ví dụ mình đang muốn tĩnh lặng mà có 2-3 người vào nói chuyện hoài, vừa nói vừa cười, lúc đầu mình hơi bực thì phải biết là đang có cảm giác khó chịu, tỉnh giác với cảm giác này và đừng để nó trói buộc. Hoặc có người dành nhiều lời khen cho mình, nghe lời khen thấy êm quá, thấm vào tim rồi đi theo lời khen đó là mình chết với nó, ngay tại đây mình phải biết đang có cảm giác dễ chịu, vui sanh khởi, cảm giác vui chứ không phải mình vui. Trước khi Đức Phật nhập Niết-bàn thì người đã nói hãy nương tựa Tứ Niệm Xứ.
Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, 9. IX. Bệnh)
Đây là Chánh Pháp tối thượng của Đức Phật, Tứ Niệm Xứ là Chánh Pháp tối thượng, là chỗ nương tựa của hiền thánh trong giáo pháp của Như Lai. Người nào tu tập Tứ Niệm Xứ trọn vẹn là A-la-hán, người nào tu chưa trọn vẹn thì trở thành Tam Quả, Nhị Quả cho đến Sơ Quả, người nào mới bắt đầu tu Tứ Niệm Xứ gọi là hữu học, tức là mới bắt đầu đi vào Thánh quả. Nếu người nào đi vào Tứ Niệm Xứ thì người đó chắc chắn sẽ tiến thẳng đến Chánh Giác, giác ngộ.
Như vậy Minh Thành đang chia sẻ cho mọi người quán thọ trên các thọ, quán xét cảm giác. Mình bị trói buộc vào cảm giác không khổ không vui, cứ muốn đều đều chứ không muốn thay đổi, chỉ muốn ở nhà cho yên chứ không muốn ra ngoài "tôi chỉ muốn ở yên vậy thôi", đó là mình bị cảm giác trói buộc. Chúng ta cứ tưởng là mình không bị trói buộc, không bị chấp vào nó nhưng trong ở chỗ vi tế sẽ có, tức là mình chỉ muốn nguyên vẹn như vậy, nếu có ai thay đổi gì khác là mình không đồng ý. Cái gì mà mình cứ muốn nó đều đều hoài chứ không muốn thay đổi gì khác là mình đang chấp thường, chấp ngã, mình không chịu đổi nhưng các pháp lại luôn thay đổi, không thể đứng yên một chỗ được.
Mọi người đừng nghĩ mình đang ngồi yên nghe pháp là yên lặng, mà thật ra bên trong có tim đập, mạch nhảy, máu huyết đang tuần hoàn, có biết bao tế bào đang sanh diệt. Kể cả Trái Đất cũng không thể đứng yên một chỗ mà phải quay vòng. Tất cả pháp hữu vi là hành pháp vô thường, nó đang ở trong sự lưu động biến dịch để đi đến chỗ chấm dứt, bại hoại mà mình không hay biết gì. Nó đang đẩy mình gần đến chỗ hỏa thiêu mà mình không biết, nếu mình tỉnh thức để tu sẽ rất hay. Khi đó không có thời gian buồn giận, không có thời gian nói chuyện người này, người kia mà lo tu vì các pháp đang đẩy mình đi vào chỗ chết.
Việc quán chiếu cảm giác sẽ thấy rất sâu sắc, trí huệ. Thử nghĩ xem có phải suốt cuộc đời mình đi tìm cảm giác không? Mình nghĩ đi tu là tìm kiếm này kia nhưng mãi sẽ không gặp, một khi nắm được pháp Tứ Niệm Xứ, quay trở lại thân tâm sẽ thấy sáng tỏ mọi thứ chứ không cần đi tìm ở đâu. Mình cứ đi tìm nơi giải thoát thì mãi mãi cũng không gặp vì nó nằm ngay chính bản thân mình, nếu tự mình không thấy được mình thì đi tìm ở ngoài làm sao thấy?
Quán chín giai đoạn tử thi
Chúng ta phải quán chín giai đoạn của một tử thi, lâu lâu quán chiếu việc mình nằm đó lấy lên vài hơi rồi đứt hơi nằm dài, có bốn người khiêng trên tấm ván, để đó một, hai rồi ba ngày thì thân thể này trương phình lên, nứt nẻ ra, chảy ra những chất dịch máu mủ.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu". Này các Tỳ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: "Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Đây là câu kết luận của Đức Phật về tấm thân này: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Khi Minh Thành cho mọi người xem video về những con giòi bò khắp thân thể thì có người sợ quá chạy về phòng, bây giờ mình còn minh mẫn, sáng suốt, mình xem trên video thôi mà mình còn chịu không nổi thì khi nó xảy ra ngay trên thân mình thì làm sao chịu nổi? Cho nên không tu sẽ rất khổ, mới chỉ là cái bóng hình trên màn ảnh thôi mà mình không chịu được thì khi nó xảy ra với mình thì mình sẽ như thế nào? Video này là người thật việc thật chứ không phải phim ảnh dựng lên giả tạo, Minh Thành thường lên mạng xem cảnh người ta hốt cốt người, xem những cảnh chết để chuẩn bị cho mình. Năm nay Minh Thành đã hơn 40 tuổi nên chuẩn bị là vừa rồi, mình không thể biết được mình chết lúc bao nhiêu tuổi vì nó là vô thường, là bất trắc, không lường trước được.
Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Thân mình khi chết đi sẽ như vậy, mọi người có thấy buồn không? Sợ không? Nếu sợ thì phải tinh tấn tu học, bao nhiêu son phấn mình có lấy để trang điểm, tô vẽ cho bộ xương này không? Hãy nhìn cho kĩ tấm thân này, khi đã thấy thân này là bộ xương thì mình đã có trí huệ, mình cứ nghĩ nhớ, xem những hình ảnh như vậy thì khi có chuyện gì xảy đến với mình như đau nhức, trầy xước, bệnh hoạn mình không đau khổ nhiều vì mình đã thấy rõ rồi. Thậm chí khi đối đầu với sanh tử, việc sống chết nhớ lại lời Đức Phật đã nói "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy", ngay chỗ này quý vị đã chứng pháp, ngộ pháp, đắc pháp và thành tựu pháp, đi vào dòng pháp. Cho nên trong thời Đức Phật còn tại thế, có rất nhiều vị thầy khi gần chết sẽ chứng ngộ đắc quả rất nhiều vì họ tu cái này, vì thế mà Đức Phật đã nói nếu ai thực hành Thân Hành Niệm thì người đó sẽ nếm hương vị của bất tử, còn những ai chưa thực hành Thân Hành Niệm thì người đó sẽ sanh sanh tử tử vô cùng vô tận vì người đó dính chặt vào thân kiến, không biết gì về Thân Hành Niệm.
Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, làm cho sung mãn một pháp này, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm và tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm chi viên mãn.
Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu.... quả A-la-hán.
Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm.
Bất tử bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai đoạn tận thân hành niệm. Bất tử không bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không đoạn tận thân hành niệm.
Bất tử không được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không chứng ngộ thân hành niệm. Bất tử được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai chứng ngộ thân hành niệm. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2))
Hương vị của bất tử tức là quý vị sẽ vượt qua sống chết, không bị sống chết làm cho mình khổ nữa. Nếu không quán chiếu sâu sắc có khi sẽ nghĩ “sao mình khổ quá, sao mình lại rơi vào hoàn cảnh như vậy” mà mình không biết rằng ngoài kia còn những người khổ hơn mình trăm ngàn lần. Có người phải nằm bán thân bất toại, một đứa bé mới sanh ra đã bị bỏ rơi, còn mình nhiều khi có cha mẹ thương yêu mà lại thấy tình thương của cha mẹ nhiều quá, quan tâm quá lại khó chịu, mình không biết trân trọng tình thương này, thấy ba mẹ lo nhiều quá, hỏi han nhiều quá rồi mình không thích, bực mình, đó là một sự bất hiếu.
Minh Thành ở cạnh sư phụ chỉ có 6 tháng rồi đi lang thang mọi nơi để cầu đạo, Minh Thành không được thầy la, thầy nhắc, không được thầy chỉ dẫn nhiều nên Minh Thành thèm khát, mong muốn được la rầy. Vậy mà bây giờ các chú học trò được Minh Thành nhắc thì thấy khó chịu nên Minh Thành rất xót xa, mấy chú khó chịu thì thôi không nói nữa, vì mình nhắc là muốn tác thành cho họ nhưng người ta cảm thấy không đồng ý thì thôi.
Đối với cha mẹ, ông bà cũng vậy, họ thương yêu mình, đem hết tấm lòng cho mình mà mình không biết trân trọng, trái lại mình còn bực dọc, không biết rằng có những người vừa lọt lòng thôi thì mẹ đã không còn, muốn kêu một tiếng mẹ cũng không được, thậm chí khi lớn lên cũng không nhớ được gương mặt mẹ ra sao vì mẹ qua đời quá sớm. Có những trường hợp sống trong cảnh nghèo nàn thiếu thốn vì chiến tranh rồi đói khát, bệnh tật, đi tha hương cầu thực… Mình được sinh ra và lớn lên trong một đất nước văn minh phát triển như vậy, đầy đủ tiện nghi vật chất nhưng quê hương vẫn là chùm khế ngọt, về quê ăn một cái bánh, uống một chén trà, cầm trái dừa cũng thấy tình quê ngọt ngào.
