Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Cam giac nhan chim the gioi - 2 - TN BT thang 9.2019

2026-03-03 00:54:48
Linh Quy Pháp Ấn

Cảm giác

nhận chìm thế giới

(2)



- Thích Minh Thành –

NHÀ XUẤT BẢN ……………….

Thuyết giảng:

Thích Minh Thành.

Chuyển thành văn bản:

…………………

Biên tập:

Thiện Ngộ.

Sửa bản in:

………………………..

Ban Văn hóa Pháp Ấn

thực hiện

Biên tập 9.2019

MỤC LỤC

Cảm giác trá hình ………………………………………………………. trang 4

Ba món hàng lậu ……………………………………………………….. trang 13

Cảm giác trá hình

Hàng ngày, chúng ta thường sống với ba loại cảm giác: Vui (lạc thọ), Buồn (Khổ thọ) và không Buồn cũng không Vui (bất khổ bất lạc thọ), nhưng chúng ta ít khi nào nhận biết được điều này. Có tất cả 5 loại cảm giác (Cảm thọ):

Khổ thọ (Khổ về thân);

Lạc thọ;

Bất khổ bất lạc thọ;

Ưu thọ (Khổ về tâm);

Xả thọ.

Riêng Khổ thọ có hai loại: Khổ về thân (Khổ thọ) và Khổ về tâm (Ưu thọ). Sự tu tập nhận biết cảm giác toàn thân giúp người tu nhận biết rõ ràng từng loại cảm giác hiện đang có mặt ở nơi thân và tâm. Khi được nghe chánh pháp là lúc trong tâm của mỗi người phát sinh ra năng lượng hoan hỷ vui tươi, cung kính tôn trọng, hiếm có. Ngay lúc đó, người nghe pháp phải tác ý đúng pháp và phù hợp với đạo lý để làm cho cảm giác hân hoan càng tăng trưởng mạnh hơn, gọi là ‘Như lý tác ý’. Nhưng trái lại, người nào có Khổ về tâm (Ưu thọ) hoặc chán nản, mệt mỏi trong lúc đang nghe pháp hay đang tu tập là đang suy nghĩ không phù hợp với đạo lý chánh pháp, gọi là ‘Phi như lý tác ý’, cũng là đang bị cảm giác khổ về tâm nhấn chìm dắt dẫn đi lạc. Nếu chúng ta không có công phu thực tập quán thọ trên cảm thọ, luôn nhìn lại cảm giác đang sinh khởi nơi thân tâm thì chẳng thể biết được bản thân đang bị chúng nhấn chìm.

Người tu lúc nào cũng phải nhận biết rõ trong thân hiện đang có loại cảm giác gì xuất hiện chi phối. Lúc khỏe hay mệt, khi vui buồn, lúc được mất, đứng trước lời khen chê v.v… ở mọi lúc mọi nơi, người tu đều nhận diện rõ từng loại cảm giác xuất hiện nơi thân. Nhìn lại từng cảm giác để xem ngay lúc được khen và bị chê đó, có tham hay sân xuất hiện hay có si mê chấp ngã sinh khởi hay không? Tất cả mọi tâm Tham, Sân, Si, bản Ngã, ganh ghét tật đố đều nằm ẩn trong các loại cảm giác. Chỉ khi nào chúng ta thật sự chú tâm để ý mới nhìn thấy chúng. Lúc ăn uống, khi ngủ nghỉ, mọi oai nghi trong đi đứng nằm ngồi, nói năng, im lặng, đại tiểu tiện, lúc nhàn rỗi hay khi khẩn cấp… đều phải chú ý đến cảm giác của thân. Nhờ chú ý quan sát cảm giác xuất hiện, sinh diệt nơi thân khi tiếp duyên xúc cảnh, người tu sẽ phát hiện ra được ‘căn cứ địa’ của Tham, Sân, Si, Vô minh và chấp Ngã trốn núp trong đó. Không có công phu nhìn lại cảm giác, chúng ta sẽ không bao giờ nhìn thấy được bộ mặt thật của phiền não. Luôn sống với chánh niệm tỉnh giác nhận biết rõ cảm thọ, tức là đang sống với trí tuệ của bậc Thánh.

Từ trước đến nay, chúng ta thường nói rằng cốt lõi của sự tu hành là đoạn trừ phiền não, tham, sân, si, nhưng nếu không biết được mặt mũi, hang ổ của chúng ở đâu làm sao đoạn trừ? Thật ra, Tham, Sân, Si, Vô minh và chấp Ngã ẩn mình ở trong các loại cảm giác. Khi có cảm giác sinh khởi, lập tức có Tham, Sân, Si, Vô minh và chấp Ngã đồng thời xuất hiện theo sau. Hằng ngày, chúng ta thường bị những loại cảm giác vui, khổ, không vui không khổ xâm chiếm, chế ngự, an trú, chi phối, nhận chìm nhưng mình không hề biết. Những điều kiện ở bên ngoài biến đổi, tâm của chúng ta cũng dễ bị ảnh hưởng, làm thay đổi theo. Chỉ cần khí hậu nóng lên hơn mức bình thường là chúng ta cảm thấy khó chịu hoặc khi thời tiết dịu mát là tâm liền dính mắc trong sự yêu thích, sảng khoái, dễ chịu kia. Chúng ta dễ thấy những giờ nghe pháp, tọa thiền lại có nhiều người có cảm giác chán ngán, nhưng vừa được phép nghỉ học hoặc có việc tạm ngưng tu, liền cảm thấy vui sướng. Tâm ưa thích đông vui nơi những chúng hội lớn hay làm nhiều công việc hoặc ưa thích nói chuyện, hội họp… Tất cả những việc đó đều là Phi như lý tác ý và thuộc về pháp thụt lùi và rơi xuống, nói đúng hơn là ‘pháp thối đọa của Tỳ-kheo’!

Đời sống của một vị Tỳ-kheo là đời sống viễn ly, độc cư thiền định. Phải có thời gian sống xa lánh với hình sắc, âm thanh, mùi hương, mùi vị, các sự xúc chạm. Cần ở một mình yên tịnh để nội soi cảm giác, tư tưởng và suy nghĩ đang vận hành trong tâm của chính mình, từ đây thấy rõ chỗ trú ẩn của tham, sân, si, ái dục, vô minh và chấp Ngã. Do thấy rõ được chỗ cư trú cũng như bộ mặt thật của những tên giặc làm mình luân hồi, khổ đau, phiền não kia, chúng ta mới có phương pháp thực hiện việc nhiếp phục và đoạn trừ tận gốc rễ của chúng. Thực hành được như vậy, chúng ta mới có thể thành công trong việc tu tập hướng tới mục đích đoạn tận Dục lậu, Hữu lậu và Vô minh lậu.

Hành giả chuyên chú nắm vững nền tảng tu tập ba Pháp hành: Chánh niệm trước mặt, Trở về hơi thở cảm giác toàn thân và Nội tâm tỉnh giác. Ba pháp này là cánh cửa để đi vào việc thực hành Cảm giác toàn thân. Đây cũng là Pháp hành quan trọng của kinh Nykàya, cũng là bí kíp của Chánh pháp. Ở mọi lúc mọi nơi, chúng ta đều phải để ý đến cảm giác từ đầu cho đến chân, mà không phải chỉ chú ý vào sự ra vào của hơi thở hoặc sự phồng xẹp của bụng hay sự cử động của chân tay. Vì nếu chỉ tập trung vào sự hoạt động của một bộ phận, ta sẽ chỉ nhận biết cảm giác của riêng nơi đó, không thấy được toàn bộ cảm giác của thân thể đang vận hành. Trong mọi sinh hoạt hằng ngày và trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, mình phải khéo xoay về nhận diện cảm giác toàn thân. Khi ấy, chỗ nào có cảm giác sinh khởi mạnh sẽ lập tức biểu hiện ra nơi thân. Do tâm hay Thọ, Tưởng, Hành, Thức không có hình tướng cụ thể và chỉ có thể nương gá nơi Sắc thân mà biểu hiện ra bên ngoài. Cho nên, khi có sự chú tâm nhìn lại cảm giác của mình, mọi biểu hiện của Tham, Sân, Si và phiền não biểu hiện nơi thân đều được chúng ta nhận biết một cách rõ ràng và chính xác.

Khi dục ái sinh khởi, tất nhiên chúng phải có nơi cư trú và điểm xuất phát. Đầu tiên, nếu có sự sân giận sinh khởi, từ chỗ phần giữa ngực và bụng sẽ tỏa ra một nhiệt lượng làm nóng ran, sau đó sẽ dần dần bốc lên và bùng cháy. Nếu là tham dục phát sinh cũng từ ngay nơi giữa ngực và bụng phát ra dòng năng lượng khiến cho cơ thể dâng trào cảm giác thôi thúc mạnh mẽ, rạo rực làm toàn thân run rẩy. Còn nếu khi không có mặt của Tham và Sân, thì Si mê hiện hữu làm toàn thân trì trệ, nặng nề, uể oải, lười nhác… Tất cả những việc đó đều là do chúng ta không có sự nhận diện cảm giác toàn thân. Trái lại, nếu trước đó đã có sự chú ý đến cảm giác toàn thân, khi có một cảm giác nào trong ba loại đó chợt xuất hiện là chúng ta liền có thể phát hiện và kịp thời chấn chỉnh. Nhờ thực tập việc nhìn lại cảm giác toàn thân này, ta sẽ dần dần loại bỏ được cành lá của tham, sân, si và sau cùng là nhổ tận gốc rễ khổ đau của nó.

Trong việc tu học hằng ngày, mỗi người cần dụng công tu hành trong việc bám sát thực hành nhận diện cảm giác toàn thân ở mọi lúc mọi nơi. Vì đây là cánh cửa mở ra tất cả pháp ở nơi thân và tâm. Sắc thân vốn là vật vô tri, Tưởng chỉ là những hình bóng ảo ảnh, Hành chỉ những tư tưởng âm thầm không có hình dáng, và Thức là cái thường rõ biết mọi việc, nhưng rất khó nhận thấy. Duy chỉ có cảm Thọ mới chính là nơi làm phát sinh và biểu hiện ra những trạng thái tâm lý ở bên ngoài thân. Mọi cảm giác đều biểu hiện ở trên thân một cách rõ nét nhất.

Ví dụ, khi chúng ta nổi sân giận, mọi cảm giác khó chịu đều hiện ra ở trên thân như mặt đỏ tía tai, mặt mũi đanh lại,… Hoặc khi có một niềm vui, cảm giác sung sướng làm cho khuôn mặt rạng rỡ, miệng cười tươi… Tất cả những cảm giác ở trên thân đó khi hiển lộ, bất cứ ai cũng đều có thể nhìn biết. Như vậy cảm giác (Thọ) chính là chiếc cầu nối liền giữa thân và tâm. Chính ngay nơi đó là căn cứ địa trú ẩn mọi sự phát sinh và đoạn diệt của phiền não. Nếu chúng ta không nhìn lại cảm giác thì không bao giờ có thể thấy rõ và đoạn tận được các lậu hoặc sâu kín ở bên trong như Dục lậu, Hữu lậu và Vô minh lậu. Tham, sân, dục, ái, vô minh và chấp Ngã là những thứ phiền não nhẹ bắt buộc người học Phật phải nhận thấy rõ, rồi sau mới xét đến phần Lậu hoặc. Vì chúng là phần sâu nặng và vi tế hơn nằm ẩn kín trong tâm rất khó nhận biết, nếu không đoạn trừ hết những thứ phiền não dễ thấy kia.

Khi thân thể có cảm giác đói, chúng ta hãy nhìn lại xem trong thân có cảm giác thúc giục muốn tìm thức ăn hay không? Bởi vì khi bụng đói cồn cào, tự nhiên trong thân sẽ phát sinh một cảm giác thôi thúc phải tìm đồ ăn, đó chính là Dục sinh khởi. Hoặc khi chúng ta có một cuộc hẹn quan trọng với người nào đó vào lúc 4 giờ, còn 20 phút nữa là đến giờ hẹn nhưng công việc còn đang dở dang, ngay lúc đó trong thân có một cảm giác nôn nao, thúc hối phải đi gấp! Những trạng thái đó chính là Dục! Chữ Dục không chỉ ở nghĩa cạn cợt là tình dục giữa nam và nữ, vì đây chỉ mới là một phần nhỏ của Dục, nhưng vì chúng ta đa phần đều có tâm nặng về việc tình cảm, cho nên khi nói đến Dục là liền nghĩ ngay đến việc nam nữ. Thật ra, Dục mà Đức Phật nói ở đây bao hàm một nghĩa rất rộng và rất vi tế có mặt đầy khắp mọi phương diện. Sự thôi thúc này có sức mạnh rất lớn, có thể lôi kéo, dẫn dắt một cách mãnh liệt bắt buộc chúng ta phải thể hiện ra hành động hay lời nói bên ngoài. Chính lúc đó, do mình không làm chủ cảm giác nên quên mất vị trí, công việc hiện tại và chỉ còn có nhớ đến một việc duy nhất kia mà thôi! Thực tế đã có nhiều vụ tai nạn do Dục gây ra, vì mãi bận suy nghĩ, tưởng tượng, quên mất việc trước mắt, ví như đang lái xe, nên có thảm họa. Xét rộng ra, cũng chính Dục ái này làm động lực thúc đẩy thần thức đi tái sinh luân hồi mãi mãi.

Chúng ta cũng cần phân biệt rõ ba cấp độ của Tham ái:

Dục: Là sức mạnh sâu kín trong tâm luôn thôi thúc, lôi kéo dẫn dắt để tạo ra hành vi hay lời nói ở thân.

Ái: Là sự yêu thích, quyến luyến, bịn rịn không nỡ xa rời.

Tham: Là sự ham muốn có thêm nhiều hơn nữa, so với những gì đã có.

Tất cả ba điều này đều thuộc cảm giác của Tham. Trong đó, Tham ở bên ngoài dễ nhìn thấy nhất. Ví dụ, có người cho tặng một vài cái bánh rất ngon, khiến mình yêu thích và muốn xin thêm vài cái bánh nữa. Sự muốn thêm nữa chính là tâm tham đang ẩn trú trong cảm giác yêu thích, chỉ khi chúng ta biết nhìn lại cảm giác mới có thể phát hiện ra nó. Cũng giống như vậy, tâm sân giận cũng có ba cấp độ do Dục thúc đẩy và yêu thích nắm giữ sự bực giận, nhưng chỉ khác ở mức độ thứ ba là thay vì Tham thì bây giờ là Sân. Tuy sân giận khiến cho chúng ta mệt mỏi, khó chịu, nhưng không có mấy người chịu từ bỏ cảm giác khó chịu đó. Họ vẫn cứ nắm lấy nó để ôn nhắc mãi, làm cho bản thân thêm khổ sầu, gọi là ‘yêu thích giận dỗi’.

Những cảm giác thô phù ở nơi thân rất dễ phát hiện và người khác nhìn thấy. Những người hay sân giận thì lúc nào mặt mũi cũng đỏ rực, chân mày dựng ngược, mắt có sát khí… Những người có tâm tham ái cũng rất dễ nhìn thấy, ví dụ trong một nhóm bạn đi cùng với nhau, trong đó nếu hai người nào có tình ý với nhau, thì tự nhiên người bên ngoài sẽ nhìn thấy, do cảm giác biểu hiện rõ ra bên ngoài, nên không thể giấu người khác. Lúc đó, tâm ý giữa hai người đó chỉ còn chú trọng vào đối tượng yêu thích mà thôi, không quan tâm những việc khác ở bên ngoài nữa. Họ đã bị cảm giác yêu thích lưu luyến lôi cuốn và nhận chìm, không thể thoát ra. Do mọi ý nghĩ, việc làm của họ chỉ còn giành cho đối tượng yêu thích kia được biểu hiện một cách rõ rệt, nên mọi người đều nhìn biết! Cho nên, những vị có công phu tu tập thiền định về năm Uẩn thâm sâu có thể nhìn thấy được những điều mà người khác không thấy, biết được những điều mà người khác không thấy. Không cần người kia nói ra, nhưng họ vẫn có thể thấu suốt mọi điều. Có thể chúng ta sẽ nghĩ rằng vị ấy do tu tập có Tha tâm thông có thể thấy được tâm ý của người khác? Thật ra, những vị ấy chưa cần dùng tới loại thần thông đó, chỉ nhìn những biểu hiện qua năm uẩn nơi thân của người kia cũng đã biết rõ những việc mà họ đang làm và đang rơi vào trong uẩn nào! Giống như khi nhìn thấy một người ngồi dùng tay chống cằm, mắt đăm chiêu nhìn về phương trời xa xăm là biết người ấy đang ở trong tưởng uẩn. Do không có đủ chánh niệm tỉnh sáng để nhận biết bản thân đang bị nhấn chìm trong dòng xoáy của tưởng uẩn, nên người đó đang sống trong ảo tưởng.