Minh Thành từng xa quê nên Minh Thành rất thông cảm với những người ở xa, mỗi lần Minh Thành đi ra nước ngoài, có những Phật tử vừa thấy Minh Thành là chảy nước mắt "con nhớ thầy, con nhớ chùa ở Việt Nam, con nhớ quê hương". Mỗi khi Minh Thành đi hoằng pháp ở xa khoảng ba tháng mới trở về lại có cảm giác thương những người thân của mình nhiều hơn, thậm chí mình thương những người không thương, có lúc mình có thể thương những người ghét mình.
Lợi ích của sự bố thí
Đức Phật dạy việc bố thí rất quan trọng, bố thí là sự biết san sẻ, sớt chia. Đức Phật dạy người cư sĩ rất rõ, khi làm có tài chánh thì chia ra làm vài phần, trong đó một phần lo cho cha mẹ, ông bà, người thân; một phần lo cúng dường Tam Bảo; một phần giữ lại những lúc hữu sự thì lấy ra tiêu dùng. Chứ không phải cứ gom góp, cất giữ rồi lúc ra đi thì tiền của bỏ lại cho con cái, nhưng con lại không biết đạo pháp thì sẽ dùng phung phí, thậm chí tiền đó là nguyên nhân gián tiếp làm cho nó hư hỏng.
Bài kinh “Lợi Ích và Bố Thí”
Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này của bố thí. Thế nào là năm?
Được nhiều người ái mộ, ưa thích.
Được bậc Thiện nhân, Chân nhân thân cận.
Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi.
Không có sai lệch pháp của người gia chủ.
Khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, Thiên giới.
Những pháp này, này các Tỳ-kheo, là lợi ích của bố thí. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, bài kinh Lợi Ích và Bố Thí)
Khi mọi người thông báo làm từ thiện tại nơi đó thì những người ở đó rất trong mong quý vị, chờ đợi quý vị ngay từ lúc quý vị thông báo. Quý vị “được mọi người ái mộ, ưa thích”, đó là lợi ích thứ nhất. Mưa gió lạnh lẽo ở trong nhà như vầy, có một cô nói "thầy ơi, con không có lạnh" trong khi cô đó mặc hai chiếc áo ấm, đắp ba cái mền. Khi nghe nói vậy thì Minh Thành quán chiếu mặc hai áo lạnh, đắp ba cái mền nhưng có thể đêm nay có người không có áo mặc, không có mền đắp, có thể có những người chỉ có cái mền mỏng tang hoặc thậm chí là không có gì để giữ ấm luôn.
Tại sao khi bố thí thì được “bậc Thiện nhân, Chân nhân thân cận” – đây là lợi ích thứ hai. Vì pháp mình làm là thiện pháp, khi làm thiện pháp mình sẽ gặp thiện nhân, cái pháp sẽ tương ưng với người. Còn bậc Chân nhân là những bậc thấy được pháp, mình tu mà mình đi theo con đường thiện pháp, con đường chánh đạo sẽ gặp được Chân nhân. Hiền thánh Tăng là những bậc thành tựu trí huệ, những người này làm thiện pháp mà mình cũng như vậy, nhờ cùng chí hướng nên mình sẽ gặp được họ, đây là lợi ích thứ hai. Nếu quý vị lên đây chỉ thích đi ăn chơi, hưởng thụ thì làm sao quý vị gặp được Minh Thành? Người ta làm cực khổ nhiều năm để về quê hương hưởng thụ, còn quý vị về đây phải thức sáng đêm tu học cực khổ, ngồi mỏi lưng, tê chân, ăn chay rát ruột rất đáng khen. Quý vị sẽ gặp bậc Chân nhân, Thiện nhân, vì những việc làm của quý vị như vậy nên nó sẽ đưa đến hệ quả như vậy.
Khi mình làm việc thiện sẽ được chụp hình đưa lên báo, Facebook, Zalo… những đoàn từ thiện ở xa tận miền Tây cũng về đây thì thật sự điều này rất quý, đó là “tiếng tốt đồn xa”, như vậy là lợi ích thứ ba.
Lợi ích thứ tư là “không có sai lệch pháp của người gia chủ”, gia chủ bây giờ là đại gia, là những người giàu có, cái pháp chân chánh đúng đắn của những người có điều kiện hơn người khác làm được là bố thí, đó là chân chánh, là chánh pháp, là việc nên làm, đáng làm vì những việc này đưa mình đến hạnh phúc trong hiện tại và tương lai. Sáng mai mỗi một cánh tay của quý vị quý vị cầm từng phần quà, từng kí gạo đưa cho người ta sẽ là một đóa hoa sen nở, là sự ngọt ngào, là sự ấm áp trong cơn mưa giá lạnh, trong sự nghèo khổ thiếu thốn và đây là việc cần làm, đáng làm và nên làm của người làm được việc.
Lợi ích cuối cùng là “khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, Thiên giới”, khi nhắm mắt mình sẽ chỉ qua lại cõi người, cõi trời, ở đâu cũng được hưởng giàu có sung túc. Có những em bé mới sanh ra đã được thừa hưởng cả một gia tài đồ sộ, mai đây khi quý vị tái sanh ra cũng sẽ được như vậy rồi đem số tiền đó một ít đi cúng chùa, xây cầu, cứu trợ, in ấn kinh sách, hoằng pháp lợi sanh thì sẽ thêm nhiều phước báu.
Bài kinh “Rất Xa Xăm”
Tại sao có những người làm cực khổ đến tuổi gần đất xa trời mà vẫn nghèo? Còn những người vừa lọt lòng đã thừa hưởng gia tài tỷ đô la? Đó là sự khác nhau của việc bố thí và không bố thí, giữa người có phước và người vô phước, giữa người được hạnh phúc và người bất hạnh khác nhau rất xa, cho nên trong bài kinh “Rất Xa Xăm”, Đức Phật đã nói:
Này các Tỳ-kheo, có bốn sự việc này, rất xa, rất xa với nhau. Thế nào là bốn?
Trời và đất, này các Tỳ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau.
Bờ biển bên này, này các Tỳ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa, rất xa với nhau.
Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỳ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau.
Pháp của hạng người bất thiện, này các Tỳ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa với nhau.
Này các Tỳ-kheo, đây là bốn sự việc rất xa, rất xa với nhau này. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (VII) Rất Xa Xăm)
Quý vị hôm nay đã làm được cái pháp rất xa, xin chúc mừng mọi người. Trời và đất cách xa nhau bao nhiêu, bờ biển bên này cách bao xa so với bờ biển bên kia, mặt trời mọc cách bao xa so với mặt trời lặn, cộng tất cả những các xa đó cũng không bằng cái xa của ác và thiện. Giờ đây, quý vị đang đi trên con đường của thiện pháp, con đường của ánh sáng, đó là quý vị đang thực hành việc bố thí, đem tình thương đến những người đang khổ đau, đem giáo pháp đến cho những người cần tu tập.
Bài kinh “Sumanà Con Gái Vua”
Trong bài kinh “Sumanà Con Gái Vua”, Tăng Chi Bộ, Tập II, Phật nói người biết tu bố thí sanh lên cõi trời hay sanh ở cõi người thì lúc nào cũng vượt hơn người ta về năm phương diện. Người có tu tập bố thí, có làm phước, có cúng dường, có hộ trì Tam Bảo, biết san sẻ sớt chia thì người đó khi sanh ra sẽ vượt trội hơn mọi người ở năm phương diện.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của Anàthapindika. Rồi Sumanà, con gái vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cỗ xe, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Sumanà, con gái vua bạch Thế Tôn:
Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai được sanh lên cõi lành Thiên giới. Giữa hai vị thiên ấy, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
- Có sự sai biệt, này Sumanà.
Người có bố thí, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không có bố thí trên năm phương diện. Về thiên thọ mạng, về thiên sắc, về thiên lạc, về thiên danh xưng, về thiên tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không bố thí trên năm phương diện này. (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, bài kinh Sumanà Con Gái Vua)
Khi quý vị bố thí thì sanh ra đời nào cũng có tuổi thọ, không bị chết yểu, sống hết số tuổi, nói nôm na là sống hết tuổi trời, một kiếp người được bao nhiêu tuổi thì mình sống được hết chứ mình không bị nửa đường gãy gánh, mình không rơi vào những trường hợp chết bất đắc kì tử, tuổi trẻ bây giờ chết yểu rất nhiều là do không có sự tu tập.
Thứ hai là quý vị vượt hơn người ta về nhan sắc, quý vị ngồi đây là “phụng lập quần kê”, tức là con phụng đứng trong bầy gà. Quý vị đi chỗ nào cũng giống như phụng hoàng vì mình có bố thí, làm thiện, làm phước. Người nào có phước tướng đi đến chỗ nào cũng tỏa sáng bởi ánh hào quang của phước đức, chỉ có người tu với người tu mới thấy được chứ người không tu thì không thể biết được. Những người có tu tập, những người giàu có đi đến đâu cũng sáng chói. Nói theo thế gian là tiền bạc tài sản của họ chói sáng nhưng nói sâu sắc trong Phật pháp là nhờ thiện tâm, sự bố thí của họ mới làm họ rực sáng trong đời này, vì nếu không bố thí, làm phước đời trước thì làm sao đời này sanh ra được giàu có?
Đức Phật nói rất sâu sắc, còn người thế gian chỉ thấy vẻ bền ngoài, thấy phần ngọn thôi, họ chỉ thấy nào là tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, miếng đất mà họ không thấy cái gì tạo ra những điều đó. Đó chính là nhờ tâm bố thí, tâm thiện lành, cũng là sắc đẹp của người bố thí. Chúng ta càng bố thí, càng thí xả thì càng đẹp vì cười hoài nên đẹp, cầm món đồ trao cho người ta thì người ta cười với mình, rồi mình cười lại với người ta. Khi đang tính toán đi làm bố thí thôi là đã thấy vui; đếm lúc đang làm thì cả người cho lẫn người nhận đều cười vui vẻ; sau khi làm xong xem lại hình chụp, nhớ lại cảnh lúc đó mình cũng vui, như vậy là ba thời đều vui.