Bên cạnh sự hoạt động của thọ uẩn, luôn luôn có sự vận hành của tưởng uẩn và hành uẩn, Khi nhớ lại những lời nói khen ngợi hoặc chê trách hay hình ảnh buồn hoặc vui ở quá khứ hoặc tương lai hiện ra trong tâm, những lời nói thì thầm, sự nhận biết rõ ràng về chúng cũng sẽ đồng thời xuất hiện khiến cho người ấy cười nói hay buồn khóc một mình. Một khi việc này tiếp diễn liên tục nhiều lần, vượt mức chịu đựng của bản thân sẽ phát xuất thành tiếng nói không còn kiểm soát được nữa, chắc rằng người đó sẽ bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Đa phần những người bị bệnh hoang tưởng, trầm cảm hay khùng điên đều là do tưởng uẩn hoạt động quá mạnh, vượt mức kiểm soát. Vì vậy sự tu tập quán xét về năm uẩn là một phương pháp trị bệnh tâm thần rất tuyệt vời, do hiểu được sự vận hành của Thọ, Tưởng và Hành uẩn. Tự chúng ta có thể trị được bệnh về tinh thần cho mình và còn có thể giúp trị bệnh cho những người bị tự kỷ, thất tình, suy sụp tinh thần ở xung quanh. Đây chính là phương thuốc trị tâm bệnh hiệu quả nhất!

Đức Phật đã tuyên bố rằng: “Này các Tỳ-kheo! Đây là con đường độc nhất đưa chúng sanh đạt đến chỗ thanh tịnh, vượt khỏi mọi sầu ưu, thành tựu chánh kiến, chứng ngộ Niết-bàn, đó là con đường Tứ niệm xứ”. Con đường Tứ niệm xứ đó chính là việc thường xuyên nhìn lại sắc thân (Thân), các cảm giác xuất hiện trên thân (Thọ), những bóng dáng phát sinh nơi tâm (Tâm) và những sự hoạt động của thọ, tưởng, hành, thức đang xảy ra liên tục ở nơi thân (Pháp).

Tuy nhiên, muốn sử dụng phương thuốc này để trị bệnh cho người, trước tiên chúng ta cần phải thấu hiểu cấu trúc, sự vận hành của thân tâm của chính mình. Có thể tự chữa trị cho mình hết bệnh tâm, mới mong chữa giúp cho người khác hết bệnh. Nếu hằng ngày chúng ta cứ phóng tâm nhìn ra và tìm cầu những hình tướng ở bên ngoài (Trần cảnh) như thích chùa to Phật lớn (Sắc), thích nghe những âm thanh êm tai (Thinh), hoặc thích mùi thơm của các loại nước hoa (Hương), ưa những món ăn ngon (Vị), yêu sự mềm mại ấm áp (Xúc) và bám chấp những ảo ảnh sinh khởi ở trong tâm (Pháp), không biết rằng chính luc1 ấy mình đang có tham ái, dục tưởng sinh khởi và bị Thọ, Tưởng, Hành, Thức lôi kéo nhận chìm vào dòng sông cảm giác, chẳng thể nào thoát khỏi khổ cho bản thân, huống nữa là muốn cứu giúp cho người khác.

Từ trước đến nay, chúng ta đã quen nhìn ra bên ngoài để tìm kiếm, chạy đuổi theo trần cảnh nên mới có khổ đau. Suốt ngày sống trong sự không tỉnh giác, chẳng hay biết đang bị tham dục làm hại, một đời sống như vậy là đời sống si mê vô minh. Bây giờ học hiểu về năm uẩn này rồi, chúng ta sẽ biết cách xoay nhìn lại bản chất của chúng và tìm cách nhiếp nhục, sẽ hết dần mọi đau khổ. Đừng vội nghĩ hai từ ‘vô minh’ theo cách lớn lao xa vời, nó mang ý nghĩa rất thiết thực gần gũi. Khi chúng ta sống mà không biết rõ được những gì đang xảy ra ở nơi thân tâm này trong từng phút từng giây, đó chính là ‘vô minh’! Ngay lúc trong tâm có dục, tham, ái sinh khởi, nhưng mình không rõ biết, đó chính là ‘vô minh’! Chữ Nho gọi là ‘Dục’, nghĩa tiếng Việt là ‘Muốn’; thúc giục mong muốn đạt một cái gì đó, chính là ‘Dục’.

Ví dụ, khi gần đến thời gian chuông báo hiệu hết giờ học, trong lòng cảm thấy nôn nao, tâm nghĩ tưởng khi ra về sẽ đi đến đâu hoặc làm việc nào đó, tay chân không yên, lo thu xếp sách vở vào trong túi xách… đó là chúng ta đang bị dục chi phối. Từ lâu, chúng ta bị dục tác động trong mọi sinh hoạt đời sống mà không hay biết, nhưng nay có thể nhìn thấy được sự sinh khởi và hoạt động của chúng là bắt đầu có được trí huệ năm uẩn. Đây không phải là trí huệ bình thường của thế gian, mà là trí huệ của bậc Thánh, gọi là ‘Thánh trí’!

Tu tập đúng sẽ thành tựu Thánh trí, trong mọi sinh hoạt đều cần xoay nhìn lại cảm giác đang phát sinh ở nơi thân. Chẳng hạn, đi lên cầu thang, ngồi trên ghế, nghe một tin vui hoặc nhận được tin buồn, gặp lúc thuận duyên tu học và làm việc tốt đẹp hoặc liên tục gặp cảnh nghịch duyên, có nhiều sự chống trái đến mức phải đóng cửa nhập thất… chúng ta đều cần nhìn thấy rõ ràng cảm giác đang phát sinh ngay lúc đó. Có thường xuyên luyện tập thân tâm soi lại thường trực thì mới dễ dàng nhận diện, phát hiện những bất tiện pháp đang sinh khởi trong quá trình sanh diệt của cảm giác. Từ đó có cách diệt tận chúng, đoạn trừ chúng, làm cho thiện pháp phát khởi và tăng trưởng thì bất thiện pháp không thể tồn tại.

Như vậy, đối với tất cả cảnh vui, khổ hoặc không vui cũng không khổ, chúng ta chỉ cần vào thất đóng cửa, luôn nhìn thẳng vào vấn đề, bản chất của nội tâm này, thấy biết cảm giác đang làm gì, như thế nào để có cách điều phục hợp lý, kịp thời, mạnh mẽ, dứt khoát. Nếu nội lực mình còn yếu, chưa đủ sức thì nên đóng thất, đóng sáu căn chớ vội tiếp duyên xúc cảnh với sáu trần mà sanh tâm phân biệt, dễ bị trần cảnh làm vọng niệm, động tâm. Hành giả thực tập chuyên trì, bền bỉ đến khi mở cửa thất ra ngoài, lúc đó phóng ‘hào quang’ rực rỡ! ‘Hào quang’ đó chính là trí tuệ thấy rõ được sự vận hành của năm uẩn là vô ngã và các cảm giác đều là vô thường biến đổi.

Đức Phật từng nói rõ: “Này các Tỳ-kheo! Các cảm giác đều là vô thường, các cảm giác là biến đổi, các cảm giác là duyên sanh. Từ đâu có cảm giác? Từ nơi thân này mà có cảm giác. Thân này là do cơm cháo tác thành, do cha mẹ sanh sẽ vô thường, bại hoại, tan nát. Này các Tỳ-kheo! Một cái vô thường làm sao có thể tạo ra một cái thường?”. Đây là trí huệ thậm thâm của bậc Chánh Đẳng Giác phá tan tất cả tham, sân, si và chấp Ngã. Chúng ta nên y theo đây mà thực hành sẽ thấy được kết quả thiết thực to lớn và kỳ tích sẽ xuất hiện ngay nơi tấm thân này. Bậc Đạo Sư khẳng định mạnh mẽ rằng: “Này các Tỳ-kheo! Ta tuyên bố, thế giới thành lập và thế giới hoại diệt ở ngay nơi tấm thân 1,7m này”. Thấu triệt được bản chất tạm bợ của thân tâm và toàn thể thế giới này, thấu triệt được bản chất hư ảo của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này và đạt được trí huệ năm uẩn siêu việt của bậc Thánh, chúng ta sẽ vĩnh viễn không còn bị một thứ gì ở trên đời này làm cho đau khổ nữa!

Chúng ta cần nên nhớ trong cảm giác về khổ sầu, có sân tùy miên luôn an trú ngay trong đó. Trái lại, trong cảm giác về vui thích, có tham tùy miên luôn hiện diện ngay trong đó. Trong cảm giác về không buồn cũng không vui, si tùy miên luôn túc trực ở đó. Tất cả Tham, Sân, Si đã mai phục sẵn sàng chiến đấu nơi nội tâm, chúng ở trong trạng thái ngủ ngầm sâu kín, khó nhận thấy, chỉ khi có đủ điều kiện thì bất thiện pháp mới xuất hiện rõ rệt.

Trên bước đường tu tập chuyển hóa, cứ thấy bản thân làm việc, tu học và giao tiếp bình thường đều đặn, không có tham, sân, si nhưng đâu biết rằng đó là một điều lầm tưởng to lớn! Chỉ trong một giây, chúng ta không nhìn thấy rõ được Sắc thân này là do Tứ đại hợp thành; Thọ, Tưởng, Hành, Thức này là vô thường biến đổi, trái lại chỉ nhìn thấy là thân của Tôi, là cái này là của Tôi; không nhận biết rõ cảm giác là vô thường - cảm giác chỉ là cảm giác; cảm giác không là Tôi, không phải là cái của Tôi và cũng không phải là ‘tự Ngã’ của Tôi; không nhận biết rõ các tư tưởng, những ảo ảnh, sự nhận thức sinh khởi trong tâm là vô thường; tư tưởng, những ảo ảnh, sự nhận thức chỉ là tư tưởng, những ảo ảnh, sự nhận thức; tư tưởng, những ảo ảnh, sự nhận thức không là Tôi, không phải là cái của Tôi và cũng không phải là ‘tự Ngã’ của Tôi… Rồi bám chấp, nắm giữ và yêu thích tức là đang rơi vào trạng thái si mê vô minh! Đôi khi có người vô ý đụng chạm mình hay sự vật, sự việc gì đó không vừa lòng với chúng ta là ta dễ dàng cho sân giận nổi lên. Hay khi có một hình sắc xinh đẹp, sự vật hợp ý, tham muốn sinh khởi ngay lập tức. Còn những lúc không có người hay vật vừa ý hay không vừa ý, thì chúng ta vẫn trú ẩn trong một đống si mê khổng lồ, lại không hề hay biết. Sống bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu và làm bất cứ việc gì, hễ nhìn thấy năm uẩn là mình, là Tôi, là Ta, là tự Ngã đều là si mê vô minh! Trái lại, luôn nhìn thấy năm uẩn là năm uẩn, không phải là mình, là Tôi, là Ta, là tự Ngã, tức là có được cái thấy đúng (Chánh tri kiến). Đây là cánh cổng đầu tiên của con đường tám ngành của bậc Thánh (Bát Thánh đạo), hướng tới Dự lưu quả cho đến Nhập lưu Tu-đà-hoàn.

Kiểm xét kỹ lại thì hiếm có người bước vào được cánh cổng thứ nhất của Bát Thánh đạo. Hiện tại sự tu học của chúng ta vẫn chỉ là lớp vỏ của kiến thức Phật học và sự tu hành chỉ đang làm tăng thêm sự tham dục và chấp Ngã, thật khó mà bước qua được cánh cửa Chánh tri kiến này. Đạt được Chánh tri kiến mới thật là sự nghiệp, là lý tưởng cao quý, là chỗ cần nhắm đến của người tu! Nếu chưa thấy được ý nghĩa thâm sâu của việc tu hành này, không bước đi trên con đường của bậc Thánh (Thánh đạo), làm sao có thể thành tựu kết quả rốt ráo của sự tu tập Phạm hạnh (Thánh quả). Chỉ cần nhìn sai, nghĩ sai, làm sai là toàn bộ cuộc đời tu hành của chúng ta cuối cùng chỉ xây dựng trên nền móng sắc uẩn mà thôi! Mối hiểm họa và đau khổ to lớn đang chờ chúng ta, khi các sắc uẩn đó vô thường, tan hoại. Xét kỹ trong tâm sẽ thấy rằng nhiều khi chúng ta làm mọi việc bên ngoài bằng tâm tham và chấp Ngã, lại không hay biết một tí gì! Dù có làm được thật nhiều thì cũng chỉ là thiện pháp hay phước báu ở cõi Người và Trời, vẫn còn bị rơi lọt trong ba cõi sáu đường, gọi là ‘Phước báu hữu lậu’. Trí huệ thấy biết và làm những việc như thế, gọi là ‘Chánh kiến hữu lậu’, chẳng thể nào đưa người tu đạt đến giải thoát. Bất cứ lúc nào khởi tâm suy nghĩ hoặc mở miệng nói đều có ẩn chứa ‘cái Ta’ hay ‘cái Tôi’ ở trong đó, không thể nào tránh khỏi! Do vậy, dù chúng ta tu hành khổ cực trong mấy chục năm, cuối cùng không thành tựu được mục đích cao quý của người xuất gia. Nghĩ như vậy mà cảm thấy cay đắng và đau xót cho chính mình vì đã không đi đúng con đường mà Đức Phật đã đi!

Bước qua cánh cửa Chánh tri kiến sẽ chính thức bước vào dòng Thánh đạt được quả Dự lưu Tu-đà-hoàn. Muốn vậy, cần thuần thục tinh chuyên trong sự thực tập nhìn xét và nhiếp phục được cảm giác ở nơi thân. Thông thường chúng ta chỉ chìu theo cảm giác của thân, chẳng nhìn thấy rõ đó chỉ là cảm giác, có cách nhiếp phục, không theo đuổi nó. Khi gặp việc ưa thích, lúc đó chỉ còn thấy là vui sướng, thỏa thích và say mê tham đắm, không còn phân biệt rõ đó chỉ là cảm thọ vui sướng (Lạc thọ) đang diễn ra nơi thân. Điều này vi tế, khó có thể nhìn thấy!

Trí tuệ năm uẩn giống như phát súng đại bác phá tung tất cả chấp chứa của sắc uẩn, mọi mê lầm về cảm thọ, sự bám chấp vào các ảo ảnh, vọng thức khiến cho người tu nhận thấy rõ được ‘cái Tôi’ âm thầm từ trước đến nay là hư vọng. Từ sự nhìn thấy rõ năm uẩn như vậy, hành giả mới bắt đầu ứng dụng thực hành cho đến khi quét sạch mọi mê lầm chấp Ngã, phá sạch vô minh và đạt đến chỗ giải thoát rốt ráo. Từ chỗ thấy biết đúng (Chánh tri kiến) này cho đến ứng dụng tu tập dẹp sạch mọi tham dục, vô minh và chấp Ngã cần phải trải qua một giai đoạn thực hành khác. Tuy nhiên, điều quan trọng trước tiên vẫn là thấy đúng, vì thấy đúng sẽ đưa đến nghĩ đúng và làm đúng. Dần dần sự thấy đúng sẽ hướng người tu đi đúng con đường của bậc Thánh. Nhờ biết được đường đi, chúng ta cứ bước đi rồi cũng sẽ đến đích, nhanh hay chậm là tùy vào mỗi người dụng công tu hành. Hướng tâm vào được Dự lưu quả, dần dần sự tu tập sẽ đạt đến Thánh quả. Quyết chắc, thẳng tiến mãi cho đến quả vị Chánh giác, chậm nhất là bảy đời. Đó chính là mục tiêu mà người xuất gia cần hiểu rõ và thực hành ở ngay trong đời sống này.