Nay vui, đời sau vui,
Làm phước, hai đời vui.
Người ấy vui, an vui,
Thấy nghiệp tịnh mình làm .
***
Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Mừng rằng: "Ta làm thiện",
Sanh cõi lành, sướng hơn.
(Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu)
Cho nên người nào thường bố thí thì người đó sẽ có được sắc đẹp, kiếp trước của những người là hoa hậu toàn quốc hay hoa hậu quốc tế tu rất nhiều, mình để ý những người hoa hậu rất hay đi làm từ thiện và làm rất nhiều, trước và sau đều làm từ thiện, công đức của sự bố thí là nhan sắc và thành tựu. Còn người nào keo rít, có bao nhiêu cũng túm lại cho riêng mình thì người đó nhìn tươi thắm hay khô cằn tiều tụy?
Lợi ích thứ ba khi bố thí là sẽ có được an lạc, hạnh phúc, người nào thường bố thí, cúng dường, biết sớt chia sẽ rất vui vì người đó biết lấy niềm vui của người làm niềm vui của mình, thấy người ta vui là mình vui. Vài đồng đối với mình không phải là nhiều nhưng đối với những người nghèo khổ thiếu thốn có thể ăn cả tháng, cho nên phước báu thứ ba là được hạnh phúc, vui vẻ, an lạc.
Lợi ích thứ tư là được danh xưng, được tiếng lành, tiếng tốt và lợi ích cuối cùng là tăng thượng, nghĩa là bước lên cao thêm nữa vì cái tâm mình bố thí và mình cứ hướng đến cái thiện thì thiện nhân sẽ gặp mình, còn mình học pháp hướng đến sự chân chánh thì mình sẽ gặp Chân nhân. Một khi gặp được bậc thiện nhân, thánh nhân, Chân nhân thì không gì bằng nữa.
Bài kinh “Trên Tất Cả”
Trong bài kinh “Trên Tất Cả”, Đức Phật đã nói:
Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng.
Nghe vô thượng.
Lợi đắc vô thượng.
Học tập vô thượng.
Phục vụ vô thượng.
Tùy niệm vô thượng.
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X) Trên Tất Cả)
Khi đã thấy được Chân nhân, thấy được bậc thiền thánh, gặp được những bậc đã thấy pháp thì cái thấy đó trên tất cả mọi cái thấy, gọi là thấy vô thượng, bậc đó sẽ chỉ cho mình chánh pháp, khai mở trí huệ cho mình.
Này các Tỳ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng.
Mình nghe những người đó thuyết pháp thì đó là nghe trên tất cả cái nghe gọi là nghe vô thượng.
Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X) Trên Tất Cả)
Lợi đắc là mình sẽ được điều lợi không có gì trên thế gian này có thể so sánh được và tu tập vô thượng. Từ sự bố thí mà nó dẫn dắt mình càng đi lên cao, cái này liên hệ đến cái kia, làm cho mình tăng thượng thêm, vì thế người có bố thí đi đến cõi người hay cõi trời cũng sẽ có năm phương diện đầy đủ, sung mãn như thế. Vì vậy ngày mai khi bố thí, làm từ thiện thì mọi người hãy mỉm cười lên để mình có quả báo tốt chứ đừng lớn tiếng la lối hay gằn giọng thì mai đây mình cũng sẽ nhận lại quả báo như vậy, cho nên thái độ khi mình cho đồ rất quan trọng, món quà là đương nhiên quan trọng rồi nhưng thái độ cho cũng quan trọng, người xưa hay nói của cho không bằng cách cho, tâm thái lúc đó của mình phải như thế nào để người nhận cũng được vui vẻ mà mình cũng vui vẻ.
Như vậy Minh Thành đã nói cho quý vị nghe lợi ích của sự bố thí, cúng dường.
Thực tập Bốn Tâm Vô Lượng
Minh Thành sẽ mở rộng cho quý vị thực tập Bốn Tâm Vô Lượng, bốn tâm này đưa quý vị tái sanh vào cõi trời chứ không còn ở cõi người. Bình thường mọi người hay nói về cực lạc và cực lạc chính là ở chỗ được phước báu nhiều thì mới sanh lên cõi tốt lành. Còn không có phước nhiều thì làm sao sanh được cõi cao, không có phước thì cõi người mình còn không thể bước vào chứ đừng nói cõi thiên hoặc tịnh độ, cho nên mình phải tập làm phước. Bốn nguồn cơn sanh ra phước đức được nói đến trong kinh Tăng Chi Bộ, đây là nguồn sanh ra phước chứ không chỉ là phước.
Có bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trong khi hưởng thọ y của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trong khi hưởng thọ đồ ăn khất thực của ai...
... Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trong khi hưởng thọ trú xứ của ai... hưởng thọ dược phẩm trị bệnh của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì để nắm lấy một số lượng phước thiện, và nói rằng: "Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, đem lại an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục đem đến cõi trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc"; vì rằng cả khối phước thiện lớn được xem là vô số vô lượng. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (I) Phẩm Nguồn Sanh Phước (Với Cư Sĩ) (1))
Đức Phật nói ai cúng dường cho vị nào tu tập bốn tâm vô lượng thì phước đó không thể tính được vì đó là cái tâm vô lượng nên phước đức cũng không có bờ mé, không cùng tận. Minh Thành sẽ giới thiệu cho mọi người bốn nguồn sanh ra phước đức, phước thì nhiều người biết nhưng rất ít người biết cái nguồn để sanh ra phước, phước đức dùng hoài rồi cũng sẽ hết nhưng cái nguồn sanh ra nó là không bao giờ cạn kiệt, nếu quý vị thực tập được bốn tâm vô lượng này thì phước đức của quý vị sẽ không bao giờ hết. Bốn nguồn phước gồm: Từ Tâm Vô Lượng, Bi Tâm Vô Lượng, Hỷ Tâm Vô Lượng, Xả Tâm Vô Lượng, gọi tắt là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Mọi người cần thực tập, nuôi dưỡng, tưới tẩm, làm cho nó tăng trưởng, phát triển.
Thực tập tâm từ bi là mình ngồi yên định, mắt nhìn xuống về phía trước, trở về hơi thở, thở vào thở ra và cảm thấy thương tấm thân này. Cái thân này bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp ở trong vô minh, tham ái, nắm chặt, bao nhiêu nước mắt đã chảy từ nhỏ đến lớn, giờ đã già rồi mà không tu sẽ tiếp tục đi trên con đường này nữa nên thương cái thân này. Cái thân này bị tham dục sai khiến mấy chục năm rồi; bị ái dục, bị tham ái, sân hận, si mê, chấp ngã, cống cao ngạo mạn chi phối mấy chục năm rồi nên thương cái tấm thân ở trong mê lầm của nghiệp chướng này.
Thương cho chính mình ở trong vô minh và mở rộng tình thương ra với người thân của mình, đối với ông bà cha mẹ, cô bác cũng là nạn nhân của phiền não, cũng bị khổ đau, cha mẹ không biết tu cũng bị tham, sân, si như vậy, cho nên, phải thương những người đó. Thương vì không biết tu, thương vì chưa thành tựu trí tuệ, thương mình và thương những người mình thương. Thương người vợ, người chồng của mình cũng vì lòng tham ái, vô minh, sân si mà khổ đau, mình cũng khổ với phiền não thì vợ/chồng mình cũng khổ với phiền não giống mình nên tha thứ, cảm thông cho nhau, thương với nhau.
Có những người không quen biết chỉ gặp thoáng qua trên đường phố, trong công ty nhưng họ cũng là nạn nhân của phiền não, cũng khổ đau giống mình nên hãy thương họ. Dù không quen biết nhưng họ cũng là nạn nhân, thế nên hãy thương cả những người không thương mình. Những người đã từng làm mình khó chịu, bây giờ họ cũng đang bị khổ đau hành hạ, họ giận mình thì họ cũng không sung sướng, họ bực thì mình cũng bực, mình khổ thì họ cũng khổ, cho nên hãy thương những người ghét mình. Đây cũng là oan gia, là nghiệp chướng trong dòng luân hồi sanh tử, không có ai muốn thù ghét ai. Hận thù diệt hận thù không bao giờ có được, từ bi diệt hận thù là định luật ngàn năm, cho nên, hãy dùng từ bi, tình thương này thương họ để hóa giải được giận ghét.
Với hận diệt hận thù,
Đời này không có được.
Không hận diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu)
Chúng ta sẽ đem niềm vui đến cho mọi người và giảm bớt cái khổ của họ. Lan tỏa tình thương ra mọi nơi, quán tưởng tình thương trải rộng ra khắp ngọn núi Linh Quy Pháp Ấn này, mở rộng ra bầu trời này. Lan tỏa tình thương về phương Đông, Nam, Tây, Bắc. Lan tỏa ra miền Bắc, miền Trung, về Sài Gòn đến miền Tây, cùng tận hư không giới, vô biên, biến mãn khắp mười phương. Lan tỏa khắp năm châu bốn biển để tình thương rộng mở thấm đượm cùng khắp vô biên giới.
Mở rộng tình thương đến các loài vật, con chó, mèo, kiến, trùng, ốc, ruồi, muỗi… vì vô minh nghiệp chướng mà rơi vào những cái thân súc sanh thấp kém như vậy, những con lăng quăng, nòng nọc, vi trùng trong cơ thể.