Do đó mục đích của sự tu hành là phải phân biệt rõ con đường an vui của bậc Thánh và con đường đau khổ của phàm phu. Hai con đường này sẽ dẫn người đi trên đó theo hai hướng khác nhau; một bên là hướng đi lên và một bên là hướng đi xuống. Đức Phật đã nhắn nhủ rằng:

Đây là đường sinh tử,

Kia là đường Niết-bàn

Tỳ-kheo, đệ tử Phật

Phải ý thức rõ ràng!

Chúng ta phải tu thật lòng, đừng chỉ tu trên hình thức hoặc tu trên miệng, mà trong tâm nhìn thấy người hay vật gì cũng ưa thích và muốn nắm giữ! Sân, si cần thật sự giũ bỏ. Phải thấu được bản chất thân tứ đại này là tạm bợ nhơ nhớp, phải quyết lòng từ bỏ sự tham chấp về nó. Tất cả mọi ý nghĩ, lời nói hay việc làm đều phải hướng về một mục đích duy nhất là đoạn tận chấp Tôi, bản Ngã, tham ái. Cần phải luôn quán xét trong từng ý nghĩ của mình có thật sự muốn đoạn tận tham, sân, si và có muốn chấp dứt vòng luân hồi của thân tứ đại này không? Hay là chúng ta chỉ tu gieo duyên với Phật, vẫn tiếp tục ưa thích và nắm giữ nó? Nếu chúng ta còn yêu thích xác thân năm uẩn này, chắc chắn sẽ còn ưa thích và muốn nắm giữ những năm uẩn khác. Hễ còn yêu thích ‘cái Tôi’ là còn yêu thích những ‘cái của Tôi’, đó là điều bắt buộc, không bao giờ có điều ngược lại. Cho nên, việc tu hành chỉ nhắm vào việc dẹp trừ những cái ưa thích ở bên ngoài, cội gốc ưa thích ở trong thân mình vẫn còn nguyên, tu đến tận cùng kiếp cũng không hết tham ái, chấp Ngã và đau khổ.

Ba món hàng lậu

Trong ngôn từ của thế gian nói ‘hàng lậu’ là những gì không hợp pháp và nhà nước không công nhận. Còn danh từ chuyên môn trong đạo Phật ‘Lậu’ có nghĩa là sự cấu nhiễm. Không riêng người đời, ngay cả người tu cũng vẫn còn đi ‘buôn lậu’ như thường! ‘Buôn lậu’ những gì? Trong lúc ngồi thiền hoặc nghe pháp, tâm của chúng ta vẫn liên tục phóng chạy nghĩ ngợi về những việc tạp nhạp khác, đó chính là đang ‘buôn lậu’ trong khi tu hành. Có tất cả ba Lậu mà chúng ta cần nhận biết rõ và tìm cách nhiếp phục, đoạn trừ gồm: ‘Dục’ là tham dục.

Dục lậu: là tâm ô nhiễm về các Dục. Tất cả mọi ý nghĩ, tư tưởng đều xoay quanh với cái Dục, chẳng thể nào đi ra khỏi chỗ đó. Trừ khi thiện tri thức thành tựu được Chánh tri kiến thấy rõ sự nguy hại của Dục và tìm cách đoạn trừ thì mới có thể ra khỏi.

Ví dụ, khi có người đi đến thưa thỉnh và muốn cúng dường cho người tu 10 mẫu đất cùng vời số tài vật lên đến 30 tỷ để xây cất ngôi Tam bảo. Từ lúc đó cuộc sống của người ấy không còn bình thường nữa, vì bị tâm tham muốn và dục tưởng phát khởi mạnh mẽ, bàn tính công việc dự định sẽ thực hiện trong tương lai như thiết kế bản vẽ, mướn người xây dựng, vận chuyển vật liệu và còn nhiều thứ khác phức tạp hơn nữa. Mọi hoạt động của thân tâm người ấy đều bị Thọ, Tưởng, Hành, Thức chi phối và dẫn dắt khiến vọng niệm nhiều sanh khởi. Thậm chí không phải những việc đưa đến món lợi lớn làm tâm của người tu chao đảo, có khi chỉ một vài món đồ dùng cá nhân rẻ tiền hơn, như đồng hồ, xe máy... cũng đã có thể làm cho tâm tham muốn sinh khởi không ngừng. Vì phiền não có tính ‘ngủ ngầm’ sâu kín trong tâm, rất khó nhận thấy, chúng chỉ xuất hiện khi có nhân duyên phù hợp bên ngoài tác động qua sáu căn là nó liền bật dậy khuấy nhiễu không ngừng!

Để phòng chống và đoạn trừ được Dục lậu này, hành giả cần phải thực hành trí quán thân bất tịnh thật tinh chuyên. Lúc nào cũng trang bị cho mình bộ áo giáp Chánh tri kiến mỗi khi nghĩ về bản thân, luôn nhìn thấy thân xác này là một bộ xương trắng, là một đống thịt bầy nhầy thối rữa với giòi bọ lúc nhúc xâu xé. Phải có được tâm nhàm chán, ghê tởm đối với tấm thân tứ đại giả huyễn hợp thành này, dụng công đối trị được tâm tham dục phát khởi. Trong giây phút nào đó, tâm tham dục chợt nhen nhúm sinh khởi, mình liền nhận biết rõ ràng, tìm cách dập tắt bất thiện pháp ngay từ lúc đầu, ngay đó tâm không bị dao động mạnh. Quán được lẽ thật tột cùng của thân, chúng ta sẽ làm giảm đi rất nhiều tâm tham dục, dần dần đưa đến đoạn tận tham dục. Trái lại, nếu trong mọi ý nghĩ đều thấy có ‘mình thật’ và luôn suy tính, tìm cách tô bồi hoặc tự hào về vẻ đẹp của thân thể thì càng tu sẽ càng làm dầy thêm cho tâm tham dục. Tâm ái dục rất là xảo quyệt, có thiên hình vạn trạng, không thể nói hết. Người không khéo tu sẽ không thể nhận diện rõ được sự trá hình của tâm tham ái. Trong mọi sinh hoạt đời sống hằng ngày, tâm tham ái luồn lách, len lỏi vào trong tận ý nghĩ để chi phối ba nghiệp của người tu. Những ai thường thực tập trí tuệ năm uẩn mới có thể nhận rõ sự biến trá của chúng.

Hữu lậu: có hai nghĩa

Trạng thái dao động của tâm ở mọi lúc mọi nơi.

Trong suốt 24 giờ của một ngày, tâm của chúng ta luôn ở trạng thái dao động, biến chuyển liên tục, không có giây phút nào dừng yên. Nó khiến cho thân thể luôn phải cử động, nhúc nhích hoặc tìm làm đủ thứ việc. Khi bắt buộc thân này ngồi yên chừng năm phút đồng hồ cũng đã là điều khó, huống nữa là thực tập ngồi tĩnh tọa yên lặng trong vòng một giờ đồng hồ thì càng khó chịu hơn. Cho nên, nếu phải chọn lựa hoặc là ngồi yên suốt 5 tiếng đồng hồ hoặc là làm việc nấu nướng, đi lại suốt cả ngày, chắc chắn chẳng ai chịu ngồi yên! Điều đó càng cho thấy rằng, tâm dao động liên tục không ngừng suốt cả ngày và chính nó đã làm cho thân không thể an tĩnh!

Sự ưa thích hiện hữu ở thế gian này.