Mở rộng tình thương đến những chúng sanh lang thang vất vưởng không được siêu thoát, mở rộng tình thương đến khắp tất cả chúng sanh chưa được siêu thoát, nguyện đem pháp này hướng đến chư Thiên của các cõi.
Mở rộng tình thương đến cây cỏ, sỏi đá, nhờ có cây cỏ rau quả mà mình mới có thực phẩm nuôi sống thân này, cho nên tuy là loài vô tình nhưng mình cũng cảm ơn. Mở rộng tình thương khắp hư không giới, cùng khắp biến mãn mười phương Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, trên dưới, ngang dọc, cùng khắp thập phương.
Xả là buông bỏ những sự buồn phiền, toan tính, những sự suy tư nghĩ ngợi. Giờ phút này buông xuống mọi toan tính lo âu về tương lai, những sự vẩn vơ của quá khứ để tâm được rỗng rang, nhẹ nhành, thanh thản. Buông xả thân tâm để tâm trong trạng thái thảnh thơi, rỗng lặng giống như trút gánh nặng ngàn cân. Mình bị tấm thân mấy chục kí này đè nặng, gánh vác nó bao nhiêu năm rồi nên phải có giây phút buông nó xuống, không quan tâm, không đặt nặng nữa. Sau khi buông xả sẽ có cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái và cảm nhận được mình đang ở trong một không gian thanh tịnh có thầy, có bạn, có pháp, có Tam Bảo. Tự làm cho tâm mình phát khởi lên sự hân hoan, sự hoan hỉ, sự vui tươi khi gặp được Chánh Pháp, gặp được giáo pháp và trong giây phút này mình có được sự an lạc, thanh tịnh. Mỉm cười nhẹ lên để cảm nhận niềm vui, cười nhẹ vui khi mình có được một ngày tu thanh tịnh.
Tâm có tu tập và tâm không tu tập rất khác nhau, phải có sự thực tập thì mới nhận biết được còn không thực tập sẽ không biết được. Cái tâm có thực tập khi muốn trú vào trạng thái nào sẽ vào được trạng thái đó, Đức Phật gọi là tâm nhu nhuyến, dễ sử dụng giống như vàng được nung nóng tan chảy ra thì người thợ chế tác muốn tạo thành nhẫn sẽ ra nhẫn, muốn là vòng tay sẽ ra vòng tay. Tâm có tu tập sẽ rất nhu nhuyến, muốn vào trạng thái của từ là sẽ vào được từ, muốn vào trạng thái của hỷ là sẽ vào hỷ.
Còn tâm vừa không tu tập, vừa phi Như Lý Tác Ý, tức là thầy đang hướng dẫn mà mình cứ nghĩ là làm không được là phi Như Lý Tác Ý, khi ý niệm đó khởi lên là mình đi ngược lại với pháp nên mình sẽ ra khỏi pháp. Vì vậy, lúc đó chúng taphải khéo Như Lý Tác Ý, nghĩa là phải làm cho tâm đi theo lời vị thầy hướng dẫn, đừng để cho cái tâm đi ngược lại, như thế sẽ thất bại. Khi quán chiếu trí huệ cũng giống như vậy, vị thầy nói đến hình ảnh nào thì trong đầu mình cũng hiện lên hình ảnh đó, đi theo lời thầy đang giảng để phát huy trí huệ từ, bi. Còn tự đi theo cái của mình là đi theo si mê, phiền não.
Cho nên, tâm có tu tập sẽ mềm mại, dễ sử dụng, muốn tâm vào trạng thái nào là vào trạng thái đó. Các vị tu tập thành tựu tứ thiền và các tầng không vô biên, thức vô biên, phi tưởng xứ hay bốn tâm từ vô lượng thì sẽ trú được vào trong tâm đó hàng giờ, thậm chí là nửa ngày đến một ngày, muốn trú tâm nào là vào tâm đó, những người tu tập thuần phục sẽ được như vậy. Những vị tu tập như thế thì công đức phước báu lớn không gì sánh bằng, chúng ta cúng dường đúng vào những vị tu tập những tâm đó thì phước nhân lên vô lượng vô số ức lần. Vì tâm thông thường của mình rất nhỏ hẹp, còn tâm của những vị đó bung ra rộng lớn như hư không, cho nên, tâm lượng lớn thì phước lớn./.
NIỆM THÂN - HƯƠNG VỊ BẤT TỬ 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hương vị bất tử PAGEREF _Toc71792929 \h 1
1. Phá tan thân kiến PAGEREF _Toc71792930 \h 1
2. Quán chiếu cảm giác PAGEREF _Toc71792931 \h 2
3. Quán chín giai đoạn tử thi PAGEREF _Toc71792932 \h 5
II. Lợi ích của sự bố thí PAGEREF _Toc71792933 \h 9
1. Bài kinh “Lợi Ích và Bố Thí” PAGEREF _Toc71792934 \h 9
2. Bài kinh “Rất Xa Xăm” PAGEREF _Toc71792935 \h 11
3. Bài kinh “Sumanà Con Gái Vua” PAGEREF _Toc71792936 \h 12
4. Bài kinh “Trên Tất Cả” PAGEREF _Toc71792937 \h 14
III. Thực tập Bốn Tâm Vô Lượng PAGEREF _Toc71792938 \h 16
Hương vị bất tử
Trong Niệm Thân có sáu phương diện, sáu khía cạnh giống như căn nhà lục giác. Pháp tu về niệm thân muốn cho tròn trịa vẹn toàn thì phải có sáu bước tu tập:
Niệm hơi thở.
Niệm oai nghi.
Niệm hành động.
Niệm tứ đại.
Niệm ba mươi hai thể trược.
Niệm thân.
Phá tan thân kiến
Bước cuối cùng này mới là bước quan trọng nhất, bước này mới đập đổ được khổ đau của mình. Năm bước trước đó sẽ dẫn đến bước này để phá thân kiến. Kiến là kiến chấp, thân là bản thân mình. Do có cái nhìn sai lầm về thân mình nên trong cái suy tư, nhận định lúc nào cũng nghĩ đây là mình, mấy chục kí lô này là mình, từ ngàn xưa cho đến nay và đến ngàn sau nếu không học Phật pháp đều sẽ nghĩ như vậy hết. Cho nên nếu quý vị nghĩ thân này là mình thì đây là thân kiến. Một khi cái nhìn này còn tồn tại thì đau khổ còn tiếp diễn, đau khổ chỉ chấm dứt khi cái nhìn này bị sụp đổ, phá vỡ. Tất cả công trình tu hành đều nhằm giải quyết cách nhìn sai lạc về chính bản thân mình nên đây gọi là tu trí huệ, còn ở ngoài chỉ là làm phước.
Vì vậy, phá vỡ thân kiến là lõi của giáo pháp, là trái tim của Đức Thế Tôn, là con mắt của 12 bộ kinh, là tủy của Tam Tạng thánh điển. Dù cho tu theo tông phái nào nhưng nếu chưa chạm vào cái này thì vẫn chỉ còn ở ngoài cổng chùa thôi, phải tu tập đúng pháp mới vào được cổng chùa, mới thấy được ông Phật. Cũng như lần lên núi này là mọi người đi thẳng vào chánh điện, không đi dạo vòng quanh bên ngoài nữa mà đi thẳng vào gặp Phật. Phật sẽ chỉ cho chúng ta cách giải quyết, giải mê, giải phóng vô minh, tham chấp, hiểu lầm, ngộ nhận. Có khi suốt đời chúng ta cũng chưa từng được một lần thấy sự thật nhưng hôm nay mọi người sẽ được thấy sự thật, mà thấy sự thật ở đây là thấy pháp.
Trước giờ mọi người chỉ thấy những thứ giả tạo, trên tivi quảng cáo son, nước hoa, phấn, người mẫu… chỉ toàn là sự giả tạo, gấm vóc lụa là phủ lên, thoa son đánh bóng nhưng cuối cùng chỉ là lớp da phủ bên ngoài. Lỡ cắt rau củ mà không cẩn thận cắt nhầm vào tay là có dòng máu đỏ chảy ra thì lúc này mình mới thấy sự thật, còn bây giờ mình chỉ thấy cái vỏ bên ngoài mà thôi, đa số mọi người đều chết với cái vỏ bên ngoài. Đức Phật sẽ dạy mình dùng trí huệ giải phẫu cơ thể, mỗi một người tu là một bác sĩ chuyên khoa giải phẫu cơ thể học. Vì vậy cách quán Ba Mươi Hai Thể Trược là đem từng bộ phận chính mình ra giải phẫu, chính mình nghiên cứu cơ thể, tìm hiểu chính bản thân mình gọi là giác. Tự giác là biết được chính mình.
Minh Thành mở những clip giải phẫu cơ thể ngồi xem và quán chiếu tại chỗ, xem vài trăm lần để khắc sâu vào não từ đó đánh đuổi những suy nghĩ sai lầm về thân, đem sự thật vào đầu để đánh tan sự giả, đem ánh sáng vào trong bóng tối. Vì vậy ai chịu tinh tấn tu thì mỗi ngày xem liên tục trong ba tháng, không có gì phải sợ, giống như mình đi chụp X-quang cái đầu thì hình trong tấm phim trắng đen hiện ra cái đầu lâu, hoặc chụp cái bụng thì hiện lên xương sườn, xương sống y như vậy. Mình thấy được điều này là một may mắn trong kiếp người của mình vì tất cả chúng ta rất giỏi che giấu sự thật, chính việc che đậy này mà chúng ta cứ mê hoài, mê đến chết cũng không tỉnh ngộ. Vì vậy trong kinh thường tán thán Đức Phật là người phơi bày ra những gì bị che giấu, dựng đứng những gì bị ngã đổ, đem ánh sáng vào bóng tối để người mù thấy sắc. Đây là công việc của Đức Thế Tôn, đây là công việc của giáo pháp, đây là công việc của các bậc hiền thánh Tăng trên đời này.
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Xin Thế Tôn nhận con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Quán chiếu cảm giác
Chúng ta bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột trong vòng luân hồi này trăm ngàn vạn kiếp. Vô minh là thân kiến, là việc cho rằng cái thân mấy chục kí này là mình; còn khi thấy nó là tứ đại, là pháp duyên sanh thì đó là minh. Vô minh là cho rằng cảm giác này là mình (mọi người vào trong linhquyphapan.vn tìm nghe bài Nhập Thất Chia sẻ về năm uẩn để nhận diện được năm uẩn). Hằng ngày chúng ta bị cảm giác nhận chìm, lôi kéo mà mình không biết nên cứ đi tìm cảm giác dễ chịu, êm ái; còn cảm giác khó chịu, không thoải mái thì mình bực dọc, không chấp nhận.
Đức Phật nói có ba loại cảm giác: cảm giác vui, cảm giác khổ, cảm giác không vui không khổ nhưng mọi người chỉ muốn cảm giác vui, cứ đi tìm cảm giác vui, chính chỗ này làm mình khổ. Vì mình chỉ đi tìm cảm giác vui, khi khổ đến mình chống trả, chống cự để triệt tiêu cảm giác khổ nhưng điều này là bất khả thi. Mỗi khi có cảm giác vui sướng, khoan khoái, thích thú thì mình giống như người bị trói buộc. Mỗi khi có cảm giác khó chịu, bực tức giống một người đang bị trói buộc. Mỗi khi mình có cảm giác không dễ chịu không khó chịu, ở mức trung bình thì mình cũng giống một người đang bị trói buộc. Cho nên hằng ngày mình bị buộc tay chân, buộc mắt, mũi, miệng mà không biết bản thân đang bị cảm giác trói buộc.
Chúng ta đang ngồi thoải mái, yên tịnh nhưng có một người nào nói một câu nặng nề với mình thì lúc đó mình chết ngay với cảm giác khó chịu bởi câu nói đó, như vậy gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, cảm giác từ lỗ tai sanh khởi. Hoặc đang yên tịnh mà có ai làm ồn ào là mình quay qua nhìn liếc hoặc tiếng chó sủa cũng làm cho mình khó chịu, tức là mình bị đắm trước và dính mắc vào trong đó mà mình không biết cảm giác đó là vô thường. Đức Phật dạy trong nội tâm có cảm giác vui thì biết có cảm giác vui nhưng cảm giác vui này không phải là tôi, đây chỉ là cảm giác thôi. Khi trong nội tâm có cảm giác khổ thì biết đây là cảm giác khổ, cảm giác khổ này không phải là tôi, đây chỉ là cảm giác, mình có cảm giác khổ chứ không phải mình khổ.
Đó chính là trí huệ thâm sâu chứ không phải tu theo kiểu lạy lục, cầu xin mê tín. Từ đây về sau mọi người tu là quay trở lại nhìn vào nội tâm để phát hiện ra chính mình chứ không phải chạy ra ngoài để cầu xin, không ai cứu giúp được mình ngoài chính bản thân mình. Đức Phật đã nói với trí tuệ, thấy với trí huệ, ai được như vậy được gọi là bậc Thánh đệ tử, tức là thấy các pháp bên trong và bên ngoài bằng trí huệ, pháp như thế nào là mình thấy như thế đó là mình thành tựu trí huệ.
Khi có cảm giác bực dọc khởi lên thì phải biết đang có một cảm giác bực dọc khởi lên và cảm giác này không phải mình, mình không có bực dọc mà chỉ là cảm giác bực dọc sanh khởi, ghi nhận cảm giác này và chánh niệm tỉnh giác với nó. Ví dụ mình đang muốn tĩnh lặng mà có 2-3 người vào nói chuyện hoài, vừa nói vừa cười, lúc đầu mình hơi bực thì phải biết là đang có cảm giác khó chịu, tỉnh giác với cảm giác này và đừng để nó trói buộc. Hoặc có người dành nhiều lời khen cho mình, nghe lời khen thấy êm quá, thấm vào tim rồi đi theo lời khen đó là mình chết với nó, ngay tại đây mình phải biết đang có cảm giác dễ chịu, vui sanh khởi, cảm giác vui chứ không phải mình vui. Trước khi Đức Phật nhập Niết-bàn thì người đã nói hãy nương tựa Tứ Niệm Xứ.
Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, 9. IX. Bệnh)
Đây là Chánh Pháp tối thượng của Đức Phật, Tứ Niệm Xứ là Chánh Pháp tối thượng, là chỗ nương tựa của hiền thánh trong giáo pháp của Như Lai. Người nào tu tập Tứ Niệm Xứ trọn vẹn là A-la-hán, người nào tu chưa trọn vẹn thì trở thành Tam Quả, Nhị Quả cho đến Sơ Quả, người nào mới bắt đầu tu Tứ Niệm Xứ gọi là hữu học, tức là mới bắt đầu đi vào Thánh quả. Nếu người nào đi vào Tứ Niệm Xứ thì người đó chắc chắn sẽ tiến thẳng đến Chánh Giác, giác ngộ.
Như vậy Minh Thành đang chia sẻ cho mọi người quán thọ trên các thọ, quán xét cảm giác. Mình bị trói buộc vào cảm giác không khổ không vui, cứ muốn đều đều chứ không muốn thay đổi, chỉ muốn ở nhà cho yên chứ không muốn ra ngoài "tôi chỉ muốn ở yên vậy thôi", đó là mình bị cảm giác trói buộc. Chúng ta cứ tưởng là mình không bị trói buộc, không bị chấp vào nó nhưng trong ở chỗ vi tế sẽ có, tức là mình chỉ muốn nguyên vẹn như vậy, nếu có ai thay đổi gì khác là mình không đồng ý. Cái gì mà mình cứ muốn nó đều đều hoài chứ không muốn thay đổi gì khác là mình đang chấp thường, chấp ngã, mình không chịu đổi nhưng các pháp lại luôn thay đổi, không thể đứng yên một chỗ được.
Mọi người đừng nghĩ mình đang ngồi yên nghe pháp là yên lặng, mà thật ra bên trong có tim đập, mạch nhảy, máu huyết đang tuần hoàn, có biết bao tế bào đang sanh diệt. Kể cả Trái Đất cũng không thể đứng yên một chỗ mà phải quay vòng. Tất cả pháp hữu vi là hành pháp vô thường, nó đang ở trong sự lưu động biến dịch để đi đến chỗ chấm dứt, bại hoại mà mình không hay biết gì. Nó đang đẩy mình gần đến chỗ hỏa thiêu mà mình không biết, nếu mình tỉnh thức để tu sẽ rất hay. Khi đó không có thời gian buồn giận, không có thời gian nói chuyện người này, người kia mà lo tu vì các pháp đang đẩy mình đi vào chỗ chết.
Việc quán chiếu cảm giác sẽ thấy rất sâu sắc, trí huệ. Thử nghĩ xem có phải suốt cuộc đời mình đi tìm cảm giác không? Mình nghĩ đi tu là tìm kiếm này kia nhưng mãi sẽ không gặp, một khi nắm được pháp Tứ Niệm Xứ, quay trở lại thân tâm sẽ thấy sáng tỏ mọi thứ chứ không cần đi tìm ở đâu. Mình cứ đi tìm nơi giải thoát thì mãi mãi cũng không gặp vì nó nằm ngay chính bản thân mình, nếu tự mình không thấy được mình thì đi tìm ở ngoài làm sao thấy?
Quán chín giai đoạn tử thi
Chúng ta phải quán chín giai đoạn của một tử thi, lâu lâu quán chiếu việc mình nằm đó lấy lên vài hơi rồi đứt hơi nằm dài, có bốn người khiêng trên tấm ván, để đó một, hai rồi ba ngày thì thân thể này trương phình lên, nứt nẻ ra, chảy ra những chất dịch máu mủ.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu". Này các Tỳ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: "Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Đây là câu kết luận của Đức Phật về tấm thân này: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Khi Minh Thành cho mọi người xem video về những con giòi bò khắp thân thể thì có người sợ quá chạy về phòng, bây giờ mình còn minh mẫn, sáng suốt, mình xem trên video thôi mà mình còn chịu không nổi thì khi nó xảy ra ngay trên thân mình thì làm sao chịu nổi? Cho nên không tu sẽ rất khổ, mới chỉ là cái bóng hình trên màn ảnh thôi mà mình không chịu được thì khi nó xảy ra với mình thì mình sẽ như thế nào? Video này là người thật việc thật chứ không phải phim ảnh dựng lên giả tạo, Minh Thành thường lên mạng xem cảnh người ta hốt cốt người, xem những cảnh chết để chuẩn bị cho mình. Năm nay Minh Thành đã hơn 40 tuổi nên chuẩn bị là vừa rồi, mình không thể biết được mình chết lúc bao nhiêu tuổi vì nó là vô thường, là bất trắc, không lường trước được.