Đây là nghĩa sâu xa của Hữu lậu, tức là sự ưa thích bản thân luôn muốn hiện hữu, gọi là ‘Hữu ái’. Nếu chúng ta chưa có tu tập thiền định và trí tuệ nhận diện năm uẩn chưa có sâu sắc sẽ không thể nhận biết được điều này đang tồn tại trong tâm, có chăng cũng chỉ là sơ sài cạn cợt ở cành nhánh, không thấy tận cội gốc bản chất của vấn đề. Chính tâm muốn có mặt này là đầu mối dẫn dắt thần thức sau khi rời bỏ xác thân hiện tại sẽ tiếp tục đi tìm kiếm chỗ tái sinh vào một cái thân khác. Có người cảm thấy hoang mang vì sợ mất tất cả, khi nghe nói cố gắng tu hành trong kiếp này vì là kiếp chót. Nhưng thật ra, đó là sự chấm dứt hết tất cả các thân trong vòng luân hồi sinh tử, để đạt được tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Tâm đang bị ràng buộc vào các Dục tham, sân, si và bản Ngã, do sự tu tập quán xét về năm uẩn, nên thoát khỏi sự ràng buộc, gọi là ‘tâm giải thoát’; hoặc khi dùng trí tuệ phá vỡ được sự nắm chặt vào năm uẩn, được sự buông xả, gọi là ‘Tuệ giải thoát’. Người thành tựu được hai điều này là bậc A-la-hán!

Đức Phật có nói một ví dụ về hình ảnh, một người bị bệnh cùi, trên người có nhiều vết lở loét chảy chất mủ vàng, do ngứa ngáy rất khó chịu, nên người ấy phải liên tục dùng tay gãi làm rách da chảy máu và gây đau đớn. Người này tìm tới một hố than cháy đỏ để hơ cho khô các vết loét, muốn được giảm sự khó chịu trong cơn ngứa. Dù là đứng rất gần bên hố than cháy sáng rực, khiến người khác không dám đến gần, nhưng riêng người bị bệnh cùi lại cảm thấy vui sướng vì đỡ ngứa. Người này không hề biết rằng có thể bị tai họa cháy da hoặc là rơi xuống hố than đỏ mất mạng. Một thời gian sau, người bị bệnh này được một bác sĩ giỏi chữa trị lành bệnh, không còn các vết lở loét chảy máu mủ nữa. Bấy giờ có hai người lực sĩ kẹp hai bên tay nhấc bổng người này lên cao và đi đến bên hố than cháy đỏ lúc trước để hơ nóng. Người này sẽ phản đối và không còn thích thú với việc đến gần hố than nóng kia nữa!

Đức Phật nói hình ảnh ví dụ người bệnh cùi thích thú với hố than nóng đỏ đó là muốn nói tất cả chúng sinh đều có một căn bệnh nặng về dục, tham, ái, vô minh và bệnh chấp ngã. Sống ở trong cảnh khổ, lầm tưởng là vui, gọi là ‘phản tưởng’. Luôn tìm cái phiền não khác để khỏa lấp, che đậy những bất như ý này và mong muốn giảm bớt khổ, nhưng kết quả lại càng thêm khổ. Lúc nào cũng mang ảo tưởng mọi việc trên đời này là vui sướng, thường còn nên ngày đêm cứ ra sức phóng chạy tìm kiếm, nhắm mắt lao đầu vào chỗ hiểm nguy mà không hay biết. Điều này có khác gì đời sống của những cn thiêu thân liên tục hết đợt này đến đợt khác lao vào chỗ có ánh sáng bị cái họa cháy thân!

Những ngôi thất nằm trong rừng và tọa lạc trên núi cao có thời tiết tương đối lạnh, người ta phải thiết kế thêm một lớp cửa kính bao bọc cả phần hành lang để ngăn không khí lạnh ẩm. Do thời tiết ẩm ướt và nhiều cây cối, nên nơi đó thường có nhiều côn trùng như sâu bọ và ong bướm sinh sôi phát triển. Chúng thường bay vào bên trong thất, mỗi khi có người mở cửa. Một khi chúng đã vào bên trong nhà rồi, hầu như chẳng biết đường bay thoát ra. Những con vật ấy cứ liên tiếp bay rồi va đập vào những tấm kính trong suốt và bị rớt xuống vì đau đớn. Nhưng một lúc sau tỉnh dậy lại tiếp tục công việc khờ dại đó. Mặc dù có người thương xót hé mở cửa để chúng bay ra ngoài trời, nhưng dường như chúng chỉ nghĩ đến việc tìm gặp hình bóng mà bản thân của nó đã hiện lên trên tấm kính kia mà thôi! Cứ như thế hết lần này đến lần khác, nó cứ lao đầu vào tấm kính cho đến khi kiệt sức và rơi xuống chết luôn.

Cũng vậy chúng ta cũng liên tục phóng chạy tìm kiếm và làm những việc vô bổ để rồi cuối cùng gục chết, vì ảo tưởng về một ‘cái Tôi’ ở trong đầu do Thọ, Tưởng, Hành, Thức gây ra. Ta bị chết trong ba cái biển Dục, Ái và Tham. Ở trong biển khổ lặn ngụp, tìm kiếm điệp trùng đớn đau, phiền lụy nhưng ngỡ là hạnh phúc, bình an, do vô minh, tham và đầy bản ngã. Chính vì vậy mà người thế gian hết đời này đến đời khác, hết lần này đến lần khác cứ đua nhau tranh giành, tìm kiếm, hy vọng, trông chờ một cái gì đó tốt vui hơn, nhưng kết quả cuối cùng đạt được chỉ là khổ chồng thêm khổ! Đâu đó chúng ta thấy và nghe tin tức nói rằng có những ngôi sao điện ảnh, hoa hậu thế giới phải nhảy lầu vì trầm cảm hoặc chết ở bụi bờ chẳng ai ngó ngàng, hoặc những đại tỷ phú với gia tài kếch xù cuối cùng cũng tự sát hoặc phải vào tù… Người không có gia đình thì thấy người có gia đình là hạnh phúc sung sướng, trong khi người có gia đình lại nhìn thấy những người không gia đình là sung sướng hạnh phúc! Hoặc người sống ở nhà lá lại muốn xây được nhà lầu, kẻ sống nơi biệt thự lại muốn tìm đến chốn nhà tranh! Hoặc người ở quê thì muốn bon chen lên sống ở thành thị, còn người thành thị lại chán nản cảnh ồn náo muốn về vườn cắm câu cho nhàn hạ… Rồi một thời gian sau cảm thấy chán, lại muốn quay trở về chốn cũ. Thậm chí, người xuất gia trước kia vì nhàm chán cảnh đời mà đi tu, nhưng sau khi xuất gia được ít năm, khi nhìn thấy người đời giàu sang sung sướng, lại sinh tâm thèm khát!? Cuộc sống mê lầm cứ xoay vòng như vậy mãi, không thể nào thoát ra được vòng quay của Dục, Ái và Tham tạo ra từ do Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Tất cả đều là ảo tưởng về Dục và khiến cho người thế gian, thậm chí là người xuất gia bị lầm chết!

Sở dĩ chúng ta bị mê lầm và bị giết chết bởi các ảo tưởng vì không có được trí tuệ soi thấu rõ bản chất đòi hỏi, khát khao của dục là vô thường, bất toại nguyện và trống rỗng. Do bị dục xâm chiếm, chi phối, nên chúng ta cứ khởi tâm tìm kiếm mãi không dừng, bởi không bao giờ cảm thấy thỏa mãn. Vĩnh viễn không bao giờ có sự thỏa mãn toại ý trong các dục, nếu cứ bám theo ảo tưởng đó mà chạy tìm hạnh phúc an vui là đã đi sai đường, lộn địa chỉ rồi! Tất cả chúng ta thoát hết mọi khổ sầu, chỉ khi nào nghe nhiều và ứng dụng thực tập triệt để giáo pháp ly tham tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác.

Đức Phật nói rằng:“Này các Tỳ-kheo! Trong tất cả các pháp Hữu vi và Vô vi, pháp ly tham là tối thượng!”. Chúng ta tham muốn đối với Sắc, tham nhiễm đối với các cảm thọ, dính mắc đối với các sự suy tưởng và nhận thức. Chìm đắm đối với năm uẩn ngay nơi bản thân này, không phải một ai khác. Đó chính là sự tham muốn được hiện hữu ở thế gian này. Sau khi chết rồi, lập tức chạy đi tìm một xác thân khác để được hiện hữu lần nữa, nhưng mấy ai tìm được đúng như ý mong cầu, phần nhiều rơi lạc, đọa trong cõi dữ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thật hiếm được là người, nói chi tới cõi Trời! Một khi thối đọa thì thân thể chưa chắc lành lặn, thường xuyên đói khát, ghẻ lạnh, bị khinh chê, đánh đập, mắng chửi, yểu mạng, chìm ngập trong vô minh.

Trong một lần đi kinh hành với vài người đệ tử ở bờ đê Thanh Đa vào lúc trời vừa hừng sáng, vị Tăng nọ đã bắt gặp một hình ảnh xúc động. Một con chó đã lê lết tấm thân đầy ghẻ kéo theo hai chân sau bị liệt từ trong nhà ra đến trước mặt vị Tăng. Bấy giờ vị Tăng đã ngồi xuống bên cạnh nó và nói ba pháp Quy y cho nó nghe. Sau khi nghe xong, con chó có vẻ mãn nguyện, nên lê lết tấm thân tàn của nó đi vào trong nhà. Khi ấy vị Tăng chợt quán xét, cũng may đời này được thân người lành lặn biết tu tập. Nếu không có phúc phần mà sinh như con chó kia, xem như thê thảm rồi! Vị Tăng cũng quán xét rằng, không chỉ một đời mà vô số đời về trước bản thân của vị ấy cũng đã từng không ít lần mang những túi da ghê tởm như vậy. Chỉ do đời nay, không có trí tuệ nhớ rõ hết mà thôi! Nghĩ đến đây, vị Tăng chợt rung động toàn thân, vì cảm thấy bản thân trong đời này vẫn còn mê chấp, vẫn còn hy vọng, vẫn còn tìm kiếm, vẫn còn tham đắm, vẫn còn nắm giữ và như vậy không phải là khờ dại lắm sao!

Đó là một trong những pháp quán về ly dục mà chúng ta nên thực tập mỗi khi gặp duyên cảnh. Trong quá khứ chúng ta đã tìm, ngay hiện tại chúng ta đang tìm và trong tương lai chúng ta cũng sẽ cứ mãi đi tìm ảo ảnh về hạnh phúc an ổn ở thế gian này và khổ đau sẽ còn mãi suốt ba thời. Trừ khi nào chúng ta chứng nhập vào quả Dự lưu, có được trí tuệ năm uẩn, khi ấy sẽ dừng việc đi tìm mộng trong cõi mộng, lúc đó thoát ra đau khổ, trầm luân. Người tu nên thật lòng nhìn xét lại nội tâm xem bên trong hiện giờ có phải là đang còn muốn đi tìm nhiều thứ hay không? Sự học Phật cần phải thực tế ngay đây, không nên chỉ tưởng tượng mọi vật đều là trống không, cho đó là an ổn gọi là ‘Không tưởng’. Nghĩ tưởng như vậy thì sự tu học chẳng có lợi ích! Hiện tại trong thân tứ đại còn vô số dục, tham, ái nhiễm, sân hận, vô minh, chấp ngã đang chất chứa đầy. Điều cần thiết là mỗi bản thân phải luôn sống tỉnh thức, rõ biết, luôn nhìn lại, thayấ rõ hiểm nguy của năm uẩn trùng trùng, dùng Như lý tác ý mạnh mẽ, nắm lấy cây roi Giới luật và các pháp quán bất tịnh để gội rửa tâm, nhiếp phục và đoạn trừ. Những ai còn mải mê chấp trước cho rằng tất cả đều là không, rồi cứ bám lấy sự an nhàn và thụ hưởng làm chỗ sở đắc là một điều sai lầm lớn sẽ có tai họa về sau. Sự tu học như vậy chỉ là vô ích, không đưa đến việc thành tựu Đạo nghiệp và cũng mất luôn Thánh đạo, Thánh quả.

Vô minh lậu

Để thấy được con đường bất tử và đạt đến trí tuệ siêu việt của bậc Thánh, hành giả dốc lòng chuyên tâm nghe nhiều và nghiền ngẫm về tạng kinh Nykàya. Sau khi nắm vững được cốt lõi, có phương pháp hành trì, người tu sẽ vận dụng vào cuộc sống thực tế để lìa bỏ mọi tham dục, ái ngã và đoạn tận được sân giận, si mê cũng như nhổ sạch hết cội gốc của Dục lậu, Hữu và Vô minh lậu. Đến khi đó, những thiện tri thức thật tâm tu hành sẽ tự tại bước vào dòng Thánh và nếm được hương vị diệu kỳ của đời sống xuất gia! Sẽ thấy được hạnh phục tuyệt đối của sự ly dục và tâm tịch tịnh! Khi ấy người tu sẽ đứng trên năm uẩn để nhìn khắp thế gian đều là bọt bóng, ảo ảnh phù du. Khi ấy tham, sân và si dần dần giảm bớt cho đến đi đến chỗ lắng dịu và cuối cùng là dứt sạch không còn dấu vết. Thật là tuyệt vời! Đó là con đường Thánh mà bậc Chánh Đẳng Giác, các bậc A-la-hán cũng như các bậc Hiền Thánh khác đã đi qua. Giờ đây chúng ta tiếp nối các Ngài đi trên con đường đó và sẽ đạt được kết quả viên mãn rốt ráo giống như những người đi trước! Đây là một sự thật tuyệt đối mà tất cả chúng ta cần tin hiểu và nỗ lực thực hành!

Đức Phật nhấn mạnh rằng:“Này các Tỳ-kheo! Có một sự thật mà các Thầy cần phải cố gắng và nỗ lực để rõ biết đây là Khổ! Có một sự thật mà các Thầy cần phải cố gắng và nỗ lực để rõ biết đây là Nguyên nhân của Khổ! Có một sự thật mà các Thầy cần phải cố gắng và nỗ lực để rõ biết đây là chỗ chấm dứt Khổ và là con đường đưa đến đoạn tận khổ đau! Các Thầy cần phải rõ biết và nỗ lực cố gắng!”. Tại sao Đức Thế Tôn phải nhấn mạnh như vậy? Vì Ngài muốn những người con Phật phải nhớ kỹ và phải thấy tận tường bản chất của Khổ. Chỉ khi nào thật sự nhìn thấy được tất cả đều là Khổ theo đúng bản chất của nó, chúng ta mới có thể thành tựu trí tuệ Khổ đế. Nếu không như vậy, sự tu hành quán xét về Khổ chỉ nằm trên miệng, thật chất không hiểu biết gì về Khổ cả! Vì trong thời khóa tu thì thấy Khổ, bước ra bên ngoài thì tâm vẫn còn mê thích muốn nắm níu. Như vậy rõ ràng sự tu hành chưa thấy được Khổ và sẽ chẳng thể nào trừ dứt được dục, ái, tham, sân, vô minh và chấp ngã.

Nếu chúng ta biết được trong cái ly có chứa chất kịch độc, chẳng người nào dại dột cầm lên để uống, trừ khi không biết biết hoặc bị tâm thần. Cũng vậy đối với bất thiện pháp, những gì đi ngược lại lời dạy của Như Lai nhưng chúng ta vẫn nắm níu, luyến tiếc, mong cầu, nuôi dưỡng, sử dụng, sống chung với chúng nhằm tìm mọi cách đạt được thỏa mãn, khoái cảm, ham ưa là vẫn còn xa trí tuệ năm uẩn, còn mãi trong tham, sân, si. Chúng ta đã luôn mở cửa mời gọi, tạo điều kiện cho những con rắn độc ấy vào căn nhà năm uẩn này, thân tứ đại không được phòng hộ bằng Giới Luật của bậc Thiện Thệ thì mình mãi còn đi trong đêm tối rối ren.

Bậc Thiên Nhân Sư dạy người xuất gia rằng: “Tăng giận bất cách túc”, người xuất gia không được giận quá một đêm, nhưng trên thực tế thì có người bảy ngày sau gặp nhau vẫn còn không muốn nhìn mặt! Như vậy người tu chưa thấy được sân là thuốc độc chết người, vẫn còn chấp nhận, nuôi dưỡng và sử dụng chúng như là một lợi thế cho bản thân. Do đó thân tâm mình bị hao mòn, gãy ngã và vỡ vụn pháp thân huệ mạng. Chỉ khi nào người tu thật sự nhìn thấy rõ dục, ái, tham, sân, vô minh và chấp ngã là thuốc độc giết chết mạng người, quyết liệt từ bỏ, không chấp nhận nuôi dưỡng và sử dụng chúng, có phương cách ngăn cấm sự lưu trú bất thiện pháp kia thì nội tâm bùng khởi an yên, trí huệ sinh khởi dần. Lúc đó mới xứng danh là bậc thành tựu Chánh tri kiến.