Tỳ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Thân mình khi chết đi sẽ như vậy, mọi người có thấy buồn không? Sợ không? Nếu sợ thì phải tinh tấn tu học, bao nhiêu son phấn mình có lấy để trang điểm, tô vẽ cho bộ xương này không? Hãy nhìn cho kĩ tấm thân này, khi đã thấy thân này là bộ xương thì mình đã có trí huệ, mình cứ nghĩ nhớ, xem những hình ảnh như vậy thì khi có chuyện gì xảy đến với mình như đau nhức, trầy xước, bệnh hoạn mình không đau khổ nhiều vì mình đã thấy rõ rồi. Thậm chí khi đối đầu với sanh tử, việc sống chết nhớ lại lời Đức Phật đã nói "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy", ngay chỗ này quý vị đã chứng pháp, ngộ pháp, đắc pháp và thành tựu pháp, đi vào dòng pháp. Cho nên trong thời Đức Phật còn tại thế, có rất nhiều vị thầy khi gần chết sẽ chứng ngộ đắc quả rất nhiều vì họ tu cái này, vì thế mà Đức Phật đã nói nếu ai thực hành Thân Hành Niệm thì người đó sẽ nếm hương vị của bất tử, còn những ai chưa thực hành Thân Hành Niệm thì người đó sẽ sanh sanh tử tử vô cùng vô tận vì người đó dính chặt vào thân kiến, không biết gì về Thân Hành Niệm.
Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm cho viên mãn. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi tu tập, làm cho sung mãn một pháp này, thân được khinh an, tâm được khinh an, tầm và tứ được tịnh chỉ, toàn bộ các pháp thuộc về minh phần đi đến tu tập, làm chi viên mãn.
Có một pháp, này các Tỳ-kheo, khi được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu, đưa đến sự chứng ngộ quả Nhất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả Bất lai, đưa đến sự chứng ngộ quả A-la-hán. Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm. Khi một pháp này được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến sự chứng ngộ quả Dự lưu.... quả A-la-hán.
Những vị này không hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị không thực hiện thân hành niệm. Những vị này hưởng được bất tử, này các Tỳ-kheo, là những vị thực hành thân hành niệm.
Bất tử bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai đoạn tận thân hành niệm. Bất tử không bị đoạn tận, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không đoạn tận thân hành niệm.
Bất tử không được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai không chứng ngộ thân hành niệm. Bất tử được chứng ngộ, này các Tỳ-kheo, đối với những ai chứng ngộ thân hành niệm. (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XXI. Phẩm Thiền Ðịnh (2))
Hương vị của bất tử tức là quý vị sẽ vượt qua sống chết, không bị sống chết làm cho mình khổ nữa. Nếu không quán chiếu sâu sắc có khi sẽ nghĩ “sao mình khổ quá, sao mình lại rơi vào hoàn cảnh như vậy” mà mình không biết rằng ngoài kia còn những người khổ hơn mình trăm ngàn lần. Có người phải nằm bán thân bất toại, một đứa bé mới sanh ra đã bị bỏ rơi, còn mình nhiều khi có cha mẹ thương yêu mà lại thấy tình thương của cha mẹ nhiều quá, quan tâm quá lại khó chịu, mình không biết trân trọng tình thương này, thấy ba mẹ lo nhiều quá, hỏi han nhiều quá rồi mình không thích, bực mình, đó là một sự bất hiếu.
Minh Thành ở cạnh sư phụ chỉ có 6 tháng rồi đi lang thang mọi nơi để cầu đạo, Minh Thành không được thầy la, thầy nhắc, không được thầy chỉ dẫn nhiều nên Minh Thành thèm khát, mong muốn được la rầy. Vậy mà bây giờ các chú học trò được Minh Thành nhắc thì thấy khó chịu nên Minh Thành rất xót xa, mấy chú khó chịu thì thôi không nói nữa, vì mình nhắc là muốn tác thành cho họ nhưng người ta cảm thấy không đồng ý thì thôi.
Đối với cha mẹ, ông bà cũng vậy, họ thương yêu mình, đem hết tấm lòng cho mình mà mình không biết trân trọng, trái lại mình còn bực dọc, không biết rằng có những người vừa lọt lòng thôi thì mẹ đã không còn, muốn kêu một tiếng mẹ cũng không được, thậm chí khi lớn lên cũng không nhớ được gương mặt mẹ ra sao vì mẹ qua đời quá sớm. Có những trường hợp sống trong cảnh nghèo nàn thiếu thốn vì chiến tranh rồi đói khát, bệnh tật, đi tha hương cầu thực… Mình được sinh ra và lớn lên trong một đất nước văn minh phát triển như vậy, đầy đủ tiện nghi vật chất nhưng quê hương vẫn là chùm khế ngọt, về quê ăn một cái bánh, uống một chén trà, cầm trái dừa cũng thấy tình quê ngọt ngào.
Minh Thành từng xa quê nên Minh Thành rất thông cảm với những người ở xa, mỗi lần Minh Thành đi ra nước ngoài, có những Phật tử vừa thấy Minh Thành là chảy nước mắt "con nhớ thầy, con nhớ chùa ở Việt Nam, con nhớ quê hương". Mỗi khi Minh Thành đi hoằng pháp ở xa khoảng ba tháng mới trở về lại có cảm giác thương những người thân của mình nhiều hơn, thậm chí mình thương những người không thương, có lúc mình có thể thương những người ghét mình.
Lợi ích của sự bố thí
Đức Phật dạy việc bố thí rất quan trọng, bố thí là sự biết san sẻ, sớt chia. Đức Phật dạy người cư sĩ rất rõ, khi làm có tài chánh thì chia ra làm vài phần, trong đó một phần lo cho cha mẹ, ông bà, người thân; một phần lo cúng dường Tam Bảo; một phần giữ lại những lúc hữu sự thì lấy ra tiêu dùng. Chứ không phải cứ gom góp, cất giữ rồi lúc ra đi thì tiền của bỏ lại cho con cái, nhưng con lại không biết đạo pháp thì sẽ dùng phung phí, thậm chí tiền đó là nguyên nhân gián tiếp làm cho nó hư hỏng.
Bài kinh “Lợi Ích và Bố Thí”
Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này của bố thí. Thế nào là năm?
Được nhiều người ái mộ, ưa thích.
Được bậc Thiện nhân, Chân nhân thân cận.
Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi.
Không có sai lệch pháp của người gia chủ.
Khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, Thiên giới.
Những pháp này, này các Tỳ-kheo, là lợi ích của bố thí. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, bài kinh Lợi Ích và Bố Thí)
Khi mọi người thông báo làm từ thiện tại nơi đó thì những người ở đó rất trong mong quý vị, chờ đợi quý vị ngay từ lúc quý vị thông báo. Quý vị “được mọi người ái mộ, ưa thích”, đó là lợi ích thứ nhất. Mưa gió lạnh lẽo ở trong nhà như vầy, có một cô nói "thầy ơi, con không có lạnh" trong khi cô đó mặc hai chiếc áo ấm, đắp ba cái mền. Khi nghe nói vậy thì Minh Thành quán chiếu mặc hai áo lạnh, đắp ba cái mền nhưng có thể đêm nay có người không có áo mặc, không có mền đắp, có thể có những người chỉ có cái mền mỏng tang hoặc thậm chí là không có gì để giữ ấm luôn.
Tại sao khi bố thí thì được “bậc Thiện nhân, Chân nhân thân cận” – đây là lợi ích thứ hai. Vì pháp mình làm là thiện pháp, khi làm thiện pháp mình sẽ gặp thiện nhân, cái pháp sẽ tương ưng với người. Còn bậc Chân nhân là những bậc thấy được pháp, mình tu mà mình đi theo con đường thiện pháp, con đường chánh đạo sẽ gặp được Chân nhân. Hiền thánh Tăng là những bậc thành tựu trí huệ, những người này làm thiện pháp mà mình cũng như vậy, nhờ cùng chí hướng nên mình sẽ gặp được họ, đây là lợi ích thứ hai. Nếu quý vị lên đây chỉ thích đi ăn chơi, hưởng thụ thì làm sao quý vị gặp được Minh Thành? Người ta làm cực khổ nhiều năm để về quê hương hưởng thụ, còn quý vị về đây phải thức sáng đêm tu học cực khổ, ngồi mỏi lưng, tê chân, ăn chay rát ruột rất đáng khen. Quý vị sẽ gặp bậc Chân nhân, Thiện nhân, vì những việc làm của quý vị như vậy nên nó sẽ đưa đến hệ quả như vậy.
Khi mình làm việc thiện sẽ được chụp hình đưa lên báo, Facebook, Zalo… những đoàn từ thiện ở xa tận miền Tây cũng về đây thì thật sự điều này rất quý, đó là “tiếng tốt đồn xa”, như vậy là lợi ích thứ ba.
Lợi ích thứ tư là “không có sai lệch pháp của người gia chủ”, gia chủ bây giờ là đại gia, là những người giàu có, cái pháp chân chánh đúng đắn của những người có điều kiện hơn người khác làm được là bố thí, đó là chân chánh, là chánh pháp, là việc nên làm, đáng làm vì những việc này đưa mình đến hạnh phúc trong hiện tại và tương lai. Sáng mai mỗi một cánh tay của quý vị quý vị cầm từng phần quà, từng kí gạo đưa cho người ta sẽ là một đóa hoa sen nở, là sự ngọt ngào, là sự ấm áp trong cơn mưa giá lạnh, trong sự nghèo khổ thiếu thốn và đây là việc cần làm, đáng làm và nên làm của người làm được việc.