Trong sách Luật nói việc tham cầu ái dục giống như là đói được ăn và khát được uống! Thật sự là đáng kinh sợ! Thật đáng sợ hãi và hổ thẹn! Cần phải dập đầu trước bàn thờ Phật sám hối ăn năn, tự trách bản thân đã là người xuất gia, đã hứa trước Tam bảo, mẹ cha là quyết tâm một đời đi trên con đường Thánh để thành tựu quả vị Thánh, vì sao đến nay vẫn còn nuôi dưỡng chất chứa những tâm niệm tham dục và chấp ngã này. Thật là nhục nhã cho một đời tu hành của mình! Mình là kẻ lừa đảo đối với chính mình và mọi người.

Sử dụng những từ ngữ mạnh mẽ như thế để trách mắng các loại cảm thọ, chính là đang dùng Như lý tác ý để trách rầy tâm tham ái, buông lung. Hễ bất cứ ý niệm tham dục và chấp ngã nào sinh khởi trong tâm, người tu đều sử dụng các pháp quán Như lý tác ý để đối trị, dập tắt ngay từ lúc đầu, thì những tên giặc Dục, Ái, Tham, Sân, Vô minh và chấp Ngã không có cơ hội xâm nhập, khống chế và sai sử theo bất thiện pháp.

Ví dụ, Dục sinh khởi mạnh mẽ trong tâm suốt cả ngày, chỉ dùng một pháp Như lý tác ý hoặc là quán thân mình là bộ xương trắng khô hoặc quán tưởng thân thể là một đống thịt đầy giòi bọ xâu xé để tập trung quở trách nó, không cho dục có cơ hội tác oai tác quái, ngoài ra không nên làm những việc tạp khác. Những lúc ấy nên đóng kín cửa, xin phép nghỉ dưỡng để yên tĩnh đối trị tâm tham dục. Hoặc là tìm chỗ am thất thanh vắng yên tĩnh để dồn sức dẹp trừ nó. Cho đến khi nào tâm tham dục thật sự yên lắng, mới trở lại làm việc hay tu học như bình thường. Người tu phải luôn tâm niệm như là một chiến sĩ quả cảm giữa sa trường, cần phải can đảm đối đầu với tâm dục, ái, tham, sân, vô minh và chấp ngã để nhìn rõ bộ mặt của nó và tìm cách trừ dẹp, dần dần chúng sẽ lắng dịu, giảm bớt nhẹ nhàng hơn. Nếu cứ tìm cách tránh né hoặc tìm điều gì khác để khỏa lấp hay là chìu theo những cảm giác của tâm tham dục thì người tu mãi mãi hèn yếu và chỉ là người thất bại trong sự tu hành. Phải thực tập bằng tâm chân thành và nhiệt huyết mới có thể hạ gục được những mong cầu bất thiện pháp.

Nếu mỗi ngày tới giờ công phu lên chánh điện làm cho có hình thức như đọc vài trang kinh, niệm vài danh hiệu Phật hoặc là ngồi yên theo dõi hơi thở ra vào mà mong trừ dẹp được những tập khí nhiều đời cho tới hiện tại là sai lầm. Nếu tu hành không kiên trì, tinh tấn, trí tuệ và từ bi thì càng tu lâu năm tham dục, chấp ngã và phiền não còn nhiều hơn gấp mấy lần lúc mới tập sự xuất gia! Lúc mới vào tu làm Tiểu hay Sa-di còn dễ thương, nhưng khi lên chức Thượng tọa, hay Trụ trì thì thương không dễ! Đây là một sự thật đau lòng của người xuất gia và cũng chỗ tu hành sâu xa phải có trí tuệ nhìn xét kỹ mới có thể thấy!

Hành giả thường xuyên trong mọi lúc nhìn lại từng cảm giác, ý niệm tư tưởng, sự nhận thức ở trong tâm của mình. Mỗi khi trong đầu hiện lên bóng dáng của ‘cái Tôi’, ngay đó thực hiện pháp quay lại mình biết đang cúi đầu khiêm hạ, lạy tạ ơn trước mọi người. Dứt khoát không để cho hình ảnh ‘cái Tôi’ tự đắc, luôn muốn vượt hơn người khác tồn tại trong tâm. Khi ra ngoài làm việc giao tế, nghe mọi người khen người kia, chúng ta lúc ấy lại khởi tâm niệm ganh ghét tật đố, hoặc nghe người mới vào tu chỉ dạy lấn lướt mà sanh tâm tức giận, thì lúc trở về nhà ngồi thiền phải cảm thấy hổ thẹn, phải thực hành pháp quán tưởng hình dáng của mình đắp Y hậu lễ lạy họ 49 lạy nhằm làm giảm bớt nhuệ khí của ‘cái Tôi’ xuống! Đây là một trong những cách nhiếp phục phiền não và chấp ngã rất hiệu quả!

Không cần tranh hơn thua hay biện bạch với người kia, hoặc thưa trình cầu cứu với bậc Trưởng thượng mà chỉ cần quay về thu nhiếp và điều phục được bản Ngã ở nội tâm của chính mình. Đồng thời cũng khéo dùng tâm từ để xả bỏ, bao dung, tha thứ mọi lỗi lầm cho người kia. Thậm chí là quán đến chỗ rốt ráo là chẳng hề có ‘cái Tôi’ để bị khen chê, chẳng hề có ‘cái Tôi’ để buồn, vui, thương, ghét và cũng chẳng có ‘cái Tôi’ để tha thứ bao dung. Quán mãi cho đến tận chỗ ‘cái Tôi’ tan nát thành hư không, chẳng còn gì để bàn luận tranh chấp nữa. Mình đã là vậy và họ cũng là vậy, tất cả đều là duyên sanh! Dùng ‘Vô chiêu thắng hữu chiêu’, quán như vậy, xét như vậy thì mọi việc sẽ tốt đẹp không thể tưởng tượng. ‘Không chiến tự nhiên thành’ chính là thành quả tu tập công phu siêu trí tuệ vô Ngã của người con Phật!

“Dù thắng ngàn quân địch tại bãi sa trường

Cũng không bằng chiến thắng được mình

Chiến thắng được bản thân mình

Mới là chiến công oanh liệt nhất!”

(Kinh Pháp Cú)

Trái lại, nếu không khéo vận dụng tu tập như thế, còn trách cứ hay bắt lỗi người kia, thấy có người giận kẻ thương, mình là người bị thiệt thòi muốn đòi quyền công lý, đều là Phi Như lý tác ý, bị rơi vào cái bẫy Nhân - Ngã bỉ thử tranh hơn thua thắng bại… Lâu ngày mỗi ác niệm sinh khởi sẽ dồn đống lại thành một ‘quả bom vô hình’ và chắc chắn sẽ phát nổ một cách bất ngờ! Thiếu mất sự quán xét của trí tuệ, thay vào đó sự phán xử của phàm tình sẽ dẫn đến việc đổ vỡ, rạn nứt hư hại tình cảm giữa mình với mọi người. Điều đó sẽ chỉ đưa đến hý luận, tranh đấu, khẩu tranh, chiến tranh, mà không thể nào dập tắt được sự hận thù.

“Hận thù dẹp hận thù

Là điều không thể được

Tình thương dẹp hận thù

Là định luật ngàn xưa!”

(Kinh Pháp Cú)

Sự tu hành tuyệt vời như vậy mà chúng ta không sớm tin hiểu và vận dụng để có lợi ích thiết thực thì thật uổng phí! Hãy cố gắng ngay hôm nay nghe nhiều và chuyên tâm nghiền ngẫm vận dụng tu tập đúng với kinh Nykàya, chắc chắn chúng ta sẽ đạt được Thánh trí ở ngay trong đời này./.