Lợi ích cuối cùng là “khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, Thiên giới”, khi nhắm mắt mình sẽ chỉ qua lại cõi người, cõi trời, ở đâu cũng được hưởng giàu có sung túc. Có những em bé mới sanh ra đã được thừa hưởng cả một gia tài đồ sộ, mai đây khi quý vị tái sanh ra cũng sẽ được như vậy rồi đem số tiền đó một ít đi cúng chùa, xây cầu, cứu trợ, in ấn kinh sách, hoằng pháp lợi sanh thì sẽ thêm nhiều phước báu.
Bài kinh “Rất Xa Xăm”
Tại sao có những người làm cực khổ đến tuổi gần đất xa trời mà vẫn nghèo? Còn những người vừa lọt lòng đã thừa hưởng gia tài tỷ đô la? Đó là sự khác nhau của việc bố thí và không bố thí, giữa người có phước và người vô phước, giữa người được hạnh phúc và người bất hạnh khác nhau rất xa, cho nên trong bài kinh “Rất Xa Xăm”, Đức Phật đã nói:
Này các Tỳ-kheo, có bốn sự việc này, rất xa, rất xa với nhau. Thế nào là bốn?
Trời và đất, này các Tỳ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau.
Bờ biển bên này, này các Tỳ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa, rất xa với nhau.
Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỳ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau.
Pháp của hạng người bất thiện, này các Tỳ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa với nhau.
Này các Tỳ-kheo, đây là bốn sự việc rất xa, rất xa với nhau này. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (VII) Rất Xa Xăm)
Quý vị hôm nay đã làm được cái pháp rất xa, xin chúc mừng mọi người. Trời và đất cách xa nhau bao nhiêu, bờ biển bên này cách bao xa so với bờ biển bên kia, mặt trời mọc cách bao xa so với mặt trời lặn, cộng tất cả những các xa đó cũng không bằng cái xa của ác và thiện. Giờ đây, quý vị đang đi trên con đường của thiện pháp, con đường của ánh sáng, đó là quý vị đang thực hành việc bố thí, đem tình thương đến những người đang khổ đau, đem giáo pháp đến cho những người cần tu tập.
Bài kinh “Sumanà Con Gái Vua”
Trong bài kinh “Sumanà Con Gái Vua”, Tăng Chi Bộ, Tập II, Phật nói người biết tu bố thí sanh lên cõi trời hay sanh ở cõi người thì lúc nào cũng vượt hơn người ta về năm phương diện. Người có tu tập bố thí, có làm phước, có cúng dường, có hộ trì Tam Bảo, biết san sẻ sớt chia thì người đó khi sanh ra sẽ vượt trội hơn mọi người ở năm phương diện.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của Anàthapindika. Rồi Sumanà, con gái vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cỗ xe, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Sumanà, con gái vua bạch Thế Tôn:
Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai được sanh lên cõi lành Thiên giới. Giữa hai vị thiên ấy, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?
Thế Tôn đáp:
- Có sự sai biệt, này Sumanà.
Người có bố thí, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không có bố thí trên năm phương diện. Về thiên thọ mạng, về thiên sắc, về thiên lạc, về thiên danh xưng, về thiên tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không bố thí trên năm phương diện này. (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, bài kinh Sumanà Con Gái Vua)
Khi quý vị bố thí thì sanh ra đời nào cũng có tuổi thọ, không bị chết yểu, sống hết số tuổi, nói nôm na là sống hết tuổi trời, một kiếp người được bao nhiêu tuổi thì mình sống được hết chứ mình không bị nửa đường gãy gánh, mình không rơi vào những trường hợp chết bất đắc kì tử, tuổi trẻ bây giờ chết yểu rất nhiều là do không có sự tu tập.
Thứ hai là quý vị vượt hơn người ta về nhan sắc, quý vị ngồi đây là “phụng lập quần kê”, tức là con phụng đứng trong bầy gà. Quý vị đi chỗ nào cũng giống như phụng hoàng vì mình có bố thí, làm thiện, làm phước. Người nào có phước tướng đi đến chỗ nào cũng tỏa sáng bởi ánh hào quang của phước đức, chỉ có người tu với người tu mới thấy được chứ người không tu thì không thể biết được. Những người có tu tập, những người giàu có đi đến đâu cũng sáng chói. Nói theo thế gian là tiền bạc tài sản của họ chói sáng nhưng nói sâu sắc trong Phật pháp là nhờ thiện tâm, sự bố thí của họ mới làm họ rực sáng trong đời này, vì nếu không bố thí, làm phước đời trước thì làm sao đời này sanh ra được giàu có?
Đức Phật nói rất sâu sắc, còn người thế gian chỉ thấy vẻ bền ngoài, thấy phần ngọn thôi, họ chỉ thấy nào là tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, miếng đất mà họ không thấy cái gì tạo ra những điều đó. Đó chính là nhờ tâm bố thí, tâm thiện lành, cũng là sắc đẹp của người bố thí. Chúng ta càng bố thí, càng thí xả thì càng đẹp vì cười hoài nên đẹp, cầm món đồ trao cho người ta thì người ta cười với mình, rồi mình cười lại với người ta. Khi đang tính toán đi làm bố thí thôi là đã thấy vui; đếm lúc đang làm thì cả người cho lẫn người nhận đều cười vui vẻ; sau khi làm xong xem lại hình chụp, nhớ lại cảnh lúc đó mình cũng vui, như vậy là ba thời đều vui.
Nay vui, đời sau vui,
Làm phước, hai đời vui.
Người ấy vui, an vui,
Thấy nghiệp tịnh mình làm .
***
Nay sướng, đời sau sướng,
Làm phước, hai đời sướng.
Mừng rằng: "Ta làm thiện",
Sanh cõi lành, sướng hơn.
(Kinh Pháp Cú Phẩm Song Yếu)
Cho nên người nào thường bố thí thì người đó sẽ có được sắc đẹp, kiếp trước của những người là hoa hậu toàn quốc hay hoa hậu quốc tế tu rất nhiều, mình để ý những người hoa hậu rất hay đi làm từ thiện và làm rất nhiều, trước và sau đều làm từ thiện, công đức của sự bố thí là nhan sắc và thành tựu. Còn người nào keo rít, có bao nhiêu cũng túm lại cho riêng mình thì người đó nhìn tươi thắm hay khô cằn tiều tụy?
Lợi ích thứ ba khi bố thí là sẽ có được an lạc, hạnh phúc, người nào thường bố thí, cúng dường, biết sớt chia sẽ rất vui vì người đó biết lấy niềm vui của người làm niềm vui của mình, thấy người ta vui là mình vui. Vài đồng đối với mình không phải là nhiều nhưng đối với những người nghèo khổ thiếu thốn có thể ăn cả tháng, cho nên phước báu thứ ba là được hạnh phúc, vui vẻ, an lạc.
Lợi ích thứ tư là được danh xưng, được tiếng lành, tiếng tốt và lợi ích cuối cùng là tăng thượng, nghĩa là bước lên cao thêm nữa vì cái tâm mình bố thí và mình cứ hướng đến cái thiện thì thiện nhân sẽ gặp mình, còn mình học pháp hướng đến sự chân chánh thì mình sẽ gặp Chân nhân. Một khi gặp được bậc thiện nhân, thánh nhân, Chân nhân thì không gì bằng nữa.
Bài kinh “Trên Tất Cả”
Trong bài kinh “Trên Tất Cả”, Đức Phật đã nói:
Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng.
Nghe vô thượng.
Lợi đắc vô thượng.
Học tập vô thượng.
Phục vụ vô thượng.
Tùy niệm vô thượng.
(Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X) Trên Tất Cả)
Khi đã thấy được Chân nhân, thấy được bậc thiền thánh, gặp được những bậc đã thấy pháp thì cái thấy đó trên tất cả mọi cái thấy, gọi là thấy vô thượng, bậc đó sẽ chỉ cho mình chánh pháp, khai mở trí huệ cho mình.
Này các Tỳ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng.
Mình nghe những người đó thuyết pháp thì đó là nghe trên tất cả cái nghe gọi là nghe vô thượng.
Này các Tỳ-kheo, ai đi đến để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (X) Trên Tất Cả)
Lợi đắc là mình sẽ được điều lợi không có gì trên thế gian này có thể so sánh được và tu tập vô thượng. Từ sự bố thí mà nó dẫn dắt mình càng đi lên cao, cái này liên hệ đến cái kia, làm cho mình tăng thượng thêm, vì thế người có bố thí đi đến cõi người hay cõi trời cũng sẽ có năm phương diện đầy đủ, sung mãn như thế. Vì vậy ngày mai khi bố thí, làm từ thiện thì mọi người hãy mỉm cười lên để mình có quả báo tốt chứ đừng lớn tiếng la lối hay gằn giọng thì mai đây mình cũng sẽ nhận lại quả báo như vậy, cho nên thái độ khi mình cho đồ rất quan trọng, món quà là đương nhiên quan trọng rồi nhưng thái độ cho cũng quan trọng, người xưa hay nói của cho không bằng cách cho, tâm thái lúc đó của mình phải như thế nào để người nhận cũng được vui vẻ mà mình cũng vui vẻ.
Như vậy Minh Thành đã nói cho quý vị nghe lợi ích của sự bố thí, cúng dường.
Thực tập Bốn Tâm Vô Lượng
Minh Thành sẽ mở rộng cho quý vị thực tập Bốn Tâm Vô Lượng, bốn tâm này đưa quý vị tái sanh vào cõi trời chứ không còn ở cõi người. Bình thường mọi người hay nói về cực lạc và cực lạc chính là ở chỗ được phước báu nhiều thì mới sanh lên cõi tốt lành. Còn không có phước nhiều thì làm sao sanh được cõi cao, không có phước thì cõi người mình còn không thể bước vào chứ đừng nói cõi thiên hoặc tịnh độ, cho nên mình phải tập làm phước. Bốn nguồn cơn sanh ra phước đức được nói đến trong kinh Tăng Chi Bộ, đây là nguồn sanh ra phước chứ không chỉ là phước.
Có bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Thế nào là bốn?
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trong khi hưởng thọ y của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trong khi hưởng thọ đồ ăn khất thực của ai...
... Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trong khi hưởng thọ trú xứ của ai... hưởng thọ dược phẩm trị bệnh của ai, đạt đến và an trú vô lượng tâm định, như vậy là nguồn sanh phước vô lượng cho người ấy, là nguồn sanh thiện đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, thời không dễ gì để nắm lấy một số lượng phước thiện, và nói rằng: "Có chừng ấy nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện, đem lại an lạc, thuộc thiên giới, là quả lạc dị thục đem đến cõi trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc"; vì rằng cả khối phước thiện lớn được xem là vô số vô lượng. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, (I) Phẩm Nguồn Sanh Phước (Với Cư Sĩ) (1))
Đức Phật nói ai cúng dường cho vị nào tu tập bốn tâm vô lượng thì phước đó không thể tính được vì đó là cái tâm vô lượng nên phước đức cũng không có bờ mé, không cùng tận. Minh Thành sẽ giới thiệu cho mọi người bốn nguồn sanh ra phước đức, phước thì nhiều người biết nhưng rất ít người biết cái nguồn để sanh ra phước, phước đức dùng hoài rồi cũng sẽ hết nhưng cái nguồn sanh ra nó là không bao giờ cạn kiệt, nếu quý vị thực tập được bốn tâm vô lượng này thì phước đức của quý vị sẽ không bao giờ hết. Bốn nguồn phước gồm: Từ Tâm Vô Lượng, Bi Tâm Vô Lượng, Hỷ Tâm Vô Lượng, Xả Tâm Vô Lượng, gọi tắt là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Mọi người cần thực tập, nuôi dưỡng, tưới tẩm, làm cho nó tăng trưởng, phát triển.
Thực tập tâm từ bi là mình ngồi yên định, mắt nhìn xuống về phía trước, trở về hơi thở, thở vào thở ra và cảm thấy thương tấm thân này. Cái thân này bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp ở trong vô minh, tham ái, nắm chặt, bao nhiêu nước mắt đã chảy từ nhỏ đến lớn, giờ đã già rồi mà không tu sẽ tiếp tục đi trên con đường này nữa nên thương cái thân này. Cái thân này bị tham dục sai khiến mấy chục năm rồi; bị ái dục, bị tham ái, sân hận, si mê, chấp ngã, cống cao ngạo mạn chi phối mấy chục năm rồi nên thương cái tấm thân ở trong mê lầm của nghiệp chướng này.
Thương cho chính mình ở trong vô minh và mở rộng tình thương ra với người thân của mình, đối với ông bà cha mẹ, cô bác cũng là nạn nhân của phiền não, cũng bị khổ đau, cha mẹ không biết tu cũng bị tham, sân, si như vậy, cho nên, phải thương những người đó. Thương vì không biết tu, thương vì chưa thành tựu trí tuệ, thương mình và thương những người mình thương. Thương người vợ, người chồng của mình cũng vì lòng tham ái, vô minh, sân si mà khổ đau, mình cũng khổ với phiền não thì vợ/chồng mình cũng khổ với phiền não giống mình nên tha thứ, cảm thông cho nhau, thương với nhau.
Có những người không quen biết chỉ gặp thoáng qua trên đường phố, trong công ty nhưng họ cũng là nạn nhân của phiền não, cũng khổ đau giống mình nên hãy thương họ. Dù không quen biết nhưng họ cũng là nạn nhân, thế nên hãy thương cả những người không thương mình. Những người đã từng làm mình khó chịu, bây giờ họ cũng đang bị khổ đau hành hạ, họ giận mình thì họ cũng không sung sướng, họ bực thì mình cũng bực, mình khổ thì họ cũng khổ, cho nên hãy thương những người ghét mình. Đây cũng là oan gia, là nghiệp chướng trong dòng luân hồi sanh tử, không có ai muốn thù ghét ai. Hận thù diệt hận thù không bao giờ có được, từ bi diệt hận thù là định luật ngàn năm, cho nên, hãy dùng từ bi, tình thương này thương họ để hóa giải được giận ghét.
Với hận diệt hận thù,
Đời này không có được.
Không hận diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu)
Chúng ta sẽ đem niềm vui đến cho mọi người và giảm bớt cái khổ của họ. Lan tỏa tình thương ra mọi nơi, quán tưởng tình thương trải rộng ra khắp ngọn núi Linh Quy Pháp Ấn này, mở rộng ra bầu trời này. Lan tỏa tình thương về phương Đông, Nam, Tây, Bắc. Lan tỏa ra miền Bắc, miền Trung, về Sài Gòn đến miền Tây, cùng tận hư không giới, vô biên, biến mãn khắp mười phương. Lan tỏa khắp năm châu bốn biển để tình thương rộng mở thấm đượm cùng khắp vô biên giới.
Mở rộng tình thương đến các loài vật, con chó, mèo, kiến, trùng, ốc, ruồi, muỗi… vì vô minh nghiệp chướng mà rơi vào những cái thân súc sanh thấp kém như vậy, những con lăng quăng, nòng nọc, vi trùng trong cơ thể.
Mở rộng tình thương đến những chúng sanh lang thang vất vưởng không được siêu thoát, mở rộng tình thương đến khắp tất cả chúng sanh chưa được siêu thoát, nguyện đem pháp này hướng đến chư Thiên của các cõi.
Mở rộng tình thương đến cây cỏ, sỏi đá, nhờ có cây cỏ rau quả mà mình mới có thực phẩm nuôi sống thân này, cho nên tuy là loài vô tình nhưng mình cũng cảm ơn. Mở rộng tình thương khắp hư không giới, cùng khắp biến mãn mười phương Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, trên dưới, ngang dọc, cùng khắp thập phương.
Xả là buông bỏ những sự buồn phiền, toan tính, những sự suy tư nghĩ ngợi. Giờ phút này buông xuống mọi toan tính lo âu về tương lai, những sự vẩn vơ của quá khứ để tâm được rỗng rang, nhẹ nhành, thanh thản. Buông xả thân tâm để tâm trong trạng thái thảnh thơi, rỗng lặng giống như trút gánh nặng ngàn cân. Mình bị tấm thân mấy chục kí này đè nặng, gánh vác nó bao nhiêu năm rồi nên phải có giây phút buông nó xuống, không quan tâm, không đặt nặng nữa. Sau khi buông xả sẽ có cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái và cảm nhận được mình đang ở trong một không gian thanh tịnh có thầy, có bạn, có pháp, có Tam Bảo. Tự làm cho tâm mình phát khởi lên sự hân hoan, sự hoan hỉ, sự vui tươi khi gặp được Chánh Pháp, gặp được giáo pháp và trong giây phút này mình có được sự an lạc, thanh tịnh. Mỉm cười nhẹ lên để cảm nhận niềm vui, cười nhẹ vui khi mình có được một ngày tu thanh tịnh.
Tâm có tu tập và tâm không tu tập rất khác nhau, phải có sự thực tập thì mới nhận biết được còn không thực tập sẽ không biết được. Cái tâm có thực tập khi muốn trú vào trạng thái nào sẽ vào được trạng thái đó, Đức Phật gọi là tâm nhu nhuyến, dễ sử dụng giống như vàng được nung nóng tan chảy ra thì người thợ chế tác muốn tạo thành nhẫn sẽ ra nhẫn, muốn là vòng tay sẽ ra vòng tay. Tâm có tu tập sẽ rất nhu nhuyến, muốn vào trạng thái của từ là sẽ vào được từ, muốn vào trạng thái của hỷ là sẽ vào hỷ.
Còn tâm vừa không tu tập, vừa phi Như Lý Tác Ý, tức là thầy đang hướng dẫn mà mình cứ nghĩ là làm không được là phi Như Lý Tác Ý, khi ý niệm đó khởi lên là mình đi ngược lại với pháp nên mình sẽ ra khỏi pháp. Vì vậy, lúc đó chúng taphải khéo Như Lý Tác Ý, nghĩa là phải làm cho tâm đi theo lời vị thầy hướng dẫn, đừng để cho cái tâm đi ngược lại, như thế sẽ thất bại. Khi quán chiếu trí huệ cũng giống như vậy, vị thầy nói đến hình ảnh nào thì trong đầu mình cũng hiện lên hình ảnh đó, đi theo lời thầy đang giảng để phát huy trí huệ từ, bi. Còn tự đi theo cái của mình là đi theo si mê, phiền não.
Cho nên, tâm có tu tập sẽ mềm mại, dễ sử dụng, muốn tâm vào trạng thái nào là vào trạng thái đó. Các vị tu tập thành tựu tứ thiền và các tầng không vô biên, thức vô biên, phi tưởng xứ hay bốn tâm từ vô lượng thì sẽ trú được vào trong tâm đó hàng giờ, thậm chí là nửa ngày đến một ngày, muốn trú tâm nào là vào tâm đó, những người tu tập thuần phục sẽ được như vậy. Những vị tu tập như thế thì công đức phước báu lớn không gì sánh bằng, chúng ta cúng dường đúng vào những vị tu tập những tâm đó thì phước nhân lên vô lượng vô số ức lần. Vì tâm thông thường của mình rất nhỏ hẹp, còn tâm của những vị đó bung ra rộng lớn như hư không, cho nên, tâm lượng lớn thì phước lớn./.